TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THUỶ SẢN --- --- TRẦN HUỲNH NHÂN BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT ĐÁY TRONG KHU VỰC TÔM – LÚA HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
- -
TRẦN HUỲNH NHÂN
BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT ĐÁY
TRONG KHU VỰC TÔM – LÚA HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Năm 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
TRẦN HUỲNH NHÂN
BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT ĐÁY
TRONG KHU VỰC TÔM - LÚA HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGs Ts VŨ NGỌC ÚT
Năm 2013
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy/cô khoa Thủy Sản cùng Bộ môn Thủy Sinh Học Ứng Dụng đã truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn PGs TS Vũ Ngọc Út đã tận tình hướng dẫn, quan tâm, giúp đỡ, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm, đóng góp ý kiến quý báu và tạo điều kiện thuân lợi cho tôi hoàn thành tốt luận văn này
Chân thành gửi lời cảm ơn đến cô Nguyễn Thị Kim Liên, cô Dương Thị Hoàng Oanh Bộ môn Thủy Sinh Học Ứng Dụng và thầy Huỳnh Trường Giang phòng thực hành Phân tích chất lượng nước đã động viên tinh thần và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Chân thành cảm ơn anh Nguyễn Minh Nhựt Quang và tập thể cán bộ huyện Tân Phú Đông – Tiền Giang cùng các hộ nuôi tôm đã ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thu mẫu tại địa bàn
Sau cùng, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và các bạn cùng lớp Nuôi Trồng Thủy Sản khóa 36 đã giúp đỡ, ủng hộ và động viên tinh thần để tôi có được kết quả như ngày hôm nay
Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày tháng 12 năm 2013
Trần Huỳnh Nhân
Trang 4TÓM TẮT
Khảo sát sự biến động thành phần loài động vật đáy trong khu vực tôm lúa ở huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang được thực hiện nhằm làm cơ sở cho việc đánh giá tác động của mô hình tôm lúa lên môi trường xung quanh Đề tài được tiến hành qua việc thu mẫu động vật đáy và một số chỉ tiêu thủy lý hóa như: nhiệt
độ, pH, độ mặn, DO Mẫu được thu hàng tháng qua 8 đợt từ tháng 2 đến tháng 9 tại 3 điểm đầu, giữa, cuối trên hệ thống kênh cấp thoát nước (kênh dẫn) của khu vực tôm-lúa và điểm tương ứng trên ruộng nuôi
Kết quả phân tích xác định được tổng cộng 40 loài động vật đáy thuộc 4 nhóm chính gồm giun nhiều tơ (Polychaeta) với 17 loài, nhóm giáp xác (Crustacea) với
8 loài, nhóm động vật thân mềm (Mollusca) với 10 loài và một số nhóm ngành khác thuộc các lớp (Palaeonemertea, Nuda, Echinoidea, Ophiuroidea và Gymnolaemata) Trong hệ thống ruộng ghi nhận được 23 loài và hệ thống kênh dẫn có 29 loài Một số loài thường xuyên xuất hiện trong thủy vực thu mẫu gồm
Platynereis dumerilii (họ Nereidae), Chone duneri (họ Sabellidae) thuộc nhóm giun nhiêu tơ, loài Gammarus locusta (họ Gammaridae), Ampelisca diadema (họ Ampeliscidae) thuộc nhóm giáp xác, loài Abra nitida (họ Semelidae) thuộc nhóm động vật thân mềm Ngoài ra loài Tubulanus annulatus (ngành Nemertea) thuộc
một số nhóm ngành khác (nhóm khác) cũng thường xuyên được tìm thấy
Mật độ động vật đáy trung bình qua các đợt thu mẫu là 129,375 ct/m2 trong đó ở
hệ thống kênh dẫn mật độ động vật đáy trung bình là 49 ct/m2 và trong ruộng nuôi là 80,375 ct/m2
Giun nhiều tơ (Polychaeta) là nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất trong thành phần và mật
độ loài ở đa số các đợt thu mẫu, tiếp đến là các nhóm giáp xác (Crustacea), động vật thân mền (Mollusca) và thấp nhất là các loài thuộc nhóm khác
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
DANH MỤC VIẾT TẮT vii
CHƯƠNG I - GIỚI THIỆU CHUNG 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Nội Dung 2
CHƯƠNG II - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tình hình nuôi tôm nước lợ 3
2.1.1 Trên thế giới và Việt Nam 3
2.1.2 Sơ lược sự hình thành và phát triển của mô hình nuôi tôm lúa ở ĐBSCL 6
2.1.3 Khía cạch về kỹ thuật và kinh tế của mô hình tôm lúa luân canh 6
2.2 Các yếu tố thủy lý hóa của môi trường nước cần thiết đối với NTTS 7
2.2.1 Nhiệt độ 7
2.2.2 pH 8
2.2.3 Độ mặn 9
2.2.4 Oxy hòa tan (DO) 9
2.3 Tổng quang về động vật không xương sống 9
2.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố của động vật không xương sống 10
2.3.2 Động vật không xương sống và vấn đề ô nhiễm 13
2.3.3 Chỉ thi sinh vật và vấn đề quang trắc sinh học 15
2.3.4 Sinh vật đáy 17
2.4 Các nghiên cứu gần đây 18
CHƯƠNG III - VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
3.2 Vật liệu nghiên cứu 22
3.2.1 Vật liệu thu mẫu 22
3.2.2 Vật liệu phân tích và hóa chất cố định mẫu 22
3.3 Phương pháp thu mẫu 22
3.3.1 Mẫu động vật đáy 22
3.3.2 Mẫu thủy lý hóa 23
Trang 63.4 Phương pháp phân tích mẫu 23
3.4.1 Phân tích định tính 23
3.4.2 Phân tích định lượng 23
3.4.3 Phân tích chỉ tiêu thủy lý hóa 24
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 24
CHƯƠNG IV - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Các yếu tố thủy lý hóa tại khu vực thu mẫu 25
4.1.1 Nhiệt độ 25
4.1.2 pH 26
4.1.3 Độ mặn 27
4.1.4 Oxy hòa tan (DO) 28
4.2 Động vật đáy 29
4.2.1 Biến động thành phần loài 29
4.2.2 Biến động mật độ 37
CHƯƠNG 5 - KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Đề Xuất 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích và sản lượng NTTS toàn quốc giai đoạn 2001-2010…… 5
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng tôm sú năm 2010 5
Bảng 2.3 Xếp hạng chất lượng nước theo chỉ số đa dạng 16
Bảng 4.1 Một số yếu tố thủy lý hóa môi trường nước tại khu vực thu mẫu 25
Bảng 4.2 Giá trị pH trung bình ở các thủy vực thu mẫu (Kênh dẫn, Ruộng nuôi) 26
Bảng 4.3 Một số yếu tố thủy lý hóa của môi trường nước ghi nhận được ở khu vực thu mẫu trong các tháng mùa khô và mùa mưa (*) (Kênh dẫn và Ruộng nuôi) 27
Bảng 4.4 Tỉ lệ thành phần loài động vật đáy trong thủy vực kênh dẫn và ruộng tôm-lúa qua từng đợt thu mẫu 30
Bảng 4.5 Thành phần loài động vật đáy ở kênh dẫn qua từng đợt thu mẫu các tháng mùa khô và mùa mưa 31
Bảng 4.6 Thành phần loài động vật đáy ở ruộng tôm lúa qua từng đợt thu mẫu các tháng mùa khô và mùa mưa 33
Bảng 4.7 Số lượng loài động vật đáy xuất hiện theo điểm qua từng đợt thu mẫu các tháng mùa khô (tháng 2,3,4,5) và mùa mưa (tháng 6,7,8,9) 35
Bảng 4.8 So sánh số lượng trung bình thành phần loài giữa mùa khô và mùa mưa 36 Bảng 4.9 Mật độ động vật đáy ở kênh dẫn qua từng đợt thu mẫu các tháng mùa khô và mùa mưa 38
Bảng 4.10 Mật độ động vật đáy ở ruộng tôm lúa qua từng đợt thu mẫu các tháng mùa khô và mùa mưa 39
Bảng 4.11 Biến động mật độ động vật đáy ở kênh dẫn và ruộng tôm lúa giữa mùa khô và mùa mưa ……….…… 40
Trang 10CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 Đặt vấn đề
