1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xác định độ tiêu hóa của cá thát lát cõm (chitala chitala, hamilton 1882) khi sử dụng các loại thức ăn có các mức thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành khác nhau

40 427 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THUỶ SẢN LÊ TRẦN UYÊN CHI XÁC ĐỊNH ĐỘ TIÊU HÓA CỦA CÁ THÁT LÁT CÕM Chitala chitala, Hamilton 1882 KHI SỬ DỤNG CÁC LOẠI THỨC ĂN CÓ CÁC MỨC THAY THẾ PROTEIN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THUỶ SẢN

LÊ TRẦN UYÊN CHI

XÁC ĐỊNH ĐỘ TIÊU HÓA CỦA CÁ THÁT LÁT CÕM

(Chitala chitala, Hamilton 1882) KHI SỬ DỤNG CÁC LOẠI

THỨC ĂN CÓ CÁC MỨC THAY THẾ PROTEIN BỘT CÁ BẰNG PROTEIN BỘT ĐẬU NÀNH KHÁC NHAU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THUỶ SẢN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

XÁC ĐỊNH ĐỘ TIÊU HÓA CỦA CÁ THÁT LÁT CÕM

(Chitala chitala, Hamilton 1882) KHI SỬ DỤNG CÁC LOẠI

THỨC ĂN CÓ CÁC MỨC THAY THẾ PROTEIN BỘT CÁ BẰNG PROTEIN BỘT ĐẬU NÀNH KHÁC NHAU

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGs Ts TRẦN THỊ THANH HIỀN

2013

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy

cô bộ môn Dinh Dưỡng và Chế Biến Thủy Sản - khoa Thủy Sản - Trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt nhiều kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành thí nghiệm này Đặc biệt là sự giúp đỡ và tận tâm của Cô Trần Thị Thanh Hiền và Cô Trần Lê Cẩm Tú

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến anh Nguyễn Trí Dững, chị Nguyễn Thị Linh Đan và bạn Lê Ngọc Thùy cùng tất cả các bạn lớp Nuôi Trồng Thủy Sản K36 đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đối với gia đình

đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quảng thời giang trên giảng đường Đại học

Chân thành cảm ơn!

Trang 4

TÓM TẮT

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định độ tiêu hóa thức ăn của cá

thát lát còm (Chitala chitala) khi thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu

nành ở các mức khác nhau Thí nghiệm được tiến hành trên cá thát lát còm giống có khối lượng trung bình 6,4 g/con được bố trí với mật độ 50 con/bể (0,5 con/L) Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm nghiệm thức đối chứng và 5 nghiệm thức thí nghiệm có cùng mức protein 42,5% và năng lượng 18,5 KJ/g Nghiệm thức đối chứng sử dụng hoàn toàn protein bột cá (0% bột đậu nành - BĐN), các nghiệm thức còn lại sử dụng protein BĐN thay thế protein bột cá với các mức thay thế lần lượt là 15%, 30%, 45%, 60% và 75% Mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần, sử dụng 1% Cr2O3 làm chất đánh dấu Sau 8 tuần thí nghiệm, tỷ lệ sống của cá giảm khi tăng tỷ lệ thay thế BĐN và dao động khoảng 64,7 – 84,0% Khả năng tiêu hóa vật chất khô cao nhất ở nghiệm thức BĐN 30% (70,8%) khác biệt không có ý nghĩa với ngiệm thức đối chứng (p>0,05) Độ tiêu hóa protein cao nhất ở nghiệm thức đối chứng và BĐN 15% (88,3% và 88,3%) khác biệt không ý nghĩa với nghiệm thức BĐN 30% (86,0%) nhưng có ý nghĩa (p<0,05) với các nghiệm thức còn lại Độ tiêu hóa lipid cao nhất ở BĐN 15% (94,7%) và thấp nhất ở BĐN 75% (83,2%), khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Độ tiêu hóa phospho giảm dần khi gia tăng tỷ lệ thay thế BĐN, độ tiêu hóa phospho đạt cao nhất ở nghiệm thức đối chứng (65,7%) và thấp nhất ở BĐN 75% (38,5%), khác biệt có ý nghĩa thống

kê (p<0,05) Độ tiêu hóa khoáng trong thí nghiệm dao động trong khoảng 58,4 – 80,0% Cao nhất ở nghiệm thức BĐN 15% (80,0%) khác biệt không có ý nghĩa với nghiệm thức đối chứng (78,9%) nhưng khác biệt có ý nghĩa với các nghiệm thức còn lại Cá thát lát còm có khả năng sử dụng thức ăn khi thay thế 30% protein bột cá bằng protein BĐN mà không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và

độ tiêu hóa thức ăn của cá

Trang 5

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 1

GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu đề tài 2

1.3 Nội dung đề tài 2

CHƯƠNG 2 3

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Đặc điểm sinh học và phân loại 3

