TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN TRẦN HƯƠNG THỌ NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ THÀNH THỤC CỦA CÁ RÔ ĐỒNG Anabas testudineus PHÂN BỐ Ở VÙNG SINH THÁI KHÁC NHAU LUẬN VĂN TỐ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
TRẦN HƯƠNG THỌ
NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ
THÀNH THỤC CỦA CÁ RÔ ĐỒNG (Anabas testudineus)
PHÂN BỐ Ở VÙNG SINH THÁI KHÁC NHAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
TRẦN HƯƠNG THỌ
NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ
THÀNH THỤC CỦA CÁ RÔ ĐỒNG (Anabas testudineus)
PHÂN BỐ Ở VÙNG SINH THÁI KHÁC NHAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Cán bộ hướng dẫn DƯƠNG THÚY YÊN
2013
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành được đề tài luận văn này tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến: Trước tiên, tôi xin gửi cảm ơn đến gia đình và cha mẹ là những người đã tạo mọi điều kiện và động viên để tôi có thể hoàn thành luận văn này cũng như khóa học tại trường
Quý thầy cô của bộ môn kỹ thuật nuôi nước ngọt thuộc khoa Thủy Sản của Trường Đại học Cần Thơ đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu và cần thiết
để hoàn thành đề tài này
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến cô Dương Thúy Yên người đã hướng dẫn và giúp tôi tận tình trong thời gian thực hiện đề tài cũng như hoàn thành bài báo cáo
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn thân ái đến chị Trinh, anh Tâm, anh Nhã, anh Phương, anh Tùng, anh Tính, anh Do, anh Quý, anh Sách, anh Đấu và đồng cảm
ơn đến các bạn: Loan, Quyên, Dự, Tính, Học, Nhị đã giúp đỡ nhiệt tình và động viên ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng lần đầu thực hiện nên kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để bài báo cáo này được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
MỤC LỤC ii
TÓM TẮT iv
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Nội dung của đề tài 2
1.4 Thời gian thực hiện đề tài 2
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học cá rô đồng 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Hình thái 4
2.1.3 Phân bố 4
2.1.4 Sinh trưởng – dinh dưỡng 5
2.1.5 Sinh sản 6
2.2 Sơ lược về cá đầu vuông 7
2.3 Những nghiên cứu về nuôi cá rô đồng 8
2.4 Các giai đoạn thành thục của cá 9
CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 Thí nghiệm: Theo dõi sự sinh trưởng và thành thục của cá sau 6 tháng tuổi 11
3.2 Phương pháp xử lí số liệu 15
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 Chỉ tiêu môi trường 16
4.2 Sinh trưởng và tỷ lệ sống của các dòng cá từ 6 – 10 tháng tuổi 17
4.3 Một số chỉ tiêu đánh giá sự thành thục của các dòng cá 19
4.3.1 Hệ số điều kiện 19
4.3.2 Hệ số thành thục (GSI) 21
4.4 Sức sinh sản của các dòng cá 23
4.4.1 Sức sinh sản tuyệt đối giữa các dòng cá 23
4.4.2 Sức sinh sản tương đối giữa các dòng cá 24
4.4.3 Tương quan giữa sức sinh sản và khối lượng cá 24
4.4.4 Tương quan giữa sức sinh sản và khối lượng tuyến sinh dục 25
4.5 Kích thước trứng của các dòng cá 26
4.5.1 Kích thước trứng qua các tháng của các dòng cá 26
4.5.2 So sánh kích thước trứng giữa các dòng cá 27
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 29
5.1 Kết luận 29
Trang 65.2 Đề xuất 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO 30 PHỤ LỤC 32
Trang 7TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm so sánh khả năng sinh trưởng và thành thục của cá rô đồng
(Anabas testudineus) có nguồn gốc cá bố mẹ từ các vùng sinh thái khác nhau
trong cùng điều kiện nuôi Cá thí nghiệm có cùng 6 tháng tuổi đã được ương, nuôi tại Khoa Thủy Sản Trường Đại học Cần Thơ, từ tháng 12 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013 Bốn nghiệm thức cá thí nghiệm gồm cá Cà Mau, Đồng Tháp, Hậu Giang và đầu vuông, được bố trí trong 12 giai (2 m2) Cá ban đầu có khối lượng dao động 6,72 – 26,60 g (tùy dòng cá) được thả 70 con/giai Cá được thu mẫu định kỳ 1 lần/tháng để đánh giá sự sinh trưởng và thành thục
Ở giai đoạn 6 – 10 tháng tuổi, cá đầu vuông vẫn tiếp tục tăng trưởng và đạt khối lượng cao nhất 83,56 g, tiếp đến là dòng cá Cà Mau 61,79 g Hai dòng cá Hậu Giang và Đồng Tháp tăng trưởng rất chậm, chỉ đạt khối lượng tương ứng là 16,88
g và 13,97 g Tỷ lệ sống của các dòng cá đạt cao, từ 75 – 99% và khác biệt nhau không có ý nghĩa Trong thời gian nghiên cứu, tuyến sinh dục của các dòng cá ở giai đoạn từ II – IV và đạt giai đoạn IV trên 90% vào tháng 4 với các dòng cá tự nhiên Hệ số điều kiện ở cá cái và cá đực của các dòng cá nhìn chung có xu hướng giảm dần từ tháng 2 – tháng 4 Trong khi đó, hệ số thành thục của cá cái
có xu hướng tăng dần từ tháng 2 – tháng 4, trong đó cá Cà Mau có giá trị cao nhất
là 20,83%, Hậu Giang 18,55%, đầu vuông 16,62% và cuối cùng là Đồng Tháp 16,35% Ở cá đực có hệ số thành thục cao nhất vào tháng 3 Sức sinh sản tuyệt đối dao động lớn giữa các dòng và trong cùng một dòng, từ 1.815 – 154.207 trứng Sức sinh sản tương đối cao nhất là Đồng Tháp với 629 trứng/g và thấp nhất
cá Cà Mau với 522 trứng/g Kích thước trứng giữa các dòng cá biến động không đồng nhất qua các tháng, kích thước trứng của cá Cà Mau là lớn nhất (0,77 mm)
và nhỏ nhất là cá Đồng Tháp (0,71 mm) Tóm lại, cá rô đồng (Anabas
testudineus) có nguồn gốc phân bố ở vùng sinh thái khác nhau thể hiện khác nhau
về đặc điểm sinh trưởng và thành thục trong cùng điều kiện nuôi
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1: Theo dõi pH, NO2-, NH4+, NH3 17
Bảng 4.2: tốc độ tăng trưởng/ngày của các dòng cá 19
Bảng 4.3: Sức sinh sản tuyệt đối giữa các dòng cá 24
Bảng 4.4: Sức sinh sản tương đối giữa các dòng cá 24
Bảng 4.5: Kích thước trứng qua các tháng của các dòng cá 27
Bảng 4.6: kích thước trứng trung bình các dòng cá 27
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: cá rô đồng 3
Hình 4.1: Theo dõi nhiệt độ nước ao trong quá trình thí nghiệm 16
Hình 4.2: Khối lượng trung bình của các dòng cá từ 6 – 10 tháng tuổi 18
Hình 4.3: Hệ số điều kiện của cá cái qua các tháng 20
Hình 4.4: Hệ số điều kiện của cá đực qua các tháng 21
Hình 4.5: Hệ số thành thục của cá cái qua các tháng 22
Hình 4.6: Hệ số thành thục của cá đực qua các tháng 22
Hình 4.7: Tương quan giữa sức sinh sản và khối lượng cá 25
Hình 4.8: tương quan giữa sức sinh sản và khối lượng tuyến sinh dục 26
Trang 11CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu
Ngành thủy sản hiện nay đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Ở nước ta thì Đồng Bằng Sông Cửu Long có vị trí và vai trò quan trọng đối với sự phát triển thủy sản của cả nước, chiếm 80% tổng diện tích nuôi và sản lượng nuôi của cả nước Trong việc thực hiện xu hướng
đa dạng hóa các đối tượng nuôi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long thì ngoài các đối tượng nuôi có tính truyền thống và qui mô lớn như cá tra, cá basa,… thì nghề nuôi cá đồng (cá lóc, cá trê, thát lát,…) cũng có bước phát triển đột phá và điển hình là cá rô đồng, từ hình thức nuôi quảng canh đã nhanh chóng chuyển sang nuôi thâm canh, đạt năng suất và sản lượng lớn
Cá rô đồng (Anabas testudineus) là loài cá có tiềm năng lớn, thịt thơm ngon, có
giá trị được người tiêu dùng ưa chuộng Đây là loài cá phân bố rộng ở các thủy vực nước ngọt vùng nhiệt đới như Thái Lan, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Việt Nam, Hoa kỳ, Úc và nhiều quốc gia châu Á khác (Rainboth, 1996) Ở nước ta cá
rô đồng được nuôi chủ yếu ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long như An Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng (Phuong et al, 2002) Cá sống ở thủy vực nước ngọt, chủ yếu ở kênh, rạch, ao, hồ, đầm lầy và cửa sông những nơi ngập lụt Cá rô đồng là loài cá rất khỏe, cá có cơ quan hô hấp khí trời nên có thể chịu đựng được các điều kiện bất lợi của môi trường như thiếu oxy trong những ao tù đọng (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993) Cá rô đồng có tốc độ sinh trưởng tương đối chậm, sau 6 tháng nuôi cá đạt khối lượng 60 – 100 g/con Cá rô đồng sinh trưởng trong tự nhiên sẽ thành thục sau một năm tuổi và có chiều dài khoảng 12 cm Theo Nguyễn Thành Trung (1998) cá rô đồng được nuôi và chăm sóc trong điều kiện tốt đầy đủ thức ăn, môi trường thuận lợi thì cá thành thục lần đầu sau 8 – 10 tháng tuổi với trọng lượng 50 – 60 g/con Hiện nay bên cạnh việc nuôi cá rô đồng thì cá đầu vuông cũng đang là đối tượng nuôi phổ biến Với những ưu điểm vượt trội về thời gian nuôi ngắn, tốc độ lớn nhanh, hệ số tiêu thụ thức ăn thấp sau 4 tháng nuôi cá có thể đạt khối lượng 6 con/kg Mặc dù kích thước khá lớn và thời gian nuôi nhanh nhưng cá đầu vuông vẫn giữ được phẩm chất thịt thơm ngon như