Ngành thủy sản có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam (VN) Năm 2011, tổng sản lượng thủy sản đạt trên 5,2 triệu tấn (tăng gấp 5,1 lần so với năm 1990, bình quân tăng 8,49%/năm); sản lượng nuôi trồng đạt 3 triệu tấn (tăng gấp 9,7 lần so với năm 1990, bình quân tăng 12,02%/năm); sản lượng khai thác đạt trên 2,2 triệu tấn (tăng gấp 3,1 lần so với năm 1990, bình quân tăng 5,83%/năm) Hàng thủy sản VN đã có mặt ở trên 164 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Kim ngạch xuất khẩu năm 2011 đạt trên 6,11 tỷ USD (tăng gấp 29,8 lần so với năm 1990, bình quân tăng 18,5%/năm) Đặc biệt tôm và cá tra là hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong nhiều năm, năm
2011 đạt kim ngạch xuất khẩu tôm là 2,39 tỷ USD và cá tra là 1,8 tỷ USD Thủy sản luôn trong top đầu các mặt hàng xuất khẩu của đất nước và giữ vững vị trí top
10 nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới (http://www.agroviet.gov.vn, Bộ NN&PTNT, 2012) Ngành nuôi trồng thủy sản (NTTS) đã và đang góp phần quang trọng trong quá trình chuyển dịch kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực, giải quyết vấn đề việc làm
Hiện nay, ở các tỉnh ĐBSCL song song với việc mở rộng diện tích thì các
mô hình nuôi tôm sú cũng khá đa dạng như: thâm canh, bán thâm canh, quảng canh, quảng canh cải tiến và mô hình nuôi kết hợp (tôm-lúa, tôm-rừng,…) Những năm gần đây, mô hình nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh ngày càng
mở rộng thì hiệu quả mô hình này ngày càng giảm, càng bộc lộ nhiều rủi ro do nhiều dịch bệnh, ô nhiễm môi trường nước, chi phí tăng cao,… thì mô hình nuôi kết hợp tôm-lúa ngày càng mang lại hiệu quả bởi tính bền vững của nó
Tại Tiền Giang, diện tích phát triển mô hình tôm-lúa tập trung ở dự án nuôi Thủy sản Theo báo cáo của Trạm Thủy sản số 3, hiện nay, huyện Tân Phú Đông có 554,49 ha nuôi theo mô hình tôm-lúa trong gần 3.000 ha nuôi tôm của toàn huyện Những năm gần đây, nhờ được sự chuyển giao khoa học kỹ thuật của ngành nông nghiệp, mô hình tôm-lúa bước đầu đã đem lại hiệu quả khả quan do hạn chế việc sử dụng hoá chất, dịch bệnh trên tôm, giảm chi phí sản xuất lúa (do
sử dụng chất hữu cơ từ vụ nuôi tôm trước) góp phần ổn định môi trường sinh thái
Trang 11Thực tế cho thấy mô hình tôm-lúa đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế đồng thời mang lại sự ổn định cho người dân Tuy nhiên, mô hình tôm-lúa luân canh ở mật độ thấp 5-7 con/m2 , phụ thuộc chủ yếu vào thức ăn tự nhiên, đặc biệt
là động vật đáy (ĐVĐ) đóng vai trò rất quan trọng trong thành công của vụ nuôi Mặt khác, động vật đáy là nhóm sinh vật có vai trò rất quan trọng trong thủy vực như là mắt xích quan trọng trong mạng lưới thức ăn, có khả năng lọc sạch nước
và làm sinh vật chỉ thị cho môi trường (Dương Trí Dũng, 2001; Thái Tần Bái et al., 2005) Hiện nay, việc nghiên cứu và sử dụng các sinh vật để đánh giá, kiểm
soát và cải thiện chất lượng môi trường đã đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới Tại các nước đang phát triển, đặc biệt là một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan (Lê
Văn Khoa et al., 2007), đã và đang thực hiện vấn đề này Chính vì vậy đề tài
“Biến động thành phần loài động vật đáy trong khu vực tôm-lúa ở huyện
Tân Phú Đông tỉnh Tiền Giang” cần được thực hiện
1.3 Nội Dung
i Khảo sát một số yếu tố thủy lý-hóa trong khu vực tôm-lúa
ii Xác định thành phần loài và biến động thành phần loài ĐVĐ trong khu vực tôm-lúa ở huyện Tân Phú Đông – Tiền Giang
iii Xác định số lượng và biến động số lượng cá thể của nhóm ĐVĐ trong khu vực tôm-lúa ở huyện Tân Phú Đông – Tiền Giang
Trang 12CHƯƠNG II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình nuôi tôm nước lợ
2.1.1 Trên thế giới và Việt Nam
a Trên Thế Giới
Nghề nuôi tôm đã được hình thành hơn 1 thế kỷ qua của các cư dân vùng ven biển thuộc các quốc gia Châu Á như Indonesia, Philippine, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam với hình thức đơn giản như nuôi thử, đối tượng nuôi chủ yếu là tôm sú kết hợp trong ao nuôi cá măng, các sản phẩm thu được chủ yếu sử dụng để làm thực phẩm hàng ngày và phần còn lại tiêu thụ nội địa là chính (http://www.fao.org/fishery/culturedspecies/Penaeus_monodon/en) Nghề nuôi tôm biển hiện đại trên thế giới thật sự được bắt đầu từ cuối thập niên 1960 và những năm đầu của thập niên 1970 khi các nhà nghiên cứu của Pháp ở Tahihi phát triển được kỹ thuật sản xuất và ương giống các loài tôm thuộc họ Penaeidae
như Penaeus japonicus, P monodon, tiếp theo là P vannamei và P stylirostris Cùng thời điểm đó, ở Trung Quốc loài P chinensis được phát triển nuôi trong ao
bán thâm canh và ở Đài Loan tôm sú đã được nuôi trong những ao nhỏ theo hình
thức thâm canh (Briggs và ctv.,2004) Trong khi đó ở Thái Lan, việc phát triển
nuôi tôm sú theo hình thức quảng canh và bán thâm canh được hình thành ở các
(http://www.fao.org/fishery/culturedspecies/Penaeus_monodon/en) Nghề nuôi tôm của các quốc gia này sau đó cũng phát triển nhanh theo hình thức thâm canh với quy mô nhỏ và trở thành quốc gia dẫn đầu về sản lượng tôm sú từ năm 1993,
vị trí này được Thái Lan tiếp tục giữ mãi đến năm 2000 Trong những năm đầu của thập niên 1990, các quốc gia như Việt Nam, Ấn Độ, Bangladesh cũng phát triển đáng kể công nghiệp nuôi tôm sú Các nước thuộc Mỹ Latin như Honduras,
Mexico và Colombia, nghề nuôi tôm chủ yếu loài P vannamei và P stylirostris cũng được phát triển (Briggs và ctv.,2004)
Với nhũng tiến bộ về kỹ thuật nuôi và công nghệ chế biến thức ăn, nghề nuôi tôm phát triển mạnh ở những thập kỷ tiếp theo và ngày càng theo hướng công nghiệp hóa Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng đã gây nhiều tác động đến môi trường và phát sinh nhiều rủi ro Trong thời gian từ năm 1987-1989 sản lượng tôm sú của Đài Loan bị giảm đột ngột từ 75.500 tấn còn 16.600 tấn (Briggs
Trang 13và ctv.,2004) và sau đó đến giữa những năm 1990, sản lượng tôm nuôi của thế
giới bị mất khoảng 700.000-900.000 tấn do đối mặt với sự ô nhiễm làm cho dịch bệnh bộc phát và chủ yếu bệnh virus như đầu vàng và đốm trắng (Páez-Osuna,
2001b; Briggs và ctv.,2004) Các quốc gia bị thiệt hại từ dịch bệnh như Trung
Quốc 1994), Indonesia (1994-1995), Ấn Độ (1994-1996), Ecuador 1996), Honduras (1994-1997) và Mexico (1994-1997) do phát triển nhanh quá mức và thiếu sự quản lý đối với môi trường (Rosenberry, 2001, trích dẫn bởi Páez-Osuna, 2001b) Riêng đối với Việt Nam, bên cạnh lợi ích của việc nuôi tôm thì rủi ro cũng khá lớn như đại dịch xảy ra vào cuối năm 1993 dẫn đến sụt giảm sản lượng tôm xuất khẩu Năm 1994-1999, chỉ có 20-30% hộ nuôi tôm thành công (Võ Thị Thanh Lộc, 2003, Trích dẫn bởi Võ Văn Bé, 2007) Năm 2004, thiệt hại của các hộ nuôi tốm sú vùng Nam sông Hậu chiếm tỉ lệ bình quân 28% (
(1993-Nguyễn Văn Trọng và ctv., 2004)
b Việt Nam
Trong những năm qua sản xuất thủy sản đạt được những thành tựu đáng
kể, tăng mạnh cả về sản lượng và giá trị Năm 2011, tổng sản lượng thủy sản đạt trên 5,2 triệu tấn (tăng gấp 2,1 lần so với năm 2001, bình quân tăng 8,82%/năm) Sản lượng NTTS đạt 3 triệu tấn (tăng gấp 4 lần so với năm 2001, bình quân tăng 17,37%/năm) Hàng thủy sản VN đã có mặt ở trên 164 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế gới, kim ngạch xuất khẩu năm 2011 đạt 6,11 tỷ USD (tăng gấp 2,4 lần so với năm 2001, bình quân tăng 13,16%/năm) Có thể nói giai đoạn 2001-2011 ngành thủy sản VN đạt tốc độ tăng trưởng cao trên tất cả các lĩnh vực KTTS, NTTS, CBTS, xuất khẩu thủy sản
Theo thống kê của Tổng cục Thủy sản-Viện Kinh Tế Quy Hoạch Thủy Sản (2012) thì năm 2010, cả nước có trên 1 triệu ha mặt nước NTTS, tăng 45% so với năm 2001, bình quân giai đoạn 2001-2010 tăng 4,2%/năm Trong đó, vùng ĐBSCL chiếm 70,19% so với cả nước Về sản lượng NTTS, tính đến năm 2010
cả nước đạt 2,74 triệu tấn thủy sản các loại, tăng 286,3% so với năm 2001 Trong
đó, vùng ĐBSCL chiếm 70,94% tổng sản lượng NTTS toàn quốc
Về tốc độ tăng trưởng sản lượng thủy sản: toàn quốc tăng bình quân 16,2%/năm (2001-2010); trong đó vùng ĐBSCL có mức tăng trưởng về sản lượng cao nhất đạt 17,8%/năm; các vùng còn lại dao động ở mức 9,8-15,9%/năm
Trang 14Nhìn chung diện tích và sản lượng NTTS của Việt Nam tăng dần qua các năm Tuy nhiên, Về tốc độ tăng diện tích của ĐBSCL còn chậm so với tốc độ tăng bình quân của cả nước Ngược lại, thì vùng ĐBSCL có mức tăng trưởng về sản lượng cao nhất đạt 17,8%/năm và nhanh hơn so với bình quân của cả nước
Có được kết quả đó là do sự du nhập của công nghệ, quy trình nuôi và kỹ thuật nuôi ngày càng được cải tiến
Bảng 2.1 Diện tích và sản lượng NTTS toàn quốc giai đoạn 2001-2010
(Nguồn: Báo cáo Tổng cục Thủy Sản, Viện Kinh Tế Quy Hoạch Thủy Sản, 2012)
Năm 2010 cả nước có tổng diện tích mặt nước NTTS lợ, mặn khoảng 705,5 nghìn ha, tập trung chủ yếu ở vùng ĐBSCL chiếm 80,09% Trong đó nuôi tôm sú chiếm 87,78% tỷ trọng diện tích Hiện nay cả nước đạt sản lượng NTTS vùng nước lợ mặn khoảng 691,5 nghìn tấn, vùng ĐBSCL chiếm 61,11% so với cả nước; tỷ trọng sản lượng nuôi tôm sú chiếm 48,99% Tuy vùng ĐBSCL có lợi thế
về diện tích nuôi nhưng năng suất lại đạt rất thấp, bình quân chỉ đạt 0,7 tấn/ha
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng tôm sú năm 2010
Năm 2010 Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Năng suất (tấn/ha)
ĐBSCL 579.285 308.821 0,5
Cả nước 622.118 339.473 0,5
(Nguồn: Báo cáo Tổng cục Thủy Sản, Viện Kinh Tế Quy Hoạch Thủy Sản, 2012)
Trang 152.1.2 Sơ lƣợc sự hình thành và phát triển của mô hình nuôi tôm lúa ở ĐBSCL
Một số tỉnh ven biển ĐBSCL có diện tích đất nông nghiệp bị nhiễm mặn vào mùa khô do nước biển xâm nhập và có nước ngọt vào mùa mưa Theo ước tính thì diện tích đất nhiễm mặn lên đến 600.000 ha Với đặc điểm như thế người dân đã áp dụng mô hình trồng lúa vào mùa mưa và nuôi tôm vào mùa khô trong hơn 30-40 năm qua Thời gian đầu thì mô hình này được vận hành theo phương thức thu tôm giống tự nhiên và thu hoạch hàng tháng Đến giữa những năm 1990 thì mô hình này được cải tiến thành mô hình nuôi quảng canh cải tiến (mật độ thả giống dưới 7 con tôm bột/m2) và nó ngày càng được phát triển mạnh mẽ (Trần
Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009)
Ưu điểm của mô hình phù hợp với vùng nhiểm mặn theo mùa; phù hợp với trình độ và quy mô của người sản xuất quy mô nhỏ; góp phần nâng cao thu nhập cho người dân Chính vì những ưu điểm đó mà vào tháng 6/2000 Chính phủ ra quyết định cho phép chuyển dịch cơ cấu sản xuất thì mô hình này ngày càng được phát triển
Trong năm 2009, ĐBSCL có diện tích nuôi sú khoảng 120.000 ha tập trung chủ yếu ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh,… đặc biệt là tỉnh Kiên Giang có diện tích nuôi nhiều nhất với khoảng 60.000 ha (Nguyễn Tuấn, 2010)
2.1.3 Khía cạch về kỹ thuật và kinh tế của mô hình tôm lúa luân canh
Về khía cạnh nuôi tôm
Mô hình nuôi tôm luân canh với trồng lúa là mô hình đang được nuôi phổ
biến ở ĐBSCL Nó phù hợp với khả năng đầu tư và trình độ kỹ thuật hiện có của người dân Đối với mô hình này thích hợp với vùng gần biển bị nhiểm mặn vào mùa khô với độ mặn có thể đến 15‰ vào cuối mùa khô; thời gian nhiễm mặn 5-6 tháng (tháng 12 năm trước đến tháng 6 năm sau); đất không bị nhiễm phèn (pH đất ≥5) Có kênh thủy lợi cấp nước mặn, ruộng nuôi cần có mương bao quanh và chiếm 25-30% tổng diện tích, diện tích mương càng lớn thì năng suất tôm càng cao Tuy nhiên, diện tích ruộng không nên >2 ha để thuận tiện cho công tác quảng
lý Mật độ tôm thả tùy vào mức độ cho ăn và điều kiện ao nuôi; mật độ nuôi khá khác nhau nhưng không >7 tôm bột/m2 hay 4 tôm giống /m2 (tính theo diện tích ruộng), tôm giống kích cỡ thường 2-3 cm Năng suất từ 0,25-0,5 tấn/ha Mùa vụ
Trang 16thả nuôi từ tháng 2-3 dương lịch (DL); nuôi 3-4 tháng/vụ ( Nguyễn Thanh
Phương và ctv, 2012)
Về khía cạnh trồng lúa
Thời gian thường được gieo mạ vào khoảng tháng 8 và thu hoạch vào
tháng 12 DL Các giống lúa sử dụng trên ruộng nuôi tôm phải có khả năng chống
chịu mặn Trước đây người dân chỉ canh tác theo kinh nghiệm với các giống lúa địa phương Tại Tiền Giang thường sử dụng giống lúa mùa Hai Bông, thời gian canh tác dài khoảng 6 tháng, năng suất đạt thấp Xuất phát từ tình hình trên, Phòng NN&PTNT huyện Tân Phú Đông-Tiền Giang đã thử nghiệm một số giống lúa chất lượng cao tại địa bàn xã Phú Tân Kết quả cho thấy hai giống lúa (OM4900 và OM6796) đạt năng suất mỗi vụ khoảng 6-7 tấn/ha, góp phần mang lại thu nhập cao hơn cho người sản xuất theo mô hình tôm-lúa
Tại hội nghị bàn về việc phát triển mô hình tôm - lúa ở ĐBSCL mới đây, ông Bùi Bá Bổng, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT khẳng định, canh tác tôm-lúa là mô hình “nông nghiệp thông minh”, do đó cần được tiếp tục nghiên cứu để phát triển (http://www.agroviet.gov.vn, Bộ NN&PTNT, 2013)
Lợi nhuận từ mô hình nuôi tôm lúa
Tại Tiền Giang, diện tích phát triển mô hình lúa tôm tập trung ở dự án nuôi
ở huyện Tân Phú Đông Năm 2006, mô hình nuôi tôm- lúa được xây dựng với trên diện tích 8 ha với sản lượng tôm trung bình khoảng 300-500kg/ha Hiện nay, diện tích nuôi kết hợp tôm-lúa phát triển lên khoảng hơn 40ha Do tận dụng được diện tích mặt nước và gốc gạ của vụ lúa nên nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm vô cùng phong phú, chi phí thức ăn cho tôm trong vụ nuôi từ đó cũng giảm đáng kể, sản lượng tôm cũng được nâng lên 700-1000kg/ha Trung bình mỗi ha sản xuất theo mô hình kết hợp lúa tôm, người dân nơi đây thu được lợi nhuận trung bình từ 20-25 triệu đồng (http://www.tiengiang.gov.vn)
2.2 Các yếu tố thủy lý hóa của môi trường nước cần thiết đối với NTTS
2.2.1 Nhiệt độ
Sự thay đổi nhiệt độ thông thường không có lợi cho cân bằng tự nhiên của
