1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 6976 vụ hè thu năm 2012 tại xã đại hải, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng

53 588 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, người dân có tập quán truyền thống gieo sạ với mật độ cao khoảng 200 kg/ha, nhưng trong thực tế lúa là loại cây có khả năng tự điều chỉnh trong quần thể, nếu sạ với mật độ quá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN DUY HIẾN

ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA OM 6976 VỤ HÈ THU NĂM 2012

TẠI XÃ ĐẠI HẢI, HUYỆN KẾ SÁCH,

TỈNH SÓC TRĂNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

GS.TS Nguyễn Bảo Vệ Nguyễn Duy Hiến ThS Trần Thị Bích Vân MSSV: 3103459 Lớp: NH K36

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN DUY HIẾN

Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013

Cán bộ hướng dẫn

GS.TS Nguyễn Bảo Vệ ThS Trần Thị Bích Vân

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP

- O  -

Hội đồng khoa học chấm luận văn tốt nghiệp với đề tài:

“ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA OM 6976 VỤ HÈ THU NĂM 2012

TẠI XÃ ĐẠI HẢI, HUYỆN KẾ SÁCH,

Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức: ………

Cần Thơ, ngày……tháng… năm 2013

Thành viên Hội đồng

DUYỆT KHOA Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Nguyễn Duy Hiến

Trang 6

Các bạn sinh viên ngành Nông học, Khóa 36 đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Trang 7

Năm 1997 tốt nghiệp tiểu học

Năm 2002 tốt nghiệp trung học cơ sở

Năm 2005 tốt nghiệp trung học phổ thông

Năm 2010-2013 là sinh viên nghành Nông học khóa 36, Trường Đại học Cần Thơ

Trang 8

NGUYỄN DUY HIẾN “ Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa OM6976 vụ Hè Thu năm 2012 tại Xã Đại Hải, Huyện Kế Sách, Tỉnh Sóc Trăng ” Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng,

trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: GS TS Nguyễn Bảo Vệ và ThS Trần Thị Bích Vân

TÓM LƯỢC

Đề tài “Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến năng suất giống lúa OM 6976

vụ Hè Thu 2012 tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng” được thực hiện nhằm mục

tiêu xác định mật độ gieo sạ thích hợp để làm tăng năng suất lúa và hiệu quả kinh tế cao nhất trong sản xuất ở vùng nghiên cứu Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Hè Thu năm 2012-2013 tại xã Đại Hải, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, ba lần lặp lại, bao gồm các nghiệm thức: sạ ở mật độ 200 kg/ha, sạ ở mật độ 150 kg/ha, sạ ở mật độ 100 kg/ha Kết quả thí cho thấy trong vụ Hè Thu năm 2012 với mật độ sạ 100 kg/ha và

150 kg/ha giúp giảm được một lượng giống đáng kể, ngoài ra còn giúp giảm được thiệt hại do sâu và bệnh hại gây ra so với mật độ sạ 200 kg/ha Bên cạnh đó cũng giúp giảm được thiệt hại do đổ ngã, đảm bảo được năng suất sau này Các thành phần năng suất như số hạt/bông số hạt chắc trên bông, tỷ lệ hạt chắc, năng suất,… ở nghiệm thức sạ 100 kg/ha và sạ 150 kg/ha tương đương với sạ 200 kg/ha Hiệu quả kinh tế của nghiệm thức sạ 150kg/ha là cao nhất khi có lợi nhuận tăng thêm 1.940.000 đồng/ha

Trang 9

MỤC LỤC

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan iii

Cảm tạ iv

Quá trình học tập v

Tóm lược vi

Mục lục vii

Danh mục bảng x

Danh mục hình xi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LỆU 2

1.1 NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI CÂY LÚA……… 2

1.1.1 Nguồn gốc cây lúa……… 2

1.1.2 Phân loại cây lúa theo đặc tính thực vật học……… 2

1.2 THỜI KỲ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA……….…… 3

1.2.1 Giai đoạn tăng trưởng.……… 3

1.2.2 Giai đoạn sinh sản ……….… 4

1.2.3 Giai đoạn chín.……… ….4

1.3 CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT ……… 5

1.3.1 Số bông trên mét vuông 6

1.3.2 Số hạt trên bông ……….… 7

1.3.3 Tỷ lệ hạt chắc… ……… … 8

1.3.4 Trọng lượng 1000 hạt 9

1.4 NHU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY LÚA…… ……….….9

1.4.1 Điều kiện đất đai ……… 9

Trang 10

1.4.4 Lượng mưa……… …10

1.4.5 Gió……… 11

1.5 PHƯƠNG PHÁP GIEO SẠ……….11

1.5.1 Sạ lan……….……… 11

1.5.1.1 Sạ ướt ………11

1.5.1.2 Sạ khô.……….11

1.5.1.3 Sạ ngầm……… ……….12

1.5.1.4 Sạ chay 12

1.5.1.5 Sạ gởi 12

1.5.2 Sạ hàng 12

1.5.3 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến sinh trưởng và năng suất lúa cao sản 13

1.5.3.1 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến sự sinh trưởng của lúa 13

1.5.3.2 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất lúa 13

1.6 NGHIÊN CỨU MẬT ĐỘ SẠ 14

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 16

2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 16

2.1.1 Thời gian 16

2.1.2 Địa điểm 16

2.2 VẬT LIỆU THÍ NGHIỆM 16

2.3 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 17

2.3.1 Bố trí thí nghiệm 17

2.3.2 Kỹ thuật canh tác 18

2.3.3 Phương pháp đánh giá chỉ tiêu nông học 18

2.3.3.1 Chiều cao cây 18

2.3.3.2 số chồi m2 18

2.3.3.3 chiều dài bông 18

2.3.4 Đánh giá về chỉ tiêu thành phần năng suất 18

2.3.5 Đánh giá chỉ tiêu về năng suất 19

Trang 11

2.3.6.1 Sâu cuốn lá 20

2.3.6.2 bệnh đạo ôn 20

2.3.6.3 Rầy nâu 20

2.4 PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 21

CHƯƠNG 3 KẾT LUẬN VÀ THẢO LUẬN 22

3.1 NGHI NHẬN TỔNG QUÁT 22

3.1.1 Tình hình đất đai và khí hậu 22

3.1.2 Tình hình phát triển của cây lúa 22

3.1.3 Tình hình sâu bệnh hại 22

3.2 ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY LÚA 23

3.2.1 Chiều cao cây 23

3.2.2 Số chồi trên đơn vị diện tích 24

3.2.3 Chiều dài bông 25

3.3 THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT 26

3.3.1 Số bông trên mét vuông 26

3.3.2 Số hạt trên bông 27

3.3.3 Số hạt chắc trên bông 27

3.3.4 Tỷ lệ hạt chắc 27

3.3.5 Trọng lượng 1000 hạt 28

3.4 NĂNG SUẤT 28

3.4.1 Năng suất lý thuyết 28

3.4.2 Năng suất thực tế 29

3.5 ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ 29

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 31

4.1 KẾT LUẬN 31

4.2 ĐỀ GHỊ 31

Trang 12

3.2 Chiều cao cây (cm) của giống lúa OM 6976 đƣợc

thí nghiệm ở các mật độ khác nhau tại huyện kế

của giống lúa OM 6976 đƣợc thí nghiệm

ở các mật độ khác nhau tại huyện kế sách, tỉnh sóc

3.4 Chiều dài bông (cm) của giống lúa OM 6976 đƣợc

thí nghiệm ở các mật độ khác nhau tại huyện kế

3.5 Thành phần năng suất của giống lúa OM 6976 đƣợc

thí nghiệm ở các mật độ khác nhau tại huyện kế

3.6 6 năng suất lý thuyết và năng suất thực tế của giống

lúa OM 6976 đƣợc thí nghiệm ở các mật độ khác nhau tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng vụ Hè Thu

2012

33

3.7 Hiệu quả kinh tế của giống lúa OM 6976 đƣợc thí

nghiệm ở các mật độ khác nhau tại huyện Kế Sách,

Trang 14

MỞ ĐẦU

Ở Việt Nam, Cây lúa chiếm 80% tổng sản lượng lương thực, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng sản xuất lúa gạo trọng điểm, chiếm 48% diện tích sản xuất lúa, 50% sản lượng lúa cả nước và chiếm khoảng 90% lượng gạo xuất khẩu hằng năm (Nguyễn Thành Hối, 2011)

Theo Yoshida (1981) khi sạ thẳng ở lượng hạt thường dùng, khả năng đâm chồi ít ảnh hưởng đến năng suất hạt vì tổng số bông trên mét vuông tùy thuộc vào thân chính hơn số chồi Ở mật độ cây cao, nhưng cây lúa đa thân sẽ không đâm chồi hoặc chỉ cho số chồi hạn chế, như vậy sẽ dẫn đến quần thể cây đơn thân Ở lúa cấy, khoảng 10-30 chồi có thể được sinh ra trong khoảng cách hợp lý, nhưng chỉ 2-

5 chồi được hình thành trong lúa sạ thẳng

Nguyễn Đình Giao và ctv (1997) cho rằng, trong điều kiện quần thể, do gieo

cấy dày nên số nhánh thực tế có hạn Sau một thời gian đẻ nhánh, số nhánh tăng lên, trong quần thể ruộng lúa có hiện tượng tự điều tiết, do sự cạnh tranh về ánh sáng và dinh dưỡng nên số nhánh không tăng lên nữa Tuy nhiên, người dân có tập quán truyền thống gieo sạ với mật độ cao khoảng 200 kg/ha, nhưng trong thực tế lúa là loại cây có khả năng tự điều chỉnh trong quần thể, nếu sạ với mật độ quá cao cây lúa sẽ đẻ nhánh ít hoặc không đẻ nhánh, tỉ lệ chồi vô hiệu cao, thậm chí cây bị chết do cạnh tranh sinh tồn, cùng với đó là việc bón nhiều phân đạm dẫn đến sâu bệnh phát triển mạnh và làm giảm năng suất (Nguyễn Trường Giang, 2010)

Do đó, đề tài “Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến năng suất giống lúa OM 6976

vụ Hè Thu năm 2012 tại xã Đại Hải, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng” được

thực hiện nhằm tìm ra mật độ gieo sạ thích hợp đến năng suất lúa OM 6976 để làm

cơ sở khuyến cáo cho nông dân trong canh tác lúa

Trang 15

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI CÂY LÚA

1.1.1 Nguồn gốc cây lúa

Nguyễn Đình Giao và ctv (1997) cho rằng, về nguồn gốc xuất xứ cây lúa

cũng có nhiều ý kiến khác nhau, có ý kiến cho rằng cây lúa được hình thành đầu tiên ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Lào, Nam Trung Quốc, Việt Nam Một số tác giả cho rằng cây lúa bắt nguồn từ Ấn Độ (Wantt, 1908, Vavilop, 1926) Một số tác giả khác coi Nam Trung Quốc là vùng xuất hiện cây lúa đầu tiên (Candolle, 1885) Lại có người cho rằng cây lúa có nguồn gốc ở Việt Nam, Campuchia (Chevaliev, 1937, Komarov 1938, Erughin, 1950),… cũng có ý kiến cho rằng quê hương cây lúa là vùng đầm lầy Đông Nam Á

Những căn cứ vào các tà liệu lịch sử, di tích khảo cổ, đặc điểm sinh thái học của cây lúa trồng và cho rằng nguồn gốc cây lúa là vùng đầm lầy Đông Nam Á, rồi

từ đó lan dần đi nơi khác Thêm vào đó, sự kiện thực tế là cây lúa và nghề trồng lúa

đã có từ rất lâu ở vùng này, lịch sử và đời sống của các dân tộc Đông Nam Á lại gắn liền với lúa gạo đã minh chứng nguồn gốc của lúa trồng (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

1.1.2 Phân loại cây lúa theo đặc tính thực vật học

Lúa là cây hằng niên có tổng số nhiễm sắc thể 2n = 24 Về mặt phân loại thực vật, cây lúa thuộc họ hòa thảo (Gramineae), chi Oryza Trong chi Oryza có nhiều loài, sống một năm hoặc nhiều năm, trong đó chỉ có 2 loài lúa trồng, còn lại là lúa hoang Loài thích nghi rộng rãi và chiếm đại bộ phận diện tích lúa trên thế giới là

