Đặc điểm sinh lý heo con 2.1.1 Hệ thần kinh chưa hoàn thiện Ở heo con sơ sinh thần kinh chưa hoàn thiện về chức năng, các phản xạ có điều kiện phản xạ thích nghi chưa hình thành, vì th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LÊ TRƯỜNG GIANG
XÁC ĐỊNH HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG, TRỊ BỆNH TIÊU CHẢY PHÂN TRẮNG Ở HEO CON THEO MẸ TẠI THỊ TRẤN TÂN HIỆP II, HUYỆN
TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: THÚ Y
Cần Thơ, 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: THÚ Y
Tên đề tài:
XÁC ĐỊNH HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG, TRỊ BỆNH TIÊU CHẢY PHÂN TRẮNG Ở HEO CON THEO MẸ TẠI THỊ TRẤN TÂN HIỆP II, HUYỆN
TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
MSSV: 3092610 Lớp: Thú Y K35A
Cần Thơ, 2013
Trang 3i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: “Xác định hiệu quả một số biện pháp phòng, trị bệnh tiêu chảy
phân trắng ở heo con theo mẹ tại thị trấn Tân Hiệp II, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang” Do sinh viên Lê Trường Giang thực hiện từ 25/06/2013 đến 30/10/2013
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013 Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Duyệt Bộ môn Duyệt Giáo viên hướng dẫn
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn đến!
Ba Mẹ của tôi, chính người đã sinh ra nuôi dưỡng và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi được như ngày hôm nay Anh, chị, em và những người thân trong gia đình đã chăm lo và động viên tôi trong suốt quá trình theo học
Thầy Nguyễn Dương Bảo đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập để tôi có thể hoàn thành tốt bài luận văn tốt nghiệp này
Quý thầy cô bộ môn Thú Y và bộ môn Chăn Nuôi, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ đã ân cần tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi suốt thời gian qua
Ông Bà, Cô Chú Bác, Anh Chị tại ấp Đông Thái thị trấn Tân Hiệp II, huyện Tân Hiệp- Kiên Giang đã tận tình giúp đỡ tôi để tôi có thể hoàn thành tốt bài luận văn tốt nghiệp này
Cô Nguyễn Thị Thu Tâm cùng tập thể lớp thú y K35A1, tất cả những người thân, những người bạn đã động viên chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập vừa qua
Xin chân thành cảm ơn
Lê Trường Giang
Trang 6iv
Trang 7v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.2: Bố trí thí nghiệm điều trị bệnh tiêu phân trắng ở heo con theo mẹ 24
Bảng 4.2: Tỷ lệ bệnh tiêu phân trắng qua các tuần tuổi của heo con ở nghiệm thức
Bảng 7:So sánh tỷ lệ khỏi bệnh của ngày điều trị thứ nhất của các nghiệm thức 48Bảng 8: So sánh tỷ lệ khỏi bệnh của ngày điều trị thứ hai của các nghiệm thức 49
Trang 8Biểu đồ 4.4.1: So sánh tỷ lệ khỏi bệnh theo thời gian của các nghiệm thức 33
Trang 9vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ctv: cộng tác viên
E.coli: Escherichia coli
IgM: Immunoglobuline Muy
IgG: Immunoglobuline gama
IgA: Immunoglobuline alfa
NT: nghiệm thức
ĐC: đối chứng
Ca: ca bệnh
Trang 10viii
TÓM LƯỢC
Đề tài “Xác định hiệu quả một số biện pháp phòng, trị bệnh tiêu chảy phân
trắng ở heo con theo mẹ” tại thị trấn Tân Hiệp II, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
từ ngày 25/06/2013- 30/10/2013, chúng tôi đã tiến hành khảo sát phòng bệnh trên
113 heo con và điều trị trên heo con theo mẹ
Thí nghiệm phòng bệnh gồm 3 nghiệm thức: nghiệm thức I sử dụng Vime Subtyl từ 1-28 ngày tuổi mỗi ngày một lần, nghiệm thức II sử dụng Baytryl 0,5% cho uống 1,2 ngày tuổi ngày một lần và nghiêm thức đối chứng không phòng gì hết Kết quả thí nghiệm phòng: tỷ lệ tiêu chảy nghiệm thức I thấp nhất là 37,84%
kế đến là nghiệm thức II 52,63% và nghiệm thức đối chứng cao nhất là 63,16% Trọng lượng sau cai sữa của heo ở 28 ngày tuổi của nghiệm thức I là cao nhất với trọng lượng trung bình là 6,44kg, nghiệm thức II là 6,31kg và nghiệm thức đối chứng là 6,28kg Tỷ lệ heo còi của nghiệm thức II là 2,63% còn 2 nghiệm thức I và đối chứng thì 0%
Thí nghiệm trị bệnh: được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên thành 3 nghiệm thức: nghiệm thức I sử dụng Mecoli (sản xuất tại công ty TNHH SX TM THUỐC THÚ Y 1/5, 108/46/6D đường 30.4 TP.CẦN THƠ), dùng 2 lần trên ngày, trong 3 ngày Nghiệm thức II sử dụng Multibio (do công ty Virbac sản xuất), dùng 1 lần trên ngày trong 3 ngày Nghiệm thức III sử dụng Ampiseptryl (do công ty Vemedim sản xuất), dùng1 lần trên trong 3 ngày
Kết quả trị bệnh: tỷ lệ khỏi bệnh của ba nghiệm thức đều đạt 100% Tỷ lệ khỏi bệnh NT I ngày đầu tiên cao nhất là 77,88%, kế đến NT III là 51,61% và thấp nhất
là NT II 43,75% Tỷ lệ tái phát NT III là 6,45%, NT II là 3,12% và NT I là 0% Tỷ
lệ chết thì không có ở các nghiệm thức
Trang 111
CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, trên cả nước nói chung và Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng ngành chăn nuôi heo đã và đang phát triển rất mạnh và trở thành một ngành sản xuất trọng điểm, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn thực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và hướng tới xuất khẩu ra nước ngoài Hiện tại ở Đồng Bằng Sông Cửu Long đã có nhiều trang trại chăn nuôi heo quy mô lớn, quy trình chăn nuôi công nghiệp khép khín mang lại hiệu quả kinh tế cao Bên cạnh đó, phương thức chăn nuôi truyền thống của các nông hộ vẫn đã, đang và sẽ còn được duy trì, nó cũng góp phần không nhỏ trong việc cung cấp nguồn thực phẩm và đem lại kinh tế khá cao cho người dân Tuy nhiên, trong quá trình phát triển ngành chăn nuôi heo, chúng ta cũng gặp rất nhiều khó khăn và thách thức Đăc biệt là mối đe dọa về dịch bệnh Một trong những bệnh thường gặp và cũng gây không ít tổn thất cho các cơ sở chăn nuôi, trong đó có chăn nuôi hộ gia đình là bệnh tiêu chảy phân trắng ở heo con theo mẹ Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra còi cọc hoặc gây chết heo con, làm giảm chất lượng đàn heo và làm tăng chi phí chăn nuôi
Nhằm vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, góp phần làm giảm thiệt hại của bệnh heo con tiêu phân trắng đối với cơ sở chăn nuôi Được sự hướng dẫn của thầy cô Bộ Môn Thú Y và sự chấp thuận, nhiệt tình giúp đỡ của các
cơ sở tôi tiến hành thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài “Xác định hiệu quả một
số biện pháp phòng, trị bệnh tiêu chảy phân trắng ở heo con theo mẹ tại thị trấn Tân Hiệp II, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.”
