Các doanh nghiệp nhỏ và vừa này là một trong những nhấn tố đảm bảo sự ổn định và bền vững của nền kinh tế, tạo việc làm cho người lao động, khai thác và sử dụng có hiệu quả tiềm năng về
Trang 1
Số hóa bởi Trung tâm
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
-
DƯƠNG THU PHƯƠNG
Một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 2
Số hóa bởi Trung tâm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS ĐỖ QUANG QUÝ, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một công trình khoa học nào, các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm
ơn Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
DƯƠNG THU PHƯƠNG
Trang 3Tập thể các thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế trường Đại học KT & QTKD –
ĐH Thái Nguyên đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường
Các cán bộ Sở thống kê tỉnh Thái Nguyên cũng như các cán bộ trong phòng ĐKKD Sở kế hoạch và các doanh nghiệp nơi tôi liên hệ xin số liệu đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi và các đồng nghiệp thu thập số liệu
để hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học
Trang 4
Số hóa bởi Trung tâm
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất của mình tới thầy
giáo TS Đỗ Quang Quý đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình
thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học của mình
Và cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã ủng hộ động viên tôi để hoàn thành khóa học này đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
2.1 Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu
năm 2008 của Thái Nguyên
42
ngành nghề của tỉnh
53
doanh nghiệp
59
Trang 5
Số hóa bởi Trung tâm
doanh nghiệp Nông lâm nghiệp
61
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6
Số hóa bởi Trung tâm
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 9
2 Mục tiêu nghiên cứu 10
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4 Ý nghĩa khoa học của Luận văn hoặc đóng góp mới của đề tài 11
5 Bố cục luận văn 11
CHƯƠNG 1 12
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
Trang 7
Số hóa bởi Trung tâm
1.1 Lý luận chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa 12
1.1.1 Doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường 12
1.1.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa 13
1.1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
13 1.1.2.2 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp 15
1.1.2.3 Yếu tố tác động đến phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa
16 1.1.2.4 Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa
16 1.1.3 Kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của các nước 17
1.1.4 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam 19
1.1.4.1 Đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp nhỏ và vừa 19
1.1.4.2 Xu hướng phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa 22
1.1.4.3 Quan hệ với doanh nghiệp lớn 23
1.1.4.4 Ưu thế phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 24
1.1.4.5 Những tồn tại của doanh nghiệp nhỏ và vừa 25
1.1.5 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình phát triển kinh tế 27
1.1.5.1 Vai trò kinh tế 27
1.1.5.2 Vai trò xã hội 28
1.1.6 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp 31
1.1.7 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp 33
1.1.7.1 Vai trò kinh tế 33 1.2 Phương pháp nghiên cứu 37
1.2.1 Các câu hỏi đặt ra 37 1.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 37
CHƯƠNG 2 41
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 41 2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên 41
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 41 2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 45
2.2 Một số nét cơ bản về tình hình phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam trong thời gian qua 52
2.2.1 Tác động của hội nhập 53
2.2.2 Khả năng mở rộng thị trường 54
2.3 Một số nét cơ bản về hệ thống các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 55
2.3.1 Sự ra đời của các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông
Trang 8
Số hóa bởi Trung tâm
nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 55
2.3.2 Một số kết quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp 58 2.3.3 Số lượng và cơ cấu ngành nghề 59
2.4 Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp tại các doanh nghiệp điều tra 63
2.4.1 Quy mô doanh nghiệp 63
2.4.2 Công nghệ và áp dụng công nghệ trong sản xuất
71 2.4.3 Tổ chức quản lý 72
2.4.4 Tiêu thụ sản phẩm 75 2.4.5 Thu nhập của người lao động 77 2.4.6 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 78 2.5 Kết luận rút ra thực trạng phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên 81
2.5.1 Tiềm lực 81 2.5.2 Hiệu quả 83 CHƯƠNG 3 87
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 87
3.1 Định hướng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp 87
3.1.1 Quan điểm phát triển 87
3.1.2 Định hướng chiến lược phát triển 89
3.1.3 Các chỉ tiêu dự kiến
93 3.2 Một số giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới 95 3.2.1 Đơn giản hoá các quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký kinh doanh, gia nhập thị trường và các hoạt động của doanh nghiệp 95
3.2.2 Tạo điều kiện tiếp cận chính sách đất đai, mặt bằng sản xuất cho các doanh nghiệp 96
3.2.3 Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn, ưu tiên các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, hàng có giá trị gia tăng cao 97
3.2.4 Các chương trình hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực và cải thiện khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp 99
3.2.5 Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp 101
Trang 9
Số hóa bởi Trung tâm
3.2.6 Giải pháp đẩy mạnh công tác chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học,
kĩ thuật, công nghệ vào sản xuất 102 3.2.7 Quản lý thực hiện Kế hoạch phát triển doanh nghiệp
103
KẾT LUẬN 105
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử phát triển của các nước, các doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn có vai trò, tác dụng rất lớn và ngày càng được coi trọng Ở Việt Nam trong những năm gần đây, các doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập và gia tăng với tốc độ khá nhanh Các doanh nghiệp này đang ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của mình trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, làm năng động một nền kinh tế nhiều
nhiên, cùng với xu thế chung của tiến trình hội nhập, các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 10
Số hóa bởi Trung tâm
của Việt Nam đang đứng trước rất nhiều những khó khăn thách thức, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần tìm ra những hướng đi đúng đắn để có thể vững vàng trong cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thế giới Điều này đòi hỏi cần phải có cả
sự hỗ trợ từ phía Nhà nước với những chính sách ưu đãi và chiến lược thích hợp
Thái Nguyên, một tỉnh miền núi trung du phía Bắc, đang có những bước chuyển mình trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội Những năm gần đây, số lượng các doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Các doanh nghiệp nhỏ và vừa này là một trong những nhấn tố đảm bảo sự ổn định và bền vững của nền kinh tế, tạo việc làm cho người lao động, khai thác và sử dụng có hiệu quả tiềm năng về vốn, tay nghề
và những nguồn lực còn tiềm ẩn trong dân cư, phát triển các ngành nghề truyền thống, đảm bảo những công bằng lớn về kinh tế – xã hội, môi trường Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa này là các hộ gia đình, còn quá nhỏ bé và yếu ớt để có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp này còn thấp, tốc độ đổi mới công nghệ chậm, khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ do tiềm lực tài chính nhỏ, trong nhiều trường hợp còn phụ thuộc vào hướng phát triển của các doanh nghiệp lớn Muốn vậy, bên cạnh những chiến lược và hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa của nhà nước, tỉnh Thái Nguyên cũng cần có những giải pháp thiết thực để tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp này phát triển Với ý nghĩa lý luận và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên nói chung và phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn Tỉnh nói riêng,
tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp
nh ỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 112.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Đánh giá thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; đánh giá hiệu quả và tiềm năng phát triển của các doanh nghiệp này trong những năm tới
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đặc điểm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và vai trò, hiệu quả của các doanh nghiệp này đối với phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh
Trang 12
Số hóa bởi Trung tâm
- Về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại một số doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Về thời gian: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian gần đây, chủ yếu là giai đoạn 2006-2008, các số liệu điều tra trong năm 2008
4 Ý nghĩa khoa học của Luận văn hoặc đóng góp mới của đề tài
Đề tài tổng kết các kinh nghiệm về phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, đánh giá thực trạng phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trong giai đoạn 2005 –
2008, trên cơ sở chiến lược phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhà nước cùng với hệ thống các chính sách ưu đãi đặc biệt nhằm đưa ra một số kiến nghị để phát huy hết thế mạnh và đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng và của cả nước nói chung
5 Bố cục luận văn
Phần mở đầu
Chương 1: Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động
trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động
trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 13
Số hóa bởi Trung tâm
Phần kết luận
Trang 14
1.1 Lý luận chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1 Doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Theo Luật Công ty nước ta xác định: “Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh”
Theo Luật Doanh nghiệp mới 2006, thì “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”
Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất phong phú và đa dạng, được phân loại theo từng tiêu thức khác nhau:
Thứ nhất: Dựa vào quan hệ sở hữu về vốn và tài sản của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp nhà nước: là doanh nghiệp do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn
và quản lý với tư cách là chủ sở hữu
- Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do cá nhân đầu tư vốn và tự chịu trách nhiệm về toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 15
Số hóa bởi Trung tâm
- Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp: là doanh nghiệp đan xen của các hình thức sở hữu khác nhau trong cùng một doanh nghiệp như các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp cổ phần
Thứ hai: Dựa vào mục đích kinh doanh
- Doanh nghiệp hoạt động vì mục đích thu lợi nhuận: là một tổ chức kinh doanh được Nhà nước thành lập hoặc thừa nhận, hoạt động theo cơ chế thị trường và vì mục tiêu lợi nhuận
- Doanh nghiệp hoạt động công ích: là tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động
về sản xuất, lưu thông hay cung cấp các dịch vụ công cộng, trực tiếp thực hiện các chính sách xã hội của nhà nước hoặc thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc phòng Những doanh nghiệp này không vì mục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu là vì hiệu quả kinh tế xã hội
Thứ ba: Dựa vào lĩnh vực kinh doanh
- Doanh nghiệp tài chính: là các tổ chức tài chính trung gian như các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán,… là những doanh nghiệp có khả năng cung ứng cho nền kinh tế các dịch vụ về tài chính tiền tệ, tín dụng, bảo hiểm…
- Doanh nghiệp phi tài chính: là các tổ chức kinh tế lấy sản xuất kinh doanh sản phẩm làm hoạt động chính, bao gồm các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong các ngành nghề như: doanh nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, doanh nghiệp xây dựng cơ bản, doanh nghiệp dịch vụ…
Thứ tư: Dựa vào quy mô kinh doanh
- Doanh nghiệp lớn - Doanh nghiệp vừa
Trang 16
Số hóa bởi Trung tâm
- Doanh nghiệp nhỏ
1.1.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu Doanh nghiệp nhỏ và vừa được chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Theo tiêu chí của nhóm ngân hàng thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lao động từ 10 đến 50 người, còn doanh nghiệp vừa có
từ 50 đến 300 lao động Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa của nước mình
Cho đến nay, nước ta vẫn chưa có được một khái niệm thống nhất và hoàn chỉnh về doanh nghiệp nhỏ và vừa Các khái niệm được sử dụng trên thực tế hiện nay chỉ là khái niệm của các ngành, địa phương, tổ chức tự đưa ra nhằm phục vụ cho mục đích riêng của mình
Trong số các khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay ở nước ta thì khái niệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư được áp dụng rộng rãi nhất Khái niệm này phát biểu như sau:
"Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam là các chủ thể sản xuất kinh doanh được thành lập theo các qui định của pháp luật có qui mô về vốn hoặc số lao động phù hợp với qui định của Chính phủ"
Theo khái niệm này thì doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam không phân biệt thành phần kinh tế, bao gồm:
- Các doanh nghiệp có qui mô nhỏ và vừa thành lập và đăng ký theo
Luật doanh nghiệp Nhà nước
Trang 17
Số hóa bởi Trung tâm
- Các hợp tác xã có qui mô nhỏ và vừa đƣợc thành lập và đăng ký hoạt động theo luật hợp tác xã
- Các doanh nghiệp có qui mô nhỏ và vừa đƣợc thành lập và đăng ký theo Luật doanh nghiệp
- Cá nhân, nhóm sản xuất kinh doanh đƣợc thành lập và hoạt động theo Nghị định số 66- HĐBT (nay là Chính phủ)
cũng không thể giảm thiểu được rủi ro
Đầu tư nhiều hơn cho cơ sở hạ tầng cho sản xuất sẽ khuyến khích có
thêm nhiều doanh nghiệp, tạo thêm nhiều việc làm phi nông nghiệp cho người
dân địa phương Không chỉ đầu tư vào cây con giống mà còn tìm đầu ra cho
sản phẩm thì người dân mới yên tâm làm ăn, giảm bớt phần rủi ro trong chăn
nuôi, sản xuất Riêng các địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người
cần có nhiều chính sách ưu đãi hơn, tạo mọi điều kiện cho các hộ gia đình có
điều kiện phát triển kinh doanh tại địa phương Nếu huyện phát triển tốt cơ
sở hạ tầng, đầu tư đúng mức thì việc làm phi nông nghiệp mới có thể phát
triển được
* Cải thiện kết cấu hạ tầng
Để từng bước cải thiện đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của nông dân, điều cần thiết là phải cải tạo kết cấu hạ tầng ở nông thôn Cụ thể cần thực hiện một số công việc sau:
Đường giao thông có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu
quả sử dụng đất và phát triển sản xuất Do vậy, việc mở rộng các tuyến giao
thông liên xã tạo ra mạng lưới giao thông liên hoàn trong toàn huyện để giao
Trang 18
Số hóa bởi Trung tâm
lưu trao đổi hàng hóa, sản phẩm và khắc phục khó khăn cho nông dân là việc
làm hết sức cần thiết Trong tương lai, hệ thống giao thông nội huyện cần
phải được cải tạo nâng cấp để đạt được một số cơ bản sau:
- Xe cơ giới có trọng tải cao đi lại dễ dàng vào trung tâm tất cả các xã trong huyện
- Xe cơ giới trọng tải nhỏ, các loại máy công cụ phục vụ nông nghiệp hoạt động thuận tiện trên đồng ruộng
- Đường liên xã phải được rải nhựa, với bề rộng từ 5-7 mét mới có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển nói chung và vận chuyển sản phẩm nông nghiệp nói riêng
- Nâng cấp các công trình thủy lợi hiện có, xây dựng thêm một số công trình trọng điểm nhằm đảm bảo cung cấp nước để khai hoang tăng vụ và chuyển diện tích đất một vụ thành đất hai vụ
- Đầu tư vốn để từng bước hoàn chỉnh hệ thống dẫn nước từ kênh chính về các xã và xuống từng cánh đồng
- Hoàn thiện việc lắp đặt hệ thống cống, đặc biệt là cống nhỏ nội đồng
- Xử lý hệ thống tiêu nước cho những vùng đất bị úng nước mùa hè
- Mở rộng chợ nông thôn, hình thành và phát triển hệ thống dịch vụ vật tư kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu của người dân trong trao đổi hàng hóa và phát triển sản xuất
- Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống điện lưới, nâng cấp và tăng cường hệ thống thông tin, đặc biệt là hệ thống phát thanh tạo điều kiện cho người dân tiếp nhận thông tin khoa học kỹ thuật, phát triển sản xuất
Trang 19
Số hóa bởi Trung tâm
* Cơ chế chính sách
Từng xã, vùng phải xây dựng được quy hoạch sử dụng đất đai phù hợp với quy hoạch tổng thể về sử dụng đất của toàn huyện
Tạo điều kiện thông thoáng về cơ chế quản lý để các thị trường nông thôn
trong khu vực phát triển nhanh, nhằm giúp các hộ nông dân tiêu thụ sản phẩm
hàng hóa được thuận tiện
Phối hợp với các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và
dạy nghề đóng trên địa bàn thành phố để thực hiện có hiệu quả công tác đào
tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh doanh và trình độ khoa
học kỹ thuật của đội ngũ cán bộ địa phương, cũng như hiểu biết của nông
dân
Đưa các chính sách hợp lý về sử dụng đất đai của huyện để phát triển kinh
tế cho nông dân, phát triển kinh tế phải gắn với việc bảo vệ đất, bảo vệ môi
trường
Xây dựng và phát triển các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, tiếp tục cung ứng vốn cho các hộ nông dân
3.3.2.3 Phát triển ngành nghề phi nông nghiệp và nghề phụ
Một kinh nghiệm XĐGN hiệu quả nhất là tổ chức phát triển nghề phụ, phi nông nghiệp Bên cạnh hỗ trợ về vốn vay và tăng cường những hiểu biết về khoa học kỹ thuật chongười dân, việc khai thác các ngành nghề phi nông nghiệp và nghề phụ để người dân chủ động thêm các nguồn thu trong khi nông nghiệp chưa thể tăng sản lượng là rất cần thiết Phải biết tận dụng các nguồn lực sẵn có của hộ gia đình để phát triển kinh tế hộ Phải tạo điều kiện và khuyến khích để cho người nghèo học hỏi lẫn nhau phát triển các ngành nghề mới để giảm nghèo
Trang 20Sử dụng hợp lý các nguồn lực có nghĩa là biết cách phối hợp tốt nhất
các nguồn lực có hạn với nhau để phát huy tối đa việc sử dụng các nguồn lực
này mang lại kết quả cao nhất Thông qua việc sử dụng mô hình bài toán quy
hoạch tuyến tính với mục tiêu tối đa hoá thu nhập của hộ trên cở sở xắp xếp
bố trí lại việc sử dụng các nguồn lực trọng hộ một cách hợp lý giúp khai thác
tốt nhất lợi thế của các nguồn lực tự nhiên Đề tài sử dụng mô hình tĩnh trong
một năm để xây dựng phương án sử dụng tối ưu các nguồn lực trong hộ
*Kết quả
Mô hình được xây dựng dựa trên giả thuyết rằng người dân mong muốn
đưa ra những quyết định đúng đắn và tối ưu nhất trong thời gian tới Đồng
thời mô hình được xây dựng trên cơ sở các hoạt động thực tiễn đang diễn ra,
với các nguồn lực thực sự của các hộ gia đình đại diện cho hai vùng (vùng I
và vùng III) và mức sống khác nhau, mô hình cũng được xây dựng dựa trên
giả thuyết một số loại cây dài ngày như cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày
và cây lâm nghiệp sẽ được giữ nguyên như trong thực tế Kết quả của mô
hình được thể hiện qua các bảng sau:
Bảng 3.18: Sự so sánh giữa kết quả mô hình tối ƣu số liệu điều tra hộ
tại huyện Võ Nhai năm 2006
Chỉ tiêu Vùng I Vùng III
Trang 21
Số hóa bởi Trung tâm
Điều tra Mô hình tối Sự khác
Trang 22
Như vậy kết quả cho thấy nếu có sự kết hợp tối ưu giữa các nguồn lực trong các hoạt động của hộ nông dân sẽ giúp hộ có thu nhập cao hơn, cải thiện cuộc sống cho hộ nông dân
Vì vậy đề tài cũng khuyến cáo người dân lên xây dựng cho mình những mô hình tối ưu của sự kết hợp các nguồn lực trong hộ
* Nguồn lực sử dụng và sự kết hợp của các hoạt động
So sánh giữa kết quả điều tra thực tế của hộ và kết quả phân tích từ mô hình bài toán quy hoạch tuyến tính để thấy được sự kết hợp và những khác biệt giữa phương án tối ưu và những gì hộ gia đình đang áp dụng
Như kết quả phân tích phần thu nhập của hộ ở phương án sử dụng tối ưu các nguồn lực đã có thu nhập cao hơn nhiều so với thực
tế hiện nay điều này là nhờ có sự quy hoạch lại việc sử dụng và kết hợp giữa các nguồn lực trọng hộ như thể hiện trong bảng 3.19
Trang 23Tóm lại: Việc kết hợp sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý
sẽ giúp hộ có được thu nhập cao hơn bằng chính những nguồn lực hạn chế hiện nay mà hộ đang có, như vậy đây là một trong những giải pháp quan trọng mà các hộ có thể áp dụng, tuy nhiên vấn đề là khả năng áp dụng mô hình toán đòi hỏi phải có sự tham gia của các nhà khoa học quản lý
Trang 24Huyện có quỹ đất để phát triển nông lâm nghiệp đứng đầu tỉnh Với tổng diện tích tự nhiên là 84.510,41 ha, trong đó đất nông nghiệp có 9.738,65 chiếm 11,5% tổng diện tích tự nhiên; đất lâm nghiệp là 57.730,99 ha, chiếm 68,31% tổng diện tích đất tự nhiên Đây là nguồn tiềm năng có thể tận dụng và khai thác triệt để sản xuất nông - lâm nghiệp trên cơ sở khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý của huyện đảm bảo cho việc phát triển nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, đa dạng hóa cây trồng như cây công nghiệp lâu năm, cây công nghiệp
Nguồn nước còn hạn chế bởi phân bố không đều giữa các vùng rất gặp nhiều khó khăn cho sinh hoạt và sản xuất
Số lượng lao động ở các vùng sâu, vùng hẻo lánh (<16 tuổi) tình trạng các em nghỉ học để đi làm là khá cao Cơ cấu lao động
Trang 25của huyện thuộc dạng trẻ, tổng số lao động trong vùng chiếm 47,34%
Nguồn vốn nhiều hộ gia đình còn gặp khó khăn thiếu vốn trong sản xuất nên hiệu quả phát triển sản xuất không cao
Thu nhập bình quân trên/người/tháng (bình quân 291.600ngđ), tích lũy của hộ không đáng kể, cơ cấu thu nhập chưa hợp lý (chủ yếu từ trồng trọt) chi cho sản xuất đời sống còn thấp
Cơ sở hạ tầng nông thôn thấp kém Điều kiện sống gặp nhiều khó khăn, tư liệu sản xuất của hộ thiếu thốn
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn lực của các hộ gia đình Theo chúng tôi yếu tố mang tính nguyên nhân chính là: Thiếu chính sách cho phát triển nguồn nhân lực, tồn tại những quan niệm lạc hậu, trình độ học vấn của người dân còn thấp, tác động của môi trường xã hội, không có sự tham gia của các tổ chức
xã hội, qui mô gia đình cao Cần thực hiện tốt 5 giải pháp chủ yếu
để nâng cao chất lượng sử dụng nguồn có hiệu quả là:
- Nâng cao kiến thức chuyển giao công nghệ sử sụng khai thác phát triển các nguồn lực
- Hỗ trợ vốn sản xuất để khuyến khích người dân phát triển kinh tế
Trang 26bản, hoàn chỉnh mạng lưới điện hạ thế, tiếp tục đầu tư nâng cấp các công trình thủy lợi hiện có
- Cơ chế chính sách
+ Về tình hình sản xuất kinh doanh
Do việc thành lập các doanh nghiệp nhỏ và vừa tương đối dễ dàng cho nên trong trong những năm gần đây đã ra đời rất nhiều các loại hình doanh nghiệp này, các doanh nghiệp nhỏ và vừa với những ưu thế về việc kinh doanh không đòi hỏi quá nhiều vốn, lại thu hút được lượng lao động rất lớn Hơn nữa các doanh nghiệp này kinh doanh chủ yếu những mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống cho nên không đòi hỏi phải đầu tư công nghệ kỹ thuật máy móc nhiều mà thay vào đó là sử dụng lượng lao động với giá rẻ càng làm cho việc kinh doanh của các doanh nghiệp này tương đối dễ dàng và thông thoáng Các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất nhạy cảm với những thay đổi trong kinh doanh nhanh chóng nắm bắt các cơ hội kinh doanh mỗi khi có thể Một yếu tố nữa là do bộ máy tổ chức của các doanh nghiệp này tương đối gọn nhẹ cho nên mỗi khi ra các quyết định kinh doanh thường rất nhanh
Tuy nhiên cũng do thiếu vốn cho nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng thường bị mất đi các cơ hội kinh doanh do thiếu vốn, các doanh nghiệp nghĩ tới việc vay ngân hàng nhưng đợi cho tới khi ngân hàng cho vay vốn thì các cơ hội kinh doanh cũng đã qua đi Trình độ lao động thấp phương tiện kỹ thuật lạc hậu, trình độ quản lý chất lượng sản phẩm kinh doanh thấp cũng là những yếu tố làm cho sản phẩm của các doanh nghiệp này thường bị coi là kém chất lượng và làm ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
+ Về vốn
Trong hoàn cảnh chính sách tiền tệ thắt chặt, để phục vụ mục tiêu kiềm chế lạm phát, các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang lâm vào
Trang 27tình trạng thiếu vốn trầm trọng Và khi gặp khó khăn trong việc vay vốn từ ngân hàng thì việc chạy vạy vay mượn từ nhiều nguồn khác là tất yếu
Chính sách tài chính tiền tệ thắt chặt khiến cho lượng vốn cấp ra ít đi và lãi suất cao lên Năm 2007, tăng trưởng tín dụng 56%, nay giảm xuống 30%, lãi suất tăng từ 11% lên 20% Như vậy, doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn là chuyện đương nhiên Với điều kiện này, khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp đã khó nhưng khả năng sử dụng vốn cũng rất khó do lãi suất quá cao.[3]
Khoảng 20% doanh nghiệp khó có thể tiếp tục hoạt động Ngoài nhóm này, 60% thành viên hiệp hội đang chịu tác động của khó khăn kinh tế, nên sản xuất sút kém Lạm phát đang làm các công ty không kiểm soát được chi phí, mất thị trường và không đủ vốn để duy trì sản xuất 20% còn lại là các công ty chịu ít ảnh hưởng và vẫn trụ vững do trước nay ít phải nhờ đến nguồn vốn vay và được các nhà quản lý có kinh nghiệm dẫn dắt [1]
+ Về thị trường
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam, yếu tố thị trường còn chưa thực sự được đầu tư đúng mức
Kể từ khi ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, thị trường Việt Nam
sẽ ngày càng cởi mở hơn trong quá trình hội nhập, hàng hoá nước ngoài sẽ nhiều hơn, doanh nghiệp nước ngoài có tiềm lực mạnh sẽ vào phân phối , các doanh nghiệp trong nước phải đứng trước một thách thức hết sức to lớn đó là sự cạnh tranh gay gắt Thế nhưng một mặt các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chưa
có quy mô đủ để tạo ra những thương hiệu quốc tế, mặt khác lại chưa có sự chỉ đạo kết hợp trong khối các ngành nghề, các lĩnh vực kinh tế xã hội dẫn đến sự cạnh tranh yếu
+ Về công nghệ và thiết bị
Trang 28Hiện nay, xét về quy mô vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa thì số lượng vốn còn rất khiêm tốn, các doanh nghiệp thường đầu tư những thiết bị máy móc
cơ bản đủ để hoạt động sản xuất những sản phẩm thuần túy Chưa có sự khác biệt trong đầu tư về kỹ thuật công nghệ cũng như tạo ra những sản phẩm có tính ứng dụng cao, có thể xây dựng được thương hiệu mạnh
Mặt khác việc liên doanh liên kết cũng đã được các doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng trong những năm gần đây, việc liên kết sẽ giúp các doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất và kỹ thuật để sản xuất nhưng việc tạo ra những thương hiệu cho riêng mình thì thật sự là còn khó khăn
+ Về trình độ tổ chức quản lý
Trong một môi trường đầy cạnh tranh hiện nay, việc nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa đã trở thành vấn đề quốc sách của các nước Nhiều nước Á châu, điển hình là Singapore, từ năm
2001 đã đầu tư xây dựng và thực hiện chương trình quy mô lớn, bắt buộc tất cả các doanh nghiệp phải nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn nghiệp vụ, mặc
dù hiện nay họ đang chiếm lĩnh nhiều mặt trên thị trường thương mại thế giới Việc nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp cũng là một việc làm thường xuyên của phần đông các doanh nghiệp ở các nước tiên tiến
Ở nước ta, Nhà nước mới khuyến khích nhưng chưa chủ trương quyết liệt tài trợ cho doanh nghiệp nâng cấp trình độ chuyên môn Vì thế các doanh nghiệp phải tự lo nếu muốn chiến thắng trên thương trường, cần tham gia các lớp học quốc tế mới mong đạt ngang tầm quốc tế Trở ngại lớn nhất của nhiều giám đốc doanh nghiệp của chúng ta khi học tại các trường QTKD quốc tế là phải có vốn tiếng Anh lưu loát mới theo kịp các học viên khác trong lớp Trở ngại thứ hai là học phí quá cao đối với khả năng tài chính của doanh nghiệp
Và trở ngại thứ ba, rất có thể, là sự nhận thức của từng vị giám đốc doanh nghiệp
về tính cần thiết nâng cao liên tục trình độ của mình
Trang 29+ Chất lượng tay nghề của lực lượng lao động
Hiện này việc đào tạo đội ngũ lao động nghề cho các doanh nghiệp còn thiếu một cách trầm trọng Hơn thế nữa chất lượng đội ngũ lao động nghề còn chưa đáp ứng được với nhu cầu
Đa phần việc tuyển chọn sử dụng lao động trong các doanh nghiệp hiện nay đều dựa trên những tiêu chí phổ thông hoặc không cần tiêu chí Đội ngũ công nhân làm việc nhiều năm cũng không được nâng cao tay nghề vì chính sách của các doanh nghiệp không tập trung vào những đối tượng này
1.1.4.2 Xu hướng phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển và tăng trưởng với tốc độ cao, nền kinh tế thế giới và khu vực chuyển dần sang nền kinh tế tri thức, trong bối cảnh đó các doanh nghiệp nhỏ và vừa chịu tác động rất lớn từ môi trường kinh doanh Các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển theo ba xu hướng:
- Các doanh nghiệp sản xuất theo hướng chuyên môn hoá và hợp tác hoá sâu sắc Mỗi một doanh nghiệp tập trung sản xuất một sản phẩm mũi nhọn Các doanh nghiệp này sẽ không tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh mà thay vào đó là
sự hợp tác giữa nhiều doanh nghiệp trong việc tạo ra một sản phẩm chính Mỗi một doanh nghiệp chỉ sản xuất một hoặc vài chi tiết sản phẩm mà những chi tiết sản phẩm này của doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh
- Trong sản xuất các doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, các phát minh sáng chế làm tăng năng suất lao động cũng được
áp dụng vào sản xuất, do đó làm tăng hàm lượng công nghệ kỹ thuật hiện đại trong các sản phẩm
- Lao động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế tri thức có trình độ tay nghề cao và cùng vào đó là xu hướng sử dụng ít lao động trong sản xuất
Trang 30- Xu hướng kinh doanh hợp tác toàn cầu, ngày nay các doanh nghiệp đã
và sẽ kinh doanh vượt qua khỏi phạm vi một nước tìm kiếm thị trường rộng lớn trên thế giới Các hình thức thương mại điện tử, thư tín dụng, kinh doanh trên mạng đang phát triển mạnh trong những năm gần đây
Trong nền kinh tế tri thức các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt nam nói chung và ở Thái Nguyên nói riêng do mới được khuyến khích phát triển trong mấy năm gần đây nên cơ sở kỹ thuật trình độ còn hạn chế nhất là điều kiện tiếp xúc các thông tin về thị trường, sản phẩm, đối tác còn thấp cho nên rất khó khăn khi nền kinh tế nước ta hội nhập kinh tế thế giới và khu vực
1.1.4.3 Quan hệ với doanh nghiệp lớn
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có mối quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp lớn, nó vừa bổ sung, hỗ trợ, vừa nhận được sự trợ giúp từ các doanh nghiệp lớn, điều đó thể hiện qua các mối quan hệ sau:
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa vừa là nơi cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cho các doanh nghiệp lớn vừa là nơi tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá từ các doanh nghiệp này
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thiết lập các mối quan hệ với các doanh nghiệp lớn nhằm nâng cao trình độ tay nghề của người lao động
- Các doanh nghiệp lớn hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa về vốn, công nghệ và kỹ thuật
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa làm cơ sở sản xuất, chi nhánh, đại lý cho các doanh nghiệp lớn ở những nơi doanh nghiệp lớn không với tới được
- Thông qua các doanh nghiệp lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiêu thụ sản phẩm của mình ở những thị trường rộng lớn hơn
Trang 31- Doanh nghiệp lớn cung cấp thông tin về kinh doanh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận với nền kinh
tế tri thức
1.1.4.4 Ưu thế phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nếu như trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp ở nước ta doanh nghiệp nhỏ và vừa tồn tại, phát triển chủ yếu ở dưới hai loại hình doanh nghiệp hợp tác xã và doanh nghiệp nhà nước thì hiện nay chúng tồn tại, phát triển ở mọi ngành mọi thành phần kinh tế với các loại hình khác nhau như xí nghiệp quốc doanh nhỏ và vừa chiếm 85,7% tổng số xí nghiệp quốc doanh, 30% xí nghiệp liên doanh với nước ngoài, 80-90% các hợp tác xã, xí nghiệp tư nhân công ty TNHH công ty cổ phần
Thứ nhất: các doanh nghiệp nhỏ và vừa năng động linh hoạt trước những
thay đổi của thị trường đặc biệt là khả năng đáp ứng nhu cầu nhỏ lẻ có tính địa phương do doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng chuyển hướng kinh doanh và
chuyển hướng mặt hàng nhanh
Thứ hai: Nơi làm việc của người lao động có tính ổn định và ít bị đe dọa
mất nơi làm việc Thực tế này không những đúng với nước ta trong thời gian qua mà còn đúng với các nước khác trên thế giới Người lao động ở doanh nghiệp lớn sẽ dễ mất việc làm đặc biệt là khi có suy thoái kinh tế Chẳng hạn ở Đức giai đoạn 1970- 1987 các công ty lớn giảm nhân công ở con số 360.000 lao động (khoảng 10%) thì các doanh nghiệp nhỏ và vừa lại tạo ra số việc làm ở con
số 1,6 triệu người Ở các nước NIC giai đoạn 1985-1987, lao động trong các cơ
sở kinh doanh nhỏ chiếm 23-33% khu vực sản xuất Trong những năm 1980 ở
Mỹ số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng từ 500700 nghìn đơn vị tạo ra gần 20 triệu việc làm mới, trong khi đó riêng 500 công ty lớn ở Mỹ giảm đi 3,5 triệu chỗ làm việc Ở Trung Quốc từ năm 1979 đến 1987 gần 70 triệu người đã tìm được việc làm trong đó có sự đóng góp của hàng chục triệu doanh nghiệp
có qui mô nhỏ và vừa khắp thành thị và nông thôn Ở Việt Nam theo số liệu thống kê tính đến tháng 12/2007 số lao động được thu hút ở các doanh nghiệp
Trang 32nhỏ và vừa với các loại hình công ty cổ phần, công ty TNHH xí nghiệp tư nhân HTX đã đạt con số 5,6 triệu chiếm 21% lao động xã hội Các doanh nghiệp qui
mô nhỏ và vừa là các doanh nghiệp thu hút rất nhiều lao động có thể cùng lúc tạo ra rất nhiều công ăn việc làm góp phần giẩm bớt nạn thất nghiệp ở mỗi địa phương nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung Theo tư liệu mấy năm gần đây các doanh nghiệp công nghiệp chế tạo có cơ hội tạo công ăn việc làm cho người lao động tăng nhanh hơn các doanh nghiệp lớn Hơn nữa quan hệ giữa những người lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa khá chặt chẽ do đó
sự phối hợp để sản xuất dễ dàng và nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh
Thứ ba: doanh nghiệp nhỏ và vừa tổ chức sản xuất quản lý linh hoạt gọn
nhẹ, các quyết định quản lý được thực hiện nhanh, công tác kiểm tra điều hành trực tiếp, qua đó góp phần tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp
Vốn đầu tư ban đầu ít hiệu quả cao, thu hồi nhanh điều đó tạo ra sự hấp dẫn trong đầu tư sản xuất kinh doanh của nhiều cá nhân, mọi thành phần kinh
tế vào khu vực này
Doanh ngiệp công nghiệp nhỏ và vừa rất nhạy cảm với những thay đổi của thị trường Có thể nói khi nhu cầu thị trường thay đổi các doanh nghiệp này rất
dễ chuyển đổi các mặt hàng kinh doanh của mình theo thị trường cho phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng do việc đổi mới trang thiết bị công nghệ không đòi hỏi nhiều vốn Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể sản xuất sản phẩm có chất lượng tốt ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh có nhiều hạn chế Và một ưu điểm
mà không ai phủ nhận được đó là trong khi các doanh nghiệp có qui mô lớn rất
ít mạo hiểm đầu tư vào các lĩnh vực mới thì các doanh nghiệp qui mô nhỏ và vừa lại sẵn sàng đầu tư cả vào những lĩnh vực có độ rủi ro cao
1.1.4.5 Những tồn tại của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Song bên cạnh những đặc điểm thể hiện những ưu điểm trên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng có những đặc điểm gây nên những bất lợi như: Nguồn vốn tài chính hạn chế, đặc biệt là nguồn vốn tự có cũng như bổ sung để thực
Trang 33hiện quá trình tích tụ, tập trung nhằm duy trì và phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ kỹ thuật công nghệ còn yếu kém, lạc hậu, nhà xưởng nơi làm việc trực tiếp và trụ sở giao dịch quản lý của đa phần các doanh nghiệp rất chật hẹp khó khăn trong việc đầu tư công nghệ mới đặc biệt là công nghệ đòi hỏi vốn đầu tư lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả, hạn chế khả năng cạnh tranh trên thị trường Hơn nữa trình
độ quản lý nói chung và quản lý các mặt theo chức năng còn hạn chế Đa số các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa được đào tạo cơ bản, đặc biệt những kiến thức
về kinh tế thị trường về quản lý kinh doanh, họ quản lý bằng kinh nghiệm thực tiễn là chủ yếu Ngoài ra nước ta trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường do trình độ quản lý nhà nước còn hạn chế nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa bộc lộ những khiếm khuyết của nó trong hoạt động sản xuất kinh doanh như: trốn lậu thuế, một số doanh nghiệp còn trốn đăng ký kinh doanh hoặc kinh doanh không đúng như đăng ký, làm hàng giả, kém chất lượng, hoạt động phân tán khó quản lý Tuy còn có những hạn chế nhưng chúng ta không thể không thừa nhận vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế nước ta hiện nay
Chất lượng thấp của nguồn nhân lực ở khu vực sản xuất nông nghiệp thể hiện qua tỷ lệ không biết chữ là 4,79%, tốt nghiệp trung học phổ thông cơ sở là 34,59% và tốt nghiệp trung học phổ thông là 11,18% Nếu đánh giá trình độ văn hoá bình quân theo giới tính có thể thấy số năm đi học văn hoá trung bình của khu vực nông thôn thấp hơn thành thị, của phụ nữ thấp hơn nam giới Theo các nhà nghiên cứu, năng suất lao động sẽ tăng nếu người nông dân có trình độ học vấn ở mức độ nào đó, và nếu tốt nghiệp phổ thông, mức tăng này là 11% Ngoài
ra trình độ học vấn còn cho người lao động khả năng lĩnh hội những kiến thức, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh Với chất lượng của NNL nông thôn Việt Nam như vậy sẽ hạn chế họ trong sản xuất và kinh doanh, đặc biệt là tự tạo việc làm.[6]
Những năm qua trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn thay đổi không đáng kể, tình trạng thu nhập thấp và thiếu việc làm ở nông thôn, trong
Trang 34lúc đó thu nhập cao hơn ở các đô thị đã tăng sự dịch chuyển lao động, nhất là những lao động kỹ thuật từ nông thôn tới các thành thị, và làm cho tỷ lệ lao động
đã qua đào tạo giảm từ 6,91% xuống còn 5,94% Trong số 8 vùng nông thôn, những vùng có trình độ học vấn thấp cũng chính là những vùng có tỷ lệ lao động
đã qua đào tạo chuyên môn thấp, vùng Tây Bắc chỉ có 2,3%, Tây Nguyên là 3,41%
1.1.5 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình phát triển kinh
tế
1.1.5.1 Vai trò kinh tế
a Đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp kinh doanh với quy mô không lớn nhưng lại có khả năng rất năng động và nhạy bén trong các cơ hội kinh doanh, hơn nữa doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng đáp ứng được những nhu cầu nhỏ lẻ của thị trường, chính vì thế các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã đóng góp rất lớn vào kết quả hoạt động kinh tế, tạo môi trường tốt cho người lao động Tổng sản phẩm trong nước mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa mang lại khoảng 26%, khu vực kinh tế cá thể chiếm 34% còn lại là khu vực kinh tế Nhà Nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 40% Năm qua tốc
độ tăng trưởng bình quân GDP của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa khoảng 6,5% Hàng năm giá trị sản xuất của doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện được chiếm khoảng 31% tổng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp Khu vực ngoài quốc doanh là bộ phận quan trọng trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 78% tổng mức bán lẻ là 64% tổng lượng vận chuyển hàng hoá [7]
b Tạo sự năng động và hiệu quả cho nền kinh tế
Do số lượng doanh nghiệp tăng lên rất nhanh nên làm tăng tính cạnh tranh giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế đồng thời làm tăng số lượng và chủng loại hàng hoá dịch vụ trong nền kinh tế Ngoài ra các doanh nghiệp nhỏ và vừa
có khả năng thay đổi mặt hàng và công nghệ chuyển hướng kinh doanh nhanh
Trang 35chóng khi có những bất lợi ảnh hưởng tới quá trình kinh doanh, làm cho nền kinh tế năng động hơn Sự có mặt của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế có tác dụng hỗ trợ các doanh nghiệp lớn kinh doanh có hiệu quả hơn: làm đại lý vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, giúp tiêu thụ hàng hoá cung cấp các đầu vào như nguyên liệu thâm nhập vào mọi ngõ ngách thị trường mà các doanh nghiệp lớn không với tới được Một điều quan trọng là vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đó phần lớn là khu vực tư nhân chủ yếu chỉ đầu tư vào các ngành nghề có hiệu quả kinh tế cao hơn trong tương lai gần Do vậy việc tăng các cơ số này càng làm cho hiệu quả kinh tế cao hơn trong tương lai Tuy nhiên cần lưu ý là nếu các doanh nghiệp có qui mô quá nhỏ thì hiệu quả kinh tế
sẽ khó tăng lên được
c Khai thác tiềm năng phong phú trong dân cư
Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển kinh tế không chỉ
có đóng góp vào hoạt động kinh tế và làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả mà còn khai thác được những tiềm năng rất phong phú trong dân cư
Hiện nay còn nhiều tiềm năng trong dân chưa được khai thác: tiềm năng
về trí tuệ, tay nghề tinh xảo, lao động, vốn, điều kiện tự nhiên, bí quyết nghề quan hệ huyết thống, làng nghề với những hương ước nghề ngiệp Việc phát triển các doanh nghiệp sản xuất các ngành nghề truyền thống trong nông thôn hiện nay là một trong những hướng quan trọng để sử dụng tay nghề tinh xảo của các nghệ nhân mà hiện đang có xu hướng mai một dần, thu hút lao động nông thôn phát huy lợi thế của từng vùng để phát triển kinh tế
Hơn nữa ngày nay, việc thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa là tương đối
dễ dàng đã làm xuất hiện nhiều cá nhân và tập thể kinh doanh mà không gặp phải những khó khăn phức tạp do đó có thể khai thác được những tiềm lực nhỏ,
lẻ trong dân cư
1.1.5.2 Vai trò xã hội
Trang 36Không chỉ có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn có vai trò lớn với xã hội Trước hết các doanh nghiệp này đã giải quyết được công ăn việc làm cho lao động, góp phần tăng thu nhập, tăng mức sống của người dân và thu hút được nguồn vốn đầu tư nhàn rỗi
a Tạo việc làm cho người lao động
Việt Nam là một nước có cơ cấu dân số trẻ, tốc độ tăng trưởng của dân số
là trên 2% do vậy hàng năm có thêm khoảng hơn 1 triệu ngưới đến độ tuổi lao động có nhu cầu về việc làm Đó là chưa kể số người thất nghiệp và bán thất nghiệp do cơ cấu lại nền kinh tế, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước số quân nhân giải ngũ Thực tế vừa qua cho thấy, toàn bộ các doanh nghiệp nhà nước năm cao nhất cũng chỉ thu hút được khoảng 1,6 triệu lao động, nếu tính cả nhân viên của bộ máy Nhà Nước cũng chỉ có trên 2 triệu lao động Trong khi đó chỉ riêng kinh tế cá thể trong công nghiệp và thương mại đã thu hút gần 3,5 triệu lao động Các công ty và doanh nghiệp tư nhân thu hút gần nửa triệu lao động Chi phí trung bình để tạo ra một chỗ làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa khoảng 740.000 đồng chỉ bằng 3% so với các doanh nghiệp lớn
Riêng ở Thái Nguyên, số liệu điều tra từ năm 2006 đến năm 2008 của phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và đầu tư cho thấy số lao động trong 3 năm của các doanh nghiệp Nhà Nước là 38.474; 46.393; 63.503 lao động trong khi đó số lao động mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng là 21.700;29.670;45.565 lao động Qua số liệu trên cho thấy doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng có vai trò đặc biệt trong việc tạo việc làm cho người lao động và với chi phí thấp chủ yếu bằng vốn và tài sản của nhân dân, do đó cũng giảm đáng kể những tệ nạn xã hội xuất phát từ nạn thất nghiệp
Tuy vậy số lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa mới chỉ chiếm
12 đến 15% lực lượng lao động so với các nước khác trong khu vực chỉ tiêu này là 50 % đến 60% Như vậy tỷ lệ thu hút lao động của các doanh nghiệp nhỏ
và vừa ở nước ta còn thấp, tiềm năng của các doanh nghiệp này chưa được phát huy một cách đầy đủ
Trang 37b Đa dạng hoá và tăng thu nhập trong dân cư
Việt Nam là một nước nông nghiệp có năng suất của nền sản xuất xã hội cũng như thu nhập của dân cư thấp Thu nhập của dân cư nông thôn (chiếm trên 80% tổng dân số) chủ yếu phụ thuộc vào nền nông nghiệp thuần tuý Việc phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành thị cũng như ở nông thôn là phương hướng cơ bản nhằm tăng nhanh năng suất tăng thu nhập và đa dạng hoá thu nhập của dân cư Kết quả điều tra cho thấy thu nhập của dân cư vùng
có các doanh nghiệp phát triển gấp 4 lần thu nhập của các vùng thuần nông Kết quả khảo sát ở một số địa phương cũng cho kết quả tương tự Thu nhập bình quân của người lao động trong các doanh nghiệp khoảng 800.000 đồng đến 1,4triệu đồng/tháng cao hơn gấp 2 đến 3 lần thu nhập của nông dân
Điều không kém phần quan trọng là thu nhập dân cư đa dạng hoá vừa có ý nghĩa nâng cao mức sống dân cư vừa làm cho cuộc sống giảm bớt rủi ro hơn
nhất là ảnh hưởng lớn của thiên tai c Thu hút vốn
Vốn là nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế của cả nước cũng như đối với từng doanh nghiệp Nhờ có vốn mới kết hợp được các yếu tố khác như lao động, đất đai công nghệ và quản lý Thực tế cho thấy để đầu tư cho một chỗ làm việc ở Việt Nam trung bình phải mất 5 đến 10 triệu đồng tiền vốn Vốn có vai trò lớn trong việc đầu tư trang thiết
bị cải tiến công nghệ, nâng cao trình độ tay nghề của công nhân và trình độ quản
lý của chủ doanh nghiệp Hơn thế nữa vốn còn có vai trò trong việc mở rộng quy mô sản xuất Tuy nhiên có một nghịch lý hiện nay là các doanh nghiệp thiếu vốn trầm trọng trong khi vốn trong dân cư còn tiềm ẩn nhưng không huy động được Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó nhưng nguyên nhân chủ yếu
là do môi trường đầu tư chưa thật thuận lợi và ổn định Trong tình hình đó chính các doanh nghiệp nhỏ và vừa là người trực tiếp tiếp xúc với người cho vay gây được niềm tin nên có thể huy động được vốn hoặc chính người có tiền đứng ra đầu tư kinh doanh Theo số liệu điều tra của Thái Nguyên trong những năm từ 2006 đến tháng 3 năm 2008 thì số vốn đăng ký kinh doanh ở khu vực
Trang 38Nhà Nước giảm trong khi số vốn đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ
và vừa lại tăng lên rất nhanh Điều đó cho thấy càng ngày các doanh nghiệp nhỏ
và vừa càng chiếm được niềm tin và càng ngày càng thu hút được nhiều vốn trong kinh doanh
d Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Vai trò này của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có ý nghĩa đặc biệt với khu vực nông thôn Việc phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa có ý nghĩa lớn trong việc phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, xoá dần tình trạng thuần nông và độc canh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Hơn nữa sự phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
- Cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi, các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh
tăng lên nhanh chóng, các doanh nghiệp Nhà Nước được sắp xếp và củng cố lại kinh doanh có hiệu quả để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
- Cơ cấu ngành: Phát triển nhiều ngành nghề đa dạng phong phú (cả ngành
nghề hiện đại và ngành nghề truyền thống) theo hướng lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo
- Cơ cấu lãnh thổ: Các doanh nghiệp được phân bố đều hơn về lãnh thổ,
cả nông thôn và đô thị, miền núi và đồng bằng Tuy nhiên hiện nay các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn, kể cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Đây là vấn đề cần lưu tâm trong việc hoạch định chính sách
Ngoài ra doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò trong việc gieo mầm cho các tài năng kinh doanh Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với Việt nam, vì trong nhiều năm qua đội ngũ kinh doanh gắn liền với cơ chế bao cấp chưa có kinh nghiệp với kinh tế thị trường Sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa có tác dụng đào tạo thử thách chọn lọc qua thực tế các nhà kinh doanh trên mặt trận sản xuất kinh doanh Kết quả điều tra cho thấy 63,2% ý kiến cho rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh ở Việt nam [8]
Trang 391.1.6 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực
nông nghiệp
Tính đến tháng 06/2008 cả nước có khoảng 349.305 doanh nghiệp đăng
ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký trên 1.389.000 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 93.96% trên tổng số doanh nghiệp, doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp (chưa kể hợp tác xã) trong tổng số 176.765 doanh nghiệp ngoài quốc doanh Tổng số vốn đầu tư của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ước tính 844.551 tỷ đồng [9] Trên 90% các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam hiện đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn với quy mô lao động bình quân 10-200 lao động/doanh nghiệp
Quy mô huy động vốn của khối doanh nghiệp nông nghiệp, nông thôn này
đã đạt gần 30 tỷ USD, sử dụng gần 3 triệu lao động, tạo 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn (tương đương 26% lao động cả nước); đóng góp 49% GDP, 29% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ đạt khoảng 2%/năm trong khi tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp bình quân chung của cả nước là 20 - 25%/năm Bình quân khoảng 57.000 người dân sống ở khu vực nông thôn mới có 1 doanh nghiệp nông nghiệp, trong khi trên cả nước cứ trên 700 người đã có 1 doanh nghiệp Hạn chế lớn nhất ảnh hưởng đến việc phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực nông nghiệp là thiếu các cơ hội đầu tư, kinh doanh, môi trường đầu tư, chính sách ưu đãi hầu như không có hoặc rất khó triển khai, áp dụng.[4]
Nếu chỉ nhìn vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp, cả nước hiện có khoảng 1.100 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất, kinh doanh Như vậy, số doanh nghiệp nông, lâm nghiệp mới chỉ bằng xấp xỉ 1% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động Còn xét về mức vốn, hiện có khoảng 60% số doanh nghiệp nông, lâm nghiệp của Việt Nam có vốn dưới 10 tỷ đồng - quá nhỏ bé so với doanh nghiệp các nước trên thế giới và so với nhu cầu thực tế
Trang 40Thêm nữa, các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực nông nghiệp lại đang sử dụng những công nghệ, hệ thống máy móc, thiết bị cũ kỹ, lạc hậu Tỷ
lệ đổi mới trang thiết bị hàng năm chỉ đạt 5-7% (trong khi cả thế giới là 20%)
Hiện nay, nhà xưởng chế biến và kho tàng cất giữ nông sản của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chế biến nông, lâm sản của Việt Nam còn sơ sài và tạm bợ,
số nhà xưởng kiên cố chỉ chiếm khoảng 30% Hầu hết các doanh nghiệp vẫn áp dụng các công nghệ cũ, tỷ lệ cơ giới hoá chỉ chiếm trên 10%, số còn lại là sử dụng các trang thiết bị thủ công bán cơ giới Hầu như không có một doanh nghiệp nào áp dụng các trang thiết bị tự động hoá
Nhìn chung, các doanh nghiệp chế biến có quy mô nhỏ và vừa, năng lực cạnh tranh yếu, thiếu kinh nghiệm, thiếu vốn, khả năng tiếp cận với thị trường, thông tin thấp Thị trường của các doanh nghiệp ở khu vực nông thôn chủ yếu
là thị trường trong nước (chiếm tới 94%) trong khi tỷ lệ xuất khẩu chỉ chiếm 6% Bên cạnh đó, những khó khăn về cơ sở hạ tầng, nguồn lao động, vốn tín dụng, thuế, thủ tục hành chính khiến khu vực nông nghiệp, nông thôn chưa bao giờ là nơi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài
Một thực tế là các doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp ở khu vực nông thôn gặp rất nhiều khó khăn Số liệu thống kê là trong 10 năm liên tục, tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp nói chung của cả nước bình quân 2526%, nhưng tốc độ tăng trưởng các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp lại rất thấp, khoảng 2%/năm, tức là thấp hơn 10 lần [4]
Lý giải điều này là do đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp rủi ro nhiều, trong khi hiệu quả đem lại rất thấp, nên nhiều người còn e dè, chưa tham gia Bên cạnh đó, các lĩnh vực kinh doanh khác lại hấp dẫn và đem lại nhiều hiệu quả kinh doanh hơn, nên số các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn càng ít
1.1.7 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp