1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa ir 50404 vụ đông xuân năm 20122013 tại quận ô môn thành phố cần thơ

54 593 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các kết quả này cũng chứng minh rằng cây lúa có khả năng thích ứng rộng với mật độ gieo trồng bằng cách tự điều chỉnh số bông, số nhánh bông/bông và tỷ lệ hạt chắc tùy thuộc vào điều kiệ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

PHAN ĐÀO NGỌC MAI

ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT

GIỐNG LÚA IR 50404 VỤ ĐÔNG XUÂN

NĂM 2012-2013 TẠI QUẬN Ô MÔN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC

Tên đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT

GIỐNG LÚA IR 50404 VỤ ĐÔNG XUÂN

NĂM 2012-2013 TẠI QUẬN Ô MÔN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

GS.TS Nguyễn Bảo Vệ Phan Đào Ngọc Mai

ThS Trần Thị Bích Vân MSSV: 3103467

Lớp: Nông học K36

CẦN THƠ - 2013

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP

Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông Học

ĐỀ TÀI:

“ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT

GIỐNG LÚA IR 50404 VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2012-2013 TẠI QUẬN Ô MÔN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ”

Sinh viên thực hiện: PHAN ĐÀO NGỌC MAI

Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, ngày …… tháng …… năm 2013

Cán bộ hướng dẫn

GS.TS Nguyễn Bảo Vệ ThS Trần Thị Bích Vân

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP

Hội đồng khoa học chấm luận văn tốt nghiệp với đề tài:

“ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT

GIỐNG LÚA IR 50404 VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2012-2013 TẠI QUẬN Ô MÔN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ”

Do sinh viên PHAN ĐÀO NGỌC MAI thực hiện và bảo vệ trước hội đồng

Ý kiến hội đồng:

……… ………

……… …

……….………

Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức: ………

Cần Thơ, ngày …… tháng …… năm 2013

Thành viên Hội đồng

DUYỆT KHOA Trưởng Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Phan Đào Ngọc Mai

Trang 6

Tôn giáo: Không

Họ tên Cha: Phan Phước Hiển Năm sinh: 1964

Họ tên Mẹ: Đào Thị Ngọc Lệ Năm sinh: 1966 Quê quán: Khu vực 14, Phường Châu Văn Liêm, Quận Ô Môn, TP Cần Thơ Điện thoại: 07103661562

QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

Năm 1998-2003: Trường Tiểu học Ô Môn 2, tỉnh Cần Thơ

Năm 2003-2007: Trường THCS Phường Châu Văn Liêm, TP Cần Thơ Năm 2007-2010: Trường THPT Lưu Hữu Phước, TP Cần Thơ

Năm 2010-2013: Trường Đại học Cần Thơ, Ngành Nông học Khóa 36

Ngày …… tháng …… năm 2013

Phan Đào Ngọc Mai

Trang 7

LỜI CẢM TẠ

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

Thầy Nguyễn Bảo Vệ và Cô Trần Thị Bích Vân đã tận tình hướng dẫn và giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Cô Trần Thị Thanh Thủy – Cố vấn học tập lớp Nông học Khóa 36 và Quý thầy cô Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ đã hết lòng hướng dẫn và truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường

Cha mẹ và những người thân trong gia đình đã yêu thương, chăm sóc và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong học tập cũng như trong cuộc sống

Gửi đến mọi người lời chúc sức khỏe và thành công trong cuộc sống!

Phan Đào Ngọc Mai

Trang 8

PHAN ĐÀO NGỌC MAI, 2013 “Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại Quận Ô Môn, TP Cần Thơ”

Luận văn Tốt nghiệp Đại học, Khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Bảo Vệ và ThS Trần Thị Bích Vân

Kết quả thí nghiệm cho thấy, mật độ gieo sạ càng dày thì chiều cao cây càng cao ở giai đoạn 20 ngày sau sạ Số chồi ở giai đoạn 40 ngày sau sạ tăng nhanh ở nghiệm thức sạ với mật độ 100 kg/ha, tăng từ 406 chồi/m2 lên 860 chồi/m2, các giai đoạn sau thì số chồi giảm dần Mật độ sạ 200 kg/ha có số bông/m2, tỷ lệ hạt chắc cao nhất nhưng chiều dài bông, số hạt/bông và năng suất thấp nhất Đối với nghiệm thức sạ 150 kg/ha có số bông/m2, tỷ lệ hạt chắc thấp hơn mật độ sạ 200 kg/ha nhưng chiều dài bông, số hạt/bông và năng suất cao hơn Sạ với mật độ 100 kg/ha cho số bông/m2, tỷ lệ hạt chắc thấp nhưng số bông/m2, số hạt/bông và năng suất cao nhất Hiệu quả kinh tế đạt cao nhất ở mật độ sạ 100 kg/ha với lợi nhuận tăng thêm 5.622.000 đồng/ha so với sạ 200 kg/ha

Trang 9

1.1 Đặc điểm thực vật và sinh trưởng của cây lúa 2 1.1.1 Các giai đoạn phát triển của cây lúa 2

Trang 10

1.4 Mật độ gieo sạ 11 1.4.1 Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ lên tăng trưởng của

Trang 11

2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi 20

3.2.2 Số chồi trên đơn vị diện tích 24

3.3 Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến thành phần năng

Trang 12

DANH SÁCH BẢNG

1.1 Đáp ứng của cây lúa đối với nhiệt độ ở các giai đoạn sinh trưởng

3.1 Ghi nhận tổng quát tình hình sâu bệnh trên giống lúa IR 50404 vụ

Đông Xuân năm 2012-2013 tại quận Ô Môn, TP Cần Thơ 23 3.2 Chiều cao cây (cm) qua các giai đoạn sinh trưởng của giống lúa IR

50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại quận Ô Môn, TP Cần Thơ 24 3.3 Số chồi/m2 qua các giai đoạn sinh trưởng của giống lúa IR 50404 vụ

