Thiều Quang Tuấn cùng sự hướng dẫn của các thầy cô giáo trong khoa Kỹ Thuật Biển em đã hoàn thành đồ án tốt nghiệp ‘‘Thiết kế đê chắn sóng cảng neo đậu và cửa Biển Mỹ Á – Giai đoạn II”
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau 14 tuần làm việc nghiêm túc, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Thiều Quang Tuấn cùng sự hướng dẫn của các thầy cô giáo trong khoa Kỹ Thuật Biển em
đã hoàn thành đồ án tốt nghiệp ‘‘Thiết kế đê chắn sóng cảng neo đậu và cửa Biển
Mỹ Á – Giai đoạn II”.
Khoảng thời gian làm đồ án tốt nghiệp là khoảng thời gian giúp chúng em tổng hợp lại tất cả các kiến thức bổ ích quan trọng đã được học tập, đồng thời là tiền
đề để chúng em tiếp cận với thực tế thiết kế các công trình Thủy Lợi Dưới sự chỉ bảo hướng dẫn của các thầy, cô giáo đã giúp em hệ thống lại toàn bộ lượng kiến thức đã học trong 4,5 năm qua và phần nào giúp em hiểu rõ hơn về vai trò, nhiệm
vụ của mình sau khi trở thành người kĩ sư Kỹ Thuật Biển
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Thiều Quang Tuấn đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong thời gian làm đồ án Em
xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Kỹ Thuật Biển đã giúp
đỡ, hướng dẫn em trong thời gian em làm đồ án và trong cả 4,5 năm học đã qua Xin cảm ơn toàn thể các bạn sinh viên trong lớp 51B2 đã giúp đỡ mình trong thời gian qua để mình hoàn thành được chương trình học và hoàn thành tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 3 tháng 1 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Đinh Văn Linh
Trang 3CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm địa hình, địa mạo của khu vực
Phía bắc giáp huyện Mộ Đức
Phía nam giáp huyện Hoài Nhơn của tỉnh Bình Định
Phía tây giáp huyện Nghĩa Hành, huyện Ba Tơ
Phía đông giáp biển Đông
Hình 1.1: Bản đồ khu vực nghiên cứu
Trang 41.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo của khu vực dự án
Huyện Đức Phổ có địa hình phức tạp, đa dạng, bị chia cắt mạnh, núi và đồng bằng xen kẽ, một số nhánh núi của dãy Trường Sơn chạy ra tận bờ biển Trên địa bàn Đức Phổ rải rác có các đồi núi, như núi Dâu, núi Cửa, một phần núi Lớn (núi Dầu Rái), núi Giàng, núi Bé, núi Xương Rồng, núi Chóp Vung, núi Nga, núi Mồ Côi, núi Diêm, núi Giàng Thượng, núi Giàng Hạ, núi Sầu Đâu, núi Khỉ, núi Chà Phun, núi Làng
Sông ngòi: Lớn nhất là sông Trà Câu, số còn lại chỉ là sông suối nhỏ bắt nguồn
từ huyện Ba Tơ chảy về với đặc điểm chung là diện tích lưu vực hẹp, sông nhỏ,
lòng dốc Sông Trà Câu bắt nguồn từ vùng đông nam huyện Ba Tơ, đoạn trên gọi là sông Ba Liên hay sông Vực Liêm, chảy theo hướng tây - tây bắc đến đông - đông nam rồi đổ ra cửa biển Mỹ Á Sông Trà Câu được coi là một trong những con sông
lớn của tỉnh Quảng Ngãi Sông Lò Bó bắt nguồn từ vùng núi phía nam huyện, có độ
cao 300m, chảy theo hướng tây nam - đông bắc, diện tích lưu vực khoảng 36km2,
chiều dài 27,8km Sông Thoa là chi lưu của sông Vệ, chảy qua địa bàn Mộ Đức và đông huyện Đức Phổ, hợp dòng ở hạ lưu với sông Trà Câu đổ ra cửa biển Mỹ Á
Sông Trường dài 4km, hợp với hạ lưu sông Lò Bó và cùng đổ ra cửa biển Mỹ Á Đồng bằng: Vùng dốc dọc sông Trà Câu, trên địa phận các xã Phổ Phong, Phổ
Thuận, Phổ Văn, Phổ An, Phổ Quang có đồng bằng tương đối rộng, là vùng trọng điểm sản xuất lúa của Đức Phổ Vùng đất nam sông Trà Câu đến núi Dâu và từ núi Dâu đến đèo Bình Đê chỉ có đồng bằng nhỏ hẹp, bị chia cắt, không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
Bờ biển, cửa biển: Đức Phổ có bờ biển dài trên 40km, có 2 cửa biển Mỹ Á và
Sa Huỳnh, là đầu mối giao thông đường thủy và là tụ điểm của nghề cá, đánh bắt và nuôi trồng hải sản
Đầm: Ở dọc ven biển Đức Phổ có hai đầm lớn là đầm Lâm Bình và đầm An
Khê Đây cũng là hai đầm đáng kể nhất trong toàn tỉnh Quảng Ngãi Đầm An Khê xưa còn gọi là đầm Cẩm Khê hay Phú Khê, nổi tiếng có nhiều cá
Có 3 dạng địa hình chính như sau:
Vùng bắc và nam sông Trà Câu có địa hình tương đối bằng phẳng, là vùng trọng điểm sản xuất lúa
Trang 5 Vùng nam sông Trà Câu đến núi Dâu có núi và đồng bằng xen kẽ, có nhiều sông, suối, địa hình phức tạp, chia cắt mạnh, độ dốc giảm từ tây sang đông, thường bị ngập úng vào mùa mưa.
Vùng nam núi Dâu đến đèo Bình Đê chủ yếu là đồi núi và có một số dãy núi chạy suốt ra bờ biển, có một ít đồng bằng nhỏ hẹp nằm cạnh các suối và xen kẽ với núi
1.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội
1.2.1 Điều kiện dân sinh
Huyện Đức Phổ từng có lớp cư dân cổ là chủ nhân của nền Văn hóa Sa Huỳnh (niên đại cách nay khoảng (2.500 - 3.000 năm) Đức Phổ có dân số, mật độ dân số trung bình so với các huyện đồng bằng của tỉnh Quảng Ngãi Tính đến năm 2005, thì tổng số có 34.934 hộ, dân số 140.593 nam, có 71.434 nữ, mật độ dân số 377 người/ km2
Dân tộc chủ yếu là dân tộc Kinh Khoảng 75% dân số sống bằng nghề
nông-lâm-ngư Huyện có hai cửa biển Mỹ Á và Sa Huỳnh, trục quốc lộ 1A và đường sắt
quốc gia xuyên qua Thống kê cho thấy có sự chênh lệnh khá lớn về số dân, mật độ dân số trong địa hạt huyện là do sự chi phối của địa hình, điều kiện tự nhiên hơn là
do nghề nghiệp.Về dân số, đông dân nhất là các xã Phổ Thạnh, Phổ Cường, Phổ Khánh, Phổ Thuận, Phổ An, Phổ Ninh.Về mật độ dân số, ngoài thị trấn Đức Phổ tập trung cao về mật độ, thì các xã Phổ Văn, Phổ Thuận thuộc hạng cao nhất nhưng lại
là các xã sống chủ yếu bằng nông nghiệp Các xã có số dân sống bằng ngư nghiệp là chính, như Phổ Thạnh, Phổ Quang, Phổ Vinh, Phổ An tuy mật độ dân số có cao nhưng không cao nhất như thường thấy, bởi trên địa bàn phần nhiều là đồi núi, độ dân cư sống mật tập theo từng khu vực nhỏ Các xã Phổ Phong, Phổ Nhơn, Phổ Hòa
có mật độ dân số khá thấp cũng vì đất đai trồng trọt ít và đồi núi chiếm phần lớn diện tích tự nhiên
Công tác dân số, gia đình, trẻ em được quan tâm đúng mức Tỷ lệ tăng dân số
tự nhiên hiện nay giảm còn 1,18%, đã tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ nhân đạo của các tập thể, cá nhân trong và ngoài tỉnh giúp trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn hòa nhập cộng đồng.Về lao động và các vấn đề xã hội, Đức Phổ hiện nay có trên 110.204 người trong độ tuổi lao động, hầu hết là làm nghề nông
Trang 6và ngư nghiệp Với một lực lượng lao động lớn như vậy cho nên lao động nông thôn hàng năm sử dụng không hết, tình trạng thừa lao động thiếu việc làm đặt ra khá cấp bách Thống kê cho thấy trong toàn huyện năm 2005 có đến 8.322 người trong độ tuổi có khả năng lao động không làm việc; 8.220 người trong độ tuổi có khả năng lao động không có việc làm; hàng năm có khoảng hơn 2.000 lao động
xã hội phải đi tìm việc làm
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Đức Phổ xuất phát từ kinh tế nông ngư lạc hậu, song có điều kiện tự nhiên và
xã hội để phát triển kinh tế khá toàn diện Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá nhanh, nhưng nông, lâm, ngư nghiệp (chủ yếu là nông nghiệp) vẫn chiếm tỷ trọng khá cao Các ngành kinh tế cơ bản như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch
vụ ngày càng phát triển, nhưng vẫn chưa chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế Đức Phổ dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ, giảm tỷ trọng nông - ngư - lâm nghiệp Tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp từ 58,3% năm 2000, năm 2004 giảm còn 52,4%, ngành dịch vụ từ 20,7% năm 2000 lên 25,7% năm 2004, công nghiệp - xây dựng từ 20,8% năm 2000 tăng lên 25,7% năm 2004 Đến năm 2005, nông - lâm - ngư nghiệp vẫn là lĩnh vực kinh tế quan trọng nhất của Đức Phổ, tổng giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản là 975.579 triệu đồng, trong đó thủy sản chiếm đến 370.667 triệu đồng, kế đến là nông nghiệp 247.034 triệu đồng, lâm nghiệp 11.442 triệu đồng Xét về lao động thì toàn huyện Đức Phổ năm 2005 có 81.460 người, trong đó lao động ở ngành nông lâm nghiệp là 56.261 người, ở ngành thủy sản là 8.538 người, công nghiệp và xây dựng là 7.191 người, dịch vụ là 9.470 người
Về Nông Nghiệp
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên ở Đức Phổ không thuận lợi như một số huyện khác trong tỉnh Quảng Ngãi cho sản xuất nông nghiệp, nhất là về độ phì nhiêu của đất đai và vấn đề nguồn nước tưới Trước năm 1945, nghề nông ở Đức Phổ có phương thức sản xuất lạc hậu, ruộng đất phần lớn tập trung trong tay địa chủ phong kiến Nghề nông trong thời kỳ này mang nặng tính chất tự cấp, tự túc Theo Quảng Ngãi tỉnh chí (Nam Phong tạp chí, 1933) của Nguyễn Bá Trác và các tác giả thì ở thời điểm này Đức Phổ có 13.244 mẫu 8 sào điền, 3.856 mẫu 9 sào thổ, trong đó có
Trang 7đất lúa 10.084 mẫu (3.630,24 ha), thu hoạch hằng năm được 6.280 tấn lúa trong tổng số 44.070 tấn của toàn tỉnh Năm 1932, Đức Phổ có 600 mẫu đất mía, 600 mẫu đất trồng khoai sắn Toàn huyện có 21 đập, tưới cho tổng diện tích khoảng 4.970 mẫu, lớn nhất là đập Vực Tre ở xã An Ninh tưới cho khoảng 500 mẫu, đập Liên Chiểu (ở Kim Giao), đập Làng (ở Diên Trường), đập Đồng Nghê (ở Nho Lâm và Hiển Văn), đập Đồng Đồ (ở Hòa Thịnh, Đông Ôn), đập Lâm Bình (ở Hiển Tây, Thanh Hiếu) mỗi đập tưới 400 mẫu.
Tính ở thời điểm năm 2005, sản lượng lương thực có hạt của Đức Phổ đạt 52.412 tấn (trong đó hầu hết là lúa), bình quân lương thực đầu người đạt
342 kg/người/năm(6) Về cây công nghiệp, mía có diện tích 1.512,5 ha, sản lượng đạt 73.351 tấn, cây mì có diện tích 1.282 ha, năng suất đạt 197,1 tạ/ha, sản lượng 25.265 tấn Cây đậu phụng có diện tích gieo trồng là 306 ha, năng suất bình quân 13,9 tạ/ha, sản lượng 426 tấn
Trong chăn nuôi, năm 2005 Đức Phổ có đàn trâu 1.234 con, đàn bò 29.469 con, lợn 58.817 con Trâu nuôi nhiều nhất ở xã Phổ Cường (635 con), các xã Phổ Văn, Phổ Thuận, Phổ Phong (đều trên 100 con); bò nuôi nhiều ở các xã Phổ Khánh (3.578 con), Phổ Phong (2.850 con), Phổ Thuận (2.765 con); lợn nuôi nhiều nhất ở các xã Phổ Ninh (6.700 con), Phổ Văn (6.530 con), Phổ Khánh (6.460 con), Phổ Thạnh (5.570 con)
Về Lâm Nghiệp
Xa xưa ở Đức Phổ phát triển một cách tự nhiên Rừng có diện tích khá lớn, động thực vật, lâm sản khá phong phú Những sản phẩm của rừng phần lớn phục vụ nhu cầu sinh hoạt của con người Trong kháng chiến chống Mỹ, rừng bị tàn phá nhiều, động thực vật cũng còn lại rất ít Ngày nay, lâm nghiệp được chú trọng và ngày càng phát triển tốc độ trồng rừng, như phủ xanh đất trống đồi núi trọc được đẩy mạnh, đặc biệt là rừng phòng hộ ven biển và các dự án trồng rừng đã và đang được triển khai có kế hoạch Năm 2003, diện tích rừng phòng hộ của Đức Phổ tại 4
xã là 1.839 ha Diện tích rừng trồng mới là 300 ha Năm 2004, trồng 856 ha, chăm sóc rừng 80 ha, trong đó có 100 ha rừng phòng hộ Sản lượng gỗ rừng trồng khai thác cả năm là 25.200 m3, độ che phủ rừng là 21% Tính đến năm 2005, trồng rừng
500 ha, chăm sóc rừng 1.459 ha, khoanh nuôi rừng tái sinh 2.246 ha
Về Ngư Nghiệp
Trang 8Đức Phổ có bờ biển khá dài và có hai cửa biển, thuận lợi cho ngư nghiệp phát triển Ngư nghiệp xưa nay được xem là một thế mạnh của huyện Từ xưa, nghề cá luôn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của nhân dân Đức Phổ Từ sau năm 1975, ngư nghiệp Đức Phổ đã được phát triển hơn trước, trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của ngành thủy sản Quảng Ngãi nói chung Bên cạnh việc đánh bắt và chế biến hải sản, ngư nghiệp còn có thêm một số nghề mới như: nuôi trồng thuỷ sản, nuôi tôm trên cát, nuôi cá nước ngọt trên các hồ nước Năm 2003, toàn huyện có 690 tàu đánh cá, sản lượng khai thác là 31.545 tấn cá, tôm, cua, hải sản khác, diện tích nuôi trồng thủy sản là 75ha, sản lượng nuôi trồng là 431,7 tấn Năm 2004, sản lượng thủy sản khai thác là 36.300 tấn; năm 2005 tăng lên 42.000 tấn, trong đó xã Phổ Thạnh chiếm 26.463 tấn, xã Phổ Quang 5.071 tấn, còn lại là các xã Phổ Vinh, Phổ Châu, Phổ An Năm 2005, Đức Phổ có số tàu đánh cá 1.050 chiếc với tổng công suất là 87.195CV, trong đó xã Phổ Thạnh cao tuyệt đối với 671 chiếc có tổng công suất 66.308CV, xã Phổ Quang có 195 chiếc với tổng công suất 8.824CV, còn lại 4 xã khác (Phổ An, Phổ Khánh, Phổ Châu, Phổ Vinh) số tàu đều dưới 100 chiếc và tổng công suất đều dưới 700CV Ngành nuôi trồng thủy sản ở Đức Phổ cũng nổi trội trong toàn tỉnh Quảng Ngãi Diện tích nuôi trồng thủy sản 304,3ha, trong đó diện tích nuôi tôm là 94,3ha (diện tích nuôi tôm trên cát 46,6ha, gấp 2,3 lần năm 2003) Sản lượng thủy sản nuôi trồng là 515 tấn, trong đó tôm 410 tấn Việc nuôi cá lồng ở các hồ, đầm ở các xã có hiệu quả Năm 2005, ngành nuôi trồng thủy sản vẫn tiếp tục phát triển, với diện tích 381ha, sản lượng 1.181 tấn hải sản, chủ yếu là tôm Các xã nuôi thủy sản mạnh nhất là Phổ Quang (diện tích 60,2ha tôm, sản lượng 489,4 tấn), Phổ Khánh 91,7ha (có 31,7ha tôm, sản lượng 280,7 tấn), Phổ Vinh, Phổ An, Phổ Minh, Phổ Hòa, Phổ Thạnh(8) Thủy sản là một ngành kinh tế mũi nhọn của Đức Phổ Đức Phổ luôn đứng đầu về sản lượng thủy sản so với các huyện khác, có số tàu thuyền cao nhất Trong tổng giá trị sản xuất thủy sản năm 2005, thì đánh bắt vẫn chiếm tỷ lệ vượt trội so với nuôi trồng (285,455 tỷ đồng so với 85,092 tỷ đồng), mặc dù ngành nuôi trồng thủy sản cũng khá phát triển.
Trang 9 Về Diêm Nghiệp
Sa Huỳnh là nơi sản xuất muối lớn nhất ở Quảng Ngãi Năm 1932 có 7.000 tấn muối được xuất cảng ra nước ngoài và nhiều nơi trong nước Hiện nay, Đức Phổ
có 100 ha ruộng muối, có khả năng sản xuất từ 10 - 15 nghìn tấn trong năm Song
do chưa tìm được thị trường tiêu thụ, giá cả không ổn định nên sản lượng muối sản xuất chỉ dừng ở mức 7.500 tấn năm 2004 và 8.000 tấn năm 2005
Về Công Nghiệp và Tiểu Thủ Công Nghiệp
Đức Phổ có nhiều cụm công nghiệp, làng nghề, như làng muối Sa Huỳnh,khu công nghiệp Phổ Phong, cụm công nghiệp Sa Huỳnh, cụm công nghiệp Đồng Làng Nghề thủ công cổ truyền đã có từ xưa ở Đức Phổ như: nghề dệt ở Thạch Bi (Sa Huỳnh); nghề gốm ở Thanh Hiếu, Chỉ Trung; nghề mộc, nghề đan võng ở Hội An,
Mỹ Thuận; nghề bạc bịt tháp, chén khay đĩa ở Chỉ Trung Ở vùng biển có các nghề: làm cá khô, tôm khô, mực khô, nước mắm, đan lưới, đánh nhợ ở Sa Huỳnh Ngoài
ra còn có các nghề như: nghề nấu đường thủ công, nghề làm bún, làm bánh tráng Ngày nay có nhiều nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp như: sản xuất vật liệu xây dựng, gạch ngói, đá chẻ, đá hoa, đóng và sửa chữa tàu thuyền Tiểu thủ công nghiệp phát triển các làng nghề: làm chổi đót ở Phổ Phong, Phổ Thuận, Phổ Văn; làm gốm ở Phổ Khánh Ở xã Phổ Phong đã hình thành khu công nghiệp Tại Phổ Phong có nhà máy đường có công suất trên 1.000 tấn/ngày, nhà máy gạch ngói Phổ Phong sản xuất 14 triệu viên/năm
Năm 2004, giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của Đức Phổ đạt 225,076 tỷ đồng, trong đó khu vực ngoài quốc doanh đạt 128,752 tỷ đồng, tàu thuyền đóng mới 30 chiếc, sản lượng muối ráo đạt 7.500 tấn, sản xuất đá xây dựng đạt 74.600m3, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện 97% Năm 2005, giá trị sản lượng công nghiệp tăng lên 302,670 tỷ đồng, trong đó khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm 192,623 tỷ đồng Sản xuất công nghiệp cá thể có 2.209 cơ sở với 5.820 lao động.Mục tiêu từ năm 2006 - 2010, Đức Phổ sẽ ưu tiên xây dựng 3 vùng kinh tế động lực: phát triển trung tâm thị trấn Đức Phổ lên đô thị loại IV để thành lập thị xã Đức Phổ, xây dựng vùng kinh tế văn hóa Sa Huỳnh và khu công nghiệp Phổ Phong, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của Đức Phổ nói riêng, của tỉnh Quảng Ngãi nói chung
Trang 10 Về Thương Mại và Dịch Vụ
Việc buôn bán xưa ở Đức Phổ thường diễn ra ở các chợ, như chợ Trà Câu, chợ Cây Chay, chợ Bàu Cối, chợ Giếng Thí, chợ Sa Huỳnh Việc mua bán lúc bấy giờ mang tính tự cấp, tự túc trong một khu vực, ít mang yếu tố buôn bán chuyên nghiệp Cũng có một số người đi buôn núi, lên giao lưu trao đổi hàng hóa với bà con người Hrê trên nguồn Ba Tơ và một số người sắm ghe bầu đi buôn vào Nam, ra Bắc Thương mại ngày nay phát triển nhờ hệ thống các chợ xã, có ba trung tâm thương mại của huyện là thị trấn Đức Phổ, thị tứ Sa Huỳnh (ở phía nam) và thị tứ Trà Câu (ở phía Bắc)
Năm 2004, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ của Đức Phổ đạt 487,6 tỷ đồng, năm 2005 là 580,25 tỉ đồng Toàn huyện có 4.452 cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ (trong đó có 2.492 cơ sở bán lẻ) với 5.172 lao động Một đề án phát triển thương mại - dịch vụ - du lịch sẽ được thực hiện trong thời gian đến, giúp dịch vụ du lịch phát triển đúng hướng và phát huy được tiềm năng, đạt hiệu quả cao nhất trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện
1.3 Đặc điểm khí hậu, khí tượng, thủy hải văn, môi trường
1.3.1 Đặc điểm khí hậu, khí tượng
Đức Phổ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa mưa nắng rõ rệt, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, mùa khô từ tháng 01 đến tháng 8 Có 2 mùa gió chính
là gió mùa đông với hướng gió thịnh hành là tây bắc đến bắc và gió mùa hạ với hướng gió chính là đông đến đông nam
a. Chế độ gió
Gió ở thành phố Quảng Ngãi khoảng 25% Để đánh giá chế độ gió tại khu vực
dự án đơn vị tư vấn đã tiến hành thu thập số liệu gió quan trắc tại trạm khí tượng Quảng Ngãi trong thời kỳ 1975 - 1994 Nhìn chung, số liệu tổng hợp nhiều năm cho thấy thời gian lặng gió trong năm chiếm gần 50%, cấp tốc độ gió từ 1 - 4m/s chiếm 45,6%, cấp tốc độ gió 5 - 9m/s chiếm 4,6% còn vận tốc gió trên 10 m/s chủ yếu xuất hiện trong bão
Gió có hướng Bắc và Tây - Bắc thịnh hành vào các tháng 01, tháng 10, tháng 11
và tháng 12
Gió hướng Đông và Đông Nam thịnh hành vào các tháng từ tháng 03 đến tháng 08
Trang 11 Các tháng 02 và tháng 09 là thời kỳ chuyển tiếp giữa các mùa gió nên gió có nhiều hướng tản mạn.
Tốc độ gió lớn nhất trong nhiều năm quan trắc được là 28m/s theo hướng Đông, Đông - Bắc xuất hiện vào ngày 22/10/1996
Gió tại cửa Mỹ Á nhìn chung mạnh hơn so với tại thành phố Quảng Ngãi do vị trí ở bờ biển Gió ngoài khơi biển Đông sẽ mạnh hơn
b. Tình hình giông bão
Quảng Ngãi là khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của giông bão, có năm tới 4 - 5 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến Quảng Ngãi như các năm 1984 và 1990 Số lượng các cơn bão đổ bộ vào miền trung trong những năm gần đây có xu hướng tăng lên
rõ rệt Tình hình các cơn bão ảnh hưởng đến tỉnh Quãng Ngãi được liệt kê như trong bảng dưới đây
Bảng 1.1: Các cơn bão ảnh hưởng đến Quảng Ngãi
c. Chế độ gió
Gió cực hạn tại Mỹ Á được xác định trên cơ sở Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 2737:1995 Mỹ Á thuộc vùng 3 Tốc độ gió lớn nhất trong bão đo được tại trạm Quảng Ngãi là 42m/s với khí áp thấp nhất đo được là 978mb (Cơn bão số 14 AGNES ngày 07/11/1984) Tốc độ gió tại thời điểm trên ở Mỹ Á có khả năng cao hơn
Trang 12 Trong thời gian từ năm 1975 đến 2001, có tổng số 38 cơn bão đổ bộ vào Quảng Ngãi với tần suất hàng năm khoảng 1,5 cơn bão Trong năm ngoái (2006), có ít nhất 2 cơn bão đã ảnh hưởng trực tiếp đến Quảng Ngãi, trong đó có cơn bão số 6 gây nhiều thiệt hai khi tâm bão đi qua Các cơn bão có ảnh hưởng đến Quảng Ngãi được thống kê trong bảng 1.1
Theo tiêu chuẩn Việt nam TCVN 4088 - 85 về số liệu khí hậu dùng trong thiết kế xây dựng trang 42/208, gió tính toán thiết kế đặc trưng tại vùng Quảng Ngãi được thống kê trong bảng 1.2
Bảng1.2: Vận tốc gió theo chu kỳ lặp vùng Quảng Ngãi
Bảng 1.: Đặc trưng nhiệt độ không khí trạm Quảng Ngãi (t o C)
TTB 21,5 22,5 24,2 26,5 28,3 28,8 28,6 28,5 27,1 25,6 23,8 21,9 25,6
Tmax 32,5 35,3 35,2 38,7 39,5 40,5 38,1 38,7 37,6 34,5 32,4 30,2 40,5
Tmin 12,4 14,1 13,4 18,6 21,4 22,4 22,4 21,4 21,7 17,1 16,4 13,8 12,4
- Nhiệt độ cao nhất quan trắc được là 40,5oC vào ngày 05/06/1983
- Nhiệt độ thấp nhất quan trắc được là 12,4oC vào ngày 30/01/1993
e Độ ẩm
Số liệu tổng hợp nhiều năm (20 năm) như sau:
Độ ẩm tương đối trung bình nhiều năm: 84%
Độ ẩm tương đối thấp nhất: 37%
Độ ẩm tương đối cao nhất: 100%
Độ ẩm tuyệt đối trung bình nhiều năm: 28,0mb
Độ ẩm tuyệt đối lớn nhất: 37,4mb
Trang 13 Độ ẩm tuyệt đối nhỏ nhất: 12,9mb
Diễn biến độ ẩm theo các tháng được tập hợp trong bảng 1.4 và bảng 1.5
Bảng 1.4: Diễn biến độ ẩm tương đối U% và độ ẩm tuyệt đối E mb
Theo số liệu tổng hợp nhiều năm (20 năm):
Trong năm có khoảng 25 ngày có sương mù và 40 ngày mù trời thường xuất hiện vào các tháng mùa lạnh (Tháng 02, tháng 03, tháng 04)
Trong năm có khoảng 345 ngày có tầm nhìn xa trên 10km, có khoảng 17 ngày
có tầm nhìn từ 1 - 10km và có khoảng 3 ngày tầm nhìn dưới 1km Trong các tháng 05, 06, 07, 08 tầm nhìn trên 10km (Tham khảo bảng 3.6)
Bảng 1.: Thống kê số ngày có sương mù (Số liệu nhiều năm)
Tháng đặc
Sương mù 2,6 5,5 7,0 3,8 1,4 0,7 0 0 1,0 1,3 0,7 1,2 25,2
Mù trời 6,1 8,9 11,9 7,1 0,9 0,3 0 0 0,4 0,9 1,1 2,3 39,9
Trang 14g Chế độ mưa
Theo số liệu tổng hợp nhiều năm (20 năm):
Bình quân hàng năm có 157 ngày có mưa, các tháng 10, 11 và 12 có nhiều ngày mưa nhất trong năm, bình quân nhiều năm của các tháng này có tới 21 - 22 ngày
có mưa
Các tháng 03 và 04 là các tháng có ít ngày mưa nhất, chỉ có 06 ngày có mưa
Lượng mưa ngày lớn nhất đo được là 429,2mm vào ngày 19/11/1987
Lượng mưa trung bình nhiều năm là 2.171,5mm, riêng năm 1981 có lượng mưa năm lên tới 3.052,0mm là năm có lượng mưa lớn nhất trong 20 năm có số liệu
Lượng mưa tháng, trung bình năm và số ngày có mưa được thống kê trong các bảng II - 7 và II - 8 và II - 9
Bảng 1.: Lượng mưa tháng và bình quân năm trạm Quảng Ngãi (mm)
Trang 151.3.2 Đặc điểm thủy hải văn và môi trường
a. Sóng khí hậu
Từ chuỗi quan trắc sóng trong 14 năm ngoài khơi khu vực dự án, xây dựng được biểu đồ hoa sóng khí hậu như sau:
Hình 1.2: Hoa sóng khí hậu ngoài khơi của cửa biển Mỹ Á – Quảng Trị
Từ biểu đồ hoa sóng ta thấy có các hướng sóng chính: NNE, NE, ENE, E và
E, SE, S Do đó ta có thể nhận thấy rằng: các hướng sóng NNE và NE chiếm % xuất hiện lớn và các con sóng có chiều cao lớn cũng xuất hiện theo các hướng này Đê chắn sóng phía bắc của khu neo đậu cửa biển Mỹ Á khi thiết kế, bố trí tuyến đê sao cho phải đảm bảo được khả năng che chắn được các hướng sóng: NNE, NE, ENE,
E Tương tự với tuyến đê Nam được che chắn các hướng sóng: E, SE, S
Trang 16Bảng 1.8: Bảng số liệu sóng nước sâu ngoài khơi khu vực dự án từ
b. Nước dâng trong bão
Mực nước dâng trong bão được xác định trên cơ sở Tiêu chuẩn ngành 14 TCN130-2002 Đối với khu vực Quảng Ngãi, mực nước dâng trong bão là 1,5m
Dọc theo bờ biển miền Trung hướng dòng chủ đạo là hướng từ Bắc xuống Nam trừ thời kỳ gió mùa Tây Nam trong mùa hè dòng có hướng ngược lại Tốc độ dòng chảy không lớn, tối đa chỉ khoảng 0.7m/s
Thủy triều
Thủy triều tại cửa Mỹ Á có biên độ nhỏ, chế độ triều hỗn hợp với phần lớn là nhật triều Chế độ triều ở Mỹ Á tương đối giống với Tam Quan – Bình Định cách 60km về phía nam Các thông số mực nước triều thể hiện như sau:
Mực nước triều lớn nhất +0,75 Mực nước cao có nghĩa +0,25 Mực nước trung bình -0,25 Mực nước thấp có nghĩa -0,55 Mực nước thấp nhất -1,25
Độ lớn triều trong khoảng 1,02 m
Trang 171.4 Đặc điểm địa chất và điều kiện vật liệu xây dựng
1.4.1 Điều kiện địa chất
Theo Báo cáo kết quả khảo sát địa chất công trình do Viện xây dựng công trình biển lập tháng 07/2007, điều kiện địa chất tại khu vực xây dựng tương đối tốt
để xây dựng công trình Trong phạm vi khảo sát sâu 30m có tối đa đến 7 lớp đất, chủ yếu là các cát lớp sét và sét pha cát, có tính chất cơ lý ít biến đổi
Đơn vị khảo sát địa chất công trình đã tiến hành khoan tại 8 vị trí, kết quả mặt cắt địa chất công trình bao gồm các lớp đất như sau:
• Lớp 1 – Cát hạt thô, rác sinh hoạt
• Lớp 2a – Cát hạt thô, trung màu vàng, xám vàng, ghi xám, kết cấu kém chặt
+ Khối lượng riêng (tn): 2,65 g/cm3
+ Hệ số rỗng (eo): 0,805
+ Góc nghỉ khi khô (K): 32O27’
+ Góc nghỉ khi ướt (Ư): 23O29’
+ Áp lực tính toán qui ước (Rqư): 1,20 KG/cm2
• Lớp 2b – Cát hạt thô, trung màu vàng, xám vàng, ghi xám, kết cấu chặt vừa
+ Khối lượng riêng (tn): 2,65 g/cm3
+ Hệ số rỗng (eo): 0,805
+ Góc nghỉ khi khô (K): 32O39’
+ Góc nghỉ khi ướt (Ư): 22O34’
+ Áp lực tính toán qui ước (Rqư): 1,70 KG/cm2
• Lớp 3a – Sét pha nhẹ màu xám nâu, xám đen, xám ghi, trạng thái dẻo chảy đến
chảy
+Độ ẩm tự nhiên (W): 24,19 %+Khối lượng thể tích (): 1,84 g/cm3
+Khối lượng thể tích khô ( K): 1,48 g/cm3
+Khối lượng riêng ( tn): 2,68 g/cm3
+Hệ số rỗng (e o): 0,802+Độ rỗng: 55,5 % +Độ bão hòa: 80,7 %+Chỉ số dẻo (I p): 9,88
Trang 18+Độ sệt (I s):0,87+Lực dính (C); 0,076 KG/cm2
+Góc ma sát trong (φ):7 o31’
+Áp lực tính toán qui ước (R qư): 0,56 KG/cm2
• Lớp 3b – Sét pha nhẹ màu xám nâu, xám đen, trạng thái dẻo mềm
+Độ ẩm tự nhiên (W): 24,65 %+Khối lượng thể tích (): 1,93 g/cm3
+Khối lượng thể tích khô ( K): 1,54 g/cm3
+Khối lượng riêng ( tn): 2,68 g/cm3
+Hệ số rỗng (e o): 0,732+Độ rỗng: 57,7 % +Độ bão hòa: 90,1 %+Chỉ số dẻo (I p): 10,10+Độ sệt (I s):0,62
+Lực dính (C); 0,137 KG/cm2
+Góc ma sát trong (φ):9 o42’
+Áp lực tính toán qui ước (R qư): 1,80 KG/cm2
• Lớp 4 – Cát hạt thô lẫn sạn, xám vàng nâu, xám kết cấu chặt vừa đến chặt
+Khối lượng riêng ( tn): 2,65 g/cm3
+Góc nghỉ khi khô ( K): 32O39’
+Góc nghỉ khi ướt ( Ư): 23O45’
+Áp lực tính toán qui ước (R qư): 1,80 KG/cm2
• Lớp 5 – Đá granit màu xám trắng, xám xanh, nhét cát pha
• Lớp 6 – Đá granit màu xám ghi, xám trắng cấu tạo khối, ít nứt nẻ
+Độ ẩm bão hòa (W): 1,51 % +Dung trọng bão hòa (): 2,62 g/cm 3
+Dung trọng khô ( K): 2,58 g/cm3
+Khối lượng riêng ( tn): 2,77 g/cm3
+Tỷ lệ khe hở (e): 0,073+Độ khe hở: 7,4 %+Độ bão hòa: 52,60 %
Trang 19+Cường độ kháng nén khô: 1154 KG/cm 2
+Cường độ kháng nén bão hòa: 1120 KG/cm 2
1.4.2 Điều kiện địa chất
Xét về về vị trí địa lý thì các mỏ đá ở Việt Nam nói chung và ở Quảng Ngãi nói riêng là tương đối nhỏ và hầu như là không có các khối đá lớn.Cho nên việc sản xuất chế tạo các cấu kiện bên ngoài để bảo vệ lớp mái đê là rất khó khăn
Tuy nhiên ở khu vực Quảng Ngãi, theo thống kê thì có gần 100 mỏ khai thác khoáng sản trong đó phần lớn là khai thác đá là chủ yếu như ở bãi đá Núi Dâu, Hàng Ngang Mặc dù vậy số lượng đá vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu xây dựng vật liệu đắp đê
1.5 Giao thông vận tải và vận tải qua tuyến luồng
Giao thông: Đức Phổ có đường Thiên Lý Bắc - Nam sau này là Quốc lộ 1
chạy qua dọc theo chiều dài của huyện; có Quốc lộ 24 nối từ Quốc lộ 1 lên tỉnh Kon Tum chạy qua huyện ở khu vực xã Phổ Phong; có đường sắt Bắc - Nam song song với Quốc lộ 1 Các phương tiện giao thông đường thủy có sông Trà Câu thông thương miền xuôi với miền ngược, tuy nhiên vì lòng sông cạn nên khá hạn chế Có hai cửa biển Mỹ Á và Sa Huỳnh là đấu mối giao thông đường thủy quan trọng, đồng thời là tụ điểm của nghề cá
Hiện nay, Đức Phổ đang thực hiện bêtông hóa giao thông nông thôn Năm
2004, cơ bản hoàn thành thi công 18 tuyến đường ở các xã với tổng chiều dài 17,9 km Đường huyện đã nhựa cứng được 51,6 km, đường xã được nhựa cứng hóa 33,06 km Về kiên cố hóa kênh mương, năm 2004 xây dựng 6 tuyến kênh với chiều dài 6,231 km, góp phần phục vụ cho việc phát triển sản xuất của nhân dân trong huyện
Vận tải tuyến luồng: Dự án cửa neo trú tàu thuyền của biển Mỹ Á sau khi thực
hiện thì sẽ tạo ra tuyến luồng giao thông đảo bảo cho các tàu thuyền địa phương và khu vực lân cận ra vào cảng an toàn Đồng thời sẽ tạo ra khu neo đậu tàu thuyền sẽ
là nơi tránh nạn an toàn cho các tàu thuyền khi ra vào cảng
1.6 Sự cần thiết của đê chắn sóng/ chắn cát
Yêu cầu đầu tư xây dựng công trình Cảng neo trú tàu thuyền Mỹ Á – Giai đoạn II cần đạt được những mục tiều sau:
Trang 20- Giảm thiểu ảnh hưởng do lũ sông Thoa dâng cao có lưu lượng từ 900 – 2000m3/s
- Đảm bảo luồng cửa biển Mỹ á cho tàu thuyền có thể ra vào an toàn trong hầu hết điều kiện thời tiết
- Xây dựng vũng neo đậu an toàn cho tàu thuyền với số lượng từ 400 – 500 chiếc với cống suất 400CV
- Tiết kiệm được chi phí xây dựng và duy tu, bảo dưỡng công trình một cách tối ưu
- Tăng hiệu quả tối đa về lợi ích kinh tế đạt được nhờ sử dụng thiết bị, nhân công và nguyên vật liệu tại chỗ
- Rút ngắn được thời gian thi công
- Cải tạo được môi trường sống
Dự án “Cảng neo trú tàu thuyền và cửa biển Mỹ Á – Giai đoạn II” sau khi
được thực hiện sẽ xây dựng các hạng mục công trình chắn sóng, chắn cát và chống
lũ thì sẽ đảm bảo được mục tiêu bảo vệ an toàn cho người và phương tiện đánh bắt hải sản của địa phương và các tỉnh lân cận về neo trũ bão.Ngoài ra, việc đầu tư các các công trình điều hành khu neo trũ bão, các công trình hạ tầng cơ sở (Giao thông nội bộ, điện, cấp thoát nước, xử lý nước thải ), làm cơ sở xây dựng cảng cá kết hợp khu neo trú tránh bão phù hợp với quy hoạch của thủ tướng chính phủ phê duyệt
Góp phần tiêu thoát lũ sông Thoa, con sông có lưu lượng lớn nhất đổ ra cửa Mỹ
Á tránh ngập úng cho khu vực cửa sông
Đảm bảo cơ sở hạ tầng nghề cá, phát triển ngành thủy sản của địa phương, nâng cao đời sống của nhân dân, đặc biệt là ngư dân đồng thời cũng góp phần quan trọng việc bảo vệ an ninh quốc phòng
CHƯƠNG II: TÍNH TOÁN ĐIỀU KIỆN THỦY HẢI VĂN THIẾT KẾ
Trang 212.1 Xác định cấp công trình
Việc phân cấp công trình phụ thuộc vào đảm bảo cho việc phân cấp tuyến luồng giao thông thuận lợi, và chống bồi lấp qua cửa vào cảng cá, và đảm bảo được điều kiện thoát lũ cho sông Thoa Trong đó việc chống bồi lấp qua cửa vào cảng cá
và tạo ra khu cảng lặng sóng để tàu neo trú là quan trọng nhất do đó cần lựa chọn cấp công trình để đảm bảo được yêu cầu này
Do những điều kiện quan trọng như vậy nên theo tiêu chuẩn thiết kế TC 22TCN 222 - 95 thì ở đây em chọn cấp công trình cấp I ứng với tần suất thiết kế là
Bảng 2.1: Tọa độ điểm tính toán đường tần suất mực nước tổng hợp
Phổ Quang – Đức Phổ - Quảng Ngãi
Tên
điểm
Toạ độ địa lý
Địa điểm Kinh độ
đông Vĩ độ bắc
10 109000’ 14050’ Xã Phổ Quang - huyện Đức Phổ - tỉnh Quảng
Ngãi
Trang 22Bảng 2.2: Cao độ mực nước biển ven bờ tương ứng với tần suất tổng hợp
Phổ Quang – Đức Phổ - Quảng Ngãi
2.3 Tính toán các tham số sóng nước sâu thiết kế
• Tính toán chiều cao sóng nước sâu theo phân bố xác suất Weibull
- Phân bố xác suất Weibull (hay còn gọi là phân bố xác suất Rosin – Rammler) là một dạng thường dùng để mô tả thống kê sự xuất hiện của các đại lượng cực trị trong khí tượng, thủy văn và dự báo thời tiết như dòng chảy lũ, gió lớn nhất trong khoảng thời gian dài
- Từ những số liệu sóng nước sâu ngoài khu vực dự án ta sử dụng phần mềm FFC 2008 để xây dựng đường phân phối tần suất Weibull
Bảng 2.3: Bảng số liệu sóng cực trị quan trắc nhiều năm tại Đức Phổ -
Trang 23Từ đó ta sử dụng phầm mềm FFC 2008 ( Tác giả- Nghiêm Tiến Lam – Khoa
Kỹ thuật Biển- Đại học Thủy Lợi ) vẽ được đường phân bố tần suất như sau
Hình 2.1: Đường phân bố tần suất Weibull của độ cao sóng
Dựa vào đường phân bố tần suất trên thì với tần suất thiết kế 1% thì ta tra ra
được H0 = 9.24 (m)
Theo kinh nghiệm có thể xác định chu kỳ sóng dựa vào tương quan giữa chu kỳ sóng và chiều cao sóng nước sâu tại vùng biển Bắc Bộ và Trung Bộ, thống kê cho H <22,6 m ( Áp dụng công thức của Nguyễn Xuân Hùng 1999)
Do đó ta được các thông số sóng nước sâu là:
- Chiều cao sóng nước sâu: H0= 9.24 (m)
Trang 24Mục đích của biên sóng đổ: khi xác định được biên sóng đổ chúng ta có thể xác định được chiều dài tuyến đê, thuận lợi cho việc thiết kế đê chắn sóng/ đê chắn bùn cát.
- Gọi độ sâu tại điểm sóng vỡ: db
- Chiều cao tại điểm sóng vỡ: Hb
- Chỉ số sóng vỡ:
b b
Hd
γ =
- Các bước xác định độ sâu tại điểm sóng vỡ:
+ Bước 1: giả thiết: Hb
+ Bước 2: chỉ số sóng vỡ: γ = 0.78
+ Bước 3: tìm độ sâu db = Hb/ γ
+ Bước 4: xác định tỉ số:
b O
d
L sau đó tra bảng tra giá trị các tham số sóng
- Weigel (Bảng 6.2 trang 132 - GT cơ sở kĩ thuật bờ biển)
- Tìm được tỉ số:
b s
d
L , và Ksh
+ Bước 5: xác định tỉ số:
b O b O
s
d
L d C
o
os
os
c c
αα+ Bước 8: Htt
b = Kr .Ksh .Hb
+ Nếu Hbtt ~ HbGt thì ta dừng bước lặp (sai số không quá 10%)
Dưạ vào bảng sóng khí hậu và hoa sóng ta thấy H0 = 4 (m) hầu như năm nào cũng xuất hiện, nên chọn H0 = 4 (m) để tính toán biên sóng vỡ
Đối với hướng sóng NE :
Với các thông số là : H0 = 4 (m), Tp = 9.27(s), αo = 230
Từ các bước làm ở trên ta tìm được: Hb = 4.13 m, db = 5.29 m, MNTK= 1.2 m,
từ bình đồ ta xác định được biên sóng vỡ là x = 550 (m)
Trang 25 Đối với hướng sóng ENE :Với các thông số là : H0 = 4 (m), Tp = 9.27(s), αo = 50
Từ các bước làm ở trên ta tìm được: Hb = 4.24 m, db = 5.43 m, MNTK= 1.2 m,
Vậy ta được các thông số tại vùng sóng vỡ là:
- Chiều cao sóng tại vùng sóng vỡ Hb = 4.24 m
- Độ sâu tại vùng sóng vỡ db = 5.3 m
- MNTK = 1.2 (m)
2.4.2 Xác định tham số sóng nước sâu
• Sử dụng mô hình truyền sóng dạng ENDEC – WADIBE để tính toán Mô hình này cho phép tính toán truyền sóng ngang bờ qua bãi biển có hình dạng bất kỳ để xác định các thông số sóng trước chân công trình
Hình 2.2: Các thông số đầu vào của WADIBE
Trong đó:
+ Cao trình mực nước biển SWL: Mực nước thiết kế = 1.2 (m)
Trang 26+ Chiều cao sóng tại biên phía biển:
(m)+ Chu kỳ đỉnh sóng: Tp = 9.27 (s)
+ Góc sóng tới tại biên phía biển: α0 = 00
+ Độ dốc sóng ở nước sâu: So=
0 0
H
L =
9.24
134 = 0.068Tiếp theo ta tiến hành chọn mặt cắt để tính toán truyền sóng ngang bờ, để tính toán chọn mặt cắt nguy hiểm nhất tính toán thì ta thấy từ biểu đồ hoa sóng khu vực
ta thấy khu vực nghiên cứa chịu tác động của 3 hướng sóng chính là E, NE, ENE,
do đó ta sẽ chọn 3 mặt cắt theo 3 hướng sóng chính này để tính toán và so sánh các mặt cắt với nhau để chọn ra mặt cắt nguy hiểm nhất để tính toán
Đối với hướng sóng NE :
Trang 27Hình 2.3: Biểu đồ phân bố chiều cao sóng ngang bờ tại MC theo hướng sóng NE
Do cao trình tuyến luồng ở cao trình -6 (m) nên để tính chiều cao sóng trước chân công trình được xác định là khoảng cách từ mực nước thiết kể ta kẻ ra đến cao trình -6 (m)trên bình đồ rồi cộng thêm 1 khoảng L0/4 Khi đó ta sẽ xác định Hrm trên Wadibe
Trang 28Để thiên về thiết kế an toàn, đảm bảo an toàn cho toàn cho các hướng sóng bất
kỳ đến công trình thì ta lựa chọn chiều cao sóng Hs lớn nhất trong ba giá trị trên để
tính toán thiết kế
Vậy các tham số sóng trước chân công trình là:
- Chiều cao sóng Hs = 5.6 (m)
- Chu kỳ sóng thiết kế: Tm-1,0 = Tp/α, với α = 1.1 => Tm-1,0 = 8.43 s
- Góc sóng: Chọn góc sóng trong trường hợp nguy hiểm nhất là β = 0o
Trang 29CHƯƠNG III: BỐ TRÍ TUYẾN ĐÊ CHẮN SÓNG VÀ CHĂN BÙN CÁT 3.1 Đề xuất các phương pháp bố trí tuyến
3.3.1 Định lượng quy luật vận chuyển bùn cát
Trong bài toán định lượng quy luật vận chuyển bùn cát này em bỏ qua sự vận chuyển bùn cát vận chuyển từ trong sông Thoa ra.Mặt khác do đoạn bờ biển khu vực xung quanh công trình tương đối thẳng nên ta chọn 1 mặt cắt đại diện để tính toán vận chuyển bùn cát để biết được sự biến đổi của diễn biến đường bờ Lựa chọn mặt cắt như hình sau.( Xem hình 3.1)
Hình 3.1: Các mặt cắt đại diện chọn để tính vận chuyển bùn cát
Ta xác định được góc sóng so với đường bờ theo các hướng (xem bảng 3.1)
Bảng 3.1: Góc sóng so với đường bờ