1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của dầu thực vật lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm chân trắng (litopenaeus vanamei) trong điều kiện nuôi trong bể ngoài trời

51 340 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 719,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN LÊ TRƯỜNG GIANG ẢNH HƯỞNG CỦA DẦU THỰC VẬT LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA TÔM CHÂN TRẮNG Litopenaeus vanamei TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI TRONG BỂ NG

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

LÊ TRƯỜNG GIANG

ẢNH HƯỞNG CỦA DẦU THỰC VẬT LÊN TĂNG TRƯỞNG

VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA TÔM CHÂN TRẮNG

(Litopenaeus vanamei) TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI TRONG BỂ

NGOÀI TRỜI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

LÊ TRƯỜNG GIANG

ẢNH HƯỞNG CỦA DẦU THỰC VẬT LÊN TĂNG TRƯỞNG

VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA TÔM CHÂN TRẮNG

(Litopenaeus vanamei) TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI TRONG BỂ

NGOÀI TRỜI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN HUỲNH TRƯỜNG GIANG

2013

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ trong những năm qua

Xin bài tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy Huỳnh Trường Giang đã hướng dẫn, động viên, giúp đỡ và cho tôi nhiều lời khuyên quý báu trong suốt thời gian thực hiện

đề tài và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô đã truyền đạt những kiến thức quí báu cho tôi trong suốt thời gian học tập

Xin chân thành cảm ơn anh Trần Trung Giang, chị Phan Thị Cẩm Tú và đặc biệt là bạn Nguyễn Thành Quí đã giúp đỡ nhiệt tình cho tôi trong quá trình thực hiện

đề tài

Cuối cùng tôi xin bài tỏ lòng biết ơn sấu sắc đến gia đình và bạn bè đã động viên, chia sẽ, giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn, trở ngại trong suốt quá trình học tập và công tác

Xin chân thành cảm ơn.

Lê Trường Giang

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ i

DANH SÁCH HÌNH v

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Giới thiệu 1

1.2 Mục tiêu đề tài 1

1.3 Nội dung đề tài 2

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Sơ lược về tôm thẻ chân trắng 3

2.1.1 Nguồn gốc và phân bố 3

2.1.2 Phân loại 3

2.2 Đặc điểm về môi trường sống 4

2.3 Đặc điểm dinh dưỡng 4

2.3.1 Tính ăn của tôm chân trắng 4

2.3.2 Nhu cầu dinh dưỡng 4

2.4 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng 7

2.4.1.Thế giới 7

2.4.2 Việt Nam 7

2.4.3 Đồng bằng sông Cửu Long 8

2.5 Điều kiện môi trường cho tôm thẻ chân trắng 9

2.5.1 Nhiệt độ 9

2.5.2 pH 9

2.5.3 DO (Oxy hòa tan) 9

2.5.4 NO2- 9

2.5.5 TAN 10

2.5.6 Độ kiềm tổng cộng 10

2.5.7 Độ mặn 10

2.6 Các nghiên cứu liên quan đến dầu thực vật 11

CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

3.1 Thời gian, địa điểm thực hiện đề tài 13

3.2 Vật liệu nghiên cứu 13

3.2.1 Dụng cụ 13

Trang 5

3.2.2 Hóa chất sử dụng 13

3.2.3 Nguồn nước thí nghiệm 13

3.2.4 Nguồn tôm thí nghiệm 13

3.2.5 Thức ăn thí nghiệm 14

3.3 Bố trí thí nghiệm 14

3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 15

3.3.2 Quản lý và chăm sóc 15

3.3.3 Phương pháp thu mẫu và phân tích môi trường nước 16

3.3.4 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu tăng trưởng 16

3.3.5 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tôm 17

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 18

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19

4.1 Chất lượng nước 19

4.1.1 Nhiệt độ 19

4.1.2 pH 19

4.1.3 Độ mặn 20

4.1.4 Oxy hòa tan (DO) 21

4.1.5 Độ kiềm tổng cộng 22

4.1.6 NO2- 23

4.1.7 TAN 24

Các giá trị trên cùng một cột có các chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) 25

4.2 Tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm chân trắng 25

4.2.1 Tăng trưởng về chiều dài 25

4.2.2 Tăng trọng của tôm nuôi 26

4.2.3 Tỷ lệ sống (%) 27

4.2.4 Năng suất (g/m3 ) 28

4.3 Thành phần sinh hóa của thịt tôm 28

4.3.1 Ẩm độ 28

4.3.2 Protein 28

4.3.3 Hàm lượng tro 29

4.3.4 Tỷ lệ thịt, vỏ 29

Trang 6

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 31

5.1 Kết luận 31

5.2 Đề xuất 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

pHỤ LỤC 36

Trang 7

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1:Hình thái bên ngoài tôm chân trắng 4

Hình 2: Hệ thống thí nghiệm 15

Hình 3 Biến động nhiệt độ trong các nghiệm thức thí nghiệm 19

Hình 4: Biến động pH giữa các nghiệm thức 20

Hình 5: Biến động giá trị độ mặn ở các nghiệm thức 20

Hình 6: Biến động DO ở các nghiệm thức 21

Hình 7: Biến động của độ kiềm ở các nghiệm thức 22

Hình 8: Biến động của giá trị NO2- ở các nghiệm thức 23

Hình 9: Biến động của TAN ở các nghiệm thức 24

Trang 8

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1: Thành phần nguyên liệu và thành phần hóa học của thức ăn 14

Bảng 2: Phương pháp thu và phân tích các chỉ tiêu môi trường 16

Bảng 3: Biến động các yếu tố thủy lý trong quá trình thí nghiệm 21

Bảng 4 Biến động của độ kiềm và DO trong quá trình thí nghiệm 23

Bảng 5: Biến động của TAN và NO2- trong quá trình thí nghiệm 25

Bảng 6: Các chỉ tiêu tăng trưởng về chiều dài của tôm sau 60 ngày nuôi 26

Bảng 7: Bảng thể hiện các chỉ tiêu tăng trưởng của tôm nuôi 27

Bảng 8 Năng suất, tỷ lệ sống và FCR của tôm chân trắng sau 60 ngày nuôi 28

Bảng 9: Thành phần hóa học của thịt tôm 29

Bảng 10: Tỷ lệ thịt, vỏ của tôm nuôi 30

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

NN&PTNT: Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

FCR: Hệ số chuyển hóa thức ăn

SPF: Specific Pathogen Free

Trang 10

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Giới thiệu

Trong những năm gần đây tình hình sản xuất giống tôm chân trắng ngày càng phát triển rộng Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, tôm chân trắng được nuôi thử nghiệm ở Việt Nam từ năm 2002 với diện tích 1.710 ha, sản lượng 10.000 tấn và diện tích nuôi năm 2010 là 25.000 ha, sản lượng 135.000 tấn, đem lại 414,6 triệu USD giá trị xuất khẩu Theo dự báo của Tổng cục Thủy sản, sản lượng nuôi tôm thẻ chân trắng 2012 của cả nước ướt đạt trên 200.000 tấn Diện tích tăng đến 25.843 ha, bằng 135% so với năm trước, nhất là ở miền Bắc và miền Trung Hiện nay, trong nuôi tôm chân trắng, công nghệ nuôi bán thâm canh