Đông Xuân năm 2012-2013 tại quận Ô Môn, TP.Cần Thơ 25 3.4 Chiều dài bông (cm) của giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm

3.5 Các thành phần năng suất của giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân

3.6 Năng suất lý thuyết và năng suất thực tế của giống lúa IR 50404 vụ

Đông Xuân năm 2012-2013 tại quận Ô Môn, TP Cần Thơ 29 3.7 Hiệu quả kinh tế của giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-

Trang 13

DANH SÁCH HÌNH

Trang 15

MỞ ĐẦU

Lúa là cây trồng chủ lực chiếm vị trí hàng đầu trong các cây lương thực nói riêng và cây trồng nông nghiệp nói chung, là nguồn lương thực chủ yếu nuôi sống người Việt Nam Trồng lúa là một nghề truyền thống của nhân dân Việt Nam từ rất

xa xưa, có lẽ khi người Việt cổ xưa bắt đầu công việc trồng trọt thì cây lúa đã được quan tâm đầu tiên (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009) Hiện nay diện tích gieo trồng lúa chiếm đến 61% diện tích trồng trọt cả nước và 80% nông dân Việt Nam là nông dân trồng lúa (Bùi Bá Bổng, 2011)

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được xem là vựa lúa lớn nhất của cả nước, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực và xuất khẩu gạo quốc gia Mặc dù sản lượng lúa khá lớn nhưng lợi nhuận của nông dân chưa cao

do tốn nhiều chi phí cho sản xuất và giá lúa còn thấp Một trong những nguyên nhân quan trọng là nông dân còn sản xuất lúa theo tập quán cũ, sử dụng lượng giống gieo

sạ và phân đạm quá cao trong canh tác lúa,… Điều này làm cho tình hình dịch hại ngày càng gia tăng ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng lúa gạo Vì vậy, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đưa ra nhiều chương trình như: “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm” để nông dân áp dụng vào sản xuất Giảm lượng giống lúa gieo sạ và sử dụng giống xác nhận là tiền đề quan trọng trong việc thực hiện chương trình “3 giảm 3 tăng”, từ việc thực hiện giảm lượng giống gieo sạ sẽ giúp giảm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, vì nông dân phải đáp ứng phân bón cho mật độ sạ dày, phải phòng trừ cỏ dại một cách khó khăn hơn và luôn phải chống chọi với nhiều loại dịch hại tấn công cây lúa trong suốt vụ sản xuất

Nhiều thí nghiệm chứng minh sự tương quan giữa mật độ gieo trồng và năng suất lúa, theo đó năng suất lúa thực sự không thay đổi giữa hai khoảng cách trồng

10 và 100 bụi/m2 Các kết quả này cũng chứng minh rằng cây lúa có khả năng thích ứng rộng với mật độ gieo trồng bằng cách tự điều chỉnh số bông, số nhánh bông/bông và tỷ lệ hạt chắc tùy thuộc vào điều kiện môi trường (Takeda và Hirota, 1971; được trích bởi Nguyễn Hữu Huân, 2011) Vì vậy, gieo sạ với mật độ hợp lý

có ý nghĩa quan trọng trong việc gia tăng năng suất lúa cũng như giảm sâu bệnh và

chi phí đầu tư Do đó, đề tài “Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa

IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại Quận Ô Môn, TP Cần Thơ” được

thực hiện nhằm mục tiêu xác định mật độ gieo sạ thích hợp đến năng suất lúa

Trang 16

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT VÀ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA

Lúa là cây hằng niên với tổng số nhiễm sắc thể 2n = 24 Về mặt phân loại thực

vật, cây lúa thuộc họ Hòa thảo Gramineae, tộc Oryzeae, chi Oryza Trong đó, Oryza sativa L là loài được trồng phổ biến nhất, thích nghi rộng rãi và chiếm đại bộ phận

diện tích trồng lúa trên thế giới Để đạt năng suất lúa tối ưu cần nắm vững cấu tạo

và đặc tính sinh trưởng của từng giai đoạn phát triển để lựa chọn biện pháp canh tác thích hợp

1.1.1 Các giai đoạn phát triển của cây lúa

Đời sống cây lúa bắt đầu từ lúc hạt nảy mầm cho đến khi lúa chín Có thể chia làm 3 giai đoạn chính: giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng), giai đoạn sinh sản (sinh dục) và giai đoạn chín (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)

1.1.1.1 Giai đoạn tăng trưởng

Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến khi cây lúa bắt đầu

phân hóa đòng Giai đoạn này dài hay ngắn tùy thuộc vào giống lúa, các giống lúa cao sản ngắn ngày, giai đoạn này khoảng 40-45 ngày, nhưng đối với các giống lúa mùa dài ngày giai đoạn này có thể kéo dài 4-6 tháng (Nguyễn Thành Hối, 2011) Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) giai đoạn này cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi mới (nở bụi) Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước

lá ngày càng lớn giúp cây lúa nhận nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia tăng chiều cao, nở bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi, cây lúa có thể bắt đầu

nở bụi khi có lá thứ 5-6

Trong giai đoạn này những chồi được hình thành chỉ có hai khả năng, hình thành chồi hữu hiệu (chồi sẽ hình thành bông) hoặc hình thành chồi vô hiệu (chồi không hình thành bông) Thường thì các nhánh đẻ sớm thì cho bông, còn các nhánh

đẻ muộn thì có thể cho bông hoặc không (Yoshida, 1981) Thời kỳ đẻ nhánh là thời

kỳ quyết định đến sự phát triển diện tích lá và số bông Do đó, cần chú ý đến các biện pháp kỹ thuật nhằm làm tăng diện tích lá để tăng khả năng quang hợp và tăng

số bông Đây là yếu tố quan trọng để tăng năng suất lúa (Nguyễn Đình Giao và ctv.,

1997)