2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng 3

2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 4

2.2 Nghiên cứu về việc sử dụng thức ăn trong nuôi cá thát lát còm 4

2.3 Nghiên cứu sử dụng các nguồn protein thực vật và bột đậu nành thay thế bột cá trong thức ăn thủy sản 6

CHƯƠNG 3 11

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 11

3.2 Vật liệu nghiên cứu 11

3.3 Phương pháp nghiên cứu 11

3.3.1 Nguồn cá thí nghiệm 11

3.3.2 Hệ thống thí nghiệm 12

3.3.3 Bố trí thí nghiệm 12

3.3.4 Thức ăn thí nghiệm 12

3.3.5 Chăm sóc và quản lý 13

3.4 Phương pháp thu phân 13

3.5 Các chỉ tiêu tính toán 14

3.6 Các chỉ tiêu phân tích 14

3.7 Phương pháp phân tích 14

3.8 Xử lý số liệu 15

CHƯƠNG 4 16

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16

4.1 Môi trường thí nghiệm 16

Trang 6

4.2 Thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm 16

4.3 Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm 17

4.4 Đánh giá độ tiêu hóa thức ăn và dưỡng chất thức ăn của cá thát lát còm 18

4.4.1 Độ tiêu hóa vật chất khô 19

4.4.2 Độ tiêu hóa protein 19

4.4.3 Độ tiêu hóa lipid 21

4.4.4 Độ tiêu hóa phospho 22

4.4.5 Độ tiêu hóa khoáng 23

CHƯƠNG 5 25

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 25

5.1 Kết luận 25

5.2 Đề xuất 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

Trang 7

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 3.1 Tỷ lệ nguyên liệu và thành phần thức ăn thí nghiệm……… 12 Bảng 4.1: Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm……….16 Bảng 4.2: Thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm (tính trên khối lượng khô %)……… 16 Bảng 4.3: Tỷ lệ sống (SR) của cá sau thí nghiệm………17 Bảng 4.4: Độ tiêu hóa thức ăn ở các nghiệm thức (%)………18

Trang 8

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1 Hình dạng bên ngoài cá thát lát còm……… … 3

Hình 3.1 Nguồn cá thí nghiệm……….……… 11

Hình 3.2 Hệ thống thí nghiệm……… 12

Hình 4.1: Độ tiêu hóa vật chất khô (%)………19

Hình 4.2: Độ tiêu hóa protein (%)………20

Hình 4.3: Độ tiêu hóa lipid (%)………21

Hình 4.4: Độ tiêu hóa phospho (%)……….22

Hình 4.5: Độ tiêu hóa khoáng (%)……… 23

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Trong khi ngành công nghiệp cá Tra còn đang tháo gỡ bài toán khó cho nuôi trồng và xuất khẩu Để ổn định diện tích nuôi thủy sản, đa dạng hóa các đối tượng nuôi trồng và giúp phát triển kinh tế hộ gia đình một cách bền vững hơn cần nhân rộng những đối tượng bản địa có giá trị kinh tế, dể nuôi và dể tiêu thụ như: cá lóc, cá rô, cá điêu hồng, cá thát lát còm…Trong đó cá thát lát còm là đối tượng có tiềm năng to lớn trong quá trình phát triển nuôi trồng thủy sản ở khu Đồng bằng sông Cửu Long (Bộ Thủy Sản, 1996)

Cá thát lát còm được nuôi phổ biến ở Hậu Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp nguồn thức ăn chủ yếu dựa vào cá tạp Từ đó đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu quy trình nuôi thương phẩm cá thát lát còm theo hướng phát triển bền vững thông qua việc nghiên cứu thay đổi thức ăn cho cá thát lát còm từ cá tạp sang thức ăn chế biến Đến nay, vấn đề trên đã được thực hiện ở giai đoạn bột lên giống (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Hương Thùy, 2008) Bên cạnh

đó nhu cầu protein và lipid của cá giống (2,42 g/con) (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2013) và cá nuôi thương phẩm (50 – 100 g/con và 200 – 300 g/con) cũng

đã được xác định (Huỳnh Tấn Đạt, 2012)

Trong thức ăn thủy sản, protein động vật chiếm tỷ lệ rất cao thường trên 50% lượng thức ăn (Lê Thanh Hùng, 2008) Nhu cầu sử dụng nguồn protein động vật (chủ yếu là bột cá) trong sản xuất thức ăn ngày càng cao trong khi nguồn cung ngày một giảm Để giảm áp lực phụ thuộc vào bột cá trong sản xuất thức ăn thủy sản, việc tìm kiếm các nguồn protein thay thế bột

cá đã và đang được nghiên cứu rộng rãi Đa dạng hóa tính sẵn có và tận dụng phụ phẩm của ngành công – nông nghiệp thì cám sấy, cám ly trích, cám mì, bột cọ, bột ngũ cốc… có khả năng thay thế một phần hay toàn bộ lượng bột cá trong công thức thức ăn Góp phần giảm sự phụ thuộc của thức ăn vào bột cá, tăng hiệu quả sử dụng các nguyên liệu thực vật và giảm giá thành thức ăn thúc đẩy ngành nuôi trồng thủy sản phát triển bền vững Có nhiều nghiên cứu về

xác định độ tiêu hóa của nguyên liệu làm thức ăn cho cá như Mohanta và ctv

(2006) trích bởi Hải Đăng Phương (2006) thực hiện nghiên cứu trên cá mè

vinh giai đoạn giống (Puntius gonionotus) với các nguồn nguyên liệu khác

nhau gồm bột cá, bột đậu nành, khô dầu đậu phộng, khô dầu hướng dương, khô dầu mè, cám gạo, bột bắp, đậu xanh đãi vỏ và đậu đen đãi vỏ Tương tự,