và thâm canh đang dần thay thế cho mô hình nuôi quảng canh cải tiến, bên cạnh

đó những vùng nuôi tập trung phát phát triển rộng đã tạo nguồn nguyên liệu lớn cho xuất khẩu Bên cạnh đó tình hình dịch bệnh trên tôm sú diễn biến hết sức phức tạp và gây ra nhiều thiệt hại cho người dân Mặc khác, chính phủ khuyến khích chuyển đổi đối tượng nuôi kém hiệu quả sang các đối tượng nuôi khác để đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn, với đặc điểm lớn nhanh, thịt thơm ngon, ít nhiễm bệnh trong quá trình nuôi có thể nuôi 3 vụ trong một năm thì tôm chân trắng đang là đối tượng được nuôi được nhiều người chú trọng phát triển Do đó, việc nghiên cứu thử nghiệm các loại thức ăn với hàm lượng dinh dưỡng khác nhau để tìm ra công thức thức ăn phù hợp cho sự phát triển của tôm chân trắng

(L.vannamei) là rất cần thiết, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, tăng

trưởng và tỷ lệ sống để đạt hiệu quả kinh tế cao Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu trong việc thay thế nguồn đạm động vật bằng nguồn đạm thực vật (bột đậu nành, bột rong bún và bột rong mền,…) nhằm giảm chi phí cho thức ăn (Đinh Thị Kim

Nhung, 2013) Tuy nhiên, các nghiên cứu trong việc thay thế lipid có nguồn gốc

từ động vật bằng lipid có nguồn gốc từ thực vật vẫn chưa được nghiên cứu nhiều Dầu thực vật special oil được cho là có khả năng cải thiện tăng trưởng, tỷ lệ sống

và hiệu quả sử dụng thức ăn do đó việc nghiên cứu thay thế lipid từ động vật bằng lipid từ thực vật là rất cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế

Từ thực tiển nói trên, để nâng cao hiệu quả và gia tăng năng suất thương

phẩm lẫn về chất lượng tôm nuôi Đề tài: “Ảnh hưởng của dầu thực vật lên tăng

trưởng và tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng ( Litopenaeus vannamei) trong điều kiện nuôi trong bể ngoài trười ” được thực hiện

1.2 Mục tiêu đề tài

Đề tài được nghiên cứu nhằm mục đích xác định sự tăng trưởng, tỷ lệ sống của tôm chân trắng khi bổ sung dầu thực vật special oil vào thức ăn, từ đó khuyến khích người nuôi bổ sung dầu thực vật special oil vào thức ăn với hàm lượng thích hợp nhằm đạt được năng suất cao trong nuôi thương phẩm

Trang 11

1.3 Nội dung đề tài

Đánh giá ảnh hưởng của dầu thực vật special oil lên sự tăng trưởng và tỷ

lệ sống của tôm thẻ chân trắng, đồng thời đánh giá các chỉ tiêu chất lượng nước trong hệ thống thí nghiệm và chất lượng thịt tôm nuôi khi cho ăn thức ăn có bổ sung thêm dầu thực vật special oil

Trang 12

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược về tôm thẻ chân trắng

2.1.1 Nguồn gốc và phân bố

Tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei, Boone 1931) là tôm nhiệt đới

loài bản địa ở vùng biển xích đạo Đông Thái Bình Dương từ Sonora ở Mexico đến miền Nam Peru, nhiều nhất ở gần biển Ecudor Hiện nay tôm chân trắng được nuôi ở hầu hết các khu vực trong đó có cả Việt Nam (Bộ Thủy sản, 2004)

Tôm chân trắng vỏ mỏng có màu trắng đục nên có tên là tôm bạc, bình thường có màu xanh lam, chân bò có màu trắng ngà nên gọi tôm chân trắng Chủy là phần kéo dài tiếp với bụng Dưới chủy có 2-4 răng, đôi khi có tới 5-6 răng ở phía bụng Vỏ đầu ngực có những gai gan và gai râu rất rõ, không có gai mắt và gai đuôi, không có rãnh sau mắt, đường gờ sau chủy khá dài đôi khi từ mép sau vỏ đầu ngực Gờ bên chủy ngắn, chỉ kéo dài tới gai thượng vị

Hiện nay, tôm chân trắng được nuôi và sản xuất giống ở các nước bao gồm: Trung Quốc, Thái Lan, Indonexia, Brazil, Ecuador, Mexico, Venezuela, Honduras, Guatemala, Nicaragua, Belize, Việt Nam, Malaysia, PC Đài Loan, Thái Bình Dương, Peru, Colombia, Costa Rica, Panama, El Salvador, Hoa Kỳ,

Ấn Độ, Philippines, Campuchia, Suriname, Saint Kitts, Jamaica, Cuba, Cộng hòa Đô-mi-ni-ca và Bahamas (FAO, 2006)

Loài: Litopenaeus vannamei, Boone, 1931

Tên tiếng Anh: White leg Shrimp

Tên FAO: Camaron patiblanco

Tên tiếng Việt: Tôm chân trắng, Tôm bạc Thái Bình Dương, tôm thẻ chân trắng (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư, 2003)

