vi TÓM LƢỢC Đề tài: ”Đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt Đường không hột ở giai đoạn cây 5 năm tuổi tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp” được thực hiện nhằm mụ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 3i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
- -
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông Học với đề tài:
không hột ở giai đoạn cây 5 năm tuổi tại huyện Lai Vung,
Do sinh viên Trần Minh Dững thực hiện
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013 Cán bộ hướng dẫn
TS Nguyễn Bá Phú
Trang 4ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
- -
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông Học với đề tài: “Đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt Đường không hột ở giai đoạn cây 5 năm tuổi tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp” Do sinh viên Trần Minh Dững thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng Ý kiến Hội đồng:
Luận văn đã được Hội đồng đánh giá ở mức
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013 Thành viên Hội đồng ……… ……… ………
DUYỆT KHOA
Trưởng khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng
Trang 5iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân Các
số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Trần Minh Dững
Trang 6Họ và tên Cha: Trần Văn Công
Họ và tên Mẹ: Trần Thị Năm
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1997 – 2003: Học tại trường tiểu học Tích Thiện B, ấp Tích Phú, xã Tích Thiện, huyên Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
2003 – 2007: Học tại trường trung học cơ sở Tích Thiện, ấp Tích Lộc,
xã Tích Thiện, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
2007 – 2010: Học tại trường trung học phổ thông Vĩnh Xuân, ấp Vĩnh Trinh, xã Vĩnh Xuân, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
2010 đến nay: Học tại trường Đại Học Cần Thơ, đường 3/2, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Trang 7v
LỜI CẢM TẠ
Kính dâng cha mẹ đã sinh ra con, nuôi dưỡng, chăm sóc con, vất vả suốt
cả đời vì tương lai và sự nghiệp của các con Chân thành cám ơn các chị đã luôn luôn chăm sóc, động viên tôi từ thời thơ ấu đến tận hôm nay
Chân thành biết ơn thầy Nguyễn Bá Phú, người đã tận tình hướng dẫn,
chỉ bảo tôi những kiến thức bổ ích, luôn luôn giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Chân thành biết ơn cô cố vấn học tập Trần Thị Thanh Thủy, cô luôn quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập
Chân thành biết ơn toàn thể quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ đã tận tình dìu dắt, truyền đạt kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian theo học tại trường
Chân thành cảm ơn anh La Hoàng Châu đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu và viết luận văn, các bạn Đinh Thanh Tông, Đinh Văn Tàu, Tống Trung Trực, Tô Thị Bé,
Hồ Văn Hạnh, Lê Minh Triết, Phạm Minh Toàn đã hỗ trợ tôi thực hiện thí nghiệm
Thân gởi tất cả các bạn lớp Nông Học khóa 36 lời chúc tốt đẹp nhất, chúc các bạn sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong tương lai
Trang 8vi
TÓM LƢỢC
Đề tài: ”Đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt Đường không hột ở giai đoạn cây 5 năm tuổi tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp” được thực hiện nhằm mục đích so sánh giữa hai dòng quýt Đường không hột và giống quýt Đường có hột về: (1) sự sinh trưởng, (2) sự phát triển trái, (3) năng suất và (4) chất lượng trái
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 10 lần lặp lại, 3 nghiệm thức bao gồm: quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 và quýt Đường có hột làm đối chứng Các chỉ tiêu theo dõi: sự sinh trưởng ghi nhận 3 tháng/lần; sự phát triển trái, tỷ số chiều cao trái/đường kính trái, tỷ lệ đậu trái ghi nhận hàng tháng và các chỉ tiêu về năng suất, chất lượng trái
Kết quả cho thấy: (1) sự sinh trưởng của 2 dòng quýt Đường không hột tương đương với nhau và không khác với quýt Đường có hột (2) giai đoạn đầu của sự phát triển trái, kích thước trái và tỷ số chiều cao trái/đường kính trái của 2 dòng quýt Đường không hột tương đương nhau và không khác với quýt Đường có hột Vào giai đoạn giữa của sự phát triển trái, kích thước trái của 2 dòng quýt Đường không hột giống nhau và thấp hơn quýt Đường có hột,
tỷ số chiều cao trái/đường kính trái của 2 dòng quýt Đường không hột tương đương nhau và không khác với quýt Đường có hột Đến giai đoạn gần thu hoạch, kích thước trái và tỷ số chiều cao trái/đường kính trái của 2 dòng quýt Đường không hột không khác biệt với nhau và giống với quýt Đường có hột (3) tỷ lệ đậu trái của 2 dòng quýt Đường không hột tương đương nhau và không khác biệt với quýt Đường có hột Tổng số trái/cây của 2 dòng quýt Đường không hột giống nhau và không khác biệt với quýt Đường có hột Năng suất của 2 dòng quýt Đường không hột tương đương nhau và không khác với quýt Đường có hột, năng suất dao động trong khoảng 17,6-27,1 kg/cây (4) chất lượng trái của 2 dòng quýt Đường không hột không khác biệt với nhau và không khác với quýt Đường có hột
Trần Minh Dững 2013 “Đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt Đường không hột ở giai đoạn cây 5 năm tuổi tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp” Luận văn tốt nghiệp Đại Học, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: Ts Nguyễn Bá Phú
Trang 9vii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
TIỂU SỬ CÁ NHÂN iv
LỜI CẢM TẠ v
TÓM LƯỢC vi
MỤC LỤC vii
DANH SÁCH BẢNG ix
DANH SÁCH HÌNH x
Mở đầu 1
Chương 1 Lược khảo tài liệu 2
1.1 Nguồn gốc và đặc tính thực vật cây cam quýt 2
1.1.1 Nguồn gốc 2
1.1.2 Phân loại 2
1.2 Sự sinh trưởng và phát triển cây cam quýt 2
1.2.1 Định nghĩa sự sinh trưởng và phát triển 2
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển 3
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến ra hoa, đậu trái, năng suất và phẩm chất trái 4 1.3 Đặc tính hình thái của cam quýt và cây quýt đường 6
1.3.1 Đặc tính rễ 6
1.3.2 Đặc tính cây 7
1.3.3 Đặc tính lá 7
1.3.4 Đặc tính hoa 8
1.3.5 Đặc tính trái 9
1.3.6 Đặc tính hột 9
1.4 Tổng quan về không hột 10
1.4.1 Hiện tượng trinh quả sinh 10
1.4.2 Các nguyên nhân không hột của cam quýt 10
Chương 2 Phương tiện và phương pháp 13
2.1 Phương tiện 13
2.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 13
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 13
2.2 Phương pháp 13
2.2.1 Bố trí thí nghiệm 13
2.2.2 Kỹ thuật canh tác 13
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 13
2.2.4 Xử lý số liệu, thống kê 15
Chương 3 Kết quả thảo luận 16
3.1 Sự sinh trưởng của 2 dòng quýt đường không hột 16
3.1.1 Đường kính gốc tháp 16
3.1.2 Đường kính thân tháp 17