Ribeiro F et al., 2011 cũng nghiên cứu khả năng tiêu hóa protein và lipid trên

cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) đối với các nguồn nguyên liệu bột bắp,

Trang 11

cám mì, bột đậu nành, gluten bột bắp và bột cá Các nghiên cứu đều cho kết quả khả quan về độ tiêu hóa của động vật thủy sản đối với các nguồn potein thực vật

Trong đó, protein từ bột đậu nành được các nhà nghiên cứu đánh giá có triển vọng nhất bởi nó có hàm lượng protein khá cao, chứa tương đối đầy đủ các acid amin thiết yếu đặc biệt giá thành tương đối rẻ và ổn định Nhiều nghiên cứu đánh giá khả năng thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu

nành đã được thực hiện, đối với cá lóc bông (Channa micropeltes) có thể thay

thế đến 40% protein bột cá bằng protein bột đậu nành trong khẩu phần ăn

(Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2010) Theo Phạm Đức Hùng và Nguyễn Đình

Mão (2009), có thể thay thế tới 40% protein bột cá bằng protein bã đậu nành

trong thức ăn cho cá giò giống (Rachycentron canadum) (9,48 g/con) Đối với

cá tra giống (Pangasianodon hypophthalmus) (6,73 g/con) có thể thay thế đến

60% đạm bột cá bằng đạm bột đậu nành ly trích dầu (Trần Thị Thanh Hiền và

Lê Quốc Phong, 2011)…Nhưng hiện nay, vẫn chưa có nghiên cứu nào thực

hiện trên cá thát lát còm (Chitala chitala)

Xuất phát từ thực tiễn trên đề tài: “Xác định độ tiêu hóa thức ăn có

các mức protein bột đậu nành khác nhau của cá thát lát còm (Chitala chitala, Hamilton 1882)” đã được thực hiện

1.2 Mục tiêu đề tài

Xác định độ tiêu hóa và độ tiêu hóa dưỡng chất thức ăn của cá thát lát còm nhằm xác định các mức thay thế bột đậu nành thích hợp làm cơ sở cho việc xây dựng công thức thức ăn hợp lý và kinh tế

1.3 Nội dung đề tài

Xác định độ tiêu hóa thức ăn và độ tiêu hóa dưỡng chất của cá thát lát còm khi thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành ở các mức khác nhau

Trang 12

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học và phân loại

Cá thát lát còm (Chitala chitala) hay còn gọi là cá còm, cá đao, cá

nàng hai…là loài cá mang lại hiệu quả kinh tế cho nông dân ĐBSCL Cá sống trong đồng ruộng, ao, hồ, kênh, gạch…do có thể chịu được điều kiện môi trường khắc nghiệt, hàm lượng oxy thấp nhờ hoạt động của cơ quan hô hấp khí trời

Theo Nelson (2006), cá thát lát còm thuộc hệ thống phân loại như sau: Ngành: Chordata

Trong tự nhiên, cá thát lát còm có thể sống đến 10 năm, nặng đến 10

kg, dài hơn 80 cm Sau 3 tháng tuổi (đạt chiều dài khoảng 15 cm), cá tăng trọng nhanh và tiêu thụ thức ăn giảm, mỗi năm tăng trọng từ 1-1,2 kg Trong môi trường nuôi nhốt, sau 35-40 ngày nở, cá đạt chiều dài 3 - 4 cm, để đạt cá

Trang 13

giống cỡ 12-15 cm, phải nuôi thêm 30-40 ngày nữa, sau 6 tháng cá đạt trọng lượng 400-500 g/con, sau 12 tháng nuôi cá đạt khoảng 1 kg/con Cá thát lát còm nuôi càng lâu thì hiệu quả kinh tế càng cao, lượng thức ăn sử dụng ngày càng giảm, thịt càng thơm ngon

có vách hơi dày, thực quản ngắn, rộng, ruột ngắn, chiều dài ruột bằng 25-30% chiều dài thân, răng hàm dưới phát triển và sắc nhọn

2.2 Nghiên cứu về việc sử dụng thức ăn trong nuôi cá thát lát còm

Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009) tất cả các loài cá con mới nở sau khi tiêu thụ hết noãn hoàng đều có tính ăn rất hẹp và thường

có chung một loại thức ăn đó là phiêu sinh vật có kích thước nhỏ Cá sau khi

nở khoảng 2 – 3 tuần tuổi mới có sự chuyển sang ăn thức ăn của loài Sự chuyển tính ăn từ động vật phiêu sinh ở giai đoạn cá bột sang thức ăn của loài

