Hiện nay có nhiều mô hình được xâydựng và ứng dụng rộng rãi trong thực tế, với mục đích tập làm quen với các môhình toán đang được ứng dụng ở Việt Nam, đồ án đã chọn mô hình MIKE 11 đểng
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành Đồ án tốt nghiệp “ Nghiên cứu, ứng dụng mô hình toán đánh
giá ngập lụt khu vực hồ Lắk - Buôn Trấp trên lưu vực sông Srêpôk.” là một
mốc son quan trọng đánh dấu việc kết thúc quá trình học tập và nghiên cứu của hơn bốn năm tại mái trường Đại học Thủy Lợi Những kết quả làm được trong Đồ
án tuy không nhiều nhưng nó đã mang lại cho tôi nhiều bài học, kinh nghiệm quý giá về việc tiếp cận và giải quyết một bài toán trong thực tế của người kỹ sư thủy văn, cung cấp thêm những kiến thức để có thể ra trường và đi làm theo đúng chuyên môn đã đào tạo.
Để hoàn thành được Đồ án đúng thời hạn, tôi đã nhận được sự chỉ bảo, giúp
đỡ rất nhiệt tình của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè và người thân Mọi người
đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Nhân đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo PGS.TS Ngô Lê Long trưởng bộ môn Mô hình toán và Dự báo Thủy văn, TS Nguyễn Hoàng Sơn thuộc bộ môn Mô hình toán và Dự báo Thủy văn đã tạo cho em những điều kiện tốt nhất, định hướng cho tôi cách tiếp cận với bài toán và đã giành nhiều thời gian quý báu
để đọc, đóng góp những ý kiến, nhận xét để tôi có thể hoàn thành Đồ án của mình.
Con xin bày tỏ lòng biết ơn tới ông bà, bố mẹ, anh chị em đã dành cho con những điều kiện tốt nhất để cho con có được ngày hôm nay.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới tất cả các bạn trong lớp 51G và 51V, các anh chị khóa trên đã giúp đỡ và cùng tôi bước đi trong suốt thời gian làm đồ án và những năm học tập tại trường Đại học Thủy Lợi.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo Trường Đại học Thủy Lợi nói chung và Khoa Thủy Văn – Tài Nguyên Nước nói riêng đã tạo cho tôi một môi trường học tập lành mạnh, cho tôi những cơ hội để phấn đấu và dần trưởng thành hơn trong suốt những năm học vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Vũ Trung Hải
Trang 21.1.2 Đặc điểm địa hình địa mạo 4
1.1.3 Địa chất lưu vực sông Srêpôk. 6
1.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng 9
1.1.5 Đặc điểm thảm phủ. 10
1.2 Đặc điểm khí tượng thủy văn 12
1.2.1 Đặc điểm mạng lưới sông suối trên lưu vực sông Srêpôk. 12
1.2.2 Đặc trưng hình thái sông. 15
1.2.3 Mạng lưới các trạm khí tượng, thủy văn 16
1.2.4 Chế độ khí hậu, khí tượng. 17
1.2.5 Chế độ thủy văn. 24
1.3 Tình hình dân sinh - kinh tế - xã hội 26
CHƯƠNG II TÌNH HÌNH LŨ LỤT KHU VỰC HỒ LẮK-BUÔN TRẤP VÀ
ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH DIỄN TOÁN NGẬP LỤT 29
2.1 Tình hình lũ lụt khu vực nghiên cứu 29
2.1.1 Các hình thế thời tiết gây mưa lớn, lũ lớn trên lưu vực Sông Srêpôk.
29
2.1.2 Đặc điểm lũ và diễn biến tình hình lũ trên khu vực. 29
2.1.3 Quy hoạch phòng chống lũ 33
2.2 Khái quát về bản đồ ngập lụt 362.3 Tổng quan về mô hình thủy văn, thủy lực phục vụ tính toán ngập lụt: 37
2.3.1 Các mô hình mưa dòng chảy:37
2.3.2 Mô hình thủy lực: 38
2.4 Giới thiệu các mô hình được lựa chọn 41
2.4.1 Mô hình Mike Nam. 41
Trang 32.4.2 Mô hình MIKE 11. 45
2.4.3 Ứng dụng mô hình MIKE 11.50
2.4.4 Ứng dụng Arc Gis 50
CHƯƠNG III THIẾT LẬP MÔ HÌNH TOÁN XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGẬP
LỤT VÙNG HỒ LẮK – BUÔN TRẤP 52
3.1 Thiết lập sơ đồ tính toán thủy lực cho mạng lưới sông Srêpôk vùng hồ Lắk – Buôn Trấp 52
3.1.1 Sơ đồ mạng lưới sông 52 3.1.2 Sơ đồ tính toán 56 3.1.3 Xây dựng ô chứa. 57 3.2 Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình 59 3.2.1 Mô hình NAM 59 3.2.2 Mô hình MIKE 11. 64 CHƯƠNG IV XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGẬP LỤT KHU VỰC NGHIÊN CỨU 73
4.1 Thiết lập các kịch bản mô phỏng 73
4.2 Xây dựng bản đồ ngập lụt và đánh giá các phương án 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 88
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
A-BẢNG BIỂU
Bảng 1-1: Diện tích và tỷ lệ diện tích theo độ cao trên lưu vực Srêpôk 5
Bảng 1-2:Các nhóm đất chính trên lưu vực Srêpôk 10
Bảng 1-3: Rừng đặc dụng trên lưu vực Srêpôk 11
Bảng 1-4: Các đặc trưng cơ bản của các tiểu lưu vực 15
Bảng 1-5: Đặc trưng hình thái những sông nhánh trong lưu vực sông Srêpôk 15
Bảng 1-6: Lưới trạm thuỷ văn trên lưu vực 16
Bảng 1-7: Nhiệt độ trung bình tháng nhiều năm tại các trạm khí tượng (oC) 17
Bảng 1-8: Lượng bốc hơi trung bình tháng nhiều năm tại các trạm khí tượng 18
Bảng 1-9 : Độ ẩm trung bình tháng nhiều năm tại các trạm khí tượng (%) 19
Bảng 1-10: Số giờ nắng trung bình tháng nhiều năm tại các trạm khí tượng 20
Bảng 1-11: Tốc độ gió trung bình tháng nhiều năm tại các trạm khí tượng (m/s) 21
Bảng 1-12: Lượng mưa năm trung bình nhiều năm lưu vực Srêpôk 22
Bảng 1-13:Tài nguyên nước mặt 3 nhánh sông thuộc lưu vực sông Srêpôk 24
Bảng 2-1: Lũ lớn nhất trong lưu vực từ 19782005 30
Bảng 2-2: Thời gian xuất hiện mực nước lũ lớn nhất (1977-2003) 30
Bảng 2-3: Mực nước báo động tại các điểm kiểm soát lũ 31
Bảng 2-4: Các tham số thống kê Qmax tại các trạm thuỷ văn trên sông Srêpôk 32
Bảng 2-5: Lưu lượng Qmax ứng với các tần suất thiết kế 33
Bảng 2-6: Bảng thống kê các trận lũ lịch sử xảy ra trên lưu vực sông Srêpôk 33
Bảng 3-1: Mạng sông được mô phỏng trong sơ đồ thủy lực 54
Bảng 3-2: Các mặt cắt sông chính được mô phỏng trong sơ đồ thủy lực 54
Bảng 3-3: Các khu vực nhập lưu trên khu vực hồ Lắk-Buôn Trấp 57
Bảng 3-4: Các ô chứa và các vị trí nhận nước trên sông 59
Bảng 3-5: Bộ thông số mô hình của lưu vực Giang Sơn 61
Bảng 3-6: Bộ thông số mô hình của lưu vực Đức Xuyên 62
Bảng 3-7: Bộ thông số mô hình của lưu vực Cầu 14 63
Bảng 3-8: Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình mưa - dòng chảy 64
Bảng 3-9: Những trận lũ điển hình lựa chọn để hiệu chỉnh và kiểm định 65
Bảng 3-10: Bộ thông số nhám thủy lực 65
Trang 5Bảng 3-11: Mực nước tính toán và thực đo đỉnh lũ tại trạm Đức Xuyên từ
11/12/1998 1:00:00 AM đến 11/30/1998 10:00:00 PM 67
Bảng 3-12: Mực nước tính toán và thực đo tại trạm thủy văn Giang Sơn từ 11/12/1998 1:00:00 AM đến 11/30/1998 10:00:00 PM 68
Bảng 3-13: Mực nước tính toán và thực đo đỉnh lũ tại trạm Đức Xuyên từ 10/08/2000 1:00:00 AM đến 10/28/2000 4:00:00 AM 69
Bảng 3-14: Mực nước tính toán và thực đo tại trạm thủy văn Giang Sơn từ 10/08/2000 1:00:00 AM đến 10/28/2000 4:00:00 AM 70
Bảng 3-15: Mực nước tính toán và thực đo đỉnh lũ tại trạm Đức Xuyên từ 11/10/2003 4:00:00 AM đến 12/10/2003 10:00:00 PM 71
Bảng 3-16: Mực nước tính toán và thực đo tại trạm thủy văn Giang Sơn từ 11/10/2003 4:00:00 AM đến 12/10/2003 10:00:00 PM 72
Bảng 4-1: Diện tích ngập lụt trong khu vực 76
Bảng 4-2: Vết lũ trên khu vực năm 2000 77
Bảng 4-3: Diện tích ngập lụt trong khu vực 78
Bảng 4-4: So sánh diện tích ngập lụt trong khu vực với trận lũ năm 2000 79
Bảng 4-5: Diện tích ngập lụt trong khu vực 80
Bảng 4-6: So sánh diện tích ngập lụt trong khu vực với trận lũ năm 2000 81
Bảng 4-7: Diện tích ngập lụt trong khu vực 82
Bảng 4-8: So sánh diện tích ngập lụt trong khu vực với trận lũ năm 2000 82
Bảng 4-9: Diện tích ngập lụt trong khu vực 83
Bảng 4-10: So sánh diện tích ngập lụt trong khu vực với trận lũ năm 2000 và PA1. 84
Trang 6B- HÌNH VẼ
Hình 1-1: Bản đồ hành chính lưu vực Srêpôk 3
Hình 1-2: Bản đồ phân vùng độ cao lưu vực sông Srêpôk 6
Hình 1-3: Bản đồ mật độ che phủ rừng lưu vực sông Srêpôk 11
Hình 1-4: Bản đồ mạng lưới sông suối lưu vực Srêpôk 12
Hình 1-5: Bản đồ đẳng trị mưa năm trung bình nhiều năm lưu vực Srêpôk 21
Hình 1-6: Bản đồ mật độ dân số năm 2004 lưu vực sông Srêpôk 26
Hình 2-1: Sơ đồ mô phỏng mô hình MIKE NAM 43
Hình 2-2: Cấu trúc mô đun trong MIKE 11 46
Hình 2-3: Mô tả hệ phương trình Saint – Venant 48
Hình 2-4: Các điểm nút tính toán trong mô hình Mike 11 48
Hình 2-5: Cấu trúc mô phỏng cho MIKE 11 49
Hình 3-1: Sơ đồ thủy lực hệ thống sông khu vực hồ Lắk-Buôn Trấp trong MIKE 11 53
Hình 3-2 : Mặt cắt ngang sông phổ biến 55
Hình 3-3: Sơ đồ áp dụng mô hình vào bài toán 56
Hình 3-4: Các ô chứa khu vực hồ Lắk-Buôn Trấp trên lưu vực sông Srêpôk 58
Hình 3-5: Các lưu vực cần tính toán dòng chảy bằng mô hình NAM 60
Hình 3-6: Kết quả hiệu chỉnh mô hình tại trạm Giang Sơn (1977 – 1992) 60
Hình 3-7: Kết quả kiểm định mô hình tại trạm Giang Sơn (1993 – 2003) 61
Hình 3-8: Kết quả hiệu chỉnh mô hình tại trạm Đức Xuyên (1978 – 1992) 62
Hình 3-9: Kết quả kiểm định mô hình tại trạm Đức Xuyên (1993 – 2003) 62
Hình 3-10: Kết quả hiệu chỉnh mô hình tại trạm Cầu 14 (1977 – 1992) 63
Hình 3-11: Kết quả kiểm định mô hình tại trạm Cầu 14 (1993 –2003) 63
Hình 3-12: Đường quá trình mực nước tại trạm thủy văn Đức Xuyên từ 11/12/1998 1:00:00 AM đến 11/30/1998 10:00:00 PM 66
Hình 3-13: Đường quá trình mực nước tại trạm thủy văn Giang Sơn từ 11/12/1998 1:00:00 AM đến 11/30/1998 10:00:00 PM 66
Hình 3-14: Đường quá trình mực nước tại trạm thủy văn Đức Xuyên từ 10/08/2000 1:00:00 AM đến 10/28/2000 4:00:00 AM 68
Trang 7Hình 3-15: Đường quá trình mực nước tại trạm thủy văn Giang Sơn từ 10/08/2000
1:00:00 AM đến 10/28/2000 4:00:00 AM 69
Hình 3-16: Đường quá trình mực nước tại trạm thủy văn Đức Xuyên từ 11/10/2003 4:00:00 AM đến 12/10/2003 10:00:00 PM 70
Hình 3-17: Đường quá trình mực nước tại trạm thủy văn Giang Sơn từ 11/10/2003 4:00:00 AM đến 12/10/2003 10:00:00 PM 71
Hình 4-1: Vị trí hồ Buôn Tua Srah 74
Hình 4-2: Đường quá trình lũ hạ lưu Buôn Tua Srah theo các phương án 75
Hình 4-3: Bản đồ ngập lụt khu vực hồ Lắk Buôn Trấp trận lũ năm 2000 76
Hình 4-4: Bản đồ ngập lụt khu vực hồ Lắk-Buôn Trấp trận lũ năm 1998 78
Hình 4-5: Bản đồ ngập lụt khu vực hồ Lắk Buôn Trấp trận lũ năm 2003 80
Hình 4-6: Bản đồ ngập lụt khu vực hồ Lắk-Buôn Trấp phương án hồ Buôn Tua Srah cắt lũ theo quy trình vận hành liên hồ 81
Hình 4-7: Bản đồ ngập lụt khu vực hồ Lắk-Buôn Trấp phương án hồ Buôn Tua Srah có mực nước trước lũ là 485 (m) 83
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu chung.
Lũ lụt là một trong những thảm hoạ thường xuyên nhất gây thiệt hại cho tráiđất Lũ tác động đến đời sống của hàng triệu người dân trên thế giới, nhiều hơn bất
kỳ thảm hoạ nào, kể cả chiến tranh, hạn hán và nạn đói Hàng năm có khoảng 3.3triệu người mất nhà cửa do lũ lụt Trong những năm gần đây, dưới tác động củabiến đổi khí hậu, tình hình lũ lụt ngày càng gia tăng cả về tần suất lẫn cường độ gâythiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng và tài sản của con người
Tại Việt Nam, sông Srêpôk là con sông lớn ở Tây Nguyên do hai sông KrôngKnô và sông Krông Ana hợp thành tại thác Buôn Dray Do địa hình vùng đất thấptrũng có dạng lòng chảo ở hạ lưu hai sông Krông Knô và Krông Ana, dẫn đến mùamưa, lượng nước đổ về vùng đất này tiêu thoát không kịp, gây ngập lụt cho toàn bộvùng đồng bằng trũng Lắk - Buôn Trấp Điều này đã ảnh hưởng đến xuất nôngnghiệp cũng như các hoạt động kinh tế xã hội ở khu vực Theo báo cáo thống kêthiệt hại do ngập lụt hàng năm thì tổng thiệt hại ước tính mỗi năm khoảng từ 7 tớigần 350 tỷ đồng, trong đó riêng diện tích lúa bị ngập lụt mỗi năm đều lớn hơn 1000
ha, có những năm diện tích lúa bị ngập lên tới 7000 ha (năm 2001) Chính vì vậy,việc xây nghiên cứu, ứng dụng mô hình thủy lực để đánh giá ngập khu vực hồ Lắk-Buôn Trấp là hết sức cấp thiết
Có rất nhiều cách tiếp cận và giải quyết vấn đề lũ khác nhau Trong nhữngnăm gần đây, mô hình toán thuỷ văn - thuỷ lực được coi là một công cụ đắc lựctrong việc tính toán, nghiên cứu dòng chảy lũ Hiện nay có nhiều mô hình được xâydựng và ứng dụng rộng rãi trong thực tế, với mục đích tập làm quen với các môhình toán đang được ứng dụng ở Việt Nam, đồ án đã chọn mô hình MIKE 11 đểnghiên cứu dòng chảy lũ trên lưu vực sông Srêpôk
2 Mục tiêu đồ án.
Ứng dụng các mô hình toán thủy văn, thủy lực và GIS đánh giá ngập lụt khuvực hồ Lắk - Buôn Trấp thuộc lưu vực sông Srêpôk theo các kịch bản lũ và vậnhành hồ chứa
Trang 103 Nhiệm vụ đồ án.