Oryza sativa L ,loài này hầu như có mặt khắp nơi từ đầm lầy đến sườn núi, từ vùng

xích đạo, nhiệt đới đến ôn đới, từ khắp vùng phù sa nước ngọt đến vùng đất cát sỏi ven bển nhiễm mặn, phèn…, có nhiều giống có đặc tính tốt cho năng suất cao Một

loài lúa trồng nữa là Oryza Glaberrima Steud., hạt nhỏ năng suất thấp, chỉ trồng

trên diện tích nhỏ ở một số quốc gia Tây Phi, và hiện đang bị thay thế dần bởi

Oryza sativa L (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008; Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997) Hai cây

lúa này có điểm khác nhau về hình thái Lá còn có những lông tơ cứng ở hai rìa hai bên Lúa trồng Châu Phi có mặt lá và vỏ trấu không có lông tơ, lá láng trơn (Bùi Huy Đáp, 1999) Nguyễn Văn Hiển (2000) cho rằng, đến nay nhiều nhà phân loại học trên thế giới công bố nhiều bảng phân loại dựa trên những quan điểm khác nhau như quan điểm hình thái học, quan điểm tế bào học và sự phân tích genome …

Trang 16

1.2 THỜI KỲ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) đời sống cây lúa bắt đầu từ khi hạt nảy mầm cho đến khi lúa chín Có thể chia làm ba giai đoạn chính: giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng), giai đoạn sinh sản (sinh dục) và giai đoạn chín

Với giống có thời gian sinh trưởng là 120 ngày, trong điều kiện nhiệt đới, thời

kỳ sinh trưởng dinh dưỡng là 60 ngày, làm đòng 30 ngày và chín 30 ngày Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng thường biến động mạnh nhất, thời kỳ làm đòng thường biến động trong khoảng 30-40 ngày tùy theo giống ngắn hay dài ngày Thời kỳ chín biến động chủ yếu theo nhiệt độ Sự khác biệt và biến động về thời lượng trong các thời

kỳ sinh trưởng dinh dưỡng phụ thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh Những giống chín sớm có thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng ngắn, chúng có thể làm đòng trước khi đạt số nhánh tối đa Ngược lại, ở giống dài ngày thường đạt số nhánh tối

đa trước làm đòng (Nguyễn Đình Giao và ctv, 1997)

1.2.1 Giai đoạn tăng trưởng

Bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến khi cây bắt đầu phân hóa đòng (Nguyễn Ngọc

Đệ, 2008) Trong thời kỳ này, cây lúa chủ yếu hình thành và phát triển các cơ quan dinh dưỡng như ra lá, phát triển rễ, đẻ nhánh và một phần thân (Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan, 1999) Giai đoạn dinh dưỡng biểu hiện sự đâm chồi tích cực, sự tăng dần chiều cao cây, và sự ra lá đều đặn Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước

lá ngày càng lớn giúp cây lúa nhận nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia tăng chiều cao, nở bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau Sự đâm chồi có thể bắt đầu từ khi thân chính phát triển lá thứ 5 hoặc lá thứ 6 (Yoshida, 1981; Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Cần có sự cân đối giữa sự sinh trưởng nhánh và sinh trưởng lá sao cho số nhánh mới sinh ra đều có khả năng ra được số lá gần với tổng lá vốn có của giống Các nhánh ra muộn số lá ít sẽ không có khả năng chuyển sang thời kỳ sinh trưởng sinh dục và trở thành nhánh vô hiệu (Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan, 1999)

Theo Đinh Thế Lộc (2006) việc đẻ nhánh của cây lúa phụ thuộc vào nhiều điều kiện: ngoại cảnh, môi trường, các biện pháp kỹ thuật tác động, và có mối quan

hệ chặt chẽ với sự ra lá Cùng với sự đẻ nhánh, cây lúa có quá trình ra lá của cây mẹ

và của các nhánh Cây lúa kết thúc đẻ nhánh khi bước vào thời kỳ làm đốt (lóng) để phát triển thân

Thời kỳ đẻ nhánh là thời kỳ quyết định đến sự phát triển diện tích lá và số bông Do đó, cần chú ý đến các biện pháp kỹ thuật nhằm làm tăng diện tích lá để

Trang 17

tăng khả năng quang hợp và tăng số bông là yếu tố quan trọng để tăng năng suất lúa

(Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997)

1.2.2 Giai đoạn sinh sản

Giai đoạn này của cây lúa bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến khi lúa trổ bông Giai đoạn này kéo dài khoảng 27-35 ngày, trung bình 35 ngày và giống lúa dài ngày hay ngắn ngày thường không khác nhau nhiều Lúc này số chồi vô hiệu giảm nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng Đòng lúa hình thành

và phát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của lá cờ và trổ bông (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Nguyễn Đình Giao và ctv., (1997) cho rằng, quá trình làm đòng là quá trình

phân hóa và hình thành cơ quan sinh sản, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành năng suất lúa Ở thời kỳ này, cây lúa có những thay đổi rõ rệt về mặt hình thái, màu sắc lá, hoạt động sinh lý, khả năng chống chịu ngoại cảnh …

Theo Yoshida (1981) thời kỳ trổ bông được xác định vào lúc 50% số bông thoát ra ngoài lá đòng Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999) cho rằng, cây lúa hình thành hoa, tập hợp nhiều hoa thành bông lúa

Sau khi hoàn thành việc trổ bông, các hoa lúa sẽ bắt đầu nở hoa trong khoảng thời gian từ 8 giờ sáng đến 13 giờ chiều và sự thụ tinh cũng sẽ kết thúc trong vòng 5-6 giờ sau khi nở hoa Trên cùng một bông các hoa lúa phải mất 7-10 ngày mới nở hết và hầu hết các hoa nở trong vòng 5 ngày (Yoshida, 1981) Nếu chăm sóc chu đáo, thời kỳ thứ nhất đã đẻ nhánh, thời tiết thuận lợi thì số hoa của bông lúa sẽ được hình thành tối đa, là tiền đề để có nhiều hạt trên một bông (Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan, 1999)

1.2.3 Giai đoạn chín

Bắt đầu từ lúc trổ bông đến lúc thu hoạch (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Sự chín theo sau sự thụ tinh Giai đoạn chín được đặt trưng bởi sự sinh trưởng hạt, sự tăng kích thước và trọng lượng, sự đổi màu của hạt và sự hóa già của lá Ở giai đoạn sớm của sự chín hạt màu lục, chúng chuyển sang màu vàng khi trưởng thành Cơ cấu của hạt thay đổi từ trạng thái sữa, sáp sang chất cứng Dựa vào các thay đổi này, giai đoạn chín được chia nhỏ thành chín sữa, chín sáp, chín vàng và chín Trong lúc hạt sinh trưởng mạnh, cả trọng lượng tươi và khô của hạt đều tăng Tuy nhiên, gần trưởng thành, trọng lượng khô tăng chậm nhưng trọng lượng tươi giảm do sự mất nước (Yoshida, 1981)

Trang 18

Ở các hoa lúa được thụ tinh xảy ra quá trình tích lũy tinh bột và sự phát triển hoàn thiện của phôi Nếu dinh dưỡng đủ, không bị sâu bệnh phá hại, thời tiết thuận lợi thì các hoa đã được thụ tinh sẽ phát triển thành hạt chắc, sản phẩm chủ yếu của cây lúa (Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan, 1999) Tuy nhiên, nếu đất ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong thời gian này, thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược lại (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Yoshida (1981) thì cho rằng, thời gian chín của lúa chịu ảnh hưởng nhiều bởi nhiệt độ Đinh Thế Lộc (2006) cho rằng, trong giai đoạn này gặp điều kiện thuận lợi (ngoại cảnh, dinh dưỡng,…) thì sẽ giảm tỷ lệ hạt lép, tăng tỷ lệ hạt chắc (tăng số hạt trên bông) và nhất là tăng khối lượng hạt

1.3 CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT

Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999) cho rằng, năng suất lúa được quyết định bởi các yếu tố: số bông trên mét vuông (N), số hạt trên bông (n), tỷ lệ hạt chắc (F) và khối lượng 1000 hạt (w) Mối quan hệ phụ thuộc trên có thể biểu diễn bằng công thức sau:

Y = N x n x W x F x 10-5Trong đó:

Y: Năng suất (tấn/ha)

đi, số hạt trên bông giảm, tỷ lệ hạt chắc trên bông cũng giảm Tỷ lệ hạt chắc và khối lượng hạt cũng giảm Tỷ lệ hạt chắc và khối lượng hạt phụ thuộc vào số hạt trên bông (Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan, 1999)

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) tổng hợp tất cả các thành phần năng suất đóng góp khoảng 81,4% biến động của năng suất lúa Trong đó, riêng số hạt trên mét vuông chiếm (60,2%), tỷ lệ hạt chắc và trọng lượng hạt hợp lại chiếm 21,2%, số hạt trên mét vuông và phần trăm hạt chắc đóng góp 75,7% và số hạt trên mét vuông cộng với trọng lượng hạt đóng góp đến 78,5% năng suất lúa Nếu sự góp phần của tất cả các thành phần năng suất là 100%, thì sự đóng góp của số hạt trên mét vuông

sẽ là 74% và sự góp phần của phần trăm hạt chắc với trọng lượng 1000 hạt là 26%,

Trang 19

kết hợp số hạt trên mét vuông và phần trăm hạt chắc đóng góp 93% và số hạt trên mét vuông cộng với trọng lượng hạt đóng góp đến 96% năng suất lúa

Số hạt trên bông quá cao thì tỷ lệ hạt chắc, khối lượng hạt sẽ giảm Để đảm bảo năng suất cao cần điều khiển sao cho ruộng lúa có số bông trên mét vuông tôi

ưu, bảo đảm số hạt trên bông nhiều, tỷ lệ hạt chắc cao và khối lượng hạt lớn (Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan, 1999)

Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999) cho rằng, năng suất lúa trên đơn

vị diện tích là kết quả tương tác giữa nhiều yếu tố Do đó căn cứ vào điều kiện khí hậu, đất đai, phân bón, giống lúa mà quyết định mật độ cấy, tỷ lệ đẻ nhánh vì hai yếu tố này ảnh hưởng đến số bông, tỷ lệ hạt chắc, khối lượng hạt và cuối cùng là năng suất hạt

Muốn nâng cao năng suất lúa cần hiểu được quá trình hình thành các yếu tố năng suất, trước hết là thời gian, các điều kiện ảnh hưởng đến các yếu tố đó Trên

cơ sở đó mới có thể áp dụng các biện pháp kỹ thuật đúng lúc và đúng cách (Nguyễn

Đình Giao và ctv., 1997)

1.3.1 Số bông trên mét vuông

Trong 4 yếu tố tạo thành năng suất lúa thì số bông là yếu tố có tính chất quyết định nhất và sớm nhất Số bông có thể đóng góp 74% năng suất, trong khi số hạt và

Đình Giao và ctv., 1997) Số bông trên mét vuông tùy thuộc vào mật độ sạ, cấy, khả

năng nở bụi của lúa, điều kiện đất đai, thời tiết, lượng phân bón nhất là phân đạm và chế độ nước Số bông trên mét vuông có ảnh hưởng thuận với năng suất (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Theo Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999) số bông trên đơn vị diện tích được quyết định bởi 2 yếu tố: mật độ cấy và tỷ lệ đẻ nhánh Trong phạm vi nhất định, cấy dầy lúa đẻ nhánh ít, cấy thưa lúa đẻ nhánh nhiều cuối cùng cũng đạt được

số bông trên đơn vị diện tích như nhau

Đối với giống lúa ngắn ngày, thấp cây, nở bụi ít, đất xấu, nhiều nắng nên cấy

Trang 20

lượng phân bón nhiều (nhất là N) và giữ nước thích hợp thì lúa nở bụi khỏe có thể

sạ cấy thưa hơn Các giống lúa cải thiện thấp cây có số bông trên mét vuông trung bình phải đạt 500-600 bông/m2

đối với lúa sạ, hoặc 350-450 bông/m2 đối với lúa cấy, mới có thể có năng suất cao (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999) cho rằng, mật độ cấy và tỷ lệ đẻ nhánh cũng có tác động quan trọng đến sự hình thành bông Đối với những giống lúa có 17-18 lá, những nhánh đẻ từ lá thứ 12 trở về trước có khả năng cho bông, những nhánh đẻ từ lá thứ 14 trở về sau phần lớn là vô hiệu, những nhánh đẻ từ lá thứ 12-14 có thể cho bông và cũng có thể không cho bông

1.3.2 Số hạt trên bông

Số hạt trên bông nhiều hay ít tùy thuộc vào số gié, hoa phân bón cũng như số gié, hoa thoái hóa Các quá trình này nằm trong thời kỳ sinh trưởng sinh dục từ lúc

làm đòng đến trổ bông (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997) Số hạt trên bông được

quyết định từ lúc tượng đến cổ bông đến 5 ngày trước khi trổ, nhưng quan trọng nhất là thời kỳ phân hóa hoa và giảm nhiễm tích cực Ở giai đoạn này, số hạt trên bông có ảnh hưởng thuận đối với năng suất lúa do ảnh hưởng đến số hoa được phân hóa Sau giai đoạn này, số hạt trên bông đã hình thành có thể bị thoái hóa có ảnh hưởng âm (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Theo Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999) số hạt trên bông là số lượng hoa phân hóa và hình thành trên bông, số hạt trên bông do tổng số hoa phân hóa và

số hoa thoái hóa quyết định, số hoa phân hóa càng nhiều, số hoa thoái hóa càng ít thì số hạt trên bông sẽ nhiều

Nguyễn Ngọc Đệ (2008) cho rằng, số hạt trên bông tùy thuộc vào số hoa được phân hóa và số hoa bị thoái hóa Hai yếu tố này bị ảnh hưởng bởi giống lúa, kỹ thuật canh tác và điều kiện thời tiết Đối với những giống lúa bông to, kỹ thuật, canh tác tốt, bón phân đầy đủ, chăm sóc đúng mức, thời tiết thuận lợi thì số hoa phân hóa càng nhiều, số hoa thoái hóa càng ít Nên số hạt cuối cùng trên bông cao

Ở các giống lúa cải thiện, số hạt trên bông từ 80 100 hạt đối với lúa sạ hoặc 100

-120 hạt đối với lúa cấy là tốt trong điều kiện Đồng bằng sông Cửu Long

Người ta thấy rằng bón đón đòng cho lúa vào giai đoạn phân hóa đòng đến giai đoạn phân hóa hoa có tác dụng làm số lượng hoa phân hóa một cách rõ rệt Bón phân vào giai đoạn phân hóa hoa còn có tác dụng phòng ngừa hoa thoái hóa Bón thúc vào giai đoạn bắt đầu phân hóa đòng còn có tác dụng làm tăng quá trình phân hóa gié Số gié cấp 1 đặc biệt là số gié cấp 2 nhiều thì số hoa trên bông cũng nhiều

Số hoa trên bông nhiều là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho số hạt trên bông cũng

Trang 21

nhiều Số hoa trên bông nhiều là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho số hạt trên bông lớn (Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan, 1999)

1.3.3 Tỷ lệ hạt chắc

Tỷ lệ hạt chắc là tỷ lệ phần trăm của các hạt có tỷ trọng trên 1,06 Tỷ lệ hạt chắc có ảnh hưởng đến năng suất lúa rõ rệt Số hạt chắc ít, số hạt lép nhiều thì năng suất sẽ giảm (Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan, 1999)

Tỷ lệ hạt chắc được quyết định từ đầu thời kỳ phân hóa đòng đến khi lúa vào chắc nhưng quan trọng nhất là các thời kỳ phân bào giảm nhiễm, trổ bông, phơi màu, thụ phấn, thụ tinh và vào chắc (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Nguyên nhân hạt lép

là do quá trình thụ phấn thụ tinh không thuận lợi, khi ra hoa gặp rét hoặc nóng quá,

ẩm độ không khí quá thấp hoặc quá cao, làm cho hạt phấn mất khả năng nảy mầm, hoặc trước đó nhị và nhụy phát triển không hoàn toàn, tế bào mẹ hạt phấn bị hại,

(Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997) Hạt lép nhiều nhất ở phía cuối bông nhất là đối

với những giống lúa trổ giấu bông, một số gié cuối cùng không ra khỏi bẹ lá (Bùi Huy Đáp, 1980) Nguyễn Thành Hối (2003) cho rằng, lúa Hè Thu xuống giống muộn sẽ gặp bất lợi nhiều về điều kiện thời tiết lúc lúa trổ, do lúc này mưa dầm nên

vũ lượng cao, mưa kéo dài và đặc biệt la trời hay mưa vào buổi sáng nên bông lúa khó thụ phấn, thụ tinh và hạt bị lép nhiều

Tăng tỷ lệ hạt chắc hay nói cách khác là giảm tỷ lệ hạt lép trên bông Tỷ lệ hạt chắc tăng làm trọng lượng bông tăng nên năng suất cuối cùng tăng Tỷ lệ hạt lép trên bông có thể thay đổi trong phạm vi tương đối rộng, ít nhất là 2-5%, thông thường là 5-10%, cũng có khi 20-30% hoặc thậm chí còn cao hơn (Nguyễn Đình

Giao và ctv., 1997)

Theo Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999) tỷ lệ hạt chắc còn phụ thuộc vào tinh bột tích lũy trong cây, phụ thuộc vào đặc điểm giải phẩu của cơ thể Trước khi trổ bông nếu cây lúa sinh trưởng tốt, quang hợp thuận lợi làm lượng tinh bột được tích lũy và vận chuyển lên hạt nhiều thì tỷ lệ hạt chắc cao Mạch dẫn phát triển tốt thì quá trình vận chuyển tinh bột tích lũy trong cây đến hạt được tốt, kết quả là

tỷ lệ hạt chắc sẽ cao

Nguyễn Ngọc Đệ (2008) cho rằng, tỷ lệ hạt chắc tùy thuộc vào đặc tính sinh

lý của cây lúa và chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện ngoại cảnh Thường số hoa trên bông quá nhiều dễ dẫn đến tỷ lệ hạt chắc thấp Các giống lúa có khả năng quang hợp, tích lũy và chuyển vị các chất mạnh, cộng với cấu tạo mô cơ giới vững chắc không đổ ngã sớm, lại trổ và tạo hạt trong điều kiện thời tiết tốt, dinh dưỡng đầy đả

Trang 22

1.3.4 Trọng lượng 1000 hạt

Trọng lượng 1.000 hạt là yếu tố cuối cùng tạo năng suất lúa So với các yếu

tố khác thì trọng lượng 1000 hạt tương đối ít biến động Nó phụ thuộc chủ yếu vào giống Trọng lượng 1.000 hạt do 2 bộ phận cấu thành, trọng lượng vỏ trấu và trọng lượng hạt gạo Trọng lượng vỏ trấu thường chiếm 20% và trọng lượng hạt gạo chiếm 80% trọng lượng toàn hạt Muốn có trọng lượng hạt gạo cao phải tác động

vào cả 2 yếu tố này (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997) Theo Nguyễn Ngọc Đệ

(2008) trọng lượng hạt được quyết định ngay từ thời kỳ phân hóa hoa đến khi lúa chín, nhưng quan trọng nhất là các thời kỳ giảm nhiễm tích cực và vào chắc rộ Trọng lượng hạt tùy thuộc vào cỡ hạt và độ mẩy của hạt lúa Đối với lúa, người ta thường biểu thị trọng lượng hạt bằng trọng lượng của 1000 hạt với đơn vị

là gram (g) Ở phần lớn các giống lúa, trọng lượng 1000 hạt thường biến thiên tập trung trong khoảng 20-30g Trọng lượng 1000 hạt của cây lúa trong ruộng là một đặc tính ổn định (Yoshida, 1981), chủ yếu do đặc tính di truyền của giống quyết định vì kích thước hạt bị kiểm tra chặt chẽ bởi kích thước vỏ trấu, điều kiện môi trường có ảnh hưởng một phần vào thời kỳ giảm nhiễm (18 ngày trước khi trổ) trên

cỡ hạt; cho đến khi vào chắc rộ (15-20 ngày sau khi trổ) trên độ mẩy của hạt (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999) cho rằng, vào giai đoạn phân bào giảm nhiễm nếu điều kiện ngoại cảnh và điều kiện dinh dưỡng thuận lợi thì hạt được hình thành với kích thước lớn Sau khi trổ bông nếu dinh dưỡng kém, thiếu ánh sáng ảnh hưởng đến quang hợp, quá trình vận chuyển các chất về hạt bị cản trở

sẽ làm giảm khối lượng hạt Để tăng khối lượng hạt, trước lúc trổ bông cần bón thúc nuôi đòng để làm tăng kích thước vỏ trấu Sau khi trổ bông cần tạo điều kiện cho cây sinh trưởng tốt để quang hợp được tiến hành mạnh mẽ, tích lũy được nhiều tinh bột thì khối lượng hạt sẽ cao

Nguyễn Đình Giao và ctv., (1997) ngoài ánh sáng, yếu tố nhiệt độ, nhất là biên

độ chệnh lệch ngày - đêm, có ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình quang hợp, tích lũy, vận chuyển vật chất về hạt Vì vậy, giữ cho lá lúa xanh lâu, quang hợp vận chuyển tốt là yếu tố quan trọng tác động đến trọng lượng hạt

Trang 23

1.4 NHU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY LÚA

1.4.1 Điều kiện đất đai

Cây lúa được trồng nhiều trên các loại đất khác nhau: đất ngập nước, đất trũng, đất cao, đất đồi nương, đất chua phèn, đất nhiễm mặn nhẹ,…trong điều kiện khí hậu

và thủy văn khác nhau nên phạm vi phân bố đất ruộng lúa rất rộng Do đó, đất trồng lúa có sự khác nhau rất lớn về mặt hóa học, địa lý, thổ nhưỡng và sinh học giữa các khu vực, các vùng

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) đất trồng lúa cần giàu dinh dưỡng, nhiều hữu

cơ, tơi xốp, thoáng khí, khả năng giữ nước, giữ phân tốt, tầng canh tác dầy để bộ rễ

ăn sâu, bám chặt vào đất và huy động nhiều dinh dưỡng nuôi cây Loại đất thịt hay đất thịt pha sét, ít chua hoặc trung tính (pH = 5,5-7,5) là thích hợp đối với cây lúa Tuy nhiên, muốn trồng lúa đạt năng suất cao, đất ruộng cần bằng phẳng và chủ động được nguồn nước tưới Trong thực tế, có những giống lúa có thể thích nghi được trong những điều kiện khắc nghiệt như: phèn, mặn, khô hạn, ngập úng,…

kỳ thích hợp là 7-8 giờ/ngày (mùa nắng) và 5-6 giờ/ngày (mùa mưa) Thời kỳ trổ thiếu ánh sáng thì quá trình thụ phấn, thụ tinh bị trở ngại làm tăng tỷ lệ hạt lép, giảm

tỷ lệ hạt chắc và hạt tăng không đều Giai đoạn lúa chín nếu ruộng thiếu nước, nhiệt

độ không khí cao, ánh sáng chiếu mạnh thì lúa chín mạnh hơn và tập trung, ngược lại thời gian chín sẽ kéo dài ra (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Trang 24

1.4.4 Lượng mưa

Trong điều kiện thủy lợi chưa hoàn chỉnh, lượng mưa là một yếu tố khí hậu có tính chất quyết định đến việc hình thành các vùng trồng lúa và các vụ lúa trong năm Ở Đồng bằng sông Cửu Long, lượng mưa hàng năm trung bình từ 1200- 2000

mm nhưng phân phối không đồng đều, gây ngập úng giữa mùa mưa ở nhiều nơi, mùa khô lại không đủ nước tưới Mưa nhiều, trời âm u, gió nhiều, ít nắng cây lúa phát triển không tốt Mưa còn tạo điều kiện ẩm độ thích hợp cho sâu bệnh phát triển (Nguyễn Ngọc Đê, 2008)