Trang 13

Hình 1:Hình thái bên ngoài tôm chân trắng

2.2 Đặc điểm về môi trường sống

Trong tự nhiên, tôm trưởng thành, giao vĩ, sinh sản trong vùng nước có độ sâu 70 m với nhiệt độ thích hợp 25-32 oC, tuy nhiên chúng có thể sống được ở nhiệt độ 12-28oC có thể sống ở độ mặn trong phạm vi 5-50‰ thích hợp ở độ mặn nước biển từ 28-34‰, pH từ 7,7-8,3 Trứng nở ra ấu trùng ở khu vực nước sâu này Đến giai đoạn Postlarvae, chúng bơi vào gần bờ và sinh sống ở nề đáy của vùng cửa sông Sau vài tháng tôm con trưởng thành, chúng lại bơi ngược ra biển

và tiếp diễn chu kỳ giao vĩ và sinh sản Tôm chân trắng có thể sống ở độ mặn 0,5-45‰ thậm chí tôm còn có khả năng chịu đứng độ mặn thấp hơn 0,5‰ (Menz

và Blake,1980) Tôm chân trắng có khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu trong

môi trường nước biển và nước lợ (Đỗ Thị Thanh Hương và ctv, 2008)

2.3 Đặc điểm dinh dưỡng

2.3.1 Tính ăn của tôm chân trắng

Tôm chân trắng là loài ăn tạp thiên về động vật Giống như các loài tôm

he khác, thức ăn của chúng cũng cần các thành phần protid, lipid, glucid, vitamin

và khoáng…Thiếu hay không cân đối sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của tôm Khả năng chuyển hóa thức ăn của tôm chân trắng rất cao, trong điều kiện nuôi lớn bình thường, lượng cho ăn chỉ cần bằng 5% trọng lượng tôm Ngoài tự nhiên tôm tích cực bắt mồi vào ban đêm, vào chu kỳ nước cường lúc thủy triều lên Tính ăn của tôm thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển Tôm có thể ăn thịt lẫn nhau khi lột xác do thiếu thức ăn (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư, 2003)

2.3.2 Nhu cầu dinh dưỡng

Tôm chân trắng là loài có nhu cầu đạm không cao bằng tôm sú cần 40% protein, tôm he Nhật Bản cần 60% protein, Trong khi đó hàm lượng đạm 35% protein được xem là thích hợp cho tôm thẻ chân trắng (Vũ Thế Trụ, 2003)

Ngoài ra, hệ số tiêu tốn thức ăn của tôm chân trắng chỉ khoảng 1,2-1,4 là con số

lý tưởng để phát triển tôm chân trắng (FAO, 2004)

Trang 14

- Nhu cầu dinh dưỡng của tôm thẻ chân trắng

Cũng giống như các loài tôm He khác, thức ăn của nó cũng cần các thành phần như: protein, lipid, vitamin, muối khoáng,… Thiếu hay không cân đối đều ảnh hưởng tới sức khỏe và tốc độ tăng trưởng của tôm nuôi

- Protein

Protein là chất dinh dưỡng rất cần thiết sự sinh trưởng và duy trì sự sống của sinh vật Chất đạm là những chuổi amino acid dài, thông thường 1 phân tử protein chứa khoảng 20 amino acid

Ngoài việc giúp tăng trưởng, chất đạm còn cần thiết cho hoạt động của các enzymes và hormones Chất đạm được tôm sử dụng sẽ được phân hóa, tiêu hóa

và hấp thu trong các cơ quan tiêu hóa, các amino acid được phân tích rồi phối hợp để tạo thành các cơ thể tôm Nhu cầu về chất đạm thay đổi tùy theo giai đoạn tăng trưởng và tùy theo môi trường Trong thời kỳ ấu trùng, tôm cần nhiều chất đạm hơn là giai đoạn trưởng thành Lượng chất đạm cho tôm 35-50% (Vũ Thế Trụ, 2003)

- Lipid

Thành phần lipid có trong thức ăn khoảng 5-8% Không nên quá 10% vì

sẽ làm giảm tốc độ sinh trưởng và tăng tỉ lệ tử vong Chất béo trong thức ăn tôm vai trò quan trọng trong việc cung cấp các acid béo và năng lượng hơn chất đường, bột

Sterol trong cơ thể tôm là cholesterol Trong tôm, chất này không được tổng hợp nên khi thiếu chất này trong thức ăn tôm sẽ chậm lớn và tỉ lệ chết cao Nhu cầu sterol 0,5% trong thức ăn Phospholipid bao gồm phosphotidyl cholin, phosphotidyl inositol cần khoảng 1-1,5% trong thức ăn Nếu thiếu tôm cũng sẽ chậm lớn và hệ số tiêu tốn thức ăn cao (Lê Văn An và Nguyễn Trung Nghĩa, 2002)

Q, K, B1, B6, B12…

Trang 15

Nhu cầu vitamin ở tôm tùy thuộc vào kích cở, tốc độ sinh trưởng, điều kiện dinh dưỡng, nhu cầu từng loại vitamin thực tế cho từng loài tôm, cho từng giai đoạn vẫn chưa được biết nhiều Vì vậy, trong thức ăn lượng vitamin bổ sung thường nhiều hơn nhu cầu thực tế nhằm bù đắp lượng mất đi do hòa tan trong nước, do phân hủy trong quá trình sản xuất

- Chất khoáng

Giống như các động vật thủy sản khác, tôm có thể hấp thụ và bài tiết chất khoáng trực tiếp từ môi trường nước thông qua mang và bề mặt cơ thể Vì vậy, nhu cầu chất khoáng ở tôm phụ thuộc nhiều vào hàm lượng chất khoáng có trong môi trường tôm đang sống

- Tính ăn của tôm từ postlarvae đến tôm giống

Trong vòng đời của tôm chân trắng tùy thuộc vào giai đoạn biến thái của tôm mà sử dụng loại thức ăn khác nhau Giai đoạn Nauplius: tôm dinh dưỡng bằng lượng noãn hoàng dự trữ, chưa sử dụng thức ăn ngoài Đến cuối giai đoạn N6 hệ tiêu hóa có sự chuyển động nhu động, chuẩn bị cho giai đoạn sử dụng thức

ăn ngoài Giai đoạn Zoea: ấu trùng thiên về ăn lọc, ăn mồi liên tục, thức ăn là thực vật nổi chủ yếu là tảo silic như: Skeletonema costatum, Chaetoceros sp, Cossinodiscus, Nitzschia, Rhizosolenia,…Giai đoạn Mysis: ấu trùng bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là động vật nổi như luân trùng, ấu trùng N-Copepoda, N-artemia, ấu trùng động vật thân mềm, … Tuy nhiên, thực tế sản xuất cho thấy ấu

trùng Mysis vẫn có thể ăn tảo silic (Nguyễn Trọng Nho và ctv, 2003).

- Giai đoạn Post larvae

Tôm bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là động vật nổi như Artemia, Copepoda, ấu trùng giáp xác, ấu trùng động vật thân mềm,… Cần chú ý giai đoạn này tôm thích ăn mồi sống, nếu thiếu thức ăn thì tôm sẽ ăn thịt lẫn nhau (Nguyễn

Trọng Nho và ctv, 2003)

- Thời kỳ ấu niên đến trưởng thành

Nguyễn Trọng Nho và ctv (2003), từ thời kỳ ấu niên, tôm thể hiện tính ăn

của loài (ăn tạp, thiên về động vật) Thức ăn của tôm là các động vật khác như giáp xác, động vật thân mềm, giun nhiều tơ, cá nhỏ Trong sản xuất giống nhân tạo ấu trùng tôm chân trắng còn được cho ăn bởi các loại thức ăn nhân tạo và thức ăn tự chế biến như: lòng đỏ trứng, sữa đậu nành, thịt tôm, thịt hàu, trùng,… Tôm chân trắng sử dụng rất hiệu quả nguồn thức ăn tự nhiên của các ao nuôi tôm, thậm chí trong điều kiện nuôi thâm canh Do đó, khi nuôi tôm thẻ chân trắng chi phí thức ăn thường thấp hơn nhiều so với nuôi tôm sú, nhu cầu đạm của tôm chân trắng cũng thấp hơn tôm sú (18-35% so với 36-42%) Đặc biệt là đối tượng có thể sử dụng hệ thống biofloc FCR 1,2-1,4

Trang 16

2.4 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng

2.4.1.Thế giới

Trên phạm vi toàn cầu, tôm chân trắng chiếm tới 2/3 tổng sản lượng tôm nuôi trên toàn thế giới Ở châu Á, trong gian đoạn từ năm 2001-2006 sản lượng tôm sú chỉ duy trì ở một sản lượng nhất định thì sản lượng tôm chân trắng nhảy vọt kên 1,5-1,6 triệu tấn năm 2006 và đạt 1,8 triệu tấn năm 2009 Sau được nhiều nước Châu Mỹ nuôi nhân tạo và đạt hiệu quả cao thì tôm chân trắng được

di giống sang Hawwaii và từ đây tôm chân trắng dần dần được lan sang các nước Châu Á như Việt nam, Thái lan, Malaixia, Indonesia, Philippin,… Sản lượng nuôi tôm chân trắng ở Thái lan năm 2008 đạt 533,000 tấn, trong đó sản lượng tôm sú đạt 160,000 tấn và 373,000 tấn là tôm chân trắng Trong 10 năm lại đây, tốc độ tăng về sản lượng tôm thế giới khoảng 20%/năm, đã đem lại cho thế giới 3,2 triệu tấn tôm với giá trị tôm nuôi hiện nay là 11 tỷ USD, giá tôm trung bình rơi vào khoảng 3,4-3,5 USD/kg (Nguyễn Trang , 2013) Năm 2004, tôm chân trắng dẫn đầu về sản lượng tôm nuôi, đóng góp trên 50% tổng sản lượng tôm nuôi trên thế giới Năm 2007, tôm chân trắng chiếm 75% tổng sản lượng tôm nuôi toàn cầu và là đối tượng nuôi chính ở 3 nước châu Á (Thái Lan, Trung Quốc, Inđônêxia) Ba nước này cũng chính là những quốc gia dẫn đầu thế giới về nuôi tôm (VASEP, 2013)

2.4.2 Việt Nam

Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, tôm chân trắng được nuôi thử nghiệm

ở Việt Nam từ năm 2002, tôm chân trắng được nuôi thử nghiệm ở Việt Nam từ năm 2002 với diện tích 1.710 ha, sản lượng đạt 10.000 tấn đến năn 2010 thì diện tích nuôi là 25.000 ha, sản lượng đạt được là 135.000 nghìn tấn, đem lại 414,6 triệu USD giá trị xuất khẩu theo dự báo của Tổng cục thủy sản, sản lượng nuôi tôm thẻ chân trắng năm 2012 của cả nước đạt trên 200.000 tấn diện tích tăng đến 25.843 ha, bằng 135% so với năm trước, nhất là ở miền Bắc và miền Trung Hiện nay, trong nuôi tôm chân trắng, công nghệ nuôi bán thân canh và thâm canh đang dần thay thế cho mô hình nuôi quảng canh cải tiến

Theo số liệu thống kê của ngành thủy sản các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, trong tháng 11-2011, toàn vùng đã thu hoạch trên 5000 tấn tôm chân trắng, nâng tổng sản lượng tôm chân trắng thu hoạch từ đầu năm đến nay được 51137 tấn, vượt kế hoạch 32% cao hơn sản lượng thu hoạch năm 2010 tới 57% Một trong những lợi thế của tôm chân trắng là thời gian thu hoạch nhanh, từ khi thả đến khi thu hoạch chỉ mất 70-80 ngày Do vậy có thể nuôi 3 vụ trong cùng một năm Điều này cho thấy đây là một đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao, góp phần làm tăng sản lượng, giá trị xuất khẩu (Thế Đạt, 2013)

Trang 17

Theo Thống kê của Bộ NN&PTNT, cuối năn 2012 cả nước có 185 cơ sở sản xuất giống tôm chân trắng, sản xuất được gần 30 tỷ con Số trại sản xuất tôm chân trắng và tôm sú chủ yếu tập trung tại các tỉnh Nam Trung Bộ, trong đó Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hoà và Phú Yên chiếm khoảng 40% trong tổng số trại sản xuất giống tôm của cả nước Sản lượng giống tôm nước lợ ở khu vực này chiếm khoảng 70% tổng sản lượng giống tôm của cả nước Bên cạnh đó, các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang cũng là những địa phương sản xuất giống tôm chân trắng cung cấp lượng lớn tôm giống cho thị trường

Hiện tại tôm chân trắng đã được đưa vào nuôi rộng khắp ở các vùng nuôi tôm trên cả nước và hiệu quả đã được khẳng định rõ Tuy nhiên với việc nuôi tràn lan như hiện nay thì nguy cơ ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh gây thiệt hại cho người nuôi là điều khó tránh khỏi Do đó cần phải tổ chức quy hoạch lại các vùng nuôi và đầu tư nghiên cứu sản xuất giống tôm sạch bệnh là yêu cầu cấp thiết

Theo thống kê 5/2012, tổng giá trị xuất khẩu đạt 2,34 tỉ USD, tăng 11,6%

so với cùng kỳ Trong đó mặt hàng tôm vẫn có xu hướng tăng nhưng mức tăng thấp đạt 798 triệu USD tăng 4,9% so với cùng kỳ Trong đó tôm chân trắng xuất khẩu tăng mạnh 259,5 triệu USD tăng 42,8%, thì xuất khẩu tôm sú lại giảm mạnh chỉ đạt 441 triệu USD giảm 9,4% (VASEP, 2012)

2.4.3 Đồng bằng sông Cửu Long

Tại Hội nghị Tổng kết tình hình hoạt động năm 2010, triển khai kế hoạch năm 2011 của Bộ NN&PTNT, Tổng cục Thủy sản đề ra kế hoạch cho năm 2011, ĐBSCL đưa hơn 639.000 ha diện tích vào nuôi tôm trong đó 25.300 ha là nuôi tôm chân trắng do đó nhu cầu con giống cũng tăng lên Tuy nhiên hàng năm các tỉnh ĐBSCL chỉ cung cấp khoảng 45-50% nhu cầu con giống, số còn lại phải nhập từ các tỉnh miền Trung, Khánh Hòa,…(tạp chí Thủy sản Việt Nam, 2010)

Năm 2004 thì diện tích nuôi tôm biển đạt 600.000 ha (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2004) Năm 2011 xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 6,1

tỷ USD tăng 21% so với năm 2010 xuất khẩu mặt hàng tôm sú chiếm 59,7% tôm thẻ chân trắng chiếm 29,3% còn lại là các loại thủy sản khác (VASEP, 2011) Xuất khẩu thủy sản ở ĐBSCL năm 2011 đạt 4 tỷ USD tăng 27% so với năm

2010 xuất khẩu tôm đạt 190 nghìn tấn, trị giá đạt 1,8 tỷ USD Trong đó Cà Mau

có diện tích nuôi và sản lượng Nuôi trồng thủy sản lớn nhất cả nước chủ yếu là nuôi thủy sản nước lợ Xuất khẩu thủy sản của Cà Mau năm 2011 đạt 9,28 nghìn tấn trị giá 910 triệu USD tăng 6,5% về giá trị so với năm 2010 (VASEP, 2012)

Trang 18

2.5 Điều kiện môi trường cho tôm thẻ chân trắng

2.5.1 Nhiệt độ

Trong ao nuôi nhiệt độ là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến quá trình sinh tổng hợp các hợp chất hữu cơ cho cơ thể, cũng như tác động lớn đến tốc độ phân hủy cá hợp chất hữu cơ và quá trình trao đổi chất của tôm Nhiệt độ chính làm cho các thủy vực nóng lên chủ yếu là từ năng lượng ánh sáng mặt trời, ngoài

ra cũng từ quá trình oxy hóa các vật chất hữu cơ có trong thủy vực nhưng phần nhiệt này sinh ra không đáng kể không có khả năng làm cho thủy vực nóng lên(Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2006) Theo Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải (2004) thì nhiệt độ tốt nhất cho tăng trưởng của tôm nước lợ giao động trong khoảng 25-30oC

2.5.2 pH

PH là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của thủy sinh vật như: sinh trưởng dinh dưỡng, tỉ lệ sống và sinh sản Chính vì vậy mà người nuôi cần hết sức lưu ý trong việc quản lý pH ao nuôi trong khoảng thích hợp nhằm tránh sự bộc phát hai chất khí không có lợi trên Theo Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út (2006) thì khoảng pH thích hợp cho nuôi thủy sản từ 6,5-9 thấp hơn hoặc cao hơn ngưỡng này đều không có lợi cho đời sống tôm, cá, pH < 4 thì hầu như không có loài tôm, cá nào có thể tồn tại được và người ta gọi đây là điểm chất acid, pH >

11 được gọi là điểm chất kiềm

2.5.3 DO (Oxy hòa tan)

Hàm lượng oxy hòa tan trong nước chịu sự chi phối bỡi nhiệt độ, nhiệt độ càng cao thì hàm lượng oxy bão hòa càng giảm Khi nhiệt độ nước ở 10 o

C thì hàm lượng oxy bão hòa là 11,3 ppm, khi nhiệt độ nước tăng lên 25 o

C thì hàm lượng oxy bão hòa giảm xuống 8,5 ppm Hàm lượng oxy hào tan thích hợp cho

sự phát triển của tôm sú nằm trong khoảng 5-6 ppm (Boyd, 1998)

Theo Trương Quốc Phú (2006) thì hàm lượng O2 lý tưởng cho tôm, cá trong khoảng 5-6 ppm, riêng các loài cá sống trong bùn đáy hay các cơ quan hô hấp phụ thì có khả năng chịu được hàm lượng O2 hòa tan có trong môi trường thấp hơn

2.5.4 NO 2

-Trong ao nuôi, từ hai quá trình nitrite hóa và phản nitrate hóa thì sinh ra nitrite, nó là một dạng độc chất đối với động vật thủy sản Độ độc của nitrite trong môi trường nước ngọt mạnh gấp 55 lần so với môi trường nước có độ mặn 16‰ (Preedalumpabutt et al., 1989) Theo Whetstone et al (2002) thì độ mặn

càng cao thì tính độc của nitrite càng giảm Ngoài ra, độ độc của nitrite còn phụ thuộc và nhiều yếu tố như pH, nồng độ Cl-

kích cở tôm nuôi và hàm lượng oxy

Trang 19

hòa tan nên để đưa ra nồng độ gây chết cho tôm nuôi là không dễ Trong ao nuôi giới hạn của NO2- < 0,23 ppm

Khi hàm lượng NO2- trong nước cao nó sẽ kết hợp với hemoglobin trong máu cá tạo thành methemoglobin khi máu cá chứa nhiều sẽ có màu nâu lúc này khả năng kết hợp với O2 của máu cá giảm đi rõ rệt và từ đó làm cho cá bị chết ngạt Theo Trương Quốc Phú (2006) một số nhân tố sau đây sẽ ảnh hưởng tới độ độc của NO2- như: hàm lượng Chloride, pH, kích cỡ cá, tình trạng dinh dưỡng, sự nhiễm bệnh hàm lượng O2 hòa tan…vì thế mà khó có thể xác định được nồng độ gây chết hay nồng độ an toàn của NO2- trong nuôi trồng thủy sản Hàm lượng

NO2- thích hợp cho nuôi tôm nước lợ < 4,5 ppm, giới hạn NO2- cho các trại giống nước ngọt là 0,5 ppm