Trang 122
CHƯƠNG II
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Đặc điểm sinh lý heo con
2.1.1 Hệ thần kinh chưa hoàn thiện
Ở heo con sơ sinh thần kinh chưa hoàn thiện về chức năng, các phản xạ có điều kiện (phản xạ thích nghi) chưa hình thành, vì thế chức năng điều tiết nhiệt cũng như chức năng điều tiết dịch, phối hợp hoạt động cùng cơ quan khác bên trong cơ thể của heo con như: Tiêu hóa, hô hấp, tuần hoàn, bài tiết… hoàn thiện chậm.Vì thế heo con rất dễ bị ảnh hưởng bởi tác động của môi trường (Đào Trọng Đạt, 1996) Trong bụng mẹ, sự cân bằng nhiệt của bào thai được xác định do thân nhiệt của mẹ Sau khi sinh do chưa thể thực hiện được các phản xạ điều hòa thân nhiệt
Vì vậy, hầu hết các heo con sơ sinh trong những giời đầu tiên đều bị giảm thân nhiệt Nửa giờ đầu thân nhiệt giảm 20C-30C, sau đó thân nhiệt dần tăng lên (Đào Trọng Đạt, 1996)
Ngoài ra ở heo con còn có một số đặc điểm cơ thể học làm cho chúng dễ bị mất nhiệt như: cấu trúc cơ thể chủ yếu là nước (82%), mô mỡ dưới da chưa phát triển, glycogen dự trữ thấp, da mỏng, lông thưa Khi mất nhiệt cơ thể sẽ gây rối loạn hoạt động của các cơ quan, trước hết là hệ tiêu hóa (Lê Minh Hoàng, 2002)
Mức độ hạ thân nhiệt nhiều hay ít, nhanh hay chậm chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt độ của chuồng nuôi và tuổi của heo con Nhiệt độ chuồng nuôi càng thấp thân nhiệt heo con hạ xuống càng nhanh Tuổi heo con càng nhỏ thân nhiệt heo con hạ xuống càng nhiều, sau 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt của heo con tương đối hoàn chỉnh và thân nhiệt của heo con được ổn định (38.50-39.50C), (Phùng Thị Văn, 2004)
Phải đặc biệt chú ý tạo điều kiện thích hợp trong chuồng nái sinh sản, để heo con khỏi bi ảnh hưởng bởi sự thay đổi nhiệt độ đột ngột khi mới sinh Việc tiếp nhận sữa đầu đối với việc điều chỉnh nhiệt độ của heo con là rất quan trọng Năng lượng sữa đầu cao hơn trong sữa bình thường khoảng 20%, vì vậy trong một giờ sau khi sinh nếu cho heo con bú được sữa đầu thì 8-12 giờ sau thân nhiệt heo con sẽ được ổn định (Nguyễn Ngọc Phục, 2005)
Khả năng cân bằng nhiệt của heo con chưa hoàn chỉnh, nên thân nhiệt chưa ổn định nghĩa là sự sinh nhiệt và thải nhiệt chưa cân bằng Trên cơ thể heo con, phần thân có nhiệt nhiệt độ cao hơn phần chân và tai, ở phần thân thì nhiệt độ ở vùng
Trang 133
bụng là cao nhất cho nên khi bị cảm lạnh thì phần bụng bị mất nhiều nhiệt nhất (Phùng Thị Văn, 2004)
2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng của heo con
Nếu được chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì heo con tăng trọng rất nhanh Lúc heo con mười ngày tuôi thì trọng lượng tăng gấp hai lần trọng lượng sơ sinh, một tháng tuổi trọng lượng tăng gấp bốn lần, lúc hai tháng tuổi trọng lượng tăng gấp mười lần (Lê Thị Mến, 2000)
Khối lượng heo con đạt được ở các thời điểm sơ sinh, cai sữa, xuất chuồng có mối quan hệ mật thiết với nhau Vì vậy phải coi trọng đặc điểm này để nuôi dưỡng tốt heo nái đủ sữa cho con bú, có thức ăn tập ăn tốt cho heo con Ở thời kỳ bao thai, nếu phát triển tốt, trọng lượng của heo con mới đẻ cao thì tốc độ sinh trưởng của nó càng nhanh ở các giai đoạn sau (Trần Cừ, 1972)
Sinh trưởng của heo con từ lúc sinh ra đến lúc cai sữa chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố: thể trọng và sự phát triển sinh lý lúc mới sinh, số lượng và thành phần sữa
mẹ mà heo con nhận được, số lượng và chất lượng thức ăn bổ sung (Vương Văn Khê, 1971)
Heo con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày tuổi đầu sau đó giảm dần (Phùng Thị Văn, 2004)
Heo con có hai thời kỳ khủng khoảng: Đến 3 ngày tuổi lượng sữa của heo mẹ tiết ra rất ít, sau đó tăng dần đến ngày thứ 15 là cao nhất, đến ngày thứ 20 đột nhiên giảm xuống và đến ngày thứ 60 giảm xuống thấp nhất Trong khi lượng sữa của heo
mẹ giảm xuống thì nhu cầu sữa của heo con ngay càng tăng, đó là mẫu thuẫn lớn vì vậy phải tập cho heo con ăn sớm (Trần Cừ, 1972)
2.1.3 Đặc điêm tiêu hóa heo con
Hệ tiêu hóa của heo con ở giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh về mặt cấu tạo
và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hóa Chức năng tiêu hóa của heo con mới sinh chưa có hoạt lực cao: Heo con mới sinh ra có thể hấp thu glucose ngay, tiêu hóa lactose ngay, sau hai tuần mới tiêu hóa được saccharose, sau ba tuần mới tiêu hóa được tinh bột (Lê Thị Mến, 2000)
Trang 144
Tiêu hóa ở miệng
Heo mới sinh trong những ngày đầu số lượng và hoạt tính của amylase trong nước bọt còn rất thấp và tăng dần lúc tập ăn Tùy loại thức ăn mà lượng nước bọt tiết ra rất khác nhau Thức ăn có phản ứng acid yếu và khô thì nước bọt tiết ra mạnh, thức ăn lỏng thì giảm hoặc ngừng tiết dịch Vì vậy cần chú ý không cho heo
con ăn thức ăn lỏng (Trương Lăng, 2004)
Lượng nước bọt thay đổi tùy theo số lượng lần cho ăn và chất lượng thức ăn
Ăn chỉ một loại thức ăn kéo dài sẽ làm tăng nhiệm vụ của một tuyến, gây ức chế, heo ít thèm ăn Ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, ăn đổi bữa thì các tuyến hoạt động không gây ức chế, heo con sẽ thèm ăn tiết nước bọt ra liên tục, giúp tiêu hóa tốt thức ăn Tuy nhiên ở miệng hầu như không hấp thu vì thức ăn ở lại đây không lâu, chỉ có khả năng hấp thu glucose, nhưng lượng này hấp thu không đáng kể nên có thể coi như không hấp thu Ở heo con thức ăn chủ yếu là sữa và tiêu hóa diễn ra lớn nhất ở dạ dày và ruột, vì vậy vai trò của nước bọt ở giai đoạn này là ít quan trọng (Trần Cừ, 1972)
Tiêu hóa ở dạ dày
Thức ăn khi vào dạ dày bị tác động bởi cơ học và hóa học Tác động cơ học là
do cơ trơn vách dạ dày co bóp nhào trộn thức ăn, đẩy thức ăn vào ruột Tác động hóa học là do tác động của dịch vị ở tuyến dạ dày tiết ra để tiêu hóa thức ăn Heo con mới sinh, dạ dày chỉ nặng 4-5g chứa từ 5-40g sữa, khi đạt 10 ngày tuổi thì dung tích dạ dày tăng gấp 3 lần so với sơ sinh, đến 20 ngày tuổi sức chứa dạ dày đạt 2 lít, sau đó tăng chậm đến tuổi trưởng thành thì dung tích đạt 3.5-4 lít Dịch vị tiết ra tương ứng với sự phát triển của dung tích dạ dày, tăng mạnh nhất ở 3-4 tháng tuổi, sau đó kém hơn
Bảng 2.1: Lượng dịch vị biến đổi theo ngày và đêm
Heo con 20 ngày tuổi, phản xạ tiết dịch vị chữa rõ Ban đêm heo mẹ nhiều sữa, kích thích sự tiết dịch vị ở heo con Sau khi cai sữa, lượng dịch vị của heo con tiết ra ở ngày và đêm bằng nhau (Trương Lăng, 2004)
Thời gian Heo lớn Heo con
Trang 155
Một số các yếu tố có liên quan đến sự kích thích tuyến bài tiết dịch vị, đó là sự
có mặt của thức ăn có trong dạ dày và các dịch vị chủ yếu do fundus và lylorus tiết
ra Dịch vị bao gồm chủ yếu là nước, pepsinogen, các muối vô cơ, chất nhầy, acid chlorhydric và yếu tố nội tại quan trọng cho sự hấp thu vitamin B12, pepsinogen là dạng không hoạt động của pepsin là những protein thủy phân Nồng độ acid trong dịch vị thay đổi tùy theo khẩu phần, tính acid làm hoạt hóa pepsinogen, chuyển đổi pepsinogen thành pepsin
Heo con dưới 1 tháng tuổi trong dịch vị không có acid chlorhydric (HCl) tự
do, vì lúc này lượng HCl tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với niêm dịch và thức
ăn, làm cho hàm lượng acid HCl tự do rất ít hoặc hoàn toàn không có trong dạ dày heo con bú sữa, hiện tượng này gọi là thiếu HCl Vì thiếu HCl tự do trong dịch vị nên hệ vi sinh vật phát triển gây bệnh đường tiêu hóa ở heo con Đến 25 ngày tuổi, trong dạ dày heo con mới có HCl tự do, trên 40 ngày tuổi tính kháng khuẩn xuất hiện trong đường tiêu hóa heo con (Trần Cừ, 1972)
Tiêu hóa ở ruột non
Quá trình tiêu hóa ở ruột non rất phức tạp vì do cả dịch tụy, dịch mật và dịch ruột Sự hấp thu dinh dưỡng của heo con diễn ra chủ yếu ở ruột non Heo con 7 ngày tuổi có thể hấp thu 89% sữa đầu và sữa thường, do ở lứa tuổi này vách ống tiêu hóa hấp thu cả protein chưa được tiêu hóa triệt để trong sữa, đặc biệt là γ-globulin Tiêu hóa protein theo tuổi không chỉ có ý nghĩa về mặt sinh lý, mà còn có
ý nghĩa về mặt miễn dịch (Trương Lăng, 2004)
Tiêu hóa ở ruột già
Ở ruột già, cường độ hấp thu nước cao, các chất cặn bã được thải ra môi trường bên ngoài qua hậu môn Sự lên men chủ yếu xảy ra ở manh tràng do vi sinh vật hữu ích tác động lên cellulose và các chất bột đường còn lại tạo thành các acid béo bay hơi và thể khí Quá trình thối rữa do vi khuẩn gây thối chủ yếu do E.coli, chúng tác động lên những protein còn lại và phân giải thành những sản phẩm có mùi thối và độc (Trần Cừ, 1972)
2.1.4 Hệ vi sinh vật đường ruột của heo con
Heo con mới sinh thì hệ vi sinh đường ruột chưa phát triển, chưa đủ số vi khuẩn có lợi, chưa đủ khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh nhất là bệnh đường tiêu hóa Vi sinh vật phát triển trong đường ruột của heo con ngay từ những giờ đầu tiên sau khi sinh, chúng bao gồm vi sinh vật trong sữa đầu
của heo mẹ và môi trường sống xung quanh như: Lactobacillus, Bacillus subtilis, E
Trang 166
coli, Streptococci, Coliform, Bacteroides, Clostridia và nấm men Các hoạt động
tiêu hóa của heo con phụ thuộc rất nhiều vào hệ vi sinh vật cư trú trong đường tiêu hóa từ khi mới sinh và tạo thành hệ vi sinh vật cộng sinh (Đào Trọng Đạt, 1996) Trong hệ vi sinh vật đường tiêu hóa heo con một số vi khuẩn có lợi như
Lactobacilus, Bacillus subtilis… có tác dụng tổng hợp các chất cần thiết cho cơ thể
như vitamin B12, Riboflavin (B2),…Các vi khuẩn gây thối rữa có thể gây bệnh như:
E.coli, shigella… (Nguyễn Vĩnh Phước, 1980)
Trong điều kiện phát triển bình thường thì vi sinh vật sống cộng sinh trong đường tiêu hóa của heo con không ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của chúng Nhưng khi điều kiện sống thay đổi bất lợi như thiếu dinh dưỡng, thời tiết thay đổi, vệ sinh
chăn nuôi kém… thì một số vi khuẩn trở thành tác nhân gây bệnh như: E.coli,
Clostridium perfrigens (Trần Cừ, 1972)
Phòng bệnh đường ruột quan trọng nhất là cân bằng hệ vi sinh vật đường tiêu hóa Bổ sung những chế phẩm vi sinh vật đường ruột sẽ đem lại hiệu quả khá cao trong việc phòng và trị bệnh đường tiêu hóa (Niconxkij, 1983)
2.2 Sự phát triển miễn dịch ở heo con
Cơ quan miễn dịch heo con chưa có khả năng sản xuất ra kháng thể chống lại mầm bệnh Hàm lượng γ- globulin trong huyết tương heo con thấp Hàm lượng này tăng nhanh trong vài ngày thông qua việc nhận từ nguồn sữa đầu của heo mẹ Khả năng hấp thu γ- globulin và kháng thể của heo con rất cao khi mới sinh ra nhưng giảm nhanh, sau 24 giờ khả năng hấp thu thấp Đến tuần thứ 3 khả năng hấp thu γ-globulin chấm dứt (Vương Văn Khê, 1971)
Đến tuần thứ 3 heo con có khả năng sản xuất ra kháng thể và hàm lượng kháng thể gia tăng theo thời gian Sau 6 tuần hàm lượng γ-globulin tăng dần và đạt mức bình thường khi heo đạt 6 tháng tuổi với trung bình là 65mg/100ml máu Việc sản xuất IgA mạnh sau 3 tuần tuổi và heo con thật sự thành thục về miễn dịch sau 1 tháng tuổi (Trần Cừ, 1972)
Miễn dịch đối với heo con
Miễn dịch chủ động: heo con mới sinh ra có khả năng tổng hợp các lớp globulin miễn dịch (Ig) và chỉ hình thành miễn dịch cục bộ (IgA) tại ruột vào tuần đầu mới sinh Đầu tiên IgM được sản sinh ra, 2-3 tuần sau IgA được thay thế và chính IgA là kháng thể cục bộ quan trọng để bảo vệ heo con Khi heo con được 3 tuần tuổi bắt đầu tự tạo kháng thể là bắt đầu có khả năng tự tạo miễm dịch chủ
Trang 172.3 Khả năng hấp thu kháng thể ở heo con sơ sinh
Trong sữa đầu, loại kháng thể chủ yếu là IgG từ huyết thanh của heo mẹ và tùy nguồn kháng nguyên heo mẹ gặp phải Tuy nhiên, vi sinh vật gây hại trên heo
sơ sinh thường hiện diện ở bề mặt màng nhày ruột, đó là nơi mà IgG hiếm được thấy và không hữu hiệu Khi ngưng sản xuất sữa đầu thì lượng IgG trong sữa giảm nhanh chóng và rồi IgA trở thành loại khánh thể chính của sữa Khi loai kháng thể chủ yếu trong sữa là IgA, nghĩa là bầu vú tự sản xuất kháng thể vì IgA ít bị huỷ ở đường ruột, hàm lượng IgA cao trong sữa sẽ bảo vệ niêm mặc ruột khỏi bị tấn công của vi sinh vật có hại Tuy nhiên, khi heo con chưa có miễm dịch chủ động khả năng bảo vệ thú non của IgA cũng tùy thuộc vào kháng nguyên heo mẹ đã tiếp xúc (Trần Thị Dân, 2004)
Sự hấp thu kháng thể xảy ra tối đa ở giai đoạn 4-12 giờ sau khi bú, kháng thể
có thể pháp hiện trong máu heo con vào 3 giờ sau khi sinh Nếu heo con bú đủ sữa
và hấp thu đủ kháng thể, hiệu giá kháng thể heo con gần bằng hiệu giá kháng thể heo mẹ ở 24 giờ sau khi sinh Khoảng 48 giờ sau khi sinh, ruột không còn hấp thu kháng thể, cơ chế này có thể giúp cho đường ruột heo con không hấp thu những chất gây bệnh Vài thành phần trong sữa đầu có thể tham gia vào việc ngưng hấp thu kháng thể Heo con không bú trong vòng 24 giờ sau khi sinh có khả năng kéo dài khả năng hấp thu kháng thể, tuy nhiên vi sinh vật có hại cũng tăng khả năng xâm nhập từ đường ruột vào máu Sau khi sinh, việc thiết lập hệ vi sinh vật tối hảo
trong đường ruột thường là: Lactobacillus spp được đẩy mạnh nhờ các yếu tố kháng
vi sinh vật tại chỗ trong sữa đầu Các yếu tố này giới hạn sự định vị của các vi vật gây bệnh trong đường ruột Như vậy, trong giai đoạn đầu rất ngắn nhưng rất quan trọng vì sau khi sinh heo con cần bú sữa để có thể sống sót ở giai đoạn sau (Trần Thị Dân, 2004)
Trang 188
2.4 Nguyên nhân gây bệnh tiêu phân trắng ở heo con theo mẹ
Chứng bệnh tiêu phân trắng là bệnh diễn biến cấp tính của heo con sơ sinh Đặc trưng của bệnh là rối loạn đường dạ dày-ruột biểu hiện bằng sự rối loạn tiêu hóa, rối loạn trao đổi chất suy hệ tim mạch, mất nước và giảm sức đề kháng tự nhiên của cơ thể Chứng bệnh tiêu phân trắng phát sinh do rối loạn chức năng tiêu hóa Điều đó là do khả năng hoạt động của bộ máy tiêu hóa của heo sau khi sinh chưa phát triển đầy đủ, trao đổi chất yếu (Niconxkij, 1983)
Các bệnh tiêu phân trắng và các bệnh viêm da dày-ruột phát sinh do ảnh hưởng của khí hậu trong chuồng không thuận lợi, độ ẩm cao, nhiệt độ thấp, gió lùa, không khí nhiễm bẩn, do thức ăn bổ sung không cân bằng, vi phạm chế độ ăn, uống Các bệnh về tim, thận, các cơ quan sinh sản… Hệ vi khuẩn đường ruột như trực
khuẩn E coli, proteus, các vi khuẩn ưa khí chiếm một vi trí nhất định như là yếu tố
thứ cấp trong việc phát sinh và phổ biến bệnh tiêu phân trắng Trong bệnh tiêu phân trắng ở heo con tăng nhiều các vi khuẩn gram âm, số lượng của chúng đạt đến tỷ lệ khác nhau so với vi khuẩn yếm khí Điều đó phải xảy ra vì khi mắc bệnh, sự tiêu hóa ở vách đường tiêu hóa bị rối loạn do thiếu vi sinh vật tham gia phân hủy các chất dinh dưỡng trong vùng biên, từ đó các vi khuẩn sinh sản mãnh liệt làm rối loạn
tỷ lệ số lượng của chúng tạo điều kiện phát sinh loạn khuẩn (Niconxkij, 1983) Khi sử dụng cách phân loại này cần lưu ý đến căn nguyên sinh bệnh Suy giảm chức năng tiết dịch của dạ dày và ruột gây bệnh tiêu phân trắng thông thường Thiếu các loại vitamin, cho ăn thức ăn không đủ chất lượng hoặc chế độ ăn không hợp lý-khó tiêu sinh hơi, cần chú ý đến các chứng tiêu phân trắng thông thường và cho rằng chỉ khi các vi khuẩn gây bệnh có điều kiện sinh sản mạnh mới dẫn đến hiện tượng loạn vi khuẩn và phần lớn dẫn đến nhiễm độc khi bị bệnh tiêu phân trắng Nhiều khi bệnh tiêu phân trắng xảy ra hàng loạt tạo ra tình thế bất lợi trong trại chăn nuôi của nông trường, hay các tổ hợp nuôi heo và gây tổn thất kinh tế to lớn cho các cơ sở Thông thường bệnh bắt đầu với bệnh tiêu phân trắng thông thường sau đó chuyển sang dạng nhiễm khuẩn, nhiễm độc Như vậy, căn bệnh học của bệnh tiêu phân trắng không phải là bệnh đặc thù mà có đặc trưng tổng hợp Vì vậy cán bộ thú y nghiên cứu căn bệnh tiêu phân trắng không thể làm chung chung
mà phài làm cụ thề từng trường hợp, tùy mỗi một chuồng, mỗi trại, mọi phức tạp nuôi heo mà quyết định ( Niconxkij, 1983)
2.4.1 Nguyên nhân nguyên phát
Do heo mẹ
Trang 199
Thay đổi đột ngột khẩu phần ăn của heo nái Khẩu phần ăn của heo nái không
đủ giá trị dinh dưỡng, chủ yếu là lượng protid tiêu hao, các vitamin và nguyên tố vi lượng trong khẩu phần, có ý nghĩa đặc biệt trong việc xuất hiện bệnh tiêu phân trắng Heo con bú sữa mẹ bị nhiễn bẩn, thời gian nghỉ kéo dài trong các lần bú rồi tiếp đó là bú quá no điều tạo điều kiện cho bệnh tiêu phân trắng phát sinh (Niconxkij, 1983)
Không được nuôi dưỡng đầy đủ khi mang thai, trong thời gian nuôi con không được chăm sóc nuôi dưỡng tốt hoặc bị bệnh, cho ăn nhiều thức ăn khó tiêu và do gia súc mẹ động dục (Phạm Ngọc Thạch, 2006)
Khi khẩu phần heo nái thiếu các vitamin A, B, C, D, PP thì hàm lượng vitamin trong sữa cũng giảm, dẫn đến bệnh thiếu hay không có vitamin ở heo con kèm theo rối loạn tiêu hóa (Niconxkij, 1983)
Vitamin A càng nhiều trong sữa đầu và sữa của heo mẹ thì hàm lượng đó càng nhiều trong gan của heo con Những heo nái mà lượng vitamin A trong máu thấp (0,69 – 0,86 mg%) thì sau khi sinh heo con kém sức sống Khi vitamin A có ít trong khầu phần ăn thì heo con bị giảm nhiều khả năng tạo nhiều kháng thể trong máu
Do sừng hóa màng niêm mạc nên giảm sức tiết của các tuyến, giảm tiết dịch tiêu hóa, làm rối loạn hấp thụ các chất dinh dưỡng Trong ruột phát sinh hiện tượng loạn khuẩn đôi khi vi khuẩn thối rữa chiếm ưu thế (Niconxkij, 1983)
Lượng sữa mẹ từ khi sinh tăng đến ngày thứ 15 là cao nhất đến ngày thứ 20 đột nhiên giảm xuống khá thấp trong khi đó nhu cầu sữa của heo con càng tăng Đến ngày thứ 20 nếu heo mẹ thiếu dinh dưỡng heo con càng thiếu sữa càng ăn bậy, sinh các bệnh về đường tiêu hóa (Phạm Sĩ Lăng và ctv 1997)
Heo con không được bú sữa đầu sẽ không đủ kháng thể giúp chống đỡ bệnh tật, một số heo con nhận được sữa đầu kịp thời nhưng do heo con hấp thu kém, sức chống đỡ thụ động giảm thì bệnh có thể xảy ra vào 10 hoặc 21 ngày tuổi Tỷ lệ mắc bệnh rất cao, có khi đến 70-100% (Lê Minh Hoàng, 2002)
Trang 2010
Heo con từ sơ sinh đến 20 ngày tuổi, không có acid đặc trưng là HCl tự do nên không đủ khả năng tiêu hóa protid, đó là môi trường thuận tiện để các vi khuẩn thối
rữa như E.coli phát triển Đây có thể là nguyên nhân đầu tiên làm phát sinh bệnh
Với heo con một tháng tuổi trở lên hàm lượng HCl và men pepsin dịch vị tăng lên cảm nhiễm bệnh giảm rõ rệt (Trương Lăng, 2004)
Heo con mới sinh hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển, chưa đủ vi khuẩn
có lợi, chưa đủ khả năng kháng khuẩn gây bệnh, nên rất dễ nhiễm bệnh nhất là bệnh đường tiêu hóa (Đào Trọng Đạt, 1996)
Do thiếu các yếu tố vi lượng như: sắt, đồng, coban và trong thực tế heo con phát triển bình thường một ngày cần cung cấp 7-10mg sắt Nhưng sữa mẹ chỉ cung cấp được 1mg trong một ngày Như vậy mỗi ngày cần bổ sung thêm 6-9mg sắt khi
cơ thể thiếu sắt sẽ ảnh hưởng đến chức năng của nhiều bộ phận có quan hệ đến sự sinh trưởng và phát triển của heo con, không chỉ giảm huyết cầu tố trong máu mà còn hoạt tính các men chứa sắt, các men đó tham gia vào quá trình tổng hợp đạm và các chất tế bào tổng hợp khác Vì vậy thiếu sắt chỉ là một nguyên nhân dẫn đến rối loạn chức năng của các cơ quạn của cơ thể nhất là bộ máy tiêu hóa dẫn đến tiêu phân trắng (Nguyễn Xuân Bình, 2000)
Do stress trong giai đoạn mọc răng Ở thời điểm 16-17 ngày và 23-25 ngày tuổi tương ứng với tuổi mọc răng sữa tiền hàm số 3 hàm dưới và tiền hàm số 4 răng hàm trên, khi nứu bị nứt, răng nhú lên 1,3mm heo con có triệu chứng bệnh tiêu phân trắng (Võ Văn Ninh, 2001)
Do điều kiện ngoài cảnh
Ra khỏi bụng mẹ heo con chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố môi trường sống như: lạnh, mưa, ẩm thấp bất thường nhưng do cơ thể heo con chưa phát triển hoàn chỉnh, nên các phản ứng thích nghi và bảo vệ yếu nên heo con rất dễ bị bệnh Trong những yếu tố môi trường bất lợi cho heo con thì quan trọng nhất là nhiệt độ
Trang 21do vi khuẩn Escherichia coli (E coli)
E coli thuộc họ vi khuẩn đường ruột Enter bacteriaceaae, nhóm Eschrichiae,
loài Escherichia E.coli là trực khuẩn đa hình không bắt màu (gram âm) không tạo
thành nha bào, phần lớn là di động có ba lọai chủ yếu: kháng nguyên O (kháng nguyên thân), kháng nguyên K (kháng nguyên bề mặt), kháng nguyên H (kháng nguyên lông)
E.coli là tập đoàn vi khuẩn với nhiều chủng loại khác nhau Hiện nay người ta
phân lập được 170 serotyp O, 70 serotyp K và 56 serotyp H và được chia làm hai nhóm: nhóm vi khuẩn không sinh độc tố, không gây bệnh (Nonpathogenic E.coli)
Nhóm vi khuẩn sinh độc tố, gây bệnh (pathogenic E.coli) Những chủng gây bệnh
chủ yếu của heo là: K88, K89, 987P, F41 (Phạm Sĩ Lăng, 2002)
Các dòng E.coli gây bệnh sau khi xâm nhập vào cơ thể và gặp các điều kiện
thuận lợi như môi trường pH kiềm và dinh dưỡng màu mỡ ở ruột non thì chúng bắt đầu sinh sản nhanh chóng, bám vào thành ruột, định vị và phát triển mạnh tại đây, chúng tiết độc tố làm tổn thương tế bào thành ruột, gây bài tiết nước, kéo theo các ion Cl-, ion Na+, HCO-
3 gây mất nước và chất điện giải ngăn cản sự hấp nước và các ion từ ruột, làm gia tăng sự co thắt của nhu động ruột gây tiêu chảy (Hồ Thị Việt Thu, 2012)
2.5 Cơ chế sinh bệnh
Sức đề kháng của heo con theo mẹ còn yếu đối với các tác động của điều kiện bên ngoài nên khi thời tiết thay đổi, chuồng trại lạnh và ẩm, thay đổi đột ngột khẩu phần của heo mẹ, khẩu phần thiếu dưỡng chất, các vitamin, tập ăn cho heo con không đúng cách… tác động vào heo con qua hệ thần kinh và hệ tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, đầu tiên dạ dày- ruột giảm dịch vị, nồng độ acid chlohydric giảm, làm giảm khả năng hoặt hóa pespinogen, giảm tiêu hóa protein sữa gây tiêu phân trắng do khó tiêu và tạo ra môi trường pH kiềm ở dạ dày, ruột non Đó là các điều kiện môi trường thích hợp để các vi khuẩn gram âm, nhất là các dòng phát triển mạnh, chúng sản sinh nhiều độc tố ruột (enterotoxin) làm cùn các vi nhung gây trở ngại chức
Trang 2212
năng hấp thu của ruột non gây tiêu phân trắng do kém hấp thu (Hồ Văn Nam và ctv, 2006)
Do thời tiết thay đổi đột ngột đang nắng chuyển sang mưa nhiệt độ thấp mà độ
ẩm cao làm cơ thể heo con mất cân bằng giữa sinh nhiệt và truyền nhiệt Do đó sẽ tiêu hao nhiều năng lượng của cơ thể để chống lạnh Nếu lạnh kéo dài lượng đường huyết sẽ giảm xuống, sự giảm đường huyết đột ngột sẽ gây rối loạn chức năng tiết dịch và nhu động dạ dày, ruột, dẫn đến rối loạn tiêu hóa làm heo con tiêu phân trắng (Nguyễn Xuân Bình, 2000)
2.6 Triệu chứng – bệnh tích
2.6.1 Triệu chứng
Những triệu chứng lâm sàng quan trọng của bệnh tiêu phân trắng là trong khi bệnh nhiệt độ cơ thể vẫn bình thường Phân loãng có màu trắng hay hơi vàng, có những bọt khí, mùi hơi tanh, khắm Ngoài ra còn thấy heo con hơi ểu oải, không thích bú, xù lông Các niêm mạc trắng bệch, đôi khi có sắc thái vàng, khát nước, đôi khi ợ và nôn ra những chất có mùi thối rất khó chụi, giảm trọng lượng hàng ngày tới 43% so với những ngày khác (Niconxkij, 1983)
Thân nhiệt ít khi tăng, cá biệt có con lên đến 40,5-410C, nhưng chỉ một ngày sau đó là xuống ngay Phân có thể sệt hoặc lỏng, màu sắc phân thay đổi: vàng, trắng, trắng xám, xám nâu hoặc đen, phân có thể có bọt, nhờn và lẫn cục sữa chưa tiêu, phân có mùi khó ngửi, quanh hậu môn dính phân bê bết (Phạm Sĩ Lăng và ctv, 1997)
Bệnh xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu vào vụ đông xuân khi độ ẩm môi trường cao, bệnh thường gặp ở heo con 10-21 ngày tuổi, bệnh có thể xảy ra ở vài con hoặc cả đàn, có khi điều trị khỏi lại bị tái nhiễm Heo con bị bệnh thường yếu
ớt, kém bú, bốn chân lạnh, số lần đi tiêu tăng từ 1-2 lần trong ngày lên 4-6 lần Mất nước nhiều nên heo bị khát nước dẫn đến rối loạn sinh dưỡng trong cơ thể, chậm chạp, bỏ bú Trường hợp mất nước nghiêm trọng thì da quanh mõm, bụng và chân
có màu xanh tím, ngoài ra có thể thấy những triệu chứng thần kinh như: co giật từng cơn, cảm giác da bị mất (Lê Văn Năm, 1999)
2.6.2 Bệnh tích
Con bệnh gầy ốm, bộ lông bẩn thỉu đầy phân Các niêm mạc thấy được đều trắng bệch, hoặc xanh tím, mô bào dưới da và các cơ xương hơi khô Trong xoang bụng và ngực chứa một số dịch rỉ, buồng tim mở rộng, đôi khi xuất huyết ở màng trong boa tim, cơ tim hơi nhão Trong phổi, ngoài hiện tượng xuất huyết biểu hiện ở
Trang 2313
những mức độ khác nhau, đôi khi thấy phù, còn những biến đổi vi thể khác không
rõ rệt Trong dạ dày có chất dịch, thức ăn thối Màng niên mạc dạ dày sưng, ở một
số trường hợp-xuất huyết nhẹ Trong ruột non, ruột già có nhiều niêm dịch, các vùng niêm mạc có màu đỏ đôi khi thấy xuất huyết từng chấm nhỏ, còn chất chứa dạ dày-một khối rền rệt hơi thối Các hạch lâm ba màng treo ruột trướng to, trên nhát cắt có nước Gan mềm nhũn với các hiện tượng loạn dưỡng do độc tố, gan màu đất sét, túi mật và bóng đái chướng to chứa đầy mật đặc và nước tiểu hơi đục Thận trắng bợt, phân rõ ranh giới giữa lớp vỏ và lớp tủy, lách không sưng, mềm, thấy rõ những biến đổi do loạn dưỡng trong gan, cơ tim và thận Trong bệnh tiêu phân trắng thông thường, đặc trưng không có biến đổi hình thái trong cấu trúc đại thể của dạ dày-ruột mà chỉ có một số rất nhỏ những biến đổi sai cấu trúc vi thể trong màng niêm mặc đặc biệt là ruột non và những biến đổi không lớn của hệ tim mạch (Niconxkij, 1983)
2.7 Chẩn đoán
Chẩn đoán dựa trên các tài liệu về các yếu tố căn bệnh, triệu chứng lâm sàng
và những biến đổi giải phẫu bệnh lý
Khi chẩn đoán phân biệt bệnh tiêu phân trắng với các bệnh phó thương hàn, bệnh lỵ và bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm cần phải nghiên cứu cẩn thận, tình hình dịch tễ và chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Bệnh viêm dạ dày-ruột truyền nhiễm do vius bệnh lây lan nhanh trên nhiều lứa tuổi heo, tỷ lệ chết cao ở heo con có thể lên tới 100%, đối với heo lớn bệnh qua khỏi nhanh chóng Bệnh thương hàn nhiệt độ cơ thể heo sốt cao từ 41-420C, bệnh thường xẩy ra ở heo 2-4 tháng tuổi, lách sưng to dai như cao su có màu xanh thẫm bệnh kiết lỵ do vi khuẩn gram âm, kỵ khí, bệnh thường xẩy ra ở heo trong khoảng 15-17kg, tiêu chảy phân có dịch nhầy, lẫn máu (Hồ Thị Việt Thu, Nguyễn Đức Hiền, 2012)
2.8 Phòng và trị bệnh
2.8.1 Phòng bệnh
Phòng bệnh tiêu chảy cho heo con cần chú ý toàn bộ các biện pháp vệ sinh thú y và kinh tế nhằm gạt bỏ những thiếu sót trong nuôi dưỡng, chăm sóc heo nái có thai và heo con sơ sinh, sử dụng kịp thời các thuốc kích thích và thức ăn (Niconxkij, 1983)
Bệnh tiêu phân trắng ở heo con là bệnh do nhiều nguyên nhân, vì vậy để khống chế bệnh cần tiến hành biện pháp phòng và trị bệnh tổng hợp sau đây: chăm
Trang 2414
sóc và nuôi dưỡng tốt đàn heo nái giống, đảm bảo về dinh dưỡng khi có chửa, các vitamin và các nguyên tố đa vi lượng, chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh Bổ sung kịp thời các chế phẩm phòng trị bệnh thiếu máu như Ferodextran, Dextran sắt, sử
dụng các chế phẩm ổn định hệ vi sinh vật đường ruột như Lactobacillus
acidophilus, Bact Propionum, Bact Subtilis, Streptococcus ffaecalis….(Đào Trọng
Đạt, 1966)
Phòng bệnh bằng các biện pháp vệ sinh và bằng vaccine vô hoạt Dùng
vaccine có chứa kháng nguyên và giải độc tố của vi khuẩn E.coli thuộc nhóm huyết
thanh K88, K99, 987P và F41dùng chủng cho heo nái mang thai nhằm cung cấp kháng thể thụ động giúp bảo vệ heo con sơ sinh (Hồ Thi Việt Thu, Nguyễn Đức Hiền, 2012)
2.8.2 Trị bệnh
Những kinh nghiệm lâm sàng cho thấy, chữa heo con bệnh phải tổng hợp càng sớm càng tốt Việc chữa bệnh phải nhằm bình thường hóa các quá trình tiêu hóa, phục hồi vi khuẩn cộng sinh bình thường, nâng cao sức đề kháng tự nhiên và tình trạng miễn dịch của cơ thể
Để tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh đạt hiệu quả cao thì việc lựa chọn kháng sinh là rất quan trọng và nên dựa vào kết quả thực hiện kháng sinh đồ
Heo bệnh nặng điều trị theo phương pháp: tiêm (Gentamycine 4mg + Ampicilin 4mg)/kg/thể trọng/ngày trong 3- 4 ngày hoặc tiêm Tiamulin liều 1ml/4-6kg thể trọng/ ngày trong 3- 4 ngày Còn bệnh nhẹ sử dụng các loại thuốc sau: nước chát lá ổi, cỏ mực, cỏ sữa đặc, 5-10ml/con/ngày trong 3- 4 ngày Men Biolactyl, Biosubtyl (có chứa men lactyl và vi khuẩn B.subtilis để ổn định men và vi khuẩn có lợi trong đường ruột) liều 1-2 gói/con/ngày trong 3- 4 ngày hoặc cho uống kháng sinh với liều nhẹ (Nguyễn Dương Bảo, 2005)
2.9 Tính chất dược lý của thuốc
Vime Subtyl: (Công ty CP SXKD Vật Tư và Thuốc Thu Y số 07 Đại lộ 30/4
Q.Ninh Kiều TP.Cần Thơ sản xuất)
Trang 25Trực khuẩn Bacillus subtilis là vị khuẩn có lợi Bởi vì khi cho uống với một số
lượng lớn các vi khuẩn này cạnh tranh thắng lợi về vị trí bám vào niêm mạc ruột với các vi khuẩn có hại, làm cho vi khuẩn có hại không còn chỗ bám nên chúng dễ dàng
bị tống ra ngoài theo phân.Hơn thế nữa, trong quá trình phát triển, các trực khuẩn này còn sản sinh nhiều loại kháng sinh, vitamin và đặc biệt là các men tiêu hóa như:
Proteaza, Amylaza… Có tác dụng ngừa tiêu chảy hữu hiệu (Đào Trọng Đạt, 1996)
Trang 2616
Baytril 0.5%: (Do công ty Bayer sản xuất)
Hình 2.2: Baytril 0.5%
+ Thành phần: trong 100ml có chứa Enrofloxacin 0,5g
+ Công dụng: Enrofloxacin là một kháng sinh thuộc họ Quinolon thế hệ II có
phổ kháng khuẩn rộng chống lại các vi khuẩn E.coli, Klebsiella pneumonia,
Staphylococcus aureus, Epidermidis, Pasteurella multocida, Proteus mirabilis cũng
như rất tốt trên vi khuẩn Mycolasma spp Enrofloxacin được chỉ định điều trị các
bệnh nhiễm trùng tiêu hóa, tiết niệu, hô hấp và da (Dana G Allen at all, 1993)
Cơ chế tác dụng của kháng sinh họ Quinolon nói chung và Enrofloxacin nói riêng là ưc chế hoạt động của men AND-Gyrase hay nói chính xác hơn đích tác dụng của Quinolon là Gyrase Chúng gắn vào các phần đơn vị A của Gyrase làm cho các Enzyme không hoàn thành nhiệm vụ của mình Tức 2 mảnh đã bị cắt ra của AND không thể hàn lại được Do vậy AND xuất hiện trong tế bào dưới dạng những đoạn riêng lẻ Kết quả, dưới tác dụng của Quinolon, sự sao chép , nhân lên của AND bị ức chế (Bùi Thị Tho, 2003)
+ Liều lượng và cách dùng:
Phòng bệnh: cho uống 0,5ml/ngày, trong 2 ngày
Trị bệnh: cho uống 1ml/2kg thể trọng/ngày, trong 2-3 ngày
Trang 27Tá dược vừa đủ 100 ml + Công dụng :
Colistin : là một kháng sinh thuộc họ Polymycin, tiêu diệt mạnh mẽ các vi
khuẩn gram (-) như: E.coli, Pasteurella, Salmonella, Bordetella
Cơ chế: thuốc gắn vào lớp phospholipid ở màng vi khuẩn, làm các lớp màng của tế bào bị mất tính bền vững Do vậy chức năng làm hàng rào của màng vi khuẩn
bị phá hủy, cân bằng thẩm thấu bị thay đổi, các thành phần trong tế bào bị thoát ra làm vi khuẩn bị chết (Bùi Thi Tho, 2003)
Ampicillin: là kháng sinh tiêu biểu của các penicillin nhóm A, một loại penicillin bán tổng hợp, có khả năng diệt các vi khuẩn Gram (-) và Gram (+)
Cơ chế: ức chế tổng hợp vách tế bào vi trùng, phong tỏa sự chuyển hóa peptides của peptidoglycan Hoạt hóa autolytic enzyme ở vách tế bào vi trùng, gây tổn thương và giết chết vi trùng (Lâm Hồng Tường, 1995)
Daxamethasone: Cho tác động tức thời, làm đứt cơn đau và giảm phản ứng viêm trên dường hô hấp, tiêu hóa, sinh dục và tiết niệu
Trang 2818
Cơ chế: Daxamethasone thuộc nhóm glucocorticoid có tác dụng nổi bật về tính chống viêm trên các tổ chức, do ức chế men phospholipaza A2 phóng thích acid arachidonic (chất tiền thân của các prostaglandin) từ các lipit của màng tế bào (Nguyễn Phước Tương, 1984)
Sự kết hợp hiệp lực bội tăng của Ampicillin và Colistin cho phép Multibio có thể tiêu diệt gần hết mọi vi khuẩn gây bệnh
Mecoli :(sản xuất tại công ty TNHH SX TM THUỐC THÚ Y 1/5, 108/46/6D
đường 30.4 TP.CẦN THƠ.)
Hình 3.4: Mecoli
+ Thành phần:
Colistin sulfat: 50.000.000 UI Trimethoprim: 37.5g Vitamin K: 400mg
Tá dược vừa đủ: 1.000g + Cơ chế tác dụng: Mecoli là tổng hợp của colistin sulfat, trimethoprim và vitamin k
Colistin: là một khang sinh thuộc nhóm polymycin tiêu diệt mạnh mẽ các vi
khuẩn Gram (-): như E.coli, Pasteurella, Salmonella hay Bordetella
Cơ chế: thuốc gắn vào lớp phospholipid ở màng vi khuẩn, làm các lớp màng của tế bào bị mất tính bền vững Do vậy chức năng làm hàng rào của màng vi khuẩn
bị phá hủy, cân bằng thẩm thấu bị thay đổi, các thành phần trong tế bào bị thoát ra
Trang 2919
làm vi khuẩn bị chết (Bùi Thi Tho, 2003)
Trimethoprim: là một kháng sinh thuộc nhóm Diaminopirymidine có tác dụng
kháng khuẩn mẽ với các vi khuẩn Gram (-), Gram (+): như Mycoplasma,
Pseudomonas, Proteus, Ricketsia, E.coli, Staphylococcus…
Cơ chế: Trimethoprim gắn vào dihydrofolate reductase can thiệp vào sự tổng hợp tetrahydrofolic acid từ hydrofolate, do đó cản trở sự tổng hợp DNA (Huỳnh Kim Diệu, 2010)
Vitamin k: tham gia như emzym trong cơ chế hoạt hóa prothrombin nên có tác dụng cầm máu
+ Công dụng của Mecoli: đặc trị các bệnh về đường ruột, chướng hơi, đầy bụng ở gia súc, gia cầm, các bệnh phân xanh, phân trắng, phân nhớt…ở gia súc, gia cầm
Tá dược vừa đủ 500g + Cơ chế tác dụng của Sulfamethoxazole