TÓM TẮT Đề tài “Ảnh hưởng của nguồn gốc cá bố mẹ lên sinh trưởng và sinh sản của cá rô đồng Anabas testudineus” được thực hiện trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 5/2013, trên 3 dòng
Trang 3Xin cảm ơn tất cả các bạn cùng hỗ trợ nghiên cứu, các anh chị cao học K18,
và tập thể lớp Nuôi Trồng Thủy Sản (K36) cùng thầy chủ nhiệm đã giúp đỡ và động viên em những lúc khó khăn trong khi làm bài báo cáo để em có thể hoàn thành tốt bài làm của mình
Tuy em đã cố gắng làm tốt bài báo cáo tốt nghiệp này nhƣng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, em mong rằng thầy cô và các bạn hãy đóng góp ý kiến để em có thể hoàn thiện bài báo cáo này tốt hơn nữa
Em xin kính chúc toàn thể quý thầy cô và các bạn dồi giàu sức khỏe và công tác tốt
Em xin chân thành biết ơn!
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Ảnh hưởng của nguồn gốc cá bố mẹ lên sinh trưởng và sinh
sản của cá rô đồng (Anabas testudineus)” được thực hiện trong thời gian từ
tháng 2 đến tháng 5/2013, trên 3 dòng cá rô đồng Cà Mau (CM), Đồng Tháp (ĐT) và cá rô đầu vuông (ĐV) 8 tháng tuổi Cá được bố trí ngẫu nhiên trong 9 giai được đặt trong cùng 1 ao tại Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Cần Thơ Tăng trưởng của cá được xác định mỗi tháng Các chỉ tiêu sinh sản được xác định bằng cách phân tích ngẫu nhiên mỗi tháng 5 con/giai và khi kết thúc thí nghiệm 20 con/giai Ngoài ra, nghiên cứu này còn xét sự tương quan giữa khối lượng cá và sức sinh sản, khối lượng tuyến sinh dục, giữa khối lượng tuyến sinh dục và sức sinh sản ở từng dòng cá
Kết quả phân tích cho thấy, từ tháng 2 đến tháng 5 sự xuất hiện các giai đoạn thành thục khác nhau giữa 3 dòng, dòng ĐT xuất hiện đủ 3 giai đoạn II, III và IV (tháng 2), dòng CM có giai đoạn III và IV ở tất cả các tháng, riêng dòng ĐV số mẫu thu được toàn ở giai đoạn IV Hệ số điều kiện ở cá cái và cá đực nhìn chung bắt đầu giảm từ tháng 3 Hệ số thành thục (GSI) của cá cái ở các dòng cá đều tăng liên tục qua các tháng nghiên cứu và đạt giá trị cao nhất
ở tháng 5 Dù vậy, khối lượng trung bình của các dòng cá rô đều có xu hướng tăng từ tháng 2 đến tháng 5, tăng trưởng nhanh nhất là dòng ĐV và thấp nhất
là dòng ĐT Sức sinh sản của cá rô có sự dao động lớn trong cùng một dòng
và có sự khác biệt thống kê giữa 3 dòng, cao nhất là dòng ĐV với 36.612 trứng/con, thấp nhất là dòng ĐT với 13.103 trứng/con Sức sinh sản tương đối giữa hai dòng ĐT và ĐV khác biệt không có ý nghĩa, giữa CM và ĐV cũng không có ý nghĩa, nhưng dòng ĐT thấp hơn có ý nghĩa với dòng CM Kích thước trứng trung bình của các dòng cá CM, ĐT, ĐV không có sự khác biệt thống kê, cao nhất là CM 0,73 mm, nhỏ nhất là dòng cá rô ĐV 0,72 mm Khối lượng tuyến sinh dục và sức sinh sản tuyệt đối có mối tương quan khá chặt chẽ, giữa sức sinh sản tuyệt đối và khối lượng thân, cũng như giữa khối lượng thân và khối lượng tuyến sinh dục có sự tương quan nhưng ở mức thấp hơn
Trang 5MỤC LỤC
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu đề tài 1
1.3 Nội dung đề tài 1
1.4 Thời gian thực hiện 1