2.5.5 TAN

Trong thủy vực NH3 là yếu tố môi trường quan trọng có ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ sống, sinh trưởng đối với các thủy sinh vật NH3 ở dạng hòa tan là chất khí cực độc Theo Trương Quốc Phú (2006) thì NH3 ở nồng độ 0,6-2 ppm sẽ gây độc cho cá riêng đối với ao nuôi tôm NH3 an toàn cho ao nuôi < 0,13 ppm

Trái lại NH4+ là ion không độc, cần thiết cho đời sống thủy sinh vật làm thức ăn tự nhiên, tuy nhiên các ion này tồn tại quá cao trong môi trường nước sẽ không có lợi vì làm cho thực vật phù du phát triển quá mức gây bất lợi cho đời sống tôm, cá (thiếu O2 sáng sớm, pH dao động trong ngày lớn…) Hàm lượng

NH4+ thích hợp cho ao nuôi thủy sản từ 0,2-2 ppm (Trương Quốc Phú, 2006)

2.5.6 Độ kiềm tổng cộng

Độ kiềm của nước là số đo tổng của ion carbonate và picarbonate, chúng

có vai trò qua trọng trong nước thông qua làm giảm sự biến động của pH

(Chanratchakool et al., 1995)

Theo Ong Mộc Quý và Trịnh Việt Anh (2010), độ kiềm từ 40 mg CaCO3/L trở lên không ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng như chiều dài, khối lượng, tốc độ tăng trưởng hằng ngày và tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng trong môi trường nước có độ mặn 4‰ Tôm chân trắng sống tốt trong nước có độ kiềm

từ 40-100 mg CaCO3/L (Ong Mộc Quý và Trịnh Việt Anh, 2010)

Trang 20

2.6 Các nghiên cứu liên quan đến dầu thực vật

Việc mở rộng các cơ sở nuôi thủy sản nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của người tiêu dùng đã dẫn đến xu hướng sử dụng các loại kháng sinh để nâng cao tỷ lệ sống và tăng trưởng của động vật thủy sản Tuy nhiên, điều này bị cấm trong quá trình sản xuất do tác dụng phụ của kháng sinh và vì an toàn thực phẩm Cũng có nhiều nghiên cứu về việc thay thế đạm và lipid có nguồn gốc từ động vật bằng đạm và lipid có nguồn gốc từ thực vật Một số nghiên cứu đã báo cáo rằng khả năng sử dụng rong biển làm thức ăn cho các loài thủy sản nuôi tùy thuộc vào từng loại, tập tính ăn của loài, giai đoạn phát triển và tùy thuộc vào loại rong sử dụng trong thức ăn (FAO, 2003; Tawil, 2010) Thêm vào đó, việc sử dụng rong biển làm thức ăn có ảnh hưởng tới tăng trưởng, hiệu quả sự dụng thức

ăn và thành phần sinh hóa của đối tượng nuôi (FAO, 2003; Yildirim et al., 2009;

đề kháng của động vật chống lại bệnh hại do vi khuẩn và virus (Suarez et al.,

2009) Tác giả đã tổng hợp các nghiên cứu sử dụng rong biển trong thức ăn cho tôm cho thấy tốc độ tăng trưởng của tôm tốt hơn so với đối chứng khi bổ sung

bột rong làm thức ăn Tôm chân trắng L.vannamei (cỡ 0,45 g) cho ăn 2-4% bột rong Macrocystis pyrifera trong khẩu phần, L.vannamei (cỡ 1,6 g) cho ăn 3,3% bột Ulva và thức ăn cho tôm Farfantanpenaeus carliforniensis có thể cho ăn 4% bột rong Sargasaum Hơn nữa theo kết quả nghiên cứu của Penaflorida và Golez (1996) cho thấy khi khẩu phần ăn chứa 5% rong sụn Kappaphycus alvarezii đạt tăng trưởng tốt nhất ở tôm sú penaeus monodon (200 mg) và tăng trưởng thấp nhất khi chứa 3% rong câu Gracilaria heterocclda trong khẩu phần ăn Bên cạnh

đó theo nghiên cứu của Briggs et al (1996) thấy rằng tốc độ tăng trưởng đặc thù của tôm penaeus monodon là rất cao khi khẩu phần ăn chứa đến 15% rong câu

Gracilaria, nhưng ở mức bổ sung 30% thì tăng trọng của tôm sẽ thấp hơn

Nguyên nhân là do hàm lượng tro cao, hàm lượng protein thấp, hoặc sự hiện diện của chất xơ hòa tan cao trong thức ăn thử nghiệm với mức bổ sung rong biển cao Tốc độ tăng trưởng của tôm chân trắng (450 mg) gia tăng đáng kể (53-68%) khi

khẩu phần ăn chứa 2-4% bột tảo Macrocystis pyrifera Mexican Tuy nhiên khi sử dụng bột tảo Macrocystis pyrifera Chile trong khẩu phần ăn cho tôm thẻ chân

trắng (643 mg) ở mức 4-8% thì tăng trọng của tôm không đáng kể Theo nghiên

cứu của Rivera et al (2002), cho thấy khi sử dụng rong Macrocystis xoay

nhuyễn, hòa tan áo bên ngoài viên thức ăn cho tôm chân trắng, tôm sẽ tăng

Trang 21

trưởng tốt nhất ở mức sử dụng 10% Macrocystis, và tăng trưởng của tôm kém

hơn khi sử dụng ở mức 15% và 20% Ngoài ra khi sử dụng 50% rong câu

Gracilaria trong khẩu phần ăn của tôm chân trắng thì tốc độ tăng trưởng tương

đối của tôm đạt được là 4,7% khác biệt không đáng kể so với sử dụng thức ăn

thương mại (Soriano et al., 2007) Theo Silva et al (2009) đánh giá khả năng sử dụng hai loại rong Hypnea cervicornis và Cryptonemia cernulata trong khẩu

phần ăn của tôm thẻ chân trắng với các 39%, 26%, 13% và 0% Kết quả cho thấy

hệ số chuyển hóa thức ăn ở nghiệm thức bổ sung rong biển ở mức cao 39% và 26% (1,79-1,82) tốt hơn mức 13% và 0% (2,04-2,08) Ngoài ra theo Lê Văn Lợi (2013) đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung tinh dầu thiết yếu vào khẩu phần ăn

của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) giai đoạn giống đến tốc độ tăng

trưởng và tỷ lệ sống Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức với các mức tinh dầu 0%, 0,01%, 0,02%, 0,04% thời gian thí nghiệm là 60 ngày Kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng tuyệt đối cao nhất ở nghiệm thức 0,01% và 0,02% và đạt giá trị 0,15±0,02; 0,16±0,02 (g/ngày) Tốc độ tăng trưởng tương đối khá cao, trung bình dao động từ 3,28-3,33 (%/ngày) Tỷ lệ sống đạt được khá cao dao động trong khoảng từ 92-93,3% Cao nhất ở nghiệm thức đối chứng và 0,01% với tỷ lệ sống đạt được là 93,3% thấp nhất ở nghiệm thức 0,04% với tỉ lệ sống đạt được là 92%

Trang 22

CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian, địa điểm thực hiện đề tài

Đề tài được thực hiện từ tháng 7/2013 đến ngày 9/2013 ở khu nhà lưới ngoài trời Khoa Thủy Sản, Trường Đại học Cần Thơ Đối tượng nghiên cứu của

đề tài là tôm chân trắng (L vannamei, Boone 1931) Các chỉ tiêu về môi trường

được phân tích tại phòng Phân tích chất lượng nước Bộ môn Thủy sinh học ứng dụng, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ

3.2 Vật liệu nghiên cứu

3.2.1 Dụng cụ

Bể 4000L, 1000l, 500L, máy bơm chìm, máy thổi khí, thướt đo (cm), cân điện tử, khúc xạ kế, hệ thống sục khí, ống nhựa PVC, chai nhựa 1L, chai nút mài nâu 125ml, máy đo pH, nhiệt độ Hana, khay, thau nhựa, vợt và sổ ghi chép…, hệ thống điện, ống PVC, keo nhựa, Máy so màu quang phổ UNICAM,…

3.2.2 Hóa chất sử dụng

Chlorine, Thuốc tím, EDTA, DPD, Na2S2O3, NaHCO3, Thuốc và hóa chất

khác,…

3.2.3 Nguồn nước thí nghiệm

Nguồn nước ngọt được lấy từ nước máy tại khoa thủy sản

Nước lợ thí nghiệm được pha từ nước ngọt và nước ót đến khi độ mặn đạt 15‰ thì tiến hành xử lý nước Nước pha ở độ mặn 15‰ nước chứa ở bể được xử

3.2.4 Nguồn tôm thí nghiệm

5.000 tôm chân trắng (L.vannamei) giai đoạn post 15 được mua từ các trại

giống có uy tín tại thành phố Cần Thơ Tôm được nuôi tại trại thực nghiệm Bộ môn Thủy sinh học ứng dụng, Khoa Thủy sản Trường Đại học Cần Thơ Sau khi chuyển về phòng thí nghiệm tôm được thuần hóa và được nuôi trong 3 bể nuôi composite, mỗi bể có thể thích 2 m3

ở độ mặn 15‰ Tôm nuôi được cho ăn bằng thức ăn viên công nghiệp Grobest (Việt Nam) 40% CP, cho ăn 3 lần/ngày Tôm chân trắng thí nghiệm được nuôi đến khi có khối lượng khoảng 3-5 g/con và chiều dài đạt 6-8 cm/con thì mới tiến hành thí nghiệm Trước khi thả tôm vào bể thí nghiệm thì các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH và độ nặm được xác định

để bảo đảm không ảnh hưởng đến tôm Sau đó, tôm được đưa vào bể composite

Trang 23

500 lít đã được bố trí sẵn với mật độ 50 con/bể Tôm được tiếp tục cho ăn 3 ngày bằng thức ăn viên để bảo đảm tỷ lệ sống ban đầu ổn định 100% sau khi thả

3.2.5 Thức ăn thí nghiệm

Bốn nghiệm thức thức ăn được chuẩn bị cho thí nghiệm Dầu thực vật special oil (Pharmaq Co Ltd., Việt Nam) được thay thế hàm lượng dầu mực trong khẩu phần ăn với tỷ lệ % lần lượt là 0; 0,1%; 0,2%; 0,4% (Bảng 1) Khẩu phần không thay thế dầu thực vật được xem như là nghiệm thức đối chứng Dầu thực vật special oil được trộn điều với các nguyên liệu sau đó đem ép viên tại nhà máy sản xuất thức ăn của Khoa Thủy sản Trường Đại học Cần Thơ Sau khi ép viên, thức ăn được làm khô với nhiệt độ 60 oC cho đến khi đạt độ ẩm theo yêu cầu và phân tích thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm (Bảng 1) Thức ăn được bảo quản -20oC cho đến khi thực hiện thí nghiệm Thành phần nguyên liệu

và thành phần hóa học của thức ăn được thể hiện trong Bảng 1

Bảng 1: Thành phần nguyên liệu và thành phần hóa học của thức ăn

Thí nghiệm nuôi tôm chân trắng (L.vannamei) được bố ngoài trời có che

lưới lan để hạn chế ánh sáng trực tiếp vào trong bể và thí nghiệm bố trí ngẫu nhiên Thí nghiệm được bố trí trong 12 bể gồm có 4 nghiệm thức mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần

Thí nghiệm được bố trí trong nhà lưới ngoài trời Khoa Thủy sản và chịu tác động trực tiếp của điều kiện tự nhiên như nhiệt độ, mưa, gió và độ mặn thay đổi theo môi trường Thay nước theo chu kỳ 1 lần/tuần, mỗi lần thay 30-40% thể tích của bể

Trang 24

3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 4 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần, cùng mật độ nuôi và thức ăn sử dụng có cùng hàm lượng protein và khác mức lipid

Nghiệm thức đối chứng: Không thay thế dầu thực vật special oil

Nghiệm thức 0,1%: Thay thế dầu thực vật special oil với hàm lượng 0,1% Nghiệm thức 0,2%: Thay thế dầu thực vật special oil với hàm lượng 0,2% Nghiệm thức 0,4%: Thay thế dầu thực vật special oil với hàm lượng 0,4%