Trang 17

1.1.1.2 Giai đoạn sinh sản

Giai đoạn này bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến khi trổ bông, thời gian này khoảng 30 ngày Giai đoạn này có thể dao động từ 25-30 ngày tùy theo giống lúa (kể cả lúa mùa) và điều kiện canh tác (Nguyễn Thành Hối, 2011) Lúc này, số chồi

vô hiệu giảm nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng Đòng lúa hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra khỏi bẹ

của lá cờ: lúa trổ bông Trong suốt thời gian này, nếu đầy đủ dinh dưỡng, mực nước

thích hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình thành nhiều hơn và vỏ trấu sẽ đạt được kích thước lớn nhất của giống, tạo điều kiện gia tăng trọng lượng hạt sau này (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)

Theo Yoshida (1981) về mặt nông học thời kỳ trổ bông được xác định vào lúc 50% số bông thoát ra ngoài lá đòng Sau khi hoàn thành việc trổ bông, các hoa lúa

sẽ bắt đầu trổ hoa trong khoảng thời gian từ 8 giờ sáng đến 13 giờ chiều và sự thụ tinh cũng sẽ kết thúc trong vòng 5-6 giờ sau khi nở hoa Trên cùng một bông các hoa lúa phải mất 7-10 ngày mới nở hết

1.1.1.3 Giai đoạn chín

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) giai đoạn chín bắt đầu từ lúc trổ bông đến lúc thu hoạch Giai đoạn này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới Tuy nhiên, nếu đất ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong thời gian này thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược lại Giai đoạn này cây lúa trải qua các thời kỳ sau:

- Thời kỳ chín sữa (ngậm sữa): Các chất dự trữ trong thân lá và sản phẩm quang hợp được chuyển vào trong hạt Hơn 80% chất khô tích lũy trong hạt là do quang hợp ở giai đoạn sau khi trổ Do đó, các điều kiện dinh dưỡng, tình trạng sinh trưởng, phát triển của cây lúa và thời tiết từ giai đoạn lúa trổ trở đi hết sức quan trọng đối với quá trình hình thành năng suất lúa Kích thước và trọng lượng hạt gạo

tăng dần làm đầy vỏ trấu Bông lúa nặng cong xuống nên gọi là lúa “cong trái me”

Hạt gạo chứa một dịch lỏng màu trắng đục như sữa, nên gọi là thời kỳ lúa ngậm sữa

- Thời kỳ chín sáp: Hạt mất nước, từ từ cô đặc lại, lúc bấy giờ vỏ trấu vẫn còn xanh

- Thời kỳ chín vàng: Hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, trấu chuyển sang màu vàng đặc thù của giống lúa, bắt đầu từ những hạt cuối cùng ở chót bông lan dần

xuống các hạt ở phần cổ bông nên gọi là “lúa đỏ đuôi”, lá già rụi dần

Trang 18

- Thời kỳ chín hoàn toàn: Hạt gạo khô cứng lại, ẩm độ hạt khoảng 20% hoặc thấp hơn, tùy ẩm độ môi trường, lá xanh chuyển vàng và rụi dần Thời điểm thu hoạch tốt nhất là khi 80% hạt lúa ngã sang màu trấu đặc trưng của giống

Đặc trưng cho lúa chín là hạt tăng kích thước và khối lượng, vỏ hạt chuyển dần sang màu vàng hoặc vàng sẫm Tùy đặc điểm của giống mà kéo dài sự tàn lụi dần của bộ lá từ gốc lên ngọn

Như vậy, lúa ngắn ngày hay dài ngày là do sự kéo dài chủ yếu của giai đoạn tăng trưởng Thời gian của các giai đoạn sinh trưởng có thể thay đổi một ít do phụ thuộc vào đặc tính giống lúa, đất đai, mùa vụ, phân bón, chế độ chăm sóc,…

1.1.2 Đặc điểm thực vật

1.1.2.1 Rễ

Theo Nguyễn Thành Hối (2011) rễ lúa có nhiệm vụ hút nước và chất dinh dưỡng nuôi cây, giúp cây bám chặt vào đất, cho nên bộ rễ có khỏe mạnh thì cây lúa mới sinh trưởng tốt Cây lúa có 2 loại rễ: rễ mầm và rễ phụ

- Rễ mầm mọc ra đầu tiên khi hạt nảy mầm, dài 10-15 cm, ít phân nhánh, rễ

dễ chết sớm trong 15 ngày đầu lúc cây mạ non có 3-4 lá

- Rễ phụ mọc ra từ các đốt trên thân lúa với 2 vòng rễ, vòng phía trên khỏe mạnh và vòng bên dưới kém phát triển hơn, mỗi đốt có từ 5-25 rễ, rễ này mọc dài thành chùm với nhiều rễ nhánh và lông hút, chúng thường mọc sâu 18-20 cm trong đất; đặc biệt, cấu tạo rễ lúa có những ống thông khí ăn thông với thân và lá nên vẫn giúp cây lúa sống được trong điều kiện ngập nước

Trong điều kiện bình thường rễ non có màu trắng sữa, rễ già sẽ chuyển sang màu vàng, nâu nhạt rồi nâu đậm, tuy nhiên phần chóp rễ vẫn còn màu trắng Bộ rễ không phát triển, rễ bị thối đen là biểu hiện của tình trạng mất cân bằng dinh dưỡng trong đất, cây lúa không hấp thu được dinh dưỡng nên còi cọc, lá vàng, dễ bị bệnh

và rụi dần nếu không có biện pháp xử lý kịp thời Sự phát triển của bộ rễ tốt hay xấu tùy loại đất, điều kiện nước ruộng, tình trạng dinh dưỡng của cây và giống lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)

1.1.2.2 Thân

Thân lúa gồm nhiều đốt và lóng, thân lóng rỗng và được ôm chặt bởi bẹ lá Thông thường các lóng bên dưới ngắn, kém phát triển nên rất xát nhau Khoảng 3-8 lóng trên cùng vươn dài nhanh chóng (2-35 cm) khi lúa có đòng, đặc biệt trên các giống lúa nổi địa phương có khả năng vươn lóng rất nhanh để kịp ngoi lên khỏi mặt nước (có thể đạt 10 cm/ngày) và độ dài các lóng đo được khi nước rút cạn khoảng

Trang 19

mỏng và lóng dài hay ngắn tùy từng loại giống và điều kiện môi trường, đặc biệt là nước

Trên thân lúa các mắt thường phình ra Tại mỗi đốt lúa có mang 1 lá, 1 mầm chồi và 2 tầng rễ phụ Một đơn vị tăng trưởng của cây lúa gồm 1 lóng, 1 mắt, 2 vòng rễ, 1 lá và 1 chồi, có thể sống độc lập được Thân lúa có nhiệm vụ vận chuyển

và tích trữ các chất trong cây Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng và ánh sáng, mầm chồi sẽ phát triển thành một chồi thật sự, thoát ra khỏi bẹ lá (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)

- Chồi bậc nhất (chồi sơ cấp): chồi xuất phát từ thân chính

- Chồi bậc hai (chồi thứ cấp): xuất phát từ chồi bậc nhất

- Chồi bậc ba (chồi tam cấp): xuất phát từ chồi bậc hai

Đặc tính chống đổ ngã của cây lúa phụ thuộc chủ yếu vào chiều dài của các lóng dưới thấp, độ cứng của giống, độ ôm chặt và chắc của bẹ lá (Trương Đích, 2000) Cây lúa nào có lóng ngắn, thành lóng dày, bẹ lá ôm sát thân thì thân lúa sẽ cứng chắc, khó đổ ngã và ngược lại (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)

Sự ra lá, ra chồi và ra rễ của cây lúa tuân theo một quy luật nhất định Quy

luật này gọi là quy luật đồng hạng của Katayama về ra lá, ra chồi và ra rễ “Khi lá thứ n trên thân chính xuất hiện thì tại mắt lá thứ n-3 chồi sẽ xuất hiện và rễ phụ cũng ra”

Trong điều kiện thuận lợi, đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng, chăm sóc tốt, các chồi mọc sớm sẽ sinh trưởng, phát triển tạo nhiều bông, nhiều hạt, đó là các chồi hữu hiệu Các chồi mọc quá trễ khi cây lúa sắp phân hóa đòng thường nhỏ yếu và sau đó chết đi, không hình thành bông được gọi là chồi vô hiệu Người ta có thể xác định chồi vô hiệu và chồi hữu hiệu ngay khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng, dựa vào chiều cao hoặc số lá trên chồi:

- Chiều cao:

+ Chồi hữu hiệu khi có chiều cao hơn 2/3 so với thân chính

+ Chồi vô hiệu khi chiều cao thấp hơn 2/3 so với thân chính

- Số lá trên chồi:

+ Chồi hữu hiệu khi có trên 3 lá

+ Chồi vô hiệu khi có dưới 3 lá

Trang 20

1.1.2.3 Lá

Chức năng quan trọng của lá lúa là quang hợp, làm nhiệm vụ tổng hợp và cung cấp chất dinh dưỡng cho thân, rễ, hạt và các bộ phận khác của cây Theo Nguyễn Thành Hối (2011) lúa là cây một lá mầm (đơn tử diệp), lá có dạng hình thon dài, có nhiều gân lá chạy dọc theo phiến lá Cấu tạo một lá lúa gồm phiến lá,

bẹ lá và cổ lá:

- Phiến lá là phần phơi ra ngoài ánh sáng, có một gân chính ở giữa và nhiều gân phụ chạy song song từ cổ đến chót lá, phiến lá càng đứng và chứa nhiều diệp lục sẽ quang hợp mạnh để tạo chất khô chuyển vị nuôi cây và bông lúa sau này

- Bẹ lá là phần tiếp theo phiến lá và ôm sát thân cây giúp cây đứng vững, ít bị

đổ ngã, là nơi trung gian tích trữ, chuyển vận không khí và dinh dưỡng cho các bộ phận khác của cây

- Cổ lá là nơi tiếp giáp giữa phiến và bẹ lá, gồm 2 bộ phận: tai lá là phần kéo dài của 2 bên mép lá có dạng lông chim, uốn cong hình chữ C và thìa lá là phần kéo dài của bẹ lá, ôm lấy thân, chẻ đôi ở cuối ngọn Đủ 2 bộ phận này là đặc điểm để phân biệt lúa và các cây cỏ cùng họ khác

Mỗi giống có tổng số lá nhất định Các giống lúa sớm và vừa có từ 10-18 lá trên thân (Yoshida, 1981) Ở các giống lúa quang cảm, tổng số lá có thể thay đổi đôi chút theo mùa trồng, biến thiên từ 16-21 lá Các giống lúa ngắn ngày thường có tổng số lá từ 12-16 lá Tốc độ ra lá, chiều dài và tuổi thọ của từng lá phụ thuộc vào giống, điều kiện môi trường và giai đoạn sinh trưởng của cây lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)

1.1.2.4 Bông

Bông lúa gồm nhiều gié mang hoa Từ lúc tượng cổ bông đến khi trổ hoàn toàn mất khoảng 25-30 ngày Hoa lúa là hoa lưỡng tính tự thụ, cấu tạo gồm vỏ trấu lớn (dưới) và vỏ trấu nhỏ (trên), một vòi nhụy cái chẻ đôi thành 2 nướm và 6 nhụy đực mang bao phấn Sự thụ phấn có thể xảy ra ngay trước khi trấu mở và hạt phấn chỉ có thể sống được khoảng 5 phút sau khi rời khỏi bao phấn (tung phấn) Trong khi nướm nhụy cái có thể hoạt động kéo dài từ 3-7 ngày Ở nhiệt độ 43oC trong 7 phút thì hạt phấn mất sức nẩy mầm trong khi bộ nhụy cái vẫn sống và hoạt động bình thường (Nguyễn Thành Hối, 2011)

Thời tiết thuận lợi, gieo trồng, chăm sóc tốt thì lúa trổ bông và nở hoa nhanh, hoa nở tập trung, số hạt chắc nhiều, lép lửng ít, năng suất cao Ngược lại, thời tiết bất lợi, kỹ thuật canh tác kém, sâu bệnh nhiều, lúa trổ bông và nở hoa kéo dài, tỷ lệ lép lửng tăng, tỷ lệ hạt chắc giảm nên năng suất thấp

Trang 21

- Bên trong vỏ lúa là hạt gạo Hạt gạo gồm 2 phần:

+ Phần phôi hay mầm (embryo): nằm ở góc dưới hạt gạo, chỗ đính vào đế hoa, ở về phía trấu lớn

+ Phôi nhũ: chiếm phần lớn hạt gạo chứa chất dự trữ, chủ yếu là tinh bột (phần gạo chúng ta ăn) Bên ngoài hạt gạo được bao bọc bởi một lớp vỏ lụa mỏng chứa nhiều vitamin, nhất là vitamin nhóm B Khi xay xát lớp này tróc ra thành cám mịn

Một hạt lúa nặng khoảng 12-44 mg ở ẩm độ 0% Chiều dài, chiều rộng và độ dày của hạt thay đổi nhiều giữa các giống Trọng lượng trung bình của trấu khoảng 21% trọng lượng của hạt (Yoshida, 1981)

Như vậy, tùy giống lúa và điều kiện môi trường mà sự phát triển của từng bộ phận trên cây lúa khác nhau Do đó, cần phải hiểu rõ đặc tính của giống, đặc điểm hình thái của cây lúa để lựa chọn biện pháp canh tác hợp lý nhằm đạt năng suất cao nhất

1.2 ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CÂY LÚA

1.2.1 Nhiệt độ

Từ gieo đến chín hoàn toàn, cây lúa cần khoảng 2000-4000oC, tùy thuộc vào giống Trong đó các giống lúa chín sớm cần tổng tích ôn thấp hơn giống lúa chín muộn, các giống thuộc vùng ôn đới thấp hơn vùng nhiệt đới Như vậy, nếu nhiệt độ trung bình ngày là 25oC thì tổng tích ôn khoảng 2000-4000oC, tương ứng với giống lúa có thời gian sinh trưởng 80-160 ngày (Trương Đích, 2000)

Ở ĐBSCL, người ta có thể trồng lúa quanh năm và trồng được nhiều vụ 1 năm vẫn có khả năng cho năng suất cao miễn bảo đảm có đủ nước tưới Yếu tố quyết định mùa vụ ở đây là đất đai và chế độ nước Tuy nhiên, ở ĐBSCL, biến động nhiệt

độ giữa ngày và đêm (biên độ nhiệt) khá mạnh, nhất là vào những tháng mùa khô, biên độ nhiệt ngày và đêm có thể đạt tới 8-10oC tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích lũy chất khô trong cây, giúp cây lúa phát triển tốt và cho năng suất cao Năng suất lúa vụ Đông Xuân thường cao hơn các vụ khác trong năm, ngoài các yếu

Trang 22

hơn, thì biên độ nhiệt ngày và đêm cao cũng là yếu tố quan trọng lý giải cho hiện tượng này (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)

Bảng 1.1 Đáp ứng của cây lúa đối với nhiệt độ ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau

16 7-12 9-16

15 15-20

22 12-18

31 25-31

-

- 30-33 20-25

1.2.2 Ánh sáng

Bức xạ mặt trời được coi là yếu tố khí tượng quan trọng nhất quyết định năng suất lúa, đặc biệt ở giai đoạn hình thành sản lượng, kế đến là giai đoạn chín, còn giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng không đáng kể (Trương Đích, 2000) Thông thường, cây lúa chỉ sử dụng được khoảng 65% năng lượng ánh sáng mặt trời chiếu tới ruộng lúa Trong điều kiện bình thường, lượng bức xạ trung bình từ 250-300 cal/cm2/ngày thì cây lúa sinh trưởng tốt và trong phạm vi này thì lượng bức xạ càng cao thì quá trình quang hợp xảy ra càng mạnh (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)

Ánh sáng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và phát dục của cây lúa trên 2 phương diện: cường độ ánh sáng và độ dài chiếu sáng trong ngày (quang kỳ) Ở giai đoạn cây non thiếu ánh sáng sẽ làm cây lúa ốm yếu, đẻ nhánh kém, ít nở bụi Bước vào phân hóa đòng nếu thiếu ánh sáng sẽ làm bông lúa ngắn, ít hạt và hạt nhỏ, dễ bị sâu bệnh phá hại Đến khi lúa trổ nếu không đủ ánh sáng thì sự thụ phấn, thụ tinh bị trở ngại làm tăng tỷ lệ hạt lép, hạt lửng

Nói chung, cây lúa thuộc nhóm cây ngắn ngày, thời gian chiếu sáng trong 1 ngày đêm ngắn (khoảng 9-10 giờ chiếu sáng/1 ngày đêm) có tác dụng rõ rệt xúc tiến

Trang 23

1.2.3 Lượng mưa

Trong mùa mưa ẩm, lượng mưa cần thiết cho cây lúa trung bình là 6-7 mm/ngày và 8-9 mm/ngày trong mùa khô nếu không có nguồn nước khác bổ sung Nếu tính luôn lượng nước thấm rút và bốc hơi thì trung bình 1 tháng cây lúa cần một lượng mưa khoảng 200 mm và suốt vụ lúa 5 tháng cần khoảng 1000 mm (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)

1.2.4 Gió

Ở giai đoạn làm đòng và trổ, gió mạnh ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành và phát triển của đòng lúa, sự trổ bông, thụ phấn, thụ tinh và sự tích lũy chất khô trong hạt bị trở ngại làm tăng tỷ lệ hạt lép, hạt lửng (gạo không đầy vỏ trấu) làm giảm năng suất lúa Tuy nhiên, gió nhẹ giúp cho quá trình trao đổi không khí trong quần thể ruộng lúa tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quang hợp và hô hấp của ruộng lúa góp phần tăng năng suất (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)

1.2.5 Đất đai

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) đất trồng lúa cần giàu dinh dưỡng, nhiều hữu

cơ, tơi xốp, thoáng khí, khả năng giữ nước, giữ phân tốt, tầng canh tác dày để bộ rễ

ăn sâu, bám chặt vào đất và huy động nhiều dinh dưỡng nuôi cây Loại đất thịt hay đất thịt pha sét, ít chua hoặc trung tính (pH = 5,5-7,5) là thích hợp đối với cây lúa Tuy nhiên, muốn trồng lúa đạt năng suất cao, đất ruộng cần bằng phẳng và chủ động nước Trong thực tế, có những giống lúa có thể thích nghi được trong những điều kiện đất đai khắc nghiệt (như: phèn, mặn, khô hạn, ngập úng) rất tốt

1.3 DINH DƯỠNG CÂY LÚA

Phạm Sỹ Tân (1999), đã khuyến cáo bón phân cho lúa ngắn ngày (thời gian sinh trưởng 95-100 ngày) vùng phù sa ngọt ĐBSCL: vụ Đông Xuân đạm 90-110 kg/ha, lân 40-50 kg P2O5/ha, kali 30-50 kg K2O/ha; vụ Hè Thu đạm 75-95 kg/ha, lân 50-60 kg P2O5/ha, kali 30-50 kg K2O/ha

1.3.1 Đạm (N)

Đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây lúa N là chất tạo hình cây lúa, là thành phần chủ yếu của protein và chất diệp lục làm cho lá xanh tốt, gia tăng chiều cao cây, số chồi và kích thước lá thân Theo Nguyễn Xuân Trường và

ctv (2000) N giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành bộ rễ, thúc đẩy nhanh quá

trình đẻ nhánh và cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển của thân và lá Bón đủ N, cây phát triển tốt, đẻ nhánh tập trung, đòng to, bông lớn, năng suất cao

Khác với các cây trồng cạn, cây lúa có thể hấp thu và sử dụng cả hai dạng

Trang 24

trong giai đoạn sinh trưởng ban đầu Cây lúa thích hút và hút đạm ammonium nhanh hơn nitrat Tuy nhiên, vẫn còn phụ thuộc vào pH đất (Yoshida, 1981)

Trong cây, N dễ dàng được chuyển vị từ lá già sang lá non, từ mô trưởng thành sang mô mới thành lập nên triệu chứng thiếu N thường biểu hiện trước tiên

ở lá già rồi lan dần đến các lá non Giai đoạn sinh sản, nếu thiếu N cây lúa sẽ cho bông ngắn, ít hạt, hạt nhỏ và có nhiều hạt thoái hóa Thừa N, cây lúa phát triển thân lá quá mức, mô non, mềm, dễ ngã, tán lá rậm rạp, lượng N tự do trong cây cao, nên cây dễ nhiễm bệnh làm giảm năng suất rất lớn

N ảnh hưởng nhiều đến số bông trên đơn vị diện tích, làm tăng số gié và số hạt trên bông Do đó, cần hiểu rõ tác dụng của phân ta mới có thể lựa chọn kỹ thuật bón thích hợp nhưng còn tùy thuộc vào giống, đất đai, mùa vụ và trình độ thâm

canh (Nguyễn Xuân Trường và ctv., 2000)

1.3.2 Lân (P)

Lân là nguyên tố cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa, đứng thứ 2 sau N; P là chất sinh năng (tạo năng lượng), là thành phần của ATP, NADP ; thúc đẩy việc sử dụng và tổng hợp chất N trong cây, kích thích rễ phát triển, giúp cây lúa mau lại sức sau khi cấy, nở bụi mạnh, kết nhiều hạt chắc, tăng phẩm chất gạo, giúp lúa chín sớm và tập trung hơn P còn là thành phần cấu tạo acid nhân (acid nucleic), thường tập trung nhiều trong hạt Cây lúa cần P nhất là trong giai đoạn đầu, nên cần bón lót trước khi sạ cấy Khi lúa trổ, khoảng 37-83% chất P được chuyển lên bông (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)

Theo Trương Đích (2000) P rất cần cho sự đẻ nhánh của lúa và có trong men tham gia vào quá trình quang hợp Hiệu suất bón P ở các giai đoạn đầu cao hơn các giai đoạn cuối Nếu các giai đoạn đầu hút đủ P thì sớm phân bố cho các cơ quan sinh trưởng, vì vậy bón lót đủ P là biện pháp quan trọng để tăng năng suất lúa Hiện tượng thiếu P thường xảy ra trên các loại đất có độ pH thấp hoặc pH cao như: đất đỏ chua, đất phèn, đất đá vôi, đất kiềm

1.3.3 Kali (K)

Cũng như N, P, kali chiếm tỷ lệ cao hơn tại các cơ quan non của cây lúa K tồn tại dưới dạng ion nên nhờ vậy mà K có thể len lỏi vào giữa các bào quan, xúc tiến quá trình vận chuyển dinh dưỡng, giúp cây lúa tăng cường hô hấp K còn giúp thúc đẩy tổng hợp protid, vì vậy hạn chế việc tích lũy nitrat trong lá và tác hại của việc bón thừa N Ngoài ra, K còn giúp bộ rễ tăng khả năng hút nước và cây lúa không bị mất nước quá mức ngay cả trong lúc gặp khô hạn, K làm tăng khả năng chống hạn và chống rét cho cây lúa

Trang 25

K giúp cho quá trình vận chuyển và tổng hợp các chất trong cây, duy trì sức trương của tế bào, giúp cây cứng cáp, tăng khả năng chống sâu bệnh, chống đổ ngã, chịu hạn và lạnh khỏe hơn, tăng số hạt chắc trên bông và làm hạt no đầy hơn K tập trung chủ yếu trong rơm rạ, chỉ khoảng 6-20% ở trên bông (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009) Ngoài ra, K còn giúp lá đòng cứng chắc, tuổi thọ kéo dài nên làm nâng cao

tỷ lệ hạt chắc, tăng trọng lượng 1000 hạt, K cần thiết cho sự phát triển của bộ rễ,

năng suất cao, hạt lép ít (Nguyễn Xuân Trường và ctv., 2000)

Ngoài ra còn các dưỡng chất khác như: silic, mangan, sắt, canxi,… cũng là các dưỡng chất cần thiết cho sinh trưởng và phát triển của cây lúa Cây lúa có yêu cầu đối với các chất dinh dưỡng ở liều lượng và tỷ lệ nhất định giữa các chất Thiếu một chất dinh dưỡng nào đó, cây sinh trưởng và phát triển kém, ngay cả những khi có các chất dinh dưỡng khác ở mức thừa thải Các nguyên tố dinh dưỡng không chỉ tác động trực tiếp lên cây mà còn có ảnh hưởng qua lại trong việc phát huy hoặc hạn chế tác dụng của nhau Bón phân không cân đối không những không phát huy được tác dụng tốt của các loại phân, gây lãng phí mà còn có thể gây ra những tác dụng không tốt đối với năng suất lúa và môi trường

- Đối với giống lúa thấp cây, ngắn ngày có những đặc tính thích hợp hơn so với giống cây cao dài ngày nhất là kiểu lá, số lá trên cây (ít hơn), độ dày lá, góc lá hẹp… Tất cả các ưu điểm trên cho phép cây lúa có thể chịu được những mật độ dày hơn những giống cao cây Đối với giống này sạ với mật độ càng dày thì số chồi hữu hiệu càng giảm thấp

1.4.1 Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ lên tăng trưởng của cây lúa

Nguyễn Văn Hoan (1995) cho rằng tùy theo từng giống lúa mà chọn mật độ thích hợp vì cần tính đến khoảng cách đủ rộng để làm hàng lúa thông thoáng, các bụi lúa không chen nhau Cách bố trí bụi lúa theo hình chữ nhật là phù hợp nhất vì như thế mật độ trồng được đảm bảo nhưng lại tạo ra được sự thông thoáng trong quần thể, tăng khả năng quang hợp, chống bệnh tốt và tạo ra hiệu ứng rìa sẽ cho

Trang 26

Mật độ là một trong những biện pháp ảnh hưởng đến năng suất lúa vì mật độ cấy quyết định diện tích lá và sự cấu tạo quần thể, đến chế độ ánh sáng và sự tích lũy chất khô của ruộng lúa mạnh mẽ nhất (Nguyễn Văn Hoan, 2003) Nhận xét về mối quan hệ diện tích dinh dưỡng và sự đẻ nhánh, Bùi Huy Đáp (1980) cho rằng sự

đẻ nhánh của lúa có quan hệ với diện tích dinh dưỡng Nếu diện tích dinh dưỡng càng lớn thời gian đẻ nhánh càng dài Ngược lại diện tích dinh dưỡng càng nhỏ thì thời gian đẻ nhánh càng ngắn Cấy dày ở mật độ cao lúa sẽ không đẻ nhánh và một

số cây mẹ sẽ lụi dần

Cũng theo Bùi Huy Đáp (1980) trong quần thể quá dày sự liên quan giữa hai chất quan trọng trong đời sống cây lúa là nitơ (N) và carbon (C) có hiện tượng mất cân đối N-amon chiếm ưu thế do thiếu ánh sáng, quang hợp kém, sự đồng hóa C sẽ kém, N sẽ trở nên quá thừa, do đó dễ dẫn đến sự đổ ngã sớm làm giảm năng suất

1.4.2 Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ lên năng suất lúa

Từ những năm đầu của thập niên 1980, các nước trồng lúa Châu Á sau khi nhập nội, lai tạo và canh tác các giống lúa cao sản đã thay đổi phương thức cấy bằng phương thức sạ, áp dụng mật độ sạ thưa chỉ từ 60-80 kg giống/ha như ở Malaysia, Philippines (Hiraoka, 1996) Trường Đại học Nông nghiệp Kyushu ở Nhật Bản đã kết luận mật độ sạ thích hợp cho năng suất cao nhất là 500 hạt/m2, tương đương với 120 kg giống/ha (Wasano, 1987) Đối với vùng khí hậu ôn đới như: Ý, Bắc Mỹ thì mật độ sạ từ 120-840 hạt/m2 đều cho năng suất 9,8-10,6 tấn/ha

(Hill và ctv., 1990) Ở Philippines khuyến cáo sạ 100 kg giống/ha Tuy nhiên, hầu

hết nông dân vẫn sạ ở mật độ cao hơn để trừ hao do chim, chuột và tăng khả năng cạnh tranh giữa lúa và cỏ dại (Singh, 1990)

Mật độ sạ thích hợp là tạo điều kiện cho cây lúa phát triển tốt, tận dụng có

hiệu quả các chất dinh dưỡng, nước và ánh sáng Mật độ cây thích hợp còn tạo nên

sự tương tác hài hòa giữa các cá thể cây lúa và quần thể ruộng lúa để đạt mục đích cuối cùng là cho năng suất cao (Hiraoka, 1996) Ở ĐBSCL, đã có nhiều nghiên cứu

về mật độ sạ, phương pháp sạ và đưa ra khuyến cáo sạ ở mật độ 100 kg giống/ha cho năng suất tương đương hoặc cao hơn sạ ở mật độ 200 kg giống/ha, sạ thưa có số bông ít hơn sạ dày, nhưng bông dài và số hạt chắc/bông nhiều Nếu sạ hàng thì mật

độ sạ 50, 75, 125 kg giống/ha cho năng suất lúa không khác biệt nhau (Trịnh Quang Khương, 2010)

Dựa trên sự phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành năng suất, Bùi Huy Đáp (1999), đã đưa ra lập luận các yếu tố cấu thành năng suất có liên quan chặt chẽ với nhau, muốn năng suất cao phải phát huy đầy đủ các yếu tố mà không ảnh hưởng lẫn nhau Số bông tăng lên đến một phạm vi mà số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc

Trang 27

chắc giảm nhiều thì năng suất thấp Trong ba yếu tố cấu thành năng suất: số bông/m2, số hạt chắc/bông và trọng lượng 1000 hạt thì hai yếu tố đầu giữ vai trò quan trọng và thay đổi theo cấu trúc quần thể còn khối lượng 1000 hạt của mỗi giống ít biến động Vì vậy, năng suất sẽ tăng khi mật độ cấy trong phạm vi nhất định Phạm vi này phụ thuộc vào nhiều đặc tính của giống, đất đai, phân bón và thời tiết Để tăng số bông trên đơn vị diện tích gieo cấy có thể tăng mật độ cấy hay tăng

số bụi

1.4.3 Phương pháp gieo sạ

Trong sản xuất hiện nay có rất nhiều hình thức sạ khác nhau, điều này là do điều kiện đất đai và nước tưới của từng vùng, vụ khác nhau mà chọn lựa phương pháp sạ thích hợp Những vùng chủ động được nước tưới và đất tương đối bằng phẳng thường áp dụng phương pháp sạ ướt Hiện nay, hầu hết diện tích trồng lúa ở ĐBSCL là lúa cao sản và phương pháp sạ ướt được sử dụng nhiều nhất (Nguyễn Thành Hối, 2011)

- Phương pháp sạ lan

Đặc điểm của phương pháp này là cây lúa đẻ nhánh sớm, số bông nhiều, năng suất quan hệ chặt chẽ với số bông Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là mật độ thường không đều, bộ rễ ăn nông, dễ bị chim chuột phá hại và lúa thường bị

đổ ngã vào mùa có mưa gió nhiều (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997) Ở ĐBSCL, vụ

Hè Thu thường có mưa nhiều nên sạ lan vào mùa này thường xuyên xảy ra sự đổ ngã làm giảm năng suất và phẩm chất hạt lúa rất lớn

Theo Lê Hữu Toàn (2009) sâu bệnh hại làm năng suất biến động đến 92,43% khi áp dụng phương pháp sạ lan truyền thống Do đó, năng suất lúa sẽ được cải thiện và giữ ổn định khi làm cho sự phát sinh và gây hại của sâu bệnh ở ngưỡng thấp bằng cách sử dụng lượng giống gieo sạ hợp lý

- Phương pháp sạ hàng

Hiện nay, phương pháp sạ hàng ở ĐBSCL đã thể hiện nhiều ưu điểm so với sạ lan như: (1) tiết kiệm vật tư mà chủ yếu là giống và phân bón; (2) tạo điều kiện thuận lợi để thâm canh; (3) giảm thiệt hại cho sâu bệnh; (4) tăng năng suất so với phương pháp sạ lan và (5) kết hợp nuôi cá hay nuôi vịt chóng lớn (Nguyễn Văn Luật, 2001)

Theo Nguyễn Văn Luật và ctv (1999) so với phương pháp sạ lan thì phương

pháp sạ hàng có thể làm giảm được lượng giống sử dụng từ 50-75% Lượng giống giảm được tương ứng khoảng từ 100-150 kg giống/ha Về mật độ sạ thì phương pháp sạ hàng có ưu thế hơn sạ lan vì gieo hàng ít hao giống, ít sâu bệnh và cho năng

Ngày đăng: 22/09/2015, 16:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Đáp ứng của cây lúa đối với nhiệt độ ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa ir 50404 vụ đông xuân năm 20122013 tại quận ô môn thành phố cần thơ
Bảng 1.1. Đáp ứng của cây lúa đối với nhiệt độ ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau (Trang 22)
Bảng 3.1 Ghi nhận tổng quát tình hình sâu bệnh trên giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm  2012-2013 tại quận Ô Môn, TP - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa ir 50404 vụ đông xuân năm 20122013 tại quận ô môn thành phố cần thơ
Bảng 3.1 Ghi nhận tổng quát tình hình sâu bệnh trên giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại quận Ô Môn, TP (Trang 37)
Bảng 3.2 Chiều cao cây (cm) qua các giai đoạn sinh trưởng của giống lúa IR 50404 vụ  Đông Xuân năm 2012-2013 tại  quận Ô Môn, TP - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa ir 50404 vụ đông xuân năm 20122013 tại quận ô môn thành phố cần thơ
Bảng 3.2 Chiều cao cây (cm) qua các giai đoạn sinh trưởng của giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại quận Ô Môn, TP (Trang 38)
Bảng 3.4 Chiều dài bông (cm) của giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại quận - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa ir 50404 vụ đông xuân năm 20122013 tại quận ô môn thành phố cần thơ
Bảng 3.4 Chiều dài bông (cm) của giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại quận (Trang 40)
Bảng 3.5 Các thành phần năng suất của giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại  quận Ô Môn, TP - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa ir 50404 vụ đông xuân năm 20122013 tại quận ô môn thành phố cần thơ
Bảng 3.5 Các thành phần năng suất của giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại quận Ô Môn, TP (Trang 41)
Bảng 3.7 Hiệu quả kinh tế của giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại quận Ô  Môn, TP - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa ir 50404 vụ đông xuân năm 20122013 tại quận ô môn thành phố cần thơ
Bảng 3.7 Hiệu quả kinh tế của giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại quận Ô Môn, TP (Trang 45)
Phụ chương 12: Bảng ANOVA về tỷ lệ hạt chắc của giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa ir 50404 vụ đông xuân năm 20122013 tại quận ô môn thành phố cần thơ
h ụ chương 12: Bảng ANOVA về tỷ lệ hạt chắc của giống lúa IR 50404 vụ Đông Xuân (Trang 53)
Phụ chương 13: Bảng ANOVA về trọng lượng 1000 hạt của giống lúa IR 50404 vụ Đông - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa ir 50404 vụ đông xuân năm 20122013 tại quận ô môn thành phố cần thơ
h ụ chương 13: Bảng ANOVA về trọng lượng 1000 hạt của giống lúa IR 50404 vụ Đông (Trang 54)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm