1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

so sánh bệnh tích mủ tử cung và bệnh viêm tử cung bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng và bệnh tích

55 1,7K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

viii TÓM TẮT Bệnh sinh sản ở chó cái rất phổ biến và thường thấy nhất là bệnh tích mủ tử cung và bệnh viêm tử cung, hai bệnh này có nhiều yếu tố giống nhau nhưng thực tế có thể phân biệ

Trang 1

PHAN NGỌC THIÊN THƯ

SO SÁNH BỆNH TÍCH MỦ TỬ CUNG VÀ BỆNH VIÊM TỬ CUNG BẰNG CÁCH CHẨN ĐOÁN DỰA VÀO THỜI GIAN PHÁT BỆNH,

TRIỆU CHỨNG VÀ BỆNH TÍCH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH THÚ Y

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Cần Thơ, 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH THÚ Y

Tên đề tài:

SO SÁNH BỆNH TÍCH MỦ TỬ CUNG VÀ BỆNH VIÊM TỬ CUNG BẰNG CÁCH CHẨN ĐOÁN DỰA VÀO THỜI GIAN PHÁT BỆNH,

TRIỆU CHỨNG VÀ BỆNH TÍCH

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

MSSV: 3092642 Lớp: Thú y 35

Cần Thơ, 2013

Trang 3

i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN THÚ Y

Luận văn kèm theo đây, với tên đề tài là “SO SÁNH BỆNH TÍCH MỦ

TỬ CUNG VÀ BỆNH VIÊM TỬ CUNG BẰNG CÁCH CHẨN ĐOÁN DỰA

VÀO THỜI GIAN PHÁT BỆNH, TRIỆU CHỨNG VÀ BỆNH TÍCH” do sinh

viên Phan Ngọc Thiên Thư, lớp Thú Y K35 thực hiện và báo cáo được Hội

đồng chấm luận văn thông qua

Cần Thơ, ngày… tháng….năm… Cần Thơ, ngày….tháng….năm…

Cần Thơ, ngày….tháng….năm…

Duyệt khoa Nông Nghiệp & SHƯD

Trang 4

ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Phan Ngọc Thiên Thư

Trang 5

iii

LỜI CẢM ƠN

Qua hơn 4 năm học tập trên giảng đường và 3 tháng thực hiện đề tài tốt nghiệp đã cho tôi những trải nghiệm và cảm xúc quý giá mà gia đình, thầy cô, bạn bè đem đến Nếu không có sự ủng hộ từ phía gia đình, sự giúp đỡ tận tình

từ quý thầy cô và những sẻ chia của bạn bè trang lứa tôi không có được bài luận văn tốt nghiệp này cũng như tôi của ngày hôm nay

Đầu tiên tôi gửi lời biết ơn sâu nặng đến cha mẹ là người đã đem tôi đến cuộc đời này và nuôi dưỡng tôi bằng những tình cảm gia đình ngọt ngào nhất

Và tôi xin trân trọng gửi lời cám ơn đến:

Thầy Nguyễn Văn Biện đã hết lòng hướng dẫn, truyền đạt kiến thức để tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này

Thầy Nguyễn Văn Khanh đã tận tình chỉ dạy tôi trong quá trình thực hiện

Những người bạn của tôi đã luôn luôn chia sẻ, động viên, giúp đỡ tôi những khi tôi gặp khó khăn trong học tập và trong cuộc sống

Xin chân thành biết ơn và kính chúc cha mẹ, quý thầy cô và bạn bè được dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và đạt được thật nhiều thành công trong cuộc sống

Trang 6

iv

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH HÌNH vi

DANH SÁCH BẢNG vii

TÓM TẮT viii

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2

2.1 CẤU TẠO CƠ QUAN SINH DỤC CHÓ CÁI 2

2.1.1 Cấu tạo đại thể 2

2.1.2 Cấu tạo mô học 3

2.1.3 Một số hình thái nội mạc sừng tử cung 5

2.2 CHU KỲ ĐỘNG DỤC CỦA CHÓ CÁI 7

2.3 BỆNH VIÊM TỬ CUNG CẤP TÍNH 8

2.3.1 Nguyên nhân 9

2.3.2 Triệu chứng 9

2.3.3 Chẩn đoán 9

2.3.4 Điều trị 9

2.4 BỆNH TÍCH MỦ TỬ CUNG 10

2.4.1 Nguyên nhân 10

2.4.2 Sinh bệnh học 10

2.4.3 Bệnh tích 11

2.4.4 Triệu chứng 11

2.4.5 Chẩn đoán 12

2.4.6 Điều trị 12

2.5 BỆNH VIÊM ÂM ĐẠO 13

2.5.1 Nguyên nhân 13

2.5.2 Triệu chứng 13

Trang 7

v

2.5.3 Chẩn đoán 13

2.5.4 Điều trị 13

2.6 MỘT SỐ TÌNH TRẠNG SINH SẢN BẤT THƯỜNG 13

2.6.1 Mất thai và sẩy thai sớm 13

2.6.2 Đẻ khó 14

2.6.3 Sót nhau và thai chết lưu 14

Chương 3: NỘI DUNG – PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 15

3.1 Nội dung 15

3.2 Phương tiện thực hiện 15

3.3 Phương pháp tiến hành 16

3.4 Các chỉ tiêu phân loại bệnh tích 17

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18

4.1 Mẫu tử cung chó khoẻ: 19

4.2 Mẫu tử cung chó có thai 20

4.3 Một số ca bệnh 21

4.4 Kết quả tỉ lệ khảo sát 25

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

PHỤ CHƯƠNG I 31

PHỤ CHƯƠNG II: MỘT SỐ HÌNH ẢNH 43

PHỤ CHƯƠNG III: PHIẾU ĐIỀU TRA BỆNH 44

Trang 8

vi

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.2 : Mô tả cấu trúc mô học tử cung giai đoạn trước động dục 4 Hình 2.3: Vi thể sừng tử cung chó giai đoạn trước động dục 6 Hình 2.4: Vi thể sừng tử cung chó giai đoạn động dục 6 Hình 2.5: Vi thể sừng tử cung chó giai đoạn sau động dục 7 Hình 2.6: Vi thể sừng tử cung chó giai đoạn không động dục 7

Hình 4.2: Biểu mô phủ nội mạc tử cung chó bình thường 20

Hình 4.5: Bệnh tích tử cung chó bị viêm, chứa thai chết lưu 21 Hình 4.6: Biểu mô phủ nội mạc tử cung hư thai 21

Trang 10

viii

TÓM TẮT

Bệnh sinh sản ở chó cái rất phổ biến và thường thấy nhất là bệnh tích mủ

tử cung và bệnh viêm tử cung, hai bệnh này có nhiều yếu tố giống nhau nhưng thực tế có thể phân biệt và nên tìm ra cách phân biệt để có phương pháp điều

trị phù hợp, từ mục đích đó chúng tôi thực hiện đề tài “So sánh bệnh tích mủ

tử cung và bệnh viêm mủ tử cung trên chó bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng lâm sàng và bệnh tích” được thực hiện từ

tháng 8/2013 đến 11/2013 tại Bệnh xá Thú Y trường Đại học Cần Thơ.Để phân biệt hai bệnh này đầu tiên chó được khảo sát phải xác định được thời điểm phát bệnh sau khi lên giống hay sau khi đẻ, xảy thai, sót nhau, thai chết lưu, phối giống nhiều lần… sau đó quan sát những triệu chứng lâm sàng chung như: bụng to, tiết dịch đường sinh dục, sốt, ói mửa, mệt mỏi, khát nước…cuối cùng là quan sát bệnh tích đại thể và vi thể của hai bệnh này Trong 31 mẫu khảo sát thì có 20 mẫu bệnh gồm: 6 mẫu trường hợp chó bị tích mủ tử cung với tử cung tích đầy mủ, thành mỏng, mạch máu trên thành hiện rõ; 7 mẫu chó

bị viêm tử cung thì thành tử cung dày và không thấy mạch máu; bên cạnh đó còn 7 trường hợp mẫu tích mủ có viêm với bệnh tích thành dày tương đối, mạch máu không rõ, lòng tử cung chứa đầy mủ, những phân biệt này cũng được kiểm chứng qua thời điểm phát bệnh và vi thể

Trang 11

1

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh viêm tử cung và tích mủ tử cung là những bệnh sinh sản gây tác hại không nhỏ đối với chó Nhưng hai bệnh này giống nhau trên nhiều phương diện nhất là triệu chứng bệnh, tuy nhiên theo lý thuyết thời điểm phát bệnh khác nhau thì bệnh tích trên tử cung cũng khác nhau, từ đó chúng tôi thực hiện

so sánh hai bệnh này trên các mặt thời gian phát bệnh, triệu chứng lâm sàng,

bệnh tích đại thể và vi thể Đề tài "So sánh bệnh tích mủ tử cung và bệnh

viêm mủ tử cung trên chó bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng lâm sàng và bệnh tích"

Với mục tiêu nhằm để phân biệt được bệnh tích mủ tử cung và viêm tử cung thì dựa vào cách chẩn đoán nào cho kết quả chính xác và thực tế nhất

Trang 12

2

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 CẤU TẠO CƠ QUAN SINH DỤC CHÓ CÁI

2.1.1 Cấu tạo đại thể

Cấu tạo cơ quan sinh dục chó gồm có noãn sào, ống dẫn noãn, tử cung,

âm đạo, tiền đình và âm hộ

a Noãn sào: Noãn sào chó có hình bầu dục, dài và dẹt, dài khoảng 2 cm Mỗi noãn sào thường ở sau hay tiếp xúc với cực sau của thận tương ứng và như thế nằm đối diện với đốt sống hông 3,4 Cắt ngang noãn sào ta thấy ngoài cùng là miền vỏ, có nhiều noãn bào phát triển ở các giai đoạn khác nhau, bên trong là miền tuỷ có chứa nhiều mạch máu và dây thần kinh Noãn bào sẽ rụng khi chín và được phần loa kèn hứng lấy, chỗ noãn rụng sẽ biến thành hoàng thể có chức năng nội tiết

b Ống dẫn trứng: ống dẫn trứng của chó nhỏ, dài khoảng 5-8 cm

c Tử cung: Nằm trong xoang chậu, phía dưới trực tràng và phía trên bàng quang Tử cung thông với ống dẫn noãn về phía trước và với âm đạo về phía sau, tử cung gồm các phần:

- Sừng tử cung: dài khoảng 12-15cm Các sừng có đường kính đồng đều

và gần như thẳng Từ thân chúng rẽ ra thành hình chữ V hướng về mỗi thận Hình dáng kích thước sừng tử cung thay đổi theo tuổi và tuỳ thời kỳ sinh dục

- Thân tử cung: dài khoảng 2-3 cm, có hình ống, phía trước thông với đầu sừng tử cung, phía sau thông với âm đạo qua cổ tử cung

- Cổ tử cung: cổ tử cung chó ngắn, thành cổ tử cung dầy

d Âm đạo: âm đạo chó tương đối dài và hẹp ở phần trước

e Âm hộ: là cửa sau của cơ quan sinh dục cái, thông ra ngoài bởi một khe thẳng đứng, nằm dưới hậu môn, được giới hạn bởi 2 mép dầy ở 2 bên và chụm lại bằng 1 chóp nhọn ở phía dưới Thành âm hộ có các tuyến nhờn Ngoài ra, ở mép dưới cũng có một cơ cấu đặc biệt là âm vật, nằm trong một hố nhỏ (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007)

Trang 13

3

Hình 2.1 Cấu tạo đại thể tử cung chó cái

Nguồn: http://www.vetmed.wsu.edu/ClientED/anatomy/images/female.jpg

2.1.2 Cấu tạo mô học

Về cấu trúc thành vách, mỗi phần của đường sinh dục có 4 lớp:

- Lớp ngoài cùng là màng tương nối kết với màng phúc mạc của mặt trong thành bụng

- Lớp cơ trơn gồm: cơ dọc và cơ vòng

- Lớp dưới màng nhầy chứa mạch máu thần kinh và mạch bạch huyết Lớp màng nhầy lót mặt trong đường sinh dục gồm một lớp tế bào biểu

mô có khả năng phân tiết Lớp màng nhầy và lớp dưới màng nhầy gọi là nội mạc (Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2006)

Cơ tử cung: gồm nhiều lớp cơ trơn ngăn bởi mô liên kết, xếp theo 4 lớp không phân định rõ rệt Lớp trong cùng và lớp ngoài cùng chủ yếu gồm lớp cơ vòng dày, lớp cơ dọc mỏng hơn, 2 lớp giữa có nhiều mạch máu lớn Trong thời kỳ mang thai, tử cung phát triển mạnh, tăng về số lượng, nhờ phân chia các tế bào cơ trơn cũng như sự trương to của từng tế bào cơ Sau giai đoạn mang thai, một số tế bào cơ trơn tiêu đi và các tế bào cơ khác giảm kích thước Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt, trương lực càng cao khi có

Trực tràng

Niệu quản

Trang 14

4

nhiều estrogen trong máu và trương lực co giảm khi có nhiều progesterone trong máu (Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2006) Vai trò của tử cung cũng góp phần cho sự di chuyển của tinh trùng và chất nhầy trong tử cung, đồng thời đẩy thai ra ngoài khi sinh đẻ

Nội mạc tử cung: gồm lớp biểu mô và lớp đệm Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết chất vào lòng tử cung để giúp phôi phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng

Lớp biểu mô: phủ lên lớp niêm mạc của thân tử cung là biểu mô đơn,

cấu tạo bởi 3 loại tế bào: tế bào trụ có lông và tế bào trụ không lông là chủ yếu, ngoài ra còn có tế bào trung gian Một số chỗ lớp biểu mô đã phủ sâu xuống lớp đệm và tạo ra các tuyến của niêm mạc thân tử cung

Lớp đệm: là lớp có rất nhiều tế bào liên kết, lớp đệm có chứa nhiều

tuyến của lớp niêm mạc thân tử cung Trong lớp đệm còn có các tế bào Lympho có vai trò trong các phản ứng miễn dịch có liên quan đến khả năng sinh sản Trong lớp đệm còn có nhiều mạch (động mạch, tĩnh mạch, mao mạch máu và mạch bạch huyết), trừ vùng giáp với cổ tử cung

Hình 2.2 Mô tả cấu trúc mô học tử cung giai đoạn trước động dục

Nguồn: http://instruction.cvhs.okstate.edu

Màng tương

Vùng mao mạch

Cơ tử cung

Tuyến tử cung

Trang 15

5

2.1.3 Một số hình thái nội mạc sừng tử cung

2.1.3.1 Giai đoạn trước khi thành thục tính dục

Nội mạc thân tử cung mỏng, các tuyến nằm trong lớp đệm là tuyến giả, ngắn và thẳng vì mới nảy mầm, chưa phát triển, chưa chế tiết Nội mạc thân tử cung không có những biến đổi cấu tạo có tính chu kỳ

2.1.3.2 Giai đoạn thành thục tính dục

Nội mạc tử cung có những biến đổi cấu tạo có tính chu kỳ theo mùa động dục và chia làm hai lớp: lớp sâu mỏng, nằm giáp với tầng cơ tử cung, ít có những biến đổi cấu tạo; lớp nông, gọi là lớp chức năng rất dày, giáp với khoang tử cung Chiều dày và cấu tạo lớp này biến đổi rất mạnh theo chu kỳ Theo Lâm Thị Thu Hương (2005) sự biến đổi nội mạc sừng tử cung theo chu kỳ sinh dục như sau:

Thời kỳ trước động dục (khoảng 9 ngày) nội mạc tử cung phù nề, xuất

huyết do tác động của estrogen lên mạch máu nội mạc, biểu mô phủ trụ đơn và tuyến tử cung

Thời kỳ động dục (khoảng 9 ngày) rụng trứng xảy ra ngay sau khi bắt

đầu động dục từ khoảng 3-4 ngày, thể vàng thực hiện chức năng nội tiết tác động lên nội mạc tử cung, làm các tuyến kẽ phát triển, biểu mô tuyến thành hình trụ cao và các ống tuyến xoắn cuộn lớn

Thời kỳ sau động dục (khoảng 3 tháng) là giai đoạn hoàng thể tiết

progesterone làm nội mạc thân tử cung tiếp tục dày thêm, chuẩn bị đón trứng

đã thụ tinh, nếu có trứng thụ tinh, bề dày của nội mạc tử cung giảm, các tuyến ngưng tiết và giảm kích thước

Thời kỳ không động dục – nghỉ ngơi (khoảng 2 tháng) nếu không có

thai làm tổ, nội mạc tử cung mỏng dần, phủ biểu mô hình vuông, các tuyến thẳng và teo lại

Trang 16

6

Hình 2.3 Vi thể sừng tử cung chó giai đoạn trước động dục (x12.5)

Nguồn: William J Bacha et al, 2012

Hình 2.4 Vi thể sừng tử cung chó giai đoạn động dục (x12.5)

Nguồn: William J Bacha et al, 2012

4 Tuyến nội mạc

7 Cơ vòng tử cung

9.Vùng mao mạch máu

8 Cơ dọc tử cung

Trang 17

7

Hình 2.5 Vi thể sừng tử cung chó giai đoạn sau động dục (x12.5)

Nguồn: William J Bacha et al, 2012

Hình 2.6 Vi thể sừng tử cung chó giai đoạn không động dục (x25)

Nguồn: William J Bacha et al, 2012

2.2 CHU KỲ ĐỘNG DỤC CHÓ CÁI

Lần động dục đầu tiên thay đổi tùy giống chó Đối với loài nhỏ con: động dục lúc 6-8 tháng tuổi, loài lớn con 1,5-2 năm tuổi Mỗi năm có 2 lần động dục, mỗi lần cách nhau khoảng 6 tháng Thời gian động dục từ 5-19 ngày, có trường hợp 17-19 ngày Thời gian rụng trứng trong 3-4 ngày đầu của thời kỳ động dục (Nguyễn Thị Kim Đông và Nguyễn Văn Thu, 2009) Chu kỳ động dục bao gồm 4 giai đoạn:

Trang 18

8

- Thời kỳ trước động đục: FSH do thùy trước tuyến yên tiết ra, kích thích buồng trứng làm cho nang noãn phát triển và tiết ra nhiều estrogen Lượng dịch tiết nhiều sẽ làm cho thể tích của bao noãn tăng lên và nổi lên mặt ngoài buồng trứng Estrogen vào máu tuần hoàn khắp cơ thể, tác động lên trung khu đại não làm hưng phấn sinh dục (thể hiện các triệu chứng động dục bên ngoài như nhảy lên con khác, nhưng không cho con đực phối) và tác động đến các

cơ quan sinh dục làm biến đổi bộ máy sinh dục (vú nở to, âm hộ sưng, xung huyết, tử cung dày lên…)

- Thời kỳ động dục: Hàm lượng estrogen trong giai đoạn này đạt nồng độ cao nhất Estrogen với nồng độ cao sẽ tác động ngược dương tính lên Hypothalamus và thuỳ trước tuyến yên làm tiết LH và FSH LH tác động vào buồng trứng làm trứng chín do nó có tác dụng hoạt hoá các enzyme để phân giải protein làm phân giải vách bao noãn, kết hợp với FSH (với tỉ lệ LH/FSH khoảng 3/1) làm noãn bao vỡ ra, trứng rụng khỏi buồng trứng và rơi vào loa kèn Đây là thời kỳ thể hiện tính dục cao nhất của thú cái, chấp nhận cho con đực phối giống

- Thời kỳ sau động dục: Thú cái trở nên yên tĩnh, không thích gần đực Buồng trứng hình thành thể vàng tiết progesteron tác động lên Hypothalamus

và thuỳ trước tuyến yên (tác động ngược âm tính), ức chế tuyến yên tiết FSH,

LH làm cho quá trình động dục chấm dứt Progesteron lại tác động vào tử cung, làm tử cung dày lên tạo điều kiện tốt cho sự làm tổ của hợp tử Nếu con vật có thai thì thể vàng tồn tại suốt thời gian mang thai, nó là nhân tố bảo vệ

an toàn cho thai phát triển Nếu không có thai, thể vàng tồn tại khoảng 10-16 ngày (tùy từng giống) sau đó teo dần đi Hàm lượng progesteron cũng từ đó

mà giảm, giảm đến mức độ nhất định nó lại cùng với các nhân tố khác kích thích vỏ đại não, Hypothalamus tuyến yên tăng cường phân tiết FSH, chu kỳ mới lại tiếp tục hình thành

- Thời kỳ yên tĩnh: sự yên tĩnh của cơ thể trở lại hoàn toàn Thể vàng tiêu biến, nang noãn mới lại phát triển dần, một chu kỳ mới lại bắt đầu (Phan Vũ Hải, 2006)

2.3 BỆNH VIÊM TỬ CUNG CẤP TÍNH (METRITIS)

Bệnh thường xảy ra đối với trường hợp xảy thai, thai chết lưu, sót nhau,

đẻ khó Viêm tử cung không đồng nghĩa với tích mủ tử cung – tăng sản nội mạc tử cung kết hợp với nhiễm trùng thứ cấp (Rhea V Morgan, 1988) Đặc điểm của bệnh là quá trình viêm làm phá hủy tế bào ở các lớp của tử cung làm ảnh hưởng đến sức khỏe của vật nuôi, gây hiện tượng rối loạn sinh sản thậm chí mất khả năng sinh sản

Trang 19

9

2.3.1 Nguyên nhân

Do gieo tinh nhân tạo hay phối giống tự nhiên trong thời kỳ lên giống (Larry P Tilley and Francis W.K Smith, 1997) Đẻ khó, thao tác sản khoa và kéo thai lúc đẻ khó, thai chết lưu hoặc sót nhau và nhiễm trùng xảy ra từ những ca đẻ bình thường trong điều kiện kém vệ sinh (C L Forsberg, 1999) Những nguyên nhân trên tạo điều kiện cho vi khuẩn từ bên ngoài xâm nhập vào tử cung, vào những vết trầy xước trên niêm mạc và phát triển gây bệnh

Sinh bệnh học: viêm tử cung là một dạng viêm cấp tính xảy ra trên nội

mạc tử cung và có sự tấn công của vi khuẩn xâm nhập từ ngoài vào Theo M.L Magne (2005) các nhóm vi khuẩn gram âm được phân lập từ tử cung bị viêm

như Escherichia coli và Proteus, ngoài ra còn có Staphylococcus và Streptococcus

2.3.3 Chẩn đoán

Dựa vào lịch sử bệnh lý, dấu hiệu lâm sàng như có triệu chứng bệnh toàn thân sau khi đẻ, dịch tiết bất thường chảy ra từ âm đạo Khi sờ nắn vùng bụng cảm giác tử cung phình to

Chẩn đoán bằng X-quang và siêu âm để xác định xem tình trạng tử cung, thành tử cung dày lên, có thể chứa dịch bên trong

Đếm tế bào máu ta có thể thấy sự tăng bạch cầu chưa trưởng thành Lấy dịch tiết đem nhuộm có thể thấy tế bào biểu mô, sự thoái hóa của bạch cầu và vi khuẩn

2.3.4 Điều trị

Truyền dịch trong trường hợp con vật bị mất nước hoặc bị sốc

Dùng kháng sinh có hoạt phổ rộng, nhất là những kháng sinh có khuynh hướng chống lại E.coli như:

- Cephalosporin với liều 20-40 mg/kg ngày 2-3 lần cho uống hoặc tiêm

Trang 20

Giải phẫu: biện pháp cắt bỏ buồng trứng và tử cung trong trường hợp chó

có biểu hiện bệnh trầm trọng và chó không cần sinh đẻ nữa (Nguyễn Văn Biện, 2000)

tử cung là môi trường rất tốt cho vi khuẩn phát triển

2.4.2 Sinh bệnh học

Theo Kustritz (2005), sinh bệnh học của tích mủ tử cung gồm 2 bước:

- Bước 1 là sự phát triển quá trình tăng sản nội mạc tử cung do sự rối loạn nội tiết từ các chu kỳ động dục trên chó cái Trong đó progesteron là tác nhân quan trọng, đặc biệt bệnh sẽ phát nhanh nếu progesteron xuất hiện sau tác động của estrogen Loại hormone khác có liên quan là IGF-I, nhân tố phát triển, nằm bên trong và quanh các biểu mô nội mạc tử cung có thể đóng vai trò

quan trọng trong sự phát triển của bệnh (De Cock et al, 2002) Một số

hormone ngoại sinh estrogen ( diethylstilbestrol – DES, estradiol cypionate – ECP), progestin (megestrol acetate, medroxyprogesterone acetate) cũng có thể gây tích mủ

Dưới tác động của progesteron, tuyến nội mạc tử cung phát triển và tăng tiết, cơ tử cung hạn chế co bóp, bên cạnh đó các phản ứng bạch cầu cũng bị ức chế do progesteron

- Bước 2 là sự xâm nhiễm của hệ vi khuẩn từ âm đạo, có thể các vi khuẩn này xâm nhập lúc cổ tử cung dãn nở ở thời kỳ tiền lên giống Ngoài ra vi khuẩn đường tiết niệu và vi khuẩn đường huyết cũng là nguồn bệnh đáng kể

Trang 21

- Giai đoạn 2 là giai đoạn tăng sản nội mạc tử cung với sự tăng các tuyến

và xâm nhập tuơng bào Dấu hiệu lâm sàng thường là sự tiết dịch âm đạo giữa 40-70 ngày sau động dục

- Giai đoạn 3 là tăng sản nội mạc và viêm nội mạc cấp tính Các khu vực xuất huyết và loét nội mạc mở rộng, biến đổi màu dịch trong tử cung từ nâu đỏ đến xanh vàng Tác động viêm cấp được đặc trưng bởi sự sung huyết, phù và

sự thấm bạch cầu trung tính từ bề mặt đến phần sâu trong nội mạc, cơ tử cung

- Giai đoạn 4 là viêm nội mạc mãn tính Nếu cổ tử cung mở, dịch tử cung thoát ra, sừng tử cung sẽ hẹp tiết diện do thành càng dày, giảm tiết dịch Nội mạc tử cung bị teo và xâm nhiễm các tế bào plasma và lympho bào Nếu cổ tử cung đóng, thành tử cung phình to và hoá sợi

2.4.4 Triệu chứng

Tùy theo tình trong viêm ở bên trong tử cung có chảy ra ngoài qua đường âm đạo hay không mà người ta chia viêm tử cung làm hai dạng là viêm

mủ tử cung thể kín và viêm mủ tử cung thể hở

Viêm mủ tử cung thể hở

Ở chó bị viêm mủ tử cung thể hở, dịch viêm bên trong tử cung sẽ tràn ra ngoài âm đạo Khi đó sẽ thấy dịch viêm ở âm hộ hoặc dính vào vùng lông dưới đuôi Dịch viêm có mủ hoặc lẫn máu, xuất hiện sau khi lên giống 4-8 tuần (Nelson and Feldman, 1987) Con vật lừ đừ, suy nhược, tiểu nhiều, khát nước, biếng ăn và ói mửa

Khám lâm sàng vùng bụng thấy tử cung căng to Con vật có thể sốt hoặc không, nếu có sốc thì thấy tim đập yếu, nhanh

Viêm mủ tử cung thể kín

Viêm mủ tử cung thể kín có biểu hiện triệu chứng bên ngoài trầm trọng hơn viêm mủ tử cung thể hở Vì cổ tử cung đóng không cho phép dịch bài tiết xuất ra ngoài nên bệnh trở nên âm ỉ bên trong, chủ nuôi khó phát hiện Con vật suy nhược, bỏ ăn, bụng căng, tử cung nở lớn, tiểu nhiều, khát nước, ói mửa và

Trang 22

12

tiêu chảy Ói thường xảy ra do nhiễm độc huyết và rối loạn chức năng thận Những triệu chứng trên có thể diễn biến nhanh làm cho con vật hạ nhiệt, mất nước nghiêm trọng, sốc hôn mê và chết

2.4.5 Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định bệnh tích mủ tử cung từ bệnh sử của con vật, khám lâm sàng, kết hợp một số biện pháp cận lâm sàng cần thiết như X-quang vùng bụng, siêu âm, nội soi âm đạo, mổ ổ bụng

2.4.5.1 Chẩn đoán lâm sàng

Hỏi bệnh nghi ngờ ở những chó già trên 6 năm trong gian đoạn sau động dục, hoặc những chó gần đây có điều trị bằng hormone (Rhea V Morgan, 2008) Trong tích mủ tử cung dạng hở, thấy tiết dịch âm hộ, sờ nắn vùng bụng

có thể phát hiện sừng tử cung sưng và cứng chắc, còn ở dạng kín thì có thế thấy vùng bụng lớn bất thường

2.4.5.2 Chẩn đoán cận lâm sàng

Chụp X- quang bụng có thể thấy khối chất lỏng chiếm diện tích phần đuôi bụng đẩy ruột lên phần lưng và bụng trước

Đếm tế bào máu có thể phát hiện sự tăng bạch cầu đa nhân trong tích mủ dạng kín, bạch cầu đơn nhân trong tích mủ dạng hở Xét nghiệm tế bào học dịch tiết âm đạo thấy các tế bào đa nhân trung tính thoái hoá, vi khuẩn và tế bào biểu mô trung gian (S P Shukla, N K Bajaj and M K Shukla 2012) Siêu âm có thể thấy do vùng thành tử cung tăng âm tạo nên một viền trắng sáng hình vòng cung cho thấy thành tử cung dày lên, vùng trong lòng tử cung giảm hồi âm tạo nên vùng màu đen đậm cho thấy vùng này chứa nhiều dịch viêm, nếu dịch trong tử cung loãng như nước thì giảm âm tăng, ảnh siêu

âm có vùng đen rõ ràng, nếu dịch trong tử cung đặc thì giảm âm không nhiều, ảnh chỉ có vung hơi đen, khoảng cách giữa vùng giảm âm cho biết độ lớn của

tử cung tích dịch (Nguyễn Văn Dương, 2010)

- Phương pháp dùng Prostaglandin F2 : nhằm gây co thắt tử cung, dãn

nở tử cung và tống chất chứa tử cung ra, ngoài ra thuốc còn làm tiêu hoàng thể

Trang 23

13

và ngăn trở chức năng của nó từ đó làm giảm nồng độ progesterone huyết tương Liều lượng: 0,25 mg/kg thể trọng tiêm dưới da mỗi ngày một lần trong

5 ngày Trong điều trị kết hợp với truyền dịch khi con vật bị mất nước và sốc

Sử dụng kháng sinh có hoạt phổ rộng trong 7-10 ngày

2.5 BỆNH VIÊM ÂM ĐẠO (VAGINITIS)

2.5.1 Nguyên nhân

Viêm âm đạo ở chó cái do nhiễm trùng là nguyên nhân phổ biến Một số

vi khuẩn như E coli, Brucella canis… có thể do nhiễm trùng thứ phát từ

những điều kiện bất thường, ngoại vật, khối u, tăng sinh trong âm đạo, nhiễm trùng đường tiểu

2.5.4 Điều trị

Theo nguyên tắc loại trừ nguyên nhân và khống chế nhiễm trùng Nên thụt rửa ngày 2 lần nước pha nitrofurazone Sử dụng kháng sinh phổ rộng cho trường hợp viêm lâu dài và con vật có triệu chứng toàn thân

2.6 MỘT SỐ TÌNH TRẠNG SINH SẢN BẤT THƯỜNG

Thời gian mang thai trung bình ở chó là 63 ngày, với giá trị trung bình là

tù 56-72 ngày tính từ lần giao phối đầu tiên, chiều dài của thai kỳ còn do ảnh hưởng của ổ đẻ, giống…

2.6.1 Mất thai và sẩy thai sớm (early fetal loss and abortion)

Mất thai và sẩy thai xảy ra trước 45 ngày, nếu chết thai và sẩy thai tự nhiên trước 35 ngày có thể khó nhận biết được vì có sự tái hấp thu thai xảy ra Tuy nhiên nếu chẩn đoán thai sớm bằng phương pháp siêu âm có thể phát hiện các trường hợp tái hấp thu thai thường xuyên xảy ra trên chó mang thai (C L Forsberg, 1994)

Nguyên nhân không truyền nhiễm chủ yếu là do thể vàng sản xuất không

đủ progesterone để duy trì thai

Trang 24

14

Nguyên nhân truyền nhiễm với tác động của độc tố vi khuẩn lên nhau thai Một số bệnh gây sẩy thai:

- Brucella canis: bệnh gây sẩy thai ở khoảng 45-55 ngày của thai kỳ với

dấu hiệu tiết dịch âm đạo màu xanh xám kéo dài 1-6 tuần

- Toxoplasma gondii và Neospora canium: chó cái nhiễm không có triệu

chứng lâm sàng nhưng gây ảnh hưởng đến thai, thường hiếm gặp Bệnh có các trường hợp sinh non, thai chết lưu, thai yếu

- Herpesvirus: Bệnh gây tác động phụ thuộc vào giai đoạn mang thai

Nếu nhiễm bệnh trong giai đoạn đầu gây chết thai và thai khô, trong giai đoạn giữa cũng sẩy thai và trong giai đoạn sau gây sinh non, thực tế nếu nhiễm bệnh chó cái có thể sinh chó con khoẻ mạnh nhưng chó con có thể bị bệnh trong 1-2 tuần đầu, nếu sống sót thường bị mù, điếc, rối loạn vận động…

2.6.2 Đẻ khó (dystocia)

Theo Sille VM (1983) (trích dẫn Trần Thị Hằng Nga, 2008) quá trình đẻ kéo dài gọi là đẻ khó Có nhiều nguyên nhân gây đẻ khó, có thể do khiếm khuyết của cơ tử cung, bất thường biến dưỡng, hạ calci huyết, đường sinh sản

bị trở ngại do xoang chậu hẹp, thiếu dãn nở, thiếu hormone thai, thai quá lớn, thai chết, tư thế thai bất thường… thông thường đẻ khó đến từ nguyên nhân của chó mẹ ở lần lứa sinh sản đầu tiên do cơ thể chưa hoàn chỉnh về cấu trúc

và sinh lý (Larry P Tilley and et al, 1997)

2.6.3 Sót nhau và thai chết lưu (retained placentas and fetuses)

Sót nhau và thai chết lưu gây nghiêm trọng cho chó cái, đặc biệt nếu có kết hợp với sự nhiễm khuẩn Dấu hiệu lâm sàng của sót nhau gồm tiết dịch âm đạo xám đen, xanh đen, có thể sờ thấy nhau sót trong tử cung qua thành bụng Điều trị bằng 1-5 IU oxytocin tiêm SQ hoặc IM 2-4 lần mỗi ngày trong 3 ngày để trục xuất thai và nhau lưu, kết hợp điều trị kháng sinh cho chó (C L Forsberg)

Trang 25

3.2 Phương tiện thực hiện

3.2.1 Thời gian và địa điểm thực hiện

Thời gian thực hiện: từ tháng 08/2013 - 11/2013

Địa điểm lấy mẫu:

- Bệnh xá Thú Y trường Đại Học Cần Thơ, đường 3/2, P Xuân Khánh,

3.2.2 Đối tượng nghiên cứu

Chó cái được phẫu thuật cắt bỏ tử cung do yêu cầu thiến, bệnh tích mủ tử cung, viêm tử cung sau khi đẻ, không phân biệt giống, độ tuổi

3.2.3 Dụng cụ

Bộ dụng cụ phòng mổ gồm một số dụng cụ thông thường ở phòng thí nghiệm như: Dao, kéo, cân, lọ đựng mẫu, găng tay

3.2.4 Thiết bị

Máy cắt vi mẫu (Microtome), kính hiển vi, máy chụp ảnh

3.2.5 Hóa chất

Formol 10%

Trang 26

16

3.3 Phương pháp tiến hành

3.3.1 Giai đoạn chẩn đoán bệnh

Phương pháp chẩn đoán xác định bệnh viêm tử cung và tích mủ tử cung trên chó cái được thực hiện theo trình tự các bước sau:

so với thời điểm lên giống hoặc mang thai và đẻ

Chẩn đoán lâm sàng

Quan sát tổng quát con vật như: Mắt, mũi, tai, lông, da, hàng vú, lỗ sinh dục Sờ nắn vùng bụng, lấy nhiệt độ cơ thể Chú ý các triệu chứng bụng to, màu dịch âm hộ, lượng dịch

Sau đó cắt để mở tử cung và quan sát chất chứa bên trong có thai chết, nhau sót, mủ, máu đánh giá độ dày của thành tử cung Cuối cùng lấy mẫu bệnh phẩm

3.3.3 Giai đoạn thu thập mẫu

Bệnh phẩm được lấy từ sừng tử cung sau phẫu thuật với kích thước 1cm

x 1cm ở vùng tiếp giáp mô lành và mô bệnh

Mẫu được bảo quản trong lọ nhựa nhỏ, có chứa formaldehyde 10% để cố định mẫu

Trang 27

Dịch tử cung: quan sát màu sắc, lượng dịch trong tử cung

Chất chứa trong tử cung: có thai, sót nhau, máu, mủ

Mức độ sung huyết, xuất huyết của niêm mạc, áo cơ

Hình dạng các tế bào biểu mô phủ nội mạc tử cung

Nang tuyến nội mạc thay đổi độ lớn, hình dạng tế bào nang tuyến, lòng nang tuyến có chứa bạch cầu hay tương dịch

Có thể thấy mức độ xơ hoá và mòn niêm mạc

Tế bào bạch cầu đa nhân trung tính xâm nhập ở mức độ nội mạc, lớp đệm hay trong áo cơ

Ngày đăng: 22/09/2015, 15:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Cấu tạo đại thể tử cung chó cái. - so sánh bệnh tích mủ tử cung và bệnh viêm tử cung bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng và bệnh tích
Hình 2.1 Cấu tạo đại thể tử cung chó cái (Trang 13)
Hình 2.2 Mô tả cấu trúc mô học tử cung giai đoạn trước động dục. - so sánh bệnh tích mủ tử cung và bệnh viêm tử cung bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng và bệnh tích
Hình 2.2 Mô tả cấu trúc mô học tử cung giai đoạn trước động dục (Trang 14)
Hình 2.3 Vi thể sừng tử cung chó giai đoạn trước động dục (x12.5) - so sánh bệnh tích mủ tử cung và bệnh viêm tử cung bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng và bệnh tích
Hình 2.3 Vi thể sừng tử cung chó giai đoạn trước động dục (x12.5) (Trang 16)
Hình 2.4 Vi thể sừng tử cung chó giai đoạn động dục (x12.5) - so sánh bệnh tích mủ tử cung và bệnh viêm tử cung bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng và bệnh tích
Hình 2.4 Vi thể sừng tử cung chó giai đoạn động dục (x12.5) (Trang 16)
Hình 2.5 Vi thể sừng tử cung chó giai đoạn sau động dục (x12.5) - so sánh bệnh tích mủ tử cung và bệnh viêm tử cung bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng và bệnh tích
Hình 2.5 Vi thể sừng tử cung chó giai đoạn sau động dục (x12.5) (Trang 17)
Hình 2.6 Vi thể sừng tử cung chó giai đoạn không động dục (x25) - so sánh bệnh tích mủ tử cung và bệnh viêm tử cung bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng và bệnh tích
Hình 2.6 Vi thể sừng tử cung chó giai đoạn không động dục (x25) (Trang 17)
Hình 4.1 Mẫu tử cung bình thường. - so sánh bệnh tích mủ tử cung và bệnh viêm tử cung bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng và bệnh tích
Hình 4.1 Mẫu tử cung bình thường (Trang 30)
Hình 4.4 Tuyến nội mạc tử cung chó có thai. (10x10) - so sánh bệnh tích mủ tử cung và bệnh viêm tử cung bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng và bệnh tích
Hình 4.4 Tuyến nội mạc tử cung chó có thai. (10x10) (Trang 31)
Hình 4.5: Bệnh tích đại thể tử cung bị viêm, bên trong chứa thai chết. - so sánh bệnh tích mủ tử cung và bệnh viêm tử cung bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng và bệnh tích
Hình 4.5 Bệnh tích đại thể tử cung bị viêm, bên trong chứa thai chết (Trang 31)
Hình 4.6: Biểu mô phủ nội mạc tử cung bị viêm bạch cầu nằm dưới lớp - so sánh bệnh tích mủ tử cung và bệnh viêm tử cung bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng và bệnh tích
Hình 4.6 Biểu mô phủ nội mạc tử cung bị viêm bạch cầu nằm dưới lớp (Trang 31)
Hình 4.9: Tử cung tích mủ thành mỏng và mạch máu hiện rõ. - so sánh bệnh tích mủ tử cung và bệnh viêm tử cung bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng và bệnh tích
Hình 4.9 Tử cung tích mủ thành mỏng và mạch máu hiện rõ (Trang 33)
Hình 4.12: Biểu mô tuyến thoái hoá dẹt, tích tương dịch trong ống tuyến. - so sánh bệnh tích mủ tử cung và bệnh viêm tử cung bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng và bệnh tích
Hình 4.12 Biểu mô tuyến thoái hoá dẹt, tích tương dịch trong ống tuyến (Trang 34)
Hình 4.13: Bệnh tích đại thể tích mủ có viêm. - so sánh bệnh tích mủ tử cung và bệnh viêm tử cung bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng và bệnh tích
Hình 4.13 Bệnh tích đại thể tích mủ có viêm (Trang 34)
Bảng 4.4 Tỉ lệ chó bị bệnh theo lứa đẻ - so sánh bệnh tích mủ tử cung và bệnh viêm tử cung bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng và bệnh tích
Bảng 4.4 Tỉ lệ chó bị bệnh theo lứa đẻ (Trang 36)
Hình 5: Lấy nhau sót trong tử cung  Hình 6:Chó cái bệnh tử cung - so sánh bệnh tích mủ tử cung và bệnh viêm tử cung bằng cách chẩn đoán dựa vào thời gian phát bệnh, triệu chứng và bệnh tích
Hình 5 Lấy nhau sót trong tử cung Hình 6:Chó cái bệnh tử cung (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w