3.1.3 Tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp 17
3.1.4 Chiều cao cây 19
3.1.5 Chiều rộng tán 19
Trang 10viii
3.2 Phát triển trái của 2 dòng quýt đường không hột 20
3.2.1 Chiều cao trái 20
3.2.2 Đường kính trái 22
3.2.3 Tỷ số chiều cao trái/đường kính trái 24
3.3 Năng suất trái của 2 dòng quýt đường không hột 25
3.3.1 Tỷ lệ đậu trái 25
3.3.2 Năng suất củ a cây 26
3.4 Chất lượng trái của 2 dòng quýt đường không hột 27
3.4.1 Đặc điểm hình thái thực vật của trái quýt Đường không hột 27
3.4.2 Các thành phần trọng lượng của 2 dòng quýt Đường không hột 30
3.4.3 Chất lượng di ̣ch trái của 2 dòng quýt Đường không hột 31
Chương 4 Kết luận và đề nghị 33
4.1 Kết luận 33
4.2 Đề nghị 33
Tài liệu tham khảo 34
Phụ chương 1 các bảng kết quả 38
Phụ chương 2 các bảng phân tích phương sai 41
Trang 11ix
DANH SÁCH BẢNG
3.1 Tỷ lệ đậu trái (%) từ khi hoa nở đến 36 tuần sau khi hoa nở
của 2 dòng quýt đường không hột (Lai Vung – Đồng Tháp,
3.5 Số lươ ̣ng hô ̣t , số mài và tổng số tiểu noãn của 2 dòng quýt
Đường không (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
29
3.6 Trọng lượng (g) các thành phần của trái của 2 dòng quýt
Đường không hột (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
30
3.7 Tỷ lệ (%) theo tro ̣ng lươ ̣ng các thành phần của trái của 2
dòng quýt Đường không hột (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
31
3.8 Chất lươ ̣ng di ̣ch trái của của 2 dòng quýt Đường không hột
(Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
32
Trang 12x
DANH SÁCH HÌNH
3.1 Đường kính gốc tháp (mm) của 2 dòng quýt Đường không
hột theo thời gian (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
16
3.2 Đường kính thân tháp (mm) của 2 dòng quýt Đường không
hột theo thời gian (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
17
3.3 Tỷ số đường kính thân tháp/gốc tháp của 2 dòng quýt
Đường không hột theo thời gian (Lai Vung – Đồng Tháp,
2013
18
3.4 Chiều cao cây (cm) của hai dòng quýt Đường không hột
theo thời gian (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
19
3.5 Chiều rộng tán (cm) của hai dòng quýt Đường không hột
theo thời gian (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
20
3.6 Chiều cao trái (mm) theo thời gian của 2 dòng quýt Đường
không hột (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
22
3.7 Đường kính trái (mm) theo thời gian của 2 dòng quýt
Đường không hột (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
23
3.8 Tỷ số cao trái/đường kính trái theo thời gian của 2 dòng
quýt Đường không hột (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
Trang 131
MỞ ĐẦU
Cam quýt là cây ăn trái quan trọng, có giá trị kinh tế cao nên diện tích
trồng ngày càng tăng Trần Thượng Tuấn và ctv (1994) cho rằng có nhiều
giống cam quýt được trồng ở đồng bằng sông Cửu Long như cam Sành, cam Mật, quýt Tiều, quýt Đường, bưởi Năm Roi, … Trong đó, quýt Đường được trồng phổ biến ở nhiều nơi và có giá trị kinh tế cao Theo Nguyễn Bảo Vệ và
Lê Thanh Phong (2011), quýt Đường còn gọi là quýt Xiêm, phẩm chất thơm ngon, có thể lột vỏ và tách múi bằng tay dễ dàng Tuy nhiên, trái có nhiều hột nên không đạt tiêu chuẩn để xuất khẩu trái tươi
Không hột là một đặc tính quý trên cam quýt, là đặc điểm quan trọng trong công nghệ sản xuất nước ép, được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng Chính vì vậy, việc chọn tạo giống quýt Đường không hột là hết sức cần thiết và có ý nghĩa kinh tế quan trọng Gần đây, các nhà khoa học trường Đại học Cần Thơ đã phát hiện hai cá thể quýt Đường không hột ở huyện Lai
Vung, tỉnh Đồng Tháp (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2007) Tuy nhiên việc phát
triển quýt Đường không hột vào sản xuất cần nhiều nghiên cứu, do đó việc khảo sát sự sinh trưởng, đặc tính hình thái thực vật đã được Nguyễn Minh Sang (2010) thực hiện ở giai đoạn cây 2 năm tuổi, Trình Thị Hương (2011) ở giai đoạn cây 3 năm tuổi và Dương Thị Xuân Mai giai đoạn cây 4 năm tuổi Tuy nhiên đối với cây ăn trái là cây lâu năm nên cần khảo sát liên tục 2 đến 3
vụ trái của cây mới có thể kết luận hoàn chỉnh được
Vì vậy, đề tài “Sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt Đường không hột ở giai đoạn cây 5 năm tuổi tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp” được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá về khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái giữa hai dòng quýt Đường không hột với nhau và với quýt Đường có hột
Trang 142
Chương 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC TÍNH THỰC VẬT CÂY CAM QUÝT 1.1.1 Nguồn gốc
Cam quýt (Citrus), hiện nay được trồng ở nhiều nước trên thế giới đều có
nguồn gốc từ các nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Châu Á (Đường Hồng Dật, 2003) Có nguồn gốc bắt đầu từ Trung Quốc, Ấn Độ nhờ con đường mua bán, vận chuyển và được trồng ở Nhật Bản (Fake, 2004)
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv., (1994) nhiều giống cam quýt như cam
Sành, cam Mật, cam Soàn, quýt Tiều, quýt Đường, chanh Ta, chanh Núm, được trồng nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long, cây quýt Đường (quýt
Xiêm) tên khoa học Citrus nobilis var Microcarpa Hassk (Nguyễn Bảo Vệ và
Lê Thanh Phong 2004), được chú ý trồng nhiều nơi với giá trị kinh tế cao
1.1.2 Phân loại
Phân loại cây cam quýt thì phức tạp do sự tương quan về sinh lý giữa họ
cam quýt và chi liên quan (Hvarleva và ctv., 2008)
Quýt được chia làm 3 nhóm: Nhóm quýt Citrus reticulate, nhóm quýt King (Citrus nobilis) và nhóm quýt lai bưởi (Citrus reticulate x Citrus
maxima) (FAO, 2004)
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), quýt đường thuộc
giống Citrus nhóm nhỏ Encitrus, họ Rutaceae và họ phụ Aurantioideae Họ
Rutaceae gồm có 169 giống và 1.800 loài (Pfeil, 2008) Đối với họ phụ Aurantioideae thì có khoảng 250 loài trong đó có 3 chi được trồng phổ biến:
Chi cam quýt ( Citrus), chi Cam ba lá (Poncirus), và chi Quất (Fortunella, còn gọi là: Tắc) (Trần Thế Tục và ctv., 2006) Quýt Đường cũng có bộ nhiễm
sắc thể 2n = 18 giống với bộ nhiễm sắc thể trên cam quýt (Phùng Thị Thanh Tâm, 2005)
1.2 SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CÂY CAM QUÝT
1.2.1 Định nghĩa sự sinh trưởng và phát triển
Theo Phạm Văn Côn (2003), sinh trưởng, phát triển là kết quả của hoạt động tổng hợp những chức năng sinh lý riêng biệt như: trao đổi nước, quang hợp, hô hấp, vận chuyển và phân bố chất hữu cơ trong cây, dinh dưỡng khoáng và đạm của cây Các chức năng sinh lý này xảy ra một cách đồng thời
và luôn luôn có quan hệ khắng khít ràng buộc với nhau
Theo Nguyễn Kim Thanh và Châu Ngọc Thuận (2005), sinh trưởng là sự tạo mới các yếu tố cấu trúc một cách không thuận nghịch của tế bào, mô và toàn cây và kết quả là dẫn đến sự tăng về số lượng, kích thước, thể tích và sinh khối của chúng
Trang 153
Quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật thì rất đa dạng và phức tạp, được biểu hiện ra bên ngoài do tác động của các yếu tố môi trường: ánh sáng, nhiệt độ, nước, dinh dưỡng,…Sự biến đổi các yếu tố bên trong về mặt sinh hóa, giải phẫu, tế bào, mô, cơ quan, … để sau cùng ta nhận biết được (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển
Nhiệt độ
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2000), cây cam, chanh, quýt, bưởi ưa ấm nhưng cũng chịu được nhiệt độ thấp đa số các giống có thể sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ từ 12-39o
C, thích hợp nhất đối với quýt là từ 25-27o
C Để trải qua tất cả các chu kỳ sống cây cần tổng tính ôn quýt là: 4.200oC; cam bằng
và lớn hơn 4.500oC Nói chung nhiệt độ bình quân bằng và lớn hơn 15oC mới trồng cam quýt thuận lợi ( Phạm Văn Côn, 2003)
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), nói chung nhiệt độ bình quân bằng và lớn hơn 15oC mới trồng cam quýt thuận lợi Ngoài ra, nhiệt
độ còn tác động đến môi trường rễ, khoảng 25-26oC là khoảng nhiệt độ tối hảo
để rễ cây hút đạm tốt nhất Trên cây cam quýt sự kích thích mầm hoa bắt đầu sau khi ngừng sinh trưởng dinh dưỡng trong thời gian nghỉ đông ở vùng Á nhiệt đới hoặc trong thời gian khô hạn ở vùng nhiệt đới (Trần Văn Hâu, 2009)
Ánh sáng
Theo Phạm Văn Côn (2003), các loài cam quýt không thích ánh sáng mạnh, ưa ánh sáng tán xạ có cường độ 10.000-15.000 Lux tương ứng với 0,6 calo/cm2 - điều kiện vào lúc 8 giờ sáng và 4-5 giờ chiều vào những ngày quang mây mùa hè Cường độ ánh sáng thích hợp trung bình ở cam quýt 2.500 giờ/năm (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 1999)
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), Trong họ cam quýt thì bưởi tương đối chịu đựng được lượng ánh sáng cao, kế đến là cam Cam Sành
và quýt thì thích lượng ánh sáng vừa phải
Nước và ẩm độ
Theo Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn (2004), nước ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của thực vật rất lớn Trước hết là ảnh hưởng đến sự hấp thu và thoát hơi nước, ảnh hưởng đến sự vận chuyển các chất tan trong cây, ảnh hưởng đến các phản ứng sinh hóa xảy ra trong cây, ảnh hưởng đến sự giãn dài
tế bào, đến các hoạt động hô hấp, chuyển hóa trong cơ quan Cam quýt cần nhiều nước trong thời kỳ sinh trưởng mạnh, phát tán nhiều Cam quýt yêu cầu
ẩm độ không khí 75%, độ ẩm đất 60% để đảm bảo sản lượng trái cao, phẩm chất trái tốt, vỏ mỏng trơn, nhiều nước và ngọt (Phạm Văn Côn, 2003)
Trang 164
Gió
Hoạt động gió bão là một hiện tượng đáng lưu ý trong việc bố trí các vùng trồng cam quýt, tốc độ gió ảnh hưởng đến lưu thông khí, điều hòa ẩm độ giảm sâu bệnh, cây sinh trưởng tốt nhưng tốc độ gió cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng đồng hóa của cây có múi (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
Gió báo có thể làm rụng lá, quả cọ xác gây tổn thương tạo điều kiện cho sâu bệnh xâm nhập, gây gãy cành, ngã cây…(Vũ Công Hậu, 2000)
Đất và chất dinh dưỡng
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), điều kiện tiên quyết khi chọn đất canh tác cây cam quýt đòi hỏi có tầng canh tác dầy, pH phù hợp, thoát thủy tốt vì cam quýt có bộ rễ gần mặt đất và yếu Tốt nhất là đất thịt pha, mầu mỡ, thoát thủy tốt Ba yếu tố chính trong sự chọn đất đai để trồng cây thuộc họ cam quýt là: độ pH, bề sâu tầng đất hữu dụng, tình trạng thoát thủy (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 1999) Đất tốt nhất trồng cam quýt là những đất bằng phẳng có cấu tượng tốt nhiều mùn thoáng khí, giữ ẩm tốt, pH đất thích hợp trồng cam quýt từ 4-8 thích hợp nhất 5,5-6 ( Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
Về dinh dưỡng, cam quýt cần cung cấp đủ N, P, K và các nguyên tố vi lượng Đạm (N) giữ vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của cây cũng như quá trình hình thành hoa và trái Lân (P) có tác dụng giữ sản lượng
và phẩm chất hàng năm Lân giúp điều hòa dinh dưỡng đạm của cây Kali (K)
có ảnh hưởng lớn đến phẩm chất trái (trái to, ngọt hơn), làm chắc mô, giúp cây
chịu được rét (Nguyễn Hữu Đống và ctv., 2003) Cam quýt cần hấp thu chất
dinh dưỡng quanh năm, nhất là thời kỳ nở hoa và khi cây ra đọt non cây cần cung cấp nhiều dưỡng chất (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Hàm lượng đạm cao trong cây còn tơ có thể kích thích quá trình sinh trưởng quá mạnh và sản xuất chồi sinh trưởng hơn là chồi sinh sản Ngược lại mức độ đạm thấp thúc đẩy sự ra hoa nhiều mặc dù sự đậu trái và năng suất thấp (Trần Văn Hâu, 2009)
Calcium (Ca) cũng là chất cần thiết cho cam quýt phát triển bình thường, nhiều nhà nghiên cứu về cam quýt nhận thấy, nhu cầu calcium của cam quýt
gần như Đạm (Nguyễn Hữu Đống và ctv., 2003)
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến ra hoa, đậu trái, năng suất và phẩm chất trái
1.2.3.1 Ánh sáng
Ánh sáng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của trái (Louis, 2008), là nguồn năng lượng cho cây và cho sự phát triển của trái, lá quang hợp tối đa ở nơi có đầy đủ ánh sáng và mức độ che phủ vừa phải
(Wheaton và ctv., 1999) Tầm quan trọng của ánh sáng thể hiện qua năng suất
Trang 175
và chất lượng của trái, ánh sáng cung cấp năng lượng cho tiến trình quang hợp
để tạo nên dinh dưỡng cho cây phát triển và cho quá trình ra hoa và tạo trái, tiến trình này được thực hiện chủ yếu trong lá, các lá này phải tiếp nhận đủ ánh sáng, rất ít trái được phát triển nơi ánh sáng không đủ, ánh sáng giảm dẫn đến sự phát triển trái trở nên chậm ảnh hưởng đến giá trị cũng như màu sắc trái Do đó, kích thước cây độ che chắn hay khoảng cách trồng phải được điều chỉnh nhằm tiếp xúc được với ánh sáng mặt trời (Phillips, 1978) Ánh sáng ảnh hưởng đến cây chủ yếu do cường độ ánh sáng, chất lượng và thời gian chiếu sáng, ảnh hưởng về cường độ ánh sáng cũng cho thấy biểu hiện như cây trồng ngoài sáng chiều dài thân ngắn hơn cây trồng trong mát nhưng lượng chất khô nhiều hơn (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Tuy nhiên cường độ ánh sáng quá cao có thể làm nám trái, mất nhiều nước do tăng cường bốc hơi nước làn cho ẩm độ giảm, sinh trưởng kém dẫn đến tuổi thọ ngắn (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011)
1.2.3.2 Nhiệt độ và sự khô hạn
Cam quýt có thể sống và phát triển được trong khoảng nhiệt độ từ 13-38
oC, thích hợp nhất từ 23-29 oC Trần Thượng Tuấn và ctv., (1994), cho rằng
35 oC kết hợp với khô hạn thì hiên tượng rụng trái non xảy ra Đặc biệt khi nhiệt độ trên bề mặt lá từ 35-40 oC hoặc cây khô hạn thì sự rụng trái xảy ra nghiêm trọng Hai yếu tố này làm giảm sự đồng hóa CO2 do khí khẩu đóng lại
và do carbon mất cân bằng đẫn đến sự rụng trái (Trần Văn Hâu, 2009).
1.3.3.3 Gió
Phần lớn các loại cam quýt có thể chịu được bão nhỏ trong một thời gian ngắn Gió nhẹ với vận tốc 5-10 km/giờ có tác dụng hạ thấp nhiệt độ của vườn trong mùa hè, cây được thoáng mát giảm sâu bệnh Theo Nguyễn Bảo Vệ và
Lê thanh Phong (2004), cho rằng khi lập vườn cũng cần chú ý hướng gió để
bố trí cây trồng chắn gió, giúp điều hòa được không khí trong vườn, giảm đổ ngã cây thụ phấn tốt trong mùa nở hoa
1.2.3.4 Nước
Theo Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (1999), cho rằng trong mùa khô hạn nếu cây nhận được nhiều nước sẽ cho ra hoa tốt, nếu thiếu nước cây tăng trưởng không bình thường, trái non rụng hoặc chín sớm, phẩm chất sản lượng kém đi, cây trở nên yếu ớt, nấm bệnh dễ xâm hại Nước dư thừa có thể làm trái to hơn,
Trang 186
giảm hương vị, độ cứng và nhiều rối loạn sinh lý hơn Thiếu nước có thể làm giảm Ca trong trái, có thể làm tăng sự cạnh tranh dinh dưỡng giữa lá và trái,
sự mất ẩm độ nhiều của trái trong thời gian chín thường kéo theo tỷ lệ bệnh và
rối loạn sinh lý cao hơn ở trái (Hofman và ctv., 1997)
1.2.3.6 Gibberelin
Theo Trần Văn Hâu (2009), sau khi ra hoa đến 3-4 tuần sau khi hoa nở thì sự rung trái non xảy ra Gibberelin có tác dụng làm tăng khả năng đậu trái cho cây có múi có đặc tính trinh quả sinh và tạo trái không hạt Tuy nhiên, cũng có thể phun dung dịch GA (50 ppm) ở giai đoạn 7 ngày sau khi hoa rụng cánh và sau 13 ngày phun GA (100 ppm) để giúp cho đậu trái tốt hơn (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
1.2.3.7 Sự tương quan giữa gốc tháp và cành tháp
Theo Nguyễn Huy Đống và ctv., (2007), gốc tháp có tác động đến sự
sinh trưởng trong giai đoạn đầu của thân tháp, phá vở sự ngủ nghỉ của mầm nách thân tháp và sự tạo ra chồi cành Mặt khác, rễ của gốc tháp cũng bị ảnh hưởng bởi cành tháp Cây ghép sẽ giữ được đặc tính của cây mẹ, mau cho trái
và phẩm chất tốt khi chọn được cây ghép thích hợp Khi có sự tiếp hợp tốt giữa cành tháp và gốc tháp, chất lượng trái được xác định bởi kiểu gen của cành tháp mà không bị kiểu gen của gốc quy định (Trần Phước Đường, 2007)
1.3 ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI CỦA CAM QUÝT VÀ CÂY QUÝT ĐƯỜNG
1.3.1 Đặc tính rễ
Theo Hoàng Ngọc Thuận (1995), rễ cam quýt thuộc loại rễ nấm
(Micorhiza) Nấm Micorhiza ký sinh trên lớp biểu bì của rễ hút và cung cấp
nước, muối khoáng và một lượng nhỏ chất hữu cơ cho cây Quá trình hoạt động của rễ cũng như sự phát triển của nó không cùng lúc với thân cành mà chúng thường hoạt động xen kẽ với nhau, rễ mọc ra từ hột thường phát triển mạnh, bộ rễ ăn sâu hơn so với rễ cây cam quýt mọc từ giâm cành, chiết cành (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
Trang 197
Theo Phạm Văn Duệ (2005), rễ cây cam quýt chịu ảnh hưởng nhiều của mực nước ngầm ở tầng nông Độ sâu rễ cọc phụ thuộc cây trồng bằng hột hay cây tháp
Nhìn chung rễ cam quýt phân bố ở tầng sâu 10-30 cm Rễ hút tập trung ở tầng sâu 10-25 cm (Hoàng Ngọc Thuận, 1995) Rễ phát triển tốt ở nhiệt độ 10-
37 oC, nếu nhiệt độ cao hay thấp hơn sự phát triển của rễ sẽ ngừng lại và độ
ẩm đất dưới 1%, tỷ lệ oxi trong đất dưới 1,2-1,5% thì rễ ngừng phát triển
(Nguyễn Hữu Đống và ctv., 2003)
1.3.2 Đặc tính cây
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv., (1994) cây cam quýt thuộc loại thân gỗ,
dạng bụi hay bán bụi, cách phân cành cũng rất đa dạng: phân cành hướng ngọn, phân cành ngang, phân cành hỗn hợp,… Quýt Đường có thể ra đọt rãi rác quanh năm tùy tình trạng dinh dưỡng của cây và độ ẩm của đất (Trần Thượng Tuấn, 1999) Cam quýt thường ra rất nhiều cành (Vũ Công Hậu, 1996) Dựa vào đặc tính của thân cành để có phương thức canh tác và chăm sóc tốt: tạo tán, tạo hình, tạo cành mẹ,…cho phù hợp và đạt năng suất cao Để
có được những yếu tố này thì nhiệt độ đất và không khí phải thích hợp để cho cây cam quýt phát lộc và sinh cành mới (Hoàng Ngọc Thuận, 1995)
Theo Phạm Hoàng Hộ (2003), cây quýt Đường thuộc loại cây tiểu mộc, cao từ 2-4 m Khi cây quýt Đường được 5 năm tuổi có chiều cao trung bình là
4,1 m và Đường kính tán trung bình là 2,5 m (Trần Thế Tục và ctv., 1998)
Theo Trần Thị Bích Vân (2009), kết quả ghi nhận được khi khảo sát đặt tính cây của hai cây quýt Đường không hột và cây quýt Đường có hột đều có dạng tán cây hình elip, cây có dáng thẳng đứng, mật độ cành thưa, hướng ngọn và phân cành nhiều Cây có cấu trúc thân láng, góc độ cành vừa phải và đọt non
có màu xanh nhạt
Theo khảo sát của Hồ Phương Linh (2008), ở nhóm quýt Đường không hột và nhóm quýt Đường có hột bình thường ghi nhận được: chiều cao cây biến động từ 3,2-4,0 m, đường kính tán từ 3,1-4,5 m, đường kính thân biến động trong khoảng 7,7-10,9 cm Tỷ số cành tháp trên gốc tháp của nhóm quýt Đường không hột và nhóm quýt Đường có hột không có sự khác biệt, số liệu biến động từ: 0,84-0,87 (Hồ Phương Linh, 2008) Đánh giá chung, đặc tính hình thái về tập tính sinh trưởng của hai cây quýt Đường không hột qua khảo sát không khác biệt với nhau và cũng không khác biệt với cây quýt Đường có
hột (Nguyễn Bá Phú và ctv., 2009)
1.3.3 Đặc tính lá
Lá cam quýt thuộc loại lá đơn gồm có cuống lá, cánh lá và phiến lá, lá quýt nhỏ, hẹp, hình xoan, dài 4-8 cm, rộng 1,5-4 cm màu xanh đậm ở mặt trên
Trang 208
màu xanh và vàng nhạt ở mặt dưới, cuống có cánh nhỏ (Trần Thượng Tuấn và
ctv., 1994) Lá cam quýt có hình dạng rất khác nhau, thường có hình ovan,
hình trứng lộn ngược (Đường Hồng Dật, 2003) Phiến lá có khía răng cưa, gân phụ có từ 5-8 cặp (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 2001) Có thể nhọn đuôi lá hoặc chẻ lõm (Nguyễn Văn Luật, 2006)
Theo khảo sát của Hồ Phuơng Linh (2008) không có sự khác biệt về hình thái giữa quýt Đường không hột và quýt Đường có hột Lá quýt Đuờng thuộc loại lá đơn, không có tai lá, rìa lá có dạng răng cưa, có ba dạng phiến lá: Hình elip, hình mác, hình trứng Trong đó, dạng hình mác là phổ biến nhất biến động từ 50-70%, dạng hình elip biến động trong khoảng 23-40%, và cuối cùng
là dạng hình trứng biến động trong khoảng 3-13% Nguyễn Bá Phú và ctv
(2009) cho rằng chiều dài cuống lá biến động từ 1,23-1,30 cm và không có sự khác biệt giữa 2 cây quýt Đường không hột và quýt Đường có hột Ngoài ra, kết quả khảo sát cho thấy chúng đều có rìa lá dạng răng cưa, đỉnh đầu lá có khía Trần Thượng Tuấn (1999), cũng cho rằng lá quýt Đường thuộc loại lá đơn, không rụng theo mùa, có màu xanh, hình mác, dài 8,4 cm và rộng 4,2 cm
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1994), hoa quýt nhỏ, đường kính
1,5-2,5 mm, 5 cánh trắng, 20 nhị đực, bầu noãn 10-15 ngăn Cánh hoa quýt Đường trắng, dài 7-10 mm (Phạm Hoàng Hộ, 2003) Đài hoa cam quýt dai không
rụng, hình chén, có 3-5 lá đài (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994)
Theo Nguyễn Bá Phú và ctv (2009) khảo sát khi hoa nở ở hai cây quýt
Đường không hột và cây quýt Đường có hột các đặc tính hình thái đều không khác biệt qua phân tích thống kê Như chiều dài cuống hoa từ 2,95 đến 2,99 mm; đường kính đài hoa từ 2,98 đến 3,03 mm; số nhị đực từ 18,9 đến 19,4 nhị/hoa Thời gian từ khi xuất hiện nụ đến khi hoa nở ở quýt Đường không hột
và quýt Đường có hột biến động rất ít từ 11,5 ngày đến 11,73 ngày, và thời gian từ khi hoa nở đến khi hoa tàn biến động từ 2,3 ngày đến 2,4 ngày (Nguyễn Văn Lực, 2009)
Trang 219
1.3.5 Đặc tính trái
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1994), trái quýt có dạng hình cầu hơi
dẹp, đường kính 5-8 cm, vỏ mỏng, dễ lột,…Trái dẹp màu da cam, nhiều múi (9-13 múi), vỏ dễ bóc, múi dễ chia, chua hay ngọt tùy giống (Trần Thế Tục và
ctv , 2006) Trái các loài cam quýt có 8-14 múi (Đường Hồng Dật, 2003)
Theo Võ Văn Vang (2010), các đặc tính vật lý ở quýt Đường như: trọng lượng trái, chiều cao trái, đường kính trái, trọng lượng vỏ trái và hàm lượng dịch trái tăng đến 32-36 tuần sau khi thụ phấn, sau đó thì ngừng tăng trưởng đến thời điểm thu hoạch Bề dày vỏ trái giảm đến giai đoạn 22 tuần sau khi thụ phấn, sau đó tăng nhẹ đến thời điểm thu hoạch Cây quýt Đường 5 năm tuổi có thể cho 600-1.000 trái, khối lượng trung bình trái đạt 100-120 g (Lê Văn
Thuyết và ctv., 2003)
Theo Nguyễn Bá Phú và ctv., (2009) khi khảo sát đặc tính trái quýt
Đường không hột đột biến tự nhiên ở đồng bằng sông Cửu Long, cho rằng cả
ba nghiệm thức hình dạng trái đều giống nhau Trái tròn, to hơi dẹp, đáy có núm, đỉnh trái hơi lõm Trọng lượng trái trung bình của cây quýt Đường không hột mã số 1 và mã số 80 lần lượt là 127 g và 124 g, chiều cao trái trung bình lần lượt là 5,73 cm và 5,59 cm, chiều rộng trái lần lượt là 6,61 cm và 6,49
cm Màu sắc thịt trái quýt Đường không hột và có hột đều có màu cam, màu thịt trái có độ đồng đều nhau Tim trái hơi bọng, nước trái rất ngọt và thơm (Trần Thị Bích Vân, 2008)
1.3.6 Đặc tính hột
Số lượng hột của cây cam quýt trong mỗi múi có từ 0-6 hột (Nguyễn Bảo
Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Hột cam quýt có 7 dạng chủ yếu: Hình thoi, hình chùy, hinh nêm, hình phỏng cầu, hình bán phỏng cầu, và hình bán tam giác (IPGRI, 1999) Theo Phạm Văn Côn (2003), nguyên nhân của hiện tượng
đa phôi có liên quan đến hoạt động của hormon kích thích tăng trưởng hay những chất nội tiết của túi phôi
Theo Nguyễn Bá Phú và Nguyễn Bảo Vệ, (2012) tình trạng không hạt ở Quýt Đường không hạt là do sự phát triển muộn của tiểu noãn Tiểu noãn trưởng thành khi túi phôi ở giai đoạn 8 tế bào (Jackson và Gmiter, 1997) Khi tiểu noãn trưởng thành cũng là lúc noãn sẵn sàng thụ tinh cho ra hợp tử và phát triển thành hột (Nguyễn Đình Dậu, 1997) Theo kết quả khảo sát của Nguyễn Minh Sang (2010) cho thấy: Tình trạng tiểu noãn chưa phát triển lúc hoa nở trên 2 cá thể quýt đường không hột có khả năng duy truyền cho thế hệ tháp thứ nhất, từ đó đưa ra kết luận tình trạng không hột cũng có thể duy truyền cho thế hệ tháp thứ nhất
Trang 2210
1.4 TỔNG QUAN VỀ KHÔNG HỘT
1.4.1 Hiện tƣợng trinh quả sinh
Theo Nguyễn Bá Phú (2013), hột là điều kiện có của trái, nhưng có vài trường hợp trái phát triển mà không có hột Hiện tượng đó là trinh quả sinh, sự trinh quả sinh có thể xảy ra theo hai cách: hoặc không có thụ tinh (trinh quả sinh thật), hoặc có thụ tinh song hợp tử hoại đi rất sớm và noãn cũng vậy (trinh quả sinh giả), hiện tượng trinh quả sinh đặc biệt quan trọng cho cây
trồng do sản phẩm thương mại là những trái không hột
Theo Trần Văn Hâu (2009), có thể chia làm ba kiểu trinh quả sinh:
- Trinh quả sinh yếu: Chỉ một ít trái được sản xuất mà không cần thụ
phấn như cam Navel
- Trinh quả sinh trung bình: Đạt năng suất trung bình nếu không thụ phấn
nhưng đạt năng suất cao nếu được thụ phấn như quýt Orlando
- Trinh quả sinh mạnh: Đạt năng suất cao nhưng không cần thụ phấn như
chanh Tahiti
Vũ Văn Vụ và ctv (1999), cho rằng có 2 kiểu không hột trong tự nhiên:
- Trái được tạo nên không qua thụ tinh Có thể sự tạo trái này không cần
sự thụ phấn như chuối, dứa Một số loại trái không hột xảy ra nhờ sự kích thích của hạt phấn rơi trên núm nhụy nhưng sau đó không có quá trình thụ tinh xảy ra như nho
- Trái không hột được tạo nên qua thụ tinh nhưng sau đó phôi không phát triển mà bị thui đi như nho, anh đào, đào
1.4.2 Các nguyên nhân không hột của cam quýt
1.4.2.1 Hiện tƣợng tự bất dung hợp
Theo Gosmez-Alvarado và ctv., (2004) tự bất dung hợp với tính tạo trái
không hột là nguyên nhân trái không hột ở cam quýt Theo Trần Thượng Tuấn, (1992) trong quá trình thụ phấn hạt phấn không nảy mầm trên nướm nhụy, ống phấn không thể mọc dài hết chiều dài của vòi nhụy hay ống phấn tới túi phôi nhưng không xảy ra quá trình thụ tinh nên được gọi là sự bất dung hợp giao tử