Phân tích diễn biến lũ trên hệ thống sông Srêpôk vùng hồ Lắk - Buôn Trấp
Thiết lập mô hình toán để có thể mô phỏng dòng chảy lũ trên lưu vực sôngSrêpôk vùng hồ Lắk - Buôn Trấp
Nghiên cứu ứng dụng của phần mềm thủy lực MIKE 11 vào việc mô phỏng
lũ trên sông
Sử dụng môdun MIKE 11-HD và Arc Gis xây dựng bản đồ ngập lụt và đánhgiá các phương án
4 Phạm vi nghiên cứu.
Khu vực hồ Lắk - Buôn Trấp trên lưu vực sông Srêpôk
5 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp thu thập, thống kê, phân tích địa hình và thủy văn: Phươngpháp này sử dụng trong việc thu thập, thống kê và phân tích tài liệu địa hình, địachất của khu vực nghiên cứu và tài liệu thủy văn tại các trạm thủy văn liên quan trênlưu vực sông Srêpôk làm cơ sở phục vụ cho những nghiên cứu trong đồ án
- Phương pháp mô hình toán: Ứng dụng mô hình thủy lực một chiều Mike 11nghiên cứu dòng chảy lũ tại khu vực hồ Lắk - Buôn Trấp trên lưu vực sông Srêpôkứng với các kịch bản lũ khác nhau
- Phương pháp phân tích hệ thống: Đây là phương pháp thường được sửdụng trong những nghiên cứu thủy văn, thủy lực Diến biến thủy lực dòng sông làkết quả tổng hợp của nhiều yếu tố như: chế độ thủy văn của dòng sông, địa hìnhlòng dẫn…
6 Bố cục của đồ án.
Đồ án gồm phần mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục.Bao gồm 4 chương:
Chương I : Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội lưu vực sông Srêpôk
Chương II : Tình hình lũ lụt khu vực hồ Lắk - Buôn Trấp và đề xuất mô hìnhdiễn toán ngập lụt
Chương III : Thiết lập mô hình toán xây dựng bản đồ ngập lụt vùng hồLắk - Buôn Trấp
Chương IV : Xây dựng bản đồ ngập lụt khu vực nghiên cứu
Trang 11CHƯƠNG I ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
LƯU VỰC SÔNG SRÊPÔK 1.1 Điều kiện tự nhiên.
1.1.1 Vị trí địa lý.
Lưu vực sông Srêpôk nằm trên cao nguyên trung phần Việt Nam và là mộttiểu lưu vực phía Đông của lưu vực Mê Kông, nằm trong phạm vi từ 11°53' đến13°55' vĩ độ Bắc và từ 107°30' đến 108°45' kinh độ Đông Tổng diện tích lưu vực là30.900 km2, trong đó diện tích nằm trên lãnh thổ Việt Nam là 18.480 m2, được chia
ra làm 02 lưu vực độc lập nhau là lưu vực thượng Srêpôk có diện tích là 12.743 km2
và lưu vực Ia Đrăng - Ea Lôp - Ea H'leo có diện tích là 5.737 km2 bao gồm địa phậnhành chính của bốn tỉnh: tỉnh Đăk Lăk - 10.400 km2, chiếm 57%; tỉnh Đăk Nông -3.600km2, chiếm 20%; tỉnh Gia Lai - 2.900 km2, chiếm 16%; tỉnh Lâm Đồng -1.300 km2, chiếm 7%
Hình 1-1: Bản đồ hành chính lưu vực Srêpôk.
Lưu vực Srêpôk có một vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế ở TâyNguyên, phía Bắc lưu vực giáp với lưu vực sông Sê San, phía Tây có đường biêngiới dài 240 km giáp với Cam Pu Chia, phía Nam giáp lưu vực sông Đồng Nai(thuộc các tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ), phía Đông giáp lưu vực Sông Ba
Trang 121.1.2 Đặc điểm địa hình địa mạo.
Lưu vực Srêpôk nằm hoàn toàn về phía Tây của dãy Trường Sơn, bề mặt địahình có hướng dốc thoải dần từ Đông sang Tây Địa hình Srêpôk bị chia cắt phứctạp nhưng đặc trưng hơn cả là là tính phân bậc rõ ràng Các bậc cao nằm về phíaĐông, bậc thấp nằm về phía Tây Mạng sông suối tương đối phát triển và có nhiềuđịa hình khác nhau nhưng có thể khái quát thành 4 dạng địa hình chính:
Bậc địa hình núi cao từ nền granit
Bậc địa hình cao nguyên từ 300-500m trên nền đá phiến
Bậc địa hình cao nguyên trên đá bazal
Địa hình thung lũng sông với các đồng bằng bồi tụ
Địa hình Cao nguyên: Được xem là dạng địa hình đặc trưng nhất của Việt
Nam, tạo nên bề mặt chủ yếu của Srêpôk
Địa hình vùng núi: Trên lưu vực có một số dãy núi cao phân chia lưu vực.
Như dãy Tây Khánh hòa có đỉnh Ca Đung cao 1978m, hòn Gia Lô 1817m Dãy TâyKhánh Hòa là đường chia nước giữa lưu vực sông Krông Ana và sông Đa Nhim.Dãy Chư Yang Sin cấu tạo từ khối Granít nằm về phía nam vùng trũng Krông Pắk-Lăk chạy theo hướng Đông bắc-Tây nam, là dãy có đỉnh cao nhất 2405m Dãy ChưYang Sin dốc thẳng đứng trên thung lũng Krông Ana về phía Bắc, hạ thấp dần vềphía Tây phía Nam dãy Chư Yang Sin là thung lũng Krông Nô Dãy Dan Sona-TaDung dốc đứng trên thung lũng Krông Knô về phía Bắc, về phía Nam thoải dần tớiCao Nguyên Lang Biang và Di Linh
Địa hình thung lũng: Trong lưu vực có Bình nguyên Ea Soúp là một đồng
bằng bóc mòn có núi sót khá bằng phẳng, chưa bị phân sâu như các vùng khác, độcao 140-300m, thoải dần phía Tây Ở đây gặp các núi sót tạo bởi đá mac ma, cao400-800m là di tích của bề mặt san bằng cổ Bề mặt đồng bằng Ea Soúp cắt vào bềmặt Plioxen có phủ bazan của cao nguyên Plei Ku và Buôn Ma Thuột Tích tụ bồitích rất hạn chế dọc theo các sông Ea Hleo, Ea Soúp Ngay cả sông Srêpôk mộtsông khá lớn cũng không tạo được bãi bồi nào quan trọng Vùng trũng Krông Pắck-Lắk ở phía nam cao nguyên Buôn Ma Thuột vốn là một thung lũng bóc mòn vớinhiều núi sót đã biến thành một cánh đồng tích tụ với đầm lầy và hồ Lắk rộng trên800ha do lớp bazan đệ tứ lấp mất dòng chảy của Krông Ana
Trang 13Đặc thù quan trọng nhất về Lưu vực Srêpôk là sơn nguyên, bao gồm các dãynúi cao trên 2000m chạy dọc Đông - Nam lưu vực, tiếp theo là các dãy núi thấpdưới 2000 m và các cao nguyên với độ cao từ 300 - 800m thoái dần về phía Tây.Diện tích và tỷ lệ diện tích theo các mức như sau:
Bảng 1-1: Diện tích và tỷ lệ diện tích theo độ cao trên lưu vực Srêpôk.
Trang 14Hình 1-2: Bản đồ phân vùng độ cao lưu vực sông Srêpôk.
1.1.3 Địa chất lưu vực sông Srêpôk.
a Cấu trúc địa chất.
Lưu vực Srêpôk có cấu trúc địa chất khác nhau, chủ yếu phát triển trên nền
đá thuộc thời Trung sinh (Mesozoic), với các uốn nếp có tuổi từ Đại nguyên sinh(Proterozoic) đến kỷ Phấn trắng (Creta) Đá mẹ, mẫu chất là yếu tố chi phối đến sựhình thành đất tại chỗ và các vùng lân cận Trên địa bàn lưu vực có các mẫu chất, đá
Trang 15đã bị thu hẹp, nhiều nơi chỉ còn lại vết tích đá bazan (an khê, kon chro, )hoặc các loại đá bị vùi lấp ở dưới đã lộ trên mặt đất (các vùng rìa cao nguyênbazan).
Đá macma axit có màu xám sáng, hàm lượng SiO2 khá cao 65- 75%, trongkhi đó hàm lượng CaO lại thấp 3,12%, tỉ lệ Al2O3 khá cao 15,1% Do vậy,lớp vỏ phong hoá thường mỏng, độ dày tầng đất mịn mỏng, thành phần cơgiới nhẹ, lẫn nhiều sỏi sạn thạch anh, hàm lượng cation trao đổi thấp, đấtchua, có màu vàng đỏ hoặc đỏ vàng Đá macma axit phân bố ở địa hình núi
và gò đồi thường gặp ở Chư Pah, Chư Prông, Đức Cơ, KBang, Mang Yang,Kon Chro, Ayun Pa, Krông Pa
Đá bazan là loại macma bazơ tạo nên các cao nguyên rộng Đá bazan khiphong hoá tạo nên các loại đất đỏ bazan, tầng đất dày có tỉ lệ sét cao, tỉ lệ sétphân tán trong nước thấp, chịu xói mòn thấp, kết cấu đoàn lạp, tính chất lýhọc đất tốt
Đá sét và biến chất gồm nhiều loại khoáng vật khác nhau, trong đó chủ yếu
là khoáng vật sét Về độ hạt, gồm các phần tử rất nhỏ bé, dưới 0,01 mm(chiếm trên 50%), trong đó trên 25% có kích thước dưới 0,001 mm Ngoài racòn gặp nhiều khoáng vật phi sét như: vụn cơ học, chất keo, chất hữu cơ Tuỳtheo vật chất hỗn hợp, chúng có màu sắc khác nhau như: xám, phớt đen,vàng, đỏ Đá sét khi phong hoá cho tầng đất dày, thành phần cơ giới thịt nặnghoặc sét, đất có màu đỏ vàng
Đá cát kết, đá bột kết gặp ở vùng phía nam Chư Prông, Ayun Pa, Krông Pa,
An Khê, Ea Soup Thành phần hạt vụn phần lớn là khoáng vật bền vững, khóphong hoá như: thạch anh, mutcovic, hiđrôxit sắt, fenpat, có độ hạt từ 0,1-1
mm hay 0,05-2 mm Thành phần xi măng thường là cacbonat, silic (opan,thạch anh), hiđrôxit sắt, kaolinit Màu sắc của đá đa dạng, phụ thuộc vào hạtvụn và xi măng Khi phong hoá cho đất có thành phần cơ giới nhẹ-cát thô,màu xám sáng, nghèo dinh dưỡng
Mẫu chất phù sa cổ có tuổi địa chất kỷ đệ tứ (quarternary), có địa hình dạngđồi thấp, lượn sóng nhẹ Đất hình thành trên mẫu chất phù sa cổ có tầng đấtdày, màu nâu vàng, thành phần cơ giới thịt nhẹ, có sự chuyển tầng đột ngột
Trang 16về thành phần cơ giới giữa tầng mặt và tầng sâu Quá trình feralit phát triển,
độ phì tự nhiên thấp, có xu hướng bạc màu, nhiều nơi có đá ong, kết vonhình thành
Phù sa (contemporary loose deposits) là sản phẩm do sông suối bồi đắp, tíchđọng lại Vật liệu được mài mòn và tuyển lựa kỹ Quy luật phân bố hoàn toànphù hợp với động năng dòng chảy Căn cứ vào tuổi của phù sa và quá trìnhbồi đắp thường xuyên hay không để phân ra: phù sa cũ hay phù sa mới Từsản phẩm phù sa hình thành các loại đất phù sa có độ màu mỡ cao, tầng đấtdày, địa hình bằng phẳng, gần nguồn nước Mẫu chất phù sa phân bố ở vensông Krông Ana, sông Krông Pách, sông Krông Nô, sông Srêpôk và ở một
số suối lớn, tạo nên các loại đất phù sa
Dốc tụ là sản phẩm tích đọng của quá trình bào mòn được di chuyển không
xa lắm, mức độ mài mòn và chọn lọc kém Các vật liệu hình thành đất phân
bố lộn xộn, không có quy luật Mẫu chất dốc tụ gặp rải rác ở các thung lũnghẹp vùng núi, gò đồi, tạo nên các vùng đất có thành phần cơ giới không đồngnhất với quá trình khủ là chủ đạo trong sự hình thành đất
Nét đặc trưng của địa chất lưu vực là sự có mặt của thành tạo địa chất cổ đớiKon Tum có tuổi Proterozoi, với các thành phần thạch học chủ yếu bao gồmnhóm đá Macma axit và đá biến chất phân bố ở M'Drak, Ea Kar, KrôngBông và phần phía bắc Krông H'năng, Ea Hleo Nhóm đá trầm tích lụcnguyên phân bố chủ yếu ở phía Tây lưu vực (Ea Soúp, Buôn Đôn, Cư Jút,Lak, Krông Păk) Nhóm đá macmabazơ (chủ yếu là đá Bazan) có diện tích vàquy mô khá lớn phân bố tập trung chủ yếu ở hai cao nguyên BMT - Ea Hleo
và cao nguyên Đak Nông, một phần nhỏ ở cao nguyên M'Drăk Nhóm trầmtích bở rời phù sa và dốc tụ (aluvi, deluvi) phân bố ở địa hình thung lũngsông và trũng giữa núi, ven rìa các cao nguyên và dọc theo các sông lớn
b Địa chất thủy văn.
Nước ngầm trên lưu vực chủ yếu ở trong các tầng đá trẻ, có các tầng chứanước chủ yếu sau:
Trầm tích kỷ đệ tứ
Bazal trẻ
Trang 17Nhìn chung các loại đá này là tầng chứa nước tốt Chiều dày tầng chứa nướctrên lưu vực Krông Pách từ 30m đến 35m; trên Krông Ana từ 20m đến 25m, song
có nơi cũng chỉ có chiều dày từ 2 đến 10 m Chiều sâu mặt nước chỉ 1-2m, khả năngkhai thác các giếng đạt 1-6l/s Chất lượng nước cho thấy tổng độ khoáng hóaM=0,03-0,08 mg/l Độ pH=6,65-7,40
o Nhóm đất phát triển tại chỗ: Nhóm này chiếm diện tích khá lớn, hình thành
trên sản phẩm phong hoá của các loại đá mẹ trầm tích, macma và biến chất.Các nhóm đất chính trên lưu vực Srêpôk: Có 11 loại đất chính, lớn nhất là đấtxám 767.508 ha (42,32%) và đất đỏ bazan 534.583 ha (29,48%) Đây là loại đất màu
mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng có giá trị như: cà phê, cao su, điều…
Trang 18Bảng 1-2:Các nhóm đất chính trên lưu vực Srêpôk.
- Rừng nhiệt đới thường xanh: Phát triển chủ yếu trên địa hình núi cao,
tầng đất dày, hoặc ven các khe suối bao gồm nhiều tầng với nhiều loại cây
- Rừng lá rụng: Là rừng rụng lá theo mùa còn gọi là rừng khộp, phát triển
chủ yếu trên địa hình bằng hoặc đồi lượn sóng với độ dốc thấp ở những khu vựcđất xám và điều kiện khí hậu khô nóng Chúng thường rụng lá vào mùa khô
- Rừng nửa lá rụng: Là loại rừng phân bố ở những vùng chuyển tiếp giữa
rừng thường xanh và rừng lá rụng theo mùa
- Rừng tre, nứa hỗn hợp với các loài gỗ.
- Rừng trồng ở lưu vực chủ yếu là thông, keo, bạch đàn, tếch…
Trang 19Hình 1-3: Bản đồ mật độ che phủ rừng lưu vực sông Srêpôk.
Lưu vực sông Srêpôk là vùng có độ che phủ của rừng còn khá lớn (Việt Nam53,69% và Campuchia 86,67%, tuy rừng tự nhiên đã bị tác động mạnh do khai thác
và chặt phá, du canh ở giai đoan sau năm 1975, đến 1995 giảm mạnh diện tíchrừng gỗ, rừng hỗn giao và rừng tre nứa
Bảng 1-3: Rừng đặc dụng trên lưu vực Srêpôk.
Ho Lak Đăk Lăk Rừng bảo tồn TN&MT 12.744 1986
Kon Cha
Rang
Nguồn: UNDP
Trang 201.2 Đặc điểm khí tượng thủy văn
1.2.1 Đặc điểm mạng lưới sông suối trên lưu vực sông Srêpôk.
Mạng lưới sông ngòi
o Sông Krông Knô:
Sông Krông Knô bắt nguồn từ những dãy núi cao trên 2000m chạy dọc theobiên giới phía nam tỉnh Đắk Lắk Sau đó chuyển hướng chảy lên phía bắc nhập vàosông Krông Ana tại thác Buôn Đray cùng đổ vào sông Srêpôk tại đây Diện tích lưuvực sông là 3.920km2 và chiều dài dòng chính là 156km, độ dốc trung bình củasông 6,8%o Lưu vực sông có chiều dài 125km, cao độ bình quân 917m và độ dốctrung bình của lưu vực là 17,6%
Hình 1-4: Bản đồ mạng lưới sông suối lưu vực Srêpôk.
Trang 21Sông Krông Knô bao gồm 2 nhánh sông chính là Đắk Krông Kma, ĐắkMang và các sông suối nhỏ khác.
- Sông Đắk Krông Kma
Sông Đắk Krông Kma bắt nguồn từ dãy núi Chư Jang Sin có độ cao bìnhquân trên 2.000m, hướng chảy chủ yếu là đông – tây Đây là vùng núi cao, rừng còntương đối dày, độ dốc lòng sông khá lớn có thể đạt tới 40 – 50%o ở phần thượngnguồn sông Vùng thượng nguồn sông cũng là vùng có lượng mưa lớn đạt 2.000 –2.200mm Diện tích lưu vực là 147km2, dòng chính sông dài 22km Độ dốc bìnhquân lưu vực là 33,2% độ cao bình quân lưu vực là 1177m
- Sông Đắk Mang
Sông Đắk Mang bắt nguồn từ cao nguyên Sanaro có đỉnh cao 1.500m Sôngchảy theo hướng tây bắc – đông nam, độ dốc lòng không lớn Đây là vùng chịu ảnhhưởng mạnh của khí hậu tây Trường Sơn có lớp dòng chảy năm bình quân2.000mm Diện tích lưu vực là 1.490km2, dòng chính sông dài 69km Độ dốc bìnhquân lưu vực là 15,1% độ cao bình quân lưu vực là 767m
o Sông Krông Ana:
Sông Krông Ana là hợp lưu chủ yếu của 3 sông nhánh lớn là Krông Buk,Krông Pach và Krông Bông Tổng diện tích lưu vực là 3.200km2, chiều dài dòngchính là 215km Dòng chính sông chảy theo hướng đông – tây dọc theo sông vềphía trung, hạ lưu là những bãi lầy đất chua do bị ngập lâu ngày Độ dốc của nhữngsông nhánh lớn thượng nguồn từ 4 – 5%o, đoạn sông phía hạ lưu trong vùng Lắk có
độ dốc nhỏ vào khoảng 0,25%o
- Sông Krông Pach
Sông Krông Pach bắt nguồn từ dãy núi phía tây tỉnh Khánh Hoà, ở độ cao1.500m, dòng chảy theo hướng đông – tây rồi đổ vào Krông Ana Lưu vực này chịuảnh hưởng chủ yếu của khí hậu đông Trường Sơn với lượng mưa trung bình 1600 –1700mm Phần thượng nguồn sông dài 30km, lòng sông dốc, độ dốc đạt tới 30%o.Vượt qua đoạn này sông chảy trên vùng cao nguyên có địa hình bằng phẳng, lòngsông uốn khúc quanh co, chỗ mở rộng, chỗ thu hẹp đột ngột, làm cho điều kiện tiêuthoát lũ khó khăn mỗi khi có lũ lớn, gây ngập lụt dài ngày
Trang 22- Sông Krông Buk
Sông Krông Buk bắt nguồn từ những dãy núi cao phía bắc lưu vực, với độcao nguồn sông 800 – 1.000m Khoảng 70km đoạn sông thượng nguồn chảy theohướng bắc – nam, sau đó đổ vào sông Krông Ana Lưu vực chịu tác động của khíhậu tây Trường Sơn và khí hậu đông Trường Sơn
- Sông Krông Bông
Sông Krông Bông có diện tích lưu vực 809km2, bắt nguồn từ dãy núi phíaĐông Trường Sơn, có đỉnh Chư Jang Sin cao 2.405m Sông chảy theo hướng đông– tây và nhập vào sông Krông Ana Lưu vực sông chịu ảnh hưởng của khí hậu đông
và tây Trường Sơn với mùa mưa kéo dài từ tháng V đến tháng XI Vùng thượngnguồn có lượng mưa năm tương đối lớn khoảng 2.000mm/năm Vùng hạ lưu sông
có lượng mưa nhỏ hơn, lượng mưa năm khoảng 1.600 – 1.700 mm/năm
o Sông Ea H’leo:
Sông Ea H’leo bắt nguồn từ đỉnh Ea Ban ở độ cao 720m trên địa phận xã DleYang huyện Ea H’leo tỉnh Đắk Lăk Sông có chiều dài 143km chảy qua địa phậnhai huyện Ea H’leo và Ea Soup trước khi hợp lưu với suối Ea Lốp cách biên giớiViệt Nam – Campuchia khoảng 1km rồi đổ vào sông Srêpôk trên đất Campuchia.Diện tích lưu vực của Ea H’leo rộng 3.080km2 nằm trên địa bàn 6 huyện thuộc haitỉnh Đắk Lắk và Gia Lai Sông Ea H’leo có các nhánh chính là Ea H’leo, Ea Soup,
Ea Drang và Ea Khah, ngoài ra còn có một số nhánh suối nhỏ
- Nhánh Ea H’leo
Nhánh Ea H’leo là thượng nguồn của sông Ea H’leo, có diện tích lưu vực638km2, chiều dài sông 82km
- Suối Ea Soup
Suối Ea Soup là nhánh lớn nhất của Ea H’leo với diện tích lưu vực 994km2
và chiều dài 104km Các nhánh thượng nguồn bắt nguồn ở độ cao 300 – 400m,phần trung và hạ lưu chảy qua vùng đất bằng phẳng trước khi nhập với Ea H’leo
- Suối Ea Drang
Suối Ea Drang do 2 suối nhỏ Ea Đrăng và Ea Uy tạo thành, chiều dài nhánhchính 87km, suối có diện tích lưu vực 386km2
Trang 23Krông Ana
Krông Nô
1.2.2 Đặc trưng hình thái sông.
Bảng 1-5: Đặc trưng hình thái những sông nhánh trong lưu vực sông Srêpôk.
sông L (km)
Cao độ bình quân lưu vực
Độ dốc lòng sông (%o)
Nguồn: Quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ nguồn nước lưu vực sông Srêpôk
-Viện Quy hoạch Thuỷ lợi 2006.
Lưu vực sông Srêpôk có mạng lưới sông suối phát triển khá dày, sôngSrêpôk có 40 sông cấp I, 67 sông cấp II và mạng lưới sông cấp III, cấp IV phát triển
Trang 24theo dạng cành cây Các phụ lưu quan trọng của sông Srêpôk là sông Krông Knô,Krông Ana, Ea H’leo Đặc trưng hình thái một số sông chính thuộc lưu vực sôngSrêpôk được thống kê như trong bảng 1-5.
1.2.3 Mạng lưới các trạm khí tượng, thủy văn.
Lưới trạm khí tượng: trong lưu vực và lân cận có tổng số 22 trạm đo mưa,trong đó có 7 trạm khí hậu đo các yếu tố nhiệt độ đó là Buôn Ma Thuật, Đak mil,Buôn Hồ, Lắk, Đak Nông, M’Drak, Đà Lạt Nhưng hiện nay có 17 trạm đo mưa vàchỉ còn 5 trạm đo khí tượng đó là Buôn Ma Thuật, Buôn Hồ, Đak Nông, Ma Drak
và trạm Đà Lạt là trạm vùng lân cận, trạm Lăk và Đak Mil hiện nay không đo cácyếu tố khí tượng nữa
Lưới trạm thuỷ văn : Trên lưu vực có 18 trạm đo thuỷ văn trong đó có 13trạm đo mực nước, lưu lượng, còn lại là đo mực nước Tính đến năm 2012 trên lưuvực chỉ còn lại 6 trạm thuỷ văn cấp I do Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn quản lý đólà: Cầu 42, Giang Sơn trên sông Krông Ana, Đức Xuyên trên sông Krông Knô, Cầu
14, Bản Đôn trên sông Srêpôk, Đăk Nông trên sông Đăk Nông
Bảng 1-6: Lưới trạm thuỷ văn trên lưu vực.
8 Giang Sơn Krông Ana H,Q,S 1966-1974 1977-2012
Ghi chú: H,Q,S là mực nước, lưu lượng, độ đục 1.2.4 Chế độ khí hậu, khí tượng.
1 Chế độ nhiệt :
Trang 25Khí hậu trên lưu vực sông Srêpôk thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa Song
do vị trí địa lý và điều kiện địa hình nên khí hậu ở đây có nét riêng, mang sắc tháikhí hậu nhiệt đới gió mùa Tây Nguyên Theo tài liệu khí tượng thuỷ văn tại cáctrạm trên lưu vực, nhiệt độ trung bình năm khoảng 22-23oC ở vùng có độ cao 500 -800m, vùng thấp hơn (dưới 500m) có nhiệt độ trung bình trên dưới 24oC Tháng I
có nhiệt độ trung bình 20,3oC, tháng V có nhiệt độ trung bình 25,4oC
Chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm từ 2 - 5°C Theo tài liệu quantrắc nhiều năm tại các trạm khí tượng, tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất làtháng I với các trị số là 18,8°C ở Buôn Hồ; 20,0°C ở Ea H'leo; 20,1°C ở M'Drak.Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng V với các trị số 27,0°C Lắk; 26,1°CM'Đrắk; 25,8°C ở Buôn Ma Thuột
Bảng 1-7: Nhiệt độ trung bình tháng nhiều năm tại các trạm khí tượng ( o C).
Nguồn: Đài KTTV khu vực Tây Nguyên
2 Bốc hơi :
Lưu vực sông Srêpôk là vùng có lượng bốc hơi lớn hơn các vùng thấp lâncận, mặc dù nhiệt độ không khí trên vùng không cao bằng các vùng khác có cùng vĩ
độ Nguyên nhân chính do: Cường độ bức xạ mặt trời trên cao nguyên lớn hơn, nhất
là vào thời kỳ khô nóng, và độ ẩm tương đối của không khí thấp và tốc độ gió trêncao nguyên cũng mạnh hơn Lượng bốc hơi khả năng vào các tháng mùa khô rất lớnđiều này là một bất lợi đối với phát triển nông nghiệp trong lưu vực
Trang 26Lượng bốc hơi đo bằng ống piche trong lưu vực ở các địa điểm khác nhaucho kết quả khác nhau Khả năng bốc hơi cao nhất ở Buôn Ma Thuôt đạt1.464,8mm; 1.307,9mm ở Buôn Hồ; 1.328,6 mm ở Đắk Nông; 1.354,5mm ởM'Đrắk.
Thời kỳ khô nóng vào tháng III, khả năng bốc hơi đạt cao nhất 173,7mm ở
Ea H'leo; 163,7mm ở Buôn Ma Thuột, 138,3mm ở Buôn Hồ; 136,1mm ở ĐắkNông Bốc hơi nhỏ nhất xảy ra vào các tháng VIII và IX là các tháng có lượng mưalớn nhất Lượng bốc hơi đo bằng ống Piche chỉ đạt 41,1mm vào tháng VIII ở EaH'leo
Bảng 1-8: Lượng bốc hơi trung bình tháng nhiều năm tại các trạm khí tượng.
Nguồn: Đài KTTV khu vực Tây Nguyên
3 Độ ẩm.
Độ ẩm tương đối trung bình năm trong lưu vực dao động 80 - 85% Quy luậtbiến đổi của độ ẩm tương đối trong vùng tăng theo độ cao Tại Buôn Ma Thuột ở độcao 490m độ ẩm tương đối đạt 81,3%; tại Buôn Hồ có độ cao 700m độ ẩm tươngđối đạt 84,7%; tại Đắk Nông cao độ vùng này là 660m độ ẩm tương đối đạt 83,3%
Độ ẩm tương đối thay đổi trong năm khá rõ rệt Biến trình độ ẩm trùng vớibiến trình mưa và ngược lại với biến trình của nhiệt độ Theo tài liệu quan trắc trungbình tháng nhiều năm tại các trạm khí tượng, độ ẩm tương đối trung bình tháng thấpnhất xảy ra vào các tháng II, III và cao nhất vào các tháng VIII, IX, X Trong năm
từ tháng IV sang tháng V độ ẩm tăng rất nhanh đạt từ 4 - 6% và giảm nhanh từ
Trang 27tháng X sang tháng XI nhất là những vùng có độ cao thấp như Buôn Ma Thuột, ĐắkNông giảm 2-5%.
Độ ẩm thấp nhất xảy ra vào các tháng III, IV Trị số thấp nhất tuyệt đối đạt11% tháng III/1930 ở Buôn Ma Thuột, 14% ngày 16/II/1985 ở Buôn Hồ Độ ẩmthấp ở các tháng mùa mưa dao động từ 40 - 60%
Bảng 1-9 : Độ ẩm trung bình tháng nhiều năm tại các trạm khí tượng (%).
Nguồn: Đài KTTV khu vực Tây Nguyên
4 Bức xạ.
Theo tài liệu quan trắc nhiều năm tại các trạm khí tượng, tổng số giờ nắngbình quân hàng năm khá cao khoảng 2.337 giờ, năm cao nhất 2.439 giờ, năm thấpnhất là 2.179 giờ Tháng có số giờ nắng nhiều nhất thường rơi vào tháng III (cuốimùa khô) và đạt tới 260 - 300 giờ/tháng; 9,8 giờ/ngày Tháng có số giờ nắng ít nhấtthường rơi vào tháng giữa mùa mưa và chỉ đạt khoảng 105 giờ/tháng; 3,5 giờ/ngày
5 Chế độ gió.
Hướng gió thịnh hành trong vùng thay đổi rõ rệt theo mùa Từ tháng V tớitháng IX gió có hướng tây, tây nam là chủ yếu Từ tháng XI đến IV hướng gióđông, đông nam là chủ yếu Hướng gió tây thịnh hành ở Buôn Ma Thuột chiếm tầnsuất 50 - 55% trong các tháng mùa hạ tháng VI, VII, VIII Trong các tháng mùaĐông XI, XII, I gió đông thịnh hành tần suất xuất hiện 60 - 70%
Trang 28Tốc độ gió trung bình trong các tháng mùa đông lớn hơn các tháng trongmùa hạ Theo tài liệu quan trắc trung bình tháng nhiều năm, tốc độ gió trung bìnhtrong lưu vực từ 1,6 - 3,4m/s Tốc độ gió lớn nhất đạt 5,0m/s; tốc độ gió nhỏ nhấtđạt 0,9m/s.
Bảng 1-10: Số giờ nắng trung bình tháng nhiều năm tại các trạm khí tượng.
Nguồn: Đài KTTV khu vực Tây Nguyên
Tốc độ gió lớn hơn 10m/s thường xảy ra vào các tháng mùa Đông, trung bìnhmỗi tháng xảy ra từ 7 - 9 ngày ở Buôn Ma Thuột Tốc độ gió lớn trên 15m/s thườngxảy ra vào các tháng đầu hoặc cuối mùa Hạ Tốc độ gió lớn nhất ghi được là 20m/sngày 7/IX/1982 ở Buôn Hồ, 34m/s ngày 20/III/1978 ở Buôn Ma Thuột, 20m/s ngày11/I/1981 ở M'Đrắk
Do tác dụng chắn ngang của dãy Trường Sơn nên hàng năm vùng nghiên cứukhông có bão đổ bộ trực tiếp vào Khi bão từ biển Đông đổ bộ vào và bị tan do gặpphải sự chắn ngang của dãy Trường Sơn Tốc độ gió trong cơn bão suy yếu dần, bão
di chuyển châm, hình thành vùng áp thấp nhiệt đới gây mưa lớn trên diện rộng
Vùng ảnh hưởng mạnh của lượng mưa do áp thấp nhiệt đới gây nên thường
là thượng nguồn sông Krông Ana, Krông Kno, Krông Bông Lượng mưa do bãohoặc áp thấp gây nên thường rất lớn trên diện rộng
Bảng 1-11: Tốc độ gió trung bình tháng nhiều năm tại các trạm khí tượng (m/s).
Trang 29Nguồn: Đài KTTV khu vực Tây Nguyên.
6 Mưa.
Hình 1-5: Bản đồ đẳng trị mưa năm trung bình nhiều năm lưu vực Srêpôk.
Trang 30Do chịu tác động của khí hậu của Đông và Tây Trường Sơn, mùa mưa ở trênlưu vực kéo dài từ tháng V đến tháng X, có nơi đến tháng XI như ở phía Đông.Lượng mưa năm trung bình nhiều năm toàn lưu vực đạt từ 1600-1800mm ở cácvùng Lượng mưa trong 6 tháng mùa mưa chiếm 84% lượng mưa năm, mùa khôchiếm 16% ở phía Tây và Tây Bắc của lưu vực, lượng mưa mùa khô chiếm 10-12%lượng mưa năm Các vùng phía Tây, Tây Bắc và trung tâm lưu vực lượng mưa lớnnhất trong ba tháng mùa mưa (tháng VII, VIII, IX) chiếm 45-50% lượng mưa năm.
Mưa trên lưu vực sông Srêpôk thể hiện rõ quy luật của gió mùa Lượng mưatrung bình năm biến đổi từ 1.600 - 1.800mm; các vùng ít mưa là phía tây tỉnh ĐắkLắk và Gia Lai thuộc hạ lưu vực sông Srêpôk , Ea H'leo, Ia Đrăng và từ 2.000 -2.200mm và các vùng mưa nhiều là thượng nguồn sông Krông Knô Lượng mưanăm trung bình bình quân trên toàn lưu vực là 1.780mm, lượng mưa trạm lớn nhất
là 2551,1mm, lượng mưa trạm nhỏ nhất là 1465,5mm Tháng có lượng mưa nhỏnhất là tháng I: 0,0mm tại Ea Soup (Cực Tây), tháng có lượng mưa lớn nhất làtháng XI - 454,5mm tại M'Đrắk (Cực Đông)
Bảng 1-12: Lượng mưa năm trung bình nhiều năm lưu vực Srêpôk.
C/trình (mm) (mm) (mm)
2 Liên Khương Đức Trọng Lâm Đồng 961 1610 1433 1143
5 Suối Vàng Lạc Dương Lâm Đồng 1500 2262 1968 1764
Trang 31TT Trạm Huyện Tỉnh H(m) Xtb X75% X95%
C/trình (mm) (mm) (mm)
21 Đưc Xuyên Krông Knô Đak Nông 488 1864 1640 1454
22 Krông Bông Krông Bông Đak Lăk 480 1985 1747 1548
23 Krông Kma Krông Bông Đak Lăk 790 1527 1328 1085
24 Krông Hnăng Krông Hnăng Đak Lăk 330 1785 1553 1267
25 Ea Tul Auto Cư M'gar Đak Lăk 350 1796 1563 1275
32 Buôn Triết Krông Ana Đak Lăk 820 1817 1599 1417
35 Măng Giang Măng Giang Gia Lai 730 1792 1577 1398
1.2.5 Chế độ thủy văn.
a Dòng chảy năm.
Chuẩn dòng chảy năm:
Trên cơ sở chuỗi số liệu thực đo Q của 4 trạm thuỷ văn cấp I trên lưu vựcsông Srêpôk (33-36 năm) tài nguyên nước mặt sông ngòi trên 3 nhánh sông nhưsau:
Tài nguyên nước mặt trên nhánh sông Krông Knô lớn nhất với M0 =34,4l/s.km2, thứ 2 là trên dòng chính Srêpôk với M0 = 25-27l/s.km2, thứ 3 là trênnhánh sông Krông Ana
Bảng 1-13:Tài nguyên nước mặt 3 nhánh sông thuộc lưu vực sông Srêpôk.
Trang 32Trạm thuỷ
Diện tích lưu vực
F (km 2)
Q 0 (m 3/s)
W 0
(10 6 m 3)
M 0
(l/s.km 2) Y 0 (mm)
Trong cùng một đợt mưa sinh lũ, trên sông Krông Ana lũ thường chậm hơntrên sông Krông Knô 2-5 ngày (do độ dốc lòng sông của sông Krông Ana nhỏ hơnsông Krông Knô và lưu vực có tác dụng điều tiết tốt hơn)
Ngoài ra, lũ lớn nhất trên sông Krông Ana thường chậm hơn trên sông KrôngKnô xấp xỉ 1 tháng (do lưu vực sông Krông Ana còn chịu tác động của khí hậuĐông Trường Sơn)
Tuy nhiên, do khả năng điều tiết lũ tự nhiên của lưu vực như đã phân tích ở trênnên đỉnh lũ trạm hạ lưu trong một số trường hợp lại nhỏ hơn đỉnh lũ ở trạm thượng lưu,cùng với đó là khả năng tiêu thoát kém gây tình trạng úng ngập lâu ngày
c Dòng chảy kiệt.
Hàng năm từ tháng XI, XII đến tháng IV năm sau toàn vùng là mùa khô hạn.Tháng XI vùng thượng nguồn sông Krông Ana (sông Krông Pach) do chịu ảnhhưởng yếu của khí hậu đông Trường Sơn nên có nơi còn có lượng mưa đạt tới trên
300 mm/tháng (Theo số liệu quan trắc của trạm Ma Drak) Trong khi đó các nơikhác lượng mưa tháng chỉ còn xấp xỉ 100 mm/tháng Tháng XII lượng mưa ở vùng
Trang 33thượng nguồn sông Krông Pach vẫn còn đạt trên 100 mm/tháng Lúc đó lượng mưa
ở các nơi khác giảm xuống dưới mức 10-20 mm/tháng Tháng I, II trên toàn lưu vựclượng mưa rất ít, chỉ một số nơi có mưa, nhưng lượng mưa chỉ đạt từ 5-10mm/tháng Sang đến tháng III toàn tỉnh hầu như không có mưa Từ tháng IV giómùa Tây Nam đã thổi xen kẽ và bắt đầu xuất hiện lác đác các trận mưa dông sớmvới lượng mưa tháng xấp xỉ 100 mm/tháng Đến tháng V thì toàn vùng lại bắt đầuvào mùa dòng chảy
d Dòng chảy ngầm.
Lưu vực Srêpôk có tiềm năng tương đối phong phú về nguồn nước dưới đất,nhu cầu dừng nước sinh hoạt và sản xuất ngày càng to lớn và cấp bách theo đà giatăng dân số và phát triển kinh tế Tuy nhiên cho đến nay việc điều tra và đánh giánguồn tài nguyên này vẫn còn ở mức khái quát, chủ yếu qua công tác tìm kiếm vàlập bản đồ địa chất thủy văn Tài nguyên nước dưới đất mới được đánh giá ở dạngtiềm năng và trữ lượng cấp thấp, còn trữ lượng cấp công nghiệp được thăm dò hầunhư không đáng kể
Trữ lượng nước ngầm trong lưu vực Srêpôk:
Trữ lượng tĩnh: 33.167.000.000 m³
Trữ lượng động: 1.914.345 m³/ngày
Trữ lượng khai thác tiềm năng: 2.909.427 m³/ngày
1.3 Tình hình dân sinh - kinh tế - xã hội.
Tình hình dân sinh - kinh tế - xã hội.
Mật độ dân số
Mật độ dân số trên lưu vực là 103,7 người/km2 thuộc loại thấp nhất của cảnước (mật độ dân số trung bình cả nước là 243 người/km2) và phân bố không đồngđều Có thể thấy trên bản đồ, mật độ dân số các tiểu lưu vực Krông Ana và dòngchính Srêpôk có mật độ lớn hơn, gấp 3 - 4 lần ở 2 lưu vực còn lại Mật độ dân sốcao nhất lưu vực là thành phố Buôn Ma Thuột với mật độ trung bình 843,38 người/
km2 Tiểu lưu vực có mật độ dân số thấp nhất là Krông Nô, mật độ dân số trungbình trên tiểu lưu vực này khoảng 25 người/km2
Trang 34Hình 1-6: Bản đồ mật độ dân số năm 2004 lưu vực sông Srêpôk.
Các vấn đề xã hội.
Nghèo đói: Tình hình đói nghèo tại lưu vực:
Tổng số xã thuộc diện nghèo đói và đặc biệt khó khăn: 82 xã
Tổng số hộ thuộc diện đói nghèo và đặc biệt khó khăn: 91.262 hộ
Tổng số nhân khẩu thuộc diện đói nghèo và đặc biệt khó khăn: 547.570 khẩu
Tỷ lệ đói nghèo và đặc biệt khó khăn so với dân số tại lưu vực: 29 %
Thu nhập bình quân đầu người rất thấp: 89.000 đồng/tháng (tương đương1.066.000 đồng/năm) (số liệu năm 2002 được nêu trong báo cáo Hội thảokhoa học phát triển kinh tế - xã hội - môi trường vùng Tây nguyên)
Giới:
Trong lĩnh vực văn hóa-xã hội số lượng phụ nữ luôn chiếm tỷ lệ cao và hoạtđộng có hiệu quả ( giáo dục-đào tạo chiếm 72%, Y tế chiếm 52,6%, Văn hóa -thôngtin chiếm 20% )
Bên cạnh đó có nhiều khó khăn và hạn chế như là tỷ lệ phụ nữ thất nghiệp,thiếu việc làm và việc làm không ổn định hiện nay rất cao Các bậc học càng cao, tỷ
lệ nữ tham gia càng giảm Số phụ nữ tham gia sau đại học còn hạn chế, tỷ lệ phụ nữ
Trang 35độ 15-35 tuổi mù chữ còn cao đặc biệt là vùng sâu, vùng xa và dân tộc ít người Tỷ
lệ nữ tham gia công tác lãnh đạo còn thấp, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý nhànước và cấp chính quyền cơ sở
Chế biến nông sản xát cà phê tươi
Chế biến lương thực và thực phẩm: Mía đường, bia, dứa hộp, tinh bột sắn
Công nghiệp hóa chất: Có các nhà máy cao su
Ngành cơ khí và các ngành công nghiệp khác
Du lịch:
Một trong những thế mạnh của lưu vực sông Srêpôk là phát triển du lịch.Hoạt động này đang ngày càng được đầu tư, khai thác có hiệu quả và đạt tốc độtăng trưởng bình quân ngày càng tăng Bước vào giai đoạn mới, xác định du lịch làmột trong các hướng đột phá để chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các tỉnh trên lưuvực sông
Khai thác và nuôi trồng thủy sản:
Trang 36Các tỉnh Tây Nguyên (Đăk Nông, GiaLai, Đăk Lăk, Lâm Đồng) có tiềmnăng mặt nước rất lớn cho phát triển nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, hiện tại diệntích mặt nước phục vụ cho nuôi trồng và thủy sản còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ so vớitiềm năng sẵn có, bên cạnh đó chưa có quy hoạch tổng thể sử dụng diện tích mặtnước cho nuôi trồng thủy sản Trong thời gian tới, việc quy hoạch vùng, hình thức
và đối tượng nuôi cho từng loại thủy vực là rất cần thiết, ví dụ như hệ thống sông,Srêpôk và các hồ chứa lớn có thể được quy hoạch cho việc nuôi cá lồng bè; thả cá
và quản lý đánh bắt tại các hồ đang sử dụng tưới tiêu cho nông nghiệp; duy trì vàbảo vệ các loài cá bản địa có nguồn gen quý tại các hồ tự nhiên (hồ Lắk),v.v
CHƯƠNG II TÌNH HÌNH LŨ LỤT KHU VỰC HỒ LẮK - BUÔN TRẤP
VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH DIỄN TOÁN NGẬP LỤT 2.1 Tình hình lũ lụt khu vực nghiên cứu
2.1.1 Các hình thế thời tiết gây mưa lớn, lũ lớn trên lưu vực Sông Srêpôk.
Mưa sinh lũ trên Tây Nguyên nói chung hay trong lưu vực sông Srêpôk nóiriêng chủ yếu là do các loại hình thế thời tiết sau:
- Mưa dông do gió mùa mùa hạ hướng Tây Nam kết hợp với dải hội tụ nhiệtđới
Trang 37- Do bão từ biển Đông đổ bộ vào đất liền gặp dải Trường Sơn ngăn cản bị suyyếu, sau khi vượt qua dải Trường Sơn thì hình thành một vùng áp thấp nhiệtđới gây nên mưa lớn trên diện rộng.
- Mưa lớn hình thành do cả hai loại hình thế thời tiết trên gặp gỡ nhau
Lượng mưa lớn ở thượng nguồn sông Krông Ana, Krông Knô đã tạo nênnhững con lũ lớn như trận lũ tháng X/2000, tháng XI/1998 Lũ tràn về hạ du khôngtiêu thoát kịp do bởi hạ du các sông này là vùng thung lũng trũng trước khi có lũtràn về lượng trữ nước cũng khá cao, do mưa lớn tại chỗ gây nên Do vậy mà ởvùng hạ du thời gian lũ rút chậm, thời gian duy trì ở mực nước cao kéo dài, gây nênngập úng nghiêm trọng
2.1.2 Đặc điểm lũ và diễn biến tình hình lũ trên khu vực.
Trong những thập kỷ gần đây lũ lụt xảy ra ngày một thường xuyên hơn, bấtbình thường hơn với những trận lũ lụt rất lớn và gây hậu quả rất nặng nề như lũ lụtnhững năm 1992, 1993, 1998, 2000, 2005
Theo số liệu thống kê tại trạm Giang Sơn trên sông Krông Ana cho thấy rằng
lũ lớn nhất trong năm xảy ra vào tháng X, XI chiếm tỷ lệ 37,5% tháng IX và thángXII chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ 12,3 và 12,5% Lũ lớn nhất không xuất hiện vào các tháng
VI, VII, VIII Trong khi đó trên sông Krông Knô lũ lớn nhất trong năm xuất hiệnvào tháng X chiếm 40% và tiếp theo là tháng XI 26,7% Sự xuất hiện lũ lệch phagiữa hai sông gây nên mức độ ngập lụt dài ngày cùa vùng hạ lưu hai sông
Trang 38Đức
Krông Buk
Giang Sơn
Đức
Trên sông Krông Knô, tại Đức Xuyên hàng năm có 8-15 trận lũ trong đó cóđến 6-13 con lũ lớn Do độ dốc lòng sông lớn các nhánh sông đổ vào sông lớn ngắn
do vậy nước lũ tập trung nhanh Cường xuất lũ lớn, cường xuất lũ lên đạt 4-5cm/hcường xuất lũ rút 2-3 cm/h Thời gian duy trì trận lũ từ 5-7ngày
Trang 39Trên sông Srêpôk tại Cầu 14 hàng năm vào mùa lũ xuất hiện 6-10 trận lũ,trong đó có từ 4-6 trận lũ cao Đầu mùa lũ các con lũ chịu ảnh hưởng mạnh của lũtrên sông Krông Knô Quá trình lũ có dạng giống lũ tại Đức Xuyên, phần nước rútkéo dài giảm chậm do có sự bổ xung của lượng lũ của sông Krông Ana Cường xuất
lũ 3-5 cm/h, cường xuất lũ rút chậm 1-2 cm/h
Lưu lượng lũ:
Những năm lũ lớn do ảnh hưởng của bão hoặc bão tan thành áp thấp nhiệt đớigây mưa lớn ở thượng nguồn đã tạo nên trậm lũ lớn như trận lũ ngày 10/X/2000 vớiQmax= 4020 m³/s
Lũ lớn nhất ở Đức Xuyên chủ yếu xảy ra vào các tháng IX và X hàng năm.Trong khi đó lũ lớn nhất tại Giang Sơn trên sông Krông Ana lại xảy ra vào tháng X
và XI
Tổng lượng lũ:
Do đặc điểm địa hình, thời gian duy trì các trận lũ ở vùng nghiên cứu kéo dài
từ 10-15 ngày điều đó cho thấy khả năng tiêu thoát lũ rất hạn chế, thời gian ngậpkéo dài
Lũ lớn lịch sử đã quan trắc được trên sông Krông Knô tại trạm thuỷ văn ĐứcXuyên là 4020 m3/s (10-X-2000) ứng với P%≈0,33%, trên sông Krông Ana tạiGiang Sơn là 1620m3/s (22-XI-1998) ứng với P%≈2%, trên sông Srêpôk tại Cầu 14
là 3600m3/s (12-X-2000) ứng với P%≈2%
Tần suất xuất hiện với Qmax (lớn nhất hàng năm) vượt 1000m3/s tại ĐứcXuyên chiếm 50 %, Giang Sơn 35,7 %, Cầu 14 là 85,7 % Mực nước lũ báo độngtại các điểm kiểm soát
Bảng 2-3: Mực nước báo động tại các điểm kiểm soát lũ.
Trang 40lúa Đông Xuân và Hè Thu, vụ mùa bị ngập Hiện tại mới có kênh tiêu tự chảy BầuDài từ đầu Buôn Tría ra Ea Đờn tiêu cho khu vực Buôn Triết và tuyến đê dài 36,6
km bảo vệ khoảng 1.125ha đất canh tác thuộc 2 xã Quảng Điền và Dukmal củahuyện Krông Ana chống được lũ sớm Do chưa có cống đầu kênh Bầu Dài nên khimực nước sông Krông Ana lên cao chảy ngược vào, kênh đã không phát huy đượctác dụng ngay cả khi lũ tiểu mãn Đồng thời do lũ lệch pha giữa sông Krông Ana vàsông Krông Knô nên diện tích bị ngập trầm trọng hơn
Theo kết quả điều tra tại trạm thuỷ văn Giang Sơn:
- Lũ báo động cấp I: bắt đầu ngập một số ít bãi
- Lũ báo động cấp II: ngập bãi trồng màu
- Lũ báo động cấp III: ngập màu, ruộng, nhà ở ven đồi
Nếu không vượt mức lũ lịch sử năm 2000 (tại Đức Xuyên Hmax> 427m) thìkhông gây ngập nhà Như vậy đối với khu trũng Lắk - Buôn Trấp mực nước sôngKrông Knô và sông Krông Ana trên báo động III khoảng 2 - 3m mới gây tổn thấtnhà cửa, con người
Bảng 2-4: Các tham số thống kê Q max tại các trạm thuỷ văn trên sông Srêpôk.