Đề tài: “Điều tra năng suất và thành phần hóa học của một số loại cỏ Hòa Thảo dùng làm thức ăn chăn nuôi”.. Đề tài: “Điều tra năng suất và thành phần hóa học của một số loại cỏ Hòa Thả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
THỨC ĂN CHĂN NUÔI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: HÓA HỌC
2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
THỨC ĂN CHĂN NUÔI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: HÓA HỌC
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS NGUYỄN THỊ HỒNG NHÂN
2013
Trang 3Trường Đại Học Cần Thơ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Khoa Khoa Học Tự Nhiên Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bộ Môn Hóa Học
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
1 Cán bộ hướng dẫn: Ts Nguyễn Thị Hồng Nhân
2 Đề tài: “Điều tra năng suất và thành phần hóa học của một số loại cỏ
Hòa Thảo dùng làm thức ăn chăn nuôi”
3 Sinh viên thực hiện: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
Lớp: Cử nhân Hóa Học – Khóa 36
4 Nội dung nhận xét:
a Nhận xét về hình thức của LVTN:
b Nhận xét về nội dung của LVTN ( Đề nghị ghi chi tiết đầy đủ):
Đánh giá nội dung thực hiện của đề tài:
c Nhận xét đối với từng sinh viên tham gia thực hiện đề tài (ghi rõ
từng nội dung chính do sinh viên nào chịu trách nhiệm thực hiện nếu có):
Trang 4Trường Đại Học Cần Thơ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Khoa Khoa Học Tự Nhiên Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bộ Môn Hóa Học
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ CHẤM PHẢN BIỆN
1 Cán bộ chấm phản biện:
2 Đề tài: “Điều tra năng suất và thành phần hóa học của một số loại cỏ
Hòa Thảo dùng làm thức ăn chăn nuôi”
3 Sinh viên thực hiện: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
Lớp: Cử nhân Hóa Học – Khóa 36
4 Nội dung nhận xét:
a Nhận xét về hình thức của LVTN:
b Nhận xét về nội dung của LVTN ( Đề nghị ghi chi tiết đầy đủ):
Đánh giá nội dung thực hiện của đề tài:
c Nhận xét đối với từng sinh viên tham gia thực hiện đề tài (ghi rõ
từng nội dung chính do sinh viên nào chịu trách nhiệm thực hiện nếu có):
Trang 5SVTH: Trần Trọng Nhân i MSSV: 2102278
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Cô Nguyễn Thị Hồng Nhân đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt cho em những kiến thức và kinh nghiệm quý giá để
giúp em hoàn thành tốt luận văn này
Em xin cảm ơn anh Thiết, chị Tươi, chị Hiền và các bạn lớp Chăn Nuôi – K36 đang làm luận văn tại phòng thí nghiệm Thức ăn gia súc đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cám ơn tất cả các thành viên lớp Hóa Học – K36 đã luôn nhiệt tình giúp
đỡ, hỗ trợ và sát cánh bên tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Cuối cùng, con xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Cha, Mẹ đã luôn quan tâm, động viên và là chỗ dựa về tinh thần lẫn vật chất vững chắc giúp cho con vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành khóa học và luận văn tốt nghiệp này Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày… tháng … năm 2013
Trần Trọng Nhân
Trang 6SVTH: Trần Trọng Nhân ii MSSV: 2102278
TÓM TẮT
Đề tài “Điều tra năng suất và thành phần hóa học một số loại cây họ Hòa Thảo dùng làm thức ăn chăn nuôi” được thực hiện với mục tiêu điều tra
năng suất và thành phần hóa học của một số cây họ Hòa Thảo qua đó so sánh
về thành phần hóa học của những loại cỏ này ở vùng đất tốt và đất phèn
Thí nghiệm tiến hành điều tra năng suất và thành phần hóa học trên năm loại cỏ là cỏ Voi, cỏ Sả, cỏ Lông tây, cỏ Mồm mỡ và cỏ Mồm gạo trên vùng đất tốt (Cần Thơ) và vùng đất phèn (Hòa An) Các chỉ tiêu phân tích thành phần hóa học gồm có: DM, Ash, CP và CF
Kết quả cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về năng suất giữa vùng đất tốt và vùng đất phèn nhưng thành phần hóa học không có sự chênh lệch lớn giữa hai vùng Ở vùng đất tốt, cỏ Sả có hàm lượng CP (8,29% ) thấp nhất và hàm lượng CF cao nhất với 40,30% so với các loại cỏ còn lại Ở vùng đất phèn, cỏ Mồm mỡ có hàm lượng CP cao nhất là 11,12% và hàm lượng CF thấp nhất là 35,55% Từ đó cho thấy các loại cỏ này vẫn có thể sinh trưởng và phát triển tốt trên vùng đất phèn Hòa An
Trang 7SVTH: Trần Trọng Nhân iii MSSV: 2102278
ABSTRACT
Study subject: "Investigation of yields and chemical compositions in Poaceae (Gramineae) grasses using for animal feed".The aim of research was
to determine and compare the variation in yields and chemical compositions in
different Poaceae grasses planted in good soil and acid sulphate soil
The experiments were conducted in five species Panicum maximum, Pennisetum purpuretum, Brachiaria, Hymenachne acutigluma and
Hymenachne amplexicaulis Samples were determined for dry matter (DM),
crude protein (CP), crude fiber (CF) and Ash
The study results showed a statistically significant difference in yields of two soil types; but almost no discrepancy in chemical compositions In good
soil, Panicum maximum had the lowest CP and highest CF level compared to
others, with 8.29% and 40.30% respectively In acid sulphate soil, the CP level
of Hymenachne amplexicaulis was highest (11.12%) and the CF level was lowest (35.55%) It can be concluded that these species of Poaceae grasses
may possibly grow well in acid sulphate soil of Hoa An Campus
Trang 8SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
iv
LỜI CAM ĐOAN