1.4.5 Gió

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, một năm

có hai mùa rõ rệt trùng với hai mùa: mưa và mùa khô Mùa khô (từ tháng 12-04 dương lịch), hướng gió chính là gió đông bắc lạnh và khô Mùa mưa (từ tháng 5-11 dương lịch) hướng gió chính là hướng Tây-Nam nóng ẩm, mưa nhiều ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây lúa Gió lớn có thể làm cho cây lúa đổ ngã, thân lá

bị tổn thương tạo điều kiện cho mầm bệnh xâm nhập, nhất là bệnh cháy bìa lá Ở giai đoạn làm đòng và trổ, gió lớn gây ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển của đòng lúa, sự trổ bông, thụ phấn, thụ tinh, tăng tỷ lệ hạt lép, hạt lửng làm

giảm năng suất lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

1.5 PHƯƠNG PHÁP GIEO SẠ

1.5.1 Sạ lan

1.5.1.1 Sạ ướt

Đất được chuẩn bị trong điều kiện ướt, xong rút cạn nước và gieo hạt giống

đã ngâm ủ cho nảy mầm trên đất đã đánh bùn nhuyễn Đây là hình thức sạ phổ biến

ở những nơi có nước đủ để làm đất và chủ động nước Sạ ướt có thể áp dụng cho tất

cả các vụ Hè Thu, Thu Đông hay Đông Xuân (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Đây là phương pháp sạ phổ biến, vì phần lớn diện tích lúa đã trồng bằng các giống lúa cao sản ngắn ngày, cần cho lúa mọc tốt ngay từ giai đoạn mạ, để có cơ sở ban đầu cho sinh trưởng phát triển đạt năng suất cao và cây lúa không có thời gian hồi phục như đối với lúa mùa dài ngày (Nguyễn Văn Luật, 2001)

1.5.1.2 Sạ khô

Kiểu sạ khô đã được thực hiện từ lâu ở vùng lúa nổi với các giống lúa địa phương Tuy nhiên, sạ khô lúa cao sản có yêu cầu cao hơn Sạ khô nhằm tăng thêm một vụ lúa ngắn ngày tại những vùng đất bị nhiễm mặn hoặc canh tác nhờ nước

Trang 25

thời vụ, đảm bảo năng suất vụ sau Đất được chuẩn bị trong điều kiện khô và hạt giống khô, không ngâm ủ Sạ khô chỉ được thực hiện trong vụ Hè Thu sớm (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Theo Nguyễn Văn Luật (2001) gieo thẳng khô thường phải gieo với lượng hạt giống rất cao để phòng hờ và cạnh tranh với cỏ dại, độ 250-

300 kg/ha Tốn công, tốn thuốc trừ cỏ và công dậm nên lúa chết mất khoản

1.5.1.3 Sạ ngầm

Sạ hạt giống đã nảy mầm trong ruộng ngập nước Kỹ thuật này thường được

áp dụng trong vụ Thu Đông hoặc Đông Xuân ở những chân ruộng trũng nước ngập sâu và không có điều kiện thoát nước hoặc để tranh thủ mùa vụ xuống giống sớm hơn, giảm được công bơm tưới về sau Sạ ngầm có điều kiện tiên quyết là nước phải trong nhanh sau khi sạ (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

1.5.1.4 Sạ chay

Là biện pháp sạ lúa không làm đất, sử dụng hạt giống không hoặc đã ngâm 24

giờ, sạ vào ruộng đã được phơi khô và đốt đồng, sau đó bơm nước vào hoặc bơm nước vào ruộng rồi mới sạ Nước được giữ lại trong ruộng 1 ngày để ngâm đất và cho hạt lúa hút nước đầy đủ Sau đó rút nước ra chỉ giữ ẩm để hạt lúa mọc mầm như

đối với trường hợp sạ ướt (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

1.5.1.5 Sạ gởi

Hạt giống của cây lúa ngắn ngày được trộn lẫn với hạt lúa mùa dài ngày theo một tỷ lệ nhất định tùy yếu tố đất đai và đặc tính giống Sạ cùng một lúc hai loại giống bằng phương pháp sạ ướt hoặc khô tùy điều kiện từng nơi Sau khi thu hoặc

vụ lúa ngắn ngày người ta tiếp tục chăm sóc cho trà lúa mùa phát triển tốt để thu hoặch vào cuối mùa mưa, khi nguồn nước ngọt đã cạn và ruộng khô Phương pháp này thường được áp dụng ở những vùng lúa nước trời, nhiễm mặn, phèn, nơi mà thời gian có thể trồng được rất ngắn (5-6 tháng) trong mùa mưa; hoặc ở những vùng trũng, nước ngập sâu không có thủy lợi tốt để có thể trồng hai vụ lúa thuận lợi Đây

là những vùng đất khó khăn, trước đây chỉ trồng được một vụ lúa mùa Tăng thêm một vụ lúa ngắn ngày tại đây là một vấn đề không đơn giản (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

1.5.2 Sạ hàng

Sạ hàng là phương pháp sạ cải tiến từ phương pháp sạ lan ướt, có nhiều ưu điểm như: tiết kiệm được vật tư chủ yếu là giống và phân bón, tạo điều kiện thuận lợi để thâm canh dễ dàng chăm sóc và quản lý dịch hại, giảm được thiệt hại do sâu bệnh

Trang 26

thế hơn sạ lan vì sạ theo hàng ít hao giống, ít sâu bệnh và cho năng suất tương đối với sạ lan mật độ 200 kg/ha (Nguyễn Kim Chung và Nguyễn Ngọc Đệ, 2005)

So với phương pháp sạ lan thì phương pháp sạ hàng có thể làm giảm được lượng giống sử dụng từ 50-75% Lượng giống giảm được tương ứng khoảng từ 100-150

kg giống/ha (Nguyễn Văn Luật và ctv., 1999) Theo nhiều kết quả nghiên cứu cho

thấy lượng giống gieo sạ thích hợp cho kỹ thuật này ở Đồng bằng sông Cửu Long là khoảng từ 70-100 kg giống/ha (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2009) Trong điều kiện quản lý đồng ruộng tốt, mật độ sạ 100 kg giống/ha được khuyến cáo để cho năng suất lúa có chất lượng tốt, cũng như đáp ứng đủ số bông/m2

cho việc chín

đồng bộ trong hệ thống canh tác lúa sạ ướt (Trần Thị Ngọc Huân và ctv.,1999)