cá rô đồng (Lương Nhạt, 2011) Theo người dân nuôi cá, cá đầu vuông thành thục sau 8 tháng tuổi (Nguyễn Bảo Toàn, 2012) Câu hỏi đặt ra là cá đầu vuông và cá
rô thường có tiếp tục sinh trưởng sau khi thành thục hay không? Hiện nay, chưa
Trang 12có nghiên cứu nào so sánh mối quan hệ giữa sinh trưởng và sinh sản của hai dòng
cá này trong cùng điều kiện Ngoài ra, các dòng cá rô phân bố ở những vùng địa lí khác nhau như: Hậu Giang, Cà Mau, Đồng Tháp,… có thể sẽ khác nhau về đặc điểm sinh trưởng, sinh sản,… Để tìm hiểu và hoàn thiện những thông tin về đặc
điểm sinh trưởng và sinh sản của các dòng rô đồng khác nhau, đề tài: “Nghiên
cứu về đặc điểm sinh trưởng và thành thục của cá rô đồng (Anabas
testudineus) phân bố ở vùng sinh thái khác nhau” được thực hiện
1.2 Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu nhằm bổ sung những thông tin về khả năng sinh trưởng và thành thục của cá rô đồng có nguồn gốc cá bố mẹ từ các vùng sinh thái khác nhau trong cùng điều kiện nuôi
1.3 Nội dung của đề tài
a) So sánh khả năng sinh trưởng của các dòng cá rô từ 6 - 10 tháng tuổi b) So sánh một số đặc điểm sinh sản của các dòng cá rô trong cùng điều kiện nuôi
1.4 Thời gian thực hiện đề tài
Đề tài được thực hiện từ tháng 12 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013
Trang 13CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học cá rô đồng
Hình 2.1: Cá rô đồng
2.1.1 Phân loại
Họ Anabantidae có 34 loài được phân ra làm 4 giống (một số tác giả chỉ chia làm
3 giống) Hai loài thuộc giống Anabas gồm: Anabas cobojius (Hamilton, 1982):
cá rô sông Hằng, tìm thấy ở Ấn Độ, Anabas testudineus (Bloch, 1792): cá rô
đồng, tìm thấy ở Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Nam Á
Nhiều loài khác thuộc các giống Ctenopoma, Microctenopoma và Sandelia,
Loài: Anabas testudineus (Bloch, 1792)
Tên địa phương: cá rô đồng
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long giống Anabas chỉ có một loài là Anabas
testudineus với tên địa phương là cá rô đồng
Trang 142.1.2 Hình thái
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) cá rô đồng có thân hình bầu dục, dẹp bên, cứng chắc Đầu lớn, mõm ngắn Miệng hơi trên, rộng vừa, rạch miệng xiên kéo dài đến đường thẳng đứng kẻ qua giữa mắt, răng nhỏ nhọn Mỗi bên đầu có hai lỗ mĩu, lỗ phía trước mở ra bằng một ống ngắn Mắt to, tròn nằm lệch về nửa trên của đầu và gần chót mõm hơn gần điểm cuối nắp mang
Phần trán giữa mắt cong lồi tương đương 1,5 đường kính mắt Cạnh dưới xương
lệ, xương giữa nắp mang, xương dưới nắp mang và cạnh sau xương nắp mang có nhiều gai nhỏ nhọn, tạo thành răng cưa Lỗ mang rộng, màng mang hai bên dính nhau và có phủ vảy Trên đầu có nhiều lỗ cảm giác Vảy lược phủ toàn thân, đầu
và một gốc vi lưng, vi hậu môn và vi đuôi, vảy phủ lên các vi nhỏ hơn vảy ở thân
và đầu Gốc vi bụng có một vảy nách hình mũi mác
Đường bên nằm ngang và chia làm hai đoạn: Đoạn trên từ bờ trên lỗ mang đến ngang các vi lưng cuối cùng Đoạn dưới từ ngang các gai vi lưng cuối cùng đến điểm giữa gốc vi đuôi, hai đoạn này cách nhau một hang vảy Gốc vi lưng lưng rất dài, phần gai gần bằng bốn lần phần tia mềm Khởi điểm vi lưng ở trên vảy đường bên thứ ba và kéo dài đến gốc vi đuôi Khởi điểm vi hậu môn ngang vảy đường bên thứ 14 – 15, gần điểm giữ gốc vi đuôi hơn gần chót mõm và chạy dài dến gốc vi đuôi
Vi đuôi tròn, không chẻ đôi Gai vi lưng, vi hậu môn, vi bụng cứng nhọn Mặt lưng của đầu và thân có màu xám đen hoặc xám xanh và lợt dần xuống bụng, ở một số cá thể ửng lên màu vàng nhạt Cạnh sau sương nắp mang có một màng da nhỏ màu đen Có một đốm đen đậm giữa gốc vi đuôi ngoài ra còn có một số đặc điểm đen mờ nằm rải rác trên thân
2.1.3 Phân bố
Cá rô đồng sống chủ yếu ở vùng nhiệt đới, ở Việt Nam chúng phân bố ở miền Nam và miền Bắc Đây là cá thích sống ở những nơi có mực nước tương đối nông khoảng 0,5 – 1,5 m và tĩnh, nơi có nhiều cây có thủy sinh và chất đáy giàu mùn
bã hữu cơ (http://wedcache.googleusercontent.com) Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, cá rô đồng phân bố nhiều ở những khu vực trũng, ngập nước quanh năm: nông trường Phương Ninh (Cần Thơ), rừng U Minh Hạ (Cà Mau), U Minh Thượng (Kiên Giang), vùng Tứ Giác Long Xuyên và nhiều vùng khác (Dương Nhựt Long)
Trang 15Trong tự nhiên cá rô đồng có thể sinh trưởng và phát triển ở nhiều loại hình thủy vực khác nhau: sông ngòi, ao, hồ, mương vườn, ruộng lúa, ngoài ra cá có thể sống
ở các cửa sông lớn và ít gặp ở miền núi Trong điều kiện nhân tạo, chúng có thể sống trong bể xi măng, bể composite hay trong vèo, ao, mương có diện tích nhỏ
2.1.4 Sinh trưởng – dinh dưỡng
Cá bắt đầu ăn ngoài từ ngày thứ ba, thức ăn ưa thích của cá là những giống loài động vật phù du cở nhỏ trong ao như loài giáp xác râu ngành, thậm chí chúng cũng ăn ấu trùng tôm cá Khi trưởng thành cá có thể sử dụng nhiều loại thức ăn, nhưng thức ăn ưa thích của cá là động vật đáy như giun ít tơ, ấu trùng, côn trùng mầm non thủy thực vật Ngoài ra cá rô cũng có khả năng sử dụng thức ăn chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp rất tốt (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Cá rô là loài cá ăn tạp thiên về động vật Chúng có thể ăn cả các loài động vật thân mềm, cá con và thực vật, kể cả cỏ, khi phân tích dạ dày của cá rô, người ta thấy có 19% là giáp xác, 3,5% côn trùng, 6% nhuyễn thể, 9,5% cá, 47% thức ăn vụn và 15% thức ăn ít tiêu hóa, pH dạ dày của cá khoảng 5,9 – 6,58 Thức ăn thích hợp của cá là tôm tép, cá con, phiêu sinh vật, động vật không xương sống, côn trùng bay trong không khí, hạt cỏ, thóc (Nguyễn Văn Long, 2004) Chúng có thể ăn các chất hữu cơ và vô cơ được coi là “bẩn” trong nước, Chúng có thể ăn lẫn nhau trong trường hợp đói, vì vậy việc phân cỡ rất quan trọng
Cá rô đồng có cơ quan hô hấp phụ là mê lộ nên có khả năng chịu đựng trong điều kiện nuôi với mật độ cao Cá có tốc độ sinh trưởng tương đối chậm, sau 6 tháng nuôi cá đạt khối lượng 60 – 100 g/con Trong điều kiện nhân tạo, cá rô đồng sống được trong bể xi măng, ao mương có diện tích nhỏ, ngoài ra nếu cá ở nơi mát và
bề mặt cơ thể được giữ ẩm, cá có thể sống được ngoài không khí trong nhiều giờ nhờ có cơ quan hô hấp phụ trên mang sử dụng khí trời, đây là ưu thế trong việc vận chuyển và nuôi với mật độ cao trong ao Mặt khác sự sinh trưởng của cá trong quá trình nuôi thương phẩm trong ao chịu ảnh hưởng rất lớn bởi mật độ nuôi do chúng cạnh tranh về thức ăn Trong ao nuôi thâm canh ở mật độ 30 con/m2 cá tăng trưởng nhanh hơn so với mật độ 40 con/m2 (Dương Nhựt Long và ctv, 2006)
Khối lượng thân trung bình của cá rô ở Đồng Bằng Sông Cửu Long dao động 50 – 120 g/con Trong ao nuôi có thức ăn đầy đủ sau 6 – 8 tháng nuôi cá đạt cỡ 60 –
80 g/con, cá đực có khối lượng nhỏ hơn cá cái (Nguyễn Văn Kiểm, 2005)
Trang 162.1.5 Sinh Sản
Theo Bộ thủy sản (1996) mùa vụ sinh sản tự nhiên của cá rô đồng kéo dài từ tháng 5 – 10 Mùa vụ sinh sản tập trung của cá là từ tháng 4 – 6 (Mai Đình Yên, 1983) Điều kiện sinh thái đẻ trứng của cá rô đồng trong tự nhiên: có mùa mưa, nhiệt độ mát, có nước mới, giàu dinh dưỡng (để nuôi cá con), mực nước cạn Vì thế khi nuôi trong ao mặc dù cá cái đã có trứng nhưng trứng chỉ ở cuối giai đoạn
3, đang vào pha nghỉ, chờ điều kiện sinh thái thuận lợi trứng mới chín và rụng (cá đẻ) Các phase của tế bào trứng trong noãn sào cá rô đồng không hoàn toàn đồng nhất đây là đặc điểm của cá đẻ nhiều lần trong năm Cá có khả năng đẻ bốn lần trong năm (Phạm Văn Khánh và ctv, 2002 trích dẫn bởi Hồ Mỹ Hạnh, 2003) Sức
sinh sản của cá dao động từ 2.200 – 28.000 trứng/cá cái (Bộ thủy sản, 2002)
Theo Dương Nhựt Long (2004) cá rô đồng thường đẻ tập trung sau những trận mưa lớn Khi đi đẻ cá thường tìm tới những nơi có dòng nước mát, chảy chậm, chính dòng nước là yếu tố kích thích quá trình hưng phấn và đẻ trứng của cá rô đồng Mực nước thích hợp cho quá trình sinh sản của cá khoảng 0,3 – 0,4 m, trứng cá rô thành thục thường có màu trắng ngà hoặc màu trắng ngà hơi vàng, đường kính trứng sau khi trương nước dao động 1,1 – 1,2 mm và trứng cá thuộc loại trứng nổi Cá rô đồng không có tập tính giữ con Ở chiều dài 10 – 13 cm cá tham gia sinh sản lần thứ nhất, sức sinh sản cá cao đạt 30 – 70 vạn trứng/kg cá cái Cá đẻ 3 – 4 lần/năm Thời gian tái thành thục 3 – 4 tuần phụ thuộc vào nhiệt
độ và thức ăn
Phân biệt đực, cái: cá đực có thân hình thon dài hơn so với cá cái Cá đực phát dục có tinh dịch màu trắng, dùng tay vuốt nhẹ dưới ổ bụng từ vây ngực đến vây hậu môn, ta sẽ thấy tinh dịch chảy ra Đây là lúc chính muồi của sự thành thục, cá
đã sẵn sang cho việc sinh sản Với cá cái khi mang trứng, bụng sẽ phình to Nếu dùng tay vuốt nhẹ, trứng sẽ vọt ra ngoài báo hiệu cá đang sẵn sàng cho việc sinh sản (Nguyễn Văn Kiểm, 2005)
Trong tự nhiên, cá tự bắt cặp sinh sản, sau những cơn mưa hoặc mực nước thủy vực thay đổi (do thủy triều) là điều kiện ngoại cảnh thích hợp kích thích cá sinh sản Về hình thức sinh sản, do hưng phấn nên trong quá trình bắt cặp sinh sản, cả
cá cái lẫn cá đực sẽ phóng lên khỏi mặt nước liên tục Bãi đẻ của cá là ven những
bờ ao, bờ ruộng, kênh, mương nơi có nhiều cỏ và thực vật thủy sinh Cá cái sẽ đẻ trứng vào trong nước, đồng thời với lúc trứng được đẻ ra cũng là lúc tinh trùng từ
Trang 17cá đực được phóng ra Trứng ngay lập tức được thụ tinh và nổi lên trên mặt nước nhờ vào những lớp ván dầu màu vàng được phóng ra cùng lúc với trứng
Trong sinh sản nhân tạo, cá thể bố mẹ đã thành thục, được tiêm kích thích tố như LRHa để kích thích sinh sản Liều lượng thường dùng là 50 µg LRHa + 5 mg DOM/kg cá cái Sau khi tiêm cá bố mẹ được cho vào bể sinh sản hoặc xô nhựa, thau, chậu,… có đậy nắp Khi tiêm khoảng 8 giờ, cá sẽ sinh sản Cá bột sau khi
nở khoảng 12 giờ có thể tự kiếm mồi trong thủy vực Cá bố mẹ sau khi sinh sản khoảng 1,5 tháng có thể tái phát dục và tiếp tục sinh sản (Phạm Văn Khánh, 1999)
2.2 Sơ lược về cá đầu vuông
Cá rô đầu vuông được phát hiện đầu tiên ở ấp 5, xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang vào năm 2008 với số lượng khoảng 70 con lẫn trong ao nuôi cá rô đồng của một hộ dân (Phương Thanh, 2010)
Cá đầu vuông là đối tượng có giá trị kinh tế với nhiều ưu điểm vượt trội như sức sống cao, dễ nuôi, với hệ số tiêu thụ thức ăn thấp, lớn nhanh, ít bệnh, kích thước lớn hơn nhiều so với cá rô đồng bình thường
Cá đầu vuông có hình thái không khác biệt so với cá rô đồng Cá lớn đầu to và hơi vuông, môi trề bụng sệ, đuôi dài, vây dưới dài, vẩy màu vàng sậm, đuôi xòe
và đỏ lợt mình dài hơi cong, có hai chấm đen ở gần đuôi và mang cá (Nguyễn Văn Dũng, 2011)
Cá đầu vuông khi còn nhỏ giống như cá rô đồng bình thường nhưng khi lớn lên, đầu to và vuông, vẩy màu vàng sậm, đuôi xòe và đỏ lợt, mình dài và hơi cong, có hai chấm đen ở gần đuôi và mang cá Đây là loài cá dữ, ăn tạp thiên về động vật Thức ăn cá bao gồm tôm, tép, cá con, sinh vật phù du, động vật không xương sống, hạt cỏ, thóc, các phụ phẩm nông nghiệp như cám, gạo, các phế phẩm nhà máy chế biến thủy sản,… Trong nuôi thâm canh, cá sử dụng thức ăn viên với hàm lượng đạm thích hợp (30 - 40%) cho nhu cầu từng giai đoạn vẫn cho tốc độ tăng trưởng tốt Cá đầu vuông có ưu điểm vượt trội là tốc độ sinh trưởng nhanh hơn rất nhiều so với cá rô đồng, con đực và con cái tăng trưởng đều nhau Thời gian nuôi
4 tháng đầu có thể đạt khối lượng 150 - 200 g/con và nếu kéo dài 7 tháng, khối lượng cá có thể đạt từ 500 - 800 g/con Thời gian nuôi càng kéo dài cá càng lớn chứ không giảm cân như cá rô đồng bình thường Cá đầu vuông thành thục sau 8 tháng tuổi Loài cá này có tập tính giữ con, sinh sản tập trung vào mùa mưa,
Trang 18tháng 6-7 và có khả năng sinh sản nhiều lần trong năm (Nguyễn Văn Dũng, 2013)
Cá đầu vuông thành thục từ 5 – 8 tháng tuổi Ngoài tự nhiên đẻ từ tháng 4 – 10, tập trung vào các tháng đầu và giữa mùa mưa (khoảng tháng 6 – 7) Loài cá này
có khả năng sinh sản nhiều lần trong năm mỗi lần cách nhau 15 – 20 ngày và có tập tính giữ con Sức sinh sản từ 300.000 – 500.000 trứng/kg cá cái Trứng có màu vàng rơm
Cá có hệ số tiêu thụ thức ăn thấp chỉ tốn 1,4 kg thức ăn cho 1 kg cá thành phẩm, trong khi nuôi cá rô đồng bình thường tốn tới 2 kg thức ăn Giai đoạn đầu cá sử dụng thức ăn có độ đạm 40% và giảm từ từ đến 32% ở giai đoạn thu hoạch Cá thường được nuôi thương phẩm trong ao với mật độ dày từ 40 – 80 con/m2 Với mật độ 80 con/m2 nếu nuôi tốt sau 3 – 4 tháng có thể cho năng suất 70 tấn/ha Đây là loài cá có giá trị kinh tế, sản phẩm đang được thị trường và người tiêu dùng ưa chuộng Hiện tại cá đầu vuông được nuôi rất phổ biến ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long và Đồng Nai Trong tương lai, loài cá này có thể philê để xuất khẩu sang thị trường nước ngoài
2.3 Những nghiên cứu về nuôi cá rô đồng
Theo Nguyễn Văn Long (2004), cá rô đồng có thể nuôi thịt trong ao từ 200 m2 trở lên hoặc trong ruộng lúa có diện tích 2.000 – 3.000 m2, độ sâu từ 1 – 1,5 m; mật
độ nuôi 30 con/m2 và cho cá ăn thức ăn tự chế (cám gạo hoặc tấm 35%, cá vụn, phế phẩm, ốc,… 30%, bánh dầu 15%, rau xanh 20% và khoáng premix, vitamin 1%) Cũng có thể cho cá ăn thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm tổng cộng 22 – 25%, với khẩu phần ăn 2 – 3% khối lượng thân Mặt khác, có thể cho cá ăn luân phiên cả hai loại thức ăn trên, tháng đầu cho cá ăn thức ăn viên, tháng thứ 2 – 4 cho ăn thức ăn tự chế, đến tháng cuối cho cá ăn trở lại thức ăn viên nhằm kích thích cá tăng trọng nhanh để bán
Một nghiên cứu khác về nuôi thâm canh cá rô đồng trong ao đất (Dương Nhựt Long, 2004) cho thấy khối lượng trung bình của cá nuôi ở nghiệm thức I (50 con/m2) sau khi thu hoạch là 66,4 g/con thấp hơn so với 71,5 g/con cá nuôi ở nghiêm thức 2 (30 con/m2) Tỷ lệ sống (%) của cá rô đồng ở nghiệm thức I là 74,4 % thấp hơn so với tỷ lệ sống của nghiệm thức II là 85,5 % Năng suất cá nuôi ở nghiệm thức I đạt 24.600 kg/ha cao hơn so với nghiệm thức II (30 con/m2)
là 21.300 kg/ha Giải thích kết quả này cho thấy, mật độ cá thả nuôi cao (50
Trang 19con/m2) ở nghiệm thức I có lẽ là yếu tố chính làm tăng sự cạnh tranh thức ăn trong cùng 1 loài, gia tăng hàm lượng ammonia trong ao nuôi, là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến sự suy giảm về sự tăng trưởng của cá nuôi trong hệ thống thâm canh
Thực nghiệm nuôi cá rô đồng thâm canh trong ao đất tại tỉnh Long An (Dương Nhựt Long và ctv, 2006) với tổng diện tích nuôi là 7.100 m2 (8 ao), độ sâu dao động từ 1,8 – 2,4 m Thực nghiệm nuôi gồm 2 nghiệm thức với mật độ khác nhau, 30 con/m2 (nghiệm thức I) và 40 con/m2 (nghiệm thức II) Ba tháng đầu cho
ăn bằng thức ăn viên công nghiệp có 28% đạm, khẩu phần ăn dao động từ 10 – 12%/khối lượng thân/ngày, sau đó kết hợp thức ăn tự chế biến từ nguồn phụ phế phẩm nông nghiệp tại địa phương cho các tháng còn lại của chu kì nuôi, với khẩu phần ăn từ 3 – 7%/khối lượng thân/ngày Sau 6 tháng nuôi, khối lượng và tăng trọng bình quân của cá nuôi ở nghiệm thức I (49,7±6,1 g/con và 0,28±0,1 g/ngày) lớn hơn ở nghiệm thức II (46±9,4 g/con và 0,25±0,08 g/ngày) Mặc dù năng suất
cá ở nghiệm thức I (10.490 kg/ha) thấp hơn so với nghiệm thức II (12.640 kg/ha) nhưng lợi nhuận mang lại (42.190.000 đồng/ha) thì cao hơn nghiệm thức II (31.260.000 đồng/ha) Tác giả kết luận: nuôi thâm canh cá rô đồng bằng giống sinh sản nhân tạo với 30 con/m2 đã đạt chất lượng tốt, hệ thống nuôi đạt hiệu quả
và góp phần cải thiện thu nhập cho nông hộ vùng nông thôn tỉnh Long An
2.4 Các giai đoạn thành thục của cá
Giai đoạn thành thục chỉ mức độ chín của tuyến sinh dục Phương pháp thông thường để xác định giai đoạn thành thục của cá là nhận biết bằng mắt thường theo bậc thang thành thục đã được nghiên cứu Nikolsky (1963) đã đưa ra một bậc thang tổng hợp để có thể sử dụng rộng rãi cho nhiều đối tượng, gồm 6 giai đoạn:
Giai đoạn I : Cá thể non, chưa thành thục sinh dục
Giai đoạn II : Tuyến sinh dục có kích thước rất nhỏ, mắt thường không nhìn thấy hạt trứng
Giai đoạn III : Giai đoạn thành thục, bằng mắt thường có thể nhìn thấy hạt trứng
Giai đoạn IV : Giai đoạn chín muồi Tuyến sinh dục có kích thước lớn nhất, nhưng khi ấn nhẹ các sản phẩm sinh dục chưa chảy ra
Giai đoạn V : Giai đoạn đẻ trứng Các sản phẩm sinh dục chảy ra khi ấn nhẹ vào bụng cá Khối lượng tuyến sinh dục từ đầu đến cuối giai đoạn đẻ trứng giảm đi rất nhanh
Trang 20 Giai đoạn VI : Giai đoạn sau khi đẻ Các sản phẩm sinh dục được phóng thích ra hết, lỗ sinh dục phồng lên, tuyến sinh dục trong dạng túi mềm nhão Ở con cái thường còn những hạt trứng nhỏ còn sót lại, ở con đực còn sót lại một ít tinh trùng
