Tuy nhiên, người dân lại có thói quen gieo sạ với mật độ cao khoảng 200 đến 250 kg giống/ha, nhưng trong thực tế lúa có tập tính đẻ nhánh và khả năng tự điều chỉnh mật độ phù hợp trong q
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
ĐẶNG THỊ KIM HOA
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA IR 50404 VỤ ĐÔNG XUÂN
NĂM 2012-2013 TẠI HUYỆN CHỢ MỚI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA IR 50404 VỤ ĐÔNG XUÂN
NĂM 2012-2013 TẠI HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: SINH VIÊN THỰC HIỆN:
GS.TS NGUYỄN BẢO VỆ ĐẶNG THỊ KIM HOA ThS TRẦN THỊ BÍCH VÂN MSSV: 3103503
LỚP: NÔNG HỌC K36
CẦN THƠ - 2013
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông Học
ĐỀ TÀI:
“ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA IR 50404 VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2012-2013 TẠI HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG”
Sinh viên thực hiện: ĐẶNG THỊ KIM HOA
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013
Cán bộ hướng dẫn
GS.TS Nguyễn Bảo Vệ ThS Trần Thị Bích Vân
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
Hội đồng khoa học chấm luận văn tốt nghiệp với đề tài:
“ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA IR 50404 VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2012-2013 TẠI HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG”
Do sinh viên ĐẶNG THỊ KIM HOA thực hiện và bảo vệ trước hội đồng
Ý kiến hội đồng:
……… ………
……… ………
……….………
Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức: ………
Cần Thơ, ngày……tháng… năm 2013
Thành viên Hội đồng
DUYỆT KHOA Trưởng Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Đặng Thị Kim Hoa
Trang 6QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
I Lý lịch sơ lƣợc
Họ và Tên: Đặng Thị Kim Hoa Giới tính: Nữ Ngày, tháng, năm sinh: 06/08/1992 Dân tộc: Kinh Nơi sinh: Xã Hội An, Huyện Chợ Mới, Tỉnh An Giang
Họ và Tên Cha: Đặng Văn Lợi Năm sinh: 1969
Họ và Tên Mẹ: Trần Thị Ngọc Dung Năm sinh: 1970 Chỗ ở hiện nay: Ấp An Bình, Xã Hội An, Huyện Chợ Mới, Tỉnh An Giang
II Quá trình học tập
1 Tiểu học
Thời gian: 1998-2003
Trường: Tiểu học “B” Hội An
Địa chỉ: Xã Hội An, huyện Chợ Mới, Tỉnh An Giang
2 Trung học Cơ sở
Thời gian: 2003-2007
Trường: Trung học Cơ sở Hòa Bình
Địa chỉ: Xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
3 Trung học Phổ thông
Thời gian: 2007-2010
Trường: Trung học Phổ thông Hòa Bình
Địa chỉ: Xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
4 Đại học
Thời gian: 2010-2014
Trường: Đại học Cần Thơ
Địa chỉ: Đường 3/2, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ Chuyên ngành: Nông học (Khóa 36)
Trang 7LỜI CẢM TẠ Kính dâng!
Cha mẹ suốt đời hết lòng nuôi dưỡng, dạy dỗ con khôn lớn nên người
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Thầy Nguyễn Bảo Vệ và Cô Trần Thị Bích Vân đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp
Cô cố vấn Trần Thị Thanh Thủy đã quan tâm, dìu dắt lớp chúng tôi hoàn thành tốt khóa học
Quý Thầy, Cô trường Đại Học Cần Thơ, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng đã tận tâm hướng dẫn, truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tại trường
Trang 9ĐẶNG THỊ KIM HOA “Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa IR
50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại Huyện Chợ Mới, Tỉnh An Giang”
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông Học, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Bảo Vệ và ThS Trần Thị Bích Vân
TÓM LƯỢC
Đề tài: “Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa IR 50404 vụ
Đông Xuân năm 2012-2013 tại Huyện Chợ Mới, Tỉnh An Giang” được thực
hiện nhằm mục tiêu xác định mật độ sạ thích hợp cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất trong sản xuất lúa ở vùng nghiên cứu Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 nghiệm thức với 3 lần lặp lại: nghiệm thức 1: đối chứng sạ mật độ 200 kg giống/ha (theo nông dân), nghiệm thức 2: sạ mật độ 150 kg giống/ha và nghiệm thức 3: sạ 100 kg giống/ha Kết quả thí nghiệm cho thấy khi sạ với mật độ 200 kg giống/ha có số chồi/m2, số bông/m2 cao nhất nhưng chiều dài bông, số hạt/bông, số hạt chắc/bông và năng suất lại thấp nhất Không đem lại hiệu quả kinh tế khi không giảm được chi phí cho sản xuất Đối với nghiệm thức sạ với mật độ 150 kg giống/ha có số chồi/m2 và số bông/m2 thấp hơn khi sạ 200 kg giống/ha nhưng chiều dài bông, số hạt/bông, số hạt chắc/bông và năng suất thì cao hơn Khi sạ với mật độ 100 kg giống/ha cho số chồi/m2, số bông/m2
thấp nhất nhưng chiều dài bông, số hạt/bông, số hạt chắc/bông và năng suất cao nhất Hiệu quả kinh tế đạt cao nhất khi lợi nhuận tăng thêm 2.118.000 đồng/ha
Trang 101.1 Khái quát khu vực và giống lúa nghiên cứu 2
1.1.2 Giống lúa nghiên cứu IR 50404 2 1.2 Đặc điểm thực vật và các giai đoạn sinh trưởng của cây
1.2.2 Các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa 5
1.4.2 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến sự sinh trưởng của cây lúa
10
Trang 111.4.3 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất lúa 11
2.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 16
3.2 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến sinh trưởng và phát triển
của cây lúa
22
3.2.2 Số chồi trên đơn vị diện tích 24
3.3 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến thành phần năng suất và
năng suất cây lúa
26
Trang 123.3.1 Các thành phần năng suất 26 3.3.1.1 Số bông trên đơn vị diện tích (bông/m2) 26
Trang 13DANH SÁCH BẢNG
1.1 Lượng dinh dưỡng hấp thu bởi cây lúa (Phạm Sỹ Tân, 1999) 8
3.1 Ghi nhận tổng quan thí nghiệm giống lúa IR 50404 khi sạ với
các mật độ khác nhau tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang vụ Đông Xuân năm 2012-2013
22
3.2 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến chiều cao cây (cm) qua các
giai đoạn sinh trưởng của giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại Chợ Mới-An Giang
23
3.3 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến số chồi/m2 qua các giai đoạn
sinh trưởng của giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại Chợ Mới-An Giang
25
3.4 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến chiều dài bông (cm) của giống
lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại Chợ Mới-An Giang
26
3.5 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất (tấn/ha) của giống
lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại Chợ Mới-An Giang
32
3.6 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến hiệu quả kinh tế của giống lúa
IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại Chợ Mới-An Giang
34
Trang 14DANH SÁCH HÌNH
3.1 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến số bông trên đơn vị diện tích
của giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013
27
3.2 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến số hạt trên bông của giống
lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013
28
3.3 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến số hạt chắc trên bông của
giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013
Trang 16MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, lúa là cây lương thực chính giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và chiếm 80% tổng sản lượng lương thực quốc gia Tuy nhiên, việc canh tác sản xuất lúa ngày nay gặp rất nhiều khó khăn do tình hình biến động bất ổn của thời tiết, đất canh tác bị thu hẹp dần trong khi dân số ngày càng gia tăng gây áp lực lớn cho việc đáp ứng nhu cầu lương thực Trong mỗi vụ canh tác nông dân phải đầu tư nhiều chi phí cho: giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, công tác chuẩn bị đất, thu hoạch…nhưng năng suất cũng như hiệu quả kinh tế đạt được lại không cao
Do đó, cần có giải pháp nâng cao sản lượng lúa để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
Ngày nay, để sản xuất lúa đạt năng suất cao ngoài kinh nghiệm canh tác lâu năm còn đòi hỏi nông dân phải không ngừng trao dồi kiến thức, tiếp thu và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác Nhiều chương trình như: “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm” được đưa ra để nông dân áp dụng vào sản xuất Việc giảm giống là một trong các tiêu chí quan trọng của các chương trình trên để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, người dân lại có thói quen gieo sạ với mật
độ cao khoảng 200 đến 250 kg giống/ha, nhưng trong thực tế lúa có tập tính đẻ nhánh và khả năng tự điều chỉnh mật độ phù hợp trong quần thể, nếu khi sạ với mật
độ quá cao thì cây sẽ ít đẻ nhánh, số chồi hữu hiệu tạo ra thấp chủ yếu là thân chính của lúa Khi đẻ nhánh lúa cần một lượng đạm khá lớn đó cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều sâu bệnh gây hại, khi đến giai đoạn sinh sản số chồi vô hiệu lại chết đi do không cạnh tranh được dinh dưỡng gây hao phí một lượng lớn phân bón Ngược lại, khi gieo sạ với mật độ thấp có thể tận dụng tập tính nảy chồi của lúa cũng như cung cấp đủ dinh dưỡng, quản lý tốt dịch hại thì có thể đạt được khoảng 500-600 chồi/m2
cho năng suất khoảng 6-8 tấn/ha ở vụ Đông Xuân (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Trên một đơn vị diện tích khi mật độ sạ càng cao sẽ cho số bông/m2
càng nhiều nhưng số hạt/bông cũng như hạt chắc/bông, tỷ lệ hạt chắc lại thấp dẫn đến năng suất không cao Vì vậy, chọn một mật độ sạ như thế nào cho thích hợp để vừa có thể tiết kiệm giống, hạn chế được dịch bệnh lại vừa cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao là một
vấn đề lớn Do đó, đề tài: “Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa IR
50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại Huyện Chợ Mới, Tỉnh An Giang”
được thực hiện nhằm tìm ra mật độ sạ thích hợp mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất trong sản xuất lúa ở khu vực nghiên cứu
Trang 17CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 KHÁI QUÁT KHU VỰC VÀ GIỐNG LÚA NGHIÊN CỨU
1.1.1 Khu vực nghiên cứu
Huyện Chợ Mới thuộc vùng cù lao tỉnh An Giang, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu Đây là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi với 97% diện tích đất phù sa màu mỡ Đất vùng này là đất trầm tích sông mới có màu nâu Thành phần cấp hạt từ sét trung bình đến thịt và thịt pha cát Hàng năm khu vực này được bồi đắp một lượng phù sa đáng kể Đây là khu vực đất tốt thích hợp cho phát triển nông nghiệp Loại đất đặc trưng là Typic Fluvaquents, Typic Humaquepts (USDA/Soil Taxonomy, 1985) Chợ Mới nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt Nhiệt độ trung bình vào khoảng 26-270C Chế độ mưa phân thành 2 mùa rõ rệt Tổng lượng mưa hàng năm từ 1500-1600 mm Độ ẩm trung bình các tháng mùa mưa là 84%, có tháng giữa mùa mưa lên đến 90% Trong mùa khô,
độ ẩm vào thời kỳ đầu mùa là 82%, giữa mùa là 78% và cuối mùa còn 72% Độ ẩm trung bình năm là 81% Chợ Mới có tổng lượng bức xạ khá lớn, lên đến 13 tỷ kcal/năm với khoảng 2500 giờ nắng/năm (Niên Giám thống kê, 2005)
Xã Hội An, huyện Chợ Mới có diện tích tự nhiên toàn xã là 2314 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp 1935 ha chiếm 83,62% diện tích đất toàn xã Hiện nay, toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của xã nằm trong công trình đê bao khép kín triệt
để của khu vực huyện Chợ Mới được khởi công từ tháng 7 năm 1995
Từ năm 1997, xã Hội An đã bắt đầu sản xuất lúa 3 vụ, năng suất bình quân là 5,6 tấn/ha Các khu vực có đê bao khép kín đang có những tác động xấu đến các đặc tính sinh học của đất Đất có độ chua thấp hơn vùng không có đê bao Hàm lượng đạm, lân và kali nghèo ở các vùng thâm canh Hơn nữa, về sa cấu đất có thành phần sét cao có thể là dấu hiệu suy thoái về mặt vật lý đất Xu hướng trên là do nông dân
đã sử dụng nhiều phân bón và thuốc hóa học trên mỗi hecta trong năm cao hơn các khu vực không có đê bao (Huỳnh Hiệp Thành, 2001)
1.1.2 Giống lúa nghiên cứu IR 50404
- Nguồn gốc: được chọn lọc từ tập đoàn giống nhập nội của IRRI Được công nhận giống chính thức theo Quyết định số 126 QĐ/BNN-KHCN, ngày 21 tháng 5 năm 1992 của Bộ Nông Nghiệp & PTNT
Trang 18- Đặc tính: thời gian sinh trưởng 85-90 ngày Chiều cao cây: 85-90 cm Khả năng chống đổ ngã kém Thích nghi rộng trên nhiều vùng đất phù sa đến phèn trung bình, canh tác được cả 3 vụ trong năm Hơi nhiễm rầy nâu và đạo ôn Nhiễm nhẹ với bệnh vàng lá Nhiễm vừa với bệnh khô vằn Năng suất vụ Đông Xuân 6-8 tấn/ha, vụ Hè Thu 5-6 tấn/ha Hạt gạo bầu, bạc bụng, khô cơm Hàm lượng amylose 26,0% Chiều dài hạt trung bình: 6,74 mm
1.2 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT VÀ CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA
Cây lúa thuộc loại hòa thảo (Graminea), tộc Oryzae, loài Oryza Trong đó
Oryza sativa L là lúa trồng phổ biến nhất hiện nay Hiểu rõ cấu tạo và đặc tính sinh
trưởng của các bộ phận cây lúa ta mới có thể có những biện pháp kỹ thuật thích hợp, điều khiển sự sinh trưởng của cây lúa trong từng giai đoạn để đạt năng suất cao nhất
1.2.1 Đặc điểm thực vật
1.2.1.1 Rễ
Rễ lúa có nhiệm vụ hút nước và chất dinh dưỡng nuôi cây, giúp cây bám chặt vào đất, cho nên bộ rễ có khỏe mạnh thì cây lúa mới tốt được Cây lúa có hai loại rễ: rễ mầm và rễ phụ
- Rễ mầm (radicle): là rễ mọc ra đầu tiên khi hạt nảy mầm Rễ mầm giữ nhiệm vụ chủ yếu là hút nước cung cấp cho phôi phát triển và sẽ chết sau 10-15 ngày, lúc cây mạ được 3-4 lá
- Rễ phụ: mọc ra từ các mắt trên thân lúa Tại mỗi mắt có 2 vòng rễ: vòng trên
to và khỏe, vòng dưới nhỏ và kém quan trọng hơn Bên trong rễ có nhiều khoảng trống ăn thông với thân và lá Nhờ có cấu tạo đặc biệt này mà rễ lúa có thể sống trong điều kiện thiếu oxy do ngập nước (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
1.2.1.2 Thân
Thân lúa (stem) gồm những mắt và lóng nối tiếp nhau, lóng là phần thân rỗng
ở giữa 2 mắt và thường được bẹ lá ôm chặt Cây lúa nào có lóng ngắn, thành lóng dày, bẹ lá ôm sát thân thì thân lúa sẽ cứng chắc, khó đổ ngã và ngược lại
Trên thân lúa các mắt thường phình ra Tại mỗi mắt lúa có mang một lá, một mầm chồi và hai tầng rễ phụ Thân lúa có nhiệm vụ vận chuyển và tích trữ các chất trong cây Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng và ánh sáng, mầm chồi sẽ phát triển thành một chồi thật sự, thoát ra khỏi bẹ lá
Trang 19Sự ra lá, ra chồi và ra rễ của cây lúa tuân theo một quy luật nhất định Quy luật này gọi là quy luật sinh trưởng đồng hạng của Katayama về ra lá, ra chồi và ra
rễ:“khi lá thứ n trên thân chính xuất hiện thì tại mắt lá thứ n-3 chồi sẽ xuất hiện và
rễ phụ cũng mọc ra”
Tuy nhiên, trong điều kiện không thuận lợi như gieo sạ quá dày, cấy sâu, nước nhiều, thiếu dinh dưỡng thì mầm chồi sẽ thoái hóa đi mà không phát triển thành chồi được, lúa nở bụi kém Các chồi mọc sớm sẽ cho bông to Các chồi mọc quá trễ khi cây lúa sắp bắt đầu phân hóa đòng thường nhỏ yếu và sau đó chết đi mà không thành bông được, gọi là chồi vô hiệu
Người ta có thể xác định chồi vô hiệu và chồi hữu hiệu ngay khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng, dựa vào chiều cao hoặc số lá trên chồi:
- Chiều cao:
+ Chồi hữu hiệu khi có chiều cao hơn 2/3 so với thân chính
+ Chồi vô hiệu khi chiều cao thấp hơn 2/3 so với thân chính
- Số lá trên chồi:
+ Chồi hữu hiệu khi có trên 3 lá
+ Chồi vô hiệu khi có dưới 3 lá
Như vậy, ở thời điểm bắt đầu phân hóa đòng, chồi nào có chiều cao khoảng 2/3 chiều cao thân chính hoặc có khoảng 3 lá thì có thể trở thành chồi hữu hiệu nếu điều kiện dinh dưỡng và môi trường sau đó thuận lợi; ngược lại, sẽ chết đi và trở thành chồi vô hiệu (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
1.2.1.3 Lá
Lúa là cây đơn tử diệp (một lá mầm) Các lá lúa mọc liên tiếp đối diện nhau trên thân lúa, lá cuối cùng của đời sống cây lúa có chiều dài rút ngắn khác thường nên gọi là lá cờ hay lá đòng Trong chu kỳ sống cây lúa ngắn ngày không quang cảm có từ 10-18 lá, nhưng các giống dài ngày bị ảnh hưởng quang cảm có khi cho
số lá nhiều hơn 20 lá (Yoshida, 1981)