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
2.1 Sơ lược về đặc điểm sinh học của cá rô đồng 2
2.1.1 Hệ thống phân loại 2
2.1.2 Đặc điểm hình thái 3
2.1.3 Sự phân bố 3
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 4
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 4
2.1.6 Đặc điểm sinh sản 5
2.2 Những nghiên cứu liên quan 6
Phần 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
3.1 Vật liệu nghiên cứu 8
3.1.1 Dụng cụ và vật tư hóa chất 8
3.1.2 Đối tượng 8
3.2 Phương pháp nghiên cứu 8
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 8
3.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi 8
3.2.3 Phương pháp tính toán 9
3.3 Phương pháp xử lý số liệu 10
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 11
4.1 Các chỉ tiêu môi trường 11
4.2 Một số chỉ tiêu đánh giá sự thành thục của các dòng cá 11
Trang 64.2.1Tỉ lệ thành thục của các dòng cá 11
4.2 Hệ số điều kiện và hệ số thành thục của cá 12
4.3 Sức sinh sản của các dòng cá 15
4.3.1So sánh sức sinh sản tuyệt đối giữa các dòng cá 15
4.3.2 So sánh sức sinh sản tương đối giữa các dòng cá 16
4.4 Sự tương quan giữa sức sinh sản, khối lượng cá và khối lượng tuyến sinh dục 17
4.4.1 Sự tương quan giữa sức sinh sản và khối lượng cá 17
4.4.2 Sự tương quan giữa sức sinh sản và khối lượng tuyến sinh dục 18
4.4.3 Sự tương quan giữa khối lượng cá và khối lượng tuyến sinh dục 19 4.5 Kích thước trứng của các dòng cá 20
4.5.1 Kích thước trứng qua các tháng của các dòng cá 20
4.5.2 So sánh kích thước trứng giữa các dòng cá 20
4.6 Sinh trưởng của các dòng cá 22
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 23
5.1 Kết luận 23
5.2 Đề xuất 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Hình dạng cá rô đồng và cá rô đầu vuông
Hình 4.1: Tỉ lệ các giai đoạn thành thục của các dòng cá rô qua các tháng (T) Hình 4.2: Hệ số điều kiện của cá cái qua các tháng
Hình 4.3: Hệ số điều kiện của cá đực qua các tháng
Hình 4.4: Hệ số thành thục của cá cái qua các tháng
Hình 4.5: Hệ số thành thục của cá đực qua các tháng
Hình 4.6: Tương quan giữa sức sinh sản và khối lượng cá
Hình 4.7: Tương quan giữa khối lượng TSD và sức sinh sản
Hình 4.8: Tương quan giữa khối lượng cá và khối lượng TSD
Hình 4.9: Khối lượng trung bình của các dòng cá qua các tháng
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
- ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
- WG: Tăng trọng
- DWG: Tăng trưởng tương đối
- SGR: Tăng trưởng tuyệt đối
Trang 10Trong những năm gần đây ngành nuôi trồng thủy sản của nước ta cũng đã phát triển rất mạnh nó đã trở thành một trong những ngành mũi nhọn của đất nước đặc biệt là ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long với hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc diện tích mặt nước phong phú, nguồn nước dồi dào rất thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Kiên Giang đã mang lại hiệu quả rất lớn cho người dân, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động,…