hệ sinh thái nước bao gồm cả thủy sinh vật Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng cho quá trình sinh trưởng, phát triển và sinh sản của sinh vật nói chung và các đối tượng thủy sản nói riêng Ngoài ra, nhiệt độ còn chi phối các quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ trong môi trường nước từ đó sẽ ảnh hưởng gián tiếp đến đời
Trang 17sống của các loài thủy sinh vật Mỗi loài có khoảng nhiệt độ thích ứng riêng Trong nuôi tôm nếu nhiệt độ cao hơn 32-33o
C hay thấp hơn 25o
C thì khả năng bắt
mồi sẽ giảm 30-50% (Chanratcharool et al., 1999)
Nhiệt độ thay đổi theo vị trí của thủy vực, theo mùa, theo thời tiết và theo ngày đêm Và biên độ dao động nhiệt độ theo ngày đêm lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tính chất của thủy vực: thủy vực nhỏ và nông thì sự biến động lớn hơn thủy vực lớn và sâu Thông thường sự thay đổi nhiệt độ đột ngột khoảng 3 hay 4oC thì sẽ gây sốc hay chết sinh vật Và sự thích hợp cho sự tăng trưởng của cá, tôm vùng nhiệt đới là 25-32o
C (Boyd, 1998)
2.2.2 pH
pH có ý nghĩa rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên sinh trưởng, tỉ
lệ sống, sinh sản và dinh dưỡng của thủy sinh vật pH quá cao hay quá thấp đều không có lợi cho thủy sinh vật trong nước, pH nằm trong khoảng 6,5-9 là thích hợp Trong ao nuôi thủy sản pH giảm mạnh nhỏ hơn 4,5 sẽ gây chết cá và nếu pH lớn hơn 9 thì cần có biện pháp giảm pH pH cho tôm nằm trong khoảng 7,5-8,5
(Chanratchakool et al., 1999)
Theo Lê Văn Cát và ctv, (2006) pH của nước mặt thường nằm trong khoảng 5-9, nước có pH >9 thường là nước ao nằm trong các vùng khô chứa nhiều natricarbonat, còn nước có pH <4 do có tính axit cao thường nằm ở những vùng nước phèn chua Vì thế, trong NTTS pH phù hợp là rất cần thiết, điểm gây chết là: pH< 4 và pH >11
Phạm vi pH thích ứng của tôm là 7,5-9 Khi môi trường sống của tôm có
pH = 5 tôm chết sau 45 giờ, pH = 5,5 tôm chết sau 24 giờ Nếu pH xuống thấp thì tôm mất khả năng vùi mình xuống bùn, dạt vào bờ, tôm yếu ớt, màu sắc thay đổi đột ngột (tôm nhợt nhạt), đôi khi tôm nhảy cả lên bờ pH trong bể ương ấu trùng luôn nằm trong khoảng 7,5-8,5
2.2.3 Độ mặn
Ở vùng cửa sông có nồng độ muối tương tự như nước ngọt trong mùa mưa
và nồng độ muối cao hơn trong mùa khô Nồng độ muối có thể phân tầng ở đáy sâu của của sông Những loài thủy sản của nước lợ có thể chịu đựng sự biến động lớn của nồng độ muối (Boyd, 1998) Một số loài cá nước ngọt có thể sống trong nước lợ, mặn nhưng sinh trưởng và phát triển kém khi độ mặn vượt quá 20‰ (Lê
Văn Cát và ctv., 2006)
Trang 18Tôm sú thích ứng rộng với độ mặn từ 0,2-40‰, thích hợp là 15-32‰; nồng độ muối thích ứng nhất cho các mô hình nuôi bán thâm canh là ở 10-15‰ Đối với ấu trùng ương nuôi trong bể thích hợp nhất từ 28-30‰
2.2.4 Oxy hòa tan (DO)
Oxy có vai trò rất quang trọng trong việc duy trì sự sống của tôm, cá và sinh vật hiếu khí trong môi trường nước Trong cơ thể tôm, cá thì oxy có các vai
trò quang trọng như: (i) làm nguyên liệu cho quá trình oxy hóa tạo năng lượng để cung cấp cho hoạt động của các cơ quan trong cơ thể; (ii) tham gia vào các phản ứng biến dưỡng và nhiều các phản ứng sinh học khác; (iii) là thành phần của các
nhóm phân tử cấu trúc chính trong các cơ tôm, cá như các chất đạm (protein),
chất bột đường (carbohydrate), mỡ (lipid), và (iv) có trong các hợp chất vô cơ
quan trọng cấu tạo nên răng và xương ( Vai trò oxy trong ao nuôi thủy sản, PGs
Ts Đỗ Thị Thanh Hương) Tôm rất nhạy cảm với hàm lượng oxy hòa tan trong nước, phạm vi giới hạn từ 3-11 mg/L
Khi hàm lượng oxy <0.5 mg/L sẽ làm thủy sinh vật chết ngạt Theo Boyd, (1998) Hàm lượng oxy trong nước quá cao hay quá thấp điều không có lợi cho thủy sinh vật Do đó, oxy là một chỉ số quan trọng để dánh giá sự ô nhiễm nước của thủy vực Theo Swingle, (1996) hàm lượng oxy hòa tan lý tưởng >5 mg/L (Trương Quốc Phú, 2006) Lượng oxy thích hợp cho nuôi thủy sản là 5-15 ppm (Boyd, 1998)
2.3 Tổng quang về động vật không xương sống
Giữa môi trường và cơ thể sống có mối tương tác chặt chẽ với nhau, môi trường nước tác động đến thủy sinh vật và ngược lại cơ thể sống có những đặc tính một cách ngẫu nhiên để phù hợp với điều kiện sống hoặc những biến đổi với
điều kiện môi trường (Đặng Ngọc Thanh và ctv., 2002) Khi điều kiện môi trường
nước thay đổi sẽ ảnh hưởng đến sự phân bố của thủy sinh vật và nhất là nhóm động vật không xương sống (ĐVKXS) vì chúng có cuộc sống gắng liền với nền đáy Hơn nữa ĐVKXS là nhóm sinh vật có sự biến động chậm về thành phần loài
và thường chịu tác động lớn của sự thay đổi cấu trúc nền đáy của thủy vực (Reice
và Wohlenberg, 1993; Đặng Ngọc Thanh và ctv.,2002; Dương Trí Dũng và ctv.,
2007) Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng môi trường nước, kiểu ô nhiễm hay mức độ ô nhiễm của môi trường nước sẽ tác động đến thủy sinh vật (Reice và
Wohlenberg,1993; Đặng Ngọc Thanh và ctv., 2002) và làm giảm sự đa dạng
thành phần loài, mật độ, sinh khối; thay đổi cấu trúc thủy sinh vật; bùng nổ mật
Trang 19độ sinh khối sinh vật nổi; biến dạng cấu trúc cơ thể và sự tích lũy các chất gây
độc trong cơ thể (Đặng Ngọc Thanh và ctv., 2002)
2.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố của động vật không xương sống
Tốc độ dòng chảy và cấu trúc nền đáy có tác động đến sự phân bố cũng
như cấu trúc thành phần loài của ĐVKXS (Đặng Ngọc Thanh và ctv., 2002; Ysebaert và ctv., 2003) Các thủy vực nước đứng, nông, nền đáy mềm bùn, bùn-
cát thuận lợi cho sinh vật đáy phát triển Vùng hạ lưu cửa sông có nước chảy chậm, nền đáy mềm bùn-cát, cát-bùn là môi trường thích hợp cho nhóm hai mảnh
vỏ phát triển (Đặng Ngọc Thanh và ctv., 2002) Ngoài ra, mật độ, sinh khối và sự
phong phú của ĐVKXS ở nền đáy bùn-cát cao hơn nền đáy chủ yếu là cát
(Bachelet và ctv., 1996) Một số kết quả nghiên cứu của Hoey và ctv (2004) cho thấy có 4 nhóm đại diện cho kiểu cho kiểu nền đáy khác nhau (i) đối với nền đáy bùn-cát thì nhóm Abra alba-Mysella bidentata với mật độ và sự đa dạng cao, (ii) Nephtys cirrosa xuất hiện trong nền đáy cát mịn nhưng với mật độ thấp, (iii) nền đáy cát thô thì quần đàn Ophelia limacine-Glycera lapidum rất thấp và (vi) nhóm Eurydice pulchra-Scoleleis squamata đặc trưng cho nền đáy cát Tương tự, khảo
sát của Kanaya và Kikuchi (2008) trong đầm nước lợ Idoura (Nhật Bản) cho thấy
với nền đáy mềm thì nhóm giun nhiều tơ Heteromastus sp., Hediste spp., Prionospio japonica và nhóm giáp xác chân đều Cyathura muromiensis chiếm ưu thế trong quần đàn Ngoài ra, nhóm giun nhiều tơ Notomastus sp và hai mảnh vỏ Macoma contabulata ưa thích môi trường có nền đáy ít bùn, ngược lại nhóm hai mảnh vỏ Nuttalli olivacea thì ưa thích nền đáy cát Đối với nơi có nền đáy có cấu
trúc là cát, cát-bùn và bùn chủ yếu thì nhóm thân mền chiếm đa số (Smiljkov và
có số lượng thấp hơn ( Ishii và ctv., 2008) Tương tự, kết quả khảo sát ở cửa sông Natori (Nhật Bản) với cấu trúc nền đáy bùn-sét thì hai loài Heteromastus sp (giun nhiều tơ) và Nuttallia olivacea (hai mảnh vỏ) xuất hiện nhiều nhất (Tomiyama và ctv., 2008) Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của Silva và ctv (2006)
cho thấy nhóm giun đốt rất phong phú và chiếm hơn 85% trong quần đàn khi nền
Trang 20đáy có cấu trúc chủ yếu là bùn, điều này một lần nữa khẳng định rằng cấu trúc nền đáy làm thay đổi quần thể và sự phong phú của loài
Sự phân bố và sự đa dạng của sinh vật đáy cũng phụ thuộc vào độ sâu của
vực (Đặng Ngọc Thanh và ctv., 2002; Ysebaert và ctv., 2003; Mutlu và ctv.,
2009) Theo chiều thẳng đứng, thủy vực nước tĩnh như hồ tự nhiên thì vùng ven
bờ có nền đáy mềm bùn-cát, nhóm thân mềm và tôm cua phát triển hơn vùng đáy
sâu (Đặng Ngọc Thanh và ctv., 2002) Kết quả nghiên cứu của Cui (2008) ở hồ
Fuxain (Trung Quốc) cho thấy vùng ven bờ hồ có quần đàn cao với mật độ và sinh khối lần lượt là 824 con/m2
và 3,72g/m2 , ngược lại, vùng sâu hơn có mật độ
và sinh khối thấp hơn với 23 con/m2
và 0,10 g/m2 Tương tự, kết quả khảo sát ở
Hồ Thác Bà cũng cho thấy mật độ và sinh khối ĐVKXS ở khu vực nước nông
cao hơn ở khu vực sâu hơn (Đặng Ngọc Thanh và ctv., 2002), sinh khối và sự
phong phú của ĐVKXS trong hồ Verevi (Estonia) ở độ sâu cao thì có giá trị thấp hơn vùng đáy nông (Timm và Mols, 2005)
Các yếu tố như thời tiết, điều kiện thủy lý hóa của môi trường nước và mùa vụ cũng tác động đến sinh vật đáy Một số kết quả khảo sát của các tác giả
như Mendes và ctv (2006) ở vịnh Guanabana (Brazil) cho thấy vào mùa mưa, các
nhóm sinh vật đáy trong đó có thân mềm có mật độ thấp nhất Theo tác giả, có thể
do trong thời điểm này nền đáy bị thiếu oxy đã làm thay đổi sự phân bố của
chúng Theo kết quả nghiên cứu của Pamplin và ctv (2006) ở hồ Americana
(Brazil) cũng cho thấy vào mùa khô mật độ của tất cả các nhóm ĐVKXS đạt giá trị cao nhất Bên cạnh đó, theo kết quả khảo sát của Rosa và Bemvenuti (2006) ở vịnh Patos (Brazil) thì vào mùa hè các nhóm ĐVKXS xuất hiện với mật độ cao (62.205 con/m2), trong khi vào những tháng của mùa đông, trung bình mật độ chỉ còn 9.410 con/m2 Điều này được tác giả giải thích rằng là có thể do liên quan đến quá trình sinh sản và có sự tương quan khi nhiệt độ tăng cao vào cuối màu xuân Ngoài ra, đặc tính nền đáy thay đổi do điều kiện thời tiết cũng có thể làm tăng tỉ
lệ chết của ĐVKXS Cũng theo kết quả nghiên cứu ở Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch giữa mùa mưa và mùa khô của Đặng Ngọc Thanh và ctv (2002) cho thấy mật độ
và sinh khối ĐVKXS vào mùa khô luôn cao hơn mùa mưa Ví dụ ở Hồ Tây, vào mùa khô có 16 loài với mật độ là 526 ct/m2 và sinh lượng là 83,85 g/m2, trong khi
đó vào mùa mưa chỉ có 11 loài với mật độ 482 ct/m2; tương tự ở Hồ Trúc Bạch vào mùa khô có 2 loài với 3 ct/m2 và 0,01g/m2 nhưng không phát hiện được loài nào vào mùa mưa Bên cạnh đó, Como và Magni (2009) khảo sát ở đầm lầy Cabras (Italy) cũng cho biết vùng đàn ĐVKXS bị kiệt quệ vào mùa hè và được
Trang 21phục hồi vào mùa đông-xuân Cụ thể, nhóm Nereidae (Neanthes succinea, Hediste diversicolor) thay thế Spionidae (Polydora ciliata) và là nhóm chiếm ưu thế trong các tháng của mùa hè Các nhóm Tubificidae (Capitella capitata), ấu trùng muỗi lắc và Hyrobia spp Không thấy xuất hiện vào mùa đông-xuân
Sự thay đổi độ mặn cũng có tác động đến quần xã ĐVKXS, ở các vùng như cửa sông, đầm nuôi thủy sản và đầm phá thì sự thay thế giữa các quần xã nước ngọt và nước lợ, mặn Quần xã thủy sinh vật nước lợ, mặn thường phong phú hơn về thành phần loài và cao hơn về sinh khối so với quần xã nước ngọt
(Đặng Ngọc Thanh và ctv., 2002) Theo khảo sát của Passadore và ctv (2007) thì
số loài của các nhóm ĐVKXS ở cửa sông Pando (Uruguay) đạt cao nhất vào mùa thu, thời điểm có độ mặn tăng cao, đến mùa đông và mùa xuân số lượng loài giảm xuống và khi đó độ mặn thấp nhất Ngoài ra, sự xuất hiện các loài cũng liên quan đến khả năng ưa chịu độ mặn khác nhau của chúng như loài giun nhiều tơ
Notomastus sp Và hai mảnh vỏ Macoma contabulata thích môi trường có độ
mặn thấp (Kanaya và Kikuchi, 2008) Kết quả nghiên cứu ở đầm Curonian của Bubinas và Vaitonis (2005), tác giả cho biết các nhóm ưa nước mặn như giun
nhiều tơ Nereis diversicolor, giáp xác Balanus improvisus, Corophium volutator
và thân mềm Dreissena polymorpha, rất nhạy cảm với nước ngọt Như vậy, sự
thay đổi độ mặn có những tác động đáng kể đến cấu trúc thành phần loài, kể cả
đối với loài di nhập (Piscart và ctv., 2005)
Sự hiện diện của cây cỏ thủy sinh, thực vật lớn và nhóm ăn ĐVKXS cũng
có tác động đến sự phân bố, đa dạng sinh học, sinh khối và cấu trúc quần đàn của
ĐVKXS (Gong và ctv., 2000; Solimini và ctv., 2003; Arocena, 2007) Nghiên cứu của Solimini và ctv (2003) cho thấy sinh lượng nhóm ĐVKXS có sự thay đổi
theo thời gian và có sự khác nhau giữa các điểm trong hồ, sự phát triển của cây cỏ thủy sinh không những làm tăng sự đa dạng mà còn tăng về sinh lượng ĐVKXS Trong khi đó, theo kết quả khảo sát về cấu trúc quần đàn nhóm ĐVKXS ở đầm
Aby (Bờ Biển Ngà) của Kouadio và ctv (2008) thì chỉ số phong phú và đa dạng
khác nhau đáng kể giữa các điểm thu mẫu và khi điểm thu mẫu tiến dần về ven biển nơi có rừng ngập mặn thì 2 chỉ số này cao hơn những điểm thu mẫu còn lại Một số dẫn liệu nghiên cứu ĐVKXS ở Hồ Ba Bể trong các năm 1975-1995 của
Đặng Ngọc Thanh và ctv (2002), cho thấy mật độ trung bình của ĐVKXS là 114
ct/m2 với sinh khối 0,186 g/m2, trong đó chủ yếu là ấu trùng côn trùng và giun ít
tơ Tuy nhiên, ở hạ lưu của hồ nơi có nền đáy với sự phát triển mạnh mẽ của rong thì sinh khối lại tăng đáng kể Arocena (2007) khảo sát ở đầm ven biển Nam Đại
Trang 22Tây Dương với sự hiện diện của thực vật thủy sinh (500g chất khô/m2
) cũng cho thấy nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh thì mật độ ĐVKXS cao (5.000 con/m2
), ngược lại nơi không có cây cỏ thủy sinh, mật độ ĐVKXS chỉ có 2.200 con/m2
Sự phong phú về loài của nhóm giáp xác bơi nghiêng, chân bụng và ấu trùng muỗi cao hơn
nơi không có cay cỏ thủy sinh Sự phong phú của Tanais stanfordi (giáp xác), Erodona mactroides ( hai mảnh vỏ) và Laeonereis culveri (giun nhiều tơ) và chỉ
số đa dạng Shannon cũng cao hơn Tương tự, Smiljkov và ctv (2005) cũng ghi
nhận rằng những điểm thu mẫu có nhiều thực vật thủy sinh thì sự đa dạng sinh học của nhóm sinh vật đáy cũng cao hơn Từ kết quả trên, tác giả cho rằng sự hiện diện của cây cỏ thủy sinh là một trong những yếu tố quan trọng giúp tăng đa dạng sinh học của ĐVKXS bởi vì nơi đó có nhiều thức ăn và hạn chế nhóm cá ăn ĐVKXS
2.3.2 Động vật không xương sống và vấn đề ô nhiễm
Trong các thủy vực bị ô nhiễm hữu cơ hoặc tiếp nhận nước thải trực tiếp thì hầu hết các nhóm thủy sinh vật điều không phát triển hoặc có số lượng rất thấp Chất lượng môi trường, kiểu ô nhiểm hay mức độ ô nhiễm tác động đến cấu trúc, tỉ lệ giữa các nhóm thủy sinh vật cả về định tính lẫn định lượng Trong môi trường trầm tích đáy giàu dinh dưỡng hữu cơ thì các loài giun ít tơ và một số loài
ấu trùng muỗi lắc quyết định (Đặng Ngọc Thanh và ctv., 2002)
Chất thải công nghiệp có ảnh hưởng trong thời gian lâu dài đến cấu trúc
quần thể ĐVKXS Daan và ctv (1994) nghiên cứu ảnh huongr của bùn thải từ hệ
thống khoan mỏ dầu lên nhóm ĐVKXS ở vùng Biển Bắc (Hà Lan) cho thấy mật
độ và số lượng loài ĐVKXS tăng dần khi khoảng cách càng xa hệ thống nguồn
thải, chỉ có một loài giun nhiều tơ (Capitella capitata) luôn xất hiện với số lượng nhiều gần hệ thống Nghiên cứu phản ứng của loài giun nhiều tơ Neries diversicolor với chất thải ở vùng cửa sông Oued (Morocco), Alla và ctv (2006)
cho biết kết quả khác nhau có sự đáng kể về quần thể giun này trước và sau khi kết thúc việc thải chất thải Trong suốt quá trình thải, mật độ ghi nhận được là
1992 con/m2 và sinh khối trung bình là 75,52 g/m2 Sau khi kết thúc đợt thải, mật
độ và sinh khối trung bình giảm xuống lần lược còn lại là 740 con/m2
và 14,16 g/m2 Trong khi đó, nghiên cứu tại cảng Visakhapatnam (Vịnh Bengal, Ấn Độ) của Raman và Ganapati (1983) cho thấy hiện tượng ô nhiễm cũng có tác động lên
nhóm giun nhiều tơ Loài Capitella capitata và Nereis glandicincta luôn xuất hiện và chiếm ưu thế trong khu vực nội cảng, loài Cossura coast, Tharyx mariony thương xuất hiện vùng xung quanh cảng và Chloeia-Axiothella-chaetozone-
Trang 23Nephtys chỉ xuất hiện ở ngoài của biển cách xa cảng Ahn và ctv (1995) cũng báo
cáo rằng thành phần loài và mật độ ĐVKXS giảm xuống đáng kể so với dữ liệu trước khi có khu công nghiệp, khu vực gần hệ thống xử lý nước thải của khu công
nghiệp chỉ hiện diện nhóm giun nhiều tơ Heteromastus filiformis Nghiên cứu
mối liên hệ giữa nhóm giun nhiều tơ với đáy trần tích ở Rayong (Thái Lan), Meksumpun và Meksumpun (1999) ghi nhận có 2 loài giun nhiều tơ như
Notomastus sp (Capitellidae) và Perinereis sp (Nereidae) luôn chiếm ưu thế, đồng thời sự phong phú của loài Notomastus sp có tương quan thuận với đáy có
hàm lượng chất hữu cơ cao, theo tác giả đây có thể là loài tiềm năng được sử dụng để quản lý chất thải thông qua con đường sinh học
Hoạt động thủy sản gây ô nhiễm cũng làm thay đổi đáng kể thành phần và
sự phong phú quần thể ĐVKXS (Tsutsumi và ctv., 1991) Kết quả khảo sát của
Klaoudatos và ctv (2006) cho thấy nhóm giun nhiều tơ Nereis diversicolor, Scolelepis fuliginosa và Capitella capitata luôn chiếm ưu thế trong vực nuôi thủy
sản thâm canh với 35% về sự phong phú, trong khi ở khu vực đối chứng loài
Hyalinoecia brementi và Aspidosiphon muelleri chiếm ưu thế với 23% Sự phong
phú về loài, tính đa dạng và sự đồng đều tại những điểm đối chứng luôn cao hơn khu vực bề nuôi, điều này cho thấy hoạt động nuôi thủy sản thâm canh có sự tác
động lên sự thay đổi của quần thể ĐVKXS Hisashi và ctv (2002) đã khảo sát tại
khu vực trang trại nuôi ca ở vùng ven biển Kumano-nada (Nhật Bản) kết quả cho thấy các thông số môi trường có kết quả cao nhất vào các tháng mùa hè như tổng hàm lượng cacbon hữu cơ (TOC) là 9 mg/L, hàm lượng TN 1,2 mg/L, TP 2,0 mg/L, và COD 23 mg/L Tuy nhiên, sinh vật đáy rất thưa thớt do hàm lượng H2S trong nền đáy rất cao (>1,7 mg/L) Tương tự, kết quả nghiên cứu sự tác động của
hoạt động nuôi cá hồi đến môi trường của Johannessen và ctv (2008) cho thấy
trước khi nuôi cá thành phần loài sinh vật đáy điều rất phong phú ở tất cả các điểm thu mẫu, trong quá trình nuôi số lượng loài giảm xuống từ 65 xuống còn 11
và một năm sau khi dời khu nuôi đến nơi khác số lượng tăng lên thành 29 Sau khi phân tích so sánh giữa các điểm thu mẫu, tác giả cho biết phạm vi bị ảnh hưởng đến nhóm sinh vật đáy cách xa khu vực nuôi khoảng 250 m Mặc dù điều kiện môi trường được cải thiện sau 2 năm, nhưng nhóm sinh vật đáy chưa thể phục hồi như thời gian trước khi có trang trại nuôi cá
Trang 242.3.3 Chỉ thi sinh vật và vấn đề quang trắc sinh học
Theo Lê Trình (1997) sự phát triển về chủng loại và số lượng cá thể động vật trong nước phụ thuộc rõ rệt vào chất lượng nước và mức độ ô nhiễm nước Do vậy nhiều loài thủy sinh vật chỉ thị cho đặc điểm chất lượng nước Ví dụ như nguồn nước ô nhiễm chất hữu cơ dẫn đến suy giảm nồng độ oxy hòa tan sẽ được chỉ thị bằng sự suy giảm trước hết các loài động vật sống ở tần nước trên, sau đó đến nhóm động vật sống ở tần đáy Cho đến nay, có hàng chục các phương pháp
và chỉ số sinh học để đánh giá chất lượng môi trường nước Tuy nhiên, tùy theo
mục tiêu mà lựa chọn chỉ số sinh học phù hợp (Đặng Ngọc Thanh và ctv., 2002)
Vấn đề quan trắc sinh học có lịch sử hình thành khá lâu, nó đã được sử dụng ở Đức vào những năm đầu của thế kỷ 20, sau đó được ứng dụng rộng rãi ở các nước phát triển như Úc, Nhật Bản và các quốc gia khu vực Bắc Mỹ (Rosenberg và Resh, 1993) Hiện nay, quan trắc sinh học đã được ứng dụng rộng rãi ở các nước phát triển và các nước đang phát triển cũng sử dụng phương pháp này để đánh giá chất lượng môi trường do chi phí thấp và phù hợp với khả năng của mỗi quốc gia (Resh, 2007)
Trước đây, ở Đức viện giám sát chất lượng nước ngọt chủ yếu tập trung vào nhóm vi khuẩn bởi vì người ta quan ngại đến sức khỏe cộng đồng Tuy nhiên, sau đó các nhóm thủy sinh vật nói chung đã được sử dụng trong chương trình quan trắc môi trường Hiện nay, có 3 nhóm sinh vật được quan tâm nhiều nhất là
nhóm ĐVKXS, tảo và cá (De Pauw và ctv., 2006) Resh (2007) cho biết trong 50
nghiên cứu về quan trắc sinh học đối với các nước đang phát triển thì có 34 trường hợp sử dụng ĐVKXS, 9 trường hợp sử dụng tổ hợp cá, 3 trường hợp đối với tảo và thực vật thủy sinh có 2 trường hợp Hiện nay, bên cạnh việc sử dụng chương trình quan trắc sinh học, các thông số về thủy lý hóa cũng là nguồn thông tin rất quan trọng hỗ trợ để phát hiện nguyên nhân gây ra sự thay đổi đối với thủy sinh vật Với lý do đó, một số yếu tố thủy lý hóa cần được đo đạt đồng thời với việc thu mẫu trong chương trình quan trắc sinh học (MRC, 2008)
Khái niệm về loài chỉ thị cũng được phát triển ở Mỹ thông qua nghiên cứu của Forbes trên sông Illinois bắt đầu vào những năm 1870 bằng việc dực vào chỉ thị của quần thể ĐVKXS Tuy nhiên, kỷ nguyên thâm dò, giám sát về sinh vật chỉ thị thuộc về Ruth Patrick và cộng sự được thực hiện rộng rãi trong các dòng sông phía Đông nước Mỹ vào năm 1948 (Rosenberg và Resh, 1993) Theo Đặng Ngọc
Thanh và ctv (2002) cho đến nay, có hàng chục các phương pháp và chỉ số sinh
học để đánh giá chất lượng môi trường nước Tuy nhiên, tùy theo mục tiêu và lựa
Trang 25chọn chỉ số sinh học phù hợp Các phương pháp sử dụng yếu tố sinh học chỉ thị
môi trường thường thông qua một số chỉ số sinh học bao gồm (i) cấu trúc quần xã
và mật độ/số lượng; (ii) chỉ số ưu thế; (iii) chỉ số đa dạng (Bảng 2.4) và (iv) chỉ số
sinh học tổ hợp
Bảng 2.3 Xếp hạng chất lượng nước theo chỉ số đa dạng
Chỉ số đa dạng Chất lượng nước
<1 Rất ô nhiễm 1-2 Ô nhiễm
>2-3 Hơi ô nhiễm
>3-4,5 Sạch
>4,5 Rất sạch
(Nguồn: Stau và ctv., 1972; trích dẫn bởi Đặng Ngọc Thanh và ctv., 2002)
Nhóm ĐVKXS cỡ lớn từ lâu đã được nghiên cứu sử dụng trong quan trắc sinh học để giám sát môi trường nước bởi đây là một nhóm đa dạng có chu kỳ sống khá lâu Các loài ĐVKXS sống tĩnh, lại phản ứng mạnh và thường có thể dự báo các ảnh hưởng đến môi trường Nhóm ĐVKXS cỡ lớn ở sông, suối và hồ đã sớm được sử dụng trong sinh vật giám sát ô nhiễm hữu cơ (Đặng Ngọc Thanh và
ctv., 2002) Nhóm ĐVKXS ở đáy thủy vực như ốc, hến, nghêu, sò, đươc sử dụng làm chỉ thị sinh vật trong quan trắc môi trường nước vì (i) tương đối phổ
biến trong sông, hồ và đa dạng về loài Sự phát triển của chúng đặc trưng cho
điều kiện thủy văn, cầu trúc nền đáy và chất lượng nước; (ii) tương đối cố định ở
đáy sông, hồ và chịu ảnh hưởng liên tục của chất lượng nước và chế độ thủy văn
trong ngày; (iii) thời gian phát triển khá lâu (từ vài tuần đến vài tháng) và (iv) dễ
thu mẫu và phân loại (Lê Trình, 1997; MRC, 2006)
Trang 262.3.4 Sinh vật đáy
Sinh vật đáy là sinh vật sống đáy bao gồm thực vật đáy (Phytobenthos) và động vật đáy (Zoobenthos) Động vật đáy bao gồm các sinh vật sống trong hoặc trên nền đáy
a Các nhóm sinh vật đáy (ĐVĐ)
- Sinh vật đáy lớn (Macrobenthos): kích thước >1mm bao gồm giun nhiều
tơ, giun ít tơ, hai mảnh vỏ, ấu trùng muỗi lắc Chironomus
- Sinh vật đáy vừa (Mesobenthos hoặc Meiobenthos): kích thước 0,05-1
mm, bao gồm các nhóm copepoda sống đáy, giun tròn
- Sinh vật đáy nhỏ (Microbenthos): kích thước <0,05 mm, bao gồm một số protozoa và vi khuẩn
b Vai trò của động vật đáy
- Làm thức ăn cho các loài thủy sản ăn đáy (như các loài cá, giáp xác)
- Các nhóm ĐVĐ sống định cư hay cố định thường có tập tính ăn lọc, có khả lọc nước làm sạch môi trường nước, nhất là các nhóm hai mảnh vỏ, giun nhiều tơ,
- Rất nhiều nhóm ĐVKXS có kích thước lớn được sử dụng như là sinh vật chỉ trong các chương trình quan trắc sinh học Dựa vào sự xuất hiện hay mất đi của các nhóm này mà người ta có thể đánh giá được tình trạng chất lượng nước của môi trường đó (các mức độ ô nhiễm hoặc không ô nhiễm) Ví dụ như các loài thuộc nhóm giun ít tơ (Oligochaeta) thường chỉ thị cho môi trường ô nhiễm hữu
cơ nặng Ấu trùng muỗi lắc Chironomus sp thường xất hiện ưu thế trong môi
trường nhiểm bẩn nặng Trong khi đó ấu trùng bộ Ephemeroptera thường chỉ thị cho môi trường rất sạch (Thực vật và Động vật thủy sinh, PGs Ts Vũ Ngọc Út
và Ths.Dương Thị Hoàng Oanh, 2013)
2.4 Các nghiên cứu gần đây
Theo kết quả nghiên cứu của Hồ Thanh Hải, (1995) đã thống kê được 390 loài ĐVKXS nước ngọt ở phía Nam Việt Nam gồm: Protozoa 160 loài; Rotifera
37 loài; Polychaeta 25 loài; Cladocera 42 loài; Copepoda 33 loài; Isopoda 5 loài; Decapoda-Brachiura 14 loài; Mollusca-Gastropoda 5 loài; Mollusca-Bivalvia 35 loài; Ephemeroptera 34 loài
Trang 27Theo Đặng Ngọc Thanh và ctv (2002) đã tổng kết được:
+ Về giáp xác: có 170 loài trong đó Copepoda 62 loài, Cladocera 50 loài, tôm cua nước ngọt 57 loài Các dẫn liệu còn cho thấy đặc tính nhiệt đới của thành phần loài thể hiện ở sự kém phong phú về thành phần loài giáp xác Conchostraca, Isopoda, Amphipoda nước ngọt
+ Về thành phần loài trai, ốc: có 147 loài thuộc các giống phổ biến ở vùng
nhiệt đới như: Pila, Viviparidae, Uniondae, Thiaridae,
+ Giun nhiều tơ (Polychaeta): thích ứng với nước ngọt đã phát hiện 2 loài,
5 loài nước lợ, 1 loài di nhập vào theo nước thủy triều
+ Giun ít tơ (Olygochaeta): Họ Naididae phong phú nhất với 32 loài, họ
Aeolosomatidae và Tubificidae chưa xác định đầy đủ số loài Đặc trưng gồm các loài: (A Pluriseta, L Hoffmeisteri, B Sowerbyi) đây là những loài có kích thước
cũng như số lượng lớn
Theo Hoàng Đình Trung – Đại học Khoa học, Đại học Huế, trong tạp chí
Sinh Học, 2012, 34(3): 309-316 “ Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài động vật đáy ở hạ lưu sông Hiếu, tỉnh Quảng Trị”, đã xác định được 43 loài thuộc 29
giống, 16 họ và 5 lớp Trong đó lớp Giáp xác (Crustacea) với 18 loài thuộc 11 giống, 4 họ; lớp Giun nhiều tơ (Polychaeta) với 2 loài thuộc 2 giống, 2 họ; lớp Giun ít tơ (Olygochaeta) có 3 loài thuộc 2 giống, 2 họ; lớp Chân bụng (Gastropoda) có 12 loài thuộc 11 giống, 5 họ; lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) có 8 loài thuộc 3 giống, 3 họ
Nghiên cứu của Khoa Thủy Sản, Đại học Nông Lâm, Đại học Huế, 7/2001
về “ Nghiên cứu thành phần loài khu hệ động vật đáy (Zoobenthos) ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế”, (Nguyễn Văn Huệ, Nguyễn Quang
Linh và Lê Công Tuấn, 2001) Có đối tượng nghiên cứu là ĐVĐ (zoobenthos), tập trung chủ yếu ở 3 nhóm là: giun nhiều tơ (Polychaeta), giáp xác (Crustacea)
và thân mền (Mollusca) Qua kết quả phân tích 264 mẫu, chúng tôi đã xác định
đươc 54 loài ĐVĐ ở phá Tam Giang – Cầu Hai (trong đó có 1 loài chưa xác định được giống) thuộc 43 giống, 30 họ, 5 lớp của 3 ngành: Giun đốt (Annelida), Châp khớp (Arthropoda) và Thân mền (Mollusca)
Tạp chí khoa học 2011:18b 127-136 _ ĐHCT “ Phân bố động vật đáy ở rạch Cái Sao, tỉnh An Giang”, (Lê Công Quyền, Trịnh Thị Lan và Vũ Ngọc Út,
Trang 282009) Nghiên cứu sự phân bố ĐVĐ ở rạch Cái Sao, An Giang; kết quả là đã phát hiện được 12 loài ĐVĐ thuộc 5 lớp bao gồm Oligochaeta, Polychaeta, Crustacae, Gastropoda và Bivalvia Số lượng ĐVĐ qua các đợt khảo sát từ 21,03-5.087,87% g/m3 Chỉ số đa dạng Shannon biến động từ 0,528 đến 2,019 Với mức tương đồng 50% sinh khối của ĐVĐ, khu vực nghiên cứu được phân thành 2 vùng khác nhau vào mùa khô và 3 vùng vào mùa mưa Kết quả phân tích chỉ số sinh học RBP III cho thấy mức độ ô nhiễm nước ở rạch Cái Sao từ ô nhiễm trung bình bến
nước ngọt (Corbicula spp) chiếm ưu thế; là nhóm sinh vật chỉ thị cho môi trường
chịu tác động trực tiếp của nguồn nước sông Số lượng ĐVĐ biến động rất lớn từ 20,9-3.569g/m3 trên các điểm khảo sát vì có sự khác biệt lớn về kích thước và số lượng của các loài hến
Tạp chí Khoa học 2011:20a 18-27 _ ĐHCT “ Sử dụng các chỉ số động vật đáy đánh giá sự ô nhiễm nước ở rạch Tầm Bót, Long Xuyên, tỉnh An Giang”,
(Dương Trí Dũng, Nguyễn Văn Công và Lê Công Quyền, 2007-2008) Kết quả cho thấy trong khu vực này thành phần loài ĐVĐ kém phong phú, với 11 loài thuộc 5 nhóm: Oligochaeta, Polychaeta, Insecta, Gastropoda, và Bivalvia Số lượng ĐVĐ biến động rất lớn, từ 450 đến 26.220 ct/m2
do sự đóng góp của loài
Limnodrilus hoffmeisteri Sinh khối ĐVĐ do lớp hai mảnh vỏ quyết định Khi
phân tích tính tương đồng bằng phần mềm PRIMER V, Ở mức 30% cho kết quả trùng hợp với thang đánh giá mức độ ô nhiễm hữu cơ theo RBP III
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 72-82 _ĐHCT “Thành phần động vật không xương sống đáy ở khu vực nuôi tôm sú (Penaeus monodon)”, (Vũ
Ngọc Út, Sơn Sâm Phone, và Nguyễn Bá Quốc) Kết quả tổng số loài ĐVKXS đáy thu được trong các khu vực nuôi tôm sú là 56 loài, trong đó giun nhiều tơ (Polychaets) 17 loài (30%), hai mảnh vỏ (Bivalvia) 10 loài (18%), chân bụng (Gastropoda) 5 loài (9%) và nhóm côn trùng thủy sinh (Insecta) 3 loài (5%) Thành phần loài ĐVKXS đáy biến động theo thời gian liên quan đến sự biến động của độ mặn Số lượng loài có khuynh hướng giảm dần khi độ mặn giảm dần
Trang 29vào những tháng mùa mưa và tăng nhẹ trở lại khi độ mặn tăng, nhất là trong hệ thống tôm-lúa Số lượng loài thu được ở cả 3 khu vực điều rất thấp, thấp nhất là ở khu vực tôm-lúa mặc dù khác biệt không có ý nghĩa, lần lượt là 7 ± 3; 9 ± 3 và 9
± 3 loài Số loài cao nhất được ghi nhận trong khu vực TC vào thời điểm tháng 3 với 17 loài Khu vực BTC và TC thường có số loài cao hơn khu vực TL ngoại trừ một vài thời điểm ở tháng 2, 4 và 8
Dự án của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:“Dự án xây dựng mạng lưới quan trắc môi trường phục vụ Nuôi trồng Thủy sản “ Được thực hiện
bởi: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, II, III; Viện Nghiên cứu Hải sản và Các Chi cục Thủy sản/ NTTS các tỉnh trọng điểm Báo cáo tại Hà Nội vào tháng 7/2012 Mục tiêu dự án: Xây dựng được mạng lưới quan trắc môi trường đáp ứng yêu cầu cảnh báo dịch bệnh trong NTTS phục vụ quản lý và chỉ đạo sản xuất NTTS bền vững, có hiệu quả
Trang 30CHƯƠNG III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn xã Phú Tân, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang Diện tích nuôi tôm lúa tại khu vực khoảng 400 ha Mẫu được thu trên ruộng nuôi và trong hệ thống kênh thoát nước ở khu vực tôm lúa; thu liên tục
8 đợt từ tháng 2-5/2013 (mùa khô) đến tháng 6-9/2013 (mùa mưa) với chu kỳ thu
1 lần/tháng
Mẫu được thu ở 3 điểm, bao gồm đầu nguồn, giũa nguồn và cuối nguồn Mỗi điểm thu gồm trên ruộng nuôi và kênh dẫn thoát nước trước ruộng Vậy ta thu 6 mẫu/đợt (3 mẫu ở kênh và 3 mẫu ở ruộng) Kênh dẫn là kênh Vàm Khém (dài khoảng 4km) nối liền cửa Đại và của Tiểu (2 trong 9 cửa của sông Cửu Long) là nơi cung cấp và thải nước chính của hệ thống tôm lúa
Trong đó: Điểm 1 (Đ1) thu ở đầu nguồn nơi vàm cửa Tiểu đổ vào Điểm 2 (Đ2) thu ở giữa nguồn Điểm 3 (Đ3) thu ở hạ nguồn nơi tiếp giáp với vàm cửa Đại
Hình 3.1: Sơ đồ địa điểm thu mẫu tại xã Phú Tân, Tân Phú Đông, Tiền Giang
(Nguồn: http://www.tiengiang.gov.vn/ )
Trang 313.2 Vật liệu nghiên cứu
3.2.1 Vật liệu thu mẫu
Vật liệu và dụng cụ được sử dụng cho quá trình thu mẫu bao gồm: Gàu đáy Petersen (diện tích miệng gàu 0,03 m2), sàng lọc động vật đáy (kích thước mắc lưới 0,5 mm), máy đo pH-nhiệt độ (Hanna), khúc xạ kế, túi nylon, dây thung, viết
và giấy ghi nhãn, sổ ghi chép, lọ nút mài màu nâu (125 ml), pipet có chia vạch và thùng trữ lạnh để bảo quản mẫu
3.2.2 Vật liệu phân tích và hóa chất cố định mẫu
Kính hiển vi, kính lúp điện tử, lame, lamelle, pen, khay nhựa, găng tay, thau nhựa, pipet, giấy thấm
Dung dịch Formol thương mại 38-40%, dung dịch KI-NaOH, dung dịch MnSO4.
3.3 Phương pháp thu mẫu
Các chỉ tiêu thu mẫu bao gồm ĐVĐ và một số chỉ tiêu thủy lý hóa Mẫu được thu vào thời điểm thủy triều bắt đầu rút xuống (canh con nước) và thời gian thu mẫu cố định cho tất cả các lần thu vào buổi sáng sớm khoảng 7:00 giờ, cho đến khi thu hoàn tất các mẫu
3.3.1 Mẫu động vật đáy
Động vật đáy được thu bằng gàu đáy Petersen có diện tích miệng gàu là 0,03 m2 và chỉ thu một lần để xác định cả định tính lẫn định lượng Ở mỗi vị trí khảo sát, mẫu được thu ngẫu nhiên với 10 gàu, thu rải điều trên ruộng, 2 bên gần
bờ và giữa kênh, sau đó lọc sơ bộ mẫu qua sàng đáy có kích thước mắt lưới 0,5
mm để loại bỏ rác và bùn đất tại hiện trường, cho mẫu vào túi nylon có ghi nhãn của từng điểm thu, cố định bằng formol với nồng độ 8-10% rồi mang về phòng thí nghiệm để phân tích định tính và định lượng
Trang 323.3.2 Mẫu thủy lý hóa
Mẫu được thu cùng lúc với động vật đáy, các chỉ tiêu được thu gồm nhiệt
độ, pH, độ mặn, DO Các Chỉ tiêu được thu như sau:
- Nhiệt độ và pH: được đo tại hiện trường bằng máy đo pH cầm tay (Hanna), ngoài ra có thể đo nhiệt độ bằng nhiệt kế và độ mặn: đo bằng khúc xạ kế tại hiện trường
- Oxy hòa tan (DO): mẫu được thu và chứa trong lọ nút mài nâu 125 ml, cố định bằng 1ml dung dịch MnSO4 và 1ml dung dịch KI-NaOH
3.4 Phương pháp phân tích mẫu
3.4.1 Phân tích định tính
Phân tích, định loại tên khoa học bằng phương pháp so sánh hình thái Hầu hết thành phần ĐVKXS-ĐVĐ thường được định danh đến loài dựa trên các tài của các tác giả: Định loại động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam của Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên (1980); Động vật học không xương sống của Thái Trần Bái-NXB Giáo Dục Việt Nam (1999); Định loại các nhóm ĐVKXS nước ngọt thường gập ở Việt Nam của Nguyễn Xuân Quýnh (2001),…
) hoặc sinh lượng (g/m2)
X: Tổng số lượng cá thể đếm được hoặc khối lượng ĐVKXS theo từng nhóm/loài
S: diện tích thu mẫu, với S = n.d (n: số lượng gàu; d: diện tích miệng gàu)
Trang 333.4.3 Phân tích chỉ tiêu thủy lý hóa
- Nhiệt độ và pH: được đo tại hiện trường bằng máy đo pH cầm tay (Hanna), ngoài ra có thể đo nhiệt độ bằng nhiệt kế và độ mặn đo bằng khúc xạ kế
tại hiện trường
- Chỉ tiêu Oxy hòa tan (DO): được xác định bằng phương pháp Winkler và được phân tích tại phòng phân tích chất lượng nước thuộc Bộ môn Thủy sinh học Ứng dụng, khoa Thủy sản theo các phương pháp chuẩn (APHA, 1995) bao gồm
Trang 34CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Các yếu tố thủy lý hóa tại khu vực thu mẫu
4.1.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ TB của từng thủy vực thu mẫu được trình bày trong Bảng 4.1, nhiệt độ dao động trong khoảng 29,2-31,30C trong suốt chu kỳ thu mẫu Trong đó nhiệt độ TB ở thủy vực kênh qua các đợt thu mẫu là 29,90C và thủy vực ruộng là 30,80C; không có sự chênh lệch lớn Nhiệt độ ghi nhận thấp nhất vào đợt thu mẫu của tháng 7 tại thủy vực kênh dẫn (29,20C) Nhiệt độ tương đối cao ở các tháng mùa khô từ tháng 2 đến tháng 5 và còn kéo dài qua tháng 6 bắt đầu mùa mưa, sau khi bước vào mùa mưa và với lượng mưa bắt đầu nhiều hơn thì nhiệt độ có giảm xuống ở các tháng 7; 8 và tăng nhẹ trở lại ở tháng cuối, nhất là ở ruộng nuôi do mực nước trên trảng không cao Nhiệt độ cao nhất được ghi nhận ở thủy vực ruộng vào đợt thu mẫu tháng 4; 5 ( 31,30C)
Bảng 4.1 Một số yếu tố thủy lý hóa môi trường nước tại khu vực thu mẫu
Kênh dẫn Ruộng nuôi
10 ± 6,8 11 ± 7,8 4,9 ± 0,7 5,6 ± 0,7
Nhìn chung nhiệt độ khảo sát ở ruộng nuôi tôm-lúa có cao hơn khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của tôm sú, nhưng không đáng kể Theo Nguyễn Anh Tuấn, (1994) nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển và sinh trưởng của tôm sú là 250C-320C Do sự chênh lệch không cao, nên không ảnh hưởng nhiều đến tôm nuôi