Lá lúa gồm phiến lá, cổ lá và bẹ lá Phiến lá là phần phơi ra ngoài ánh sáng, phiến lá càng đứng và chứa nhiều diệp lục sẽ quang hợp càng mạnh để tạo chất khô chuyển vị nuôi cây và bông lúa về sau Bẹ lá là phần tiếp theo phiến lá và ôm sát thân cây lúa giúp cây càng đứng vững và ít bị đổ ngã Cổ lá là nơi tiếp giáp giữa phiến và bẹ lá Tại cổ lá có hai bộ phận đặc biệt là tai lá và thìa lá Đây là điểm đặc thù để phân biệt cây lúa với các cây họ hòa thảo khác (Nguyễn Thành Hối, 2010)
Trang 201.2.2 Các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa
Đời sống cây lúa bắt đầu từ lúc hạt nẩy mầm cho đến khi lúa chín Có thể chia làm 3 giai đoạn chính: giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng), giai đoạn sinh sản (sinh dục) và giai đoạn chín
1.2.2.1 Giai đoạn tăng trưởng
Giai đoạn này bắt đầu từ lúc hạt nảy mầm đến lúc cây lúa phân hóa đòng Giai đoạn này cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi mới Cây ra
lá ngày càng nhiều và kích thước ngày càng lớn giúp cây lúa nhận được nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia tăng chiều cao, nở bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi, cây lúa có thể bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5-6 (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Giai đoạn tăng trưởng dài hay ngắn là tùy theo giống lúa, các giống cao sản ngắn ngày giai đoạn này từ 40-45 ngày, nhưng các giống lúa mùa dài ngày có khi giai đoạn này kéo dài 4-6 tháng (Nguyễn Thành Hối, 2010) Cần có sự cân đối giữa sinh trưởng chồi và lá sao cho số chồi mới sinh ra đều có khả năng ra được số lá gần với tổng số lá vốn có của giống Các chồi ra muộn số lá ít sẽ không có khả năng chuyển sang thời kỳ sinh trưởng sinh dục và trở thành chồi vô hiệu (Vũ Văn Hiển
và Nguyễn Văn Hoan, 1999)
Thời kỳ đẻ nhánh là thời kỳ quyết định đến sự phát triển diện tích lá và số bông Do đó cần chú ý đến các biện pháp kỹ thuật nhằm làm tăng diện tích lá để tăng khả năng quang hợp và tăng số bông Đây là yếu tố quan trọng để tăng năng
suất lúa (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997)
1.2.2.2 Giai đoạn sinh sản
Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ lúc cây phân hóa đòng đến lúc trổ bông Giai đoạn này kéo dài khoảng 27-35 ngày, trung bình 30 ngày và giữa giống lúa dài ngày với ngắn ngày thường không khác nhau nhiều Lúc này số chồi vô hiệu giảm nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Đòng lúa phát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của lá cờ: lúa trổ bông Trong thời gian này nếu cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, mực nước thích hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình thành nhiều hơn và vỏ trấu sẽ đạt kích thước lớn nhất của giống, tạo điều kiện gia tăng trọng lượng hạt sau này
1.2.2.3 Giai đoạn chín
Giai đoạn chín bắt đầu từ lúc lúa trổ bông đến lúc thu hoạch
Trang 21Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) giai đoạn này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới Trong giai đoạn chín cây lúa trải qua các thời kỳ sau:
- Thời kỳ chín sữa (ngậm sữa): các chất dự trữ trong thân lá và các sản phẩm quang hợp được chuyển vào hạt Kích thước hạt gạo tăng dần làm đầy vỏ trấu Hạt gạo chứa một dịch lỏng màu trắng đục như sữa nên gọi là thời kỳ ngậm sữa
- Thời kỳ chín sáp: hạt lúa mất nước, từ từ cô đặc lại, nhưng vỏ trấu vẫn còn xanh
- Thời kỳ chín vàng: hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, vỏ trấu bắt đầu chuyển sang màu vàng đặc thù của giống lúa
- Thời kỳ chín hoàn toàn: hạt gạo khô cứng lại Thời điểm thu hoạch tốt nhất là khi 80% hạt lúa ngã sang màu vỏ trấu đặc trưng của giống
Ở các hoa lúa được thụ tinh sẽ xảy ra quá trình tích lũy tinh bột và sự phát triển hoàn thiện của phôi Nếu dinh dưỡng đủ, không bị sâu bệnh phá hại, thời tiết thuận lợi thì các hoa đã được thụ tinh sẽ phát triển thành hạt chắc (Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan, 1999) Tuy nhiên, nếu đất ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong thời gian này thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược lại (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Đinh Thế Lộc (2006) cho rằng, trong thời gian chín nếu gặp điều kiện thuận lợi thì sẽ giảm tỷ lệ hạt lép, tăng tỷ lệ hạt chắc và nhất
là tăng khối lượng hạt
1.3.1 Yêu cầu về đất đai
Lúa có thể được trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ đất phù sa, đất phèn, đất mặn cho đến xám bạc màu Tuy nhiên, năng suất lúa trên các loại đất khác nhau thì tương đối khác nhau, phụ thuộc vào các yếu tố hạn chế của từng loại đất
Nói chung, đất trồng cần giàu dinh dưỡng, nhiều hữu cơ, tơi xốp, thoáng khí, khả năng giữ nước, giữ phân tốt, tầng canh tác dày để bộ rễ ăn sâu, bám chặt vào đất và huy động nhiều dinh dưỡng nuôi cây Loại đất thịt hay đất thịt pha sét, ít chua hoặc trung tính (pH = 5,5-7,5) là thích hợp đối với cây lúa Tuy nhiên, muốn trồng lúa đạt năng suất cao, đất trồng cần bằng phẳng và chủ động nước Trong thực
tế, có những giống lúa có thể thích nghi được trong những điều kiện đất đai khắc nghiệt (phèn, mặn, khô hạn, ngập úng) rất tốt (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Trang 221.3.2 Điều kiện khí hậu-thủy văn
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), nhiệt độ có tác dụng quyết định đến tốc độ sinh trưởng của cây lúa nhanh hay chậm, tốt hay xấu Trong phạm vi giới hạn (20-
300C), nhiệt độ càng tăng cây lúa phát triển càng mạnh Nhiệt độ trên 400C hoặc dưới 170C cây lúa tăng trưởng chậm lại Dưới 130C cây lúa có thể ngừng sinh trưởng, nếu kéo dài 1 tuần lễ cây lúa sẽ chết
Ánh sáng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và phát dục của cây lúa trên 2 phương diện: cường độ ánh sáng và độ dài chiếu sáng trong ngày (quang kỳ) Ở giai đoạn cây non thiếu ánh sáng sẽ làm cây lúa ốm yếu, lúa không nở bụi được Khi phân hóa đòng nếu thiếu ánh sáng sẽ làm bông lúa ngắn, ít hạt và hạt nhỏ, dễ bị sâu bệnh phá hại Khi lúa trổ nếu không đủ ánh sáng sự thụ phấn, thụ tinh
bị trở ngại làm tăng hạt lép, hạt phát triển không đầy đủ, dễ đổ ngã Lúa chín: nếu ruộng khô nước, nhiệt độ không khí cao, ánh sáng mạnh thì lúa chín nhanh và tập trung hơn, ngược lại thời gian chín sẽ kéo dài
Ở giai đoạn làm đòng và trổ, gió mạnh ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành và phát triển của đòng lúa, sự trổ bông, thụ phấn, thụ tinh và tích lũy chất khô trong hạt bị trở ngại làm tăng tỉ lệ hạt lép, hạt lửng gây giảm năng suất lúa
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), điều kiện thủy văn quyết định chế
độ nước, mùa vụ, tập quán canh tác và hình thành vùng trồng lúa khác nhau Ở mỗi nơi tùy theo địa hình cao hay thấp, gần hay xa sông mà thời gian ngập nước và độ sâu cạn khác nhau Từ đó, đã hình thành các vùng trồng lúa, kiểu canh tác và mùa
vụ khác nhau
1.3.3 Yêu cầu sử dụng phân bón
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), để phát triển, cây lúa cần nhiều loại dưỡng chất như đạm, lân, kali, silic, canxi, magie, sắt, kẽm, đồng…Trong đó ba loại dưỡng chất chính lúa cần dùng nhiều để sinh trưởng và tạo năng suất là đạm, lân và kali Bón đầy đủ phân đa lượng N, P, K có thể đóng góp 40-45% năng suất (Trịnh Quang Khương, 2010)
Phạm Sỹ Tân (1999), đã khuyến cáo bón phân cho lúa ngắn ngày (thời gian sinh trưởng 95-100 ngày) vùng phù sa ngọt ĐBSCL: vụ Đông Xuân đạm 90-110 kg/ha, lân 40-50 kg P2O5/ha, kali 30-50 kg K2O/ha; vụ Hè Thu đạm 75-95 kg/ha, lân 50-60 kg P2O5/ha, kali 30-50 kg K2O/ha
Trang 23Bảng 1.1 Lượng dinh dưỡng hấp thu bởi cây lúa (Phạm Sỹ Tân, 1999)
đòng (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997) Tuy nhiên việc bón đạm cho lúa theo Đỗ
Ánh (2003) nên chia ra làm nhiều lần bón trong suốt thời kỳ sinh trưởng của cây, không nên bón tập trung Ở giai đoạn sinh trưởng, nếu thiếu đạm cây lúa lùn hẳn lại, nở bụi ít, chồi nhỏ, lá ngắn hẹp, cây lúa còi cọc không phát triển Giai đoạn sinh sản, thiếu đạm cây lúa sẽ cho bông ngắn, ít hạt, hạt nhỏ và thoái hóa Thừa sẽ làm cây lúa phát triển quá mức, mô non, mềm, dễ đổ ngã, tán lá rậm rạp Các loại đạm phổ biến hiện nay là urea 46% N, SA (Sulphat ammonium) 21% N
Lân có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cây trồng sau đạm Lân có tác dụng giải độc cho cây trồng, cần thiết hầu hết cho các quá trình sinh lý, sinh hóa xảy ra
trong cây (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Nguyễn Xuân Trường và ctv (2000), có vai trò
quan trọng trong sự phát triển của hệ rễ giúp cho lúa có thể hút chất dinh dưỡng từ đất Trong một số trường hợp đất phèn và đất phèn mặn thì lân có vai trò kìm hãm các độc tố giúp cho lúa sinh trưởng và phát triển Lân thúc đẩy đẻ nhánh, trổ bông
Trang 24và tăng cường chất lượng hạt, lân còn thúc đẩy quá trình chín của cây (Đỗ Ánh, 2003) Theo Tôn Thất Trình (1968), lân được lúa hấp thu từ khi lúa bắt đầu đâm rễ cho đến khi có gié, sau đó lúa ít sử dụng lân, như vậy lúa cần lân sớm và chỉ cần bón một lần mà thôi Thiếu lân cây lúa cũng lùn hẳn lại, nở bụi kém, lá thẳng hẹp và màu sậm hơn bình thường hoặc ngã sang tím bầm, lúa sẽ trổ và chín muộn, hạt không no đầy Đất phèn sử dụng phân lân nung chảy, đất phù sa ngọt có thể dùng super lân và DAP
Kali là dưỡng chất ảnh hưởng đến năng suất lúa rất lớn Trong giai đoạn lúa đẻ nhánh kali cân đối với đạm sẽ làm tăng số gié trên bông từ đó làm tăng số hạt trên bông Để đạt được năng suất cao, trong giai đoạn đẻ nhánh hàm lượng kali phải cao hơn đạm Cây lúa hút kali mạnh nhất từ cuối giai đoạn đẻ nhánh đến tượng đòng, cây lúa hút liên tục đến giai đoạn chín Kali cần thiết cho bộ rễ phát triển mạnh,
năng suất cao, ít hạt lép và trọng lượng hạt cao (Nguyễn Xuân Trường và ctv.,
2000) Thiếu kali cây lúa có chiều cao và số chồi gần như bình thường, lá vẫn xanh nhưng mềm rũ, yếu ớt, dễ đổ ngã, dễ nhiễm bệnh và lá già rụi sớm Phân kali phổ biến hiện nay là clorua kali (KCl) 60% K2O, sulphate kali 48% K2O, NPK 20-20-
- Đối với giống lúa thấp cây, ngắn ngày có những đặc tính thích hợp hơn so với giống cây cao dài ngày nhất là kiểu lá, số lá trên cây (ít hơn), độ dày lá, góc lá hẹp…Tất cả các ưu điểm trên cho phép cây lúa có thể chịu được những mật độ dày hơn những giống cao cây Đối với giống này sạ với mật độ càng dày thì số chồi hữu hiệu càng giảm thấp
Theo Đào Thế Tuấn (1984) để cải thiện một thành phần năng suất lại đưa đến giảm thành phần năng suất khác, chẳng hạn như tăng số bông trên đơn vị diện tích
Trang 25thì số hạt trên bông giảm Theo tác giả, để cải thiện năng suất cây trồng thì dựa vào mật độ cây trồng, diện tích lá, điều kiện đất đai để đạt năng suất cao nhất
1.4.1 Mật độ sạ cho lúa cao sản
Từ những năm đầu của thập niên 1980, các nước trồng lúa Châu Á sau khi nhập nội, lai tạo và canh tác các giống lúa cao sản đã thay đổi phương thức cấy bằng phương thức sạ, áp dụng mật độ sạ thưa chỉ từ 60-80 kg giống/ha như ở Malaysia, Philippines (Hiraoka, 1996) Trường đại học Nông Nghiệp Kyushu ở Nhật Bản đã kết luận mật độ sạ thích hợp cho năng suất cao nhất là 500 hạt/m2, tương đương với 120 kg giống/ha (Wasano, 1987) Đối với vùng khí hậu ôn đới như: Ý, Bắc Mỹ thì mật độ sạ từ 120-840 hạt/m2 đều cho năng suất 9,8-10,6 tấn/ha (Hill và ctv., 1990) Ở Philippines khuyến cáo sạ 100 kg giống/ha Tuy nhiên, hầu hết nông dân vẫn sạ ở mật độ cao hơn để trừ hao do chim, chuột và tăng khả năng cạnh tranh giữa lúa và cỏ dại (Singh, 1990)
Ở ĐBSCL, đã có nhiều nghiên cứu về mật độ sạ, phương pháp sạ và đưa ra khuyến cáo sạ ở mật độ 100 kg giống/ha cho năng suất tương đương hoặc cao hơn
sạ ở mật độ 200 kg giống/ha, sạ thưa có số bông ít hơn sạ dày, nhưng bông dài và số hạt chắc trên bông nhiều Nếu sạ hàng thì mật độ sạ 50, 75, 125 kg giống/ha cho năng suất lúa không khác biệt nhau (Trịnh Quang Khương, 2010)
Mật độ sạ thích hợp là tạo điều kiện cho cây lúa phát triển tốt, tận dụng có hiệu quả các chất dinh dưỡng, nước và ánh sáng Mật độ cây thích hợp còn tạo nên
sự tương tác hài hòa giữa các cá thể cây lúa và quần thể ruộng lúa để đạt mục đích cuối cùng là cho năng suất cao (Hiraoka, 1996) Cây lúa có khả năng tự điều chỉnh mật độ, khả năng này nằm trong phạm vi nhất định phụ thuộc vào bản chất di truyền của giống, khả năng đẻ nhánh, chiều cao và góc độ lá, độ màu mỡ của đất, điều kiện nước trong ruộng lúa và những điều kiện sinh thái khí hậu khác, nhất là nhiệt độ và phân bón (Trịnh Quang Khương, 2010) Viện nghiên cứu lúa ĐBSCL đã thực hiện nhiều thí nghiệm về điều chỉnh mật độ sạ, các kết quả cho thấy nếu ruộng lúa bằng phẳng, quản lý nước tốt, khi gieo sạ với mật độ 75-125 kg giống/ha cho năng suất tương đương hoặc cao hơn sạ với mật độ 200-250 kg giống/ha (Trịnh Quang Khương, 2010)
1.4.2 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến sự sinh trưởng của cây lúa
Trong điều kiện ruộng lúa gieo sạ có những đặc điểm khác với ruộng cấy về phương diện dinh dưỡng, quang hợp, tiểu khí hậu, tình trạng cỏ dại, sâu bệnh,… quần thể lúa sạ sẽ có số cây được phân bố đều hơn ruộng cấy nên sự tiếp nhận ánh sáng và sự hấp thu dinh dưỡng cũng sẽ khác với ruộng cấy (Đinh Văn Lữ, 1980)
Trang 26Bùi Huy Đáp (1980) cho rằng, mật độ là yếu tố chi phối chặt chẽ quá trình phát triển của cả quần thể, với khả năng đẻ nhánh giúp cho quần thể ruộng lúa có khả năng điều tiết rất nhanh Khả năng này còn tùy thuộc vào khả năng đâm chồi của giống và mật độ ban đầu
Theo Đinh Văn Lữ (1967 Trích dẫn bởi Nguyễn Thị Chuộng, 1987) tăng mật
độ là tăng số cây trên mặt đất, đồng thời số lượng rễ dưới mặt đất cũng gia tăng, do
đó hiệu suất sử dụng chất dinh dưỡng trong đất cũng tăng Bên cạnh đó, tăng thêm mật độ là tăng thêm hiệu suất sử dụng ánh sáng mặt trời, sử dụng độ phì của đất, kết cấu quần thể quan hệ với mật độ, tình trạng của giống và sự sắp xếp các cây trong quần thể Mật độ khác nhau, nhu cầu dinh dưỡng của mỗi cá thể sẽ khác nhau và tình trạng ánh sáng trong quần thể cũng sẽ khác nhau
Bùi Huy Đáp (1977) cho rằng, trong quần thể quá dày sự liên quan giữa hai chất quan trọng trong đời sống cây lúa là nitơ (N) và carbon (C) có hiện tượng mất cân đối N-amon chiếm ưu thế do thiếu ánh sáng, quang hợp kém, sự đồng hóa C sẽ kém, N sẽ trở nên quá thừa, do đó dễ dẫn đến sự đổ ngã sớm làm giảm năng suất
1.4.3 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất lúa
Năng suất của một giống lúa thay đổi tùy theo mật độ gieo sạ, muốn đạt được năng suất cao phải đảm bảo mật độ gieo trồng thích hợp Theo Đào Thế Tuấn (1970) tăng mật độ, mở rộng diện tích lá xanh trên đơn vị diện tích trong một phạm
vi nhất định sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với việc tích lũy và tăng thêm chất khô, tăng hiệu suất sử dụng ánh sáng, hạn chế chồi vô hiệu, tránh lãng phí chất dinh dưỡng, hạn chế tác hại cỏ dại Tăng mật độ tức là tăng số bông trên đơn vị diện tích nhưng làm giảm trọng lượng bông, giảm số hạt trên bông
Yoshida (1985), cho rằng ở quần thể lúa cấy việc đẻ nhánh chỉ xảy ra đến mật
độ 300 cây/m2, tăng số cây lên nữa thì chỉ có thân chính phát triển cho ra bông Trường hợp lúa gieo thẳng rất dễ dàng đạt 600 bông/m2 gấp hai lần số bông của ruộng cấy tốt Nhưng ở lúa sạ số hạt trên bông sẽ thấp hơn lúa cấy nên dẫn đến số hạt trên mét vuông cũng có thể như nhau giữa lúa cấy và lúa sạ
Nhìn chung, mật độ sạ cũng có tác động đáng kể đến năng suất cuối cùng của lúa Việc xác định mật độ sạ thích hợp cho từng giống, từng vùng, từng mùa khác nhau sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao năng suất Mật độ tốt nhất sẽ cho năng suất cao nhất, tăng hay giảm mật độ đều làm cho năng suất giảm theo (Monni,
1885 Trích dẫn Nguyễn Thị Chuộng, 1987)
Trang 271.4.4 Phương pháp gieo sạ
Trong sản xuất hiện nay có rất nhiều hình thức sạ khác nhau, điều này là do điều kiện đất đai và nước tưới của từng vùng, vụ khác nhau mà chọn lựa phương pháp sạ thích hợp Những vùng chủ động được nước tưới và đất tương đối bằng phẳng thường áp dụng phương pháp sạ ướt Hiện nay, hầu hết diện tích trồng lúa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long là lúa cao sản và phương pháp sạ ướt được sử dụng nhiều nhất (Nguyễn Thành Hối, 2010)
Sạ ướt là phương pháp sạ phổ biến vì phần lớn diện tích lúa được trồng là giống lúa cao sản ngắn ngày, cần cho lúa mọc tốt ngay từ giai đoạn mạ để có cơ sở ban đầu cho sinh trưởng phát triển đạt năng suất cao, cây lúa không có thời gian để hồi phục như đối với lúa mùa dài ngày Đối với sạ ướt đất được chuẩn bị trong điều kiện ướt, xong rút cạn nước và gieo hạt giống đã ngâm ủ cho nảy mầm trên đất đã đánh bùn nhuyễn Đây là hình thức sạ phổ biến ở những nơi có nước đủ để làm đất
và chủ động nước Sạ ướt có thể áp dụng cho tất cả các vụ Hè Thu, Thu Đông hay Đông Xuân (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Năng suất lúa là yếu tố phản ánh hiện trạng canh tác trong mùa vụ Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), năng suất lúa do bốn yếu tố cấu thành: số bông trên đơn
vị diện tích, số hạt trên bông, tỉ lệ hạt chắc và trọng lượng 1000 hạt Mỗi thành phần năng suất được quyết định ở một giai đoạn nhất định của cây lúa
Có thể tính năng suất theo công thức sau:
Năng suất lý thuyết (tấn/ha) = số bông trên đơn vị diện tích x số hạt trên bông
x tỉ lệ hạt chắc (%) x trọng lượng 1000 hạt (g) x 10-5
(Yoshida, 1981 và Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Các yếu tố năng suất có liên quan với nhau Số bông trên đơn vị diện tích phụ thuộc vào tỷ lệ đẻ nhánh, phụ thuộc vào mật độ gieo sạ Khi cây đẻ nhánh mạnh thì
số bông trên đơn vị diện tích sẽ tăng Khi số bông trên đơn vị diện tích tăng quá cao thì bông lúa sẽ bé đi, số hạt trên bông giảm, tỷ lệ hạt chắc trên bông và trọng lượng hạt cũng giảm
Số hạt trên bông quá cao thì tỷ lệ hạt chắc, trọng lượng hạt sẽ giảm Để đảm bảo năng suất cao cần điều khiển sao cho ruộng lúa có số bông trên mét vuông tối
ưu, bảo đảm số hạt trên bông nhiều, tỷ lệ hạt chắc cao và trọng lượng hạt lớn (Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan, 1999)
Trang 28Năng suất lúa trên đơn vị diện tích là kết quả tương tác giữa nhiều yếu tố Do
đó, muốn đạt năng suất cao cần nắm vững các yếu tố ảnh hưởng đến từng thành phần trong từng thời kỳ và điều kiện nhất định để có thể tác động các biện pháp tích cực nhằm phát huy đầy đủ và tốt nhất các thành phần năng suất (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
1.5.1 Số bông trên đơn vị diện tích (số bông/m 2 )
Trong các yếu tố cấu thành năng suất thì số bông trên mét vuông là yếu tố có tính chất quyết định nhất và sớm nhất Số bông có thể đóng góp 74% năng suất,
trong khi số hạt và trọng lượng hạt đóng góp 26% (Nguyễn Đình Giao và ctv.,
1997)
Số bông trên mét vuông được quyết định vào giai đoạn sinh trưởng ban đầu của cây lúa (giai đoạn tăng trưởng), nhưng chủ yếu là giai đoạn đẻ nhánh Thời kỳ
đẻ nhánh từ lúc lúa bén rễ đến phân hóa đòng, trong đó quan trọng nhất là thời kỳ
đẻ nhánh hữu hiệu Đẻ nhánh hữu hiệu kết thúc trước đẻ nhánh tối đa khoảng 10-12 ngày Những nhánh đẻ trong thời gian này đều có khả năng thành bông (Nguyễn
Đình Giao và ctv., 1997) Số bông trên mét vuông tùy thuộc vào mật độ sạ, cấy, khả
năng nở bụi của lúa, điều kiện đất đai, thời tiết, lượng phân bón nhất là phân đạm và chế độ nước Số bông trên mét vuông có ảnh hưởng thuận với năng suất (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Mật độ gieo sạ và khả năng nở bụi của cây lúa thay đổi tùy theo từng giống lúa, điều kiện đất đai, chế độ nước, phân bón, tình hình thời tiết, sâu bệnh và thời vụ gieo sạ Đối với giống lúa ngắn ngày, thấp cây, nở bụi ít, đất xấu, nhiều nắng nên sạ dày để tăng số bông trên mét vuông Ngược lại, trên đất giàu hữu cơ, thời tiết tốt, lượng phân bón nhiều (nhất là N) và giữ nước thích hợp thì lúa nở bụi khỏe có thể
sạ cấy thưa hơn Các giống lúa cải thiện thấp cây có số bông trên mét vuông trung bình phải đạt 500-600 bông/m2 đối với lúa sạ, hoặc 350-450 bông/m2 đối với lúa cấy mới có thể đạt năng suất cao (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
1.5.2 Số hạt trên bông
Số hạt trên bông nhiều hay ít tùy thuộc vào số gié, hoa phân hóa cũng như hoa thoái hóa Các quá trình này nằm trong thời kỳ sinh trưởng sinh dục từ lúc làm đòng
đến trổ bông (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997)
Số hạt trên bông được quyết định từ lúc tượng cổ bông đến 5 ngày trước khi trổ, nhưng quan trọng nhất là thời kỳ phân hóa hoa và giảm nhiễm tích cực Ở giai đoạn này, số hạt trên bông có ảnh hưởng thuận đối với năng suất lúa do ảnh hưởng
Trang 29đến số hoa được phân hóa Sau giai đoạn này, số hạt trên bông đã hình thành có thể
bị thoái hóa và có ảnh hưởng âm với năng suất (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Theo Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999) số hạt trên bông là số lượng hoa phân hóa và hình thành trên bông, số hạt trên bông do tổng số hoa phân hóa và
số hoa thoái hóa quyết định, số hoa phân hóa càng nhiều, số hoa thoái hóa càng ít thì số hạt trên bông sẽ nhiều
Nguyễn Ngọc Đệ (2008) cho rằng, số hạt trên bông tùy thuộc vào số hoa được phân hóa và số hoa bị thoái hóa Hai yếu tố này bị ảnh hưởng bởi giống lúa, kỹ thuật canh tác và điều kiện thời tiết Đối với những bông lúa to, kỹ thuật canh tác tốt, bón phân đầy đủ, chăm sóc đúng mức, thời tiết thuận lợi thì số hoa phân hóa càng nhiều, số hoa thoái hóa càng ít nên số hạt cuối cùng trên bông cao Ở các giống lúa cải thiện, số hạt trên bông từ 80-100 hạt đối với lúa sạ hoặc 100-120 hạt đối với lúa cấy là tốt trong điều kiện ở ĐBSCL
Người ta thấy rằng bón đón đòng cho lúa vào giai đoạn phân hóa đòng đến giai đoạn phân hóa hoa có tác dụng làm tăng số lượng hoa phân hóa một cách rõ rệt Bón phân vào giai đoạn phân hóa hoa còn có tác dụng phòng ngừa hoa thoái hóa Bón thúc vào giai đoạn bắt đầu phân hóa đòng có tác dụng làm tăng quá trình phân hóa gié Số gié cấp 1 đặc biệt là số gié cấp 2 nhiều thì số hoa trên bông cũng nhiều
Số hoa trên bông nhiều là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho số hạt trên bông cao (Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan, 1999)
1.5.3 Tỷ lệ hạt chắc (%)
Tỷ lệ hạt chắc là tỷ lệ phần trăm các hạt có tỷ trọng trên 1,06 Tỷ lệ hạt chắc
có ảnh hưởng đến năng suất lúa rõ rệt Số hạt chắc ít, số hạt lép nhiều thì năng suất
sẽ giảm (Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan, 1999)
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), tỷ lệ hạt chắc được quyết định từ đầu thời kỳ phân hóa đòng đến khi lúa vào chắc nhưng quan trọng nhất là các thời kỳ phân bào giảm nhiễm, trổ bông, phơi màu, thụ phấn, thụ tinh và vào chắc Nguyên nhân hạt lép là do quá trình thụ phấn thụ tinh không thuận lợi, khi ra hoa gặp rét hoặc nóng quá, ẩm độ không khí quá thấp hoặc quá cao, làm cho hạt phấn mất khả năng nảy mầm, hoặc trước đó nhị và nhụy phát triển không hoàn toàn,…(Nguyễn Đình Giao
và ctv., 1997) Hạt lép nhiều nhất ở phía cuối bông nhất là đối với những giống lúa
trổ dấu bông, một số gié cuối cùng không ra khỏi bẹ lá (Bùi Huy Đáp, 1980) Tăng tỷ lệ hạt chắc hay nói cách khác là giảm tỷ lệ hạt lép trên bông Tỷ lệ hạt chắc tăng làm trọng lượng hạt tăng nên năng suất cuối cùng tăng Tỷ lệ hạt lép trên bông có thể thay đổi trong phạm vi tương đối rộng, ít nhất là 2-5%, thông thường là
Trang 305-10%, cũng có khi là 20-30% hoặc thậm chí còn cao hơn (Nguyễn Đình Giao và
ctv., 1997)
Nguyễn Ngọc Đệ (2008) cho rằng, tỷ lệ hạt chắc tùy thuộc vào đặc tính sinh lý của cây lúa và chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện ngoại cảnh Thường số hoa trên bông quá nhiều dễ dẫn đến tỷ lệ hạt chắc thấp Các giống lúa có khả năng quang hợp, tích lũy và chuyển vị các chất mạnh, cộng với cấu tạo mô cơ giới vững chắc không đổ ngã sớm, trổ và tạo hạt trong điều kiện thời tiết tốt, dinh dưỡng đầy đủ thì
tỷ lệ hạt chắc sẽ cao và ngược lại Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ hạt chắc: lượng phân bón, cường độ ánh sáng và nhiệt độ
1.5.4 Trọng lượng 1000 hạt
Trọng lượng 1000 hạt là yếu tố cuối cùng tạo năng suất lúa So với các yếu tố khác thì trọng lượng 1000 hạt tương đối ít biến động Nó phụ thuộc chủ yếu vào giống Trọng lượng 1000 hạt do hai bộ phận cấu thành, trọng lượng vỏ trấu và trọng lượng hạt gạo Trọng lượng vỏ trấu thường chiếm 20% và trọng lượng hạt gạo chiếm 80% trọng lượng toàn hạt Muốn có trọng lượng hạt gạo cao phải tác động
vào cả hai yếu tố này (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997)
Trọng lượng hạt tùy thuộc cỡ hạt và độ mẩy của hạt lúa Đối với lúa, người ta thường biểu thị trọng lượng hạt bằng trọng lượng của 1000 hạt với đơn vị là gram (g) Ở phần lớn các giống lúa, trọng lượng 1000 hạt thường biến thiên tập trung trong khoảng 20-30 g Trọng lượng hạt của cây lúa trong ruộng là một đặc tính ổn định (Yoshida, 1981), chủ yếu do đặc tính di truyền của giống quyết định vì kích thước hạt bị kiểm tra chặt chẽ bởi kích thước vỏ trấu, điều kiện môi trường có ảnh hưởng một phần vào thời kỳ giảm nhiễm (18 ngày trước khi trổ) trên cỡ hạt; cho đến khi vào chắc rộ (15-25 ngày sau khi trổ) trên độ mẩy của hạt (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999) cho rằng, vào giai đoạn phân bào giảm nhiễm nếu điều kiện ngoại cảnh và điều kiện dinh dưỡng thuận lợi thì hạt được hình thành với kích thước lớn Sau khi trổ bông nếu dinh dưỡng kém, thiếu ánh sáng ảnh hưởng đến quang hợp, quá trình vận chuyển các chất về hạt bị cản trở
sẽ làm giảm khối lượng hạt Để tăng khối lượng hạt, trước lúc trổ bông cần bón thúc nuôi đòng để làm tăng kích thước vỏ trấu Sau khi trổ bông cần tạo điều kiện cho cây sinh trưởng tốt để quang hợp được tiến hành mạnh mẽ, tích lũy được nhiều tinh bột thì khối lượng hạt sẽ cao Trọng lượng hạt tăng mạnh nhất từ sau trổ đến chín sữa
Trang 31CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM
2.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 02 năm 2013 tại
ấp An Bình, xã Hội An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
Hình 2.1 Bản đồ địa điểm thí nghiệm
Xã Hội An với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp nằm trong vùng đê bao khép kín của khu vực huyện Chợ Mới Không bị ảnh hưởng do lũ nên vùng được tiến hành trồng lúa ba vụ/năm
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
Giống: IR 50404
Nguồn gốc: được chọn lọc từ tập đoàn giống nhập nội của IRRI Được công nhận giống chính thức theo Quyết định số 126 QĐ/BNN-KHCN, ngày 21 tháng 5 năm 1992 của Bộ Nông Nghiệp & PTNT
Hội An
Địa điểm thí nghiệm
Trang 32Phân bón: Urea(46% N), Super Lân (15-18% P2O5), Clorua Kali (60% K2O), NPK, DAP,…
Các loại nông dược: Filia 525SE, Vitako 40WG, Anvil 5SC, Tilt 250EC, Sofit 300EC…
Dụng cụ: thước đo, máy đo ẩm độ, đo pH, cân điện tử, cân đồng hồ,…
2.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, ba nghiệm thức với ba lần lặp lại, diện tích mỗi lô 30 m2 (5x6m) Các nghiệm thức được ký hiệu như sau:
Nghiệm thức 1: đối chứng sạ 200 kg giống/ha (sạ theo nông dân)
Nghiệm thức 2: sạ 150 kg giống/ha (giảm 25% lượng giống)
Nghiệm thức 3: sạ 100 kg giống/ha (giảm 50% lượng giống)
Trong mỗi nghiệm thức được đặt 3 khung kẽm có diện tích 0,25 m2
một cách ngẫu nhiên để làm khung chỉ tiêu
Bón phân theo công thức: 100 N-60 P O -30 K O