ở cá hương là cơ sở quyết định loại thức ăn nhân tạo thích hợp cho từng loài

Thời gian cá bắt đầu sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến chịu ảnh hưởng lớn vào sự hoàn thiện của ống tiêu hóa cũng như sự phát triển chức năng sinh

lý của ống tiêu hóa ở giai đoạn cá bột, thời gian này khác nhau tùy loài

Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Hương Thùy (2008) đánh giá khả năng sử dụng thức ăn chế biến (TĂCB) của cá thát lát còm

(Chitala chitala) được thực hiện ở hai giai đoạn phát triển cá bột 5 ngày tuổi

và cá hương 20 ngày tuổi Ở giai đoạn cá bột, thí nghiệm được bố trí với 5 nghiệm thức khác nhau về thời gian bắt đầu cho ăn TĂCB (5, 10, 15, 20, và 25 ngày tuổi) và một nghiệm thức đối chứng sử dụng hoàn toàn thức ăn tự nhiên Kết quả nghiên cứu cho thấy TĂCB có thể sử dụng ương cá từ ngày tuổi thứ

20 với tỷ lệ sống đạt 74% Ở giai đoạn cá hương, thí nghiệm được tiến hành với 5 nghiệm thức thức ăn: trùn chỉ, cá xay, TĂCB, cá xay kết hợp TĂCB và trùn chỉ kết hợp TĂCB Sau 25 ngày ương, việc kết hợp giữa TĂCB với trùn chỉ cho tỉ lệ sống và sinh trưởng của cá hương đạt (89,3% và 0,13 cm/ngày) tốt hơn so với sử dụng đơn thuần cá xay hoặc TĂCB

Trang 14

Lê Ngọc Diện và ctv (2006) nghiên cứu các mật độ ương và loại thức

ăn khác nhau đã được tiến hành trên cá thát lát (Notopterus notopterus, Pallas) Cá được ương với các mật độ 100, 150, 200 con/m2 và cho ăn bằng cá biển xay và thức ăn viên có hàm lượng protein lần lượt là 25%, 35% và 45% Trong giai đoạn nuôi thịt, cá được nuôi ở các mật độ 10 và 20 con/m2

với các thức ăn là cá biển xay, thức ăn viên có hàm lượng protein 20%, 25%, 30% và thức ăn chế biến (50% cá biển xay + 50% thức ăn viên có hàm lượng protein 20%) Kết quả cho thấy mật độ ương cá thát lát tốt nhất là 100 con/m2 cá đạt kích thước và tăng trọng cao nhất với thức ăn cá biển xay (5-7cm dài, 1,6 g/con) Cá nuôi đạt mức tăng trọng cao nhất ở mật độ 10 con/m2 sử dụng thức

ăn chế biến (89,36 g/con), kế đến là cá biển xay (81,91 g/con) Mật độ nuôi thịt tốt nhất là 10 con/m2 Bên cạnh đó, ngoài thức ăn động vật thích hợp là cá biển xay, cá thát lát sử dụng thức ăn viên có hàm lượng protein 25 - 30% trong giai đoạn ương giống, 20-25% trong giai đoạn nuôi thương phẩm cho mức tăng trọng và tỷ lệ sống cao; nhưng nuôi ở công thức thức ăn kết hợp 50% cá biển xay + 50% thức ăn viên 20% protein cho mức tăng trọng và tỷ lệ sống cao nhất

Mô hình nuôi cá thát lát còm đang được phát triển rộng rãi, tuy nhiên nguồn thức ăn chủ yếu vẫn là cá tạp Để nhân rộng mô hình nuôi và hướng đến

sự phát triển bền vững cần tìm kiếm loại thức ăn thay thế cá tạp là điều cần thiết

Cá thát lát còm (Notopterus chitala, Hamilton) được nuôi trong bè bằng

các loại thức ăn khác nhau gồm cá tạp trộn với cám (60% protein); xương gà xay trộn với cám (39% protein) và thức ăn chế biến (32% protein) Cá được bố trí có khối lượng trung bình 30 g/con được cho ăn 8% khối lượng thân, cho ăn

2 lần/ngày Sau 90 ngày thí nghiệm khối lượng cá ở cả ba nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa thống kê, cao nhất ở nghiệm thức cá tạp trộn với cám (178,0±3,0g), xương gà trộn cám (130,3±6,6g), thấp nhất ở nghiệm thức thức

ăn chế biến (95,8±2,3g) FCR thấp nhất ở cám trộn cá tạp là 3,09±0,08; FCR ở nghiệm thức xương gà trộn cám và thức ăn chế biến lần lượt là 3,86±0,24 và 4,12±0,34 Tỷ lệ sống của cá thát lát còm ở ba nghiệm thức khác biệt không có

ý nghĩa (p>0,05) Chi phí thức ăn cá tạp, xương gà và thức ăn chế biến lần lượt

là 26,98; 42,45 và 122,47 Baht/kg (Decha Rodragang and Wallop Plungdi, 2000)

Lã Ánh Nguyệt (2008) nghiên cứu sử dụng thức ăn công nghiệp trong nuôi cá nàng hai thương phẩm Cá có khối lượng trung bình 4,33g được cho

ăn với 4 nghiệm thức thức ăn (cá tạp xay; 50% cá tạp xay + 50% thức ăn công nghiệp; 25% cá tạp xay + 75% thức ăn công nghiệp; 100% thức ăn công

Trang 15

nghiệp) Sau 8 tháng, kết quả nghiên cứu cho thấy ở nghiệm thức 50% cá tạp xay + 50% thức ăn công nghiệp cá đạt mức tăng trọng và tỷ lệ sống cao nhất

(305g và 77%)

2.3 Nghiên cứu sử dụng các nguồn protein thực vật và bột đậu nành thay thế bột cá trong thức ăn thủy sản

Tận dụng các nguồn nguyên liệu địa phương sẵn có làm thức ăn cho cá

là một nhân tố rất quan trọng trong việc giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh tế Hiện nay cám gạo được sử dụng rất phổ biến trong chế biến thức ăn nuôi thủy

sản Trên cá lóc (Channa striata) giai đoạn giống cỡ 4 – 5 g/con Võ Minh Quế

Châu (2010) nghiên cứu đánh giá khả năng sử dụng cám gạo làm thức ăn cho

cá lóc Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức trong đó hàm lượng cám gạo sử dụng

là 0%, 10%, 20% và 30%, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Tăng trưởng của cá đạt cao nhất ở nghiệm thức chứa 10% cám gạo, tốc độ tăng trưởng tương đối đạt 0,29 g/ngày, khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức chứa 20 và 30% cám gạo Không có sự khác biệt về hệ số thức ăn, hiệu quả sử dụng protein và thành phần sinh hóa của cá giữa các nghiệm thức, chi phí thức ăn giảm từ 4,49 – 7,90% cho 1kg tăng trọng so với nghiệm thức đối chứng

Nghiên cứu của Mayra L González-Félix et al., (2010) trên cá nục

(Trachinotus carolinus ) kích cở trung bình 111,6 g được bố trí với mật độ 18

con/bể Nghiệm thức đối chứng chứa 54% protein, 11% lipid và 1% Cr2O3 và

7 nghiệm thức thí nghiệm (gồm 70% nghiệm thức đối chứng và 30% nguyên liệu thí nghiệm gồm ngũ cốc bột bắp, ngũ cốc bo-bo, bột mì tinh, cám mì, cám lẫn tấm mì, cám nguyên béo, cám ly trích Kết quả thí nghiệm cho thấy cám

mì và ngũ cốc bột bắp có độ tiêu hóa năng lượng tương đương nhau (44,9% và 44,8%), bột mì tinh có độ tiêu hóa cao nhất 55,4% và thấp nhất là cám lẫn tấm

mì và cám ly trích 8,2% và 12,6%

Nghiên cứu xác định khả năng tiêu hóa của cám sấy và cám ly trích trong thức ăn cá Tra được Hải Đăng Phương (2006) thực hiện Thí nghiệm được tiến hành với hệ thống thu phân lắng, phân được thu sau 12 giờ cho ăn

Cá Tra có khả năng tiêu hóa tương đối tốt đối với 2 loại cám này Độ tiêu hóa cám ly trích (49,2%) cao hơn cám sấy (42,6) nhưng không có ý nghĩa, độ tiêu hóa protein là 67,2% và 66,7%, độ tiêu hóa năng lượng là 63,4% và 64,5%

Bột đậu nành được biết đến như nguồn protein thực vật tốt nhất để thay thế nguồn protein bột cá Bột đậu nành được sử dụng làm thức ăn cho động vật hiện nay chủ yếu là bột đậu nành ly trích dầu có hàm lượng protein khá cao khoảng 47-50%, lipid không quá 2% và chứa tương đối đầy đủ các acid

Trang 16

amine thiết yếu (Trần Thị Thanh Hiền, 2004) Tuy nhiên, có sự mất cân đối giữa các acid amine, arginine và phenylalanine rất dồi dào trong bã đậu nành, ngược lại hàm lượng methionine và cystine (chứa S) thấp so với nhu cầu của

cá Tỷ lệ sử dụng bã đậu nành và bánh dầu đậu nành trong thức ăn, gia tăng liên tục trong 20 năm qua, do giá cá hợp lý, nguồn cung cấp ổn định và gia tăng liên tục theo thời gian Hằng năm, thế giới sản xuất 85 – 100 triệu tấn bã đậu nành, chiếm trên 50% nguồn cung cấp protein trong thức ăn chăn nuôi và thủy sản (Lê Thanh Hùng, 2008) Với những ưu điểm trên bột đậu nành được xem là một nguồn protein thực vật có nhiều triển vọng nhất khi thay thế một phần hoặc hoàn toàn bột cá trong khẩu phần thức ăn của cá

Sử dụng protein bột đậu nành thay thế protein bột cá đang là khuynh hướng phổ biến trong sản xuất thức ăn thủy sản hiện nay nhằm mục đích bảo

vệ nguồn lợi thủy sản tự nhiên, chủ động nguồn nguyên liệu và đặc biệt là hạ giá thành trong sản xuất Hiện nay rất nhiều công trình nghiên cứu về khả năng thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành cho các loài cá đã được

thực hiện và đạt được những kết quả khác nhau như cá hồng đỏ (Lutjanus campechanus) (D Allen Davis et al., 2005), cá hồi Đại Tây Dương (Salmo salar L) (J Pratoomyot et al., 2010), cá tráp (Sparidae) (Nenad Antolović,

2012)…Theo Phạm Đức Hùng và Nguyễn Đình Mão (2009) mỗi loài cá khác nhau có các phản ứng khác nhau đối với sự thay thế protein bột cá bằng

protein bã đậu nành (trích bởi Refstie và ctv., 2000) Các loài cá nước ngọt có

phản ứng tốt với bã đậu nành hơn so với cá biển Theo Delbert M Gatlin III (2006), độ tiêu hóa protein của bột đậu nành hơn 90% đối với các loài như cá chép, cá da trơn, cá rô phi và cá rô bạc, hay có thể cao hơn 95% đối với một số loài khác Độ tiêu hóa lipid cũng đạt 74-90% đối với cá da trơn và cá chép

Cá rô phi có khả năng sử dụng tốt bột đậu nành Một nghiên cứu xác

định độ tiêu hóa của cá rô phi (Oreochromis niloticus) của Kenan Ko¨pru¨cu

và YaYar O¨ zdemir (2005) để tìm ra nguồn nguyên liệu thích hợp trong phối chế thức ăn cho cá Kết quả cho thấy ở nghiệm thức bột đậu nành có độ tiêu hóa vật chất khô, protein, lipid và năng lượng lần lượt là 90,9%, 87,4%, 92,1%

và 83,7% và khác biệt không có ý nghĩa so với nghiệm thức đối chứng Tương

tự, nghiên cứu trên cá tra giống (Pangasianodon hypophthalmus) để đánh giá

khả năng thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành ly trích dầu được thực hiện Với các mức thay thế lần lượt là 0% (đối chứng), 20%, 40%, 60%, 80% và 100% Kết quả nghiên cứu cho thấy, cá tra giống cỡ trung bình 6,73 g/con có khả năng sử dụng hiệu quả thức ăn thay thế đến 60% protein bột cá bằng protein bột đậu nành ly trích, tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá không bị ảnh hưởng (Trần Thị Thanh Hiền và Lê Quốc Phong, 2011)

Trang 17

Đánh giá khả năng tiêu hóa thức ăn có bổ sung bột đậu nành (30%) ở

các mức protein khác nhau trên cá chép (Labeo Rohita) được nghiên cứu bởi Bushra Rubbani et al., (2011) Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức đối chứng (gạo

đánh bóng, bột mì, bột bắp 60%, dầu cá, và khoáng) và 3 nghiệm thức thí nghiệm ở mức protein 28%, 30% và 32% sử dụng crom oxid 1% làm chất đánh dấu Kết quả cho thấy độ tiêu hóa vật chất khô cao nhất ở nghiệm thức đối chứng 30% protein (30,45±0,86%) khác biệt có ý nghĩa với nghiệm thức thí nghiệm khác và thấp nhất ở nghiệm thức thí nghiệm 30% protein (27,69±0,15%) Độ tiêu hóa protein tăng dần khi tăng mức protein trong thức

ăn ở các nghiệm thức thí nghiệm 28, 30 và 32% protein lần lượt là 74,80±0,3%; 78,90±0,05%; 80,80±0,15% và sự khác biệt này có ý nghĩa (p<0,05) Ở cùng mức protein có sự khác biệt về độ tiêu hóa protein nhưng không có ý nghĩa giữa nghiệm thức đối chứng và thí nghiệm

Bột đậu nành không những được sử dụng nhiều trong thức ăn cho cá ăn thực vật, cá ăn tạp mà còn được dùng rộng rãi trong thức ăn nuôi cá ăn động vật Nghiên cứu của Phạm Đức Hùng và Nguyễn Đình Mão (2009) trên cá giò

giống (Rachycentron canadum) cỡ trung bình 9,48 g/con Với 7 nghiệm thức

thức ăn protein bột cá được thay thế bằng protein bã đậu nành lần lượt là 0% (B0), 10% (B10), 20% (B20), 30% (B30), 40% (B40), 50% (B50), 60% (B60) Sau 8 tuần thí nghiệm, cá giò giống có thể sử dụng thức ăn thay thế 40% protein bột cá bằng protein bã đậu nành mà không làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống, hệ số chuyển đổi thức ăn và hiệu quả sử dụng protein

Trần Thị Bé và Trần Thị Thanh Hiền (2010) nghiên cứu thay thế

protein bột cá bằng protein bột đậu nành trên cá lóc (Channa striata) Thức ăn

thí nghiệm gồm nghiệm thức đối chứng và 8 nghiệm thức thí nghiệm với mức thay thế protein bột đậu nành lần lượt là 20, 30, 40 và 50% có và không có bổ sung phytase Kết quả thí nghiệm cho thấy tỷ lệ sống của cá ở các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Protein bột đậu nành có thể thay thế protein bột cá ở mức 30% không có bổ sung phytase và 40% có bổ sung phytase trong thức ăn cho cá lóc mà không ảnh hưởng đến tăng trưởng cũng như hiệu quả sử dụng thức ăn và thành phần hóa học của cá Mặt khác,

trên cá lóc bông (Channa micropeltes) khối lượng từ 4-5 g/con có khả năng sử

dụng thức ăn với mức thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành lên đến 40% mà không có sự khác biệt về tăng trưởng, hệ số thức ăn và hiệu quả

sử dụng protein so với nghiệm thức đối chứng (nguồn cung cấp protein chính

từ bột cá) Với mức thay thế 40% bột đậu nành cho bột cá làm thức ăn cho cá lóc bông thì giảm chi phí thức ăn/1kg cá tăng trưởng là 4,83% (Trần Thị

Thanh Hiền và ctv, 2010)

Trang 18

Michael E Barnes et al., (2012) nghiên cứu sử dụng bột đậu nành lên men làm thức ăn cho cá hồi vân giống (Rainbow trout) cỡ 6,1g ±0,5 Thức ăn

thí nghiệm gồm 6 nghiệm thức thay thế bột cá bằng bột đậu nành lên men ở các mức 0%, 10%, 20%, 30%, 40% và 50% Sau 70 ngày thí nghiệm khối lượng và FCR không có sự khác biệt khi thay thế bột cá bằng bột đậu nành lên men đến 30% so với nghiệm thức đối chứng (0%) Tuy nhiên, khi tăng mức độ thay thế lên 40 và 50% khác biệt có ý nghĩa (p>0,05) Kết quả cho thấy cá hồi vân cá khả năng sử dụng thức ăn thay thế bột cá bằng bột đậu nành lên men đến 30% mà không ảnh hưởng đến sức khỏe và tăng trưởng

Trên cá chim trắng (Piaractus brachypomus) cỡ 370,21±17,56g Rebecca Lochma et al., (2004) đã nghiên cứu sử dụng bột đậu nành Thức ăn

đối chứng (gồm bột cá, bột đậu nành, bột bắp, cám mì, vitamin, khoáng và dầu đậu nành) chứa 24,5% protein và 1% crom oxid, phân được thu theo phương pháp si phon Kết quả cho thấy cá chim trắng có khả năng sử dụng bột đậu nành tốt, cụ thể độ tiêu hóa vật chất khô độ tiêu hóa protein và độ tiêu hóa năng lượng lần lượt là 83,72±6,86%; 75,88±7,95% và 2382 kcal/kg

Sergio N Bolasina et al., (2005) nghiên cứu xác định độ tiêu hóa protein và lipid của cá tuyết (Urophycis brasiliensis) Thức ăn thí nghiệm chứa

43% protein gồm nghiệm thức đối chứng và 2 nghiệm thức thí nghiệm (30% bột đậu nành ly trích và 30% bột thịt), sử dụng chất đánh dấu là crom oxid 1% trong thức ăn Thí nghiệm tiến hành trong 14 ngày, phân được thu theo phương pháp vuốt Kết quả cho thấy độ tiêu hóa protein ở nghiệm thức đối chứng cao nhất (85,65±1,25%) khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức 30% bột đậu nành (84,16±1,25%) và nghiệm thức 30% bột thịt Tuy nhiên, độ tiêu hóa lipid ở nghiệm thức 30% bột đậu nành (844,59±1,40%) cao hơn có ý nghĩa so với nghiệm thức 30% bột thịt (59,82±1,04%) nhưng không có ý nghĩa với nghiệm thức đối chứng (78,28±1,11%) Từ kết quả thí nghiệm cá tuyết có khả năng sử dụng thức ăn thay thế 30% bột cá bằng bột đậu nành ly trích

Qi-Cun Zhou et al., 2004 nghiên cứu khả năng tiêu hóa của cá giò (Rachycentron canadum) đối với các nguồn nguyên liệu như bột cá Peru, bột

đậu nành rang và ly trích, bột đậu nành ly trích, bột gia cầm, bột thịt xương, bột đậu phộng, bột hạt cải dầu và gluten bột bắp Thí nghiệm gồm nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức nguyên liệu thí nghiệm (70% nghiệm thức đối chứng và 30% nguyên liệu thí nghiệm) chứa 0,5% Cr2O3 Kích cở cá 10g/con với mật độ 20 con/bể (300L/bể) Kết quả thí nghiệm cho thấy độ tiêu hóa vật chất khô từ 58,52–70,51% cho bột đậu nành, bột đậu phộng và bột cải dầu và

Trang 19

độ tiêu hóa protein thô và lipid là 88,97–94,42% và 92,38–96,93 cho nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật

Tóm lại, bột đậu nành có thể đƣợc xem là nguồn nguyên liệu tốt nhất thay thế bột cá trong công thức thức ăn của một số loài cá có giá trị kinh tế hiện nay Tuy nhiên tỷ lệ sử dụng protein bột đậu nành thay thế protein bột cá đối với cá thát lát còm thì vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu

Trang 20

CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 6/2013 đến tháng 12/2013 tại Khoa Thủy Sản, trường Đại học Cần Thơ

3.2 Vật liệu nghiên cứu

 18 bể composite 100L/bể

 Hệ thống bơm nước và sục khí

 Máy đo oxy, pH, nhiệt độ

 Thước đo, cân điện tử

 Các dụng cụ, thiết bị phân tích tại phòng thí nghiệm dinh dưỡng – Khoa Thủy Sản

 Máy chế biến thức ăn

 Các nguồn nguyên liệu chế biến thức ăn

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Nguồn cá thí nghiệm

Cá được mua từ trại sản xuất giống nhân tạo, kích cỡ 6 – 7 g/con, chọn

cá khỏe mạnh không nhiễm bệnh, không dị tật và không xay sát

Hình 3.1 Nguồn cá thí nghiệm

Ngày đăng: 22/09/2015, 16:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Hình dạng bên ngoài cá thát lát còm - xác định độ tiêu hóa của cá thát lát cõm (chitala chitala, hamilton 1882) khi sử dụng các loại thức ăn có các mức thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành khác nhau
Hình 2.1 Hình dạng bên ngoài cá thát lát còm (Trang 12)
Hình 3.1 Nguồn cá thí nghiệm - xác định độ tiêu hóa của cá thát lát cõm (chitala chitala, hamilton 1882) khi sử dụng các loại thức ăn có các mức thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành khác nhau
Hình 3.1 Nguồn cá thí nghiệm (Trang 20)
Hình 3.2  Hệ thống bể thí nghiệm - xác định độ tiêu hóa của cá thát lát cõm (chitala chitala, hamilton 1882) khi sử dụng các loại thức ăn có các mức thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành khác nhau
Hình 3.2 Hệ thống bể thí nghiệm (Trang 21)
Bảng 3.1 Tỷ lệ nguyên liệu và thành phần thức ăn thí nghiệm - xác định độ tiêu hóa của cá thát lát cõm (chitala chitala, hamilton 1882) khi sử dụng các loại thức ăn có các mức thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành khác nhau
Bảng 3.1 Tỷ lệ nguyên liệu và thành phần thức ăn thí nghiệm (Trang 22)
Bảng 4.4: Độ tiêu hóa thức ăn ở các nghiệm thức (%) - xác định độ tiêu hóa của cá thát lát cõm (chitala chitala, hamilton 1882) khi sử dụng các loại thức ăn có các mức thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành khác nhau
Bảng 4.4 Độ tiêu hóa thức ăn ở các nghiệm thức (%) (Trang 27)
Hình 4.1: Độ tiêu hóa vật chất khô (%) - xác định độ tiêu hóa của cá thát lát cõm (chitala chitala, hamilton 1882) khi sử dụng các loại thức ăn có các mức thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành khác nhau
Hình 4.1 Độ tiêu hóa vật chất khô (%) (Trang 28)
Hình 4.2: Độ tiêu hóa protein (%) - xác định độ tiêu hóa của cá thát lát cõm (chitala chitala, hamilton 1882) khi sử dụng các loại thức ăn có các mức thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành khác nhau
Hình 4.2 Độ tiêu hóa protein (%) (Trang 29)
Hình 4.3: Độ tiêu hóa lipid (%) - xác định độ tiêu hóa của cá thát lát cõm (chitala chitala, hamilton 1882) khi sử dụng các loại thức ăn có các mức thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành khác nhau
Hình 4.3 Độ tiêu hóa lipid (%) (Trang 30)
Hình 4.4: Độ tiêu hóa phospho (%) - xác định độ tiêu hóa của cá thát lát cõm (chitala chitala, hamilton 1882) khi sử dụng các loại thức ăn có các mức thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành khác nhau
Hình 4.4 Độ tiêu hóa phospho (%) (Trang 31)
Hình 4.5: Độ tiêu hóa khoáng (%) - xác định độ tiêu hóa của cá thát lát cõm (chitala chitala, hamilton 1882) khi sử dụng các loại thức ăn có các mức thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành khác nhau
Hình 4.5 Độ tiêu hóa khoáng (%) (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w