1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

132 646 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trường học Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Chuyên ngành Tài chính ngân hàng
Thể loại Chuyên đề thực tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài : Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Hội nhập và toàn cầu hóa là xu thế phát triển chung hiện nay trên thếgiới Nền kinh tế của mỗi quốc gia vừa chịu sự ảnh hưởng vừa là một bộ phậnkhông thể tách rời của nền kinh tế toàn cầu Cùng với xu thế toàn cầu hóa, cơhội đâu tư được mở rộng song rủi ro và thách thức đi kèm cũng không nhỏ

Đã có không ít vụ đổ bể tài chính của các ngân hàng, các tập đoàn kinh tếdiễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới từ các nước có nền kinh tế phát triểnnhư Mỹ, Nhật, Anh, Đức ….đến các nước đang phát triển như Thái Lan,Malaysia, Hàn Quốc …Thực trạng này đã khiến các nhà hoạch định chínhsách quốc gia và các tổ chức tài chính có sự quan tâm đặc biệt tới hoạt độngquản lí rủi ro Vì thế quản lí rủi ro tài chính trở thành hoạt động chủ chốt, có

vị trí trung tâm trong quản trị tài chính hiện đại Trong quản lí rủi ro tài chínhhiện đại nếu chỉ đơn thuần dựa vào các chính sách định tính thì chưa đủ, màquan trọng hơn là phải hình thành và phát triển một hệ thống các phươngpháp khoa học nhằm lượng hóa mức độ rủi ro và tổn thất tài chính có thể xảy

ra trong những điều kiện nhất định của thị trường và của nền kinh tế để từ đóđưa ra các giải pháp quản lí và giảm thiểu rủi ro hữu hiệu Một trong nhữngcăn cứ, những cơ sở hỗ trợ đắc lực cho hoạt động quản lí rủi ro đó là hệ thốngxếp hạng tín dụng do các tổ chức xếp hạng trên thế giới thực hiện Chúng chophép nâng cao hiệu quả của đánh giá rủi ro tín dụng ban đầu và quản trị rủi rotín dụng một cách thường xuyên, liên tục

Đó là xét trên phạm vi toàn thế giới, còn đối với Việt Nam thì sao? Quátrình cải cách tài chính – ngân hàng là một bộ phận quan trọng không thể táchrời của công cuộc đổi mới ở Việt Nam Trong thời gian qua, hoạt động của hệthống ngân hàng thương mại theo hướng cải cách đã đóng góp đáng kể trongcác thành tựu chung của nền kinh tế Việt Nam Trong các hoạt động kinh

Trang 2

doanh của hệ thống Ngân hàng Việt Nam, tín dụng là hoạt động chủ yếu vàgiữ vai trò quan trọng nhất Tuy mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các Ngânhàng thương mại , nhưng tín dụng lại là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ronhất Vì thế các ngân hàng thường sử dụng những giải pháp khác nhau nhằmgiảm thiểu những rủi ro này như: nâng cao chất lượng thẩm định , tập trungvào các khách hàng mục tiêu, thực hiện các quy định về an toàn tín dụng…Trong đó việc căn cứ vào các thông tin xếp hạng tín dụng doanh nghiệp doTrung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (CIC ) cungcấp là 1 biện pháp được rất nhiều Ngân hàng thương mại áp dụng Với hệthống xếp hạng chuyên nghiệp này trong những năm gần đây đã giúp cácNgân hàng, các tổ chức tài chính, các nhà đầu tư và các nhà hoạch định chínhsách đánh giá được năng lực tài chính của các khách hàng vay vốn ( mà ởnước ta chủ yếu là các doanh nghiệp), đồng thời đưa ra những quyết định hợp

lí trong công tác kiểm soát những rủi ro tín dụng có thể xảy ra Tuy nhiên hiệnnay, cách xếp hạng của CIC vẫn còn thiên về lịch sử vay vốn, quan hệ với các

tổ chức tín dụng của các doanh nghiệp, phương thức đánh giá còn khá đơngiản, không phân tích chuyên sâu về khả năng cạnh tranh của các ngành, cũngnhư những thay đổi chất lượng tín dụng do tác động của những thay đổi biếnđộng của nền kinh tế

Từ vai trò quan trọng của xếp hạng tín dụng doanh nghiệp và từ nhữngthực tế đặt ra như vậy, sau thời gian thực tập tại Trung tâm Thông tin Tín

dụng thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, em quyết định chọn đề tài “Tính

toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam “ cho

chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình

Trang 3

Chuyên đề này chia ra làm ba phần :

Lời mở đầu

Nội dung chính: gồm 3 chương

Chương I: Những nội dung cơ bản về xếp hạng tín dụng

Chương II: Cơ sở lí luận : Mô hình CreditMetrics và phương pháp tính toán xác suất chuyển hạng dựa vào mô hình này

Chương III: Cơ sở thực tiễn : Ứng dụng mô hình CreditMetrics tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp Việt Nam.

Chương IV: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro ở Việt Nam – Đánh giá và khuyến nghị

Kết luận

Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại chuyên ngành Toán tài chính,khoa Toán kinh tế, trường Đại học Kinh tế quốc dân kết hợp với thời gianthực tập tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Namđược sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô trong khoa, đặc biệt là thầy giáo,PGS.TS Nguyễn Quang Dong và của Trung tâm nơi em thực tập đã giúp emhoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này

Mặc dù CreditMetrics đã được áp dụng ở rất nhiều quốc gia trên thế giớinhưng mô hình này còn khá mới mẻ đối với chúng ta, hiện nay nó vẫn chưađược đưa vào áp dụng ở Việt Nam Hơn thế nữa, do điều kiện nền kinh tếViệt Nam đang trong quá trình đổi mới, ngành Ngân hàng tài chính mới thực

sự phát triển trong vài năm gần đây nên cơ sở dữ liệu còn thô sơ và nhiều hạnchế, khả năng máy móc, công nghệ thông tin còn nhiều bất cập Vì thế nêntrong quá trình xây dựng chuyên đề này vẫn còn nhiều thiếu sót do kháchquan và chủ quan Vì thế em rất mong được sự chỉ bảo, chỉnh sửa của thầy đểchuyên đề của em hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, PGS.TS Nguyễn Quang Dong đã

Trang 4

hướng dẫn nhiệt tình để giúp em hoàn thành chuyên đề này !

Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc cùng toàn thể cán bộnhân viên Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vàđặc biệt cảm ơn chị Trần Tuyết Nhung – trưởng phòng phân tích tại trung tâm

đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực tập!

Trang 5

CHƯƠNG I NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG

I Giới thiệu chung về xếp hạng tín dụng

1.Khái niệm xếp hạng tín dụng

Xếp hạng tín dụng là một thuật ngữ mới xuất hiện ở Việt Nam trongnhững năm gần đây, nhưng nó được đưa ra cách đây gần 1000 năm ( từ năm1909) Tên tiếng anh của thuật ngữ này là CREDIT RATING, trong đó Creditnhư chúng ta đã biết có nghĩa là tín dụng, còn rating chính là sự đánh giá , xếphạng Người đầu tiên đưa ra thuật ngữ này chính là Jonh Moody – người cóảnh hưởng lớn đến hoạt động xếp hạng tín dụng trên toàn thế giới, người sánglập ra tổ chức xếp hạng tín dụng lớn nhất thế giới và từ đó được sử dụng chođến ngày nay Theo Moody “ Xếp hạng tín dụng là sự đánh giá khả năngthanh toán trong tương lai và sự sẵn sàng thanh toán của một tổ chức pháthành về việc thực hiện thanh toán đúng hạn cả gốc lẫn lãi đối với một khoản

nợ nào đó“ Hay nói cách khác, đó chính là đánh giá hiện thời về chất lượngtín dụng được xem xét trong tương lai, phản ánh khả năng và sự sẵn sàng củaNhà phát hành ( người đi vay ) trong việc thanh toán cả lãi và gốc đúng hạn

Sau này với sự xuất hiện của nhiều tổ chức xếp hạng tín dụng như S&P( Stand & Poor ), hay công ty Duff & Phelps, công ty Fitch ….có nhiều cáchhiểu khác nhau về xếp hạng tín dụng , chẳng hạn như theo định nghĩa củacông ty Standard & Poor thì “ Xếp hạng tín dụng là sự đánh giá về mức độ tincậy ( tín nhiệm ) nói chung của khách hàng , hoặc là sự tín nhiệm của mộtkhách hàng có liên quan đến một khoản nợ cụ thể hoặc một nghĩa vụ tài chínhkhác , dựa trên những yếu tố rủi ro hợp lí “

Ở Việt Nam , xếp hạng tín dụng được Trung tâm Thông tin tín dụngđịnh nghĩa như sau “ xếp hạng tín dụng là sự đánh giá mức độ tin cậy của

Trang 6

một thực thể ( cá nhân ,doanh nghiệp hay quốc gia …) dựa trên lịch sử các lầnvay, trả nợ cũng như độ sẵn sàng về tài sản và mức độ nợ “

Trong giai đoạn hiện nay , cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thịtrường chứng khoán thì xếp hạng tín dụng không chỉ bó hẹp trong hoạt độngcủa các ngân hàng mà nó còn được xem như là một căn cứ giúp các nhà đầu

tư, các tổ chức tiến hành đầu tư chứng khoán Vì thế xếp hạng tín dụng đượchiểu rộng ra là “ sự đánh giá, nhận định về mức độ tín nhiệm của các tổ chức,

cá nhân đối với một doanh nghiệp Các tổ chức cá nhân ở đây có thể là cácngân hàng, các nhà đầu tư, các cơ quan quản lí, người tiêu dùng …

2 Mục đích của xếp hạng tín dụng :

Tuy xếp hạng tín dụng phục vụ cho tất cả các tổ chức, các cá nhân yêucầu nhưng tổ chức cần thông tin xếp hạng tín dụng nhất vẫn là các Ngân hàngthương mại,vì hoạt động tín dụng hàm chứa nhiều rủi ro.Vì thế chúng ta sẽđứng trên quan điểm những người cần thông tin là ngân hàng thương mại đểxem xét mục đích của công tác xếp hạng tín dụng

Mục đích của xếp hạng tín dụng là đưa ra những nhận xét đánh giá vềtình hình hoạt động, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán trong hiện tại vàtương lai của doanh nghiệp nhằm hỗ trợ các ngân hàng thương mại trongviệc:

Thứ nhất, ra quyết định cấp tín dụng: xác định hạn mức tín dụng củamột khách hàng, số tiền cho vay/ bảo lãnh, thời hạn, mức lãi suất/phí, biệnpháp bảo đảm cho khoản tín dụng

Thứ hai, giám sát và đánh giá khách hàng tín dụng khi khoản tín dụngđang còn dư nợ; hạng tín dụng của khách hàng cho phép ngân hàng cho vaylường trước được những dấu hiệu xấu về chất lượng khoản vay, từ đó cónhững biện pháp đối phó kịp thời

Xét trên góc độ quản lí toàn bộ danh mục cho vay của ngân hàng

Trang 7

3 Nhiệm vụ chủ yếu của xếp hạng tín dụng

Xếp hạng tín dụng tập trung vào việc đánh giá hai mảng chính, đó là :Thứ nhất, khả năng thực hiện các cam kết tài chính Khả năng này đượcxem xét thông qua các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính phản ánh tiềm năngtrong tương lai của công ty như: khả năng sinh lời, khả năng thanh toánnhanh, khả năng thanh toán ngắn hạn, vòng quay hàng tồn kho, kì thu tiềnbình quân, hiệu quả sử dụng tài sản, các chỉ tiêu về thu nhập, hệ số khả năngtrả lãi, hệ số khả năng trả gốc,năng lực và kinh nghiệm quản lí… Từ việcđánh giá và cho điểm dựa trên những chỉ tiêu này, một hạng tín dụng sẽ cho takết luận tương ứng về khả năng thực hiện các cam kết của khách hàng là cácdoanh nghiệp

Thứ hai, đó là mong muốn thực hiện các cam kết tài chính Điều nàyđược thể hiện thông qua một số chỉ tiêu phi tài chính như: Số lần trả nợ đúnghạn, số lần giãn nợ hoặc gia hạn nợ, nợ quá hạn trong quá khứ, số lần cam kếtmất khả năng thanh toán, số lần nhận trả lãi vay, các chỉ tiêu về năng lực vàkinh nghiệm quản lí, môi trường kinh doanh …

Mặc dù xếp hạng tín dụng được xây dựng dựa trên các chỉ tiêu tài chính

và phi tài chính của các doanh nghiệp nên kết quả của nó có độ tin cậy khácao và được coi là một cơ sở, căn cứ quan trọng hỗ trợ Ngân hàng trong cácquyết định tín dụng, và là một hình thức tư vấn chứng khoán cho các nhà đầu

tư nhưng lưu ý rằng xếp hạng tín dụng không phải là một lời đảm bảo về khảnăng trả một khoản nợ cụ thể khuyến nghị cho các nhà đầu tư Mà nó đưa ra

Trang 8

một ý kiến đáng tin cậy, sau khi đã thực hiện các phân tích định tính và địnhlượng phù hợp Điều này có nghĩa là các kết quả xếp hạng tín dụng được đưa

ra từ các tổ chức xếp hạng tín dụng chỉ mang tính chất tương đối chứ khôngphải là tuyệt đối

4 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống xếp hạng tín dụng trên thế giới

Mặc dù xếp hạng tín dụng mới chính thức ra đời vào đầu thế kỷ

20 ,nhưng trước đó một thời gian khá dài thì việc buôn bán trao đổi của cácthương nhân hay chính là các nhà buôn vẫn dựa trên một nguyên tắc khá phổbiến đó là: trước khi thực hiện việc trao đổi buôn bán với đối tác nào đó, cácnhà buôn này đều phải tìm hiểu rất kĩ về đối tác đó Việc tìm hiểu này đượctiến hành thông qua việc thăm dò ý kiến của những người có quan hệ rộng ,quen biết rộng để biết được mức độ tín nhiệm của đối tác đó.Từ đó xúc tiếnviệc buôn bán ở các mức độ khác nhau Rõ ràng hình thức này tương tự nhưhình thức xếp loại tín dụng, trong đó chỉ thay thế các nhà buôn bằng các ngânhàng thương mại, các tổ chức và cá nhân khác còn những người có quan hệrộng ở đây chính là các tổ chức xếp hạng tín dụng, có vai trò cung cấp thôngtin tổng quát nhất về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thôngqua hạng tín dụng của doanh nghiệp đó

Vào đầu thế kỉ 20, có một loại chứng khoán mới ra đời, đó là trái phiếucông ty.Việc phát hành trái phiếu công ty được coi là một hiện tượng của thế

kỉ 20 Việc phát hành trái phiếu công ty diễn ra cùng khoảng thời gian với cácbài báo bài luận đầu tiên được xuất bản có nội dung viết về các chỉ số phântích tài chính, kế toán của các công ty Các chỉ số này được dùng như là tiêuchuẩn để chuẩn đoán sức mạnh tài chính của một công ty Nhưng những chỉtiêu đó chỉ xuất hiện trong các bài báo cho đến những năm đầu của thập kỉ

20, thì nó mới chính thức được các tổ chức đưa ra để trao đổi và nghiên cứu

Trang 9

một cách chuyên sâu, và nâng cao hơn vai trò của các chỉ số phân tích tài chính.

Đó là những nguồn gốc sâu xa cho sự ra đời của hệ thống xếp hạng tin dụng

Cùng thời gian ra đời của trái phiếu công ty, trong quá trình tìm hiểu,nghiên cứu và đánh giá các công ty phát hành trái phiếu thì vào năm 1909,John Moody chính thức đưa ra khái niệm xếp hạng tín dụng (Credit Rating)trong một cuốn sách “Cẩm nang chứng khoán đường sắt “, ở đó ông đã tiếnhành nghiên cứu, phân tích và đưa ra Bảng xếp hạng tín nhiệm đầu tiên cho

1500 trái phiếu của 250 công ty đường sắt theo hệ thống kí hiệu hết sức đơngiản và dễ hiểu, với 3 chữ cái A, B, C được xếp lần lượt từ Aaa đến C Sựkiện này đánh một dấu mốc quan trọng cho sự ra đời của hệ thống xếp hạngtín dụng trên thế giới, đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử ngànhNgân hàng – Tài chính Cũng từ đó tổ chức xếp hạng tín dụng Moody’s ra đời

và sau này trở thành một trong những tổ chức xếp hạng lớn nhất trên thế giới

Sau sự ra đời của Moody’s thì năm 1916, công ty định mức tín nhiệmStandard & Poor cũng được thành lập và tổ chức này đã nhanh chóng khẳng địnhtên tuổi cũng như vị trí của mình trong hệ thống xếp hạng trên toàn thế giới

Cùng với Moody’s thì Standard & Poor cũng được đánh giá khá cao về

độ tin cậy của các thông tin mà ở đây cụ thể là các bản xếp hạng tín dụng củacác công ty trên toàn thế giới do họ đưa ra

Sau Moody’s, Standard & Poor thì có hàng loạt các tổ chức xếp hạngtín dụng ra đời như: Duff & Phelps hay Fitch…Hoạt động xếp hạng tín dụngngày càng được cải tiến, được nâng cao cả về phương pháp xếp hạng lẫn kĩthuật, công nghệ sử dụng Đặc biệt là kể từ thập kỉ 80 trở lại đây, khi hoạtđộng đầu tư – kinh doanh của các tổ chức tài chính gặp nhiều rủi ro hơntrước, khủng hoảng tài chính xuất hiện tại nhiều nước trên thế giới đã gây ranhững tổn thất vô cùng to lớn thì vai trò của hệ thống xếp hạng tín dụng lạicàng được nâng cao và hoạt động này được quan tâm chú trọng hơn bao giờ

Trang 10

hết Nếu như trước kia xếp hạng tín dụng doanh nghiệp chỉ là công việc củacác tổ chức xếp hạng lớn như Moody’s hay Standard & Poor hoặc là Fitch

….thì ngày nay, tất cả các quốc gia kể cả các quốc gia đang phát triển thì đềuthành lập các cơ quan chuyên trách về mảng xếp hạng tín dụng các doanhnghiêp Và xếp hạng tín dụng trở thành một công việc quan trọng trong hoạtđộng tín dụng của hệ thống Ngân hàng thương mại Cùng với sự phát triển về

số lượng các tổ chức xếp hạng tín dụng thì chất lượng của công tác xếp hạngtín dụng cũng ngày một nâng cao hơn Trên thế giới đã có nhiều phươngpháp, nhiều mô hình đưa ra nhằm tối đa hóa độ tin cậy của các kết quả xếphạng, chuyển từ hướng đánh giá xếp hạng mang tính chất định tính sang địnhlượng, chuyển từ các phương pháp đánh giá truyền thống ( phương phápchuyên gia ) sang các phương pháp mang tính khách quan, chính xác hơn,chuyển từ mô hình phi cấu trúc sang mô hình cấu trúc,,,

Đó là hiện tại, còn tương lai hệ thống xếp hạng sẽ phát triển như thếnào? Rõ ràng tuy được cải tiến rất nhiều và hệ thống xếp hạng tín dụng đãngày càng đạt được độ tin cậy cao nhưng hiện nay hệ thống xếp hạng tín dụngtoàn cầu vẫn còn gặp nhiều bất cập, đó là sự chưa đồng bộ về phương phápcũng như kĩ thuật xếp hạng giữa các quốc gia khác nhau, thậm chí ngay trongcùng một quốc gia thì đối với các tổ chức xếp hạng khác nhau cũng cho kếtquả khác nhau về mức độ tín nhiệm của 1 doanh nghiệp Vì thế , trong tươnglai các nhà quản lí kinh tế, tài chính nói chung và các tổ chức xếp hạng tíndụng nói riêng đều mong muốn xây dựng một khung phương pháp tính toán

và xếp hạng chung trên toàn thế giới, đạt được sự đồng bộ thống nhất giữa các

tổ chức xếp hạng tín dụng cũng như giữa các quốc gia, để từ đó có cái nhìnnhất quán về tình hình hoạt động, mức độ tín nhiệm của các công ty, cáckhách hàng

5 Phân loại xếp hạng tín dụng

Trang 11

Có nhiều cách để phân loại các hình thức xếp hạng tín dụng Tùy thuộcvào các căn cứ để phân loại chúng ta có các loại xếp hạng tín dụng tương ứng.

Ta sẽ xét lần lượt hai căn cứ phân loại :

5.1.Căn cứ vào đối tượng xếp hạng

Dựa vào tiêu thức này, người ta phân xếp hạng tín dụng thành 4 loại nhưsau

Thứ nhất, đó là xếp hạng tín dụng cá nhân Đây là hình thức xếp hạngđược áp dụng đối với các cá nhân tham gia vào hoạt động tín dụng của cácngân hàng thương mại, hay chính là các khách hàng cá nhân Việc xếp hạngtín dụng cá nhân được thực hiện dựa trên lịch sử trả nợ, số lượng và loại tàisản mà cá nhân đó đang sở hữu, những khoản thanh toán chậm hoặc nợ quáhạn Tất cả những thông tin đó đều được thu thập và tổng hợp trong các báocáo tín nhiệm về cá nhân đó

Thứ hai, đó là định mức tín nhiệm doanh nghiệp Hình thức xếp hạngnày tập trung vào đối tượng xếp hạng là các doanh nghiệp Việc đánh giá xếphạng doanh nghiệp được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau ,nhưng về cơ bản vẫn dựa trên các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính của doanhnghiệp để đánh giá

Thứ ba là xếp hạng tín dụng quốc gia Loại hình xếp hạng tín dụng nàyđánh giá mức độ tin cậy của một quốc gia, để từ đó có thể so sánh môi trườngđầu tư giữa các quốc gia, quốc gia nào càng được xếp hạng tín dụng cao thìcàng nhận được sự tín nhiệm của các nhà đầu tư nước ngoài nên sẽ thu hútđược nhiều nguồn vốn đầu tư Việc xếp hạng tín dụng các quốc gia dựa trêncác chỉ số phát triển chung như: chỉ số phát triển các ngành, chỉ số an toànvốn đầu tư, tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia, mức độ bình ổn chính trị,

Cuối cùng, đó là xếp hạng tín dụng các công dụ đầu tư Các công cụ

Trang 12

được xếp hạng chủ yếu vẫn là các công cụ có thu nhập cố định như : tráiphiếu công ty, trái phiếu chính phủ và các loại trái phiếu, kì phiếu ngân hàng.

Ở một số nước và một số tổ chức xếp hạng tín dụng hiện nay còn xếp hạng tíndụng cả cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường …Việc xếp hạng tín dụng đối vớicác loại công cụ đầu tư được thực hiện dựa trên một số chỉ tiêu như: khả năngthanh khoản , kì hạn , lãi suất , mệnh giá , các rủi ro có thể gặp phải ,…

Hiện nay, ở nước ta mới chỉ tập trung xếp hạng các doanh nghiệp thamgia hoạt động tín dụng ở các ngân hàng thương mại, còn các loại hình xếphạng tín dụng khác vẫn chưa được triển khai do thị trường chứng khoán nước

ta vẫn còn trong thời kì phát triển sơ khai, chưa có nhiều sản phẩm, công cụđầu tư,…nên việc xếp hạng tín dụng các công cụ đầu tư là không cần thiết.Xếp hạng quốc gia thì chúng ta chưa có khả năng thực hiện mà chỉ dành chonhững tổ chức xếp hạng lớn như Moody’s, Stand&Poor hay Fitch,…xếphạng, còn xếp hạng tín dụng cá nhân thì do hoạt động của các cá nhân khôngphức tạp và khó phân tích như khách hàng doanh nghiệp nên cũng không cầnthiết phải xếp hạng

5.2.Căn cứ vào phương pháp xếp hạng

Dựa vào căn cứ này, thì xếp hạng tín dụng được chia làm 2 loại sau :Thứ nhất đó là xếp hạng tín dụng theo phương pháp truyền thống Hiệnnay thì rất nhiều các quốc gia trên thế giới sử dụng loại hình xếp hạng tíndụng này Nội dung cơ bản của hình thức xếp loại này đó là việc đánh giá xếphạng tín dụng được thực hiện dựa trên những kinh nghiệm đã được đúc kếtcủa các chuyên gia để có thể tìm ra bản chất của mối quan hệ giữa vỡ nợ vàcác nhân tố tác động đến nó Các tổ chức xếp hạng tín dụng dựa trên lịch sửnhững lần trả nợ, cho vay để đưa ra những đánh giá về khả năng trả nợ củadoanh nghiệp và người đi vay trong tương lai Loại hình xếp hạng tín dụngnày mang tính chất chủ quan hơn là khách quan, mang tính chất định tính hơn

Trang 13

là định lượng vì không phải các nhân tố liên quan đến khả năng trả nợ màtrọng số của các nhân tố này cũng được xác định bởi các chuyên gia, hơn nữanhững nhân tố được sử dụng không trải qua sự kiểm chứng thống kê và xéttính tối ưu nào Nhưng hình thức xếp hạng tín dụng này vẫn rất được ưachuộng ở nhiều quốc gia, vì sao ? Bởi vì nó được xây dựng dựa trên kinhnghiệm của các chuyên gia làm việc lâu năm trong lĩnh vực tài chính, các kếtquả xếp hạng tín dụng minh bạch với người sử dụng, không đi ngược với líthuyết và các phương pháp khoa học nên làm gia tăng sự chấp nhận cho loạihình xếp hạng tín dụng này.

Thứ hai đó là xếp hạng tín dụng dựa trên phương pháp xây dựng thangđiểm Phương thức xếp hạng tín dụng này, các tổ chức xếp hạng tín dụng sửdụng bảng cho điểm và chia các yếu tố phân tích thành nhiều hạng mục khácnhau, cung cấp một thang điểm cho tất cả các chỉ tiêu khi đánh giá, xếp hạngmột đối tượng nào đó Thang điểm được xây dựng theo 2 cách sau:

Thang điểm được tính toán dựa trên các chỉ tiêu tài chính và phi tàichính

Thang điểm được xây dựng theo độ rủi ro của các đối tượng xếp hạng( Chẳng hạn đối với doanh nghiệp thì thang điểm được xây dựng dựa trên độbiến động tài sản của doanh nghiệp )

6 Sự cần thiết của hệ thống xếp hạng tín dụng

Ta nhận thấy một xu thế phát triển chung hiện nay trên thế giới đó là xuthế hội nhập và toàn cầu hóa Cùng với xu thế này, nền kinh tế các nước có cơhội phát triển mạnh song những rủi ro và thách thức đi kèm cũng không nhỏ.Thực tế chứng minh ,đã có rất nhiều vụ đổ bể tài chính , nhiều cuộc khủnghoảng tài chính diễn ra với những tổn thất khổng lồ : sự đổ bể tài chính trongnhững năm đầu thập kỉ 90 xảy ra tại các công ty lớn như ngân hàng Daiwa( Nhật Bản ) ,Ngân hàng Baring ( Anh ),Quỹ đầu tư Orange County ( Mỹ ) ,

Trang 14

tập đoàn công nghiệp Metallgesellschaft ( Đức )…và những cuộc khủnghoảng tài chính diễn ra trong khoảng hơn chục năm trở lại đây xảy ra ơAchentina (thiệt hại tương đương 55% GDP của nước này ), ở Trung Quốc( 47% GDP của Trung Quốc ), khủng hoảng tài chính Châu Á gây tổn thấttương đương 25 tỷ đô la tại Thái Lan, 36 tỷ đô la tại Malaysia Các nhà phântích tài chính cho rằng nguyên nhân chính của những cuộc khủng hoảng này

đó là do việc phân bổ nguồn vốn đầu tư không hợp lí trong các ngân hàng, docông tác quản lí rủi ro tín dụng yếu kém, chuẩn mực về cho vay vốn chưahoàn thiện và đảm bảo Tất cả những yếu kém này đều xuất phát từ thực tế làchúng ta chưa có một hệ thống đánh giá mức độ tín nhiệm đầy đủ và tươngđối chính xác về các chủ thể trong nền kinh tế Chính vì thế , sau những cuộckhủng hoảng tài chính nặng nề, các quốc gia bắt đầu quan tâm và chú trọnghơn nhiều đến hệ thống xếp hạng tín dụng, đặc biệt là hệ thống xếp hạng tíndụng doanh nghiệp ( vì đây là chủ thể chính trong nền kinh tế) Đây là mộtquyết định chính xác của các quốc gia vì xếp hạng tín dụng có một vai tròquan trọng đối với mọi nền kinh tế, mọi ngành kinh tế, mọi chủ thể kinh tế Sau đây, em xin trình bày cụ thể vai trò của hệ thống xếp hạng tín dụng đốivới dưới nhiều góc độ và nhiều đối tượng :

6.1.Xét trên góc độ vĩ mô

Ở đây , chúng ta đứng trên góc độ tổng thể nền kinh tế để xem xét vaitrò, sự cần thiết của hệ thống xếp hạng tín dụng

6.1.1.Vai trò đối với toàn bộ nền kinh tế

Đối với tổng thể nền kinh tế của một quốc gia, thì hệ thống xếp hạngtín dụng là một công cụ quan trọng để tránh, giảm thiểu những rủi ro mangtính chất hệ thống ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế Từ đó, giúp duy trì mộtnền kinh tế tăng trưởng và phát triển ổn định, tạo môi trường đầu tư lànhmạnh cho các nhà đầu tư nước ngoài Không chỉ có thể ,kết quả mà hệ thống

Trang 15

xếp hạng tín dụng công bố là động lực quan trọng khuyến khích các chủ thểkinh tế, mà ở đây chủ yếu là các doanh nghiệp có xu thế hoàn thiện hóa hoạtđộng sản xuất kinh doanh của mình để đạt được hạng tín dụng tốt, tăng cường

uy tín của mình làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lạicàng đạt được hiệu quả cao Đặc biệt xếp hạng tín dụng còn góp phần tăngđộng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế Từ đó, thúc đẩynền kinh tế tăng trưởng và phát triển một cách toàn diện, ổn định và nhanhchóng

6.1.2 Vai trò đối với thị trường tiền tệ

Như chúng ta đã biết thị trường tiền tệ là thị trường mà ở đó chủ yếutrao đổi các giấy tờ có giá ngắn hạn Đối với thị trường này, hệ thống xếphạng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của thị trường.Đồng thời, kết quả xếp hạng tín dụng cũng giúp cho hoạt động phân bổ vốndiễn ra trên thị trường này trở nên hợp lí và phù hợp hơn Với việc xếp hạngcác chứng khoán cũng như các khoản nợ ngắn hạn và các công ty phát hànhhay những doanh nghiệp tham gia hoạt động tín dụng tại các ngân hàngthương mại, hệ thống xếp hạng đóng vai trò như là kim chỉ nam hướng dẫnhoạt động đầu tư trên thị trường, hướng thị trường phát triển theo xu thế antoàn, ổn định và hiệu quả

6.1.3 Vai trò đối với thị trường vốn

Thị trường vốn là thị trường mà ở đó chủ yếu diễn ra sự trao đổi buônbán các giấy tờ có giá trung và dài hạn, hay thị trường này chính là thị trườngchủ yếu huy động các nguồn vốn trung và dài hạn.Chính vì thế, đây được coi

là thị trường luôn tiềm ẩn những rủi ro rất lớn Sự ra đời của hệ thống xếphạng tín dụng đã góp phần không nhỏ vào việc giảm thiểu những rủi ro trênthị trường này Không những thế, những thông tin được công bố về tình hìnhcác doanh nghiệp phát hành, các công cụ đầu tư trên thị trường đóng một vai

Trang 16

trò không nhỏ trong việc điều tiết thị trường này một cách hợp lí, giúp choluồng vốn được chu chuyển theo đúng hướng từ những người nhàn rỗi đếnđúng tay những người thực sự cần vốn và sử dụng vốn một cách hiệu quả

6.1.4.Vai trò đối với cơ quan quản lí nhà nước về tài chính – tiền tệ

Sau những bài học kinh nghiệm rút ra từ nhiều cuộc khủng hoảng tàichính trầm trọng trên thế giới trong mấy thập kỉ gần đây, các cơ quan quản línhà nước về tài chính – tiền tệ cũng như các nhà hoạch định chính sách quốcgia đã ý thức rõ vai trò và tầm quan trọng của hệ thống xếp hạng tín dụng.Chính vì thế trong những năm gần đây, họ bắt đầu sử dụng kết quả xếp hạngtín dụng như là một tiêu chí để xem xét, kiểm tra sự lành mạnh về tài chínhcủa các công ty Từ đó, cơ quan quản lí nhà nước có thể đưa ra những chínhsách phát triển phù hợp đối với nền kinh tế nói chung và đối với thị trườngvốn, thị trường tiền tệ nói riêng, chẳng hạn đối với những doanh nghiệp cóhạng tín dụng chất lượng

thấp thì các cơ quan quản lí nhà nước sẽ tiến hành khuyến cáo đối vớidoanh nghiệp, và đưa ra những quy định nghiêm ngặt không cho ảnh hưởngđến toàn hệ thống Hoặc đối với những doanh nghiệp có chất lương tín dụngcao thì cơ quan quản lí sẽ ưu tiên hơn trong việc cấp vốn hay cung cấp cácdịch vụ công cộng của nhà nước, từ đó khuyến khích các doanh nghiệp khácphấn đấu để đạt chất lượng tín dụng cao

6.2.Xét trên góc độ vi mô

Nếu như ở trên, ta xét vai trò của hệ thống xếp hạng dưới góc nhìn vĩ

mô, tức là xét vai trò của nó đối với tổng thể mang tính bao quát chung.Còntrong phần này ta sẽ xét vai trò của xếp hạng tín dụng dưới góc độ vi mô, tức

là xét vai trò của nó đối với các chủ thể, các tác nhân cụ thể trong nền kinh tếnói chung và trong thị trường tài chính nói riêng Mà cụ thể trong phần này, taxét đến hai đối tượng chính chịu tác động của hệ thống xếp hạng tín dụng, đó

Trang 17

là: Các doanh nghiệp và các nhà đầu tư trên trên thị trường tài chính.

6.2.1.Đối với các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào, bất cứ hình thứckinh doanh nào thì huy động vốn luôn là hoạt động quan trọng hàng đầu Mộtdoanh nghiệp có thể tiến hành huy động vốn bằng nhiều phương thức khácnhau, nhưng có lẽ hai phương thức huy động vốn mà các doanh nghiệpthường ưa dùng đó là huy động vốn bằng cách đi vay Ngân hàng và các tổchức tín dụng khác hoặc huy động vốn bằng cách phát hành các chứng khoántrên thị trường vốn Với mỗi phương thức huy động vốn khác nhau, thì vai tròcủa hệ thống xếp hạng đối với doanh nghiệp cũng khác nhau.Sau đây chúng

ta sẽ xét từng trường hợp cụ thể:

Trước hết, đối với các doanh nghiệp đi vay vốn tại các tổ chức tín dụngthì xếp hạng tín dụng đóng một vai trò rất quan trọng.Trong đó vai trò quantrọng nhất đó là hệ thống này có thể giúp các doanh nghiệp làm giảm chi phívay vốn của nhờ vào uy tín của chính doanh nghiệp, hạng tín dụng của doanhnghiệp càng cao, tức là chất lượng tín dụng của doanh nghiệp được đánh giácàng cao thì chi phí vay vốn của doanh nghiệp càng giảm Những doanhnghiệp được xếp tại những hạng tín dụng chất lượng cao thì sẽ nhận được sựtin tưởng từ phía các tổ chức tín dụng, vì thế nó nhận được sự ưu tiên về mọimặt: thủ tục vay đơn giản, nhanh chóng; lãi suất vay thấp, kì hạn vay dài…Cùng một khoản vay, cùng một kì hạn vay nhưng những doanh nghiệp cóchất lượng tín dụng tốt hơn sẽ được xét duyệt cho vay nhanh hơn, chi phí vaythấp hơn Với chi phí vay thấp sẽ làm cho tổng chi phí của doanh nghiệpgiảm, lợi nhuận doanh nghiệp tăng, và vì thế hạng tín dụng của doanh nghiệplại càng được nâng cao Cứ như thế, hệ thống xếp hạng tín dụng giúp doanhnghiệp ngày càng hoạt động hiệu quả, doanh thu ngày càng lớn Đồng thời, hệthống xếp hạng cũng góp phần thúc đẩy động lực cạnh tranh giữa các doanh

Trang 18

nghiệp, đây là một yếu tổ quan trọng giúp doanh nghiệp phát triển, lớn mạnh.

6.2.2 Đối với các nhà đầu tư

Xét trên góc độ các nhà đầu tư thì hệ thống xếp hạng tín dụng đượcxem như là một hình thức tư vấn đầu tư.Các tổ chức xếp hạng tín dụng đóngvai trò như cầu nối giữa nhà đầu tư với thị trường Khi thị trường tài chính vàquá trình toàn cầu hóa ngày càng phát triển thì xếp hạng tín dụng được dùngnhư một công cụ giám sát thị trường, nhằm giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầutư.Nhìn chung, hệ thống xếp hạng tín dụng đóng một vai trò quan trọng trongquá trình tiến hành các hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư Sau đây, là một

số vai trò chủ chốt của hệ thống xếp hạng tín dụng đối với nhà đầu tư :

Thứ nhất, kết quả mà hệ thống xếp hạng đưa ra là một tiêu chí rõ ràng,đơn giản và dễ hiểu để xem xét và ra quyết định đầu tư Một vấn đề cơ bảnkhi quyết định đầu là phải xem xét tình hình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp mà mình có ý định đầu tư trong quá khứ và hiện tại dựa trên cơ sở cácbảng báo cáo tài chính, bảng kế hoạch kinh doanh,…để từ đó dự đoán khảnăng tài chính của doanh nghiệp trong tương lai Nếu nhận thấy có khả thi thì

có thể tiến hành đầu tư vốn vào doanh nghiệp đó để có thể kiếm lời từ nguồnvốn đầu tư này Nhưng trên thực tế khi hầu hết các thông tin mà các doanhnghiệp cung cấp là thông tin không cân xứng, không đầy đủ và số liệu thì quáchi tiết, quá nhỏ lẻ và quá phức tạp nên không phải nhà đầu tư nào cũng cókhả năng phân tích chúng.Hơn thế nữa việc phân tích đánh giá doanh nghiệpdựa trên các số liệu đó không phải là dễ mà rất khó khăn và phức tạp Vì thế,việc có kết quả xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp với bảng tổng kết, thangđiểm và những kết luận rõ ràng, dễ hiểu sẽ rất cần và rất có ích đối với mỗinhà đầu tư Nhìn vào kết quả xếp hạng tín dụng do các tổ chức xếp hạng tíndụng cung cấp, nhà đầu tư có thể nhận biết ngay được mức độ rủi ro củadoanh nghiệp, tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó có thể ra quyết định

Trang 19

đầu tư một cách hợp lí Do vậy, xếp hạng tín dụng càng chính xác thì càngđược tín nhiệm và được đông đảo các nhà đầu tư tin dùng.

Thứ hai, xếp hạng tín dụng đóng vai trò là một nhân tố quan trọngtrong việc xác định mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kì vọng Về nguyêntắc định giá tài sản thì những tài sản có lợi nhuận kì vọng cao thì thường rủi

ro đi kèm cũng cao và ngược lại Nhờ vào hệ thống xếp hạng tín dụng nhà đầu

tư có thể nhận biết được mức độ rủi ro của mỗi khoản đầu tư, từ đó có thể sosánh, định mức mối quan hệ rủi ro-lợi nhuận giữa các tài sản khác nhau đểtìm ra tài sản có lợi nhất để đầu tư sao cho vừa có thể đảm bảo được hiệu quảđầu tư, vừa đảm bảo sự an toàn của đồng vốn bỏ ra

Thứ ba, xếp hạng tín dụng đóng vai trò là một công cụ quan trọng trongviệc quản lí một danh mục đầu tư trong hoạt động đầu tư tài chính Nhưchúng ta đã biết, các nhà đầu tư hoạt động trên thị trường tài chính mua cácloại chứng khoán với hai mục đích chính, đó là: lợi tức và tiền lãi từ kinhdoanh chênh lệch giá Với sự phát triển như vũ bão của thị trường thứ cấp thìthu nhập từ chênh lệch giá là nguồn thu chủ yếu và là mối quan tâm hàng đầucủa các nhà đầu tư Chính vì thế mà việc tiến hành đầu tư theo danh mục trởthành hình thức đầu tư được nhiều nhà đầu tư ưa chuộng Với hình thức đầu

tư này đòi hỏi nhà đầu tư phải luôn có những thông tin nhanh nhạy về các nhàphát hành để có thể tiến hành đầu tư hợp lí Phân tích chuyên sâu về mộtdoanh nghiệp đối với nhiều nhà đầu tư còn đang là vấn đề khó khăn, phức tạpthế mà đầu tư theo danh mục đòi hỏi phải có sự phân tích về nhiều doanhnghiệp Vì thế, đối với các nhà đầu tư tiến hành đầu tư theo danh mục thì vaitrò của hệ thống xếp hạng tín dụng lại càng trở nên quan trọng hơn, bởi vì nhờ

hệ thống này nhà đầu tư có thể giảm được một lượng lớn công việc phân tíchtính toán phức tạp cồng kềnh.Hơn thế nữa, mỗi sự thay đổi của doanh nghiệpphát hành về hạng tín dụng đều ảnh hưởng đến giá của những chứng khoán

Trang 20

mà doanh nghiệp đó phát hành, các nhà đầu tư có thể căn cứ vào sự thay đổihạng tín dụng để thay đổi danh mục đầu tư của minh cho hợp lí nhằm thu lợinhuận và đảm bảo sự an toàn của đồng vốn

Thứ tư, xếp hạng tín dụng góp phần hình thành nên các nhóm đầu tưkhác nhau Như chúng ta đã biết, thị trường tài chính chia các nhà đầu tưthành ba nhóm chính, đó là: Các nhà đầu tư e ngại rủi ro, các nhà đầu tư dunghòa với rủi ro và các nhà đầu tư ưa thích rủi ro Kết quả xếp hạng tín dụng củacác tổ chức xếp hạng là một căn cứ quan trọng để hình thành nên ba nhómnhà đầu tư trên Bởi vì những nhà đầu tư e ngại rủi ro thường chỉ đầu tư vàochứng khoán được phát hành từ những doanh nghiệp được đánh giá chấtlượng tín dụng cao, còn các nhà đầu tư ưa thích rủi ro thì lại thích đầu tư vàocác chứng khoán đầu cơ là những chứng khoán được phát hành từ nhữngdoanh nghiệp được xếp hạng thấp

7 Các tổ chức xếp hạng tín dụng

7.1 Trên thế giới

Như chúng ta đã biết, xếp hạng tín dụng bắt đầu hình thành trên thếgiới vào đầu thế kỉ 20 Bắt đầu với duy nhất một công ty xếp hạng là Moody’sđến nay trên toàn thế giới đã có hàng trăm tổ chức xếp hạng tín dụng lớn nhỏkhác nhau Tuy hiện nay trên thế giới xuất hiện nhiều tổ chức xếp hạng tíndụng với phương pháp, công nghệ mới, nhưng có lẽ hai tên tuổi vẫn đượcnhắc đến nhiều nhất trong làng xếp hạng tín dụng vẫn là Standard & Poor vàMoody’s

Công ty Moody’s được thành lập vào năm 1909, do John Moody –người có công đầu trong sự ra đời của hệ thống xếp hạng tín dụng trên thếgiới, thành lâp nên Công ty này hoạt động chủ yếu ở Mỹ nhưng có rất chinhánh ở nhiều nước trên thế giới Khi mới thành lập công ty này chỉ tiến hànhxếp hạng các doanh nghiệp phát hành trái phiếu, nhưng hiện nay với sự phát

Trang 21

triển lớn mạnh không ngừng công ty đã tiến hành xếp hạng nhiều doanhnghiệp khác và nhiều công cụ đầu tư khác, nhưng mạnh nhất vẫn là xếp hạngcác doanh nghiệp phát hành trái phiếu.

Thành lập sau công ty Moody’s 7 năm nhưng Standard & Poor cũngchứng tỏ được vị thế của mình ngay lập tức và cùng với Moody’s trở thànhhai tổ chức xếp hạng tín dụng uy tín nhất trên thế giới Với mạng lưới hoạtđộng trên khắp thế giới, theo thống kê hiện nay S&P hoạt tại trên 50 quốc giatrên thế giới, S&P ngày càng tạo được uy tín trong phương pháp cũng nhưcông nghệ được sử dụng để xếp hạng và được nhiều công ty, nhiều tổ chức,nhiều nhà đầu tư tin dùng So với Moody’s thì phạm vi xếp hạng của tổ chứcnày rộng hơn rất nhiều, nhất là các loại chứng khoán

Sau Moody’s, S&P thì có rất nhiều các công ty định mức ra đời , nhất

là sau khi những sự kiện hàng loạt những cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chínhdiễn ra, làm thiệt hại nặng nề đến nền kinh tế toàn thế giới.Có thể kể ra một sốcông ty xếp hạng tín dụng như: Tổ chức xếp hạng trái phiếu Canada( Canadian Bond Rating ) được thành lập vào năm 1972, tổ chức xếp hạng tráiphiếu Nhật Bản ( Japanese Bond Rating Institue ) bắt đầu hoạt động vàonăm1975, tổ chức xếp hạng trái phiếu quốc tế ( International Bond CreditAgency ) thành lập tại London vào năm 1978, công ty xếp hạng tín dụng Duff

& Phelps ra đời trở thành tổ chức xếp hạng lớn thứ tư tại Mỹ và bắt đầu tiếnhành xếp hạng cho hàng loạt các công ty lớn, …

Nhìn chung, xét toàn bộ hệ thống xếp hạng tín dụng trên thế giới thìcác công ty xếp hạng tín dụng của Mỹ vẫn được đánh giá cao nhất cả về chấtlượng xếp hạng và phạm vi hoạt động Các tổ chức xếp hạng của Mỹ đã xếphạng cho hàng loạt các công cụ nợ được giao dịch trên thị trường tài chính,hàng nghìn các doanh nghiệp phát hành Các tổ chức này hoạt động ở các thịtrường tài chính lớn trên khắp thế giới cũng như rất nhiều thị trường tài chính

Trang 22

mới nổi Chẳng hạn như Standard & Poor đã tiến hành xếp hạng cho khoảng

30000 loại trái phiếu và các cổ phiếu ưu đãi được phát hành bởi hơn 4000công ty trên toàn thế giới, ngoài ra nó còn xếp hạng cho khoảng 15000 tráiphiếu chính quyền địa phương, trái phiếu Chính phủ, các tổ chức nước ngoài

và tổ chức xuyên quốc gia

Hiện nay, xếp hạng tín dụng không chỉ bó hẹp ở các quốc gia pháttriển mà tại các quốc gia mới nổi và các quốc gia đang phát triển, các tổ chứcxếp hạng cũng được thành lập và từng bước đi vào hoạt động chuyên nghiệp.Hơn thế nữa các công ty xếp hạng tín dụng có tên tuổi cũng đã thiết lập cácchi nhánh của mình ở các thị trường mới nổi là những nơi đang rất cần đếnviệc xếp hạng tín dụng để đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của thị trường.Trong những năm gần đây, các nhà hoạch định chính sách ở các nước Côngnghiệp mới ( NICS ) và các quốc gia đang phát triển ngày càng nhận thứcđược tầm quan trọng của các cơ quan định mức và xếp hạng tín dụng đối với

sự phát triển của thị trường tài chính nói chung và đối với toàn bộ nền kinh tếnói riêng Đây là những tín hiệu rất đáng mừng của nền kinh tế toàn cầu

7.2.Tại Việt Nam

Ở nước ta, do thị trường tài chính phát triển chậm hơn rất nhiều so vớikhu vực và trên thế giới nên các tổ chức xếp hạng tín dụng ở Việt Nam cũngđược thành lập sau Mãi đến năm 1993, tổ chức xếp hạng tín dụng đầu tiêncủa Việt Nam mới được thành lập, đó là Trung tâm Thông tin tín dụng- Ngânhàng Nhà nước Việt Nam ( viết tắt là CIC ) Trung tâm này ra đời với chứcnăng chính là lưu trữ thông tin trong lĩnh vực tín dụng của các doanh nghiệptrên cả nước, từ đó tiến hành chấm điểm tín dụng các doanh nghiệp này dựatrên các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính Tính đến nay trung tâm đã tiếnhành xếp hạng cho khoảng trên 8000 doanh nghiệp là những khách hàng củacác Ngân hàng thương mại Tuy nhiên, phương pháp xếp hạng của CIC còn

Trang 23

thiên về lịch sử vay vốn, quan hệ với các tổ chức tín dụng của doanh nghiệphơn là phân tích chuyên sâu về khả năng cạnh tranh của các ngành, các doanhnghiệp cũng như những thay đổi, biến động của nền kinh tế.

Sau sự ra đời của CIC, thì đến năm 2004 Công ty thông tin tín nhiệmdoanh nghiệp ( C&R) được thành lập Công ty này chính thức công bố hoạtđộng từ năm 2004 nhưng thực tế công ty này đã hoạt động trong lĩnh vựcthông tin tín dụng từ năm 2000 Thị phần chủ yếu của C&R là các doanhnghiệp trong và ngoài nước quan tâm đến việc đầu tư tại Việt Nam thông quaviệc cung cấp báo cáo tín nhiệm về các doanh nghiệp đang hoạt động tại ViệtNam, trong đó có đưa ra chỉ số tín dụng và thang điểm chung nhất cho cáccông ty

Cuối cùng phải kể đến đó là trung tâm định mức tín nhiệm( Vietnamnet Rating ) ra đời với mục tiêu trở thành tổ chức định mức chuyênnghiệp đầu tiên ở Việt Nam, ngay từ khi thành lập trung tâm đã tập trunghoàn thiện Quy trình định mức, xếp hạng, tổ chức hội đồng thẩm định, đàotạo đội ngũ nhân viên Thị trường chủ yếu mà trung tâm hướng tới đó là xếphạng các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh liên quan đến thị trường vàthị trường chứng khoán.Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, hiện nayVietnamnet Rating vẫn chưa thực sự đi vào hoạt động chính thức

Trong tương lai, hệ thống xếp hạng tín dụng của Việt Nam được địnhhướng phát triển như thế nào? Đó là câu hỏi mà chính các nhà hoạch địnhchính sách kinh tế tài chính đang giải đáp dần dần Mục tiêu trước mắt đặt ravẫn là củng cố hoạt động của các trung tâm đã nói ở trên, nhất là Trung tâmthông tin tín dụng trong tương lai sẽ được tách khỏi Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam, trở thành một công ty xếp hạng tín dụng hoạt động độc lập Songsong với việc hoàn thiện tổ chức cũng như nghiệp vụ tại các trung tâm trên,thì các công ty xếp hạng tín dụng mới cũng được định hướng thành lập Cụ

Trang 24

thể, theo dự kiến trong năm nay, Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính (VAFI) sẽthành lập một công ty định mức tín nhiệm trực thuộc Bộ tài chính.

Hơn thế nữa, cùng với xu thế hội nhập vào thị trường tài chính quốc tếcủa Việt Nam, rất có thể sẽ có một số công ty, tổ chức xếp hạng tín dụngnước ngoài vào hoạt động tại nước ta trong tương lai không xa

Nói tóm lại, các tổ chức xếp hạng tín dụng ở Việt Nam hiện nay mớichỉ hoạt động như các tổ chức thông tin tín dụng, chứ chưa phải là các tổ chứcxếp hạng tín dụng với vai trò xoá bỏ khoảng tối thông tin trên thị trường Việcđịnh mức, xếp hạng thường không linh hoạt, thay đổi kịp thời theo thị trường

và hơn nữa nó chưa phải là một tiêu chí đánh giá chính xác về hoạt động sảnxuất kinh doanh của các doanh nghiệp được xếp hạng

8 Các kí hiệu, biểu tượng được sử dụng trong xếp hạng tín dụng

Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng hệ thống chấm điểm tíndụng, bảng xếp hạng tín dụng được xây dựng dưới dạng một hệ thống các kíhiệu cụ thể Có rất nhiều cách kí hiệu khác nhau do các tổ chức xếp hạng đặt

ra, nhưng chúng đều được sắp xếp theo thứ tự giảm dần về mức độ tín nhiệmđối với các doanh nghiệp được xếp hạng

Thông thường một bảng xếp hạng tín dụng được chia làm 2 loại, đó là:bảng kí hiệu xếp hạng biểu hiện cho công cụ nợ ngắn han và bảng kí hiệu xếphạng biểu hiện cho các công cụ nợ dài hạn Nhìn vào kí hiệu về định mức tínnhiệm được ấn định cho bất kì một công ty nào, nhà đầu tư đều có thể biếtđược mức độ rủi ro đối với các khoản vay của doanh nghiệp đó, dù là vay trựctiếp ngân hàng hay phát hành các công cụ nợ trên thị trường vốn

Hệ thống kí hiệu xếp hạng tín dụng tiêu biểu nhất hiện nay là hệ thống

kí hiệu của hai công ty xếp hạng tín dụng hàng đầu thế giới, đó là Moody’s vàS&P, hệ thống kí hiệu này được xây dựng dựa trên khung kí hiệu do JohnMoody sáng tạo và trở thành tiêu chuẩn để xây dựng hệ thống kí hiệu xếp

Trang 25

hạng tín dụng của hầu hết các công ty xếp hạng tín dụng trên thế giới.

S&P Moody’s Nội dung

AAA Aaa Đối tượng được xếp loại này có chất lượng tín dụng

cao nhất,có độ rủi ro thấp nhất vì thề có khả năng trả

nợ mạnh nhất

AA Aa Đối tượng được xếp loại này có chất lượng cao,mức độ

rủi ro thấp và do đó khả năng trả nợ cao

A A Đây là đối tượng đạt trên mức trung bình các nhân tố

bảo đảm về khả năng trả nợ ngắn và dài hạn chưa thậtchắc chắn nhưng vẫn đạt độ tin cậy cao.Do đó đượcxếp loại có khả năng trả nợ

BBB Baa Đây là đối tượng đạt mức trung bình, mức an toàn và

rủi ro không cao nhưng cũng không thấp.Khả năng trả

nợ gốc và lãi hiện thời không thật chắc chắn nhưngkhông có dấu hiệu nguy hiểm

BB Ba Đối tượng này đạt mức dưới trung bình, khả năng trả

nợ và lãi không thật chắc chắn và mức độ an toàn nhưBBB( Baa)

B B Đối tượng này thiếu sự hấp dẫn cho đầu tư.Sự đảm bảo

về hoàn trả gốc và lãi trong tương lai là rất nhỏ CCC Caa Khả năng trả nợ thấp, dễ xảy ra vỡ nợ

CC Ca Rủi ro rất cao, thường bị vỡ nợ

C C Đối tượng trong tình trạng sắp phá sản

D Khả năng phá sản là gần như chắc chắn

BẢNG 1.1.KÍ HIỆU SẮP XẾP HẠNG TÍN DỤNG SỬ DỤNG CHO NỢ DÀI HẠN

Đó là xét trong trường hợp nợ dài hạn, hay các công cụ đầu tư dài hạn,còn trong ngắn hạn thì các kí hiệu được minh họa trong bảng sau :

S&P Moody’s Nội dung

P-1 A-1+ Khả năng trả nợ mạnh nhất

A-1 Khả năng trả nợ mạnh

Trang 26

P-2 A-2 Khả năng trả nợ đạt mức trung bình khá

P-3 A-3 Khả năng trả nợ vừa đủ để được xếp hạng đầu tư

Đó là trên thế giới, còn tại Việt Nam hệ thống kí hiệu hạng tín dụng có

gì khác biệt ? Thực ra không có gì khác biệt đáng chú ý cả, chỉ có điều hệthống xếp hạng trên thế giới đã phát triển rất mạnh rồi, họ không chỉ xếp hạngcác doanh nghiệp, mà còn xếp hạng các công cụ đầu tư là chính Còn ở nước

ta, do điều kiện chưa cho phép, và các công cụ đầu tư chưa nhiều nên việc xếphạng chỉ được tiến hành với các doanh nghiệp Vì thế các kí hiệu hạng tíndụng được đại diện cho khả năng tài chính của doanh nghiệp Cụ thể như sau:

Kí hiệu

xếp loại

Nội dung

AAA Loại tối ưu: Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả cao Khả năng tự chủ tài

chính rất tốt Triển vọng phát triển lâu dài, tiềm lực tài chính mạnh Lịch

sử vay trả nợ tốt.Rủi ro thấp nhất

AA Loại ưu: Doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả và ổn định Khả

năng tự chủ tài chính tốt, triển vọng phát triển tốt Lịch sử vay trả

nợ tốt Rủi ro thấp

A Loại tốt: Tình hình tài chính ổn định, hoạt động kinh doanh có hiệu

quả Lịch sử vay trả nợ tốt Rủi ro tương đối thấp

BBB Loại khá: Hoạt động tương đối hiệu quả, tình hình tài chính ổn

định, có hạn chế nhất định về tiềm lực tài chính Rủi ro trung bình

BB Loại trung bình khá: Doanh nghiệp hoạt động tốt trong hiện tại

nhưng dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động lớn trong kinh doanh

do sức ép cạnh tranh Tiềm lực tài chính trung bình, rủi ro trung

Trang 27

B Loại trung bình: Doanh nghiệp hoạt động chưa có hiệu quả, khả

năng tự chủ tài chính thấp.Rủi ro tương đối cao

CCC Loại trung bình yếu: Doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thấp,

năng lực quản lí kém, khả năng trả nợ thấp, tự chủ về tài chính yếu.Rủi ro cao

CC Loại yếu: Doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, tự chủ tài chính

yếu kém Khả năng trả nợ ngân hàng kém Rủi ro rất cao

C Loại yếu kém: Doanh nghiệp hoạt động yếu kém, thua lỗ kéo dài,

không tự chủ về tài chính Năng lực quản lí yếu kém, có nợ quáhạn, Rủi ro rất cao

BẢNG 1.3 BẢNG KÍ HIỆU XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

II Các phương pháp cơ bản được sử dụng để xếp hạng tín dụng1.Phương pháp truyền thống ( còn gọi là phương pháp chuyên gia )

Hiện nay thì rất nhiều các quốc gia trên thế giới sử dụng loại hình xếphạng tín dụng này Nội dung cơ bản của hình thức xếp loại này đó là việcđánh giá xếp hạng tín dụng được thực hiện dựa trên những kinh nghiệm đãđược đúc kết của các chuyên gia để có thể tìm ra bản chất của mối quan hệgiữa vỡ nợ và các nhân tố tác động đến nó Các tổ chức xếp hạng tín dụngdựa trên lịch sử những lần trả nợ, cho vay để đưa ra những đánh giá về khảnăng trả nợ của doanh nghiệp và người đi vay trong tương lai Loại hình xếphạng tín dụng này mang tính chất chủ quan hơn là khách quan, mang tính chấtđịnh tính hơn là định lượng vì không phải các nhân tố liên quan đến khả năngtrả nợ mà trọng số của các nhân tố này cũng được xác định bởi các chuyêngia, hơn nữa những nhân tố được sử dụng không trải qua sự kiểm chứngthống kê và xét tính tối ưu nào Nhưng hình thức xếp hạng tín dụng này vẫnrất được ưa chuộng ở nhiều quốc gia, vì sao ? Bởi vì nó được xây dựng dựa

Trang 28

trên kinh nghiệm của các chuyên gia làm việc lâu năm trong lĩnh vực tàichính, các kết quả xếp hạng tín dụng minh bạch với người sử dụng, không đingược với lí thuyết và các phương pháp khoa học nên làm gia tăng sự chấpnhận cho loại hình xếp hạng tín dụng này.

2.Phương pháp xây dựng thang điểm

2.1.Chấm điểm tín dụng dựa trên các chỉ tiêu chung, chỉ tiêu tài chình và phi tài chính

Các tổ chức xếp hạng tín dụng đã xây dựng một hệ thống bao gồm 11chỉ tiêu tài chính và 3 chỉ tiêu phi tài chính để tiến hành chấm điểm cho cácđối tượng cần xếp hạng là doanh nghiệp Do điều kiện nước ta hiện nay mớichỉ tiến hành xếp hạng tín dụng các doanh nghiệp nên chúng ta sẽ chủ yếu xét

về xếp hạng tín dụng doanh nghiệp, còn xếp hạng tín dụng cá nhân, xếp hạngtín dụng quốc gia và xếp hạng tín dụng các công cụ đầu tư tạm thời chúng ta

sẽ không xem xét tới trong phạm vi chuyên đề này Sau đây, chúng ta sẽ xemxét lần lượt từng loại chỉ tiêu

Trang 29

2.1.1 Các chỉ tiêu tài chính

11 chỉ tiêu tài chính được phân thành bốn nhóm chỉ tiêu như sau

2.1.1.1 Chỉ tiêu thanh khoản

Các chỉ tiêu này thể hiện khả năng chuyển đổi của các tài sản lưu độngthành tiền Nếu doanh nghiệp có các giá trị của các chỉ tiêu này càng lớn thìđiểm tín dụng càng cao, bởi vì nó thể hiện khả năng thanh toán đối với ngânhàng càng cao

Người ta sẽ tính toán 2 chỉ tiêu sau đại diện cho nhóm chỉ tiêu thanhkhoản:

 Khả năng thanh toán ngắn hạn:

- Ý nghĩa: Chỉ tiêu này dùng để kiểm tra trạng thái vốn lưu động vàtính thanh khoản, xem xét mức độ bảo vệ người cho vay trong trường hợpdoanh nghiệp vay vốn ngắn hạn để tài trợ vốn lưu động, thể hiện sự an toàncủa người cho vay ngắn hạn

- Khoảng giá trị: 1  4 là chấp nhận được

 Khả năng thanh toán nhanh:

- Công thức xác định:

TSLĐ và đầu tư NH – hàng tồn kho Khả năng thanh toán nhanh = - Tài sản nợ ngắn hạn

Trang 30

- Miêu tả chỉ số: Tỷ lệ này cho biết khả năng chuyển đổi các tài sản cócủa doanh nghiệp thành tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán cấp thiết cáckhoản nợ.

- Khoảng giá trị: 12 là chấp nhận được

Giá trị của tỷ lệ này càng cao thì độ rủi ro về thanh toán củadoanh nghiệp càng thấp Tuy nhiên, điều này cũng có ý nghĩa rằnghiệu quả quản lí tài sản lưu động(TSLĐ) của doanh nghiệp chưa tốt

vì những tài sản này có tỷ lệ sinh lời thấp đối với doanh nghiệp

Giá trị của tỷ lệ này nhỏ thì khả năng đáp ứng ngay các nghĩa vụ nợngắn hạn kém

- Ý nghĩa: Giá trị hệ số này thấp chứng tỏ

+ Giá trị của các loại hàng hóa tồn kho quá cao so với doanh thu

+ Số ngày hàng nằm trong kho càng lâu

+ Hiệu quả quản trị ngân quỹ của doanh nghiệp thấp vì lượng tiền tồnđọng trong hàng hóa quá lâu

 Kì thu tiền bình quân:

- Công thức xác định:

Các khoản phải thu

Kì thu tiền bình quân =

Doanh thu thuần / 365 ngày

-Ý nghĩa: Cho biết số ngày thu hồi tiền bán hàng bình quân:

Trang 31

+ Giá trị của tỷ lệ này càng cao chứng tỏ hiệu quả thu hồi nợ của doanhnghiệp càng thấp, khả năng có những khoản nợ khó đòi cao.

+ Giá trị có thể chấp nhận được:3060 ngày

-Ý nghĩa: phản ánh cơ cấu đầu tư của doanh nghiệp

+ Trên phương diện chủ nợ: tỷ lệ này càng cao thì khả năng thu hồi nợcàng thấp, mức độ phá sản của doanh nghiệp càng cao

+ Trên phương diện doanh nghiệp: tỷ lệ cao chứng tỏ thành tích vaymượn tốt, nếu doanh nghiệp có tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ lệ lãi vay thì tỷ lệnày cao là tốt Ngược lại, nếu tỷ suất sinh lợi nhuận thấp hơn tỷ lệ lãi vay thìdoanh nghiệp sẽ bị lỗ nặng,độ phá sản cao

Trang 32

Nợ phải trả trên nguồn vốn chủ sỏ hữu:

Nợ quá hạn trên tổng dư nợ ngân hàng:

Lợi tức sau thuế

Tổng lợi tức sau thuế trên tài sản =

Trang 33

 Tổng lợi tức sau thuế trên nguồn vốn:

-Công thức xác định:

Tổng lợi tức sau thuế trên nguồn vốn =

NVCSH

- Ý nghĩa: Chỉ tiêu này có ý nghĩa rất quan trọng đối với chủ sở hữuhiện tại và chủ sở hữu tiềm tàng của doanh nghiệp, nó cho biết khả năng thunhập có thể nhận được khi họ đầu tư vốn vào công ty Tỷ số này thể hiện sứchấp dẫn của doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư tiềm tàng, nó rất hấp dẫn khi

so sánh với tỷ lệ sinh lời cần thiết trên thị trường (trái phiếu chính phủ)

 Tổng lợi tức sau thuế trên doanh thu:

- Công thức xác định:

Lợi tức sau thuế

Tổng lợi tức sau thuế trên doanh thu =

Doanh thu thuần

- Ý nghĩa: Tỷ số này phản ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp Tỷ

số này càng cao và doanh thu của doanh nghiệp càng lớn thì tiềm năng sinhlời càng lớn

Trên đây là 11 chỉ tiêu tài chính quan trọng được xét đến khi tiến hànhxếp hàng bất kì một doanh nghiệp nào

2.1.2 Các chỉ tiêu phi tài chính

2.1.2.1.Lưu chuyển tiền tệ

Nhóm này xét đến một số chỉ tiêu sau:

Hệ số khả năng trả lãi:

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Hệ số khả năng trả lãi =

Lãi vay

Trang 34

 Hệ số khả năng trả gốc:

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Hệ số khả năng trả gốc =

Nợ gốc – Lãi vay

Xu hướng của lưu chuyển tiền tệ thuần trong quá khứ

Trạng thái lưu chuyển tiền tệ thuần từ hoạt động

Tiền và các khoản tiền tương đương / Vốn chủ sở hữu

2.1.2.2.Năng lực và kinh nghiệm quản lí

Kinh nghiệm trong ngành của Ban Giám đốc

Môi trường kiểm soát nội bộ

Các thành tựu đạt được và thất bại trước đó của Ban Giám đốc

Trình độ chuyên môn của ban Giám đốc

2.1.2.3 Tình hình và uy tín giao dịch với các tổ chức tín dụng của doanh nghiệp

Trả nợ đúng hạn (trả nợ gốc)

Số lần giãn nợ hoặc gia hạn nợ

Nợ quá hạn trong quá khứ

Số lần cam kết mất khả năng thanh toán (thư tín dụng, bảo lãnh, cáccam kết khác,…)

Số lần chậm trả lãi vay

2.1.2.4 Môi trường kinh doanh

Triển vọng ngành

Thương hiệu của doanh nghiệp

Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp

Số lượng đối thủ cạnh tranh

2.1.2.5 Các đặc điểm hoạt động khác

Đa dạng hóa các hoạt động theo ngành, thị trường, vị trí

Trang 35

Thu nhập từ hoạt động xuất nhập khẩu (nếu có)

Sự phụ thuộc vào các đối tác (đầu vào/đầu ra)

Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp trong những năm gần đây

Vị thế của công ty

Trên đây là tổng hợp tất cả những chỉ tiêu phi tài chính có thể xét đến.Nhưng những chỉ tiêu này chỉ mang tính chất tham khảo, còn tùy thuộc vàođặc điểm của mỗi quốc gia, mỗi ngành nghề mà sử dụng chỉ tiêu nào cho hợp

lí Chẳng hạn như ở Việt Nam, Trung tâm Thông tin tín dụng chỉ xét đến 3 chỉtiêu cơ bản bao gồm: thời gian hoạt động của doanh nghiệp, số năm kinhnghiệm của Tổng giám đốc (Giám đốc), trình độ Tổng giám đốc (Giám đốc)

Trên đây là căn cứ để chấm điểm tín dụng cho các chỉ tiêu chung Theo

đó, các tổ chức xếp hạng tín dụng sẽ có kết luận cụ thể về quy mô của doanh

Trang 36

nghiệp là lớn, vừa hay nhỏ.

Nhìn chung, hệ thống 3 bộ chỉ tiêu trình bày ở trên được nhiều tổ chứcxếp hạng trên thế giới sử dụng để tiến hành chấm điểm tín dụng cho cácdoanh nghiệp Nhưng việc xác định trọng số cũng như mức điểm tương ứngcho từng chỉ tiêu là không giống nhau giữa các tổ chức xếp hạng khác nhaucũng như giữa các quốc gia khác nhau

Phần chấm điểm cụ thể sẽ được trình bày sau trong đó trình bày vềcách thức chấm điểm tín dụng của Trung tâm thông tin tín dụng- Ngân hàngNhà nước Việt Nam

2.2 Chấm điểm tín dụng dựa trên độ biến động (rủi ro) tài sản của doanh nghiệp

Mặc dù việc chấm điểm bằng hệ thống các chỉ tiêu chung, chỉ tiêu tàichính và phi tài chính để đánh giá, định mức chất lượng tín dụng của cácdoanh nghiệp được chấp nhận với mức độ tin tưởng khá cao nhưng hiện nayphương pháp này thể hiện một số hạn chế nhất định như: chưa đảm bảo đượctính khách quan, đầy đủ, nhất quán, đồng bộ do chưa có một hệ thống xếphạng tín dụng, chấm điểm tín dụng thống nhất trên toàn thế giới, và cũng chưa

có một hội đồng tín dụng bao gồm các chuyên gia hàng đầu trên thế giới đánhgiá Các chỉ tiêu đánh giá được lựa chọn và ấn định trọng số vẫn chưa cónhững minh chứng cũng như những căn cứ cụ thể Hơn nữa kết quả xếp hạngvẫn chưa thể hiện một cách rõ ràng về khả năng vỡ nợ của doanh nghiệp đượcxếp hạng

Chính vì thế, hiện nay nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng xây dựng cácphương pháp chấm điểm mang tính khách quan, thống nhất và có cơ sở líthuyết rõ ràng hơn Và phương pháp xếp hạng tín dụng dựa trên ý tưởng tínhtoán độ biến động của tài sản đã được hình thành Vì theo lí thuyết quản trị tàichính hiện đại nói chung, và lí thuyết quản trị rủi ro nói riêng thì độ biến động

Trang 37

của tài sản (mà độ lệch chuẩn hay phương sai của chuỗi số liệu về giá trị tàisản doanh nghiệp đặc trưng cho nó) được lựa chọn là đại lượng đo lường mức

độ rủi ro của doanh nghiệp Giá trị của phương sai hay độ lệch chuẩn nói ởtrên càng lớn thì độ rủi ro của doanh nghiệp càng cao Tuy ý tưởng phát triển

hệ thống xếp hạng theo hướng này dường như hợp lí hơn rất nhiều so vớiphương pháp chấm điểm dựa vào các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính ở trên,

vì nó dựa trên lí thuyết về xác suất thống kê, rủi ro được lượng hóa một cáchkhá rõ ràng, minh bạch và phù hợp với lí thuyết về rủi ro hiện đại Bởi vì, rõràng dưới giác độ hoạt động kinh doanh và đầu tư tài chính, rủi ro được địnhnghĩa một cách đơn giản và trực tiếp nhất là sự thay đổi không lường trướcđược về giá trị tài sản và khoản nợ Đối với một doanh nghiệp, quá trình hìnhthành và phát triển của nó thể hiện qua lượng tài sản doanh nghiệp có đượcqua các năm Vì thế, rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp thể hiện qua độbiến động của tài sản doanh nghiệp Mà theo lí thuyết kinh tế nói chung và líthuyết xác suất thống kê nói riêng thì phương sai hoặc độ lệch chuẩn là đạilượng đặc trưng cho độ biến động, độ dao động Việc sử dụng phương sai, độlệch chuẩn để ước tính rủi ro đã được thực hiện từ khá lâu trong lịch sử pháttriển của thị trường tài chính thế giới, các nhà phân tích thị trường và các nhàđầu tư tài chính đã tính toán phương sai của chuỗi lợi suất của cổ phiếu, tráiphiếu, các chứng khoán phái sinh và nhiều công cụ đầu tư khác Nhưng việc

sử dụng phương pháp tiếp cận này vẫn chưa được sử dụng rộng rãi, phổ biếntrong hệ thống xếp hạng tín dụng trên toàn thế giới

Hiện nay, đã có một loạt các mô hình đánh giá rủi ro của các doanhnghiệp, của các công cụ đầu tư đi theo hướng tiếp cận trên, đó là các mô hìnhcấu trúc Những mô hình này sẽ được trình bày chi tiết hơn trong chương II

Trang 38

III Nghiên cứu phương pháp đánh giá, cho điểm và xếp loại các doanh nghiệp đang được thực hiện tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (CIC)

1 Giới thiệu những công việc đang thực hiện tại CIC

Sau thời gian gần 4 tháng thực tập tại Trung tâm thông tin tín dụng (CIC), em đã tìm hiểu được về một số công việc, một số nghiệp vụchính đang được tiến hành tại Trung tâm Cụ thể, như sau:

1.1 Phân tích các chỉ tiêu tài chính

Cũng giống như các tổ chức xếp hạng tín dụng trên thế giới, CIC cũngtiến hành phân tích các chỉ tiêu tài chính của các doanh nghiệp dựa trên cácbảng báo cáo tài chính mà các doanh nghiệp cung cấp Công việc này đã đượcthực hiện tại CIC ngay từ những ngày đầu Trung tâm mới đi vào hoạt động.CIC cũng tiến hành phân tích 4 nhóm chỉ tiêu tài chính sau:

 Chỉ tiêu thanh khoản

 Chỉ tiêu hoạt động

 Chỉ tiêu cân nợ

 Chỉ tiêu lợi tức

Nội dung của từng nhóm chỉ tiêu tương tự như đã trình bày ở phần trên

Để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng của các kết quả phân tích các chỉ tiêutài chính thì việc phân tích chỉ tiêu tài chính được tiến hành theo quy trình sau:

 Xác định công thức đo lường chỉ tiêu phân tích

 Xác định số liệu từ báo cáo tài chính, đưa vào công thức tính

 Giải thích ý nghĩa của từng chỉ tiêu

 Đánh giá chỉ tiêu vừa tính toán

 Phân tích nguyên nhân, đưa ra biện pháp củng cố, cải thiện hay tiếptục duy trì chỉ tiêu vừa tính toán

Trang 39

1.2.Phân loại doanh nghiệp theo quy mô và theo ngành

Để tăng độ chính xác về điểm số cho các chỉ tiêu tài chính cần phântích của các doanh nghiệp, CIC tiến hành phân loại doanh nghiệp theo cácngành nghề sản xuất kinh doanh và quy mô khác nhau Cụ thể như sau:

1.2.1 Phân loại doanh nghiệp theo quy mô

CIC chia quy mô doanh nghiệp thành 3 loại, đó là: Quy mô nhỏ, quy

mô trung bình và quy mô lớn Các tiêu chí được sử dụng làm căn cứ phânchia quy mô doanh nghiệp, bao gồm 4 tiêu chí sau:

 Nguồn vốn kinh doanh

BẢNG 1.4 BẢNG CHẤM ĐIỂM CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ QUY MÔ DOANH NGHIỆP

Nguồn vốn kinh doanh

30252015105

Trang 40

Dưới 50 1Doanh thu thuần

4030201052Nộp ngân sách nhà

15129631Dựa trên kết quả đạt được về 4 tiêu chí trên của doanh nghiệp, CIC tiếnhành cộng tổng điểm của 4 tiêu chí trên Từ đó sẽ có kết luận về quy mô củadoanh nghiệp là lớn, trung bình hay nhỏ dựa vào bảng qui ước sau:

BẢNG 1.5 BẢNG MÔ TẢ ĐIỂM QUY MÔ DOANH NGHIỆP THEO QUY ƯỚC CỦA CIC

1.2.2 Phân loại doanh nghiệp theo ngành:

Việc phân loại theo ngành nghề phải căn cứ vào ngành nghề chính đăng

kí trên giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp Trong trườnghợp doanh nghiệp hoạt động đa ngành nghề thì phân loại sẽ dựa theo ngànhnghề mang lại tỷ trọng doanh thu lớn nhất cho doanh nghiệp

Về phía CIC, việc phân loại doanh nghiệp theo ngành được tiến hànhtheo hai hướng sau:

Ngày đăng: 17/04/2013, 15:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 1.5. BẢNG MÔ TẢ ĐIỂM QUY MÔ DOANH NGHIỆP THEO QUY ƯỚC CỦA CIC - Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
BẢNG 1.5. BẢNG MÔ TẢ ĐIỂM QUY MÔ DOANH NGHIỆP THEO QUY ƯỚC CỦA CIC (Trang 40)
BẢNG 3.2. CÁC LÃI SUẤT CHO VAY THOả THUẬN TRƯỚC CỦA NGÂN HÀNG ĐỐI - Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
BẢNG 3.2. CÁC LÃI SUẤT CHO VAY THOả THUẬN TRƯỚC CỦA NGÂN HÀNG ĐỐI (Trang 67)
BẢNG 3.8. BẢNG TẦN SUẤT CHUYỂN HẠNG TÍN DỤNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP - Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
BẢNG 3.8. BẢNG TẦN SUẤT CHUYỂN HẠNG TÍN DỤNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP (Trang 72)
BẢNG 3.10. BẢNG TẦN SUẤT CHUYỂN HẠNG TÍN DỤNG TỪ NĂM CỦA CÁC DOANH - Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
BẢNG 3.10. BẢNG TẦN SUẤT CHUYỂN HẠNG TÍN DỤNG TỪ NĂM CỦA CÁC DOANH (Trang 73)
BẢNG 3.16. MA TRẬN CHUYỂN HẠNG TÍN DỤNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆPNGÀNH - Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
BẢNG 3.16. MA TRẬN CHUYỂN HẠNG TÍN DỤNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆPNGÀNH (Trang 77)
BẢNG 3.18. BẢNG PHÂN PHỐI GIÁ TRỊ CỦA KHOẢN CHO VAY 2 - Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
BẢNG 3.18. BẢNG PHÂN PHỐI GIÁ TRỊ CỦA KHOẢN CHO VAY 2 (Trang 80)
BẢNG 3.20. BẢNG PHÂN PHỐI GIÁ TRỊ CỦA KHOẢN CHO VAY 4 - Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
BẢNG 3.20. BẢNG PHÂN PHỐI GIÁ TRỊ CỦA KHOẢN CHO VAY 4 (Trang 82)
BẢNG 3.25.BẢNG XÁC SUẤT CHUYỂN HẠNG CHUNG CỦA 2 DOANH NGHIỆP A VÀ D - Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
BẢNG 3.25. BẢNG XÁC SUẤT CHUYỂN HẠNG CHUNG CỦA 2 DOANH NGHIỆP A VÀ D (Trang 93)
BẢNG  3..26. BẢNG XÁC SUẤT CHUYỂN HẠNG CHUNG CỦA 2 DOANH NGHIỆP B VÀ C - Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
3..26. BẢNG XÁC SUẤT CHUYỂN HẠNG CHUNG CỦA 2 DOANH NGHIỆP B VÀ C (Trang 93)
BẢNG 3.27. BẢNG XÁC SUẤT CHUYỂN HẠNG CHUNG CỦA 2 DOANH NGHIỆP  B VÀ D - Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
BẢNG 3.27. BẢNG XÁC SUẤT CHUYỂN HẠNG CHUNG CỦA 2 DOANH NGHIỆP B VÀ D (Trang 94)
BẢNG 3. CHỈ SỐ ÁP DỤNG CHẤM ĐIỂM CHO CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC NGÀNH - Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
BẢNG 3. CHỈ SỐ ÁP DỤNG CHẤM ĐIỂM CHO CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC NGÀNH (Trang 116)
BẢNG 4. BẢNG CĂN CỨ ĐÊ KẾT LUẬN HẠNG TÍN DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP - Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
BẢNG 4. BẢNG CĂN CỨ ĐÊ KẾT LUẬN HẠNG TÍN DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP (Trang 118)
BẢNG 5. BẢNG KẾT QUẢ XẾP HẠNG TÍN DỤNG CỦA CÁC DOANH - Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
BẢNG 5. BẢNG KẾT QUẢ XẾP HẠNG TÍN DỤNG CỦA CÁC DOANH (Trang 119)
BẢNG 8. BẢNG KẾT QUẢ XẾP HẠNG TÍN DỤNG CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC - Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
BẢNG 8. BẢNG KẾT QUẢ XẾP HẠNG TÍN DỤNG CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC (Trang 121)
BẢNG 9. BẢNG KẾT QUẢ XẾP HẠNG TÍN DỤNG NĂM CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC - Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
BẢNG 9. BẢNG KẾT QUẢ XẾP HẠNG TÍN DỤNG NĂM CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC (Trang 122)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w