TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN TRẦN VĂN CHÍ LINH ĐÁNH GIÁ SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH Macrobrachium rosenbergii DÒNG TÔM ĐỒNG NAI THẾ HỆ F3 LUẬN VĂ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
TRẦN VĂN CHÍ LINH
ĐÁNH GIÁ SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH
(Macrobrachium rosenbergii) DÒNG TÔM ĐỒNG
NAI THẾ HỆ F3
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGS.TS TRẦN NGỌC HẢI ThS TRẦN MINH NHỨT
Cần Thơ - 2013
Trang 2LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Đào Tạo, Ban chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản trường Đại Học Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi được học tập và nghiên cứu và vận dụng kiến thức đã học thông qua quá trình thực hiện đề tài này
Tiếp đến tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô khoa Thủy Sản
đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Xin chân thành cảm ơn thầy PGs.Ts Trần Ngọc Hải đã giảng dạy, giúp đỡ
và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được thực hiện đề tài luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ths Trần Minh Nhứt đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn này
Chân thành cảm ơn!
Trang 3TÓM TẮT
Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) là loài có kích thước lớn nhất trong
các loài tôm nước ngọt, là một trong những loài nuôi có giá trị kinh tế quan trọng trong ngành thủy sản thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, nghề nuôi tôm càng xanh hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, nhất là về giống Thí nghiệm “Đánh giá sự sinh trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh
(Macrobrachium rosenbergii) – dòng tôm Đồng Nai thế hệ F3” Nhằm đánh giá,
so sánh sự phát triển và tỉ lệ sống ấu trùng của tôm bố mẹ có kích thước khác nhau của dòng tôm Đồng Nai F2, làm cơ sở cho việc gia hóa và chọn giống tôm càng xanh ở Đồng bằng sông Cửu Long Thí nghiệm gồm 3 nhóm tôm mẹ: nhóm tôm mẹ lớn: ương ấu trùng tôm càng xanh từ tôm bố mẹ lớn của dòng tôm Đồng Nai F2 (gồm 21 cặp tôm bố mẹ lớn và tôm mẹ có khối lượng ≥ 23,5g) Nhóm tôm
mẹ toàn đàn: ương ấu trùng tôm càng xanh từ tôm bố mẹ bình thường của dòng tôm Đồng Nai F2 (gồm 68 cặp tôm bố mẹ) Nhóm tôm mẹ nhỏ: ương ấu trùng tôm càng xanh từ tôm bố mẹ nhỏ của dòng tôm Đồng Nai F2 (gồm 47 cặp tôm bố
mẹ nhỏ và tôm mẹ có khối lượng < 23,5 g)
Kết quả thí nghiệm: khối lượng tôm post 15 chọn lọc ở nhóm tôm mẹ lớn (0,020±0,0027 g) lớn hơn nhóm tôm mẹ toàn đàn (0,019±0,003 g) và nhóm tôm
mẹ nhỏ (0,018±0,0023 g), khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Kích thước tôm post 15 chọn lọc ở nhóm tôm mẹ lớn (11,77±0,81 mm) cao hơn nhóm tôm
mẹ toàn đàn (11,64±0,96 mm) và vượt trội hơn so với nhóm tôm mẹ nhỏ (11,56±0,97 mm), các khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.05) Tỷ lệ sống trung bình ở cả 3 nhóm tôm mẹ đạt trên 45% và năng suất đạt được trên 27,5 con/lít và khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Đánh giá chất lượng ấu trùng tôm càng xanh: Sốc formol và sốc ammonium của cả 3 nhóm tôm mẹ trên 96% và khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Cần nghiên cứu tiếp sự ảnh hưởng của kích thước tôm bố mẹ lên ấu trùng tôm càng xanh, để tạo ra nguồn tôm bố mẹ có chất lượng cao để phục vụ cho sản xuất giống và nghề nuôi tôm càng xanh ở nước ta
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Luận văn báo cáo được chỉnh sửa theo yêu cầu của hội đồng Kỹ Thuật Nuôi Hải Sản – Khoa Thủy Sản – trường Đại Học Cần Thơ Ngày 13 tháng 12 năm 2013
PGs.Ts Trần Ngọc Hải Trần Văn Chí Linh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
LỜI CAM ĐOAN iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
1.4 Thời gian thực hiện 2
Phần 2: TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học tôm càng xanh 3
2.1.1 Phân loại và phân bố tôm càng xanh 3
2.1.1.1 Phân Loại……… ……… … ……3
2.1.1.2 Phân bố……… ……… … 4
2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng tôm càng xanh……… ……4
2.1.2.1 Vòng đời của tôm càng xanh……….……… … 4
2.1.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng ……….5
2.1.3 Đặc điểm sinh sản……… ……… …….5
2.1.3.1 Phân biệt đực cái……… ………… ……5
2.1.3.2 Thành thục, giao vĩ, đẻ trứng và ấp trứng của tôm càng xanh…… … 6
2.1.3.3 Quá trình phát triển phôi, ấu trùng và hậu ấu trung của tôm… … ….7
2.1.3.4 Đặc điểm môi trường sống…… ……… ……7
2.2 Khái quát tình hình sản xuất giống và nuôi tôm càng xanh trên thế giới và Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)……… ………….8
2.2.1 Tình hình sản xuất giống tôm càng xanh……… ……… ….…….8
Trang 62.2.2 Hiện trạng nuôi tôm càng xanh……….……… ……… 9
2.2.3 Một số khó khăn của nghề sản xuất giống và nuôi tôm càng xanh .10
2.3 Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống và ảnh hưởng của các nguồn tôm mẹ lên chất lượng ấu trùng tôm càng xanh……… ……… ………….11
2.3.1 Nuôi vỗ tôm bố mẹ……… …… ….11
2.3.2 Ương ấu trùng… … ………….12
2.3.3 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của các nguồn tôm bố mẹ khác nhau lên chất lượng ấu trùng tôm càng xanh……… ………… ….….12
Phần 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU… ………….14
3.1 Vật liệu……… ………14
3.1.1 Nguồn tôm bố mẹ……… ……….……14
3.1.2 Vật tư và dụng cụ……… ……….14
3.2 Phương pháp nghiên cứu ………15
3.2.1 Ương ấu trùng tôm càng xanh……… …… ……15
3.2.2 Đánh gía chất lượng ấu trùng tôm càng xanh……… …………18
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu……… …….……18
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN……… ….……19
4.1 Đánh giá các chỉ tiêu môi trường ương……… ……….… 19
4.2 Sự phát triển của ấu trùng……… ………22
4.2.1 Chỉ số biến thái……… … ……… 22
4.2.2 Kích thước ấu trùng……… ……… …….23
4.2.3 Tỷ lệ sống, năng suất và khối lượng tôm post………… ………… ….25
4.3 Đánh giá chất lượng ấu trùng tôm càng xanh 27
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT……… ……….… ….28
5.1 Kết Luận……… ………….…….… …28
5.1 Đề Xuất……… ….….….…… 28
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1: Công thức ăn cho ấu trùng tôm càng xanh……… ………16
Bảng 4.1: Biến động các chỉ tiêu môi trường ương……… ………19
Bảng 4.2: Chỉ số biến thái của ấu trùng ương……… ……….22
Bảng 4.3 Kích thước các giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh…… ………… …….23
Bảng 4.4 Tỷ lệ sống, năng suất và khối lượng tôm post ……… ………25
Bảng 4.5 Các chỉ tiêu đánh giá tôm post 15……… ………27
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Hình 4.1 Biến động của hàm lượng NO2- và TAN trong môi trường ương tôm càng xanh… 20 Hình 4.2 Kích thước các giai đoạn phát triển ấu trùng tôm càng xanh… …… 24 Hình 4.3 Tỉ lệ sống ấu trùng theo các nhóm tôm mẹ……… …… ….26
Trang 9Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu
Tôm càng xanh (Macrobrachium Rosenbergii) là một trong những đối tượng
thủy sản nước ngọt có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới Tôm càng xanh có kích thước lớn nhất trong 100 loài thuộc giống Macrobrachium (Nguyễn Việt Thắng, 1993) với chất lượng thịt ngon và là một trong những mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao Trước đây, tôm càng xanh chủ yếu được khai thác từ môi trường tự nhiên với sản lượng lớn khoảng
6000 tấn/năm và hiện nay thì sản lượng khai thác đã giảm xuống chỉ còn từ khoảng 3000 – 4000 tấn/năm (Phạm Văn Tình, 2001) Theo thống kê năm
2011 của Bộ Thủy sản thì cả nước đạt khoảng 10.000 tấn tôm càng xanh, mà chủ yếu là của đồng bằng sông Cửu Long Nghề nuôi tôm càng xanh phổ biến
ở các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh với các mô hình như nuôi tôm trong mương vườn, nuôi tôm trên ruộng lúa, nuôi tôm trong đăng quầng Năng suất tôm nuôi đạt bình quân 184 kg/ha/vụ đối với nuôi tôm kết hợp với trồng lúa, 686 kg/ha/vụ đối với nuôi tôm luân canh, 4.120 kg/ha/vụ đối với tôm đăng quầng, 1.200 kg/ha/vụ đối với tôm nuôi
ao (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003)
Năng suất và chất lượng tôm thịt thu được là một trong những vấn đề đáng quan tâm của người nuôi tôm Tuy nhiên, nghề nuôi tôm càng xanh hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn nhất lầ về giống, không chỉ thiếu hụt về số lượng mà chất lượng giống cũng chưa được đảm bảo, nguồn tôm giống chưa qua chon giống dẫn đến năng suất nuôi thấp và chất lượng tôm thịt ngày càng kém, ảnh hưởng đến sự bền vững của nghề nuôi Kế thừa và phát huy chương trình gia hóa dòng tôm Đồng Nai, dòng tôm có nhiều ưu điểm, theo kết quả nghiên ban đầu của Trần Ngọc Hải (2010) nguồn tôm càng xanh từ lưu vực sông đồng sông Đồng Nai có nhiều đặc điểm như có mức độ da dạng di truyền cao nhất (dựa trên % gen đa hình, số allen và tỉ lệ dị hợp của chỉ thị RAPD-PCR) so với các lưu vực sông Long An, Cần Thơ và Cà Mau Chương trình gia hóa dòng tôm Đồng Nai đã được thực hiện đến thế hệ F3 và bước đầu mang lai kết quả rất khả quan về sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh Vì vậy,
để góp phần giải quyết vấn đề trên, đề tài: “Đánh giá tỷ lệ sống và sự tăng
trưởng của ấu trùng tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) dòng tôm
Đồng Nai thế hệ F3” được thực hiện
Trang 101.2 Mục tiêu
Nhằm đánh giá, so sánh sự tăng trưởng và tỷ lệ sống ấu trùng của tôm bố mẹ
có kích thước khác nhau của dòng tôm Đồng Nai F2, làm cơ sở cho việc gia
hóa và chọn giống tôm càng xanh ở ĐBSCL
1.3 Nội dung nghiên cứu
So sánh sự phát triển, tỷ lệ sống và chất lượng của ấu trùng tôm càng xanh
(Macrobrachium rosenbergii) từ nguồn tôm bố mẹ lớn, tôm bố mẹ nhỏ và tôm
bố mẹ bình thường của dòng tôm Đồng Nai bố mẹ thế hệ F2
1.4 Thời gian thực hiện
Đề tài được thực hiện từ tháng 5/2013 đến tháng 10/2013 tại Trung tâm giống thủy sản tỉnh Đồng Tháp
Trang 11Phần 2: TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học tôm càng xanh
2.1.1 Phân loại và phân bố tôm càng xanh
Loài - Macrobrachium rosenbergii
de Man 1879 (Tên tiếng Anh: Giant prawn)
Tôm càng xanh là loài có kích cỡ lớn nhất trong nhóm tôm nước ngọt Có thể phân biệt tôm càng xanh với nhóm tôm khác dựa vào hình dạng và màu sắc bên ngoài Tôm càng xanh có cơ thể thon dài, đối xứng hai bên Cơ thể gồm 2 phần là đầu ngực phía trước và phần bụng phía sau
Phần đầu ngực lớn, có dạng hơi giống hình trụ, gồm phần đầu với 5 đốt gần nhau, mang 5 đôi phụ bộ và phần ngực với 8 đốt liền nhau mang 8 đôi phụ bộ Phần đầu ngực được bao dưới tấm vỏ dày gọi là giáp đầu ngực (Nguyễn
Thanh Phương và ctv, 2003)
Phần bụng gồm có 6 đốt có thể cử động và một đốt đuôi Mỗi đốt mang một đôi phụ bộ gọi là chân bơi Mỗi đốt bụng có tấm vỏ bao Tấm vỏ phía trước xếp chồng lên tấm vỏ phía sau Tuy nhiên tấm vỏ của đốt bụng thứ hai phủ lên
cả hai tấm vỏ trước và sau nó Các đốt bụng hơi tròn trên mặt lưng và dẹp hai bên Cơ thể có dạng hơi cong như hình dấu phẩy, to ở phần đầu và thon nhỏ về phái sau
Ở tôm nhỏ có màu trong sáng Trên giáp đầu ngực có những sọc xanh đen dọc hai bên Tôm trưởng thành có những vệt màu xanh sậm ngang lưng xen kẽ với màu trắng trong của cơ thể Tôm có chủy dài vượt vảy râu, uống cong lên từ đoạn giữa chủy, gốc chủy ở nơi hốc mắt nhô cao lên thành mào Chủy có 11-
16 răng trên chủy (2-3 răng sau hốc mắt) và 10-15 răng dưới chủy
Trang 12Các phụ bộ có hình dạng, kích cỡ và chức năng khác nhau với hai đôi râu có chức năng xúc giác, một đôi hàm lớn, hai đôi hàm nhỏ và ba đôi chân hàm có chức năng giữ và nghiền mồi, năm đôi chân ngực có chức năng để bò, năm đôi chân bụng để bơi và một đôi chân đuôi có chức năng như bánh lái Hai đôi chân ngực đầu tiên của tôm chuyển hoá thành hai đôi càng, đôi càng thứ hai to dùng để bắt mồi và tự vệ (theo Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004)
Đặc điểm về kích cỡ, màu sắc, hình dạng và các gai trên đôi càng sẽ thay đổi theo từng giai đoạn thành thục của tôm, nhất là ở tôm đực Quá trình thay đổi được thể hiện qua các giai đoạn như: tôm nhỏ, tôm càng cam nhạt, tôm càng cam đậm, tôm càng cam đậm chuyển tiếp càng xanh, tôm càng xanh nhạt, tôm càng xanh đậm và tôm già
2.1.1.2 Phân bố
Trong tự nhiên, tôm càng xanh phân bố rộng ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, tập trung ở khu vực Ấn Độ Dương và Tây Nam Thái Bình Dương, chủ yếu ở khu vực từ Châu Úc đến Tân Guinea, Trung Quốc và Ấn Độ Tôm phân
bố ở hầu hết các thủy vực nước ngọt trong nội địa như sông, hồ, ruộng, đầm hay cả các thuỷ vực nước lợ, khu vực cửa sông
Ngoài các vùng phân bố tự nhiên trên, tôm còn được di nhập và nuôi ở nhiều nơi trên thế giới Ở Việt Nam tôm càng xanh phân bố tự nhiên chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ, đặc biệt là ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long Ở các thuỷ vực
có độ mặn 18‰ hay đôi khi cả 25‰ vẫn có thể tìm thấy tôm càng xanh xuất hiện Tuy nhiên tuỳ từng thuỷ vực với đặc điểm môi trường khác nhau và tuỳ theo mùa vụ mà tôm càng xanh xuất hiện với kích cỡ thành thục và mức độ
phong phú khác nhau (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003)
2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng tôm càng xanh
2.1.2.1 Vòng đời của tôm càng xanh
Vòng đời của tôm càng xanh có 4 giai đoạn bao gồm trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng và tôm trưởng thành Tôm càng xanh trưởng thành sống chủ yếu ở nước ngọt Khi thành thục, tôm bắt cặp, đẻ trứng và trứng dính vào các chân bụng của tôm mẹ Tôm trứng di cư ra vùng cửa sông nước lợ (6-18 %o) để nở Ấu trùng nở ra sống phù du, ăn động vật phù du và trải qua 11 lần biến thái để trở thành hậu ấu trùng Lúc này tôm có xu hướng tiến vào vùng nước ngọt như sông, rạch, ruộng, ao hồ , ở đó, chúng sinh sống và lớn lên Tôm có thể di cư rất xa, trong phạm vi hơn 200 km từ bờ biển vào nội địa (Sandifer và Smith,
Trang 131985) Khi trưởng thành chúng lại di cư ra vùng nước lợ nơi độ mặn thích hợp
để sinh sản và vòng đời lại tiếp tục
2.1.2.2 Đặc điểm dinh dƣỡng
Tôm càng xanh là loài ăn tạp thiên về động vật, hàm lượng đạm tối ưu trong thức ăn cho tôm từ 27-35% Nhu cầu đạm thay đổi rất lớn theo giai đoạn phát triển Ngoài ra nhu cầu chất béo dao động trong khoảng từ 6,0-7,5%, chất bột đường được tôm càng xanh tiêu hóa rất tốt (40% trong thức ăn vẫn cho kết quả tăng trưởng tốt), hàm lượng cholesterol 0,5–1% rất cần thiết cho tôm con, cần thường xuyên bổ xung chất khoáng và vitamine cho tôm (Nguyễn Thanh
Phương và ctv, 2003)
Tôm càng xanh có hàm răng nghiền khỏe, ruột có cấu tạo ngắn nên khả năng tiêu hóa nhanh Chúng ăn hầu hết các loài động vật nhỏ, các mảnh vụn hữu cơ, thích bắt mồi vào ban đêm hơn ban ngày râu là cơ quan xúc giác giúp tôm tìm thức ăn, đôi chân ngực thứ nhất như một cái kẹp giúp tôm giữ và đưa thức ăn vào miệng (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2002)
2.1.3 Đặc điểm sinh sản
2.1.3.1 Phân biệt đực cái
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003), ta có thể phân biệt giới tính tôm
càng xanh thông qua hình thái bên của chúng Tôm càng xanh đực lớn hơn tôm càng xanh cái, đầu ngực to hơn và khoang bụng hẹp hơn tôm càng xanh cái, đôi càng thứ hai to dài và hơi thô hơn tôm càng xanh cái Ở tôm càng xanh đực có nhánh phụ đực mọc kế nhánh trong của chân bụng thứ hai Nhánh phụ đực xuất hiện ở giai đoạn ấu niên khi tôm đạt kích cỡ 30 mm và hoàn chỉnh khi đạt kích cỡ 70 mm Ngoài ra ở mặt của đốt bụng thứ nhất còn có điểm cứng và các gốc chân ngực của tôm đực cũng xếp khích nhau hơn so với tôm cái
Tôm cái thường có kích cỡ nhỏ hơn tôm đực, phần đầu ngực nhỏ và đôi càng thon, tôm có 3 tấm bụng đầu tiên rộng và tạo thành khoang làm buồng để ấp trứng Quá trình mở rộng của khoang bụng bắt khi tôm đạt chiều dài tổng 95
mm Lổ sinh dục của con cái nằm ở góc của chân ngực thứ 3 Trên các chân bụng của con cái có nhiều lông tơ có tác dụng giúp trứng bám vào trong quá trình tôm đẻ và ấp trứng
Cơ quan sinh dục trong của con đực ngoằn ngoèo nằm ở giữa của carapace được nối với ống dẫn tinh chạy trước tim và dọc hai bên viềng sau của Carapace, đỗ vào mút nằm ở đốt coxa của đốt chân ngực thứ 5 Túi tinh hình
Trang 14Ở con cái, buồng trứng nằm ở trên mặt lưng của phần đầu ngực, ở dưới dạ dày
và gan tụy Khi buồng trứng thành sẽ có màu vàng trải dài từ sau mắt đến đốt đầu của phần bụng Ống dẫn trứng nối liền với buồng trứng, buồng trứng ở trước tim chạy dọc hai bên về phía bụng đỗ về túi chứa tinh ở đốt góc của chân ngực thứ 3
2.1.3.2 Thành thục, giao vĩ, đẻ trứng và ấp trứng của tôm càng xanh
Trong tự nhiên tôm càng xanh thành thục, giao vĩ và đẻ trứng hầu như quanh năm Đồng bằng sông Cửu Long có hai mùa đẻ chính của tôm càng xanh đó là
từ tháng 4 - 6 và tháng 8 - 10 Tôm càng xanh cái thành thục và đẻ trứng khoảng 3 – 3,5 tháng nuôi tôm càng xanh thành thục phụ thuộc vào nhiều yếu
tố như: môi trường, nhiệt độ và thức ăn… (theo Nguyễn Thanh Phương và ctv,
2003) Sức sinh sản tôm càng xanh tăng dần theo trọng lượng từ 20g đến 140g, lớn hơn 140g sức sinh sản của tôm giảm dần (Nguyễn Việt Thắng , 1995) Theo Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải (2004), trong quá trình thành thục, buồng trứng trải qua 4 giai đoạn bao gồm: Giai đoạn chưa thành thục (có buồng trứng trong suốt, đường kính trứng 0.04-0.13mm); giai đoạn bắt đầu thành thục (buồng trừng vàng nhạt, trứng đạt 0.19-0.45mm); giai đoạn thành thục (buồng trứng vàng cam, trứng đạt 0.32-0.55mm); và giai đoạn chín muồi (buồng trứng vàng sậm, trứng 0.45-0.77mm) Quá trình phát triển buồng trứng kéo dài trong trong vòng 14-20 ngày
Khi buồng trứng đạt giai chín muồi, tôm cái lột xác tiền giao vĩ Sau khi tôm cái lột xác vài giờ, tôm bắt đầu giao vĩ Tôm đực lúc này vẫn ở trạng thái vỏ cứng Sau đó, con đực chuyển túi tinh vào túi chứa tinh của tôm cái Quá trình giao vĩ xảy ra vào ban đêm trong vòng 20-30 phút Sau khi giao vĩ 2-5 giờ, tôm cái bắt đầu đẻ trứng Trong quá trình đẻ trứng, trứng được thụ tinh khi đi ngang túi chứa tinh Trứng sẽ lần lượt dính từng chùm vào các lông tơ của các đôi chân bụng Thời gian đẻ trứng khoảng kéo dài trong khoảng 1 giờ Tôm cái dùng các chân ngực cuối để hướng trứng xuống phần bụng và dính vào 4 đôi chân bụng đầu tiên
Theo Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải (2004), sức sinh sản của tôm thông thường khoảng 20.000-80.000 trứng tùy vào kích cỡ, điều kiện nuôi và
số lần sinh sản của tôm Trung bình, sức sinh sản tương đối (thực tế) của tôm khoảng 500-1.000 trứng/g trọng lượng tôm Tôm cái có thể tái phát dục và đẻ lại sau 16-45 ngày Tùy trường hợp, chúng có thể tái phát dục và đẻ lại 5-6 lần trong năm
Trong quá trình ấp trứng tôm cái dùng các chân bụng quạt nước để tạo dòng
Trang 15hay vật lạ dính vào khối trứng Tuỳ vào thời gian và nhiệt độ mà trứng có thể
nở sau 15 - 23 ngày ấp
2.1.3.3 Quá trình phát triển phôi, ấu trùng và hậu ấu trùng của tôm
Trứng mới đẻ ra có hình elip, có kích cỡ khoảng 0,6-0,7 mm Trong quá trình
ấp trứng, tôm cái thường dùng chân bụng quạt nước để tạo dòng nước, làm thoáng khí cho trứng Tôm cũng thường dùng các chân ngực để loại bỏ những trứng hư hay vật lạ dính vào khối trứng Trứng thụ tinh bắt đầu phân cắt nhân lần đầu tiên sau 4 giờ Sự phân chia nhân hoàn thành sau 24 giờ Theo sự phát triển của phôi, trứng dần dần chuyển từ màu vàng nhạt sang vàng cam, sau đó
có màu xám và trước khi nở 2-3 ngày, trứng có màu xám đen Sự thay đổi màu sắc này tương ứng với quá trình tiêu hết noãn hoàng (màu vàng) và hình thành phôi với mắt to màu đen Sau 17-23 ngày, trứng sẽ nở và quá trình nở hoàn
thành sau 4-6 giờ (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003)
Ấu trùng mới nở ra sống phù du trong nước và cần nước lợ (6-18‰, tốt nhất 10-12‰) để sống và phát triển, ấu trùng sẽ chết sau 3-4 ngày nếu không được sống trong nước lợ Ấu trùng bơi lội chủ động, bụng ngửa và đuôi ở phía trước Ấu trùng có tính hướng quang mạnh, chúng bơi lội gần sát mặt nước Thức ăn bao gồm các loại động vật phù du, ấu trùng các động vật thủy sinh hay ngay cả các mảnh hữu cơ khi thiếu thức ăn Ấu trùng trải qua 11 lần lột xác và biến thái để hình thành hậu ấu trùng ( Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004) Một số tác giả như: Aquacop (1977, 1983), Adisukressno (1977, 1980), Trương Quang Trí (1985)… cũng thống nhất là ấu trùng tôm càng xanh trải qua 11 lần lột xác để trở thành postlarvae (trích dẫn bởi Nguyễn Việt Thắng, 1993)
Hậu ấu trùng (Postlarva) sau khi được biến thái từ ấu trùng sẽ có hình dạng và tập tính sống như tôm lớn Chúng bắt đầu sống đáy, bám vào nền, vật bám hay cây cỏ, và dần di chuyển về phía thượng nguồn, vào các sông rạch Tôm bắt mồi chủ động và ăn tạp Thức ăn của Postlarva bao gồm các loại côn trùng thủy sinh, giun nước, xác bã động thực vật Giai đoạn hậu ấu trùng (18-30cm)
có thể được nhận biết thông qua những sọc dọc trên carapace Đây là điểm đặc trưng của loài Các sọc này sẽ biến mất khi tôm đạt kích cỡ 75-90mm, tuy nhiên, các vệt như vòng đai màu sậm xuất hiện trên các vỏ đốt bụng và tồn tại đến tôm trưởng thành
2.1.3.4 Đặc điểm môi trường sống
Trong quá trình lớn lên, tôm trải qua nhiều lần lột xác Tôm nhỏ có chu kỳ lột xác ngắn hơn tôm lớn Chu kỳ lột xác của tôm tùy thuộc vào nhiều yếu tố như:
Trang 16kích cỡ tôm, nhiệt độ, thức ăn, giới tính và điều kiện sinh lý của tôm (Nguyễn
Thanh Phương và ctv, 2003)
Quá trình lột xác của tôm càng xanh được chia thành 4 giai đoạn gồm:
- Giai đoạn tiền lột xác
- Giai đoạn lột xác
- Giai đoạn hậu lột xác
- Giai đoạn giữa chu kỳ lột xác
Sự tăng trưởng về chiều dài và khối lượng của tôm cũng như các loài giáp xác khác không tăng liên tục mà theo hình bậc thang Tôm nhỏ tốc độ tăng trưởng nhanh hơn tôm lớn, tôm đực lớn nhanh hơn tôm cái đặc biệt giai đoạn sau Tôm được bổ sung thức ăn động vật sẽ lớn nhanh và chậm thành thục hơn so
với tôm cho thức ăn công nghiệp hoàn toàn (Nguyễn Thanh Phương và ctv,
- Oxy: nên được duy trì trên 5 ppm
- pH: Thích hợp cho sinh trưởng 7,0-8,5
- Độ cứng: Tốt nhất cho ương nuôi tôm 50-150 ppm
2.2.1 Tình hình sản xuất giống tôm càng xanh
Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii ) là một trong những đối tượng
giáp xác quan trọng trong nuôi trồng và khai thác thủy sản Theo New (2000), lịch sử phát triển của nghề sản xuất giống tôm càng xanh bắt đầu từ năm 1961 khi Ling lần đầu tiên phát hiện ấu trùng tôm càng xanh cần nước lợ để sống và phát triển, vào năm 1962 ông đã thành công trong việc ương nuôi hết chu kỳ
ấu trùng và cung cấp tôm giống cho nghề nuôi tôm thịt ở Malaysia
Trang 17Sau đó vào năm 1965-1968 T Fujimura nghiên cứu và đã thành công trong việc sản xuất giống tôm càng xanh đại trà áp dụng qui trình nước xanh để cung cấp giống cho các trại nuôi tôm thịt ở Hawaii và các vùng khác trong những năm thập kỷ 70 (Trần Ngọc Hải, 2008) Qui trình kỹ thuật cơ bản được xây dựng từ năm 1976 và hoàn thiện từ năm 1980 (Aquacop, 1984).Qui trình này hiện nay đang được áp dụng khá phổ biến
Ngoài ra, trong sản xuất giống tôm càng xanh còn có qui trình nước xanh cải tiến (Modified static green water systems) được Ang nghiên cứu và ứng dụng
từ năm 1986 trên cơ sở cải tiến qui trình nước xanh trước đó (Ang và Cheah,
1987; Ang, 1995) (trích dẫn bởi Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003) Qui
trình này hiện được áp dụng phổ biến ở Malaysia và Việt Nam
Những năm gần đây, nghề nuôi tôm càng xanh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đã và đang không ngừng phát triển cả về diện tích và sản lượng Cùng với đó thì nghề sản xuất giống tôm càng xanh cũng đang trên đà phát triển rất nhanh, mạnh về cả số lượng lẫn chất lượng, kịp thời cung cấp nguồn giống tốt cho nghề nuôi Theo báo cáo tổng kết năm 2004 của các tỉnh trong vùng thì toàn ĐBSCL có 97 trại sản xuất giống tôm càng xanh và sản xuất
được khoảng 162.3- triệu tôm post (Lê Xuân Sinh và ctv 2006) Theo Lê Xuân
Sinh (2008) toàn ĐBSCL có khoảng 111 trại sản xuất giống tôm càng xanh (tự sản xuất khoảng 107.1 triệu post) và khoảng 300 triệu post nhập lậu (tổng hợp
từ nhiều nguồn)
Theo Nguyễn Việt Thắng (1995) thì ấu trùng của tôm càng xanh bố mẹ bắt ngoài tự nhiên có tỷ lệ sống và khả năng biến thái kém Hiện nay cả nước có 5 trung tâm giống thủy sản quốc gia ở Việt Nam sản xuất giống tôm càng xanh nhưng sản lượng tôm giống vẫn chưa đủ cung cấp cho nhu cầu cả về số lượng
và chất lượng, do đó đã có một số lượng lớn tôm càng xanh giống được nhập
từ Trung Quốc để cung cấp cho nông dân (Đinh Thế Nhân và ctv, 2009)
2.2.2 Hiện trạng nuôi tôm càng xanh
Theo Nguyễn Việt Thắng (1995) thì trên thế giới có hơn 30 quốc gia nuôi tôm càng xanh, như ở châu Á có Taiwan hằng năm nuôi 3.000-5.000 tấn Israel thu trên 350 triệu USD từ xuất khẩu tôm càng xanh Thái Lan là nước có sản lượng tôm càng xanh nuôi cao nhất thế giới đạt 15.000 tấn/năm (Nguyễn Việt Thắng, 1995) Theo FAO (2002), tổng sản lượng tôm càng xanh thế giới đạt 119.000 tấn, đạt 410 triệu USD vào năm 2000 Diện tích và sản lượng nuôi tôm càng xanh không ngừng được mở rộng trên toàn thế giới nhất là các nước Châu Á với tỷ lệ tăng khoảng 48% trong giai đoạn từ 1999 đến 2001 (New,
Trang 18sản lượng tôm nuôi của cả thế giới, tiếp theo là Ấn Độ, Bangladesh và Đài Loan Việt Nam được đánh giá là một trong số những nước sản xuất tôm càng
xanh lớn của thế giới (New và ctv., 2008) Sản lượng tôm càng xanh toàn cầu
năm 2007 chỉ đạt 213.000 tấn, ước đạt trị giá hơn 943 triệu USD (FAO, 2009) Tuy nhiên việc nuôi tôm càng xanh ở nước ta hầu như chưa thật sự thu hút người nuôi so với phong trào nuôi tôm sú Sản lượng tôm càng xanh của Việt Nam đạt khoảng 3.000 tấn vào năm 1990, nhưng tăng lên khoảng 10.000 tấn
vào năm 2002 và chủ yếu ở ĐBSCL (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003)
Nghề nuôi tôm đang phát triển mạnh ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh với các mô hình nuôi tôm trong mương vườn, trên ruộng lúa, trong đăng quầng Năng suất nuôi đạt bình quân 184 kg/ha/vụ đối với tôm lúa kết hợp, 686 kg/ha/vụ nuôi tôm luân canh với lúa, 4.120 kg/ha/vụ với nuôi đăng quầng và 1.200 kg/ha/vụ đối với tôm nuôi ao
(Nguyễn Thanh phương và ctv, 2003)
Hiện nay tôm càng xanh đang là đối tượng được ưu tiên phát triển nuôi trồng thủy sản ở nước ta, chính phủ đề ra mục tiêu phát triển nghề nuôi tôm càng xanh trên diện tích 32.000 ha và đạt sản lượng 60.000 tấn vào năm 2010
(Chính phủ Việt Nam, 1999; trích dẫn bởi Nguyễn Minh Thành và ctv, 2009)
Ở nước ta, theo kế hoạch đến năm 2020, chỉ riêng ĐBSCL sẽ phát triển 35150ha, đạt 49.000 tấn (Cục nuôi trồng thủy sản – Bộ NN-PTNT, 2009) Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi tôm càng xanh, đang đặt ra nhiều vấn đề cần xem xét để phát triển bền vững nghề nuôi với bài học sâu sắc
từ sự phát triển của nghề nuôi tôm biển
2.2.3 Một số khó khăn của nghề sản xuất giống và nuôi tôm càng xanh
Nguồn tôm bố mẹ cho sinh sản chủ yếu bắt từ tự nhiên phụ thuộc vào mùa vụ
và hiện nay nguồn tôm này cũng đã suy giảm khá nhiều (Đinh Thế Nhân và
ctv, 2009) Theo Nguyễn Việt Thắng (1995), ấu trùng của tôm mẹ bắt từ tự
nhiên có tỷ lệ sống và biến thái kém và đây là một trở ngại lớn cho nghề sản xuất giống Kỹ thuật đánh bắt và vận chuyển tôm bố mẹ còn gặp nhiều khó khăn, không đúng quy cách Ngoài ra, việc đánh giá chất lượng ấu trùng của các nguồn tôm khác nhau còn hạn chế Chất lượng giống và số lượng con
giống không đủ đáp ứng cho người nuôi (Đinh Thế Nhân và ctv, 2009) Sự
thiếu hụt nguồn cung cấp tôm giống ổn định là một trở ngại lớn cho việc mở rộng và phát triển nghề nuôi tôm càng xanh (Phương và ctv, 2006) Song song
đó là quy trình sản xuất giống tôm càng xanh được các trại thực hiên một cách chưa thật sự ổn định (38.6% số trại) và chí phí sản xuất còn khá cao (Lê Xuân
Trang 19bệnh,… cũng đang gây ra những khó khăn nhất định cho nghề sản xuất giống Theo thống kê từ các nguồn tin không chính thức trong 2005 do không đủ tôm giống cung cấp tại chổ cho nghề nuôi tôm càng xanh ở ĐBSCL nên nguồn tôm giống còn được nhập không chính thức từ Trung Quốc và sau đó chuyển vào
các tỉnh ĐBSCL với số lượng hằng trăm triệu post (Lê Xuân Sinh và ctv,
2006)
Hiện nay nghề nuôi tôm thương phẩm ở ĐBSCL đang gặp khá nhiều khó khăn, chủ yếu nhất hiện nay là về vấn đề tôm giống, giá thành con giống cao, phụ thuộc vào mùa vụ Thời gian nuôi kéo dài (4-7 tháng), người dân chưa có kiến thức đầy đủ về mô hình nuôi tôm càng xanh Ngoài ra thì dịch bệnh, thức
ăn và nguồn nước bị ô nhiễm cũng gây trở ngại cho nghề nuôi tôm phát triển
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2010) thì tôm càng xanh sinh trưởng
chậm khi độ cứng của nước giảm và nguồn nước bị ô nhiễm hữu cơ hay hóa chất Mặt khác người dân ở các tỉnh ĐBSCL phần lớn đã quen với nghề nuôi
cá tra và tôm sú, vì vậy nghề nuôi tôm càng xanh chưa thật sự phát triển mạnh
2.3 Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống và ảnh hưởng của các nguồn tôm
mẹ lên chất lượng ấu trùng tôm càng xanh
2.3.1 Nuôi vỗ tôm bố mẹ
Nuôi vỗ tôm mẹ là khâu rất quan trọng để có được nguồn tôm cho sản xuất
quanh năm và có chất lượng cao Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003)
nuôi tôm bố mẹ thường với mật độ 4-5 con/m2 Cũng có thể nuôi 2 giai đoạn, giai đoạn đầu nuôi trong ao, giai đoạn sau cũng có thể nuôi trên bể ximăng, có sục khí và giá thể với mật độ khoảng 10 com/m3
Thức ăn cho tôm có thể là thức ăn công nghiệp hay tự chế biến với hàm lượng đạm khoảng > 40 %, chất béo 8-10 % trong đó tỷ lệ dầu động vật và dầu thực vật là 2:1 (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009) Hỗn hợp vitamin, hỗn hợp khoáng, dầu cá là rất cần thiết trong thức ăn và cần với hàm lượng trung bình 2-3 % mỗi loại Bên cạnh thức ăn công nghiệp hay thức ăn chế biến, nên cho tôm ăn bổ sung các loại cá tép tạp, cua, ốc, mực,… hàng tuần Cho tôm ăn 2-3 lần mỗi ngày với tỷ lệ 5-10 % trọng lượng thân cho giai đoạn 1 và 1-3% cho giai đoạn 2
Cần định kỳ thay nước ao vào mỗi con nước cường với khoảng 30-50 % lượng nước Đối với nuôi vỗ tôm trên bể, do mật độ cao, có thể áp dụng hệ thống nước thay nước, chảy tràn hay tuần hoàn với tỷ lệ thay nước lớn 30-50% mỗi ngày Các yếu tố môi trường nước nuôi cần được duy trì trong phạm vi thích hợp như nhiêt độ 29-31 oC, oxy trên 4 mg/l, pH 7-8,5, độ kiềm 50-100 mg/l,