Khảo sát ảnh hưởng của cơ chất mạt cưa cao su và bã mía lên sự sinh trưởng, chất lượng và hiệu quả kinh tế của việc trồng nấm Bào Ngư Xám Nhật Pleurotus sajor-caju .... Nấm bào ngư là
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐA ̣I HỌC CẦN THƠ VIÊ ̣N NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THAY THẾ MA ̣T CƯA CAO SU
BẰNG BÃ MÍA ĐỂ TRỒNG NẤM
BÀO NGƯ XÁM NHẬT (Pleurotus sajor-caju)
TS BÙI THỊ MINH DIỆU LÊ QUANG NHỰT ThS TRẦN VĂN NGOAN MSSV: 3102847
LỚP: CNSH K36
Cần Thơ, Tháng 11/2013
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIÊ ̣N NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC
BẰNG BÃ MÍA ĐỂ TRỒNG NẤM
BÀO NGƯ XÁM NHẬT (Pleurotus sajor-caju)
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
TS BÙI THỊ MINH DIỆU LÊ QUANG NHỰT ThS TRẦN VĂN NGOAN MSSV: 3102847
LỚP: CNSH K36
Cần Thơ, Tháng 11/2013
Trang 3PHẦN KÝ DUYỆT
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
TS Bùi Thị Minh Diệu Lê Quang Nhựt Ths Trần Văn Ngoan DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN ………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại Học Cần Thơ, Ban Giám Đốc Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học – Trường Đại Học Cần Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn cô Bùi Thị Minh Diệu đã tận tình định hướng nghiên cứu, hỗ trợ kinh phí, hướng dẫn các phương pháp khoa học và luôn động viên để tôi hoàn thành tốt luận văn
Xin chân thành gửi lời cảm ơn đến tập thể các anh chị em trong Doanh Nghiệp Tư Nhân Nấm Việt đặc biệt là anh Trần Văn Ngoan đã tận tình chỉ dạy, truyền đạt kinh nghiệm và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến thầy Võ Văn Song Toàn, thầy Trần Vũ Phương, các anh chị em, cán bộ PTN Sinh học Phân tử Thực vật, PTN Công nghệ Enzyme – Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học, chị Ngãnh, anh Tuấn cùng các bạn: Văn Cường, Đăng Khoa, Thạch, Công, Khuyên, Tiến, Thân, Sơn, Cà, Quang, Minh Khoa, Xuân, Huy, Thủy, Thật, Liền, Hạnh, đã giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn ba mẹ, anh chị và tất cả các bạn lớp Công nghệ Sinh học K36 đã giúp đỡ, động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô Trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Tôi xin kính chúc quý thầy cô cùng các bạn sinh viên luôn dồi dào sức khỏe
và thành công trong công việc
Lê Quang Nhựt
Trang 5Chuyên ngành Công nghệ Sinh học i Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
62 ngày, cho số đợt thu hoạch ít (2,89 đợt) nhưng cho năng suất cao 292,67g/bịch, hiệu suất sinh học đạt 24,39%, chất lượng quả thể cao (ẩm: 92,33%, protein tổng: 27,59%, tro: 6,31%)
Từ khóa: Bã mía, mạt cưa cao su, nấm Bào Ngư Xám Nhật (Pleurotus sajor-caju)
Trang 6Chuyên ngành Công nghệ Sinh học ii Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
MỤC LỤC
Trang
KÝ TÊN HỘI ĐỒNG
CẢM TẠ
TÓM LƯỢC i
MỤC LỤC ii
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
TỪ VIẾT TẮT vii
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 1
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.1 Giới thiệu sơ lược về nấm 2
2.1.1 Cấu tạo chung của nấm 2
2.1.2 Tổng quan về nấm ăn 2
2.2 Tổng quan về nấm bào ngư 4
2.2.1 Đặc điểm sinh học 4
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm bào ngư… 6
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất nấm bào ngư 7
a Meo giống nấm 8
b Dinh dưỡng cho nấm 8
c Điều kiện nuôi ủ 8
d Phòng bệnh 9
2.2.4 Giá trị dinh dưỡng của nấm bào ngư 10
2.3 Thành phần hóa học các loại cơ chất 12
2.3.1 Bã mía 12
Trang 7Chuyên ngành Công nghệ Sinh học iii Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
2.3.2 Mạt cưa cao su 14
2.4 Thành phần dinh dưỡng một số loại phụ gia sử dụng trong trồng nấm 14
2.4.1 Cám gạo 14
2.4.2 Bột bắp 15
2.4.3 Phân DAP (Di-amoni-phosphate) 16
2.5 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm bào ngư ở nước ngoài và Việt Nam 16
2.5.1 Tình hình ngoài nước 16
2.5.2 Tình hình trong nước 18
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Phương tiện nghiên cứu 20
3.1.1 Địa điểm và thời gian 20
3.1.2 Nguyên liệu 20
3.1.3 Thiết bị-dụng cụ và hóa chất 20
3.2 Phương pháp nghiên cứu 20
3.2.1 Khảo sát ảnh hưởng của cơ chất mạt cưa cao su và bã mía lên sự sinh trưởng, chất lượng và hiệu quả kinh tế của việc trồng nấm Bào Ngư Xám Nhật (Pleurotus sajor-caju) 20
a Chuẩn bị giống cấy 22
b Sản xuất bịch phôi 23
c Kỹ thuật trồng và chăm sóc nấm 23
d Thu hoạch nấm 25
e Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp đánh giá 25
3.2.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 26
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Ảnh hưởng của cơ chất đến sự sinh trưởng và chất lượng của nấm Bào Ngư Xám Nhật (Pleurotus sajor-caju) 27
4.1.1 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất đến sự tăng trưởng của tơ nấm theo thời gian 27
Trang 8Chuyên ngành Công nghệ Sinh học iv Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
4.1.2 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất đến thời gian tơ nấm lan khắp khối cơ
chất 29
4.1.3 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất đến thời gian bắt đầu thu hoạch quả thể 30
4.1.4 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất đến kích thước của tai nấm 31
4.1.5 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất đến hàm lươ ̣ng ẩm của quả thể nấm 32 4.1.6 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất đến hàm lươ ̣ng protein tổng số của quả thể nấm 33
4.1.7 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất đến hàm lươ ̣ng tro tổng số của quả thể nấm 35
4.2 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất đến hiệu quả kinh tế của việc trồng nấm Bào Ngư Xám Nhật (Pleurotus sajor-caju) 36
4.2.1 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất đến số đợt cho thu hoạch nấm 36
4.2.2 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất đến năng suất của nấm 38
4.2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế của nấm thu hoạch được trên các nghiệm thức 40
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Đề nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC Phụ lục 1: Các hình ảnh thí nghiệm
Phụ lục 2 Các phương pháp phân tích
Phụ lục 3 Kết quả thí nghiệm
Phụ lục 4: Kết quả thống kê
Trang 9Chuyên ngành Công nghệ Sinh học v Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 1: Thành phần phân tích của một số loài nấm trồng phổ biến 3
Bảng 2: Hàm lượng dinh dưỡng trong một số loài nấm ăn phổ biến 11
Bảng 3: Hàm lượng dinh dưỡng trong hai loại nấm bào ngư phổ biến 11
Bảng 4: Thành phần hoá học trong bã mía 14
Bảng 5: Thành phần hoá học trong mạt cưa cao su 14
Bảng 6: Thành phần hóa học của một vài loại cám gạo 15
Bảng 7: Thành phần hóa học của một số loại bắp và sản phẩm từ bắp 16
Bảng 8: Bảng bố trí tỉ lệ cơ chất và thành phần dinh dưỡng bổ sung vào các cơ chất 21 Bảng 9 Thời gian tơ nấm bắt đầu và kết thúc lan tơ khắp khối cơ chất 29
Bảng 10 Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc thu hoạch quả thể nấm đợt 1 trên từng nghiệm thức 30
Bảng 11 Năng suất của nấm thu hoạch qua 4 đợt và tổng năng suất ở các nghiệm thức 38
Bảng 12 Hiệu suất sinh học của nấm trên các nghiệm thức 40
Bảng 13 Kết quả lợi nhuận thu được trên các nghiệm thức 40 Bảng 14 Tăng trưởng của tơ nấm ở các tuần sau khi cấy
Bảng 15 Phần trăm số bịch phôi có tơ nấm phát triển lan khắp khối cơ chất
Bảng 16 Phần trăm số bịch phôi bắt đầu thu hoạch theo thời gian
Bảng 17 Năng suất của quả thể nấm thu hoạch ở mỗi nghiệm
Bảng 18 Kích thước đường kính tai nấm ở các nghiệm thức
Bảng 19 Hàm lượng ẩm của quả thể nấm ở các nghiệm thức
Bảng 20 Hàm lượng Protein tổng số của quả thể nấm
Bảng 21 Hàm lượng tro tổng số của quả thể nấm
Bảng 22 Số đợt cho thu hoạch nấm ở các nghiệm thức
Bảng 23 Đánh giá hiệu quả kinh tế ở các nghiệm thức
Bảng 24 Tăng trưởng của tơ của tơ nấm ở các nghiệm thức qua các tuần
Bảng 25 Kích thước đường kính trung bình và số đợt cho thu hoạch nấm trung bình ở các nghiệm thức
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 1 Các giai đoạn phát triển của nấm bào ngư 5
Hình 2 Quy trình trồng nấm Bào Ngư Xám Nhật (Pleurotus sajor-caju) 21
Hình 3 Biểu đồ biểu diễn chiều dài tăng trưởng trung bình của tơ nấm qua các tuần ở các nghiệm thức 27
Hình 4 Biểu đồ biểu diễn kích thước đường kính chiều ngang trung bình của tai nấm ở các nghiệm thức 31
Hình 5 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng ẩm trung bình của quả thể nấm ở các nghiệm thức 33
Hình 6 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng protein tổng số trung bình của quả thể nấm ở các nghiệm thức 34
Hình 7 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng tro tổng số trung bình của quả thể nấm ở các nghiệm thức 35
Hình 8 Biểu đồ biểu diễn số đợt thu hoạch nấm trung bình ở các nghiệm thức 37
Hình 9 Biểu đồ biểu diễn tổng năng suất trung bình của nấm ở các nghiệm thức 39 Hình 10 Các thiết bị thí nghiệm
Hình 11 Quy trình ta ̣o giống nấm
Hình 12 Cơ chất ma ̣t cưa cao su và bã mía sau khi ủ
Hình 13 Bổ sung dinh dưỡng vào cơ chất (a) và phân phối vào bịch phôi (b)
Hình 14 Bịch phôi được chất vào lò hấp (a) và nuôi ủ tơ sau khi cấy giống (b)
Hình 15 Tơ phát triển khắp khối cơ chất (a) và chùm quả thể nấm bào ngư (b)
Hình 16 Đường kính quả thể nấm ở các nghiệm thức
Hình 17 Ảnh hưởng của các tác nhân vật lý đến hình dạng quả thể nấm
Trang 12CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Ngày nay, nhu cầu ăn uống của con người ngày càng được nâng cao Vì vậy, việc lựa chọn các loại thực phẩm sạch, ngon và đảm bảo an toàn cho sức khoẻ là vấn đề được quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng Nấm ăn là một trong những loại thực phẩm được nhiều người tin cậy lựa chọn để sử dụng hàng ngày nhằm đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm trong đó có nấm bào ngư
Nấm bào ngư là loài nấm dễ trồng, cho năng suất cao, phẩm chất ngon, là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng khá cao, cung cấp một lượng đáng kể chất đạm, đường bột, nhiều vitamin và khoáng chất, đồng thời là dược liệu quý giá trong việc duy trì, bảo vệ sức khỏe phòng chống nhiều bệnh kể cả ung thư, ung bướu và cũng là nguồn hàng xuất có giá trị kinh tế khá cao
Hầu hết các loại nấm ăn và đặc biệt là nấm bào ngư có khả năng sử dụng các hợp chất hữu cơ giàu carborhydrate và nhất là cellulose để sinh trưởng và phát triển (Lê Duy Thắng, 2006) Do đặc điểm trên nên cơ chất sử dụng để trồng nấm bào ngư rất phong phú và đa dạng gồm nhiều loại phụ phế phẩm nông nghiệp như rơm rạ, bã mía, mạt cưa, xơ dừa, lõi bắp, lá chuối,… Trong đó, nấm bào ngư được trồng trên cơ chất mạt cưa cao su là phổ biến nhất vì cho năng suất và chất lượng cao nhưng nguồn cơ chất này chỉ tập trung ở một số vùng như miền Đông Nam Bộ không thể đáp ứng đủ cho sự phát triển của nghề trồng nấm trong cả nước Trong khi đó, bã mía được xem là nguồn cơ chất kỳ vọng cao vì là nguồn phụ phẩm nông nghiệp dồi dào, giá rẻ lại sẵn
có tại nhiều địa phương trên cả nước
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “Nghiên cứu khả năng thay thế mạt cưa cao
su bằng bã mía để trồng nấm Bào Ngư Xám Nhật (Pleurotus sajor-caju)” được
thực hiện với mục đích nhằm thay thế nguồn cơ chất mạt cưa cao su bằng bã mía để trồng nấm bào ngư cho chất lượng cao Từ đó cung cấp thêm nguồn thực phẩm “sạch” dồi dào dinh dưỡng cho con người và góp phần vào việc bảo vệ môi trường
1.2 Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần cơ chất mạt cưa cao su và bã mía đến
năng suất, chất lượng và giá thành sản xuất của nấm Bào Ngư Xám Nhật (Pleurotus
sajor-caju)
Trang 13CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu sơ lược về nấm
2.1.1 Cấu tạo chung của nấm
Nấm là sinh vật chân hạch, dị dưỡng Tế bào không có diệp lục tố Vách tế bào chủ yếu là chitin và glucan Sinh sản chủ yếu là bào tử trên cấu trúc đặc biệt là tai nấm hay quả thể nấm Quả nấm hay quả thể là cơ quan sinh sản, cũng là cơ quan sinh bào
tử của các loại nấm bậc cao Sự dinh dưỡng của nấm có liên quan đến hệ sợi nấm Nấm lấy các chất dinh dưỡng thông qua màng tế bào của sợi nấm (tương tự như rễ thực vật) Nhiều loài nấm có hệ enzyme phân giải tương đối mạnh, giúp chúng có thể
sử dụng các dạng thức ăn phức tạp Nấm có thể sống hoại sinh, ký sinh hoặc cộng sinh (Nguyễn Lân Dũng, 2001)
Tế bào sinh dưỡng của nấm về cơ bản có cấu tạo giống với các sinh vật chân hạch khác, bao gồm vỏ tế bào, màng tế bào chất, nhân và hạch nhân, ribosome, ty thể, mạng lưới nội chất, thể Golgi, không bào, thể biên, vi quản, thể chitin (Nguyễn Lân Dũng, 2001)
Chu trình sống của nấm đảm bắt đầu từ đảm bào tử hữu tính, nảy mầm cho ra hệ sợi khuẩn ty sơ cấp gồm những tế bào đơn nhân, khuẩn ty thứ cấp là những tế bào nhân kép và phát triển bởi sự hợp nhân của hai tế bào đơn nhân Kết thúc chu trình là
sự hình thành cơ quan sinh sản là quả thể (tai nấm) Tai nấm sinh ra các đảm bào tử và chu trình lại tiếp tục (Lê Duy Thắng, 2006)
2.1.2 Tổng quan về nấm ăn
Trong giới sinh vật có gần 7 vạn loài nấm, nhưng chỉ có hơn 100 loài có thể ăn hoặc dùng làm thuốc, thông dụng nhất là mộc nhĩ đen, ngân nhĩ, nấm hương, nấm mỡ, nấm rơm, nấm kim châm, nấm bào ngư,…Ngoài nguồn thu hái từ thiên nhiên, người ta đã trồng được hơn 60 loài theo phương pháp công nghiệp với nâng suất cao (Shukla et al., 2005)
Thông thường mỗi loài nấm có khả năng mọc tốt trên một loại cơ chất và nguồn dinh dưỡng khác nhau Do đó, ngoài điều kiện khí hậu thích hợp, nhu cầu thị trường, còn phải tính đến nguồn nguyên liệu Nguyên liệu cho sản xuất phải thuộc loại phổ biến và có tính liên tục Bên cạnh đó nguồn nguyên liệu không nên có các chất gây ức chế đến sự phát triển cho tơ nấm (chất dầu, chất thơm,…) Cùng một loại nấm khi
Trang 14trồng trên những cơ chất khác nhau sẽ cho năng suất và chất lượng khác nhau (Ponmurugan et al., 2007).
Theo Lê Duy Thắng (2006), nấm được xem là một loại rau cao cấp Nếu xét về hàm lượng đạm tuy có thấp hơn thịt nhưng lại cao hơn bất kì một loại rau quả nào khác Đặc biệt có sự hiện diện của gần như đầy đủ các loại acid amin, trong đó có 8 loại acid amin cần thiết cho con người Nấm rất giàu leucin và lysine là 2 loại acid amin ít có trong ngũ cốc Do đó, xét về chất lượng thì đạm trong nấm không thua gì đạm ở động vật Thường lượng đạm trong nấm có thể thay đổi theo loài, thấp nhất là nấm mèo (4-9%) và cao nhất là ở nấm trắng (24-44%) Ngoài ra, trong nấm ăn tổng lượng lipid thấp hơn thịt gà, thịt lợn và bia, acid lipoic không bão hòa chiếm 74-83% (Trần Văn Mão, 2004)
Nấm chứa ít chất đường với hàm lượng thay đổi từ 3-28% trọng lượng tươi Ở nấm rơm, lượng đường tăng lên trong giai đoạn phát triển từ nút sang kéo dài, nhưng lại giảm khi trưởng thành Đặc biệt nấm có nguồn dự trữ dưới dạng glycogen tương tự như động vật (thay vì tinh bột như thực vật) (Lê Duy Thắng, 2006)
Nấm chứa rất nhiều loại vitamin như vitamin B, C, K, A, D, E,… Trong đó, nhiều nhất là vitamin B như B1, B2, acid nicotinic, acid pantothenic,… Nếu so với rau rất nghèo B12, thì chỉ cần ăn 3 gram nấm tươi đủ cung cấp lượng vitamin B12 cho nhu cầu mỗi ngày Tương tự hầu hết các loại rau cải, nấm là nguồn khoáng rất tốt Nấm rơm được ghi nhận là giàu K, Na, Ca, P, Mg Ở quả thể trưởng thành thì lượng Na và P giảm trong khi K, Ca và Mg giữ nguyên Ăn nấm bảo đảm bổ sung đầy đủ cho nhu cầu
về khoáng mỗi ngày (Lê Duy Thắng, 2006)
Bảng 1: Thành phần phân tích của một số loài nấm trồng phổ biến
(Nguồn: Nguyễn Lân Dũng (2008) trích bởi Dương Hoàng Tú, 2011)
Cũng theo Lê Duy Thắng (2006), ngoài giá trị cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, nấm ăn còn có nhiều tác dụng dược lý khá phong phú như: nấm mèo
Trang 15được người Hoa sử dụng như vị thuốc, nó có tính giải độc, chữa lị, táo bón và rong huyết Nấm đông cô ngoài việc bồi bổ cơ thể, tăng cường sức lực còn giảm cholesterol trong máu, nhất là chứa chất Leutinan có tác dụng chống ung thư Nấm bào ngư chứa nhiều acid folic hơn cả thịt và rau nên có thể dùng trị bệnh thiếu máu Riêng về hàm lượng chất béo thấp phù hợp cho những người bị cao huyết áp Lượng Na trong nấm cũng thấp, thích hợp cho những người bị bệnh về thận
2.2 Tổng quan về nấm bào ngư
Họ : Pleurotaceae (nấm bào ngư)
Chi : Pleurotus (nấm bào ngư)
Loài : P sajor-caju
Nấm bào ngư có đặc điểm chung là tai nấm có dạng phễu lệch, phiến nấm mang bào tử kéo dài xuống đến chân, cuống nấm gần gốc có lớp lông nhỏ mịn Tai nấm bào ngư khi còn non có màu sậm hoặc tối, nhưng khi trưởng thành màu trở nên sáng hơn (Lê Duy Thắng, 2006) Theo Nguyễn Lân Dũng (2002) thì loài nấm Bào Ngư Xám
Nhật (Pleurotus sajor-caju) có quả thể phẳng, lúc già mới cong lại, mũ nấm có hình
tròn, hình nửa tròn, hình thận, có đường kính từ 5-15cm hay lớn hơn nữa, màu trắng
Trang 16tro hay nâu xám Thịt nấm dày vừa phải, màu trắng Cuống nấm màu trắng, trên to dưới nhỏ, dài từ 3-10cm, gốc cuống có lông nhung
Chu trình sống của nấm bào ngư cũng như các loài nấm đảm khác, bắt đầu từ đảm bào tử hữu tính, nảy mầm cho hệ sợi tơ dinh dưỡng (sơ và thứ cấp), kết thúc là sự hình thành cơ quan sinh sản là quả thể (tai nấm) Tai nấm sinh ra các đảm bào tử và
Theo Lê Duy Thắng (2006) thì sự phát triển của nấm bào ngư trải qua 5 giai đoạn:
Hình 1 Các giai đoạn phát triển của nấm bào ngư
(Nguồn: Lê Duy Thắng, 2006)
a Dạng san hô; b Dạng dùi trống; c Dạng phễu; d Dạng bán cầu lệch; e Dạng lá lục bình
- Dạng san hô: quả thể mới tạo thành, dạng sợi mảnh hình chum
- Dạng dùi trống: mũ xuất hiện dưới dạng khối tròn, còn cuống phát triển cả về
chiều ngang và chiều dài nên đường kính cuống và mũ không khác nhau bao nhiêu
- Dạng phễu: mũ mở rộng, trong khi cuống còn ở giữa (giống cái phễu)
- Dạng bán cầu lệch: cuống lớn nhanh một bên và bắt đầu lệch so với vị trí trung
Trang 17Nấm bào ngư thuộc loại phá gỗ, sống chủ yếu hoại sinh, mặc dù một số loài có
đời sống kí sinh như Pleurotus ostreatus, P.eryngii (Kreiself, 1961) Trong giai đoạn
phát triển, nấm bào ngư tiết ra một phức hệ enzyme ngoại bào như cellulase thủy phân cellulose, hemicellulase thủy phân hemicellulose, laccase thủy phân lignin, xylase, và nhất là trong giai đoạn tạo quả thể nấm tiết ra rất nhiều laccase nên sử dụng lignin mạnh Do đó cơ chất sử dụng trồng nấm bào ngư rất phong phú có thể là mạt cưa, bã mía, mụn dừa, trấu, rơm rạ, cùi bắp,…(Lê Duy Thắng, 2006)
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm bào ngư
Theo Lê Duy Thắng (2006), ngoài yếu tố dinh dưỡng từ các chất có trong nguyên liệu trồng nấm bào ngư thì sự tăng trưởng và phát triển của nấm có liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau như: nhiệt độ, ẩm độ, pH, ánh sáng, oxy,…
- Nhiệt độ: nấm bào ngư phát triển ở nhiệt độ tương đối rộng Ở giai đoạn ủ tơ,
như loài Pleurotus tuber-regium Nhiệt độ thích hợp để nấm ra quả thể ở một số loài
cần từ 15-250C, số loài khác cần từ 25-320C Riêng với loài Pleurotus sajor-caju thì
có thể làm tăng sản lượng và chất lượng nấm bào ngư
- Độ ẩm (gồm độ ẩm giá thể và độ ẩm không khí): nấm bào ngư yêu cầu độ ẩm giá
thể là 60-65%, dưới 30% hoặc trên 70% đều bất lợi đến sinh trưởng của tơ nấm, trên 80% sẽ dễ bị nấm tạp xâm nhiễm, giá thể dễ bị chua và sợi nấm ngừng sinh trưởng (Trần Văn Mão, 2004) Theo Lê Duy Thắng (2006) thì độ ẩm không khí không được nhỏ hơn 70%, ở độ ẩm không khí 50%, nấm ngừng phát triển và chết, nếu nấm ở dạng phễu lệch và dạng lá thì sẽ bị khô mặt và cháy vàng bìa mũ nấm Ở giai đoạn tưới đón nấm ra quả thể, độ ẩm không khí tốt nhất là 70-95% Nhưng nếu độ ẩm cao trên 95%, tai nấm dễ bị nhũn và rũ xuống Khi ẩm độ không khí khoảng 70% thì nấm kết quả thể nhỏ, 65% sẽ không ra quả thể, ẩm độ 100% sẽ làm nấm chỉ mọc cuống nấm mà không mọc mũ
- pH: đối với nấm bào ngư, khả năng chịu đựng sự dao động của pH tương đối tốt,
có khoảng thích ứng rất rộng, pH môi trường có thể giảm xuống 4 hoặc tăng lên 11 thì
tơ nấm vẫn có thể mọc được Tuy nhiên, pH thích hợp đối với hầu hết các loài nấm
Trang 18bào ngư trong khoảng từ 5-7, pH thấp làm quả thể không hình thành được và ngược lại
pH quá kiềm làm tai nấm bị dị hình Nếu gặp nhiệt độ cao và pH thấp, vi khuẩn ưa chua phát triển sẽ làm cho sợi nấm bị thối và chết Trong khi đó, việc trồng nấm bào ngư với nguyên liệu được xử lý bằng nước vôi có thể tránh được sự xâm nhiễm do nấm tạp và vi khuẩn (Trần Văn Mão, 2004)
trưởng tốt, nhưng trên 30% sinh trưởng của nấm bào ngư giảm mạnh Ở giai đoạn mọc
cuống nấm sẽ kéo dài và mũ nấm nhỏ Giai đoạn ra quả thể cần bảo đảm không khí lưu
cuống dài, mũ không bình thường, thậm chí quả thể bị vàng và thối (Trần Văn Mão, 2004)
- Ánh sáng: theo Trần Văn Mão (2004) thì ở mỗi giai đoạn sinh trưởng, nấm bào
ngư có nhu cầu ánh sáng khác nhau Sợi nấm nuôi ngoài sáng không tốt bằng trong tối Nhưng ở giai đoạn ra quả thể, nấm cần ánh sáng nhẹ khoảng 200 lux (ánh sáng phòng) chiếu trên 12 giờ Ánh sáng tán xạ cần thiết để hình thành gốc nấm, nếu không nấm sẽ không ra quả thể Nếu thiếu ánh sáng, lượng gốc nấm sẽ ít, cuống dài, mũ hẹp, quả thể nấm nhỏ, hình dạng không bình thường và ngược lại nếu cường độ ánh sáng quá mạnh
sẽ ngăn cản việc hình thành quả thể nấm
- Nguyên liệu nuôi trồng: có nhiều nguồn cơ chất nuôi trồng nấm bào ngư như là
mạt cưa, bã mía, rơm rạ, gỗ khúc, cùi bắp, vỏ hạt cà phê,… Thông thường, mỗi loài nấm có khả năng mọc tốt trên một loại cơ chất khác nhau Mỗi cơ chất có một tỉ lệ C/N nhất định, tỉ lệ C/N được hiểu là tỉ lệ giữa carbon tổng số và đạm tổng số có trong nguyên liệu Hầu hết các loài nấm bào ngư thích hợp phát triển trên cơ chất trồng nấm
có tỉ lệ C/N là 20:1 (Nguyễn Lân Dũng, 2002)
- Thông thoáng: nhà trồng nấm cần có độ thông thoáng vừa phải, tránh gió lùa trực
tiếp nhưng cũng phải đảm bảo độ ẩm, nhiệt độ và ánh sáng thích hợp cho sự phát triển của nấm (Lê Duy Thắng, 2006)
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất nấm bào ngư:
Theo Lê Duy Thắng (2006) năng suất nấm lệ thuộc bởi nhiều yếu tố, bao gồm:
- Giống nấm
Trang 19b Dinh dưỡng cho nấm
Liên quan đến loại cơ chất và thành phần dinh dưỡng thêm vào Thành phần này
có thể cung cấp ngay từ lúc phối trộn cơ chất, nhưng cũng có thể bổ sung thêm vào giai đoạn phát triển của quả thể Dinh dưỡng thêm vào nguyên liệu có thể là cám gạo, bột bắp, bột đậu nành, bã đậu nành, bã bia, phân bón hoá học, 1% đường ăn hoặc khoáng như Kali, Phosphate, Magnê,… Ngoài ra, nhiều loại phân bón lá như: N-P-K, Komix, Bimix, HVP,… đều có thể dùng để tưới bổ sung cho nấm Urê dùng tưới nấm rất tốt, nhưng khi phát sinh bệnh, nhất là mốc phải ngưng ngay Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là khâu chế biến và ủ nguyên liệu Nguyên liệu chuẩn bị tốt sẽ cho năng suất cao
c Điều kiện nuôi ủ
- Điều kiện nuôi ủ góp phần đáng kể trong việc nâng cao năng suất nấm Nếu trong
thời gian ủ tơ, nhiệt độ lên cao hoặc xuống thấp, cũng làm ảnh hưởng đến kết quả nuôi trồng, đặc biệt trong tình trạng thiếu oxy, tơ bị ngộp, ánh nắng rọi và gió lùa trực tiếp,…và nhất là phải đảm bảo đủ độ ẩm thích hợp cho nấm Khi tơ đã lan đầy bịch, bắt đầu chuyển sang giai đoạn tưới đón nấm
- Phổ biến hiện nay là người nuôi trồng có thể thiết kế nhà nuôi trồng theo kiểu
dàn kệ hoặc là treo nấm Trong trường hợp ở nhà vườn, có thể kết hợp nuôi trồng nấm bào ngư dưới các tán cây Dưới nền nhà trồng nên phủ một lớp cát để giữ ẩm tốt hơn
- Khi tơ nấm đã trắng đều hết bịch cơ chất là lúc bắt đầu mở miệng bịch để cho
đường hai bên hông bịch để cho nấm kết quả thể Đường rạch cần đủ rách bao nylon, không phạm sâu vào khối cơ chất có tơ nấm Tuy nhiên, nếu rạch nhiều đường quá thì quả thể nấm phát triển thường nhỏ hơn và thời gian kết thúc đợt nuôi trồng nhanh hơn
- Sau khi rạch khoảng 3 giờ là có thể tưới nước Lúc này vết thương của tơ nấm ở
Trang 20các vết rạch đã lành lặn Đồng thời, nước tưới sẽ làm tăng ẩm độ và giảm nhiệt độ, kích thích nấm kết quả thể tốt hơn
- Khi nấm đã hình thành, cần giữ ẩm tốt để quả thể phát triển bình thường Nấm sẽ
chuyển qua các giai đoạn của quá trình phát triển và trưởng thành Nếu giai đoạn này nhiệt độ lên cao hoặc xuống quá thấp nấm sẽ bị chết
- Để nấm bào ngư kết quả thể và tai nấm phát triển bình thường, cần có các điều
- Bệnh sinh lý: nấm bào ngư có sức sống rất mạnh Tuy nhiên, nấm rất nhạy cảm
với môi trường Nhiệt độ lên xuống đột ngột cũng làm nấm ngừng tăng trưởng không mọc hoặc thối nhũn Nước tưới bị phèn, bị mặn cũng làm nấm không phát triển được Quá trình cung cấp nước cho nấm nếu giọt nước lớn sẽ dễ làm chết các tai nấm non đang phát triển Tai nấm trong trường hợp này nhũn ra và rũ xuống Bệnh sinh lý không kèm theo mầm nhiễm và xảy ra thường xuyên trong quá trình nuôi trồng
- Bệnh nhiễm: yếu tố gây bệnh đa dạng chủ yếu là các nhóm vi sinh vật: nấm mốc,
nấm nhầy, nấm dại và côn trùng Các tác nhân này ảnh hưởng gián tiếp lên sinh trưởng
và phát triển của nấm bằng cách cạnh tranh nguồn thức ăn và thay đổi pH của môi trường Hậu quả là tơ mọc chậm, thưa, thậm chí ngừng lại Quả thể không tạo thành hoặc dị dạng, năng suất giảm Đối với bệnh nhiễm thì việc phát hiện mầm bệnh không phải là khó, nhưng trừ bệnh lại là vấn đề không đơn giản Do đó, cần hiểu biết về nguyên nhân gây bệnh và tìm biện pháp phòng ngừa là cách làm tích cực nhất
Bệnh nhiễm thường xuất hiện nhất là bị nhiễm nấm Trichoderma spp., đây là loài
nấm phát triển rất nhanh và làm thiệt hại đáng kể đến năng suất của nấm nuôi trồng
Để hạn chế sự phát triển của loài nấm mốc này, cần khử trùng tốt nguyên liệu trồng nấm hoặc nâng pH môi trường
Trang 21Việc phòng bệnh là vấn đề lớn hiện nay, nhất là khi phong trào trải rộng nhà trồng nấm Với số lượng bịch phôi nuôi trồng lớn và trồng quanh năm, nếu không có biện pháp phòng bệnh hợp lý thì khó đạt kết quả tốt Việc phòng bệnh bao gồm:
- Chọn giống khỏe
- Giữ môi trường nuôi trồng thật vệ sinh
- Hạn chế sử dụng thuốc sát trùng trực tiếp lên nấm Chỉ nên phun thuốc trừ sâu
bệnh trước và sau khi nuôi trồng
- Nên phân lô (bịch tốt, bịch không tốt) để tiện chăm sóc
- Chọn địa điểm: nơi trồng nấm phải xa nguồn bệnh như cống rãnh, rác rưỡi, cây lá
mục, phế phẩm trồng nấm, chuồng trại chăn nuôi Việc bố trí kho nguyên liệu, nơi dự trữ sản phẩm, phòng cấy, phòng ủ và nơi trồng cần tính toán để không lây nhiễm lẫn nhau Ngoài ra, cũng nên tránh các nơi có nhiều bụi như: nhà máy xay xát, chế biến nông sản, cưa xẻ gỗ
nhà trồng như nền đất, giàn kệ, kèo cột Đối với cơ chất phải hấp khử trùng thật kỹ vì bên trong có nhiều thành phần thích hợp cho nấm bệnh phát triển nhanh hơn bình thường
- Ngăn chặn bệnh lây lan: trường hợp bệnh đã xảy ra phải cô lập ngay khu vực
bệnh như cách ly và phun thuốc diệt nguồn bệnh, phun ngừa khu vực xung quanh Phải có kế hoạch chăm sóc, theo dõi định kỳ để phát hiện sớm mầm bệnh nhằm ngăn chặn kịp thời trước khi bệnh lây lan
2.2.4 Giá trị dinh dưỡng của nấm bào ngư
Nấm bào ngư là một trong những loại nấm rất quen thuộc vì vừa ngon, vừa giòn,
thuốc rất tốt cho sức khỏe, nấm không những ăn ngon, mà còn có nhiều tính chất quí
Theo Lê Duy Thắng (2006), nếu tính về thành phần dinh dưỡng thì nấm bào ngư
có nhiều chất đường, thậm chí hơn cả nấm rơm, nấm mỡ, nấm đông cô Về đạm và khoáng không thua gì các loài nấm khác Xét về năng lượng, nấm bào ngư lại cung cấp năng lượng ở mức tối thiểu, thấp hơn đông cô, tương đương với nấm rơm, nấm mỡ, rất thích hợp cho những người ăn kiên
Trang 22Bảng 2: Hàm lượng dinh dưỡng trong một số loài nấm ăn phổ biến
Tên nấm
Tỉ lệ % so với chất khô
Độ ẩm (W) Protein Lipid
carbon Tro
Hydrat-Calo (kCal)
Nấm bào ngư (Pleurotus ostreatus) 91 30 2 58 9 345
Nấm rơm (Volvariella volvacea) 90 21 10 59 11 369
(Nguồn: Nguyễn Hữu Đống et al., 2002)
Trong nấm chứa 35-46% protein, cao hơn nấm hương, tổ thành acid amin hoàn toàn, chiếm 40-50% trong các loại acid amin cần thiết Mặt khác, nấm còn chứa các thành phần glucid, vitamin, khoáng chất, acid béo (chủ yếu là acid no, acid hữu cơ) cần thiết cho sức khỏe (Trần Văn Mão, 2004) Chỉ số acid amin không thay thế của
Pleurotus sajor-caju là 65,24; của P.cornucopiae là 48,08; của P.ostreatus là 47,33
(Nguyễn Lân Dũng, 2002)
Bảng 3: Hàm lượng dinh dưỡng trong hai loại nấm bào ngư phổ biến
Vitamin (mg/100g nấm khô) Pleurotus sajor-caju Pleurotus florida
(Nguồn: Lê Duy Thắng, 2006)
Ngoài giá trị dinh dưỡng, nấm ăn còn có nhiều đặc tính của biệt dược, có khả năng phòng và chữa các bệnh như làm hạ huyết áp, chống béo phì, chữa bệnh đường ruột Nhiều nghiên cứu cho thấy nấm bào ngư cùng một số nấm ăn khác có tác dụng chống ung thư Thử nghiệm về ung thư trên chuột bạch cho thấy, dùng nước nóng
chiết xuất nấm bào ngư Pleurotus ostreatus có thể làm tiêu hoàn toàn khối u với tỷ lệ
50% chuột (Nguyễn Lân Dũng, 2002) Cũng theo Nguyễn Lân Dũng (2002) đã báo
cáo về nghiên cứu của Tam (1986) cho thấy rằng nấm Bào Ngư Xám Nhật (Pleurotus
sajor-caju) có tác dụng làm hạ huyết áp Nhiều loài nấm bào ngư có tác dụng ức chế
không ít các loài vi khuẩn như: Staphylococcus aureus, Mycobacterium phlei, M
smegma, Bacillus subtilis, Klebsiella pneumoniae, Escherichia coli, Bacillus
Trang 23mycoides, Photobacterium fischeri, Vòng ức chế vi khuẩn ở nấm bào ngư non cao
hơn ở nấm bào ngư trưởng thành (Nguyễn Lân Dũng, 2002)
Kết quả nghiên cứu của Robins et al (1947) (trích bởi Lê Duy Thắng, 2006) cho thấy rằng ở nấm bào ngư còn phát hiện được một chất kháng sinh gọi là pleutorin, chất này ức chế hoạt động của vi khuẩn Gram dương Bên cạnh đó, Lê Duy Thắng (2006) cũng trình bày về kết quả nghiên cứu của Yoshioka và nhóm cộng sự năm 1975 đã tìm thấy trong nấm hai dẫn xuất polysaccharide có tính kháng ung bướu, cả hai có nguồn gốc là glucose, 6% mannose và 13% uronic acid
Nghiên cứu của Jedinak và Sliva (2008) về các chất chiết xuất từ nấm bào ngư
Pleurotus ostreatus có khả năng ức chế sự gia tăng của các tế bào ung thư ruột kết,
giúp con người điều trị và phòng ngừa bệnh ung thư ruột kết
Nấm bào ngư còn chứa nhiều acid folic hơn cả thịt và rau nên có thể trị bệnh thiếu máu Riêng hàm lượng chất béo và tinh bột ở nấm thấp, phù hợp cho người bị bệnh tiểu đường, cao huyết áp Nếu ăn nấm bào ngư với lượng 5g/kg thể trọng thì sau
40 ngày, lượng cholesterol trong máu giảm xuống còn 128,57mg so với việc ăn 2,5g/kg thể trọng là 193,12mg (Phó Liên Giang (1985) trích bởi Dương Hoàng Tú, 2011)
2.3 Thành phần hóa học các loại cơ chất
2.3.1 Bã mía
Mía là cây công nghiệp lấy đường quan trọng của ngành công nghiệp đường Ở Việt Nam, mía là nguyên liệu duy nhất sản xuất đường saccharose Đối với ngành công nghiệp đường mía, bã mía chiếm 25-30% trọng lượng mía đem ép (Jennifer và
Trade, 2008)
Tính đến quí I (2013) cả nước ta đã có 40 nhà máy đường đi vào sản xuất Các nhà máy đã ép 8.969.000 tấn mía (http://www.vinhphucit.gov.vn/so-cong-thuong-vinh-phuc.gplist.28.gpopen.6668.gpside.1.gpnewtitle.tinh-hinh-san-xuat-va-tieu-thu-mia-duong-trong-nuoc-qui-i-2013.asmx, ngày 26/6/2013) Như vậy, nếu tính theo số liệu bã mía chiếm 25% trọng lượng mía đem ép thì lượng bã mía trong quí I ước tính
là hơn 2,2 triệu tấn, số liệu này còn nhiều hơn nếu kể lượng bã mía cũ còn lại chưa được sử dụng tại các nhà máy Điều này cho thấy nguồn bã mía chưa được tận dụng đúng mức Ở nước ta bã mía chủ yếu được sử dụng để trồng nấm, sản xuất điện, nhiên liệu sinh học, thức ăn gia súc hoặc là ủ phân hữu cơ để trồng cây,… Tại các nhà máy
Trang 24đường, bã mía thường được đem đi đốt để cung cấp một phần năng lượng cho nhà máy, hoặc kết hợp với các phụ gia khác để sản xuất ván ép, nhưng chủ yếu là được đốt
đi và điều đó gây ảnh hưởng xấu đến môi trường Việc sử dụng bã mía để trồng nấm là
giải quyết tốt vấn đề ô nhiễm môi trường Qua quá trình nuôi cấy, nấm sẽ phân hủy bã mía thành các phân vi sinh nhờ hệ enzyme của nấm Bã mía sau khi trồng nấm có thể được chế biến và trở thành nguồn phân hữu cơ chất lượng thay thế phân hóa học cho việc canh tác nông nghiệp
Căn cứ vào kết quả thí nghiệm và các số liệu thống kê, các nhà khoa học thuộc Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật -Viện Di truyền Nông nghiệp (trích bởi Dương Hoàng Tú, 2011) đã đi tới nhận xét, nuôi nấm trên bã mía cũng đưa lại năng suất tương đương với rơm rạ, mùn cưa Thậm chí, ở nấm bào ngư và mộc nhĩ, phương pháp này còn đem lại năng suất cao hơn Sau đây là vài số liệu so sánh cụ thể:
- Năng suất trung bình của nấm rơm trên bã mía khô đạt 12,08%, trong khi trên
rơm rạ khô đạt 12,6% (tính phần trăm sản phẩm tươi trên nguyên liệu khô)
- Năng suất trung bình của nấm mỡ trên bã mía khô đạt 23,2% (trên rơm rạ khô đạt
Cây mía được trồng từ Bắc tới Nam Thành phần hóa học của mía thay đổi theo
giống, đất đai và chế độ canh tác Trong bã mía chứa trung bình 49% là nước, 48% là
xơ (trong đó chứa 45-55% cellulose) 2,5% là chất hoà tan mà chủ yếu là đường (Jennifer và Trade, 2008) Nguồn đường trong bã mía cung cấp carbon cho tơ nấm phát triển và kích thích hình thành quả thể Nhưng nếu hàm lượng đường còn xót lại quá cao sẽ làm ảnh hưởng đến tỷ lệ C/N khi trồng nấm Để tận dụng được bã mía cho trồng nấm, bã mía cần phải được phơi khô rồi nghiền nhỏ hoặc chặt vụn ra, sau đó xử
lý với nước vôi để giảm bớt lượng đường thừa và tăng pH
Trang 25Bảng 4: Thành phần hoá học trong bã mía
Nguồn: a/ Chu Thị Thơm et al ( 2006)
b/ Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm Viện Chăn nuôi Quốc gia ( 2001)
c/
http://www.biotechnologyforbiofuels.com/content/4/1/54, ngày 25/8/2013
2.3.2 Mạt cưa cao su
Mạt cưa cao su là nguồn phế phẩm của các cơ sở sản xuất gỗ cao su Mạt cưa cao
su thường được sử dụng để làm chất đốt, sản xuất ván ép và ứng dụng rộng rãi nhất là làm cơ chất để nuôi trồng nấm.Thành phần chính của mạt cưa gồm có: 45% cellulose, 18-25% lignin, 24-40% hemicellulose và các chất khoáng Đặc biệt, mạt cưa cao su
không chứa chất dầu, chất thơm (Nguyễn Đức Lượng, 2004) Đây là điều kiện thuận
lợi đối với việc chọn giá thể trồng nấm bào ngư Việc trồng nấm bằng mạt cưa có nhiều ưu điểm là dễ xử lý và bổ sung dinh dưỡng hay phối trộn với các cơ chất khác và thích hợp đối với nhiều loài nấm
Bảng 5: Thành phần hoá học trong mạt cưa cao su
(Nguồn: Trần Quốc Lương, 2003)
2.4 Thành phần dinh dưỡng một số loại phụ gia sử dụng trong trồng nấm
2.4.1 Cám gạo
Trong qui trình xay xát và chế biến gạo, sau khi thu được sản phẩm chính là gạo thì còn một sản phẩm phụ có giá trị khá cao đó là cám gạo Cám gạo có màu sáng và
Trang 26mùi thơm đặc trưng Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cám gạo biến động rất lớn, phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật xay xát gạo
Bảng 6: Thành phần hóa học của một vài loại cám gạo
Thành phần hóa học
(% trọng lượng khô)
Cám gạo tẻ xay xát loại 1
Cám gạo tẻ xay xát loại 2
Cám gạo lau
Cám gạo nếp
( Nguồn : Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm Viện Chăn nuôi Quốc gia, 2001)
Cám gạo thường có dạng bột, mềm và mịn chiếm khoảng 10-12% khối lượng lúa chưa xay xát Cám được hình thành từ lớp vỏ nội nhũ, mầm phôi của hạt, những hạt gạo bị gãy vỡ, cũng như một phần từ tấm Cám gạo lau thì không có chứa những hạt gạo gãy vỡ và hàm lượng tấm chiếm tỷ lệ cao Thành phần của cám gạo có nhiều loại vitamin nhất là vitamin nhóm E, nhóm B, Zn, Ca, K, chất béo chưa bão hòa và nhiều
xơ dễ tiêu Hàng năm trên thế giới có khoảng 40-45 triệu tấn cám được sản suất và khoảng 90% là nằm ở châu Á, nơi sản xuất lúa gạo lớn nhất thế giới
Với thành phần dinh dưỡng cao và đa dạng nên cám gạo thường được dùng làm nguyên liệu cho thức ăn thủy sản và gia súc, bên cạnh đó còn được dùng để trích ly tinh dầu cám gạo Loại dầu này cũng có thể cho vào các loại thực phẩm với tác dụng
bổ sung thêm các chất béo không no mà cơ thể không tự tổng hợp được Với lượng vitamin E và nhóm B dồi dào, dầu cám cũng được ứng dụng trong lĩnh vực mỹ phẩm
và y học làm các loại kem dưỡng da hoặc thực phẩm chức năng Ngoài ra, cám gạo còn có thể làm nguồn dinh dưỡng cho việc nuôi trồng nấm giá rẻ, thành phần dinh dưỡng cao, dễ phối trộn, là nguồn dinh dưỡng dồi dào cần thiết cho sự phát triển của nấm nên được sử dụng rất phổ biến
2.4.2 Bột bắp
Bột bắp là một loại bột mịn được xay ra từ các hạt bắp Giá trị dinh dưỡng của bắp còn tùy thuộc vào giống bắp và thời gian thu hoạch của bắp Bắp chứa nhiều tinh bột và hàm lượng xơ thấp, giá trị năng lượng trao đổi cao Bên cạnh đó hàm lượng protein trong bắp biến động lớn từ 8-11% Tỷ lệ chất béo trong hạt bắp tương đối cao
Trang 27(3-18%) chủ yếu tập trung trong mầm bắp Bột bắp khó bảo quản hơn hạt vì chất béo
dễ bị oxy hóa (http://www.fao.org/docrep/t0395e/t0395e03.htm, ngày 27/8/2013)
Bảng 7: Thành phần hóa học của một số loại bắp và sản phẩm từ bắp
Cám bắp
Bột lõi bắp
( Nguồn : Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm Viện Chăn nuôi Quốc gia, 2001)
2.4.3 Phân DAP (Di-amoni-phosphate)
Amoniac và acid Phân DAP có nhiều loại, DAP Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Philippine,…
DAP là loại phân trung tính, thành phần gồm:
2.5 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm bào ngư ở nước ngoài và Việt Nam 2.5.1 Tình hình ngoài nước
chất thải nông nghiệp làm cơ chất so với các loại nấm khác Vì vậy, nấm
Trang 28bào ngư đã được nghiên cứu và trồng thử nghiệm trên nhiều loại cơ chất khác nhau như mạt cưa, lá chuối, rơm rạ, lõi ngô, mụn dừa, bã mía, trấu,…tại rất nhiều nước trên thế giới với mục đích là tận dụng tốt nguồn chất thải nông nghiệp, bảo vệ môi trường
và tạo nguồn sản phẩm cung cấp cho con người
Badshah et al (1992) đã thử nghiệm trồng nấm bào ngư (Pleurotus spp.) trên các
cơ chất như bã mía, lõi ngô, mạt cưa và trồng trên đất Sản lượng đạt khoảng 432,8g/2kg cơ chất, trong đó cơ chất rơm lúa mì cho sản lượng cao nhất sau đó là bã mía, lõi ngô và cuối cùng là mạt cưa
18,5-Hong et al (1992) nghiên cứu về ảnh hưởng của dầu thực vật lên sự phát triển của tơ nấm Pleurotus sajor-caju Cơ chất được sử dụng để sản xuất nấm là rơm rạ, vỏ
trái đậu Hà Lan, vỏ trấu, vỏ trái ca cao, bã cà phê Kết quả tơ phát triển tốt nhất khi thêm dầu ép từ hạt bông (12mg/ml) Hiệu suất sinh học thu được tương ứng đối với rơm rạ là 36,4%, vỏ trái đậu Hà Lan là 32,6% Sản lượng cao nhất ở cơ chất được phối trộn bởi 50% rơm rạ và 50% bã bia là 109,6% theo sau là 50% vỏ trái đậu Hà Lan phối trộn 50% bã bia là 74,5%
Nấm Bào Ngư Trắng (Pleurotus florida) được trồng trong điều kiện phòng thí
nghiệm, cho thấy kết quả tỉ lệ phần trăm sản lượng nấm tươi đạt cao nhất trên cơ chất
lá chuối, sau đó là rơm lúa và thấp nhất là rơm lúa mì (Jiskani et al., 1999)
Ponmurugan et al (2007) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các cơ chất như rơm lúa gạo, rơm lúa miến, bã mía và mạt cưa giấy thải lên sự phát triển và chất lượng của nấm
năng suất cao nhất trên rơm lúa gạo (268,94g/kg cơ chất khô), sau đó là bã mía (124,35g/kg), rơm lúa miến (108,75g/kg) và thấp nhất là mạt cưa giấy thải (80,33g/kg) Bên cạnh đó thành phần dinh dưỡng như: tổng protein hòa tan, tổng acid amin, tổng đường hòa tan cũng đạt giá trị cao nhất ở rơm lúa gạo (33,33mg/g, 25,73mg/g, 15,56mg/g), tiếp đó là bã mía (28,38mg/g, 22,34mg/g, 13,88mg/g), rơm lúa miến (25,34mg/g, 21,23mg/g, 13,88mg/g) và thấp nhất là mạt cưa giấy thải
Trong khi đó, Prabhakaran et al (2009) trồng nấm Bào Ngư Trắng (Pleurotus
sajor-caju) trong điều kiện phòng thí nghiệm, trên cơ chất cotton thải và cám lúa mì
năng suất đạt đến 74,35g nấm tươi/200g cơ chất, và chỉ thu được 51,38g nấm tươi/ 200g cơ chất rơm lúa gạo và cám
Trang 29Sumiati et al (2006) công bố kết quả trồng nấm Pleurotus ostreatus tại miền tây
Java trên cơ chất mạt cưa bổ sung thêm cám gạo với các tỉ lệ lần lượt là 5, 10, 15 và 20% Kết quả đạt được cao nhất 2317,36g nấm tươi/kg cơ chất khô ở nghiệm thức mạt cưa kết hợp 5% cám gạo so với các nghiệm thức khác Tương tự như vậy, các cơ chất khác như lá chuối khô, cỏ khô, rơm, bã mía bổ sung 5-15% cám gạo cho năng suất từ
600 đến 1200g nấm tươi/kg cơ chất
Ngoài các phụ phẩm thông thường như rơm, mạt cưa, cotton…Vetayasuporn (2007) đã sử dụng mụn dừa phối hợp cùng mạt cưa với các tỉ lệ lần lượt 1:3, 1:1 và 3:1
trồng nấm Bào Ngư Trắng (Pleurotus florida) năng suất đạt được tương ứng là
559,67g/kg, 433,98g/kg và 443,94g/kg cơ chất khô, và khi trồng trên cơ chất 100% mụn dừa chỉ cho sản lượng 278,78g/kg, cũng như 100% mạt cưa chỉ đạt 536,85g/kg cơ chất khô
Đầu năm 2006, sở Nông nghiệp Kiên Giang sản xuất thử 1.000 bịch phôi nấm Bào Ngư Nhật trên mụn dừa nhưng chỉ khoảng 828 bịch cho ra nấm với tổng lượng thu 124kg, năng suất trung bình 150g nấm/bịch Sau mỗi vụ lúa một số bà con nông
dân đã tận dụng rơm để trồng Bào Ngư Trắng (Pleurotus florida), sau 45 ngày thu
hoạch được khoảng 100kg nấm/100 bịch meo (http://www.2lua.vn, ngày 28/8/2013) Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP Hồ Chí Minh thử nghiệm nuôi trồng nấm bào ngư trên bã mía, thân và lá bắp, thu được kết quả sau: với thân bắp, hiệu suất
Trang 30sinh học là 55,58%, ở lá bắp là 60,47% và đạt 86,63% trên bã mía Bên cạnh đó, năng suất nấm trung bình đối với trường hợp trồng trên mạt cưa cao su khoảng từ 300-400g/bịch 1,5kg cơ chất, nếu là mạt cưa tạp chỉ khoảng 200-300g/bịch 1,5kg Trường hợp trên bã mía kết quả khả quan hơn, năng suất có thể đạt được 300-500g/bịch 1kg Tuy nhiên, khi so sánh về chất lượng thì nấm trên mạt cưa vẫn cho tai nấm tốt hơn Trên rơm, nấm dễ ra và nhiều, nhưng tai nấm thường nhỏ và mỏng (Lê Duy Thắng, trích từ http://v3.mushclubvn.com, ngày 25/8/2013)
Tại Đồng Tháp năm 2010, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư đã hỗ trợ, chuyển giao nghề trồng và chăm sóc nấm bào ngư cho các huyện Hồng Ngự, Tam Nông, Tháp Mười và thành phố Cao Lãnh Kết quả cho thấy qua 3 tháng nuôi trồng
Châu Thị Chấp Ngãnh (2010) đã trồng nấm Bào Ngư Trắng (Pleurotus florida)
trên ba loại cơ chất là mùn cưa cao su, bã mía và mụn dừa với sự bổ sung thêm 8% cám gạo, 8% bột bắp và 4% cám trộn với 4% bột bắp Kết quả cho thấy năng suất nấm trồng trên mùn cưa cao su và bã mía ở những nghiệm thức có bổ sung dinh dưỡng đạt
từ 270-300g/kg cơ chất khô vào cao hơn so với đối chứng Kết quả nghiên cứu của Trầm Thị Thanh Hương (2009) trên bốn loại cơ chất: mạt cưa, cùi bắp, bã mía và rơm
rạ có sự điều chỉnh C/N bằng phân urea cũng cho kết quả cao ở nghiệm thức trồng bằng cùi bắp và bã mía, đạt hiệu suất sinh học trên 20% Dương Hoàng Tú (2011)
cũng đã nghiên cứu trồng nấm Bào Ngư Trắng (Pleurotus florida) trên ba loại cơ chất
là mạt cưa cao su, bã mía và mụn dừa với sự bổ sung dinh dưỡng gồm: cám gạo, bột bắp, đậu nành và ure Kết quả cho thấy hiệu suất sinh học đạt cao nhất là trên giá thể
bã mía bổ sung đậu nành và mùn cưa bổ sung đậu nành (63,2-67,0%), kế đến là nghiệm thức mùn cưa bổ sung cám bắp (60,7%)
Trang 31CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương tiện nghiên cứu
3.1.1 Địa điểm và thời gian
- Địa điểm: Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Nấm Việt (Tổ 16, khu vực Bình
Trung, đường Võ Văn Kiệt, phường Long Hòa, quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ) Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học Phân tử Thực vật thuộc Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học, Trường Đại học Cần Thơ
- Thời gian: từ tháng 4/2013 đến tháng 10/2013
3.1.2 Nguyên liệu
- Giống nấm Bào Ngư xám Nhật (Pleurotus sajor-caju) thuần được cung cấp từ
DNTN Nấm Việt
- Bã mía được thu từ Nhà máy đường Phụng Hiệp, Hậu Giang Mạt cưa cao su sử
dụng được cung cấp từ DNTN Nấm Việt (thu mua tại Bình Phước)
- Cám gạo và bột bắp được thu mua từ cơ sở thức ăn gia súc Hồng Phước, đường
30/4 quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ Vôi bột và phân DAP được thu mua từ Đại
lý Bảo vệ thực vật Hoàng Nguyễn, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ
3.1.3 Thiết bị-dụng cụ và hóa chất
- Thiết bị vô cơ mẫu FOSS, thiết bị chưng cất đạm Kjeltec 2300, lò nung cao độ
Nabertherm, tủ sấy, tủ cấy Huy Hoàng, bình hút ẩm, nồi khử trùng, lò hấp thanh trùng, cân điện tử, cân đồng hồ, chai thủy tinh, kẹp, dao cấy, túi nylon, nút nhựa, bông, thun, giấy,…
- Hóa chất: nước cất, H2SO4 đậm đặc, H3BO3, H2SO4 0,1N, NaOH 40%,
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Khảo sát ảnh hưởng của cơ chất mạt cưa cao su và bã mía lên sự sinh trưởng, chất lượng và hiệu quả kinh tế của việc trồng nấm Bào Ngư Xám Nhật
(Pleurotus sajor-caju)
Mục đích thí nghiệm: xác định tỉ lệ của thành phần cơ chất bã mía và mạt cưa cao
su tối ưu nhất cho năng suất nấm cao và chất lượng tốt
Trang 32Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo Bảng 8 với 5 nghiệm thức Mỗi
nghiệm thức là một tỉ lệ phối trộn của 2 thành phần cơ chất mạt cưa cao su và bã mía với tỉ lệ bã mía tăng dần, cùng 1 mức bổ sung chất dinh dưỡng Mỗi nghiệm thức gồm
3 lần lặp lại, mỗi lặp lại là 6 bịch phôi
Bảng 8: Bảng bố trí tỉ lệ cơ chất và thành phần dinh dưỡng bổ sung vào các
mạt cưa cao
su
70% mạt cưa cao su 30% bã mía
50% mạt cưa cao su 50% bã mía
30% mạt cưa cao su 70% bã mía
Hình 2 Quy trình trồng nấm Bào Ngư Xám Nhật (Pleurotus sajor – caju)
(Nguồn: Lê Duy Thắng (2006) có điều chỉnh)
Đóng bịch, khử trùng
92 - 98oC, 10 giờ
Mạt cưa cao su xử lý với nước vôi (1%);
bã mía (3%), vôi được pha với nước tưới
đều lên cơ chất
Ủ đống: mạt cưa cao su ủ 1 ngày và bã mía
ủ khoảng 2 tuần Sau đó cân và phối trộn 2
thành phần cơ chất này lại
Trang 33Để nuôi trồng nấm Bào Ngư Xám Nhật (Pleurotus sajor-caju) cần phải có giống
nấm, giống nấm bao gồm tất cả các dạng mang sinh khối của nấm Điều quan trọng là giống cấy phải thuần, không bị lẫn tạp bởi vi khuẩn, nấm mốc hay các loài nấm khác Giống thuần do DNTN Nấm Việt cung cấp
- Một kilogram lúa đem phơi khô, loại bỏ hạt lép, ngâm nước khoảng 3 giờ và nấu
đến khi hạt lúa vừa nở Sau đó đổ ra và để ráo bổ sung thêm 2% cám gạo, cho hỗn hợp vào chai thủy tinh, đậy bằng nút bông và khử trùng ở 1210C trong 90 phút Sau khi khử trùng xong lấy ra để nguội và quan sát sự nhiễm vi sinh vật ở các chai sau 2-4 ngày
- Bước tạo giống cấp 1 được thực hiện trong tủ cấy vô trùng Dùng kẹp inox gấp
từng mẫu agar chứa dòng nấm thuần, cho vào chai lúa đã được chuẩn bị ở bước trên và
môi trường hạt lúa tạo thành giống cấp 1
Nhân giống cấp 2 (giống sản xuất)
Chọn môi trường thân khoai mì làm môi trường nhân giống cấp 2 Các bước sản xuất:
- Thân cây khoai mì được gọt sạch vỏ, cắt thành từng đoạn nhỏ khoảng 10cm, chẻ thành que, phơi khô Sau đó đun sôi với 1% vôi (khoảng 4-6 giờ), vớt ra, rửa sạch và
để ráo nước, bổ sung thêm 1% đường, 2% cám gạo Cho hỗn hợp vào chai thủy tinh,
nguội và quan sát sự nhiễm vi sinh vật ở các chai sau 2-4 ngày, loại bỏ các chai bị nhiễm
- Bước tạo giống cấp 2 được tiến hành trong tủ cấy vô trùng Dùng muỗng inox
nhỏ khử trùng thật kỹ trên ngọn lửa đèn cồn, để nguội và múc khoảng 3 muỗng giống cấp 1 (từ môi trường lúa đã thực hiện từ bước trên và đã lan tơ hoàn chỉnh) cho vào
Trang 34khi sợi tơ nấm phát triển tốt và lan trắng cả khối khoai mì trong chai thủy tinh tạo thành giống cấp 2
b Sản xuất bịch phôi (Lê Duy Thắng (2006) có điều chỉnh va ̀ bổ sung)
- Xử lý nguyên liệu
Bã mía được xử lý với nước vôi 3% để diệt vi khuẩn và trung hòa pH Trộn đều
để đạt độ ẩm thích hợp (không quá ướt cũng không quá khô), sau đó ủ đống (khoảng 2 tuần) và đậy kín bằng màng phủ nylon Mạt cưa cao su được ủ đống với 1% nước vôi trong 1 ngày
Sau quá trình ủ là quá trình cân phối trộn tỉ lệ cơ chất theo các nghiệm thức đã thiết kế và bổ sung dinh dưỡng theo Bảng 8 (riêng đối với phân DAP có thể bổ sung vào bằng cách ngâm với nước 2 ngày rồi tưới vào cơ chất hoặc là làm nhuyễn và trộn ủ với cơ chất 1 ngày trước khi vào bịch), trộn đều (có thể bổ sung thêm nước nếu hàm lượng ẩm chưa đạt 60-65%) và phân phối vào bịch Khối lượng mỗi bịch là 1,2kg, bịch phôi phải có độ rắn vừa phải, không nên nén chặt bịch quá, đóng nút cổ, ghim lỗ cơ
trong 10 giờ
- Cấy giống nấm vào bịch phôi
Bịch phôi sau khi khử trùng để nguội khoảng 1-2 ngày, sau đó tiến hành cấy
trùng thật kỹ trên ngọn lửa đèn cồn gấp que khoai mì (trong chai giống cấp 2) cấy vào
lỗ mà ta đã ghim vào bịch phôi ở giai đoạn phân phối cơ chất vào bịch và đậy nút bông lại cho chặt Sau khi cấy xong thì vận chuyển bịch phôi ra nhà trồng và chất lên kệ ủ (nhà trồng của DNTN Nấm Việt) Theo dõi sự phát triển của nấm
c Kỹ thuật trồng và chăm sóc nấm
- Điều kiện nhà trồng
Theo Lê Duy Thắng (2006), nhà trồng nấm phải sạch sẽ, cao ráo, thoáng khí, thoát nước và giữ được độ ẩm Thiết kế nhà trồng tốt nhất là nhà lá, phủ cát phía dưới nền và che màng xung quanh để giữ ẩm cho tốt Tùy mỗi loại nấm mà có khoảng nhiệt
độ và độ ẩm thích hợp khác nhau Ngoài ra, khoảng nhiệt độ và độ ẩm của từng loài nấm cũng khác nhau trong từng giai đoạn sinh trưởng của nấm Tuy nhiên, nhìn chung
Trang 35nhẹ để hệ sợi nấm phát triển tốt Điểm quan trọng đối với nhà trồng là thiết kế sao cho
có được độ ẩm và ánh sáng thích hợp với từng loài nấm nuôi trồng Một yếu tố nữa là nhà trồng cần bố trí tránh xa các nguồn lây nhiễm cho nấm trong suốt quá trình sản xuất
- Trồng và chăm sóc nấm
Lúc mới đem bịch phôi vào ủ ở nhà trồng không được tháo nút bông và không được tưới nước trực tiếp vào bịch phôi Chỉ tưới nước dưới nền để giữ độ ẩm không khí trong nhà trồng nấm
Khi tơ nấm đã phát triển khắp khối cơ chất và đồng thời không bị nhiễm nấm mốc hay tạp khuẩn thì tiến hành tưới rửa bịch phôi Sau đó 1 ngày, tháo nút bông ở cổ bịch phôi và chỉ tưới dưới nền để giữ độ ẩm cho nhà trồng, 2-3 ngày sau khi tháo nút bông mới được tưới (phun sương) trực tiếp lên bịch Lúc đầu thì chỉ tưới trực tiếp lên bịch phôi khoảng 1 lần/ngày để giữ độ ẩm, đến khi quả thể nấm xuất hiện và phát triển
ra phía ngoài bịch thì tăng cường tưới trực tiếp lên bịch khoảng 4-6 lần/ngày đối với trời hanh khô, trời ẩm ướt thì tưới 1-2 lần/ngày, trời mưa nhiều thì không cần tưới (Nguyễn Lân Dũng, 2004) Việc tưới nên tưới lúc sáng sớm, trưa và chiều mát, nếu buổi trưa nắng nóng quá thì có thể tưới 2 lần
Quan sát sự phát triển của nấm, nếu quan sát phía sau bịch phôi có sự xuất hiện của các nụ nấm thì tiến hành rạch bịch (phía trước đầu nụ nấm khoảng 2cm) để cho nụ nấm phát triển ra bên ngoài tạo thành quả thể Cũng có thể rạch 2 bên thân bịch phôi, mỗi bên khoảng 2 đường 2cm, nhưng việc rạch bịch nhiều quá làm cho tai nấm có kích thước nhỏ và thời gian thu hoạch nấm càng rút ngắn Chú ý, việc rạch bịch phải tiến hành trước khi tưới hoặc sau khi tưới bịch phôi ít nhất là 3 giờ (Theo quy trình sản xuất của DNTN Nấm Việt)
- Nhận biết một số bịch phôi bị bệnh nhiễm lúc trồng
Theo Lê Duy Thắng (2006) thì các bịch phôi trong giai đoạn ủ tơ thường xuất hiện của các mầm bệnh nhiễm hơn là giai đoạn thu hoạch Các tác nhân bệnh nhiễm trong giai đoạn này rất dễ phát hiện do có màu sắc khác thường như là nấm
Trichoderma spp., nấm gió (Coprinus), nấm nhầy, ấu trùng ruồi non, hoặc tạp khuẩn
có thể quan sát được bằng mắt thường Đối với những bịch bị nhiễm này không được tháo nút bông ra mà phải loại các bịch này ra khỏi nơi trồng để tránh lây nhiễm cho các bịch khác
Trang 36d Thu hoạch nấm
Nấm bào ngư thường mọc tập trung thành từng chùm Khi quả thể nấm đã đủ lớn thì tiến hành thu hái cả chùm một lúc Nấm được hái đúng độ tuổi sẽ cho năng suất cao, chất lượng tốt Nếu để quá già, chất lượng nấm bị giảm, ăn không ngon Đối với nấm bào ngư, khi nấm chuyển từ dạng phễu sang dạng lá thì tiến hành thu hoạch, dùng tay nắm lấy phần cuống nấm kéo nhẹ và lấy hết cả chân nấm Sau khi thu hoạch xong phải loại bỏ hết phần chân nấm còn sót lại trên bịch phôi để nấm có thể ra quả thể tốt hơn ở các đợt tiếp theo (Đường Hồng Dật, 2002)
Ở nấm bào ngư, số lần thu hoạch thông thường khoảng 2-3 đợt, đôi khi là 4-5 đợt Mỗi lần thu hoạch cách nhau 15-20 ngày Tuy nhiên, năng suất nấm của lần sau sẽ không bằng lần trước trên cùng một bịch phôi (quả thể ra nhỏ hơn, sản lượng và khối lượng ít hơn) Khi thu hái xong đợt đầu, dừng lại 5-7 ngày không được tưới nước lên bịch mà chỉ cần tạo độ ẩm vừa phải cho không khí trong nhà trồng là được (Nguyễn Lân Dũng, 2004)
e Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp đánh giá
- Ghi nhận và so sánh sự lan tơ nấm theo thời gian (tuần), số ngày tơ lan khắp khối
cơ chất, và thời gian bắt đầu thu hoạch (quả thể ở dạng lá) ở mỗi nghiệm thức trên từng cơ chất và giữa các cơ chất với nhau
Phương pháp: Theo dõi và ghi nhận ngày cấy giống vào bịch phôi và ủ tơ Theo
dõi sự phát triển của tơ nấm hằng ngày, ghi nhận độ lan tơ bằng cách đo ngẫu nhiên chiều dài sự lan tơ quanh khối cơ chất tính từ nút cổ bịch phôi (khoảng 15 bịch phôi ở mỗi nghiệm thức, chiều dài tính từ đầu bịch phôi) mỗi tuần tính từ lúc cấy giống vào bịch phôi, tính giá trị trung bình và so sánh giữa các nghiệm thức với nhau Ghi nhận thời gian tơ nấm lan trắng hoàn toàn bịch phôi và thời gian bắt đầu thu hoạch nấm ở mỗi nghiệm thức (tính từ lúc cấy giống vào bịch phôi)
- Ghi nhận năng suất của nấm qua các đợt, so sánh năng suất ở mỗi nghiệm thức
trên từng cơ chất và giữa các cơ chất với nhau
Phương pháp: Thu hái nấm và ghi nhận trọng lượng nấm theo từng ngày và theo
từng bịch riêng ở các nghiệm thức (sử dụng cân đồng hồ 1 kg)
- Ghi nhận kích thước đường kính của tai nấm sau khi thu hoạch ở mỗi nghiệm
thức
Trang 37Phương pháp: Quả thể nấm sau khi được thu hoạch xong thì tiến hành đo kích
thước đường kính của tai nấm theo chiều ngang và theo từng nghiệm thức
- Nấm được thu hoạch vào lúc sáng sớm và lúc chiều, trước khi tưới nấm sau đó
khảo sát một số chỉ tiêu như:
trích bởi Nguyễn Thị Thu Thủy và Nguyễn Công Hà, 2009) (Phụ lục 2)
- Khảo sát ảnh hưởng của thành phần cơ chất mạt cưa cao su và bã mía đến hiệu
quả kinh tế:
Số đợt cho thu hoạch và thời gian cho thu hoạch ở mỗi nghiệm thức Dựa vào số liệu thu hoạch nấm đã ghi nhận tính ra số đợt thu hoạch nấm ở mỗi nghiệm thức (thường mỗi đợt cách nhau khoảng 2-3 tuần)
Trọng lượng trung bình của nấm ở mỗi nghiệm thức qua các đợt Dựa theo
số liệu ghi nhận, tính trọng lượng trung bình của nấm ở từng nghiệm thức
Tính hiệu suất sinh học (Biological Efficiency (BE)): năng suất nấm tươi/kg
cơ chất khô (Chang et al., 1981)
Hiệu suất sinh học (BE) = x x 100
Đánh giá hiệu quả kinh tế qua giá thành sản phẩm nấm bào ngư và chi phí cho sản xuất (ở thời điểm hiện tại) theo từng nghiệm thức
3.2.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel và phân tích thống kê bằng phần mềm Minitab 16
Trọng lượng khô của cơ chất (g)
Trang 38CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất đến sự sinh trưởng và chất lượng của
nấm Bào Ngư Xám Nhật (Pleurotus sajor-caju)
4.1.1 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất đến sự tăng trưởng của tơ nấm theo thời gian
Hình 3 Biểu đồ biểu diễn chiều dài tăng trưởng trung bình của tơ nấm qua
các tuần ở các nghiệm thức
Ghi chú: 1: Nghiệm thức đối chứng 100% mạt cưa cao su; 2: Nghiệm thức phối trộn 70% mạt cưa cao su +
30% bã mía; 3: Nghiệm thức phối trộn 50% mạt cưa cao su + 50% bã mía; 4: Nghiệm thức phối trộn 30% mạt cưa cao su + 70% bã mía; 5: Nghiệm thức 100% bã mía Các giá trị trung bình trong cùng một tuần có ký tự theo sau giống nhau thì thể hiện sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức 5%
trưởng của tơ nấm giữa các nghiệm thức trong cùng một tuần khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê Kết quả cho thấy trong tuần 2 và tuần 3 thì nghiệm thức 2 có tốc
độ lan tơ nhanh nhất, kế đến là nghiệm thức 1, nghiệm thức 5, nghiệm thức 4 và cuối cùng là nghiệm thức 3 Nhưng qua tuần 4 thì nghiệm thức 5 (100% bã mía) bắt đầu tăng trưởng chậm lại và thấp nhất (8cm) trong khi các nghiệm thức còn lại vẫn tăng trưởng bình thường Đến tuần 5 thì mức tăng trưởng tơ nấm thay đổi rõ rệt giữa các nghiệm thức, nghiệm thức 1 (100% mạt cưa cao su) có sự lan tơ nhanh hơn các nghiệm thức còn lại (17,13cm), kế đến là nghiệm thức 2, nghiệm thức 3, nghiệm thức
ab
Trang 394 và cuối cùng là nghiệm thức 5 (100% bã mía) (13,53cm) Còn về tăng trưởng của tơ nấm giữa các tuần thì ở giai đoạn đầu tơ nấm tăng trưởng chậm, cụ thể là ở tuần 3 (sau khi cấy) chiều dài tơ nấm dao động từ 3,20-4,33cm, nhưng khi qua tuần 4 thì bắt đầu tăng trưởng nhanh từ 8,00-12,27cm và đến tuần 5 thì tăng trưởng tơ nấm đạt từ 13,53-17,13cm
Nguyên nhân có thể là do dinh dưỡng trong mạt cưa cao su nấm dễ sử dụng hơn
bã mía, đồng thời cấu trúc của mạt cưa khá nhỏ, diện tích tiếp xúc lớn nên trong quá trình ủ nguyên liệu mạt cưa cao su hệ enzyme của nấm, xạ khuẩn, vi khuẩn kỵ khí,
dễ tiếp xúc và dễ phân hủy cellulose, lignin, hemicellulose trong mạt cưa thành các phân tử đường đơn giản Vì thế ở giai đoạn đầu (tuần 2, 3) khi mới cấy giống nấm vào
cơ chất, tơ nấm chưa thích hợp với môi trường mới, tơ còn yếu chưa sản sinh nhiều enzyme để thủy phân các hợp chất cao phân tử của cơ chất tạo nguồn dinh dưỡng cho nấm phát triển thì nấm sẽ sử dụng những dinh dưỡng có sẵn để phát triển và sản sinh
ra hệ enzyme cellulase, hemicellulase, laccase tiếp tục phân hủy các hợp chất trong cơ chất này và sử dụng các đường đơn tạo ra để sinh trưởng, phát triển Bên cạnh đó, ở nghiệm thức có phối trộn thành phần bã mía thì nấm sử dụng trực tiếp lượng đường có sẵn trong bã mía để tăng trưởng và phát triển, nên giai đoạn đầu tơ nấm ở các nghiệm thức này phát triển tương đối tốt Trong đó, nghiệm thức 2 (70% mạt cưa cao su và 30% bã mía) có tốc độ tăng trưởng tơ mạnh nhất ở tuần 2, 3, 4 Có thể là do ở nghiệm thức này lượng đường có sẵn trong 70% mạt cưa và lượng đường trong 30% bã mía rất thích hợp với sự tăng trưởng của tơ nấm Tuy nhiên, khi lượng đường được tạo ra cộng với lượng đường có sẵn trong cơ chất nhiều hơn nhu cầu sử dụng của nấm sẽ ức chế lại
sự phát triển của tơ nấm Điều này biểu hiện rõ nhất trong tuần 5 khi các nghiệm thức
có tỉ lệ 30%, 50%, 70% và 100% bã mía tăng trưởng chậm theo thứ tự, riêng đối với nghiệm thức 5 (100% bã mía) có biểu hiện tăng trưởng chậm từ tuần thứ 4
Bên cạnh đó cũng phải kể đến yếu tố rất quan trọng là độ ẩm của cơ chất, đối với mạt cưa cao su khả năng giữ ẩm khá tốt nên không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và ẩm độ bên ngoài bịch phôi, còn về bã mía thì do cấu trúc sợi nên khả năng giữ ẩm kém hơn,
dễ mất ẩm do yếu tố bên ngoài môi trường nên hầu hết các nghiệm thức có thành phần
bã mía cao đều có tốc độ tăng trưởng chậm ở các tuần về sau Ngoài ra, cấu tạo dạng hạt với đặc tính xốp trong điều kiện đóng bịch của mạt cưa cao su làm tăng thể tích oxy bên trong bịch phôi, trong khi đó cơ chất bã mía với cấu trúc sợi đã làm giảm thể tích khí oxy cũng là nguyên nhân làm hạn chế sự phát triển của tơ nấm
Trang 404.1.2 Ảnh hưởng của thành phần cơ chất đến thời gian tơ nấm lan khắp khối cơ chất
Bảng 9 Thời gian tơ nấm bắt đầu và kết thúc lan tơ khắp khối cơ chất (ngày)
Thời gian bắt đầu Thời gian kết thúc
Qua kết quả Bảng 9 cho thấy thời gian bắt đầu lan tơ khắp khối cơ chất ở các nghiệm thức khoảng từ 39-40 ngày, trong khi đó nghiệm thức 100% bã mía tơ nấm phát triển chậm, vì vậy thời gian để tơ lan khắp khối cơ chất chậm hơn (51 ngày) so với các nghiệm thức còn lại Thời gian tơ nấm kết thúc lan khắp khối cơ chất nhanh nhất là ở nghiệm thức 100% mạt cưa cao su và nghiệm thức 70% mạt cưa cao su và 30% bã mía (51 ngày), tiếp theo là nghiệm thức 50% mạt cưa cao su và 50% bã mía(55 ngày), 30% mạt cưa cao su và 70% bã mía (57 ngày) và cuối cùng là nghiệm thức 100% bã mía (62 ngày) Kết quả này cho thấy sự phát triển của tơ nấm bị ảnh hưởng của thành phần cơ chất mạt cưa cao su và bã mía Nghiệm thức chứa tỉ lệ mạt cưa cao su cao thì tơ nấm phát triển càng nhanh và ngược lại Nguyên nhân có thể là
do mạt cưa cao su chứa nhiều thành phần mà nấm dễ hấp thụ, cơ chất mạt cưa cao su khá xốp và có cấu tạo dạng hạt, giữ ẩm tốt nên tơ nấm dễ tiếp xúc và phát triển Trong khi đó, cơ chất bã mía giữ ẩm không tốt, bã mía còn chứa lượng đường cao làm ức chế
sự phát triển của tơ nấm ở giai đoạn sau Bã mía lại có cấu trúc sợi nên bịch phôi chứa
tỉ lệ bã mía cao thường được nén chặt để đảm bảo khối lượng vì vậy làm cho cơ chất mất đi độ xốp cũng là nguyên nhân làm cho tơ nấm tăng trưởng chậm Cũng có thể là
do khối lượng đống ủ bã mía chưa đủ lớn, thời gian ủ chỉ 2 tuần, không đủ điều kiện kích thước đống ủ và nhiệt độ để phân hủy hữu cơ Bên cạnh đó, những ngày nắng nóng làm nhiệt độ nhà ủ tăng cao ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của tơ nấm
Nhưng xét về thời gian bắt đầu và kết thúc lan tơ 100% khối cơ chất thì nghiệm thức 100% mạt cưa cao su và nghiệm thức 100% bã mía là nhanh nhất chỉ trong 12