Tất cả dữ liệu và số liệu sử dụng trong nội dung bài luận văn được tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác nhau và được ghi nhận từ những kết quả thực nghiệm mà tôi đã tiến hành khảo sát trong suốt quá trình làm thực nghiệm Tôi xin cam đoan về sự tồn tại và tính trung thực khi sử dụng những dữ liệu và số liệu này
Trần Trọng Nhân
Trang 9SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
ABSTRACT iii
LỜI CAM ĐOAN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 1
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
2.1 Thức ăn gia súc 2
2.1.1 Khái niệm 2
2.1.2 Phân loại thức ăn gia súc 2
2.2 Nhóm Thức ăn xanh 5
2.2.1 Đặc điểm dinh dưỡng 5
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng của thức ăn xanh 6
2.2.3 Những điểm cần chú ý khi sử dụng 6
2.3 Đại cương về cỏ Hoà thảo 7
2.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của cỏ Hoà Thảo 8
2.4.1 Nước 8
2.4.2 Đất đai 8
2.4.3 Yếu tố khí hậu 10
2.4.4 Kỹ thuật canh tác 10
2.4.5 Phân bón 11
2.4.6 Công thức phân bón 13
2.5 Cỏ Sả 14
2.5.1 Nguồn gốc và phân bố 14
2.5.2 Đặc điểm 14
2.5.3 Các giống cỏ Sả phổ biến ở Việt Nam 16
2.5.4 Thành phần dưỡng chất và tính năng sản xuất 16
2.5.5 Sử dụng 17
2.6 Cỏ Voi 17
2.6.1 Nguồn gốc và phân bố 17
2.6.2 Đặc điểm 18
2.6.3 Một số giống cỏ Voi 19
2.6.4 Thành phần dưỡng chất và tính năng sản xuất 20
2.6.5 Sử dụng 22
2.7 Cỏ Lông Tây 22
2.7.1 Nguồn gốc và phân bố 23
Trang 10SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
vi
2.7.2 Đặc điểm thực vật 23
2.7.3 Đặc điểm sinh học 23
2.7.4 Năng suất 24
2.7.5 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng 24
2.7.6 Sử dụng 24
2.8 Cỏ Mồm mỡ 25
2.8.1 Nguồn gốc và phân bố 25
2.8.3 Đặc điểm sinh học 25
2.8.4 Thành phần dưỡng chất và tính năng sản xuất 26
2.8.5 Sử dụng 26
2.9 Cỏ Mồm gạo 26
2.9.1 Phân bố 26
2.9.2 Đặc điểm thực vật 26
2.9.3 Đặc điểm sinh học 27
2.9.4 Thành phần dưỡng chất và tính năng sản xuất 27
2.9.5 Sử dụng 27
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Phương tiện thí nghiệm 28
3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 28
3.1.2 Cơ sở vật chất thí nghiệm 28
3.2 Phương pháp thí nghiệm 28
3.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 28
3.2.2 Phương pháp lấy mẫu 28
3.3 Quy trình phân tích mẫu 29
3.3.1 Xác định vật chất khô (DM) 29
3.3.2 Xác định hàm lượng khoáng tổng số (Ash) 31
3.3.3 Xác định hàm lượng protein thô (CP) 32
3.3.4 Xác định hàm lượng xơ thô (CF) 33
3.4 Xử lý số liệu 34
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Kết quả điều tra năng suất và thành phần hóa học các loại cỏ 35
4.2 Thành phần hóa học của các loại cỏ ở vùng đất tốt 35
4.3 Thành phần hóa học của các loại cỏ ở vùng đất phèn 36
4.4 Thành phần hóa học của cỏ Voi ở 2 vùng 37
4.5 Thành phần hóa học của cỏ Sả ở 2 vùng 38
4.6 Thành phần hóa học của cỏ Lông tây ở 2 vùng 39
4.7 Thành phần hóa học của cỏ Mồm mỡ ở 2 vùng 40
4.8 Thành phần hóa học của cỏ Mồm gạo ở 2 vùng 41
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Kiến nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC 45
Trang 11SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Hàm lượng một số chất dinh dưỡng trong thức ăn xanh so với cám (% thức
ăn nguyên dạng) 6
Bảng 2.2: Hàm lượng một số chất khoáng của cỏ (% vật chất khô) 6
Bảng 2.3: Thành phần hóa học của cỏ Sả 17
Bảng 2.4: Năng suất của cỏ Voi thay đổi theo mùa và thời gian thu hoạch ở Việt Nam 21
Bảng 2.5: Thành phần hoá học của cỏ Voi 21
Bảng 2.6: Sự thay đổi giá trị dinh dưỡng theo mùa 24
Bảng 2.7: Thành phần dinh dưỡng của cỏ Lông tây 24
Bảng 2.8: Thành phần hóa học cỏ Mồm mỡ 26
Bảng 2.9: Thành phần hóa học của cỏ Mồm gạo 27
Bảng 4.1 Năng suất và thành phần hóa học trung bình ở 2 vùng 35
Bảng 4.2: Thành phần hóa học của 5 loại cỏ ở vùng đất tốt 36
Bảng 4.3: Thành phần hóa học của 5 loại cỏ ở vùng đất phèn 36
Bảng 4.4: Thành phần hóa học của cỏ Voi ở 2 vùng 37
Bảng 4.5: Thành phần hóa học của cỏ Sả ở 2 vùng 38
Bảng 4.6: Thành phần hóa học của cỏ Lông tây ở 2 vùng 39
Bảng 4.7: Thành phần hóa học của cỏ Mồm mỡ ở 2 vùng 40
Bảng 4.8: Thành phần hóa học của cỏ Mồm gạo ở 2 vùng 41
Trang 12SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
viii
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Cỏ Sả 14
Hình 2.2: Cỏ Voi 18
Hình 2.3: Cỏ Lông tây 22
Hình 2.4: Cỏ Mồm mỡ 25
Hình 2.5: Cỏ Mồm gạo 26
Hình 3.1: Quy trình phân tích mẫu cỏ 29
Hình 4.1: Thành phần hóa học của cỏ Voi ở 2 vùng 37
Hình 4.2: Thành phần hóa học của cỏ Sả ở 2 vùng 38
Hình 4.3: Thành phần hóa học của cỏ Lông tây ở 2 vùng 39
Hình 4.4: Thành phần hóa học của cỏ Mồm mỡ ở 2 vùng 40
Hình 4.5: Thành phần hóa học của cỏ Mồm gạo ở 2 vùng 41
Trang 13SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
ADF: xơ không tan trong axit
NSCX: năng suất chất xanh
EE: béo thô
Trang 14SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
và thách thức như: thiếu kiến thức về các phương thức chăn nuôi tiên tiến, nguy cơ dịch bệnh, dịch vụ thú y và khuyến nông còn yếu, giá thức ăn cao, thiếu các tổ chức hoạt động nông dân, nguồn lực tài chính hạn hẹp, cộng thêm
sự biến động của giá cả đầu ra đã khiến cho hộ chăn nuôi đối mặt với nhiều khó khăn
Yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao sức cạnh tranh của ngành chăn nuôi và an toàn thực phẩm là phải nâng cao được năng suất, chất lượng, vệ sinh thực phẩm và hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi trong tương quan giá cả cùng loại với các nước trong khu vực và trên thế giới
Xuất phát từ thực trạng trên, đề tài “Điều tra năng suất và thành phần hóa học của một số loại cỏ Hòa Thảo dùng làm thức ăn chăn nuôi” được thực