Theo Nguyễn Bá Phú (2006), nguyên nhân góp phần xây dựng nên hiện tượng này là do hiện tượng đa hình trong cấu trúc của hoa như: Chỉ nhị hay vòi nhụy có thể có các dạng dài, ngắn, trung bình hoặc do sự chênh lệch đối lập giữa độ lớn của tế bào nướm nhụy và kích thước hột Thường hoa có vòi nhụy dài thì tế bào nướm nhụy to nhưng hạt phấn lại bé và ngược lại hoa có vòi nhụy ngắn thì tế bào nướm nhụy bé và hạt phấn to
Theo Trần Đình Long (1997), hiện tượng tự bất tương hợp là hiện tượng hạt phấn không thể thụ tinh được trên vòi nhụy của cùng một hoa hoặc giữa
Trang 2311
các hoa khác nhau trên cùng một cây Ở những loài có hiện tượng tự bất tương hợp, cấu trúc của bộ phận sinh sản có những hiện tượng như sau :
- Hạt phấn không thể nảy mầm trên vòi nhụy
- Nếu hạt phấn nảy mầm được thì cũng không thể tới vòi nhụy
- Hạt phấn nảy mầm tới vòi nhụy nhưng lại không đúng thời điểm thụ tinh, khi
đó tinh trùng tới được vòi nhụy thì trứng chưa chín hoặc trứng đã quá chín đều trở nên vô hiệu
1.4.2.2 Bất dục giao tử đực
Theo Trần Đình Long (1997), ở cây sinh sản vô tính được nhân lên bằng phương pháp vô tính nên qua các đời trồng của thế hệ nhân giống vô tính không xảy ra phân li và tái tổ hợp Điều ấy đưa đến 3 hậu quả quan trọng: Các
hệ vô tính dần tích lũy các đột biến tự nhiên làm độ dị hợp tăng lên, các gen có hại cũng tích lũy dần, cơ quan sinh sản thường xuyên không hoạt động nên dần dần đưa đến bất dục đực và cái, thường bất dục đực xảy ra nhiều hơn Theo Trần Thượng Tuấn (1992), bất dục đực, nguyên nhân gây ra hiện tượng này là do sự phát triển không bình thường của nhị hoa làm cho giao tử đực không có sức sống, hoặc do đột biến làm đình trệ sự phát triển các giao tử đực,… Ngoài ra, yếu tố môi trường bất lợi và các yếu tố di truyền khác cũng gây ra bất dục đực Theo Jackson and Gmiter (1997), giao tử bất dục thì không
có khả năng sản xuất hạt phấn hoặc túi phôi hữu dục Bất dục đực có thể do sự phát triển không hoàn chỉnh của hạt phấn nhưng thường do sự thiếu soát trong quá trình phát triển của hạt phấn
1.4.2.3 Tam bội
Theo Jackson (1997), do trong quá trình giảm phân tạo giao tử đực và cái không cân bằng các giao tử có số lượng nhiễm sắc thể trung gian giữa 1n và 2n, cuối cùng sẽ hình thành trái không hột Cây tam bội tạo trái không hột do:
sự thụ phấn chéo giữa cây nhị bội và tứ bội, nuôi cấy phôi nhũ, công nghệ sinh
học hiện đại, (Raza và ctv., 2003) Khi phân bào giảm nhiễm, giao tử phân
bào bất bình thường ra tế bào với bộ nhiễm sắc thể tam bội cây tam bội sẽ cho trái không hột ngay cả khi thụ phấn chéo với giống khác (Jackson and Gmiter, 1997) Theo Trần Thượng Tuấn (1992), thể tam bội với bộ nhiễm sắc thể cơ bản được hình thành do kết quả của sự phối hợp giữa các giao tử lưỡng bội (2n) và đơn bội (1n) Thể tam bội thường bất dục, do quá trình phân bào giảm nhiễm diễn ra không bình thường, phần lớn các giao tử mang số nhiễm sắc thể trung gian giữa 1n và 2n nên không có sức sống và không có khả năng sinh sản Cây tam bội là tiêu chuẩn quan trọng nhất để tuyển chọn giống cây trồng không hột (Zhu, 2008)
Trang 2412
1.4.2.4 Đột biến và biến dị
Đột biến liên quan đến một thay đổi trong ADN thì khá phổ biến trong cam quýt, tỷ lệ đột biến sẽ thay đổi tùy theo giống (Spiegel-Roy và Goldschmidt, 1996) Chiếu bức xạ lên cây trồng đang sinh trưởng nhằm thay đổi các đặc tính trái như: Số lượng hột trên trái, màu sắc của thịt trái và vỏ trái Sự đột biến bằng tia Gamma thực sự có hiệu quả đối với các loài cam
quýt (Sutarto và ctv., 2009)
Theo Sutarto và ctv (2009) cho rằng các kỹ thuật gây đột biến như bức
xạ hoặc chất gây đột biến hóa học là những công cụ tốt để tăng tần số đột biến
ở các loài cây trồng do đột biến tự phát xảy ra với một tần số rất thấp Tần số đột biến thay đổi tùy theo từng loại cây trồng và từng gen riêng biệt (Chu Thị
Thơm và ctv , 2006)
Trang 2513
Chương 2
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
Thời gian: Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 09 năm 2012 đến tháng
2.2 PHƯƠNG PHÁP
2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 3 nghiệm thức với 10 lần lặp lại (mỗi lặp lại là 1 cây)
Nghiệm thức 1: Dòng quýt Đường không hột số 1
Nghiệm thức 2: Dòng quýt Đường không hột số 2
Nghiệm thức 3: Giống quýt Đường có hột
2.2.2 Kỹ thuật canh tác
Kỹ thuật canh tác chính theo qui trình trồng, chăm sóc và thu hoạch cây cam quýt ở các tỉnh phía Nam của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2001), được nêu cụ thể trong tài liệu tiêu chuẩn ngành “Quy trình trồng, chăm sóc và thu hoạch cây có múi ở các tỉnh phía Nam” (10 TCN 481 – 2001)
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi
2.2.3.1 Sự sinh trưởng của cây
Các chỉ tiêu sinh trưởng được lấy 3 tháng/lần gồm:
Đường kính gốc tháp (mm): Đo dưới vết tháp 10 cm
Đường kính thân tháp (mm): Đo trên vết tháp 10cm
Tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp
Chiều cao cây (cm): Đo từ mặt đất đến đỉnh chồi cao nhất của cây
Đường kính tán cây (cm): Đo từ hai chóp lá rộng nhất của cây
Trang 2614
2.2.3.2 Sự phát triển kích thước trái
Chọn ngẫu nhiên 15 trái để đo sự phát triển kích thước trái hằng tháng (4-36 tuần sau khi hoa nở) với các chỉ tiêu:
Chiều cao trái (mm): Đo chiều cao ở vị trí lớn nhất của trái
Đường kính trái (mm): Đo đường kính ở vị trí lớn nhất của trái
Tỷ số chiều cao trái/đường kính trái
2.2.3.3 Năng suất và chất lượng trái
a Năng suất trái
Tỷ lệ đậu trái (%): Chọn mỗi cây 50 chồi hoa (loại chồi hoa có lá và chỉ
có 1 hoa/chồi) Định kỳ hằng tháng ghi nhận số trái đậu, quy ra % đậu trái
Số múi: Đếm tổng số múi có trong trái
Đường kính lõi (mm): Đo đường kính đại diện của lõi
Số lượng của hột chắc, hột lép, mài (hột/trái)
Trọng lượng trái, vỏ, hột (Wtrái, Wvỏ, Whột) (g): Đo bằng cân phân tích
(Tanita - Nhật)
Trọng lượng vách múi và vỏ con tép Wvách múi và vỏ con tép (g): Phần trọng
lượng còn lại của thịt trái khi lấy hết dịch trái
Trọng lượng thịt trái Wthịt trái (g) = Wtrái – (Wvỏ + Whột)
Trọng lượng dịch trái Wdịch trái (g) = Wtrái – (Wvỏ + Whột +
Tỷ lệ (%) trọng lượng vỏ/trái = (Wvỏ/Wtrái) x 100
Tỷ lệ (%) trọng lượng vách múi và vỏ con tép/trái
Tỷ lệ (%) trọng lượng hột/trái = (Whột/Wtrái) x 100
Tỷ lệ (%) trọng lượng thịt trái/trái = (Wthịt trái/Wtrái) x 100
Tỷ lệ (%) trọng lượng dịch trái/trái = (Wdịch trái/Wtrái) x 100
Thể tích dịch trái Vdịch trái (ml) =Wdịch trái x d (d: Tỷ trọng trọng lượng dịch trái)
Độ pH: Dịch trái sau khi ép được đo bằng máy đo pH hiệu ORION
(USA)
Trang 27(Nguyễn Minh Chơn và ctv., 2005), cụ thể như sau:
Bước 1: Cân 5 ml dịch trái
Số mg vitamin C trong 100 g mẫu vật được tính như sau:
X mg 100g = a − b x 0,088 V1
V2 x m x 100 Trong đó:
a: Số ml trung bình khi chuẩn độ mẫu thật
b: Số ml trung bình khi chuẩn độ mẫu blank
V1: Thể tích dung dịch chiết ban đầu (50 ml)
V2: Thể tích dung dịch chiết lấy để chuẩn độ (10 ml)
Trang 2816
Chương 3
KẾT QUẢ THẢO LUẬN 3.1 SỰ SINH TRƯỞNG CỦA 2 DÕNG QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT
Sự sinh trưởng là sự tạo mới của tế bào, mô, toàn cây dẫn đến gia tăng về
số lượng kích thước, thể tích sinh khối của chúng (Phạm Văn Côn, 2003) Vì vậy sự sinh trưởng của 2 dòng quýt Đường không hột được đánh giá qua đường kính gốc tháp, đường kính thân tháp, tỷ số đường kính thân tháp/đương kính gốc tháp, chiều cao cây và đường kính tán
3.1.1 Đường kính gốc tháp
Kết quả khảo sát cho thấy đường kính gốc tháp của 2 dòng quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 và quýt Đường có hột (đ/c) qua từng thời điểm khảo sát tăng dần (Hình 3.1) Cụ thể đường kính gốc tháp của 2 dòng quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 và quýt Đường
có hột (đ/c) ở thời điểm 45 tháng sau khi trồng dao động trong khoảng 79,8 mm; 71,2-83,6 mm (48 tháng sau khi trồng); 73,2-88,9 mm (51 tháng sau khi trồng) và thời điểm 54 tháng sau khi trồng dao động trong khoảng 75,1-94,4 mm (Phụ bảng 1.1) Tuy nhiên đường kính gốc tháp của 2 dòng quýt Đường không hột số 1 và số 2 khác biệt không có ý nghĩa với nhau và với quýt Đường có hột (đ/c) qua phân tích thống kê
70,4-Hình 3.1: Đường kính gốc tháp (mm) của 2 dòng quýt Đường không hột theo thời
gian (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013) Kết quả này cũng phù hợp với khảo sát vào giai đoạn cây 2 năm tuổi của Nguyễn Minh Sang (2010), vào giai đoạn cây 3 năm tuổi của Trình Thị Hương (2011), vào giai đoạn cây 4 năm tuổi của Dương Thị Xuân Mai (2012), về sự sinh trưởng đường kính gốc tháp trên cùng nền thí nghiệm tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
Trang 2917
Đường kính gốc tháp của 2 dòng quýt Đường không hột số 1 và số 2 là tương đương nhau và tương đương với quýt Đường có hột (đ/c) Suy ra, sự sinh trưởng của đường kính gốc tháp của quýt Đường không hột không khác biệt với quýt Đường có hột (đ/c)
3.1.2 Đường kính thân tháp
Tương tự với đường kính gốc tháp, đường kính thân tháp của 2 dòng quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 và quýt Đường có hột (đ/c) qua từng thời điểm khảo sát tăng dần (Hình 3.2) Cụ thể đường kính thân tháp của quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 và quýt Đường có hột (đ/c) ở thời điểm 45 tháng sau khi trồng dao động trong khoảng 51,9-58,8 mm; 53,0-64,0 mm (48 tháng sau khi trồng); 55,2-66,0 mm (51 tháng sau khi trồng) và 54 tháng sau khi trồng dao động trong khoảng 57,2-71,4 mm (Phụ bảng 1.2) Nhưng qua phân tích thống kê đường kính thân tháp của 2 dòng quýt Đường không hột khác biệt không ý nghĩa với nhau và với quýt Đường có hột (đ/c) Kết quả trên cũng phù hợp với kết quả khảo sát về khả năng phát triển đường kính thân tháp của quýt Đường không hột của Nguyễn Bá Phú và Nguyễn Bảo Vệ (2012a)
Hình 3.2: Đường kính thân tháp (mm) của 2 dòng quýt Đường không hột theo
thời gian (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
Vì vậy, sự sinh trưởng về đường kính thân tháp của 2 dòng quýt Đường không hột số 1 và số 2 là giống nhau và cùng giống với quýt Đường có hột (đ/c)
3.1.3 Tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp
Đánh giá khả năng sinh trưởng của quýt Đường không hột qua tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp, từ kết quả về tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp của 2 dòng quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 và quýt Đường có hột (đ/c) được thể hiện ở Hình 3.3 cho thấy tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp của 3 nghiệm thức
Trang 3018
dao động trong khoảng: 0,73-0,75 (45 và 48 tháng sau khi trồng); 0,74-0,76 (51 tháng sau khi trồng) và 54 tháng sau khi trồng trong khoảng 0,74-0,77 (Phụ bảng 1.3) Tuy nhiên tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp của quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 và quýt Đường có hột (đ/c) khác biệt không ý nghĩa qua phân tích thông kê Hình 3.3 cũng cho thấy sự tiếp hợp của mắt tháp với thân tháp có xu hướng tăng dần theo thời gian và ngày càng tiến về 1 Theo Phạm Văn Côn (2007), tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp bằng 1, cây phát triển bình thường do thế sinh trưởng thân tháp tương đương thế sinh trưởng gốc tháp
Hình 3.3: Tỷ số đường kính thân tháp/gốc tháp của 2 dòng quýt Đường không
hột theo thời gian (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013) Tóm lại tại các thời điểm khảo sát 45, 48, 51, và 54 tháng sau khi trồng
tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp của 2 dòng quýt Đường không hột số 1 và số 2 tương đương nhau và cùng tương đương với nghiệm thức quýt Đường có hột (đ/c) Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu về sự tương hợp giữa mắt tháp và gốc tháp ở giai đoạn cây 4 năm tuổi Dương Thị Xuân Mai (2012) thực hiện trên cùng nền thí nghiệm tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp Vì vậy, sự tương hợp giữa gốc tháp và thân tháp của 2 dòng quýt Đường không hột là giống nhau và giống với quýt Đường có hột (đ/c)
3.1.4 Chiều cao cây
Kết quả khảo sát về chiều cao cây của quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 và quýt Đường có hột (đ/c) được thể hiên ở Hình 3.4 cho thấy chiều cao cây của 3 nghiệm thức tăng dần theo thời gian khảo sát Cụ thể chiều cao cây của 3 nghiệm thức dao động trong khoảng: 232-263 cm (45 tháng sau khi trồng); 242-275 cm (48 tháng sau khi trồng); 260-280 cm (51 tháng sau khi trồng) và 54 tháng sau khi trồng dao động trong khoảng 278-288
0 0.1 0.2 0.3 0.4 0.5 0.6 0.7 0.8 0.9
Trang 3119
cm (Phụ bảng 1.4) Tuy nhiên, qua phân tích thông kê cho thấy chiều cao cây của quýt Đường không hột số 1 và số 2 khác biệt không có ý nghĩa với nhau
và với quýt Đường có hột (đ/c)
Hình 3.4: Chiều cao cây (cm) của hai dòng quýt Đường không hột theo thời
gian (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
Chiều cao cây của quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số
2 và quýt Đường có hột (đ/c) qua các thời điểm khảo sát 45, 48, 51, 54 tháng tuổi là không khác biệt Kết quả này cũng phù hợp với sự đánh giá khả năng phát triển chiều cao cây của dòng quýt Đường không hột ở đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Bá Phú và Nguyễn Bảo Vệ (2012a) Như vậy khả năng sinh trưởng về chiều cao cây của quýt Đường không hột số 1 và quýt Đường không hột số 2 là tương đương nhau và cùng giống quýt Đường có hột (đ/c)
3.1.5 Chiều rộng tán
Chiều rộng tán cũng là một trong những chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng của quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 và quýt Đường có hột (đ/c) Qua kết quả Hình 3.5 cho thấy chiều rộng tán của cả 3 nghiệm thức tăng dần qua các thời điểm khảo sát Cụ thể đường kính tán của 3 nghiệm thức dao động trong khoảng: 309-329 cm (45 tháng sau khi trồng); 310-332 cm (48 tháng sau khi trồng); 314-340 cm (51 tháng sau khi trồng) và 54 tháng sau khi trồng dao động trong khoảng 320-345 cm (Phụ bảng 1.5) Tuy nhiên, qua phân tích thông kê cho thấy chiều rộng tán của 2 dòng quýt Đường không hột số 1
và số 2 khác biệt không có ý nghĩa với nhau và với quýt Đường có hột (đ/c)
Trang 3220
Hình 3.5: Chiều rộng tán (cm) của hai dòng quýt Đường không hột theo thời
gian (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013) Như vậy không có sự khác biệt giữa quýt Đường không hột số 1 và số 2 với quýt Đường có hột (đ/c) về chiều rộng tán qua các tháng tuổi của cây được khảo sát Kết quả này cũng phù hợp với kết quả khảo sát của Nguyễn Bá Phú
và Nguyễn Bảo Vệ (2012a) về đánh giá khả năng phát triển về chiều rộng tán của quýt Đường không hột ở đồng bằng sông Cửu Long Vì vậy sự sinh trưởng về đường chiều rộng của 2 nghiệm thức quýt Đường không hột không
có sự khác biệt với nhau và với quýt Đường có hột (đ/c)
Kết luận, kết quả khảo sát về đường kính gốc tháp, đường kính thân tháp,
tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp, cùng với chiều cao cây và chiều rộng tán cây cho thấy khả năng sinh trưởng của 2 dòng quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 là không khác biệt và không khác với quýt Đường có hột (đ/c) Vì vậy sự sinh trưởng của 2 dòng quýt Đường không hột là tương đương nhau và tương đương với quýt Đường có hột (đ/c)
3.2 PHÁT TRIỂN TRÁI CỦA 2 DÕNG QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT
3.2.1 Chiều cao trái
Chiều cao trái từ tuần 4 đến tuần 36 sau khi hoa nở của quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 và quýt Đường có hột (đ/c) tăng dần qua các thời điểm khảo sát (Hình 3.6) Qua kết quả khảo sát, (phụ bảng 1.6) chiều cao trái của 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột ở các thời điểm cụ thể như sau:
Thời điểm từ tuần 4 đến tuần 8 sau khi hoa nở chiều cao trái của quýt Đường số 1 và số 2 khác biệt không ý nghĩa với nhau và với quýt Đường có
|: Các giá trị trên cùng 1 đường thẳng khác biệt không ý nghĩa
Trang 3321
hột (đ/c) Cụ thể chiều cao trái của 3 nghiệm thức dao động trong khoảng: 8,65-6,96 mm (4 tuần sau khi hoa nở); 15,6-18,3 mm (8 tuần sau khi hoa nở) Qua phân tích thống kê thời điểm tuần 12 sau khi hoa nở chiều cao trái của quýt Đường không hột số 1 (21,6 mm) khác biệt không ý nghĩa với quýt Đường không hột số 2 (21,0 mm) và cùng thấp hơn chiều cao trái của quýt Đường có hột (đ/c) (25,1 mm)
Thời điểm tuần 16 sau khi hoa nở chiều cao trái của quýt Đường không hột số 1 (26,9 mm) khác biệt không ý nghĩa với quýt Đường không hột số 2 (26,4 mm) và cùng thấp hơn chiều cao trái của quýt Đường có hột (đ/c) (33,7 mm)
Thời điểm tuần 20 sau khi hoa nở qua phân tích thống kê cho thấy chiều cao trái của quýt Đường không hột số 1 (33,4 mm) khác biệt không ý nghĩa với quýt Đường không hột số 2 (32,6 mm) nhưng cùng thấp hơn chiều cao trái của quýt Đường có hột (đ/c) (39,6 mm)
Thời điểm tuần 24 sau khi hoa nở chiều cao trái của quýt Đường không hột số 1 (39,0 mm) khác biệt không ý nghĩa với quýt Đường không hột số 2 (38,5 mm) nhưng chiều cao trái của 2 dòng quýt Đường không hột cùng thấp hơn quýt Đường có hột (đ/c) (43,3 mm)
Thời điểm tuần 28, tuần 32 và tuần 36 sau khi hoa nở chiều cao trái của quýt Đường số 1 và số 2 khác biệt không ý nghĩa với nhau và với quýt Đường
có hột (đ/c) qua phân tích thống kê Cụ thể chiều cao trái của 3 nghiệm thức dao động trong khoảng: 44,1-46,5 mm (28 tuần sau khi hoa nở); 46,6-49,1 mm (32 tuần sau khi hoa nở); 49,4-51,4 mm ( 36 tuần sau khi hoa nở)