Trang 21CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thí nghiệm: Theo dõi sự sinh trưởng và thành thục của cá sau 6 tháng tuổi
Nguồn cá thí nghiệm: Cá được sinh sản nhân tạo từ cá rô đồng tự nhiên thu ở 3 khu vực: Châu Thành A (Hậu Giang), vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp), rừng U Minh Hạ (Cà Mau) và cá đầu vuông Vị Thủy (Hậu Giang) và được nuôi dưỡng trong cùng điều kiện tại Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ, đến 6 tháng tuổi
Bố trí thí nghiệm
Bốn nghiệm thức cá thí nghiệm gồm:
i Cá rô Đồng Tháp
ii Cá rô Cà Mau
iii Cá rô Hậu Giang và
iv Cá đầu vuông
Cá có cùng 6 tháng tuổi được bố trí ngẫu nhiên trong giai (2 m2) với 3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức Mỗi giai được thả 70 con, khối lượng cá ban đầu dao động6,72 – 26,60 g
Chăm sóc cho ăn
Thức ăn
- Thức ăn nuôi cá sản phẩm của: Công ty cổ phần sản xuất thức ăn thủy sản TOMBOY, mã số thức ăn TIL300 có hàm lượng dinh dưỡng như sau: đạm thô 30%, béo thô 6%, tro 13%, xơ thô 6%, độ ẩm 11% Nguyên liệu sử dụng: bột cá, bột đậu nành, cám, tấm gạo, bột mì, khoai mì lát, dầu cá, dầu đậu nành, nấm men, amino acid, acid béo, vitamin, chất khoáng, vi sinh vật có lợi, mannan oligosaccharide, enzyme
Trang 22Cách cho ăn
- Cho ăn mỗi ngày 2 lần sáng (7 – 8h) và chiều (17 – 18h) Khẩu phần ăn được điều chỉnh theo khối lượng cá Tháng thứ nhất (cá 7 tháng tuổi), tháng thứ 2 (cá 8 tháng tuổi), tháng thứ 3 (cá 9 tháng tuổi), tháng thứ 4 (cá
10 tháng tuổi) cho ăn 5%, 4%, 2%, 1,5% khối lượng thân cá
Các chỉ tiêu theo dõi
- Theo dõi các chỉ tiêu môi trường: NH3-, NH4+, pH, nhiệt độ (t0), NO2-
Nhiệt độ đo bằng nhiệt kế và đo 2 lần trong ngày buổi sáng (6 – 7h)
và chiều (14 – 16h)
NH3
-, NH4 +
cá thể)
Đếm số lượng trứng và đo đường kính trứng
- Quan sát hình thái tuyến sinh dục
Việc quan sát hình thái và xác định giai đoạn thành thục tuyến sinh dục của cá dựa vào 6 bậc thang thành thục của Nikolsky (1963)
Thực hiện mổ cá để quan sát tuyến sinh dục bằng mắt về hình dạng, màu sắc, kích thước,…để xác định giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục đực và cái
Các chỉ tiêu tính toán
Các chỉ tiêu tăng trưởng
- Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (Specific growth rate – SGR)
Trang 23Ln(Wf) – Ln(Wi) SGR(%/ngày) = x 100
Trong đó: Wf: khối lượng cá cuối thí nghiệm
Wi: khối lượng cá trước thí nghiệm
T: thời gian thí nghiệm
- Tỉ lệ sống của cá (Survival rate – SR%)
Số cá thu hoạch SR% = x 100
Trang 24- Hệ số thành thục (Gonado somatic index, GSI %)
khối lượng tuyến sinh dục
GSI (%) = x 100 Tổng khối lượng cá không nội tạng
Phương pháp xác định sức sinh sản
Thu trứng: Các mẫu cá sau khi đã phân tích hình thái xong sẽ tiến hành mổ
Buồng trứng được lấy ra khỏi cơ thể cá một cách cẩn thận, quan sát buồng trứng
để xác định giai đoạn thành thục, dùng cân điện tử để cân và ghi nhận lại khối lượng buồng trứng Những buồng trứng ở giai đoạn IV được xác định sức sinh sản Dùng vợt có kích thước mắt lưới dày và nhíp để tách rời những hạt trứng dưới vòi nước nhỏ, thao tác tiến hành nhẹ nhàng và nhanh gọn Sau đó, dùng muỗng thu trứng cho vào chai nhựa 110 ml và cố định bằng formol 2% để tiến hành những phân tích tiếp theo
Phương pháp lấy mẫu đại diện : Cân hỗn hợp trứng và chất bảo quản, sau đó
khuấy đều hỗn hợp rồi dùng ống hút nhựa hút một lượng làm mẫu đại diện, cân
và đếm số trứng/mẫu đại diện Thực hiện lặp lại 5 lần
Sau đó tính theo công thức :
F = nG (trứng/con cái) Trong đó : F : Sức sinh sản
n (số trứng/g) : Số trứng/g mẫu đại diện
G (g) : Khối lượng hỗn hợp mẫu
Đo đường kính trứng : Được thực hiện trên cùng một mẫu đếm sức sinh sản
tuyệt đối Trứng trong dung dịch formol sẽ được lắc đều trước khi lấy mẫu sau đó dùng ống nhựa để hút ngẫu nhiên khoảng 30 – 35 trứng và được đo trên kính nhìn nổi Trứng được đo ở vật kính 16 và kích thước trứng (mm) được tính bằng cách
lấy giá trị đo/ 2,1
Trang 253.2 Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel và chương trình SPSS Excel được dùng để vẽ mối tương quan giữa khối lượng cá với các chỉ tiêu sinh sản Chương trình SPSS được dùng để so sánh độ sai biệt có ý nghĩa về các chỉ tiêu theo dõi giữa các nghiệm thức (dòng cá) ở mức p < 0,05 bằng phương pháp ANOVA một nhân tố và phép thử DUNCAN
Trang 26CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Chỉ tiêu môi trường
Hình 4.1 cho thấy nhiệt độ có sự biến động trong ngày, thường thì buổi chiều cao hơn buổi sáng, nhiệt độ thấp nhất là 270C và cao nhất 320C
Hình 4.1: Theo dõi nhiệt độ nước ao trong quá trình thí nghiệm
Các yếu tố môi trường khác bao gồm pH, NO2
Trang 27Bảng 4.1: Theo dõi pH, NO2
-, NH4 +
4.2 Sinh trưởng và tỉ lệ sống của các dòng cá từ 6 – 10 tháng tuổi
Hình 4.2 cho thấy dòng cá đầu vuông có khối lượng trung bình cao nhất qua các tháng nuôi, cá tăng trưởng từ 25,72 - 83,56 g Tiếp theo là dòng cá Cà Mau từ 21,34 – 61,79 g, dòng cá Hậu Giang từ 11,56 – 16,88 g và cuối cùng dòng cá Đồng Tháp có khối lượng trung bình thấp nhất qua 4 tháng nuôi (10,28 – 13,97 g) Khối lượng cá lúc thu hoạch khác biệt có ý nghĩa (P<0,05) giữa dòng đầu vuông, Cà Mau và 2 dòng cá còn lại (Bảng 4.2)
Trang 28Hình 4.2: Khối lượng trung bình của các dòng cá từ 6 – 10 tháng tuổi
So sánh về tốc độ tăng trưởng (DWG) của các dòng cá (Bảng 4.2) cho thấy tốc độ tăng trưởng/ngày của cá đầu vuông là cao nhất, đến cá Cà Mau và thấp nhất là hai dòng cá Hậu Giang và Đồng Tháp Sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng (DWG) là
ý nghĩa (P<0,05) các dòng cá (Bảng 4.2) Giữa các dòng cá tự nhiên, DWG của
cá Cà Mau cao gấp 10 lần so với cá Hậu Giang và Đồng Tháp Như vậy, ngoài yếu tố môi trường và thức ăn (hàm lượng đạm cao 30%), tăng trưởng của cá ở giai đoạn này còn chịu ảnh hưởng bởi mức độ thành thục của cá Sau 8 tháng tuổi, hầu hết cá đã thành thục nhưng cá đầu vuông và Cà Mau vẫn tiếp tục tăng trưởng, trong khi đó dòng cá Đồng Tháp và Hậu Giang không tăng trưởng Điều này chứng tỏ ưu điểm về sinh trưởng của hai dòng cá đầu vuông và Cà Mau ở giai đoạn trưởng thành
Theo báo cáo ở giai đoạn nuôi thịt của Trịnh Hải Long (2012), sau 2 tháng nuôi thịt (cá 4 tháng tuổi), cá đầu vuông và cá rô đồng Cà Mau tăng trưởng nhanh tương đương nhau và đều cao hơn có ý nghĩa thống kê với hai nhóm cá rô đồng Hậu Giang và cá rô đồng Đồng Tháp (P < 0,05) Trong giai đoạn nuôi 60 - 120 ngày, tăng trưởng nhanh nhất vẫn là nhóm cá đầu vuông (0,15 ± 0,05 g/ngày/con), kế tiếp là nhóm cá đồng Cà Mau (0,09 ± 0,15 g/ngày/con) và thấp nhất là cá đồng Hậu Giang (0,08 ± 0,04 g/ngày/con) và Đồng Tháp (0,07 ± 0,01 g/ngày/con) Ở giai đoạn này cá đầu vuông khác biệt có ý nghĩa thống kê với hai nhóm cá rô đồng Hậu Giang và cá rô đồng Đồng Tháp, Cá rô đồng Cà Mau khác
Trang 29biệt không có ý nghĩa thống kê với 3 nhóm cá rô còn lại (P < 0,05) Như vậy, sự khác biệt về tăng trưởng giữa các dòng cá cũng gần tương tự với thí nghiệm trên Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (SGR) của dòng cá đầu vuông là lớn nhất và thấp nhất là dòng cá đồng tháp Dòng cá đầu vuông và Cà Mau khác biệt có ý nghĩa (P<0,05) so với 2 dòng cá còn lại
Về tỷ lệ sống, ở giai đoạn này, tỷ lệ sống của các dòng cá đạt cao, từ 75 – 90% Trong đó, dòng Hậu Giang cao nhất và thấp nhất là cá Cà Mau (Bảng 4.2) Kết quả từ Bảng 4.2 cho thấy tỷ lệ sống của các dòng cá không có sự khác biệt về mặt thống kê (P > 0,05)
Bảng 4.2: Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của các dòng cá rô
Tỷ lệ sống (%)
Trang 30Hình 4.3: Hệ số điều kiện của cá cái qua các thángHình 4.3 cho thấy hệ số điều kiện ở cá cái của dòng cá Cà Mau giảm dần từ tháng
2 (4,37) – tháng 4 (4,01) Dòng cá Đồng Tháp có hệ số điều kiện ở tháng 2 (4,2) thấp hơn tháng 3 (4,66) nhưng cao hơn tháng 4 (4,17) Ở dòng cá Hậu Giang thì
hệ số điều kiện có sự tăng dần từ tháng 2 (4,22) – tháng 3 (4,53) nhưng tháng 4 (4,26) có sự giảm xuống so với tháng 3 Đối với cá đầu vuông thì tháng 4 (4,45) đạt giá trị cao nhất so với tháng 2 (4,42) và tháng 3 (3,29) So với kết quả nghiên cứu của Hồ Thị Kiều (2012) thì hệ số điều kiện có xu hướng giảm dần từ tháng 2 – tháng 5 Theo Dương Tuấn (1979) trong quá trình thành thục sinh dục cá cần một lượng vật chất dinh dưỡng rất lớn để tích lũy và tạo thành sản phẩm sinh dục, vậy có thể nói từ tháng 2 cá bắt đầu chuyển hóa vật chất dinh dưỡng cho sản phẩm sinh dục nên hệ số điều kiện bắt đầu giảm dần