hiện để tìm ra loại cỏ vừa cho năng suất tốt, giá trị dinh dưỡng cao, phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, và mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
1.2 Mục tiêu của đề tài
Điều tra năng suất và xác định thành phần hóa học của một số loại cỏ Hòa Thảo
So sánh thành phần hóa học của một số loại cỏ Hòa Thảo ở vùng đất tốt
và đất phèn
Trang 15SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
2.1.2 Phân loại thức ăn gia súc
Theo Lê Đức Ngoan và cộng sự (2004), có nhiều phương pháp phân loại thức ăn khác nhau, căn cứ vào nguồn gốc, đặc tính dinh dưỡng, tính chất thức
ăn, đương lượng tinh bột
Phân loại theo nguồn gốc
Căn cứ vào nguồn gốc thức ăn được chia thành các nhóm sau:
+ Thức ăn có nguồn gốc từ thực vật: Trong nhóm này gồm các thức ăn xanh, thức ăn rễ, củ, quả, thức ăn hạt các sản phẩm phụ của ngành chế biến nông sản: thức ăn xơ, rơm rạ, dây lang, thân lá lạc, thân cây ngô các loại cám, khô dầu (do các ngành chế biến dầu) bã bia, rượu, sản phẩm phụ Nhìn chung, loại thức ăn này là nguồn năng lượng chủ yếu cho người và gia súc, ngoài ra
nó còn cung cấp vitamin, protein thô, các loại vi khoáng, kháng sinh, hợp chất sinh học
+ Thức ăn có nguồn gốc từ động vật: gồm tất cả các loại sản phẩm chế biến từ nguyên liệu động vật như bột cá, bột tôm, bột thịt, bột nhộng tằm và bột sữa Hầu hết thức ăn động vật có protein chất lượng cao, có đủ các axit amin thiết yếu, các nguyên tố khoáng và một số vitamin A, D, E, K, B12 , tỷ
lệ tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng trong thức ăn động vật cao hay thấp phụ thuộc vào cách chế biến, làm thức ăn bổ sung protein quan trọng trong khẩu phần của gia súc gia cầm
+ Thức ăn nguồn gốc từ khoáng chất: gồm các loại bột sò, đá vôi và các muối khoáng khác nhằm bổ sung các chất khoáng đa và vi lượng
Phân loại theo thành phần các chất dinh dưỡng
Phương pháp này chủ yếu dựa vào hàm lượng các chất dinh dưỡng chính trong thức ăn: protein, lipit, gluxit, nước để chia thành các nhóm
Trang 16SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
3
+ Thức ăn giàu protein Tất cả những loại thức ăn có hàm lượng protein thô chiếm trên 20% (tính theo vật chất khô) thì được gọi là những loại thức ăn giàu protein
+ Thức ăn giàu lipit: gồm các loại thức ăn mà hàm lượng lipit chiếm trên 20% (tính theo vật chất khô)
+ Thức ăn giàu gluxit: Là loại thức ăn trong đó có hàm lượng gluxit 50% trở lên, gồm các loại hạt ngũ cốc, ngô, thóc cám, bột khoai, bột sắn Thức ăn này chiếm tỷ lệ rất lớn trong khẩu phần thức ăn gia súc dạ dày đơn, nó là nguồn năng lượng dễ tiêu hóa và hấp thu mà giá thành lại rẻ
+ Thức ăn nhiều nước: Gồm các loại thức ăn có hàm lượng nước từ 70% trở lên
+ Thức ăn nhiều xơ: gồm các loại thức ăn mà hàm lượng xơ thô 18% trở lên Loại thức ăn này là sản phẩm chế biến ngành trồng trọt, như rơm rạ, dây lang, dây lạc những loại thức ăn này ít có ý nghĩa với gia súc dạ dày đơn nhưng chiếm tỷ trọng lớn trong khẩu phần gia súc nhai lại
+ Thức ăn giàu khoáng: gồm các loại muối khoáng, bột xương, muối ăn, bột sò
+ Thức ăn giàu vitamin: gồm những loại vitamin hoặc những loại thức ăn giàu vitamin như: bột rau xanh, dầu gan cá
+ Thức ăn bổ sung khác: gồm các loại thức ăn có nguồn gốc đặc biệt như kháng sinh, các hợp chất chứa nitơ, các chất chống oxy hóa, các chất kích thích sinh trưởng
Phân loại theo đương lượng tinh bột
Theo phương pháp này, người ta phân thức ăn thành 2 loại: thức ăn tinh và thức ăn thô
+ Thức ăn thô: bao gồm các loại thức ăn có đương lượng tinh bột dưới 45% nghĩa là trong 100 kg thức ăn có không quá 45 kg tinh bột
+ Thức ăn tinh: bao gồm các loại thức ăn có đương lượng tinh bột trên 45% (trong vật chất khô) như các hạt ngũ cốc, bột củ quả, các hạt khô dầu Trong thức ăn tinh còn phân ra thức ăn giàu protein, gluxit, lipit
Phân loại theo toan tính và kiềm tính
Người ta căn cứ vào độ pH của sản phẩm chuyển hóa cuối cùng để chia thức ăn thành toan hay kiềm Thường những thức ăn có chứa nhiều P, Cl, S thì sản phẩm cuối cùng của sự chuyển hóa mang tính axit
Trang 17SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
4
Những loại thức ăn kiềm tính gồm: thức ăn xanh, củ quả, thức ăn ủ xanh Những loại thức ăn này thích hợp cho gia súc sinh sản, tác dụng tốt đối với kích thích tiết sữa Những loại thức ăn toan tính như: các hạt họ đậu và một vài loại thức ăn giàu protein lại thích hợp với gia súc đực, gia súc đực sinh sản nhất là trong thời gian lấy tinh
Hiện nay trên thế giới người ta phân thức ăn thành tám nhóm:
Thức ăn thô khô
Tất cả các loại cỏ xanh tự nhiên thu cắt và các loại phế phụ phẩm của cây trồng đem phơi khô có hàm lượng xơ trên 18% đều là thức ăn thô khô Bao gồm: cỏ khô họ đậu hoặc Hòa Thảo, rơm rạ, dây lang, dây lạc và thân cây ngô phơi khô Ngoài ra còn gồm vỏ các loại hạt thóc, lạc, đậu và ngô
Thức ăn xanh
Tất cả các loại cỏ trồng, cỏ tự nhiên, các loại rau xanh cho gia súc sử dụng ở trạng thái tươi, xanh bao gồm: rau muống, bèo hoa dâu, lá bắp cải, su hào, cỏ tự nhiên, cỏ trồng như cỏ voi và cỏ sả, bèo tấm, rau dừa nước, rau dền, rau lấp, thân lá khoai lang
Thức ăn ủ chua
Tất cả các loại thức ăn chua, các loại cỏ Hòa Thảo hoặc thân, bã phụ phẩm của ngành trồng trọt như thân, lá lạc, bã dứa, thân cây ngô đem ủ chua
Thức ăn giàu năng lượng
Tất cả các loại thức ăn có hàm lượng protein dưới 20% và xơ thô dưới 18% Bao gồm các loại hạt ngũ cốc như ngô, gạo, sắn, củ khoai lang, cao lương, mạch, mì và phế phụ phẩm của ngành xay xát như cám gạo, cám ngô, tấm nhóm nguyên liệu này chiếm tỷ lệ cao nhất trong công thức thức ăn hỗn hợp, thường chiếm 40−70% tỷ trọng Một số loại dầu thô, mỡ thô cũng được dùng bổ sung vào công thức thức ăn hỗn hợp nhưng không vượt quá 4−5% Ngoài ra còn có các loại củ, quả như sắn, khoai lang, khoai tây, bí đỏ
Thức ăn giàu protein
Tất cả các loại thức ăn có hàm lượng protein trên 20%, xơ thô dưới 18% Thức ăn giàu protein có nguồn gốc động vật: bột cá, bột thịt, sữa bột, bột thịt xương, bột máu, nước sữa ; thức ăn giàu protein có nguồn gốc thực vật: hạt đỗ tương, lạc, đậu xanh, đậu triều, đậu nho nhe, khô đỗ tương, khô lạc, khô dầu hướng dương, khô dầu dừa, khô dầu bông
Thức ăn bổ sung khoáng
Bột vỏ sò, bột đá, vỏ hến, dicanxiphotphat, bột xương
Trang 18SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
5
Thức ăn bổ sung vitamin
Các loại vitamin B1, B2, B3, D, A hoặc premix vitamin
Các loại thức ăn bổ sung khác
2.2 Nhóm Thức ăn xanh
Thức ăn thô xanh ở nước ta rất đa dạng và phong phú, bao gồm thân lá của một số cây, cỏ trồng hoặc mọc tự nhiên trên cạn hoặc dưới nước và là nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho gia súc ở nước ta, nhất là các nông hộ Loại thức ăn này chứa hầu hết các chất dinh dưỡng mà vật nuôi cần như protein, các vitamin, khoáng đa lượng và vi lượng thiết yếu và các chất có hoạt tính sinh học cao (Lê Đức Ngoan và cộng sự, 2006)
Thức ăn xanh là loại thức ăn mà người và gia súc đều sử dụng ở trạng thái tươi, chiếm tỷ lệ cao trong khẩu phần của loài nhai lại Thức ăn xanh có thể chia thành 2 nhóm chính gồm: cây cỏ tự nhiên và gieo trồng Nhóm cây Hòa Thảo như: cỏ ở bãi chăn, cỏ trồng, thân, lá cây ngô Nhóm cây họ đậu như: cỏ stylô, cây điền thanh, cây keo dậu Các loại thức ăn xanh khác như: rau lấp, bèo cái, bèo Nhật Bản, thân chuối, rau muống
2.2.1 Đặc điểm dinh dưỡng
Thức ăn xanh chứa nhiều nước, nhiều chất xơ, tỷ lệ nước trung bình 90%, tỷ lệ xơ thô trung bình ở giai đoạn non là 2−3%, trưởng thành 6−8% so với thức ăn tươi
80-Thức ăn xanh chứa nhiều nước và nhiều xơ nên vật nuôi cần lượng lớn mới thỏa mãn nhu cầu nhưng do hạn chế dung tích đường tiêu hóa nên con vật không ăn được nhiều
Thức ăn xanh dễ tiêu hóa, có tính ngon miệng cao, tỷ lệ tiêu hóa đối với loài nhai lại là 75−80%, đối với lợn 60−70%, là loại thức ăn dễ trồng và cho năng suất cao Ví dụ: 1 ha rau muống cho 50−70 tấn, 1 ha bèo dâu cho
350 tấn, 1 ha cỏ voi cho 150−300 tấn chất xanh
Thức ăn xanh giàu vitamin: nhiều nhất là caroten, vitamin B đặc biệt là vitamin B2, và vitamin E có hàm lượng thấp Cỏ mục túc khô có 0,15 mg B1
và 0,45 mg B2/100 g; cỏ tươi có 0,25 mg B1 và 0,4 mg B2/100g vật chất khô Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong thức ăn xanh rất thấp vì vậy giá trị dinh dưỡng thấp (bảng 2.1), trừ một số loại thân lá cây bộ đậu có hàm lượng protein khá cao, một số loại cỏ giàu axit amin như arginine, axit glutamic và lysine Nếu tính theo trạng thái khô một số loại thức ăn xanh có hàm lượng protein cao hơn cả cám gạo (Lê Đức Ngoan và cộng sự, 2006)
Trang 19SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
họ Hòa Thảo (bảng 2.2)
Bảng 2.2: Hàm lượng một số chất khoáng của cỏ (% vật chất khô)
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng của thức ăn xanh
Giống cây trồng: Nhóm cây trên cạn có hàm lượng vật chất khô (10−30%) lớn hơn nhóm cây thuỷ sinh (1−10%), họ hoà thảo (2−10% protein thô so với vật chất khô) có hàm lượng protein thô thấp hơn bộ đậu (10−30%)
2.2.3 Những điểm cần chú ý khi sử dụng
Theo Lê Đức Ngoan và cộng sự (2006), cần thu hoạch cỏ đúng thời vụ
để đảm bảo giá trị dinh dưỡng cao Nếu thu hoạch sớm ít xơ, nhiều nước, hàm lượng vật chất khô thấp Ngược lại nếu thu hoạch quá muộn hàm lượng nước giảm, vật chất khô tăng nhưng chủ yếu tăng chất xơ, còn lipit và protein giảm Thời gian thích hợp để thu hoạch các loại rau xanh nói chung là sau khi trồng 1−1,5 tháng, thân lá cây ngô trước khi trổ cờ, thân lá họ đậu: thời gian ngậm
Trang 20SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
7
nụ trước khi ra hoa Rau muống, rau lấp sau khi trồng 20−25 ngày thu hoạch lứa 1, sau 15 ngày thu hoạch lứa tiếp theo Đề phòng một số chất có sẵn trong thức ăn: lá sắn, cây cao lương, cỏ Xu đăng có độc tố HCN Hàm lượng HCN thường cao ở giai đoạn còn non và giảm dần ở giai đoạn trưởng thành Vì vậy,
sử dụng các loại thức ăn này ở giai đoạn chín sáp hoặc nấu chín là tốt nhất
Cỏ mục túc (Medicago sativa; Luzec), cây bộ đậu, điền thanh có chất saponin, nếu cho con vật ăn nhiều sẽ mắc chứng chướng bụng đầy hơi, nên dùng với số lượng vừa phải và trộn với các loại thức ăn khác Một số loại cây thuộc họ thập tự như cải bắp, cải ba lá trắng chứa kích tố thực vật fito−oestrogen, nếu con vật ăn vừa phải sẽ có tác dụng tốt cho sinh sản như: kich thích tăng trọng, bầu vú phát triển, sữa nhiều Nếu ăn nhiều dễ sẩy thai hay sa tử cung sau khi
đẻ Ngoài ra, trong thức ăn xanh thường chứa NO3 dưới dạng KNO3 khoảng 1−1,5% Nếu hàm lượng NO3 quá cao sẽ làm cho con vật ngộ độc và chết Triệu chứng ngộ độc là con vật thở gấp, run rẩy, sùi bọt mép, khó thở, máu
có màu thẩm, hàm lượng NO2 trong nước tiểu tăng Biện pháp giải độc: dùng dung dịch xanh methylen 2−4% tiêm vào tĩnh mạch con vật
2.3 Đại cương về cỏ Hoà thảo
Họ Hòa Thảo hay Hoà Bản (Graminae, Paoceae) có khoảng 700 chi,
10000 loài trong đó ở nước ta có khoảng 124 chi và 400 loài Đây là họ thực vật bao gồm những cây lương thực chính của con người như lúa, lúa mì, bắp, lúa miến và những loại cỏ làm thức ăn nuôi gia súc chủ yếu
Các cỏ Hòa Thảo lâu năm có vai trò chính trong cân bằng thức ăn xanh cho gia súc Cỏ sinh trưởng nhanh vào mùa hè, ra hoa kết quả vào mùa thu và gần như ngừng sinh trưởng vào mùa đông Cỏ có ưu điểm là cho năng suất cao nhưng lại hạn chế về giá trị dinh dưỡng (prôtein thấp, xơ cao), thân tương đối cao, thời gian ra hoa không ổn định và kéo dài, đặc biệt trong mùa ẩm (Dương Hữu Thời và Nguyễn Đăng Khôi, 1981)
Đặc tính thực vật của cỏ Hòa Thảo (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 2005): cây
cỏ có thân rỗng, tròn hay dẹp, phiến lá mỏng, bẹ lá là phần dưới của lá thường
ôm lấy thân như một cái ống và thường xẻ dọc dài suốt bẹ lá Mép lá là phần nằm giữa phiến lá và bẹ lá, có thể là một miếng mỏng bao lấy thân hay một lóng ngắn Hoa của cỏ Hòa Thảo đặc sắc là ở phát hoa, đơn vị phát hoa ở đây
là một gié hoa thu ngắn lại gọi là epillet (gié hoa), mỗi gié hoa có hai vẩy ngoài gọi là đỉnh (glumes), kế đến là hai vẩy khác gọi là trấu (glumelles), trong trấu có nhiều hoa mọc theo hai hàng Hoa gồm có hai vẩy gọi là Iodicule, ba tiểu nhụy và noãn với hai vòi nhụy Ở nhiều loài Hòa Thảo đỉnh
Trang 21SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
Lượng Prôtein thô tính trong chất khô của cỏ Hòa Thảo ở nước ta trung bình là 9,8% (75−145 g/kg chất khô) tương tự với giá trị trung bình của cỏ Hòa Thảo nhiệt đới Hàm lượng xơ khá cao 269−372 g/kg chất khô Khoáng
đa lượng và vi lượng đều thấp, đặc biệt là nghèo Canxi và Phospho (Viện chăn nuôi, 1995)
2.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của cỏ Hoà Thảo
2.4.1 Nước
Đối với thực vật nước cần cho tất cả các hoạt động sống của chúng Trong cỏ tốt nước chiếm 80% trọng lượng tươi, phần còn lại là một lượng nhỏ chất khoáng và toàn bộ chất hữu cơ tổng hợp được 80% nước ở dạng tự do hay liên kết, có vai trò sinh học như hoà tan các chất vô cơ và vận chuyển đến các cơ quan của thực vật Vì thế nước không thể nào thiếu được đối với cây trồng, đồng cỏ
Giữ được nước trong đất thì các chất khoáng mới phát huy tác dụng và trở thành có giá trị thực sự đối với cây cỏ, các vi sinh vật đất mới phát huy tác dụng và đất mới thực sự trở nên màu mỡ, có giá trị dinh dưỡng cung cấp cho cây xanh Nhu cầu về nước của cỏ Hòa Thảo thay đổi tuỳ loài, tuỳ giai đoạn sinh trưởng, tuỳ nhóm có chịu hạn, trung sinh, ưa ẩm hay thuỷ sinh Nếu thiếu nước cây sinh trưởng chậm đặc biệt là thiếu nước trong mùa khô làm hàm lượng chất thô (cellulose, lignin) tăng, prôtein giảm (Dương Hữu Thời, Nguyễn Đăng Khôi, 1981)
2.4.2 Đất đai
Độ phì nhiêu của đất là khả năng của đất đáp ứng nhu cầu của cây trồng
về chất dinh dưỡng với số lượng, dạng và tỉ lệ thích hợp để cây có thể sinh trưởng, phát triển và tạo ra sinh khối lớn nhất Đất nào có khả năng thoả mãn nhu cầu của cây trồng cao, cho năng suất cao thì được coi là phì nhiêu và ngược lại Độ phì nhiêu của đất được quyết định do tổng số hàm lượng chất dinh dưỡng hữu dụng cho cây, hàm lượng và thành phần của chất hữu cơ trong đất (Ngô Ngọc Hưng và cộng sự, 2004)
Trang 22SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
9
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, người ta đánh giá độ phì nhiêu của đất qua các chỉ tiêu dung trọng, độ pH, chất hữu cơ, % đạm tổng số, % lân tổng
số, % kali tổng số,… Đối với một số loại đất có vấn đề như đất phèn, đất mặn,
… thì sự hiện diện của độc chất trong đất có thể là những chỉ tiêu đánh giá độ phì nhiêu quan trọng (Ngô Ngọc Hưng và cộng sự, 2004)
Ngoài các tác động sinh lý học của đất còn có vai trò quan trọng của các nguyên tố đại lượng dưới dạng muối như N, P, K, Ca, Mg và các nguyên tố vi lượng Bo, Co, Cu, Cl, I, Fe, Mn…các nguyên tố này có liên quan đến sự sinh trưởng, phát triển và sinh sản của gia súc Ví dụ: pH đất thay đổi theo hướng kiềm (bón vôi) sẽ dẫn tới sự giảm Mg, Zn, Co trong cỏ Hay trong điều kiện
ẩm độ đất cao Se, Mo, Mn và Nitrat dưới dạng tự do tập trung trong cỏ sẽ gây bệnh dinh dưỡng cho gia súc (giảm tiết sữa, ngộ độc, sẩy thai,…) (Dương Hữu Thời và Nguyễn Đăng Khôi, 1981)
Do đó, đất để trồng cỏ tốt nhất là đất thịt nhẹ, các loại đất sét nặng hoặc nhiều cát cỏ mọc không tốt Những đồng cỏ hoang đã lâu đời cỏ không mọc tốt được vì thiếu vôi, đạm và nhiều nguyên tố vi lượng khác Có rất ít giống cỏ chịu được đất nhiễm phèn, nhiễm mặn và các loại đất sét nặng hoặc nhiều cát
cỏ cũng mọc không tốt Mặt khác, cỏ hoà thảo trồng trên đất tốt thì mềm, gia súc ăn ngon miệng và có giá trị dinh dưỡng cao hơn khi trồng trên đất chua, đất không màu mỡ mặc dù cung cấp đủ nước Với điều kiện trên đất chua thì
cỏ nhiều xơ, không ngon miệng và khi già có thể chát (Dương Hữu Thời và Nguyễn Đăng Khôi, 1981)
Đối với đất bị rữa trôi nhiều năm nên pH rất chua (3,5−5,5) làm nhiều loại vi khuẩn cố định N (Rhizobium) không phát triển được (do chúng phát triển được ở pH khoảng 5,5−7), người ta cải tạo độ chua bằng cách bón vôi để tăng pH đất lên gần trung hoà hay kiềm (Ngô Ngọc Hưng và cộng sự, 2004) Ngoài ra địa hình cũng ảnh hưởng ít nhiều đến việc trồng cỏ Nên chọn thế đất bằng phẳng để trồng cỏ, như vậy cỏ sẽ sinh trưởng và phát triển đồng đều Các vùng đất hơi dốc độ nghiêng vừa phải vẫn có thể trồng cỏ được Tuy nhiên thế đất quá dốc thì mùa mưa sẽ xói mòn cuốn theo những chất màu mỡ
có sẵn trong đất khiến cỏ trồng mất hết dinh dưỡng để sống Mặc khác, thế đất cũng không nên quá cao cách xa mạch nước ngầm nhưng đồng thời cũng không nên quá trũng gây ngập úng vào mùa mưa và triều cường (Dương Hữu Thời và Nguyễn Đăng Khôi, 1981)
Đa số các giống cỏ đều không thích nghi ở nơi có bóng râm che phủ mà đòi hỏi nhận được nhiều ánh sáng trong ngày để quang hợp tốt Vì vậy trồng
cỏ nơi nhiều ánh sáng cũng tươi tốt và cho năng suất cao hơn Chính vì thế mà
Trang 23SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
cỏ Chính lượng sương này sẽ bù đắp nước cho cỏ vào mùa khô kích thích nảy chồi Độ ẩm không khí làm cho khí hậu khô hay ẩm đều tác động đến cỏ (Dương Hữu Thời và Nguyễn Đăng Khôi, 1981)
Cỏ trồng sẽ tươi tốt khi được trồng ở những vùng có mùa mưa kéo dài và mùa nắng ngắn Lượng mưa khoảng 2000 mm/năm là tốt nhất Ngoài ra ở những nơi sức gió quá lớn có thể gây ngã đổ nên trồng những loại cỏ thân thấp (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2003)
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới ẩm chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của chế độ gió mùa Châu Á, có sắc thái đa dạng với một mùa lạnh ở phía Bắc (từ đèo Hải Vân trở ra) và khí hậu kiểu Nam Á (Tây Nguyên, Nam Bộ) cũng như khí hậu
có tính chuyển tiếp ở vùng ven biển Trung Bộ Nước ta có tiềm năng về thời gian chiếu sáng và lượng mưa dồi dào, phân bố tương đối đều giữa các vùng trong nước Phía Nam thuộc miền nhiệt đới không có mùa đông, chia làm ba vùng sinh thái theo ba đới khí hậu: vùng cao, vùng đồi núi và vùng đồng bằng, thành phần cây trồng nhiệt đới phong phú Trong điều kiện có đủ nước, cây nông nghiệp phát triển xanh tốt quanh năm (Viện chăn nuôi, 1995)
Khí hậu nhiệt đới gió mùa của nước ta ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây thức ăn gia súc nói chung Với cỏ Hòa Thảo, hầu hết đều sinh trưởng nhanh vào mùa hè, ra hoa kết trái vào mùa thu và gần như ngừng sinh trưởng vào mùa đông, đến mùa xuân thì phát triển nhanh và cho nhiều lá Tuy sinh trưởng nhanh, năng suất cao nhưng cỏ Hòa Thảo lại nhanh hoá xơ, chính vì thế mà giá trị cũng giảm theo (Viện chăn nuôi, 1995)
Trang 24SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
11
tạo sự tơi xốp nhất định, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ phát triển Đồng thời làm sạch cỏ dại sẽ hạn chế sự cạnh tranh về ánh sáng, dưỡng chất và mật độ Theo Dương Hữu Thời, Nguyễn Đăng Khôi (1981) và Nguyễn Văn Tuyền (1971): Thời gian thu hoạch có ảnh hưởng đến hàm lượng dưỡng chất trong cỏ để cung cấp cho gia súc, năng suất của cỏ cũng như sự tồn tại lâu dài hoặc tàn lụi của cỏ Cỏ từ khi trồng thì năng suất và thành phần dưỡng chất của cỏ sẽ tăng theo tuổi, giảm dần khi ra hoa, kết hạt
Chất đạm là chất tối cần thiết cho sự phát triển gia súc, cỏ còn non chất đạm ít, cao nhất lúc cỏ sắp trổ hoa và giảm dần khi già Trong khi đó chất béo tăng dần theo tuổi còn lại khoáng và sinh tố sẽ tăng cao lúc sắp ra hoa, khi về già sẽ giảm dần và không tốt
Ở cỏ còn non, tỉ lệ nước khá cao Do đó nếu thu hoạch cỏ quá non cho gia súc ăn thì gia súc dễ bị tiêu chảy, hấp thu dưỡng chất kém Ngược lại cỏ quá già có dưỡng chất kém, nhiều xơ Vì vậy nên thu hoạch cỏ Hòa Thảo lúc sắp ra hoa hoặc đã ra hoa khoảng 5% tổng số cây trên đồng cỏ
2.4.5 Phân bón
Cây trồng lấy dưỡng chất từ đất để sinh trưởng, phát triển Tuy nhiên dưỡng chất trong đất lại có giới hạn, do đó việc bổ sung các thành phần dưỡng chất theo nhu cầu cây trồng là việc không thể thiếu được Phân bón được sử dụng có thể là phân vô cơ (phân hoá học) hay phân hữu cơ Theo Dương Hữu Thời và Nguyễn Đăng Khôi (1981) thì có một điều gần như trở thành nguyên
lý là bón phân gì cho cỏ Hòa Thảo thì thành phần hoá học của cỏ giàu chất ấy Với phân vô cơ, tuỳ nhà sản xuất hay nhu cầu thị trường mà phân được sản xuất là phân đơn (chỉ chứa một loại dưỡng chất) hoặc phân hỗn hợp (loại chứa nhiều dưỡng chất) Các dưỡng chất chứa trong phân vô cơ là những dưỡng chất dễ tiêu, khi bón vào đất cây trồng có thể hấp thu ngay Hàm lượng dưỡng chất trong phân vô cơ khá cao nên khi sử dụng cần chú ý liều lượng, nếu thừa rất dễ gây hại cho cây, nhất là phân đạm (Ngô Ngọc Hưng và cộng
sự, 2004) Mặt khác phân vô cơ tương đối nhẹ, dễ chuyên chở, dễ tan nên dùng để bón thúc sẽ có hiệu quả cao
Trong khi đó phân hữu cơ do tính phân giải chậm, không kịp cung cấp dưỡng chất cho cây trồng nên thường dùng để bón lót Phân chuồng là một trong những loại phân được sử dụng khá rộng rãi Bón phân chuồng sẽ làm tăng độ xốp của đất, cải tạo chế độ nước và không khí của đất, tăng thêm dưỡng chất đa – vi lượng, về lâu dài sẽ tăng tỉ lệ mùn, tích luỹ nhiều lân, kali tổng số….tạo tiền đề cho đất có độ phì nhiêu cao hơn Bón với lượng lớn phân
Trang 25SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
12
chuồng không gây hại lớn, lượng dưỡng chất dư thừa cây không sử dụng hết
có thể dùng tiếp cho vụ sau Tuy nhiên phân chuồng có tỉ lệ dưỡng chất thấp nên cần có khối lượng lớn, gây cồng kềnh, dưỡng chất phân chuồng lại không
ổn định, tác dụng chậm hơn so với phân hoá học (Lê Văn Căn, 1982)
Ngoài ra than bùn là loại phân hữu cơ được sử dụng khá phổ biến Than bùn được tạo từ các loại thực vật khác Xác thực vật được tích tụ lại, vùi lấp trong đất và chịu tác động của điều kiện ngập nước trong nhiều năm, với điều kiện phân huỷ yếm khí các xác thực vật được chuyển thành than bùn Than bùn có hàm lượng chất vô cơ là 18-24%, phần còn lại là chất hữu cơ, loại phân bón này dùng để tăng chất hữu cơ cho đất, có khả năng giữ nước, kích thích tăng trưởng cây và hàm lượng dinh dưỡng thay đổi tuỳ thuộc thành phần loài thực vật, quá trình phân huỷ chất vô cơ (Ngô Ngọc Hưng và cộng sự, 2004) Phân hoá học là một lợi thế để điều khiển năng suất nhưng do tính cụ thể
và chính xác nên mỗi sự thay đổi về liều lượng và cách bón sẽ thể hiện bằng
sự thay đổi rõ rệt về năng suất Cùng một lượng phân hoá học chia ra bón làm nhiều cách khác nhau về thời gian thì năng suất có thể thay đổi nhưng cùng một lượng phân chuồng chia ra bón thì thay đổi không đáng kể Một số phân hoá học thường thấy trên thị trường như phân urea (chứa 46% N) phân kali (chứa 63,2 % K2O), phân super lân (chứa 16−50% P2O5) phân NPK 16– 16–8 (chứa 16 % N, 16 % P2O5, 8 % K2O) (Ngô Ngọc Hưng và cộng sự, 2004)
Đạm
Đạm là nguyên tố cần thiết cho sự phân bào và phát triển của cây Đạm làm tăng diện tích và khối lượng nguyên sinh chất trong cây Theo Ngô Ngọc Hưng và cộng sự, (2004) và Hà Thị Thanh Bình và cộng sự, (2002) cây trồng thiếu N lá phát triển kém và lá có màu vàng do diệp lục tố giảm, lá nhỏ hẹp, trái nhỏ,tỷ lệ thân lá/rể thấp, lá già vàng khô và rụng sớm Ngược lại thừa N thì thân lá phát triển sum xuê, xanh đậm, lá to chống chịu kém, dễ đổ ngã, lượng nitrate và protein cao
Đạm là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với cơ thể sống vì nó là thành phần cơ bản của protein, chất tiêu biểu cho sự sống Đạm là yếu tố cơ bản của quá trình đồng hoá cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc thu hút các yếu tố dinh dưỡng khác, là nguyên tố cần thiết cho sự phân bào và phát triển của cây Cây trồng được bón đạm hợp lý, lá cây xanh thẫm, sinh trưởng khỏe mạnh, chồi phát triển mạnh, năng suất cao Tuy nhiên bón thừa đạm, tỷ
lệ nước trong cây cao, cây dễ bị mắc bệnh, dễ đổ, thời gian sinh trưởng kéo dài, phẩm chất nông sản kém (Chu Thị Thơm và cộng sự, 2005)
Trang 26SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
13
Lân
Phospho (P) đóng vai trò trong việc tạo năng lượng biến dưỡng trong cây, thành phần của màng tế bào Bón phân lân giúp cây trồng sử dụng phân đạm tốt hơn hạn chế việc bón thừa đạm Nếu thiếu P, hệ thống rễ phát triển kém, lá màu xanh đậm, trên lá xuất hiện màu tím hồng, thiếu lân ở thời kỳ cây con sẽ ảnh hưởng rất xấu đến sự sinh trưởng của cây Phân lân bón cho mọi loại đất và mọi loại cây từ đất chua đến đất ít chua và đất trung bình (Hà Thị Thanh Bình và cộng sự, 2002)
Lân giúp rễ phát triển đặc biệt là rễ bên và lông hút, xúc tiến phân chia tế bào tạo thành chất béo và protein, giúp đẻ nhánh nhiều, góp phần tăng năng suất Cây thiếu lân sinh trưởng chậm, cây nhỏ, đẻ nhánh kém Ít di chuyển trong đất và ít bị rửa trôi (Chu Thị Thơm và cộng sự 2005)
Đối với cây họ đậu, lân góp phần giúp cây sinh ra nốt sần giúp tăng khả năng hút đạm khí trời, bón lân sẽ giúp cây trồng sử dụng đạm tốt hơn
Kali
Phân kali có tỉ lệ K2O là 60 % có màu hồng muối ớt, không có vai trò trong biến dưỡng tuy nhiên kali chính là tác nhân trong sự thẩm thấu, trung hoà điện tích trong cây Thiếu kali quá trình quang hợp của cây giảm, hô hấp tăng nên năng suất giảm, chất lượng sản phẩm kém (Chu Thị Thơm và cộng
sự, 2005) Sự hiện diện của K giúp các enzyme trong tiến trình sinh lý hoạt động mạnh mẽ hơn, kali còn giúp cây tăng cường độ quang hợp, tăng dòng vận chuyển sản phẩm quang hợp từ lá đến các cơ quan dự trữ, nó còn làm tăng khả năng chống rét, xúc tiến việc hình thành bó mạch làm cho cây cứng cáp, chống đổ ngã, chống sâu bệnh và tăng năng suất Đối với cây Hoà Thảo do có khả năng hút K từ đất nên bón nhiều K không quan trọng (Ngô Ngọc Hưng và
cộng sự, 2004) và (Hà Thị Thanh Bình và cộng sự, 2002)
2.4.6 Công thức phân bón
Công thức phân bón: Theo Nguyễn Văn Tuyền (1975) một số công thức phân bón sử dụng cho đồng cỏ như sau: Phân chuồng từ 20–50 tấn/ha Phân chuồng được rãi trên mặt đất với số lượng như trên, tuỳ đất tốt hay xấu Xong dùng bừa trộn lộn phân với đất để cho phân thêm hoai khoảng 10 ngày trước khi trồng
Phân hoá học đối với cỏ Hòa Thảo: 100 kg N + 60 kg P2O5 + 30 kg
ngay sau khi trồng và 50 kg N còn lại bón sau sau khi thu hoạch lứa 1
Trang 27SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
Phân bố
Hiện nay, cỏ được trồng phổ biến ở hầu hết các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới tương đối ẩm trên thế giới (lượng mưa 900–1800 mm) như: các nước Nam Mỹ, phía Tây Ấn Độ và khu vực Đông Nam Á Ở nước ta được trồng đầu tiên ở Phủ Liễn─Hải Phòng năm 1960 Sau đó lan tràn khắp nơi và trở thành cỏ mọc tự nhiên Ở Miền Nam cỏ Sả được trồng vào năm 1975
2.5.2 Đặc điểm
Theo Nguyễn Thiện (2003) và Đào lệ Hằng (2008), Cỏ Sả thuộc họ Hòa Thảo, thân bụi như bụi Sả chỉ sinh nhánh và mọc thành bụi lớn, dày, thân to khỏe, thẳng đứng, hơi dẹt, phân nhánh có dạng hình phểu, Cỏ Sả cao tới 1,8–2,2 m, thân và lá rất mềm Lá hình dải, màu xanh biếc dài và rộng, có nhiều lông tơ ở gốc, gân giữa nổi rõ, mép lá có một hàng lông dài, mặt lá hơi nhám tay khi ta vuốt ngược, bẹ lá dài khoảng 30 cm Tỉ lệ lá trên thân là 1/7 Cụm hoa hình chuông là đặc trưng của cỏ, dài 40 cm, cỏ ra hoa từ tháng 6 đến tháng
Trang 28SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
15
12, cũng có lông nhỏ và mịn Bẹ lá mọc quanh gốc có màu tím, cả bẹ và lá đều
có lông nhỏ và trắng, nhất là ở bẹ lá Những lá phía trên ngắn và có bẹ lá dài nên không che nắng ở những lá dưới Lá có khả năng xoay theo chiều nắng.Theo Lê Đức Ngoan và cộng sự, (2006) cỏ Sả có bộ rễ khỏe, ăn sâu vào đất, phát triển rất mạnh, có khả năng chịu hạn tốt do cỏ phát triển tạo thành từng cụm như một cái phễu hứng nước mưa Cỏ Sả thích hợp với những vùng
có lượng mưa từ khoảng 900 mm trở lên (800–1800 mm/ năm)
Cỏ Sả có khả năng chịu úng kém vì vậy thích hợp với những vùng có khả năng thoát nước tốt Cỏ Sả ưa đất xốp, tơi, giàu mùn và cỏ Sả phát triển tốt nhất ở những vùng đất có độ màu mỡ từ trung bình trở lên Nhưng có khả năng thích hợp với nhiều loại đất khác nhau như: những vùng đất dốc, nhiều
đá nhưng không cho năng suất cao, phù hợp với chân ruộng cao, đất pha cát, giàu dinh dưỡng, từ trung tính đến độ chua nhẹ
Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng của cỏ Sả từ 19,1–22,90C, không chịu được sương muối nặng, không chịu hạn được ở những vùng quá khô Sống được trên nhiều loại đất nhưng ưa đất nhiều màu mỡ và đất phù sa Ưa đất giàu canxi, oxyt sắt, tiêu nước tốt Tốt nhất ở pH = 6, không chịu được đất
ẩm kéo dài Chịu được ở đất mặn nhẹ Cỏ Sả có khả năng chịu bóng tốt, cho nên có thể trồng được dưới tán cây to hoặc cây bụi, ở những nơi cao tới 2500
m so với mực nước biển Năng suất trung bình của cỏ Sả trong mùa mưa là 150–200 tấn/ha Trồng thâm canh có thể đạt 280–300 tấn/ha Cỏ Sả có thân mềm, nhiều lá cho nên gia súc thích ăn Thu hoạch non trước khi ra hoa, chất lượng cỏ cao nên cho gia súc ăn hết không cần băm chặt
Khả năng cạnh tranh với các loại cây khác: Cỏ Sả có khả năng cạnh tranh với cỏ dại và chịu giẫm đạp tốt Nhiều nơi, người ta trồng cỏ Sả để chăn thả Nhưng tốt nhất nên chăn thả gia súc khi cỏ cao được từ 15–22 cm
Giá trị dinh dưỡng của cỏ Sả rất cao khi cây cỏ còn non, nhiều lá và sẽ giảm sút nhanh chóng theo lứa tuổi của cỏ, thu hoạch muộn, thân hóa gỗ, giảm chất lượng vả giảm ngon miệng đối với gia súc Thời gian trồng tốt nhất là vào đầu mùa mưa (bảo đảm tỷ lệ sống cao) Trồng một lần, thu hoạch trong 4–5 năm hoặc dài hơn Có thể cho ăn tươi hoặc ủ ướp
Cỏ Sả sinh trưởng mạnh, năng suất cao, chịu hạn khá, chịu nóng, bóng cây, chất lượng tốt, dễ trồng Không chịu được ngập úng cũng như mùa khô kéo dài, có thể nhân giống bằng hạt hoặc bằng bụi
Trang 29SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
16
2.5.3 Các giống cỏ Sả phổ biến ở Việt Nam
Cỏ Sả TD 58 (Panicum maximum TD 58)
Là một dòng cỏ Sả có lá màu xanh sẫm, thân và gốc màu xanh tím, hạt
có màu xanh tím, được trồng rất nhiều ở Thái Lan, nhất là vùng Đông Bắc Cỏ
có thể sống sót được ở những vùng có mùa khô kéo dài nhưng phát triển tốt ở những vùng có mùa khô ngắn hoặc không có mùa khô Cỏ phát triển tốt ở những vùng đất tốt và được bón phân Cỏ có khả năng tái sinh rất nhanh Cỏ
Sả TD 58 được đưa vào Việt Nam từ năm 1995 Cỏ dễ thích nghi, dễ trồng, cho năng suất chất xanh cao, chất lượng tốt, gia súc ăn ngon miệng Đặc biệt thân lá rất mềm, tỉ lệ lá/thân khoảng 65%, ra bông một lần trong năm vào khoảng tháng 10, dễ thu hạt và cho năng suất hạt cao, chất lượng hạt tốt Năng suất chất xanh của cỏ đạt 170–220 tấn/ha (mùa mưa), thâm canh có thể đạt tới 300–320 tấn/ha/năm, năng suất hạt đạt 300–350 kg/ha Cỏ có thể nhân giống bằng hạt và bằng thân gốc đều tốt
Cỏ Sả Common và Ciat 673 (P cv common và P cv Ciat 673)
Cỏ này lá màu xanh, gốc, thân và hạt có màu xanh đậm Cỏ được đưa vào nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi Sông Bé từ năm 1993 đến năm 1996 chính thức phát triển 2 dòng cỏ này ra sản xuất Năng suất cỏ thu được trung bình trong mùa mưa là 140–170 tấn/ha Trồng thâm canh có thể đạt 180–200 tấn/ha Cỏ Common và Ciat 673 có thân lá mềm, bẹ
lá to, tỷ lệ lá/thân khoảng 60%, có tính ngon miệng cao nên gia súc thích ăn
Cỏ này ra bông nhiều lần trong năm nên có thể thu hạt nhiều lần, năng suất hạt cao từ 250–300kg/ha, hạt chắc nhiều và tỷ lệ nảy mầm cao Đặc điểm ra bông nhiều lần trong năm cũng là một hạn chế của giống cỏ này vì khi cỏ ra bông chất lượng cỏ giảm đi rất nhanh
Cỏ Sả K280
Là giống cỏ Sả thân thấp lá nhỏ, năng suất thấp hơn các giống kể trên nhưng có khả năng phát triển ở những vùng đất ít màu mỡ Đặc điểm nổi bật của cỏ Sả K280 là khả năng chịu hạn tốt, có bộ rễ ăn sâu, chịu giẫm đạp, có lá, thân nhỏ và mềm Cỏ thích hợp với những vùng đất đồi, ít dinh dưỡng và có mùa khô kéo dài
2.5.4 Thành phần dưỡng chất và tính năng sản xuất
Về hàm lượng độc tính trong cây: chưa có phát hiện nào về độc tính lẫn chất kháng dưỡng Năng suất trung bình trong khoảng từ 150–200 tấn/ha/năm, tuy nhiên có thể đạt đến 300 tấn/ha/năm tùy vào điều kiện đất đai, phân bón,
kỹ thuật chăm sóc… Lứa đầu thu hoạch khi thảm cỏ trồng được 60 ngày tuổi,
Trang 30SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
17
các lứa tái sinh thu hoạch sau khi thảm cỏ có độ cao 45–60 cm (tùy theo mùa
và trạng thái phát dục của cỏ) Phần gốc để lại là 10–15cm Có thể cắt 8–9 lứa/năm Cỏ Sả phát triển nhanh trong mùa mưa và đây là một trong những loài có thể thay thế Pangola vì giữ được năng suất đáng kể mặc dù độ ngon miệng có kém hơn
bò vào chăn thả Thảm cỏ chăn thả có độ cao 35–40 cm là hợp lý Thời gian nghỉ để cỏ tái sinh mọc lại (chu kỳ chăn thả) khoảng 25–35 ngày và thời gian chăn gia súc liên tục trên một lô cỏ không quá 4 ngày (Lê Đức Ngoan và cộng
sự, 2006) Thành phần dưỡng chất của cỏ Sả thích hợp cho chăn nuôi gia súc lớn, ngựa, kể cả heo, cá ở một số nơi trên thế giới
2.6 Cỏ Voi
2.6.1 Nguồn gốc và phân bố
Cỏ Voi có tên khoa học là: Pennisetum purpuretum, có nguồn gốc từ
châu Phi nhiệt đới Cỏ Voi có nhiều giống như Bela Vista, Napier, Mott,…Giống phổ biến nhất và cho năng suất cao là giống lai giữa P.purpureum và P.glaucum có tên là King, có nơi gọi là King grass, trồng nhiều ở Indonesia Giống cỏ Voi lai cao sản khác nữa là Floria napier trồng nhiều ở Philippine Cỏ Voi được trồng rất rộng rãi ở tất cả các vùng nhiệt đới
và á nhiệt đới