Trong các loài cá nước ngọt vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, cá rô đồng được xem là có ưu thế với những đặc tính ưu việt như: phẩm chất thịt ngon, kích cỡ lớn, không có xương dăm, giá trị kinh tế cao, dễ nuôi nên thu hút được
sự quan tâm lớn của người dân Bên cạnh đó cá rô đầu vuông được phát hiện năm 2008 ở Hậu Giang với những ưu điểm vượt trội về thời gian nuôi, tốc độ lớn nhanh, khối lượng lớn đang được nuôi ngày càng phổ biến Tuy nhiên, hiện chưa có thông tin so sánh về các đặc điểm sinh học sinh sản và sinh trưởng của các dòng cá rô có nguồn gốc bố mẹ từ các vùng sinh thái khác
nhau Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, đề tài “Ảnh hưởng của nguồn gốc cá
bố mẹ lên sinh trưởng và sinh sản của cá rô đồng (Anabas testudineus)”
được thực hiện
1.2 Mục tiêu đề tài
Đề tài được thực hiện nhằm bổ sung thông tin khoa học cho các nghiên cứu liên quan sau về sự khác biệt ở một số chỉ tiêu sinh sản và sinh trưởng ở giai đoạn thành thục của cá rô có nguồn gốc bố mẹ từ các vùng khác nhau trong cùng điều kiện
1.3 Nội dung đề tài
- Theo dõi hệ số thành thục, tỉ lệ các giai đoạn thành thục, sức sinh sản và đường kính trứng của các dòng cá giai đoạn thành thục (từ 8 – 11 tháng tuổi)
- Theo dõi sự tăng trưởng của cá giai đoạn thành thục
1.4 Thời gian thực hiện
Từ tháng 2/2013 đến tháng 5/2013
Trang 11Phần 2:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về đặc điểm sinh học của cá rô đồng
Tên địa phương: cá rô đồng
Hình 2.1 Hình dạng cá rô đồng và cá rô đầu vuông (nguồn adi-biologyfmipa.blogspot.com và http://www.khuyennongvn.gov.vn)
Trước đây cá rô đồng có nhiều tên khoa học khác nhau, như Anabas spinosus
(http://www.fishbase.org) hay Anabas oligolepis (Axelrod, 1974) Hiện nay, chỉ có tên khoa học Anabas testudineus của cá rô đồng là được chấp nhận
trong hệ thống Integrated Taxonomic Information System (www.itis.gov) và http://www.fishbase.com
Trang 122.1.2 Đặc điểm hình thái
Lúc nhỏ hình dáng cá rô đầu vuông giống như cá rô đồng bình thường nhưng khi lớn lên đầu cá có hình hơi vuông, môi trề, bụng sệ, đuôi dài, vi dưới dài Thân cá có hai chấm đen ở gần đuôi và mang cá Đặc điểm khác giữa cá
rô đầu vuông và cá rô đồng bình thường là cá cái và cá đực có tốc độ tăng trưởng tương đương (cá rô đồng cái có tốc độ tăng trưởng nhanh gấp đôi cá rô đồng đực) (Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bình Phước, 2011) Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) cá rô đồng có thân hình bầu dục, dẹp bên, cứng chắc, đầu lớn, mõm ngắn Miệng hơi trên, rộng vừa, rạch miệng xiên kéo dài đến đường thẳng đứng kẻ qua giữa mắt Răng nhỏ nhọn Mỗi bên đầu có hai lỗ mũi, lỗ phía trước mở ra bằng một ống ngắn Mắt to, tròn nằm lệch về nửa trên của đầu và gần chót mõm hơn gần điểm cuối nắp mang
Phần trán giữa mắt cong lồi tương đương 1,5 đường kính mắt Cạnh dưới xương lệ, xương giữa nắp mang, xương dưới nắp mang và cạnh sau xương nắp mang có nhiều gai nhỏ nhọn, tạo thành răng cưa Lỗ mang rộng, màng mang hai bên dính nhau và có phủ vảy Trên đầu có nhiều lỗ cảm giác
Gốc vi lưng rất dài, phần gai gần bằng bốn lần phần tia mềm Khởi điểm
vi lưng ở trên vảy đường bên thứ ba và kéo dài đến gốc vi đuôi Khởi điểm vi hậu môn ngang vảy đường bên thứ 14 – 15, gần điểm giữa gốc vi đuôi hơn gần chót mõm và chạy dài dến gốc vi đuôi Vi đuôi tròn, không chẻ đôi Gai vi lưng, vi hậu môn, vi bụng cứng nhọn
Mặt lưng của đầu và thân có màu xám đen hoặc xám xanh và lợt dần xuống bụng, ở một số cá thể ửng lên màu vàng nhạt Cạnh sau xương nắp mang có một màng da nhỏ màu đen Có một đốm đen đậm giữa gốc vi đuôi
2.1.3 Sự phân bố
Cá rô đồng là loài cá nước ngọt phân bố rộng rãi ở nhiều nước vùng nhiệt đới Vùng phân bố của cá rô đồng phổ biến ở Nam Á và Đông Nam Á Ngoài ra cá rô đồng còn thấy phân bố ở Châu Phi (Vương Dĩ Khang, 1963) Ở Việt Nam, cá rô đồng phân bố khắp các địa phương, ở các loại hình mặt nước như ao, hồ, kênh mương, ruộng lúa, đầm lầy ruộng trũng…Ở ĐBSCL cá rô phân bố nhiều ở những khu vực trũng, nước ngập quanh năm như nông trường Phương Ninh (Cần Thơ), rừng U Minh Hạ (Cà Mau), U Minh Thượng (Kiên Giang) và vùng Tứ Giác Long Xuyên Tuy nhiên cá phân bố chủ yếu ở vùng đồng bằng, ít gặp ở miền núi.Khả năng thích nghi với môi trường sống của cá
rô đồng rất tốt, đặc biệt cá có thể hô hấp bằng khí trời nhờ cơ quan hô hấp phụ, nên có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện môi trường bất lợi ngoài tự nhiên (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Trang 13Cá bắt đầu ăn ngoài từ ngày thứ ba, thức ăn ưa thích của cá là những giống loài động vật phù du cỡ nhỏ Khi ở giai đoạn cá bột 10 ngày tuổi cá bắt đầu ăn lẫn nhau (Morioka et al, 2009)
Khi phân tích trong dạ dày cá rô đồng ( ngoài tự nhiên) tìm thấy 19% giáp xác, 3,5% côn trùng, 6% nhuyễn thể, 9,5% cá con, 47% thực vật, 16% vật chất tiêu hóa (Nargis và Hossain, 1987), pH trong dạ dày cá rô đồng giao động
13 – 14 cm, cá 4 năm tuổi đạt 14– 15 cm Trong quần thể cá ở đồng ruộng cá 2 – 3 năm tuổi chiếm ưu thế (60% - 70%), loại cao tuổi rất ít (Bộ Thủy Sản, 1996) Trong ao nuôi, sau sáu tháng cá rô đồng đạt khối lượng 60 – 100g/con (Phạm Văn Khánh, 2001)
So với cá rô đồng, cá rô đầu vuông có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn rất nhiều, con đực và con cái có tốc độ tăng trưởng tương đương nhau Sau 4 – 5 tháng, cá có thể đạt khối lượng trung bình từ 7 – 15 con/kg và nếu nuôi kéo dài 7 tháng cá có thể đạt khối lượng 0,4 – 0,6 kg/con Thời gian nuôi càng dài
cá càng lớn chứ không giảm cân như cá rô đồng thường (Sở nông nghiệp và
phát triển nông thôn Quảng Trị, 21/9/2012)
Trang 142.1.6 Đặc điểm sinh sản
Có nhiều bậc thang thành thục trong nghiên cứu sinh sản cá như: bậc thang của của O.F Xakun và N.A Buskaia (1968), bậc thang thành thục sinh dục cho cá đẻ trứng nhiều đợt theo Qasim (1957), Crossland (1977),… Nhưng phổ biến và dễ sử dụng hơn cả là bậc thang thành thục của Nikolsky (1963)
Cụ thể trong các nghiên cứu của Đỗ Thị Thanh Thúy và Hà Phước
Hùng (2012) về “Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Úc trắng (Arius
sciurus)”, hay nghiên cứu “Thành phần loài, sản lượng và đặc điểm sinh học
một số loài cá nổi lớn đại dương trong các chuyến điều tra khảo sát năm 2008 tại vùng biển xa bờ miền Trung” của Đoàn Bộ và ctv (2009), “Nghiên cứu đặc
điểm sinh học dinh dưỡng và sinh sản của lươn đồng (Monopterus albus)”của
Lý Văn Khánh và ctv (2008),… Đều sử dụng bậc thang thành thục của Nikolsky (1963) Trong nghiên cứu này cũng sử dụng bậc thang của Nikolsky (1963) để phân chia sự phát triển tuyến sinh dục của cá rô đồng
Phân biệt đực – cái: cá đực có thân hình thon dài hơn so với cá cái Cá đực phát dục có tinh dịch màu trắng, dùng tay vuốt nhẹ dưới ổ bụng từ vây ngực đến vây hậu môn, ta sẽ thấy tinh dịch chảy ra Đây là lúc chín mùi của sự thành thục, cá đã sẵn sàng cho việc sinh sản Với cá cái khi mang trứng, bụng
sẽ phình to, mềm Nếu dùng tay vuốt nhẹ, trứng sẽ vọt ra ngoài (Nguyễn Văn Kiểm, 2005)
Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009) thì hầu hết các loài cá ở ĐBSCL trong giai đoạn trưởng thành có tuyến sinh dục ở giai đoạn II vào tháng 12 và tháng 1, ở giai đoạn III vào tháng 2 và tháng 3, giai đoạn IV vào tháng 4 và tháng 5 Cá bắt đầu tập trung sinh sản vào đầu mùa mưa tức là khoảng cuối tháng 4 đầu tháng 5 và kéo dài đến tháng 8, đỉnh cao là từ tháng 6 đến tháng 7 Tuy nhiên do đặc tính khí hậu nhiệt đới ở nước ta (thể hiện rõ nét
ở ĐBSCL), vào những tháng khác vẫn thấy cá sinh sản nhưng đó không phải
là mùa sinh sản chính
Trong tự nhiên cá bắt cặp sinh sản Sau những cơn mưa, hoặc nước thủy vực thay đổi là điều kiện thích hợp kích thích cá sinh sản Về hình thức sinh sản, do hưng phấn nên trong quá trình bắt cặp sinh sản, cả cá cái lẫn cá đực sẽ phóng lên khỏi mặt nước liên tục Bãi đẻ của cá là ven những bờ ao, bờ ruộng – kênh – mương, nơi có nhiều cỏ và cây thủy sinh Cá cái sẽ đẻ trứng vào trong nước, đồng thời lúc trứng được đẻ ra cũng là lúc tinh trùng từ cá đực được phóng ra, trứng được thụ tinh và nổi lên trên mặt nước (trích dẫn từ Hồ Thị Kiều, 2012)
Theo Dương Nhựt Long (2003) trứng cá rô thành thục thường có màu trắng ngà hoặc màu trắng ngà hơi vàng, đường kính trứng sau khi trương nước dao động từ 1,1-1,2 mm và trứng cá rô thuộc loại trứng nổi Sức sinh sản của
Trang 15cá cao đạt khoảng 300.000 đến 700.000 trứng/kg cá cái Theo Phạm Văn Khánh và ctv (2002) cá có khả năng đẻ 4 lần trong năm
Cá rô đầu vuông thành thục sau 8 tháng tuổi Sinh sản tập trung vào mùa mưa, tháng 6 – 7 và có khả năng sinh sản nhiều lần trong năm (http://thuysan.net ngày 11/7/2011)
Có thể kích thích sinh sản nhân tạo cá rô, cá bố mẹ khi đã thành thục được tiêm kích thích tố RLH_a, liều dùng là 50µg RLH_a + 5 mg DOM/ kg cá cái (cá đực liều bằng 1/ 2 cá cái) Sau khi tiêm khoảng 8 giờ cá sẽ đẻ Sau sinh sản 1,5 tháng cá có thể tái phát dục và tiếp tục tái sinh sản ( Phạm Văn Khánh, 1999)
2.2 Những nghiên cứu liên quan:
Theo Ts Phạm Thanh Liêm, kỹ thuật chọn lọc là một trong các kỹ thuật cải thiện chất lượng giống có thể được áp dụng trong chọn giống cá rô phi bên cạnh di nhập giống, lai tạo, và kỹ thuật di truyền Nó được xem như kỹ thuật cải thiện chất lượng dài hạn, kết quả cải thiện của tính trạng gia tăng lên theo mỗi thế hệ Chương trình chọn giống cá rô phi dòng GIFT là một thí dụ
thành công của phương pháp này Trên cơ sở lai chéo giữa các quần thể O
niloticus tự nhiên ở châu Phi và các quần thể cá thuần hóa ở các quốc gia châu
Á, kết quả chọn lọc đã tạo ra cá rô phi dòng GIFT có tốc độ tăng trưởng tăng
60% và tỉ lệ tăng trưởng tăng 40% so với các dòng cá O niloticus ở
Philippines (ICLARM, 1998) Ở châu Á, cá rô phi dòng GIFT có khả năng chịu lạnh do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1 (RIA 1) sản xuất, là kết quả chọn lọc đồng thời nhiều tính trạng trên cá rô phi dòng GIFT Dòng cá rô phi đỏ của RIA 2 là kết quả chọn lọc từ các dòng cá từ Ecuador, Colombia, Jamaica và Israel (MRC, 2009), do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 2 (RIA 2) thực hiện ( trích UV Việt Nam)
Theo Phạm Anh Tuấn và ctv ( 2008), đã thực hiện Nghiên cứu “ Đánh giá lựa chọn vật liệu chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng cá rô phi nuôi vùng nước lợ mặn” trên 9 đàn cá là con của 3 đàn cá rô phi vằn dòng GIFT, cá
rô phi vằn Đài Loan và cá rô phi chọn giống Viện I cho sinh sản đặt trong các giai trong ao Đình Bảng, Bắc Ninh Các đàn cá được so sánh về biến dị di truyền và tốc độ sinh trưởng Kết quả cho thấy 2 đàn cá Đài Loan x GIFT và Viện I x Đài Loan có tỉ lệ sống, tốc độ sinh trưởng nổi trội và khá ổn định khi nuôi trong các môi trường có độ mặn khác nhau được lựa chọn là vật liệu khởi đầu chọn giống Chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng của cá rô phi cho vùng ven biển có độ mặn thấp hơn 22%0 có thể chỉ cần phát triển 1 dòng cá chọn giống cho các vùng nuôi có độ mặn khác nhau Chương trình chọn giống được tiếp tục trên các dòng cá nói trên với cường độ chọn lọc 15-20% và triển khai chọn lọc theo gia đình
Trang 16Những nghiên cứu về đặc điểm di truyền của các quần thể cá rô đồng phân bố ở các vùng khác nhau ở Thái Lan cho thấy các đặc điểm khác nhau về
di truyền của cá chủ yếu là do sự phân bố khác nhau về địa lý, khu vực sinh sống của quần thể (Sekino and Hara, 2000 trích dẫn bởi Trần Quốc Lộc, 2012)
Theo nghiên cứu của Biswas và Shah (2009) cho thấy cá rô đồng có nguồn gốc ở Thái Lan được di nhập vào Bangladesh và cá rô đồng Bangladesh khác nhau có ý nghĩa thống kê (P <0,05) về một số chỉ tiêu hình thái đo, đếm như chiều dài từ mõm đến trước vi lưng, tỉ lệ cao than/ dài chuẩn, số gai cứng hậu môn, số tia mềm vi lưng, …và cả khi 2 dòng cá được thu trong các ao của cùng một vùng (tỉnh Khulna, Bangladesh)
Trang 17Phần 3:
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Dụng cụ và vật tư hóa chất
Giai: 9 giai
Bộ đo các chỉ tiêu môi trường: Test đạm amon tổng TAN, Test pH, Test NO2
-, nhiệt kế thủy ngân,…
Dụng cụ thu và chứa mẫu: xô nhựa, thao nhựa, vợt
Máy móc thiết bị: cân điện tử, kính hiển vi
Cá rô đầu vuông: từ 12 – 56 g/con
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm gồm có 3 nghiệm thức là các dòng cá rô Cà Mau, Đồng Tháp và đầu vuông Các nghiệm thức có 3 lần lặp lại và được bố trí ngẫu nhiên trong 9 giai (2m2/giai) được đặt trong cùng một ao tại Khoa Thủy Sản - Đại Học Cần Thơ Ba dòng cá thí nghiệm có cùng 8 tháng tuổi đã được ương nuôi trong
cùng điều kiện Thời gian thí nghiệm là 3 tháng
Chăm sóc cho ăn
Tháng thứ 2 và 3: cho ăn ngày 1 lần (chiều 16h – 17h) với khẩu phần ăn 1,5%
khối lượng cơ thể/ngày
3.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Theo dõi các chỉ tiêu môi trường: NH3, NH4, pH, nhiệt độ (t0), NO2
Nhiệt độ đo bằng nhiệt kế và đo 2 lần trong ngày: buổi sáng (7 - 8h) và chiều (16-17h)
NH3, NH4, pH, NO2 theo dõi hàng tuần buổi sáng (7 - 8h) và chiều (16 – 17h)
Trang 18+ Tăng trưởng của cá theo tháng: xác định bằng cách cân tổng khối lượng cá trong một giai
+ Xác định các chỉ tiêu sinh sản: tại mỗi đợt thu mẫu chọn mỗi giai chọn 5 con đại diện, đến khi kết thúc thí nghiệm thu 10con/giai để quan sát giai đoạn phát triển tuyến sinh dục, mổ lấy tuyến sinh dục, cân, đo cơ thể cá có và không có nội quan và cân khối lượng tuyến sinh dục
Xác định giai đoạn phát triển tuyến sinh dục dựa theo bậc thang thành thục của Nikolsky (1963)
Xác định sức sinh sản: đếm trứng những cá thể có buồng trứng ở giai đoạn IV
Đo đường kính trứng: đo những mẫu được xác định sức sinh sản
3.2.3 Phương pháp tính toán
- Chỉ tiêu sinh trưởng:
Tăng trọng: WG (Weight again) = Wt – W0
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (Daily weight gain-g/ngày):
DWG = (Wt – W0 )/T
Tốc độ tăng trưởng tương đối (Specific growth rate %/ngày)
SGR = (LnWt – LnW0)/T x 100
Trong đó: W0, Wt: là khối lượng trước và sau thí nghiệm
T: là thời gian thí nghiệm
Trong đó: P (g) là khối lượng tuyến sinh dục cá
W (g) là khối lượng cá không nội quan Sức sinh sản tuyệt đối: là số lượng trứng có trong buồng trứng ở giai đoạn IV của một con cái
Theo Lowerre-Barbieri (1993), thì có thể tách trứng bằng cách cho buồng trứng vào khung lưới có mắt lưới 0,01 mm đặt dưới vòi nước chảy để tế bào trứng tự tách rời ra Sau đó dùng formaline 2% để bảo quản trứng
Số lượng trứng được xác định bằng phương pháp:
Trang 19 Phương pháp lấy mẫu đại diện: được xác định bằng cách cân khối lượng hỗn hợp trứng và chất bảo quản, sau đó khuấy đều hỗn hợp rồi dùng ống hút nhựa hút một lượng làm mẫu đại diện và đếm số trứng/mẫu đại diện, thực hiện 5 lần lặp lại
Sau đó tính theo công thức:
F = nG (trứng/con cái) Trong đó: F: sức sinh sản
n: số trứng/g mẫu đại diện G: khối lượng hỗn hợp mẫu Sức sinh sản tương đối: số trứng trên một đơn vị khối lượng của con cái (trứng/g cá cái)
Đo kích thước trứng: thực hiện trên mẫu đếm sức sinh sản tuyệt đối, để so sánh ảnh hưởng của đường kính trứng đến chất lượng cá bột Lắc đều mẫu, hút ngẫu nhiên 30 – 35 trứng và được đo trên kính hiển vi, vật kính 16 (KTT được tính bằng cách lấy: giá trị đo/ 2,1 = mm)
3.3 Phương pháp xử lý số liệu:
Số liệu thu thập được xử lý theo phần mềm excel và chương trình SPSS Các
số liệu được tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và so sánh sự khác biệt giữa các dòng cá bằng phương pháp ANOVA một nhân tố và phép thử DUNCAN ở mức p <0,05