Hình 2: Hệ thống thí nghiệm

3.3.2 Quản lý và chăm sóc

Tôm được cho ăn theo nhu cầu và được thay đổi theo tình hình sử dụng thức ăn của tôm hằng ngày, cho ăn 3 lần trên ngày vào lúc 8h, 15h, 21h Sau 2h khi cho ăn thì tiến hành kiểm tra lượng thức ăn thừa để điều chỉnh lượng thức ăn cho những lần cho ăn sau này Tôm chết sẽ được loại bỏ ngay để tránh hiện tượng ăn lẫn nhau của tôm Theo dõi hoạt động tôm và các biến động môi trường (thời tiết, chất lượng nước ) để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp Quản lý các chỉ tiêu môi trường như : pH, nhiệt độ, oxy hòa tan, độ kiềm, NO2-, TAN được theo dõi định kỳ 1 tuần/lần Trong quá trình thí nghiệm, để tránh hiện tượng tôm bị thiếu khoáng do nuôi trong bể, khoáng premix của công ty (Vemedim Co.Ltd) cũng được sử dụng hàng tuần bằng cách pha loảng với nước thí nghiệm và tạt điều vào trong bể Liều lượng khoáng tạt được thực hiện cùng thời điểm, cùng liều lượng giữa các bể nuôi Bổ sung khoáng premix với liều

Trang 25

lượng 1,5 (g/ m3) và nâng độ kiềm bằng NaHCO3 với liều lượng 28 (g/m3) 1 lần/ tuần

3.3.3 Phương pháp thu mẫu và phân tích môi trường nước

Các chỉ tiêu pH và nhiệt độ được thu và ghi nhận tại hiện trường thu mẫu, các chỉ tiêu còn lại như: Độ kiềm, DO, TAN, NO2- được thu và đem về phòng phân tích chất lượng nước của Bộ môn Thủy sinh học Ứng dụng, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ phân tích DO được thu bằng chai nâu, cố định mẫu bằng 1ml MnSO4 và 1 ml KI-NaOH Độ kiềm, TAN và NO2- được thu trong chai nhựa 1 lít trữ lạnh Các phương pháp phân tích mẫu được thể hiện trong Bảng 2

Bảng 2: Phương pháp thu và phân tích các chỉ tiêu môi trường

Chỉ tiêu Chu kì thu mẫu Thời gian thu

mẫu

Phương pháp phân tích

3.3.4 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu tăng trưởng

- Tăng trưởng chiều dài (cm) (Length Gain)

Ngày đăng: 22/09/2015, 17:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1:Hình thái bên ngoài tôm chân trắng - ảnh hưởng của dầu thực vật lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm chân trắng (litopenaeus vanamei) trong điều kiện nuôi trong bể ngoài trời
Hình 1 Hình thái bên ngoài tôm chân trắng (Trang 13)
Bảng 1: Thành phần nguyên liệu và thành phần hóa học của thức ăn - ảnh hưởng của dầu thực vật lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm chân trắng (litopenaeus vanamei) trong điều kiện nuôi trong bể ngoài trời
Bảng 1 Thành phần nguyên liệu và thành phần hóa học của thức ăn (Trang 23)
Hình 2: Hệ thống thí nghiệm - ảnh hưởng của dầu thực vật lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm chân trắng (litopenaeus vanamei) trong điều kiện nuôi trong bể ngoài trời
Hình 2 Hệ thống thí nghiệm (Trang 24)
Hình 3. Biến động nhiệt độ trong các nghiệm thức thí nghiệm - ảnh hưởng của dầu thực vật lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm chân trắng (litopenaeus vanamei) trong điều kiện nuôi trong bể ngoài trời
Hình 3. Biến động nhiệt độ trong các nghiệm thức thí nghiệm (Trang 28)
Hình 5: Biến động giá trị độ mặn ở các nghiệm thức - ảnh hưởng của dầu thực vật lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm chân trắng (litopenaeus vanamei) trong điều kiện nuôi trong bể ngoài trời
Hình 5 Biến động giá trị độ mặn ở các nghiệm thức (Trang 29)
Hình 4: Biến động pH giữa các nghiệm thức - ảnh hưởng của dầu thực vật lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm chân trắng (litopenaeus vanamei) trong điều kiện nuôi trong bể ngoài trời
Hình 4 Biến động pH giữa các nghiệm thức (Trang 29)
Hình 6: Biến động  DO ở các nghiệm thức - ảnh hưởng của dầu thực vật lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm chân trắng (litopenaeus vanamei) trong điều kiện nuôi trong bể ngoài trời
Hình 6 Biến động DO ở các nghiệm thức (Trang 30)
Bảng 3: Biến động các yếu tố thủy lý trong quá trình thí nghiệm - ảnh hưởng của dầu thực vật lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm chân trắng (litopenaeus vanamei) trong điều kiện nuôi trong bể ngoài trời
Bảng 3 Biến động các yếu tố thủy lý trong quá trình thí nghiệm (Trang 30)
Hình 7: Biến động của độ kiềm ở các nghiệm thức - ảnh hưởng của dầu thực vật lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm chân trắng (litopenaeus vanamei) trong điều kiện nuôi trong bể ngoài trời
Hình 7 Biến động của độ kiềm ở các nghiệm thức (Trang 31)
Bảng 4. Biến động của độ kiềm và DO trong quá trình thí nghiệm - ảnh hưởng của dầu thực vật lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm chân trắng (litopenaeus vanamei) trong điều kiện nuôi trong bể ngoài trời
Bảng 4. Biến động của độ kiềm và DO trong quá trình thí nghiệm (Trang 32)
Hình 9: Biến động của TAN ở các nghiệm thức - ảnh hưởng của dầu thực vật lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm chân trắng (litopenaeus vanamei) trong điều kiện nuôi trong bể ngoài trời
Hình 9 Biến động của TAN ở các nghiệm thức (Trang 33)
Bảng 7: Bảng thể hiện các chỉ tiêu tăng trưởng của tôm nuôi - ảnh hưởng của dầu thực vật lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm chân trắng (litopenaeus vanamei) trong điều kiện nuôi trong bể ngoài trời
Bảng 7 Bảng thể hiện các chỉ tiêu tăng trưởng của tôm nuôi (Trang 36)
Bảng 9: Thành phần sinh hóa của thịt tôm. - ảnh hưởng của dầu thực vật lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm chân trắng (litopenaeus vanamei) trong điều kiện nuôi trong bể ngoài trời
Bảng 9 Thành phần sinh hóa của thịt tôm (Trang 38)
Bảng 10: Tỷ lệ thịt, vỏ của tôm nuôi. - ảnh hưởng của dầu thực vật lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm chân trắng (litopenaeus vanamei) trong điều kiện nuôi trong bể ngoài trời
Bảng 10 Tỷ lệ thịt, vỏ của tôm nuôi (Trang 39)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w