Trong kỹ thuật này, cây lúa có sự phân bổ quần thể ruộng lúa thích hợp nên đã tận dụng được năng lượng mặt trời cho quá trình quang hợp tạo năng suất và làm giảm

thiệt hại do tác động của ngoại cảnh (Nguyễn Văn Luật, 2001)

1.5.3 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến sự sinh trưởng và năng suất lúa cao sản

1.5.3.1 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến sự sinh trưởng của lúa

Trong điều kiện gieo vãi, quần thể lúa sạ có những đặc điểm khác ruộng cấy

về phương diện dinh dưỡng, quang hợp, tiểu khí hậu, tình trạng cỏ dại, sâu bệnh,… Quần thể lúa sạ sẽ có số cây được phân bố đều hơn ruộng cấy nên sự tiếp nhận ánh sáng và sự hấp thu dinh dưỡng cũng sẽ khác với ruộng cấy (Đinh Văn Lữ, 1980 trích dẫn bởi Nguyễn Thị Chuộng, 1987)

Bùi Huy Đáp (1980) cho rằng, mật độ là yếu tố chi phối chặt chẽ quá trình phát triển của cả quần thể, với khả năng đẻ nhánh giúp cho quần thể ruộng lúa có khả năng điều tiết rất nhanh Khả năng này còn tùy thuộc vào khả năng đâm chồi của giống và mật độ ban đầu Theo Đinh Văn Lữ (1967) tăng mật độ là tăng số cây trên mặt đất, đồng thời số lượng rễ dưới mặt đất cũng gia tăng, do đó hiệu suất lợi dụng chất dinh dưỡng trong đất cũng tăng Bên cạnh đó, tăng thêm mật độ là tăng thêm hiệu suất lợi dụng ánh sáng mặt trời, lợi dụng độ phì của đất, kết cấu quần thể quan hệ với mật độ, tình trạng của giống và sự sắp xếp các cây trong quần thể Mật

độ khác nhau, diện tích dinh dưỡng của mỗi cá thể sẽ khác nhau và tình trạng ánh sáng trong quần thể cũng sẽ khác nhau

Bùi Huy Đáp (1977) cho rằng, trong quần thể quá dầy sự liên quan giữa hai chất quan trọng trong đời sống cây lúa là đạm (N) và carbon (C) có hiện tượng mất cân đối N-amon chiếm ưu thế do thiếu ánh sáng, quang hợp kém, sự đồng hóa C sẽ kém, N sẽ trở nên quá thừa, do đó dễ dẫn đến sự đổ non làm giảm năng suất

Ngày đăng: 22/09/2015, 15:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bố trí thí nghiệm: - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 6976 vụ hè thu năm 2012 tại xã đại hải, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm: (Trang 30)
Bảng 3.3 Số chồi / m 2  của giống lúa OM 6976 đƣợc thí  nghiệm ở các  mật độ  khác  nhau theo  thời gian tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng vụ Hè Thu 2012 - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 6976 vụ hè thu năm 2012 tại xã đại hải, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
Bảng 3.3 Số chồi / m 2 của giống lúa OM 6976 đƣợc thí nghiệm ở các mật độ khác nhau theo thời gian tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng vụ Hè Thu 2012 (Trang 38)
Bảng 3.6 năng suất  lý thuyết và năng suất thực tế  của giống lúa OM 6976 đƣợc thí nghiệm - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 6976 vụ hè thu năm 2012 tại xã đại hải, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
Bảng 3.6 năng suất lý thuyết và năng suất thực tế của giống lúa OM 6976 đƣợc thí nghiệm (Trang 41)
Phụ chương 3: Bảng ANOVA chiều cao lúc 60 ngày sau khi sạ của lúa OM 6976 - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 6976 vụ hè thu năm 2012 tại xã đại hải, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
h ụ chương 3: Bảng ANOVA chiều cao lúc 60 ngày sau khi sạ của lúa OM 6976 (Trang 48)
Phụ chương 6: Bảng ANOVA số chồi lúc 40 ngày sau khi sạ của lúa OM 6976 vụ - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 6976 vụ hè thu năm 2012 tại xã đại hải, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
h ụ chương 6: Bảng ANOVA số chồi lúc 40 ngày sau khi sạ của lúa OM 6976 vụ (Trang 49)
Phụ chương 5: Bảng ANOVA số chồi lúc 20 ngày sau khi sạ của lúa OM 6976 vụ - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 6976 vụ hè thu năm 2012 tại xã đại hải, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
h ụ chương 5: Bảng ANOVA số chồi lúc 20 ngày sau khi sạ của lúa OM 6976 vụ (Trang 49)
Phụ chương 12: Bảng ANOVA số hạt chắc trên bông của lúa OM 6976 vụ Hè Thu - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 6976 vụ hè thu năm 2012 tại xã đại hải, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
h ụ chương 12: Bảng ANOVA số hạt chắc trên bông của lúa OM 6976 vụ Hè Thu (Trang 51)
Phụ chương 11: Bảng ANOVA số hạt trên bông của lúa OM 6976 vụ Hè Thu năm - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 6976 vụ hè thu năm 2012 tại xã đại hải, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
h ụ chương 11: Bảng ANOVA số hạt trên bông của lúa OM 6976 vụ Hè Thu năm (Trang 51)
Phụ chương 15: Bảng ANOVA năng suất lý thuyết của lúa OM 6976 vụ Hè Thu - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 6976 vụ hè thu năm 2012 tại xã đại hải, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
h ụ chương 15: Bảng ANOVA năng suất lý thuyết của lúa OM 6976 vụ Hè Thu (Trang 52)
Phụ chương 14: Bảng ANOVA năng suất thực tế của lúa OM 6976 vụ Hè Thu năm - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 6976 vụ hè thu năm 2012 tại xã đại hải, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
h ụ chương 14: Bảng ANOVA năng suất thực tế của lúa OM 6976 vụ Hè Thu năm (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm