1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thành phần sâu hại lúa, diễn biến mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến sri vụ mùa năm 2014 tại huyện nam trực, tỉnh nam định

91 404 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 5,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.7 Diễn biến mật độ thiên địch của sâu hại chính nhện lớn bắt mồi, bọ rùa đỏ, bọ xít mù xanh và bọ ba khoang trên ruộng lúa ứng dụng SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại xã Nam Mỹ, Nam

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-  -

NGUYỄN QUỐC VIỆT

THÀNH PHẦN SÂU HẠI LÚA, DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ SÂU HẠI CHÍNH TRONG HỆ THỐNG CANH TÁC LÚA CẢI TIẾN SRI

VỤ MÙA NĂM 2014 TẠI HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

LuËn v¨n th¹c sÜ

Hµ Néi, 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-  -

NGUYỄN QUỐC VIỆT

THÀNH PHẦN SÂU HẠI LÚA, DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ SÂU HẠI CHÍNH

TRONG HỆ THỐNG CANH TÁC LÚA CẢI TIẾN SRI

VỤ MÙA NĂM 2014 TẠI HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng,

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực

và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Quốc Việt

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để bản luận văn được hoàn thành tốt, trong suốt thời gian thực tập, nghiên cứu, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các Giáo viên hướng dẫn, của các tập thể, cá nhân, sự động viên của gia đình và bạn bè

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS TS Trần Đình Chiến - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã dành cho tôi sự chỉ dẫn và giúp

đỡ tận tình trong suốt thời gian thực tập và nghiên cứu hoàn thành đề tài

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể các thầy, cô giáo bộ môn Côn trùng – Khoa Nông học – Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Lãnh đạo và các đồng nghiệp trong Chi cục BVTV tỉnh Nam Định đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến tất cả bạn bè, người thân và gia đình đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành bản luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Quốc Việt

Trang 5

1.2.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa 5 1.2.2 Những nghiên cứu về sâu hại chính trên lúa 6

1.3.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa 13

1.4 Các nghiên cứu ứng dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến ở ngoài

2.5.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu hại lúa và thiên địch 25

Trang 6

2.5.2 Phương pháp điều tra diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ, rầy

nâu, sâu đục thân 2 chấm và thiên địch trên ruộng lúa ứng dụng

2.5.4 Phương pháp bố trí ruộng canh tác lúa cải tiến SRI và ruộng

2.5.5 Khảo sát hiệu lực một số thuốc hóa học phòng trừ sâu cuốn lá

nhỏ, sâu đục thân 2 chấm, rầy nâu của một số loại thuốc tại tại

2.5.6 Phương pháp tính các chỉ tiêu cấu thành năng suất và đánh giá

3.1 Tình hình sản xuất lúa vụ mùa 2014 và kết quả ứng dụng từng

phần hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI tại huyện Nam Trực, tỉnh

3.2 Thành phần sâu hại lúa vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam Trực,

3.3 Thành phần thiên địch của sâu hại lúa vụ mùa 2014 tại xã Nam

3.4 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ C medinalis trên ruộng lúa

ứng dụng SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại xã Nam Mỹ,

3.5 Diễn biến mật độ rầy nâu Nilaparvata lugens trên ruộng lúa ứng

dụng SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam

3.6 Diễn biến mật độ sâu đục thân 2 chấm S incertulas trên ruộng lúa ứng

dụng SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam

Trang 7

3.7 Diễn biến mật độ thiên địch của sâu hại chính (nhện lớn bắt mồi,

bọ rùa đỏ, bọ xít mù xanh và bọ ba khoang) trên ruộng lúa ứng dụng SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại xã Nam Mỹ, Nam

3.8 Hiệu lực phòng trừ sâu hại chính của một số loại thuốc hoá học

trong vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định 54 3.8.1 Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc hoá học đối với sâu cuốn

lá nhỏ C medinalis vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định 54 3.8.2 Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc hoá học đối với sâu

đục thân 2 chấm S incertulas vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam

3.8.3 Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc hoá học đối với rầy

nâu N lugens hại lúa vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định 59 3.9 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất trên ruộng ứng dụng

SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam Trực,

3.10 Hạch toán hiệu quả kinh tế trên ruộng lúa ứng dụng SRI và ruộng

nông dân vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam Trực, Nam Định 62

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT Chữ viết tắt, ký hiệu Diễn giải chữ viết tắt, ký hiệu

2 Bộ Nông nghiệp và PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

3 C medinalis Cnaphalacrocis medinalis

4 IRRI International rice research institute

(Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế)

(Quản lý dịch hại tổng hợp)

10 N lugens Nilaparvata lugens

11 S incertulas Scirpophaga incertulas

12 SRI System of rice intensification

(Hệ thống canh tác lúa cải tiến)

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

2.1 Mật độ cấy, lượng phân bón, số lần sử dụng thuốc BVTV 29 2.2 Quy trình bón phân trên ruộng lúa ứng dụng SRI và ruộng nông dân 3.1 Ứng dụng từng phần mô hình SRI vụ mùa 2014 tại huyện Nam

3.4 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ C medinalis trên ruộng lúa ứng

dụng SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định 47 3.5 Diễn biến mật độ rầy nâu Nilaparvata lugens trên ruộng lúa ứng

dụng SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam Trực,

3.6 Diễn biến mật độ sâu đục thân 2 chấm S.incertulas trên ruộng lúa

ứng dụng SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam

3.7 Diễn biến mật độ thiên địch của sâu hại chính trên ruộng lúa ứng

dụng SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại xã Nam Mỹ, Nam

3.8 Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc hoá học đối với sâu cuốn

lá nhỏ C medinalis vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định 55 3.9 Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc hoá học đối với sâu đục

thân 2 chấm S incertulas vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định 57 3.10 Năng suất lúa thí nghiệm 4 loại thuốc hoá học phòng trừ sâu đục

thân 2 chấm S incertulas vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định 59 3.11 Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc hoá học đối với rầy nâu

N lugens hại lúa vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định 60

Trang 10

3.12 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất trên ruộng ứng dụng SRI

và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam Trực, Nam Định 61 3.13 Hạch toán hiệu quả kinh tế trên ruộng lúa ứng dụng SRI và ruộng

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

3.1 Ổ sâu non mới nở sâu đục thân 2 chấm (Scirpophaga incertulas Walker) 41 3.2 Trưởng thành sâu đục thân 2 chấm (Scirpophaga incertulas Walker) 41 3.3 Sâu non sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) 41 3.4 Trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) 41

3.8 Chuồn chuồn kim xanh (Agriocnemis femina Brauer) 45 3.9 Nhện linh miêu (Oxyopes javanus Thorell) 45

3.10 Nhện sói vân đinh ba (Lycosa pseudoannulata Boes et Strand) 45

3.11 Nhện lưới tròn (Araneus inustus Koch) 45

3.13 Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc hoá học đối với sâu cuốn lá

nhỏ C medinalis vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định 55 3.14 Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc hoá học đối với sâu đục thân

2 chấm S incertulas vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định 57

3.15 Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc hoá học đối với rầy nâu N

lugens hại lúa vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định 60

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước, hạt gạo gắn liền với sự phát triển dân tộc và việc sản xuất lúa gạo cho đến nay vẫn là một hoạt động kinh tế đứng hàng đầu Năm 2012, sản lượng lúa của Việt Nam đạt hơn 43,7 triệu tấn, tăng thêm 1,26 triệu tấn so với năm 2011 và đã xuất khẩu trên 7 triệu tấn gạo, là nước đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo (Tổng cục Thống kê, 2012) Với những chính sách phát triển phù hợp cùng với việc áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, chỉ trong vòng 2 thập kỷ, từ một nước thiếu lương thực, Việt Nam đã trở thành một trong những nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu gạo

Nam Trực là một huyện nông nghiệp của tỉnh Nam Định thuộc đồng bằng sông Hồng, với tổng diện tích canh tác lúa hàng năm khoảng 19 nghìn ha Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp của huyện có nhiều biến đổi lớn cùng với sự biến đổi chung của tỉnh, nhất là sản xuất lúa Huyện Nam Trực đã chuyển dịch cơ cấu cây trồng, áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất Ngoài những thành tựu

sử dụng giống mới, thâm canh cao, những thành tựu trong công tác bảo vệ thực vật cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và sản lượng lúa

Những năm gần đây, tình hình sâu bệnh hại trên cây lúa ngày càng diễn biến phức tạp, xu hướng gia tăng và có nguy cơ bùng phát thành dịch hại nguy hiểm trên diện rộng Trong thời gian dài, việc sử dụng giống dễ nhiễm sâu bệnh, tập quán canh tác cấy quá dầy, lạm dụng phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật, đã làm tăng chi phí sản xuất, phá vỡ cân bằng sinh thái, làm bùng phát một số loài thứ yếu, ảnh hưởng xấu đến môi trường, sức khoẻ cộng đồng Trong thời gian tới, lúa vẫn là cây lương thực quan trọng Vì vậy mà thâm canh lúa là rất cần thiết, song việc thâm canh vừa phải đảm bảo tăng năng suất, vừa phải có hiệu quả bền vững

Từ năm 2003 đến nay, với sự tài trợ của Chương trình IPM quốc gia, Cục Bảo vệ thực vật (BVTV) đã kết hợp với các nhà khoa học của Viện Nông hoá-Thổ nhưỡng, Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) cùng nông dân và cán bộ bảo vệ thực vật của 12 tỉnh phía Bắc triển khai nhiều chương trình thực nghiệm đồng ruộng có sự tham gia của nông dân để khẳng định khả năng ứng dụng hệ thống

Trang 13

của biện pháp canh tác tổng hợp đối với lúa cấy để có “cây lúa khoẻ” giảm nguy

cơ gây hại của sâu bệnh, ảnh hưởng của ngoại cảnh, tiến tới một nền sản xuất lúa theo hướng bền vững, an toàn và hiệu quả, trong đó chú trọng đến kỹ thuật sử dụng phân bón hợp lý, hiệu quả; kỹ thuật cấy mạ non với mật độ phù hợp và kỹ thuật tưới nước khô ướt xen kẽ để làm thông thoáng đất định kỳ Hệ thống canh tác lúa nói trên gọi là hệ thống canh tác lúa cải tiến (system of rice intensification-SRI) Hệ thống SRI đã được triển khai và thực hiện thành công ở một số tỉnh phía Bắc, ứng dụng của hệ thống canh tác lúa cải tiến đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận năm 2007 và được triển khai tới hầu hết các tỉnh phía Bắc Một số địa phương đi đầu trong việc áp dụng SRI là

Hà Tây (cũ), Hải Dương, Hà Nội, Nam Định Năm 2005, hệ thống canh tác lúa cải tiến được áp dụng trên quy mô 2 đến 5 ha trên một điểm tại 14 tỉnh trên cả nước, năm 2006 có 17 tỉnh với 3450 nông dân tham gia (Cục BVTV, 2006)

Hệ thống canh tác lúa cải tiến bước đầu cho kết quả: lượng thóc giống giảm 70% so với ruộng của nông dân, lượng phân đạm giảm 20% đến 25%, năng suất tăng bình quân từ 9% đến 15% Do cây lúa khoẻ nên khả năng kháng sâu bệnh tốt làm giảm lượng thuốc phòng chống sâu bệnh, một số mô hình đã không sử dụng thuốc phòng trừ sâu bệnh lúa vẫn cho năng suất cao và chất lượng tốt

Kết quả bước đầu ứng dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến cho thấy hệ thống

kỹ thuật này thực sự có ý nghĩa trong canh tác lúa bền vững nhưng việc nghiên cứu thành phần sâu hại lúa trên ruộng SRI so với ruộng nông dân tại Nam Trực, Nam Định vẫn còn rất hạn chế Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự nhất trí của Bộ môn Côn trùng, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS

Trần Đình Chiến, chúng tôi thực hiện đề tài: “Thành phần sâu hại lúa, diễn biến mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI vụ mùa năm 2014 tại huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định”

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

2.1 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở nắm được thành phần sâu hại lúa vụ mùa năm 2014, xác định được tình hình phát sinh gây hại của loài sâu hại chính cũng như thiên địch của

Trang 14

chúng trên hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI tại huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định,

từ đó đề xuất biện pháp phòng chống đạt hiệu quả kinh tế và môi trường

2.2 Yêu cầu của đề tài

Điều tra thành phần sâu hại lúa và thiên địch của sâu hại chính trên hệ thống canh tác lúa cải tiến theo SRI vụ mùa năm 2014 tại xã Nam Mỹ huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định

Theo dõi diễn biến mật độ sâu hại chính và thiên địch của sâu hại chính trên

hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI vụ mùa năm 2014 tại huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định

Tiến hành khảo sát một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân 2 chấm và rầy nâu trên các giống lúa phổ biến tại huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định

Đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa theo hệ thống SRI tại xã Nam Mỹ huyện Nam Trực tỉnh Nam Định

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài là những dẫn liệu về thành phần sâu hại, những loài sâu hại chính trên lúa, diễn biến mật độ, mức độ gây hại của các loài sâu hại chính cũng như thiên địch của chúng trên hệ thống canh tác lúa cải tiến Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân 2 chấm và rầy nâu trên các giống lúa phổ biến tại Nam Trực, Nam Định và hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa theo hệ thống canh tác lúa cải tiến tại xã Nam Mỹ huyện Nam Trực tỉnh Nam Định

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Các kết quả điều tra nghiên cứu về thành phần sâu hại, những loài sâu hại chính trên lúa, diễn biến mật độ, mức độ gây hại của các loài sâu hại chính cũng như thiên địch của chúng trên hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI từ đó đề xuất biện pháp phòng chống đạt hiệu quả kinh tế và môi trường

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Trong sản xuất nông nghiệp ngoài vấn đề nâng cao hiệu quả kinh tế thì việc xây dựng hệ thống canh tác bền vững có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm duy trì cân bằng hệ sinh thái, nâng cao đa dạng sinh học Trong sinh quần đồng ruộng luôn luôn có sự đồng hành của thiên địch và dịch hại tạo nên mạng lưới thức ăn khép kín Khi mật độ thiên địch giảm, mật độ dịch hại gia tăng về số lượng trong thời gian ngắn, sẽ gây bộc phát ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp Để duy trì mật độ chủng quần dịch hại ở mức dưới ngưỡng kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp con người không ngừng hoàn thiện hệ thống canh tác phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội của từng vùng Với mục tiêu là duy trì điểu khiển hệ sinh thái hợp lý theo hướng có lợi cho con người, trong sinh quần đồng ruộng luôn có sự góp mặt của thiên địch, dịch hại Vì vậy hiểu biết về hệ sinh thái đồng ruộng sẽ là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp thâm canh, bảo vệ cây lúa tránh tổn thất

do dịch hại gây ra, bảo vệ môi sinh và góp phần giữ cân bằng hệ sinh thái

Trong sản xuất lúa ở Việt Nam nói chung, ở đồng bằng Bắc Bộ nói riêng bà con nông dân vẫn còn tập quán đầu tư quá mức về phân hoá học, lượng giống và thuốc bảo

vệ thực vật Việc bón phân đạm quá mức và cấy dầy là nguyên nhân chính làm cho cây lúa yếu, dễ bị sâu bệnh tấn công, gây hại dẫn tới phải sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật Như vậy đầu tư sản xuất không dựa trên cơ sở sinh lý sinh thái cây trồng đã dẫn tới hiệu quả sản xuất không cao Mặt khác sử dụng hoá chất nhiều (thuốc trừ sâu và phân

vô cơ ) còn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người Nhằm tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng trên, từ năm 2003 chương trình IPM Việt Nam đã giới thiệu hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) SRI được nhiều nông dân tự nguyện và nhiệt tình hưởng ứng SRI góp phần giải quyết những vấn đề trong sản xuất lúa gạo là chi phí sản xuất cao và thu nhập của người trồng lúa còn thấp Chỉ cần người nông dân thay đổi cách nghĩ, cách làm thì đều áp dụng hệ thống SRI được trong sản xuất lúa gạo (Cục BVTV, 2007) Việc áp dụng hệ thống SRI giúp nâng cao nhận thức cho người nông dân về sâu bệnh hại, mối quan hệ với sinh vật khác và môi trường cũng như hiểu

Trang 16

biết về hệ sinh thái đồng ruộng để từ đó thực hiện tốt chương trình IPM cộng đồng

Từ những cơ sở khoa học trên với mục đích tìm hiểu nghiên cứu mối quan hệ giữa cây lúa với sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu và sâu đục thân 2 chấm và thiên địch của chúng để từ đó đề xuất một số cải tiến trong biện pháp phòng trừ, nhằm làm giảm thiệt hại do các loài sâu hại này gây ra, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đưa ngành nông nghiệp nước nhà tiến tới một nền nông nghiệp bền vững góp phần đảm bảo chương trình an ninh lương thực quốc gia

1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.2.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa

Theo Dale (1994) trên thế giới đã ghi nhận được hơn 800 loài sâu hại lúa Theo Chiu (1980), trên cây lúa ở Trung Quốc đã phát hiện được hơn 200 loài sâu hại Các nước trồng lúa Đông Nam Á có khoảng hơn 100 loài sâu hại lúa đã được phát hiện Tuy nhiên trong số đó chỉ có số ít loài gây hại nặng cho cây lúa, còn đa

số không gây hại hoặc ít gây hại

Số loài gây hại giữa các vùng không giống nhau Các nước trồng lúa khác nhau thì loài sâu hại chính cũng khác nhau Ở châu Á có tới 20 loài sâu hại chính, ở châu Úc chỉ có 9 loài; châu Mỹ là 13 loài và châu Phi có 15 loài Đa số các loài còn lại ít gây hại hoặc gây hại không đáng kể (Kiritani, 1979; CABI, 2006)

Chỉ tính riêng nhóm đục thân trên thế giới đã phát hiện được khoảng 35 loài sâu đục thân hại lúa thuộc họ Ngài sáng (Pyralidae, Lepidoptera), 10 loài họ Ngài đêm

(Noctuidae, Lepiddoptera) và 5 loài ruồi thuộc họ Diopsidae (bộ Diptera, giống Diopsis)

gây hại trên lúa, đưa tổng số loài sâu đục thân lên con số 50 loài (CABI, 2006)

Ở Ấn Độ có 4 loài sâu hại chính đó là sâu đục thân 2 chấm, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen và sâu năn, ở Trung Quốc có 7 loài gây hại chính là: Sâu đục thân 2 chấm, sâu đục thân 5 vạch, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen, sâu năn và bọ trĩ (Chiu, 1980) Ở Nhật Bản có các loài sâu đục thân 2 chấm, sâu đục thân 5 vạch, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen … (Karitani, 1979) Số lượng các loài sâu gây hại chính phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây lúa, ở giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng có khoảng 22 loài, giai đoạn làm đòng đến trỗ khoảng 8 loài và giai đoạn chín chỉ có 3

- 4 loài (CABI, 2006)

Trang 17

1.2.2 Những nghiên cứu về sâu hại chính trên lúa

Theo nghiên cứu của Kemueller (1983) (dẫn theo Bộ môn côn trùng, 2006) cho thấy trên ruộng lúa vùng nhiệt đới có trên 50 loài sâu hại trong đó có các loài chính bao gồm: sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân 2 chấm, rầy nâu, rầy lưng trắng, ngoài khả năng gây hại trực tiếp, các loài chích hút còn là môi giới truyền bệnh nguy hiểm

1.2.2.1 Nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ hại lúa Cnaphalocrocis medinalis Guenee Sâu cuốn lá nhỏ Cnaphalocrocis medinalis (Guenee) (Crambidae: Lepidoptera) Tên gọi khác: Cnaphalocerus medinalis, Salbia medinalis Guenée

1854, Botys rutilalis Walker 1859, Botys iolealis Walker 1859, Cnaphalocrocis jolinalis Lederer 1863, Botys acerrimalis Walker 1865, Marasmia medinalis castensziana Rothschild, Botys fasciculatalis Walker, Botys nurscialis Walker, Cnaphalocrocis iolealis Walker (Wikipedia, 2014a)

a) Phân bố địa lý và phạm vi ký chủ

Sâu cuốn lá nhỏ là một trong những loài sâu hại lúa chính ở nhiều vùng trồng

lúa trên thế giới, loài Cnaphalocrocis medinalis Guenee có phân bố rộng Hầu hết

các nước ở châu Á đều xuất hiện loài sâu hại này, điển hình là Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Apganixtan, Bangladesh, Brunây, Butan…Ở châu Đại Dương, sâu cuốn lá nhỏ gây hại ở quần đảo Xamoa, đảo Carolin…Ký chủ chính của sâu cuốn lá nhỏ là cây lúa Chúng còn gây hại trên lúa mì, cao lương, đại mạch, cỏ lá tre, cỏ

môi, cỏ lồng vực, cỏ gà nước, cỏ bấc… (Barrion et al., 1991; Yin et al., 2005; Xu

et al., 2007; Padmavathi et al., 2013)

b) Đặc điểm sinh thái

Ở các nước vùng Á nhiệt đới và châu Á, sâu cuốn lá nhỏ phát sinh quanh năm nhưng phát triển mạnh trong mùa mưa Các nước có mùa đông lạnh sâu cuốn

lá nhỏ phát sinh từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm Trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ cũng di chuyển theo mùa từ Trung Quốc đến Nhật Bản và Triều Tiên giống như rầy nâu và rầy lưng trắng (Dale, 1994; CABI, 2006)

Mật độ cấy ảnh hưởng đến số lượng sâu cuốn lá nhỏ, mật độ cấy dầy thường

có mật độ sâu cuốn nhỏ cao hơn mật độ cấy thưa Bón kali hợp lý có tác dụng làm giảm thiệt hại của sâu cuốn lá nhỏ Bón phân đạm với lượng 30, 60, 90, 120 và 150

Trang 18

kg/ha cho giống lúa ngắn ngày kết quả tỷ lệ lá hại tăng theo lượng đạm bón Ở vùng Đông Nam Á chưa có giống nào chống chịu được sâu cuốn lá nhỏ Sản lượng của cây lúa sẽ bị giảm nhiều nhất nếu bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại vào giai đoạn lúa trỗ, mức thiệt hại trung bình ở giai đoạn lúa đẻ nhánh và hại nhẹ nhất ở giai đoạn lúa

chín sữa (CABI, 2006; Xu et al., 2007, 2010)

c) Thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ

Thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ rất đa dạng và phong phú, chúng có vai trò

rất quan trọng trong việc làm giảm mật độ sâu cuốn lá nhỏ Loài ong Trichogramma japonicum Aslimead tại Quảng Đông, Trung Quốc đã được sử dụng để diệt trứng sâu cuốn lá nhỏ, làm giảm tỷ lệ lá lúa bị sâu hại là 92,8% so với đối chứng Lượng ong thả là 15 vạn con/ha nếu mật độ là 5 trứng/khóm, có thể thả liên tục 3 - 4 lần

cách nhau 1 - 2 ngày Ong Apanteles cypris cũng là loài ong kí sinh chuyên tính trên sâu non tuổi nhỏ rất phổ biến tại Trung Quốc Ở Nhật Bản, loài Trathala flavoobitalis có thể giết chết sâu non từ 34 -54% trong giai đoạn cuối tháng 6 đầu tháng 7, tính trung bình suốt vụ tỷ lệ này là 12% Có 2 loài ong kí sinh là Itoplectis narangae và Brachymeria excarinata kí sinh nhộng vào cuối tháng 10, tỷ lệ kí sinh

là 11 - 31% (Barrion et al., 1991; CABI, 2006)

Tại Philippines có 83 loài bắt mồi ăn thịt, 55 loài kí sinh và 6 loài nấm tấn công các giai đoạn phát dục của sâu cuốn lá nhỏ Tuy nhiên các loài bắt mồi ăn thịt

là quan trọng nhất Những loài bắt mồi ăn thịt thuộc giống Grylidae gồm Metioche

và Anaxipha ăn trứng và Ophionea spp ăn sâu non Các loài kí sinh quan trọng gồm Copidosomopsis nacoleiae, Cotesia angustibasis, Cardiochiles philippensis và Macrocentrus cnaphalocrocis (Barrion et al., 1991; CABI, 2006)

d) Biện pháp phòng chống

Biện pháp canh tác: Một số dòng lúa biến đổi gen có chứa độc tố từ vi

khuẩn Bacillus thuringiensis đã được chứng minh là có khả năng kháng C medinalis Tại IRRI, hơn 115 dòng trong tổng số 17,914 giống đã được sàng lọc cho thấy chúng kháng hoặc kháng vừa với sâu cuốn lá nhỏ C medinalis Việc bố

trí trong cơ cấu tỷ lệ hợp lý các giống kháng là những giải pháp tích cực nhằm giảm áp lực sâu cuốn lá nhỏ đồng thời tăng tính đa dạng sinh học trên đồng ruộng,

Trang 19

trên cơ sở đó hạn chế thiệt hại do loài sâu này gây ra (CABI, 2006; Patel, 2009;

Xu et al., 2010) Diệt ký chủ quanh bờ ruộng, theo nghiên cứu của nhiều tác giả,

cỏ bấc, cỏ mần trầu, lá tre, lúa chét là nơi di trú chủ yếu của sâu cuốn lá, vệ sinh đồng ruộng tiêu diệt ký chủ là biện pháp tốt nhất hạn chế sâu cuốn lá nhỏ cư trú gây hại cho vụ sau Mật độ cấy rộng hơn và sử dụng ít đạm hơn sẽ làm giảm tỷ lệ nhiễm sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng Bón phân hợp lý, bón cân đối NPK, tránh bón đạm muộn và bón nặng đạm (Matteson, 2000; CABI, 2006; Patel, 2009)

Biện pháp hóa học: Việc sử dụng thuốc hoá học trong phòng trừ sâu hại nói chung và sâu cuốn lá nhỏ nói riêng đòi hỏi rất thận trọng bởi những tác động tiêu cực của chúng với quần thể thiên địch, môi trường sinh thái và sức khoẻ con

người Theo Endo et al (1987) nông dân sử dụng tới 40% số lần phun thuốc để trừ

sâu cuốn lá nhỏ, trong điều kiện nghiên cứu khi nông dân không phun giai đoạn đầu vụ thì không làm thiệt hại kinh tế, tăng thu nhập từ 15 - 30% và tiết kiệm được chi phí thuốc trừ sâu Việc phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ bằng biện pháp hoá học ở giai đoạn đầu vụ là việc không nên làm Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã khẳng định rằng đã có nhiều giống lúa mới có khả năng tự đền bù thiệt hại nên việc sử dụng thuốc hoá học không còn là vấn đề cần thiết để quản lý loài sâu

hại này (CABI, 2006; Zheng et al., 2011)

Thuốc hóa học được sử dụng có hiệu quả để trừ sâu cuốn lá nhỏ có nguồn gốc từ tebufenozide, hexaflumuron, abamectin, emamectin benzoate, and spinosad

(Zheng et al., 2011) Thuốc trừ sâu có nguồn gốc vi sinh và thảo mộc được chú trọng, dầu hạt Neem được sử dụng có hiệu quả để trừ sâu cuốn lá nhỏ như Bacillus thuringiensis Berliner (Kandibane et al., 2010; Zheng et al., 2011)

1.2.2.2 Nghiên cứu về sâu đục thân 2 chấm Scirpophaga incertulas (Walk.)

Sâu đục thân 2 chấm Scirpophaga incertulas (Walk.), họ ngài sáng Pyralidae,

bộ cánh vẩy Lepidoptera Tên gọi khác: Catagela admotella Walker, 1863; Schoenobius punctellus Zeller, 1863; Schoenobius minutellus Zeller, 1863; Tipanaea bipunctifera Walker, 1863; Chilo gratiosellus Walker, 1864; Schoenobius bipunctifer ab quadripunctellifera Strand, 1918 (Wikipedia, 2014b)

a) Phân bố địa lý và phạm vi ký chủ

Trang 20

Sâu đục thân 2 chấm phân bố ở hầu hết các nước trồng lúa của châu Á như Philippines, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản,… Sâu đục thân 2 chấm là

loài đơn thực tính chỉ gây hại trên cây lúa (Dale, 1994; Rahmana et al., 2004; CABI, 2006; Chakraborty, 2011) Sâu đục thân 2 chấm S incertulas có khả năng

gây thiệt hại năng suất lúa từ 10-15% có khi tới 60% khi bùng phát thành dịch

(Abro et al., 2013)

b) Đặc điểm sinh thái

Việc sử dụng phân bón không hợp lý đặc biệt là đạm sẽ tác động lớn đến mật

độ sâu đục thân hại lúa Các giống lúa mới được lai tạo có năng suất cao, đẻ khoẻ, chịu phân thu hút nhiều trưởng thành đến đẻ trứng hơn và có mật độ sâu cao hơn các giống khác Sản lượng của cây lúa sẽ bị giảm nhiều nhất nếu bị sâu đục thân 2 chấm gây hại vào giai đoạn lúa trỗ, mức thiệt hại trung bình ở giai đoạn lúa đẻ

nhánh và hại nhẹ nhất ở giai đoạn lúa chín sữa (Rahmana et al., 2004; Basanth et al., 2013; Soomro et al., 2013)

c) Thiên địch của sâu đục thân lúa

Sâu đục thân 2 chấm cũng có nhiều thiên địch, đặc biệt là trứng của chúng bị

ký sinh với tỷ lệ khá cao bởi một số loài ong Trong đó loài ong Tetrastichus Schoenobii là đóng vai trò quan trọng nhất (CABI, 2006)

Các loài sâu đục thân lúa bị trên dưới 100 loài thiên địch hạn chế số lượng, trong đó chủ yếu là các ký sinh (CABI, 2006) Số lượng loài thiên địch của các sâu đục thân lúa đã phát hiện được ở Philippine và Thái Lan tương ứng

là 40 và 37 loài Sâu đục thân năm vạch Chilo suppressalis và sâu đục thân 2 chấm Scirpophaga incertulas ở trên thế giới (tương ứng) đã ghi nhận được 73 và

56 loài ký sinh Con số này ở Ấn Độ tương ứng là 19 và 56 loài; ở Philippines là

21 và 17 loài Trung Quốc nếu tính cả các loài bắt mồi và gây bệnh thì sâu đục

thân 2 chấm Scirpophaga incertulas có 113 loài thiên địch (dẫn theo Phạm Văn

Lầm, 2002)

d) Biện pháp phòng chống

Biện pháp canh tác: Thời vụ sớm với các giống lúa ngắn ngày có thể tránh

được sự gây hại bởi lứa 2 của sâu đục thân 2 chấm S incertulas Walker Làm ngập

Trang 21

nước ruộng vào mùa xuân ở vùng Quảng Châu (Trung Quốc) có hiệu quả diệt trừ sâu đục thân 2 chấm (Chiu, 1980) Bón phân hợp lý cũng có tác dụng làm hạn chế mức

độ gây hại của sâu đục thân 2 chấm Cây lúa được bón nhiều phân đạm sẽ hấp dẫn trưởng thành cái loài sâu đục thân 2 chấm đến đẻ trứng, bón phân chứa silic, kali sẽ làm tăng tính chống chịu sâu đục thân của cây lúa (Dale, 1994; CABI, 2006)

Sử dụng giống kháng chống sâu hại: Việc lai tạo giống kháng sâu đục thân 2 chấm được bắt đầu ở Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) từ năm 1972 như giống lúa IR36, IR40, IR50, IR54, cho đến hiện nay nhiều giống lúa đã được chọn tạo

(CABI, 2006; Soomro et al., 2013) Kết quả nghiên cứu cho thấy tính kháng sâu đục

thân 2 chấm của các giống lúa chỉ đạt mức trung bình, nghiên cứu chuyển gen Bt

vào cây lúa để chống lại sâu đục thân vì vi khuẩn Bacilus thuringiensis (Bt) có chứa

độc tố giết sâu, đặc biệt các loại sâu thuộc bộ cánh vảy cũng đã được áp dụng Việc

sử dụng giống lúa chuyển gen Bt đó có hiệu quả tốt trong việc phòng chống sâu đục

thân (CABI, 2006; Soomro et al., 2013)

Biện pháp sinh học: Thành phần thiên địch của nhóm sâu đục thân lúa khá phong phú, nhưng có ít loài quan trọng Số lượng loài thiên địch của nhóm sâu đục thân lúa đó được phát hiện ở Philippines và Thái Lan tương ứng là 40 và 37 loài Riêng

ký sinh của sâu đục thân 5 vạch Chilo suppressalis và sâu đục thân 2 chấm S incertulas Walker ở trên thế giới ghi nhận được 73 và 56 loài (CABI, 2006) So với

các loài bắt mồi, các loài ký sinh được đánh giá là quan trọng hơn Trong đó, các loài

ký sinh trứng được đánh giá là quan trọng nhất Các loài ký sinh trứng sâu đục thân là

các loài ong ký sinh thuộc giống Telenomus, Tetrastichus, Trichogramma Biện pháp

sử dụng ong mắt đỏ trừ sâu hại lúa cũng được nghiên cứu nhiều ở Trung Quốc và Ấn

Độ để trừ sâu cuốn lá nhỏ và sâu đục thân Tại Karnataka (Ấn Độ) đã nghiên cứu thả

ong mắt đỏ Trichogramma japonicum định kỳ một tuần một lần để trừ sâu cuốn lá nhỏ

và sâu đục thân 2 chấm Các loài bắt mồi ăn thịt cũng đóng vai trò khá quan trọng trong

tiêu diệt sâu đục thân lúa ở các pha phát dục khác nhau Một cá thể nhện sói Pardosa pseudoannulata một ngày có thể tiêu diệt hàng trăm sâu non đục thân lúa, đồng thời nó

tấn công cả pha trưởng thành của các loài sâu đục thân (CABI, 2006)

Trang 22

Biện pháp hóa học: Biện pháp hóa học rất quan trọng trong các biện pháp phòng chống sâu hại lúa nói chung và sâu đục thân lúa nói riêng Tuy vậy, ngày nay việc sử dụng thuốc hóa học trừ sâu hại lúa cần phải được cân nhắc thận trọng Theo Chiu (1980), việc dùng thuốc hóa học phải được dựa trên cơ sở dự báo quần thể sâu hại lúa, thiên địch của chúng, giai đoạn sinh trưởng của cây lúa Xu hướng sử dụng những thuốc trừ sâu có phổ hẹp ít hoặc không ảnh hưởng đến thiên địch và các loài

sinh vật khác (Abro et al., 2013) Theo Abro et al (2013), Chatterjee và Mondal (2014) thuốc hóa học có hiệu lực cao trong phòng trừ sâu đục thân Scirpophaga incertulas là Cartap hydrochloride, Carbofuran, Fipronil, Azadirachtin, Spinosad và

Phosphamidon Thuốc trừ sâu có nguồn gốc vi sinh, các chế phẩm vi sinh

Beauveria bassiana, etarhizium anisopliae, Bacillus thuringiensis cũng có hiệu lực cao trong phòng trừ sâu đục thân S incertulas (Chatterjee và Mondal, 2014)

Việc sử dụng thuốc trừ sâu đục thân lúa phải chọn thời điểm đúng là rất quan trọng, phải dùng thuốc có tính chọn lọc đối với sâu đục thân nói chung và sâu đục thân 2 chấm nói riêng Phun thuốc nước để trừ sâu đục thân thường cho hiệu quả cao hơn phun thuốc bột Dùng thuốc viên rắc để trừ sâu đục thân lúa tốt hơn so với phun thuốc nước và thuốc bột Kết hợp sử dụng thuốc hóa học trừ sâu với các biện pháp khác cũng được khuyến cáo trong phòng trừ sâu đục thân 2 chấm (CABI,

2006; Abro et al., 2013; Chatterjee và Mondal, 2014)

1.2.2.3 Nghiên cứu về rầy nâu hại lúa Nilaparvata lugens (Stal)

Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal (Delphacidae: Hemiptera) Tên gọi khác: Nilaparvata sordescens Muir, 1922; Delphacodes sordescens Muir, 1919; Delphacodes parysatis Muir, 1917; Delphacodes anderita MMuir, 1917; Delphacodes ordovis Muir, 1917; Delphax ordovix Kirkaldy, 1907; Delphax parysatis Kirkaldy, 1907; Dicranotropis anderida Kirkaldy, 1907; Kalpa aculeata Distant, 1906; Nilaparvata greeni Distant, 1906; Liburnia sordescens Melichar, 1903; Delphax sordescens De Motschulsky, 1863; Delphax lugens Stål, 1854

(CABI, 2006; Wikipedia, 2014c)

a) Phân bố địa lý và phạm vi ký chủ

Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) được biết đến như một loài sâu hại lúa từ

Trang 23

rất lâu Và nó trở thành sâu hại nguy hiểm ở các nước trồng lúa từ nửa sau thế kỷ

20 Rầy nâu có phân bố rộng ở các vùng trồng lúa nước như ở miền Nam, đông Nam và Đông châu Á, những đảo phía nam Thái Bình Dương và ở Australia Ngoài

ra, còn thấy ở châu Phi, châu Mỹ (vùng nhiệt đới) (Preap et al., 2001b; Yin et al., 2005; CABI, 2006; Jena và Kim, 2010; Hu et al., 2010; Gurr et al., 2011)

Cây lúa là cây ký chủ quan trọng nhất của rầy nâu, ngoài ra người ta còn tìm thấy rầy nâu trên các cây trồng khác và cỏ dại Ở Nhật Bản đã ghi nhận có 29 loài

thực vật là ký chủ phụ của rầy nâu nhưng ký chủ quan trọng là lúa dại (Ozya peremis, O glaberim và O breviligulata), cỏ môi (Leersia henxadra),… (CABI, 2006; Jena và Kim, 2010; Hu et al., 2010; Gurr et al., 2011)

b) Đặc điểm sinh thái

Ở vùng nhiệt đới châu Á, rầy nâu phát triển quanh năm nhưng một năm thường có hai đỉnh cao về mật độ quần thể tương ứng với hai vụ lúa chính, mỗi vụ

có một đỉnh cao Trong một vụ lúa rầy nâu có thể hoàn thành từ 2 - 8 lứa nhưng thực tế ở phía Nam Nhật Bản có 5 lứa rầy nâu/vụ Trên những giống lúa có thời gian sinh trưởng trung bình thường có 3 lứa rầy/vụ (Dale, 1994) Sự phát triển quần thể rầy nâu phụ thuộc chặt chẽ vào nhiệt độ và ẩm độ Nhiệt độ cao mật độ rầy nâu cao và ngược lại Ở nhiệt độ 28 - 300C và ẩm độ 70 - 80% quần thể rầy nâu đạt cao nhất (Dale, 1994; CABI, 2006)

Việc gieo cấy những giống lúa mới có năng suất cao có tương quan rõ rệt tới

sự phát triển của rầy nâu Những giống lúa thấp cây, đẻ nhiều, lá thẳng đứng tạo điều kiện cho rầy nâu phát triển, cấy nhiều vụ lúa trong năm, cấy dầy, gieo vãi với mật độ cao, bón nhiều đạm, bón phân không cân đối tạo điều kiện cho rầy nâu phát triển thành dịch (CABI, 2006)

c) Thiên địch của rầy nâu hại lúa

Thành phần thiên địch của rầy nâu đã phát hiện rất phong phú Tuy nhiên số loài thiên địch có thể gây tác động ảnh hưởng rõ rệt đến số lượng rầy nâu thì lại không nhiều Những loài như vậy ở Thái Lan có khoảng 10-17 loài, ở Ấn Độ có hơn 20 loài, ở Hàn Quốc có 14 loài bắt mồi, ở Malaixia có 16 loài Nhiều nước ở vùng trồng lúa

Đông Nam Á có 14 loài, đó là các loài bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis, nhện

Trang 24

sói vân đinh ba Pardosa pseudoannulata, bọ xít nước Microvelia douglasi, bọ rùa 8 chấm Harmonia octomaculata, bọ cánh cứng ngắn Paederus fuscipes, nhện lớn chân dài hàm to Tetrragnatha spp., nhện linh miêu Oxyopes spp., nhện Araneus inustus, các ong ký sinh trứng Oligosita yasusmatsui, Anagrus spp.,Gonatoceru spp., các ong ngoại

ký sinh Pseudogonatopus spp., Haplogonatopus apicalis, ruồi ký sinh Tomosvaryaella spp (CABI, 2006; Preap et al., 2001b; Prayana et al., 2013)

d) Biện pháp phòng chống

Biện pháp canh tác: Sử dụng các giống lúa kháng chống rầy Bón phân hợp lý cũng có tác dụng làm hạn chế mức độ gây hại của rầy nâu, bón phân chứa silic, kali sẽ

làm tăng tính chống chịu rầy nâu của cây lúa (CABI, 2006; Preap et al., 2001a)

Biện pháp sinh học: Thành phần thiên địch của nhóm rầy nâu khá phong phú, nhưng có ít loài quan trọng Các loài ký sinh rầy nâu là các loài ong ký sinh thuộc

giống Telenomus, Tetrastichus, Trichogramma Các loài bắt mồi ăn thịt cũng đóng

vai trò khá quan trọng trong tiêu diệt rầy nâu hại lúa ở các pha phát dục khác nhau

Bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis, nhện sói vân đinh ba Pardosa pseudoannulata, nhện Araneus inustus có hiệu quả trong phòng chống rầy nâu hại lúa (Gurr et al., 2011; Prayana et al., 2013)

Biện pháp hóa học: Theo Chen et al (2013) thuốc Virtako có hiệu lực cao

trong phòng trừ rầy nâu hại lúa Biện pháp phòng trừ tổng hợp áp dụng đối với rầy

nâu hại lúa (Matteson, 2000; Prayana et al., 2013)

1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.3.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa

Ở Việt Nam, thành phần sâu hại lúa và các đối tượng gây hại chính trên cây lúa được đề cập đến trong Giáo trình côn trùng Nông nghiệp (Bộ môn côn trùng,

2006) và trong những nghiên cứu của Cục BVTV (1995), Nguyễn Văn Đĩnh (2004),

Trung tâm BVTV phía Bắc (2006)

Thành phần sâu hại lúa ở Việt Nam còn được một số tác giả khác công bố, trong đó có công trình nghiên cứu của Phạm Văn Lầm (2000) tổng hợp tất cả các tài liệu đã công bố và chỉ ra rằng ở Việt Nam có 133 loài côn trùng và nhện nhỏ (thuộc 90 giống, 33 họ của 8 bộ côn trùng và nhện nhỏ) gây hại trên cây lúa

Trang 25

Trong tổng số 133 loài đó chỉ có khoảng trên 40 loài thường xuyên xuất hiện trên cây lúa và chỉ một số loài gây hại chính là rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu đục thân 2 chấm, sâu cuốn lá nhỏ, bọ xít dài, bọ trĩ, sâu năn, v.v (Phạm Văn Lầm, 2000; Phạm Bình Quyền, 2002)

Đến năm 2004 tại Việt Nam, tổng số loài côn trùng có mặt trên lúa là 461 loài, trong đó 100 loài gây hại song các đối tượng gây hại chủ yếu khoảng 20 loài như: sâu đục thân lúa, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu…Chúng gây hại với mật độ cao trên diện tích rộng phân bố khắp các tỉnh trong phạm vi cả nước đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và sản lượng lúa (Bộ môn côn trùng, 2006)

1.3.2 Nghiên cứu về sâu hại chính

1.3.2.1 Nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ Cnaphalocrocis medinalis Guenee

a) Phân bố và thiệt hại do sâu cuốn lá nhỏ gây ra

Sâu cuốn lá nhỏ xuất hiện ở các vùng trồng lúa trong cả nước Ở Việt Nam, sâu cuốn lá nhỏ là loài sâu hại thứ yếu trong những năm 60 của thập kỷ trước, nhưng từ thập kỷ 70 sâu cuốn lá nhỏ trở thành một dịch hại, trong những năm 1990

- 1994 sâu cuốn lá nhỏ đứng ở hàng thứ hai nguy hại sau rầy nâu Trên đồng ruộng

sâu cuốn lá nhỏ gây hại từ giai đoạn mạ đến giai đoạn lúa trỗ, nặng nhất ở giai đoạn đòng - trỗ Năm 1990 - 1991 dịch sâu cuốn lá nhỏ gây hại nặng trên cả nước, năm

2001 sâu cuốn lá nhỏ gây hại 855.000 ha lúa ở các tỉnh phía Bắc, diện tích nhiễm và nhiễm nặng do sâu cuốn lá nhỏ liên tục tăng và tăng ở mức cao, từ năm 1999 đến năm 2003 là cao nhất trong cả nước lên tới 938.643 ha, trong đó diện tích bị hại nặng là 182.950 ha, diện tích mất trắng là 272 ha, năm 2002 diện tích lúa nhiễm sâu cuốn lá nhỏ ở các tỉnh miền Bắc là 748.904 ha trong đó diện tích nhiễm nặng là 270.362 ha (Cục BVTV, 2005) Riêng vụ mùa 2003 sâu cuốn lá nhỏ có mật độ rất cao, diện phân bố rộng, diện tích do sâu cuốn lá nhỏ gây hại ở 26 tỉnh phía Bắc lên tới 412.146 ha, nặng 226.754 ha, năm 2005 diện tích do sâu cuốn lá nhỏ gây hại có

xu hướng giảm hơn năm trước Vụ xuân 2006 sâu cuốn lá nhỏ gây hại ở mức bình thường nhưng có diện tích nhiễm và mật độ sâu cao hơn vụ xuân năm trước (Cục BVTV, 2006, 2007)

Sâu cuốn lá nhỏ là loài đa thực gây hại trên nhiều cây trồng nông nghiệp

Trang 26

khác nhau, chúng có khả năng cư trú và gây hại trên rất nhiều ký chủ phụ như ngô, lúa mỳ, lúa miến, cỏ lồng vực, cỏ lá tre, cỏ gà nước, cỏ môi,

b) Đặc điểm sinh thái

Vùng Gia Lâm - Hà Nội đã xác định được thành phần sâu cuốn lá nhỏ có 2

loài gây hại chính đó là Cnaphalacrocis medinalis va Marasmia exigua Trong mấy

năm gần đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu về thành phần sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng, đặc biệt là trên cây lúa thì kết quả cũng chỉ thu được một loài đó là

loài Cnaphalacrocis medinalis

Nhiệt độ và ẩm độ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát sinh, phát triển của sâu cuốn lá nhỏ Số ngày có mưa nhỏ trong thời gian bướm cuốn lá nhỏ ra rộ cũng liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ trứng nở, trong thời gian bướm ra rộ và đẻ trứng số ngày có mưa nhỏ nhiều, ẩm độ cao thì tỷ lệ trứng nở cao và ngược lại (Cục BVTV, 2005)

Ở các tỉnh phía Bắc một năm thường có 7 lứa bướm sâu cuốn lá nhỏ phát sinh, thời gian phát sinh các lứa bướm ở mỗi năm sớm hay muộn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, thức ăn và thời vụ gieo cấy Trong năm sâu non gây hại cả hai vụ lúa nhưng ở

vụ mùa mức độ gây hại cao hơn vụ xuân, các lứa sâu non gây hại thường là lứa 2 (vụ xuân), lứa 5, lứa 6 và có năm cả lứa 7 (vụ mùa) (Trung tâm BVTV phía Bắc 2005,

2006, 2007)

Ngoài các yếu tố nhiệt độ, ẩm độ thì các yếu tố canh tác như lượng phân bón, mật độ gieo cấy, giống lúa và giai đoạn sinh trưởng của cây cũng ảnh hưởng đến qui luật phát sinh của sâu cuốn lá nhỏ Ruộng gieo cấy với khoảng cách 15 x 10cm có mật

độ sâu non cao gấp 3 lần những ruộng khoảng cách cấy 20 x 20 cm vì ở những ruộng cấy dầy tạo nên tiểu khí hậu đồng ruộng có ẩm độ cao là điều kiện thích hợp cho sâu cuốn lá nhỏ phát triển đạt mật độ số cao hơn Ruộng bón nhiều đạm, bón lai dai thường

bị sâu cuốn lá gây hại nặng Do ruộng bón nhiều phân lá xanh non, lá mềm hấp dẫn bướm đến đẻ trứng, do đó có mật độ sâu non cao hơn (Trung tâm BVTV phía Bắc

2005, 2006; Bộ môn Côn trùng, 2006)

c) Thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ

Thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ rất đa dạng và phong phú Theo nghiên cứu của Vũ Quang Côn (1989) thì trong nhóm thiên địch sâu cuốn lá nhỏ ong kí sinh có

Trang 27

tới 34 loài trong đó có 23 loài kí sinh bậc 1; 8 loài kí sinh bậc 2, hiệu quả kí sinh

chung đạt 15 - 30% Trứng cuốn lá nhỏ chủ yếu kí sinh do ong Trichogramma japonicum, Trichogramma chilonis Loài Apenteles cypris Nixon là một trong

những loài ong kí sinh chuyên tính rất quan trọng của sâu cuốn lá nhỏ, tỷ lệ kí sinh đạt 30%; có 10 loại nhện lớn ăn mồi (Phạm Văn Lầm và cs., 1993) Nguyễn Viết Tùng (1993) khi nghiên cứu thành phần nhóm nhện lớn bắt mồi ở vùng Gia Lâm -

Hà Nội cho biết có 27 loài thuộc 7 họ khác nhau trong đó phổ biến là nhện nhảy có

9 loài, nhện lưới có 8 loài, các họ khác có 2 - 4 loài

Theo Phạm Văn Lầm và cs (1993) khi nghiên cứu về biến động số lượng nhóm nhện lớn bắt mồi ăn thịt trên đồng ruộng 2 vụ lúa xuân và vụ mùa cho thấy mật độ nhện lớn bắt mồi ăn thịt tăng dần từ đầu vụ cho đến cuối vụ lúa, đỉnh cao là giai đoạn lúa làm đòng - trỗ Mỗi vụ khác nhau thì diễn biến mật độ nhện lớn bắt mồi ăn thịt cũng khác nhau, mật độ quần thể nhện lớn bắt mồi ăn thịt đầu vụ xuân là 0,2 - 2,8 con/m2, đỉnh cao là 73,8 - 175,9 con/m2, mật độ này bao giờ cũng thấp hơn mật độ quần thể nhện lớn bắt mồi ăn thịt đầu vụ mùa là 4,0 - 19,7 con/m2, đỉnh cao

là 76,9 - 201,6 con/m2 Các điều kiện canh tác như giống lúa, chế độ nước, số vụ lúa/năm đều ảnh hưởng đến sự tích luỹ số lượng quần thể nhện lớn bắt mồi ăn thịt (Phạm Văn Lầm và cs., 1993)

Vụ mùa năm 1994 tại vùng Gia Lâm - Hà Nội, Đặng Thị Dung (1995) đã thu thập được 12 loài bắt mồi ăn thịt sâu cuốn lá nhỏ trong đó phổ biến nhất là 5 loài nhện, đặc biệt là nhện sói, nhện linh miêu có số lượng lớn hơn nhiều so với các loài khác Kết quả nghiên cứu của Hà Quang Hùng (1998) cho biết ở địa bàn

Hà Nội sâu cuốn lá nhỏ có 27 loài kí sinh và bắt mồi ăn thịt cả 3 pha trứng, sâu non, nhộng

Trang 28

1.3.2.2 Nghiên cứu về sâu đục thân 2 chấm Scirpophaga incertulas (Walk.)

a) Phân bố và thiệt hại do sâu đục thân 2 chấm gây ra

Ở trong nước, sâu đục thân 2 chấm gây hại phổ biến khắp các vùng trồng lúa Sâu đục thân 2 chấm đã được ghi nhận có mặt ở 44 tỉnh trong cả nước, từ miền núi đến đồng bằng đến các tỉnh ven biển (Phạm Văn Lầm, 2000) Sâu đục thân 2 chấm là loài đơn thực tính khá điển hình Tuy nhiên nghiên cứu còn cho thấy chúng phá hoại

trên 4 loài lúa dại và cỏ Leptoch panicoides (Bộ môn Côn trùng, 2006)

Ở các tỉnh phía Bắc sâu đục thân 2 chấm gây hại cả hai vụ lúa, mỗi vụ thường

có một lứa gây hại nặng đó là lứa 2 (ở vụ xuân), lứa 5 (ở vụ mùa) Một vài năm gần đây mức độ gây hại gây hại của sâu đục thân 2 chấm có xu thế tăng lên, kể cả diện phân bố và mức độ gây hại Năm 2006 diện tích nhiễn toàn vùng vụ mùa là 111.017

ha trong đó diện tích mất trắng là 276 ha Sâu đục thân 2 chấm gây hại nặng ở một số tỉnh Nam Định, Bắc Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Hải Dương tỷ lệ bông bạc nơi cao

30 - 50% cá biệt 70 - 90% (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2006; 2007)

b) Đặc điểm sinh thái

Quy luật phát sinh gây của sâu đục thân 2 chấm trên đồng ruộng phụ thuộc khá chặt chẽ với vùng địa lý khí hậu và điều kiện kỹ thuật trồng trọt ở từng vùng Ở các tỉnh phía Bắc cùng 1 năm ở vụ mùa thường gây hại nặng hơn vụ xuân (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2006; 2007) Mức độ hại liên quan chặt chẽ với trà lúa, trong mỗi vụ tỷ lệ hại giữa các trà lúa cũng khác nhau

Sâu đục thân 2 chấm một năm thường phát sinh 6 - 7 lứa Mức độ hại của sâu đục thân 2 chấm trên các giống lúa phụ thuộc vào thời vụ và giai đoạn sinh trưởng của cây lúa Các giống lúa nếp thường bị hại nặng hơn các giống khác Trên cùng 1 giống lúa ở giai đoạn khác nhau mức độ hại cũng khác nhau ở giai đoạn lúc làm đòng, trỗ bông gặp lứa sâu ra rộ thì khả năng gây hại có khả năng lớn hơn các giai đoạn khác (Bộ môn Côn trùng, 2006)

c) Thiên địch của sâu đục thân 2 chấm

Trên đồng ruộng sâu đục thân 2 chấm cũng bị nhiều loài thiên địch tấn công Kết quả điều tra nghiên cứu của Phạm Văn Lầm (2000) đã ghi nhận được 25 loài thiên địch của sâu đục thân 2 chấm Các loài thiên địch quan trọng của sâu đục thân

Trang 29

2 chấm là các loài ong ký sinh sâu non và đặc biệt là ong ký sinh trứng

Trong số các loài thiên địch đã phát hiện được của nhóm sâu đục thân lúa có khoảng 10 loài phổ biến Trong đó có 8 loài là ký sinh và 2 loài là bắt mồi Các loài

Amauromorpha accepta schoenobii Vier., Exoryza schoenobii Wilk., Metoposisyrops pyralidis Rhich., Telenomus dignus Gah., Temelucha philippinensis Ashm., Tetrastichus Schoenobii Ferr., Trichogramma japonicum Ashm., Tropobracon schoenobii (Vier.) là ký sinh và Pardosa pseudoanuulata (Boe et Str.), Oxyopes javanus là loài bắt mồi (Phạm Văn Lầm, 2002)

Trên trứng sâu đục thân 2 chấm đã ghi nhận được 7 loài ký sinh Trong đó có

3 loài rất phổ biến là ong đen mắt đỏ Trichogramma japonium, ong xanh ăn trứng Tetrastichus schoenobii và ong đen Telenomus dignus Trong các loài ong ký sinh thì loài Tetrastichus thường xuất hiện và ký sinh với tỷ lệ cao vào những tháng

nhiệt độ thấp, các loài khác thì vào các tháng ấm và nóng Ngoài giai đoạn trứng bị

ký sinh, sâu non cũng có thể bị nhiều loài ký sinh khác Ong đen Telenomus dignus

là một ký sinh trứng quan trọng của sâu đục thân 2 chấm Nó phát sinh từ tháng 2 đến tháng 11 hàng năm, đặc biệt phát sinh nhiều trong thời gian lứa 2, 3, 4 của sâu đục thân 2 chấm Ong đen có thể tiêu diệt từ vài phần trăm đến 30 - 40%, đôi khi tới 60% quả trứng trong ổ trứng sâu đục thân 2 chấm (Hà Quang Hùng, 1986; Phạm

Văn Lầm và cs., 1993)

Ong xanh ăn trứng T schoenobii đóng vai trò rất quan trọng trong việc tiêu

diệt trứng đục thân lúa 2 chấm ở vụ mùa tại phía Bắc Loài ong này thường xuất hiện từ cuối tháng 6 đến tháng 12 trên mạ mùa, lúa mùa, mạ chiêm Tỷ lệ trứng

đục thân bị ong T schoenobii tiêu diệt đạt từ vài phần trăm đến hơn 90% vào đợt

trứng cuối vụ mùa ở phía Bắc Loài ong này có vai trò lớn trong điều hoà số lượng sâu đục thân 2 chấm lứa 5 và lứa 6 (Hà Quang Hùng, 1986; Phạm Văn Lầm và cs., 1993)

Ong đen mắt đỏ T japonicum là một loài ký sinh trứng rất quan trọng trên

đồng lúa Nó ký sinh trứng nhiều loài sâu hại lúa Ong đen mắt đỏ xuất hiện quanh năm trên đồng lúa Nó có thể tiêu diệt từ vài phần trăm đến trên dưới 30% quả trứng trong ổ trứng sâu đục thân 2 chấm Trứng sâu đục thân năm vạch bị ong đen mắt đỏ

Trang 30

T japonicum ký sinh khoảng 30 - 50%, có khi tới 80% (Hà Quang Hùng, 1986) Ong kén trắng Exoryza schoenobii xuất hiện thường xuyên trên đồng lúa Sâu non của sâu đục thân 2 chấm và đục thân năm vạch đầu nâu bị ký sinh bởi ong kén trắng

E schoenobii với tỷ lệ trung bình 25 - 30%, có khi đạt hơn 40%

(Hà Quang Hùng, 1986)

d) Biện pháp phòng chống

Các biện pháp canh tác trừ sâu đục thân lúa đã được tổng kết là: cày lật đất ngay sau thu hoạch để diệt nhộng sâu đục thân trong gốc rạ; luân canh lúa nước với cây trồng cạn; gieo cấy thời vụ sớm thích hợp với từng địa phương; dùng giống ngắn ngày và giống cực sớm trong vụ mùa để tránh sâu đục thân Vùng đồng bằng sông Hồng, lúa đông xuân trỗ bông vào đầu tháng 5, lúa mùa trỗ bông vào đầu tháng 9 hầu như không bị sâu đục thân gây hại nặng (Phạm Văn Lầm, 2006)

Những loại thuốc hóa học được khuyến cáo dùng trên lúa trừ các sâu đục thân lúa là Padan 95 SP, Regent 800WG, Oncol 5G,…

1.3.2.3 Nghiên cứu về rầy nâu hại lúa Nilaparvata lugens (Stal)

a) Phân bố và thiệt hại do rầy nâu gây ra

Việt Nam cũng như các nước trồng lúa khác ở Đông Nam Á, rầy nâu

(Nilaparvata lugens Stal) đã và ngày càng trở thành loài sâu hại lúa quan trọng Ở

các tỉnh phía Bắc trước năm 1971 rầy nâu chỉ phát sinh rải rác và chỉ gây hại cục bộ

ở một số tỉnh, vụ mùa năm 1971 rầy nâu phát sinh thành dịch trên diện rộng Ở các tỉnh phía Nam, rầy nâu cũng phát sinh mạnh từ năm 1971 Tháng 11-12 năm 1977, dịch rầy nâu ở Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp và Cửu Long trên diện tích 100.000 ha, trong đó có 10.000 ha bị mất trắng và 90.000 ha bị hại 30-50% năng suất Những năm gần đây rầy nâu càng trở lên nguy hiểm hơn bởi vì ngoài tác hại trực tiếp là chích hút nhựa của cây lúa, ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Nam Bộ rầy còn là môi giới truyền bệnh virus bệnh vàng lùn, lùn xoắn

lá cho cây lúa (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006)

b) Đặc điểm sinh thái

Ở Việt Nam rầy nâu tồn tại quanh năm nhưng sự phát sinh gây hại phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện thời tiết, tập quán canh tác của từng vùng miền Ở

Trang 31

các tỉnh phía Bắc thời tiết khí hậu có 4 mùa rõ rệt thì rầy nâu thường phát sinh từ tháng 1 đến tháng 11 hàng năm và thường có từ 7-8 lứa trong đó gây hại nặng ở lứa 2, lứa 3 (vụ xuân) và lứa 6, lứa 7 (vụ mùa) (Trung Tâm BVTV phía Bắc, 2005,

2006, 2007)

Mật độ cấy cũng ảnh hưởng sự phát triển của quần thể rầy nâu Những ruộng lúa cấy dầy, bón nhiều phân đạm rầy nâu phát sinh với mật độ quần thể cao và ngược lại Chế độ nước trên ruộng lúa có ảnh hưởng đến mật độ quần thể rầy nâu, ruộng luôn luôn đủ nước thường xuyên có mật độ quần thể rầy nâu cao hơn ruộng không đủ nước thường xuyên (Nguyễn Đức Khiêm, 1995a)

c) Thiên địch của rầy nâu hại lúa

Rầy nâu và rầy lưng trắng ở nước ta đã ghi nhận có khoảng 84 loài thiên địch Các loài thiên địch của rầy nâu có thể chia thành 3 nhóm lớn: các loài bắt mồi, các loài

ký sinh và các loài gây bệnh cho rầy nâu Cho đến nay ở nước ta đã phá hiện được 65 loài côn trùng và nhện là những loài bắt mồi của rầy nâu và rầy lưng trắng Đã ghi nhận được 14 loài ký sinh của rầy nâu và rầy lưng trắng và đã phát hiện được 34 loài nấm và

2 loài tuyến trùng gây bệnh cho rầy nâu (Phạm Văn Lầm, 2002, 2006)

Trong điều kiện ở nước ta, đã ghi nhận có khoảng 20 loài thiên địch phổ biến của rầy nâu trên đồng lúa từ đồng bằng sông Hồng đến đồng bằng sông Cửu

Long Có ít nhất 4 loài ký sinh trên trứng rầy nâu là ong Anagrus flaveolus, Anagrus optabilis, Gonatocerus sp., Oligosita sp 3 loài ngoại ký sinh trên lưng các rầy non và trưởng thành là ong Haplogonatopus apicalis, Pseudogonatopus flavifermur, Pseudogonatopus hospes Các loài bắt mồi phổ biến trong quần thể rầy nâu là bọ xít mù xanh Cytorhynus lividipennis, nhện sói vân đinh ba Pardosa pseudoannulata, nhện sói bọc trứng trắng Pirata subpiraticus, nhện lớn hàm to bụng tròn Dyschiriognatha tenera, bọ rùa đỏ Micraspis discolor, bọ cánh cứng ngắn Paederus fuscipes, bọ ba khoang bốn chấm trắng Ophionea indica, bọ rùa 8 chấm Harmonia octomaculata, bọ xít nước Microvelia douglasi, nhện lớn chân dài hàm to Tetragnatha spp và nhện linh miêu Oxyopes sp (Phạm Văn Lầm,

2002, 2006)

d) Biện pháp phòng chống

Trang 32

Các giống lúa khác nhau có khả năng phản ứng với rầy nâu khác nhau Ở miền Bắc đã xác định được 332 giống và dòng lai có tính kháng rầy nâu trong số

905 giống và dòng lai được đánh giá Miền Nam xác định được 78 dòng lai có tính kháng với rầy nâu trong 1134 giống và dòng lai được đánh giá (Nguyễn Đức Khiêm, 1995a) Nhiều giống có phản ứng kháng với rầy nâu ở miền Bắc nhưng lại nhiễm với rầy nâu ở đồng bằng sông Cửu Long, tuy nhiên chưa thấy giống nào ở

đồng bằng sông Cửu Long lại nhiễm rầy ở phía Bắc (Nguyễn Đức Khiêm, 1995a) 1.4 Các nghiên cứu ứng dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến ở ngoài nước và trong nước

SRI được áp dụng ở Madagascar từ năm 1983 (Laulanié, 2011) Sau đó được Giáo sư Norman Uphoff thuộc Trường đại học Cornell của Mỹ tuyên truyền để áp dụng và nhân rộng ra nhiều nước trên thế giới sau khi thấy sự thành công của SRI trong ba năm (1990-1993) khi năng suất lúa trước đây trung bình chỉ đạt 2 tấn/ha, còn với ruộng lúa ứng dụng SRI đạt tới 8 tấn/ha Mô hình SRI được áp dụng ở châu

Á vào năm 1997 Uphoff ước tính rằng vào năm 2013 số lượng các hộ nông dân sử dụng SRI đã tăng lên đến khoảng từ 4 đến 5 triệu hộ (Wikipedia, 2014d)

Những người ủng hộ SRI tuyên bố việc sử dụng nó làm tăng năng suất, tiết kiệm nước, giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập và lợi ích đã đạt được trong 40 quốc gia Theo đánh giá của Dự án Africare, Oxfam America, WWF-ICRISAT (2010), áp dụng SRI sẽ làm tăng năng suất lúa bình quân đạt 20-50%, tiết kiệm nước tưới 25-50%, lượng hạt giống chỉ cần 5-7 kg/ha so với phường pháp truyền thống thường sử dụng 50-70 kg/ha, giảm giá thành sản xuất trên mỗi ha là 23% và làm tăng lợi nhuận 68%/ha Năm 2011 một nông dân trẻ tuổi tên là Sumant Kumar thiết lập một kỷ lục thế giới mới trong sản xuất lúa gạo khi áp dụng mô hình SRI thì năng suất lúa đạt 22,4 tấn/ha (Wikipedia, 2014d)

Nhiều công trình nghiên cứu của một số nước có công nghệ lúa lai phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Sri Lanka… ngoài việc tạo ra những giống có tiềm năng năng suất cao, đã thể hiện sự nổi trội về ưu thế lai, người ta chú trọng đến kỹ thuật thâm canh để lúa lai phát huy được thế mạnh đó như: kỹ thuật làm mạ; kỹ thuật cấy; kỹ thuật bón phân; kỹ thuật điều tiết nước; công tác BVTV

Trang 33

(Wikipedia, 2014d) Với SRI nên cấy 1 dảnh/khóm Tuy nhiên, với phương pháp thâm canh truyền thống người ta thường cấy 1-2 dảnh/khóm đối với lúa lai

và 3 dảnh trở lên đối với lúa thuần Các thử nghiệm cho thấy không có sự khác biệt về năng suất giữa các số lượng dảnh được cấy/khóm Năng suất hạt khi cấy

1 dảnh/khóm bón ít ni-tơ cao hơn cấy 2 dảnh trở lên/khóm bón nhiều nitơ (Wikipedia, 2014d)

Theo kết quả nghiên cứu của Kakde và Patel (2014) tại vùng Gujarat của Ấn

Độ trong năm 2012-2013 cho biết, trên ruộng lúa áp dụng SRI, sâu đục thân lúa

Scirpophaga incertulas (Walk.) phá hoại xuất hiện cao điểm vào trong tuần đầu của

tháng 9 với tỷ lệ 4,19% và ở tuần cuối cùng của tháng 9 là 4,93%; còn trên ruộng

không áp dụng SRI, sâu đục thân lúa S incertulas (Walk.) phá hoại xuất hiện cao

điểm vào trong tuần đầu của tháng 10 với tỷ lệ 5,58% và ở tuần cuối cùng của tháng

10 là 5,79% Các kết quả của cả hai phương pháp cho thấy các thông số thời tiết có

ít ảnh hưởng đến các hoạt động vàng sâu đục thân hại

Ở Việt Nam, năm 2003 có 3 tỉnh tham gia canh tác lúa cải tiến là Hà Nội, Hoà Bình, Quảng Ninh Năm 2005 có 5 tỉnh tham gia gồm: Hà Nội, Hoà Bình, Quảng Nam, Nam Định, Thái Bình Đến 2006 có 12 tỉnh tham gia: Hà Nội, Hoà Bình, Quảng Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Hà Tây, Nghệ An, Quảng Bình Đến 2007 có 17 tỉnh tham gia gồm các tỉnh trên và thêm một số tỉnh khác Yên Bái, Hải Phòng, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng (Cục BVTV, 2006) Tại 11 tỉnh phía Bắc đã có 13 giống tham gia thực nghiệm, chủ yếu là các giống lúa lai, lúa thuần Trung Quốc được gieo cấy trên chân đất vàn hoặc vàn cao trong điều kiện chủ động nước tưới tiêu Trong thực nghiệm thăm dò, các tỉnh đều cấy ở các mật độ 11, 16, 20,

25 khóm/m2, cấy mạ 2,5 lá, cấy 1 dảnh, cấy vuông mắt sàng và rút nước định kỳ trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng (Cục BVTV, 2006)

Kết quả ứng dụng cho thấy canh tác lúa cải tiến giúp giảm chi phí vật tư: giống, phân đạm, thuốc bảo vệ thực vật, nước tưới cụ thể: Lượng thóc giống giảm so với tập quán của nông dân từ 60 đến 80%, lượng đạm giảm 30 đến 40%, giảm công lao động 30%, giản lượng nước tưới 30 - 40%; Lượng phân đạm giảm so với tập quán của nông dân trung bình 22,8% (vụ Đông xuân) và 24,6% (vụ mùa); Số lần phun thuốc bảo vệ

Trang 34

thực vật giảm so với tập quán của nông dân 1,5 lần, những vụ sâu bệnh nặng giảm 3 đến 4 lần (Cục BVTV, 2005; 2006) Số bông trên khóm tăng so với tập quán của nông dân bình quân 25% (vụ Đông xuân) và 26,7% (vụ mùa) Số hạt chắc trên m2 tăng 10,8% (vụ Đông xuân) và 12,8% (vụ mùa) Năng suất tăng trung bình 9,7% (vụ đông xuân) và 14,0% (vụ mùa) Tiền lãi thu được của ruộng ứng dụng SRI tăng so với ruộng sản xuất của nông dân trung bình 2.042.000 đồng/ha (vụ Đông xuân) và 2.240.000 đồng/ha (vụ mùa) Giá thành trên kg thóc giảm 342 đồng/kg (vụ đông Xuân) và 520 đồng/kg (vụ mùa) Ứng dụng canh tác lúa cải tiến là giải pháp kỹ thuật để thực hiện nội dung "ba giảm ba tăng" trong sản xuất lúa ở các tỉnh phía Bắc

Kết quả trên cho thấy nếu áp dụng đúng các giải pháp, cách tổ chức thực hiện chương trình canh tác lúa cải tiến thì sẽ có ruộng lúa khoẻ, tiết kiệm lượng phân đạm, sâu bệnh ít, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, hiệu quả kinh tế cao, chất lượng sản phẩm tốt, bảo vệ môi trường và sức khoẻ cộng đồng Như vậy, nếu 100% diện tích gieo cấy của các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng bón tiết kiệm mỗi sào một kg đạm mỗi vụ và giảm một lần phun thuốc mỗi vụ thì trong một năm sẽ tiết kiệm được 140 tỷ đồng không phải mua phân đạm và 120 tỷ đồng không phải mua thuốc bảo vệ thực vật, đó là chưa kể đến bảo vệ được môi trường sinh thái và sức khoẻ cộng đồng (Cục BVTV, 2005; 2007)

Trang 35

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Sâu cuốn lá nhỏ Cnaphalocrocis medinalis Guenee;

- Sâu đục thân 2 chấm Scirpophaga incertulas Walker;

- Rầy nâu Nilaparvata lugens Stal

2.2 Vật liệu nghiên cứu

* Vật liệu: giống lúa Tạp Giao Bác ưu 903 KBL ứng dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI

* Các thuốc bảo vệ thực vật

- Nhóm thuốc trừ rầy: Bassa 50EC (hoạt chất Fenobucarb), Penalty Gold 50EC (hoạt chất chlorpyrifos ethyl + Buprofezin), Acdinosin 500WP (hoạt chất Dinotefuran + Fipronil + Nitenpyram)

- Nhóm thuốc trừ sâu đục thân: Dupont Prevathon 5SC (hoạt chất Chlorantraniliprole), Voliam Targo 063SC (hoạt chất Chlorantraniliprole + Abamectin), Virtako 40WG (hoạt chất Chlorantraniliprole + Thiamethoxam), Tasodant 600EC (hoạt chất Chlopiryfos ethyl)

- Nhóm thuốc trừ sâu ăn lá: Virtako 40WG (hoạt chất Chlorantraniliprole + Thiamethoxam), Clever 150SC (hoạt chất Indoxacarb), Angun 5WDG (hoạt chất Emamectin benzoate)

* Dụng cụ nghiên cứu, hóa chất thí nghiệm: Kính lúp, bút lông, khay, vợt côn trùng (đường kính 30 cm, cán dài 1 m), lọ đựng mẫu, ống nghiệm, giá đựng ống nghiệm, phoóc môn, cồn 70%, dây nilon, cọc tre, bình bơm đeo vai loại 16 lít,

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Đề tài thực hiện tại xã Nam Mỹ huyện Nam Trực tỉnh Nam Định và Chi cục BVTV tỉnh Nam Định từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2014

2.4 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Điều tra thành phần sâu hại lúa và thiên địch của sâu hại chính

trên hệ thống canh tác lúa cải tiến theo SRI vụ mùa năm 2014 tại xã Nam Mỹ huyện Nam Trực tỉnh Nam Định

Trang 36

Nội dung 2: Theo dõi diễn biến mật độ sâu hại chính và thiên địch của sâu

hại chính (nhện lớn bắt mồi, bọ rùa đỏ, bọ xít mù xanh và bọ ba khoang) trên hệ thống canh tác lúa cải tiến theo SRI vụ mùa năm 2014 tại xã Nam Mỹ huyện Nam Trực tỉnh Nam Định

Nội dung 3: Tiến hành khảo sát một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với sâu

cuốn lá nhỏ, sâu đục thân 2 chấm và rầy nâu trên các giống lúa phổ biến tại huyện Nam Trực tỉnh Nam Định

Nội dung 4: Đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa theo hệ thống canh

tác lúa cải tiến tại xã Nam Mỹ huyện Nam Trực tỉnh Nam Định

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu hại lúa và thiên địch

Phương pháp điều tra theo QCVN 01-38/2010/BNNPTNT: Quy chuẩn quốc gia về phương pháp điều tra dịch hại cây trồng của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về phương pháp điều tra phát hiện sinh vật hại lúa được Bộ

Nông nghiệp và PTNT ban hành tại Thông tư số 71/2010/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 12 năm 2010 (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010)

Thời gian điều tra: Điều tra định kỳ 7 ngày/lần trên các ruộng cố định được lựa chọn trong khu vực điều tra

Chọn khu vực điều tra:

- Dựa vào nguyên tắc chọn khu vực điều tra phải là cánh đồng đại diện cho các yếu tố điều tra như: chân đất, địa hình, giống, mùa vụ,

- Khu vực được lựa chọn là cánh đồng Trắng xã Nam Mỹ, Nam Trực, Nam Định Chọn ruộng điều tra: Tiến hành trên các giống được trồng phổ biến trong vụ mùa 2014 như Tạp Giao, BC 15, Bắc Thơm,

Chọn điểm điều tra: Trên mỗi ruộng điều tra 10 điểm phân bố ngẫu nhiên theo đường chéo góc mỗi điểm điều tra 10 khóm lúa Điểm điều tra cách bờ 2m Tiến hành quan sát kỹ các điểm điều tra tìm sâu hại, đếm số lượng từng loài thiên địch tại mỗi điểm điều tra

- Dùng vợt điều tra sinh vật có ích bay nhảy ở tầng lá trên cây trồng, mỗi điểm vợt 10 vợt Đối với côn trùng ký sinh mỗi lần điều tra thu ít nhất 30 sâu non và nhộng về nuôi tiếp loài ký sinh, tỷ lệ ký sinh Toàn bộ mẫu vật thu được cho vào ngâm cồn 30 - 70% và đưa đi giám định

Trang 37

Chỉ tiêu theo dõi: Các loài sâu hại, tỷ lệ các điểm có sâu hại ở các giai đoạn điều tra, các loài thiên địch của sâu hại chính

Tính mức độ phổ biến: Mức độ phổ biến được lượng hoá theo độ thường gặp

Độ thường gặp (%) = Tổng số điểm bắt gặp sâu (thiên địch)

Tổng số điểm điều tra (0): Không xuất hiện;

(-): Xuất hiện lẻ tẻ (độ thường gặp <10% );

Mỗi ruộng điều tra 10 điểm phân bố ngẫu nhiên theo đường chéo góc mỗi điểm điều tra 10 khóm lúa Điểm điều tra cách bờ 2m (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010)

a) Đối với sâu đục thân 2 chấm

Điều tra: phát dục, mật độ Quan sát từ xa đến gần, sau đó đếm trực tiếp số lượng trưởng thành, ổ trứng có trên từng khóm (dảnh) trong điểm điều tra Theo dõi trên cả ruộng lúa ứng dụng SRI và ruộng nông dân Mỗi ruộng điều tra 10 điểm, mỗi điểm điều tra 10 khóm lúa Đếm tổng số dảnh lúa có trong điểm điều tra Đếm toàn bộ dảnh héo (bông bạc) trong điểm điều tra, chẻ từng dảnh bị hại đếm sâu

b) Đối với sâu cuốn lá nhỏ

Điều tra phát dục, mật độ: quan sát từ xa đến gần sau đó đếm trực tiếp số lượng các pha phát dục có trên từng khóm trong điểm điều tra, phân tuổi của pha sâu non Khi mật độ cao, cắt 3 - 5 khóm lúa/yếu tố mang về phòng để làm các chỉ tiêu trên Trong thời gian trưởng thành rộ, dùng thước điều tra để gạt lúa theo băng

có chiều rộng 1m, chiều dài 10m, đếm toàn bộ số trưởng thành có trong băng đó rồi tính ra số tổng trưởng thành/m2

Trang 38

Điều tra đánh giá tỷ lệ hại: Đếm tổng số dảnh lúa có trong điểm điều tra, đếm

số lá của 5 dảnh ngẫu nhiên, tính số lá bình quân/dảnh từ đó tính số lá/m2

c) Đối với rầy nâu

Điều tra rầy non, rầy trưởng thành: dùng khay để điều tra từng khóm, khay có kích thước 20 cm x 20 cm x 5 cm; đáy khay tráng một lớp dầu, đặt khay nghiêng với gốc lúa một góc 45o, đập 2 đập rồi đếm và phân tuổi số rầy vào khay

Điều tra trứng: mỗi yếu tố lấy 3 - 5 khóm lúa ngẫu nhiên đem về trong phòng, tuỳ thuộc vào lượng trứng nhiều hay ít mà mỗi khóm chọn ngẫu nhiên 3 - 5 dảnh lúa, tách toàn bộ bẹ, gân lá của các dảnh tìm trứng rầy Phân loại trứng rầy ký sinh, trứng rầy ung, trứng nở và chưa nở

2.5.3 Các chỉ tiêu theo dõi

+ Tỷ lệ thiên

địch ký sinh (%) =

Tổng số cá thể bị ký sinh ở từng pha

x 100 Tổng số cá thể điều tra ở từng pha

- Hiệu lực trừ sâu cuốn lá nhỏ của mỗi công thức thuốc sau phun 3, 7, 14 ngày

- Tỷ lệ bông bạc, năng suất và hiệu lực của thuốc trừ sâu đục thân 2 chấm hại lúa ở thời điểm 10 ngày trước thu hoạch

- Hiệu lực của thuốc với rầy nâu ở 1, 3, 7 ngày sau xử lý

- Đánh giá năng suất và hiệu quả kinh tế của ruộng lúa ứng dụng SRI và ruộng nông dân

2.5.4 Phương pháp bố trí ruộng canh tác lúa cải tiến SRI và ruộng nông dân

Bố trí ruộng canh tác lúa cải tiến SRI:

Trang 39

Cấy mật độ 30 khóm/m2 (tương đương với khoảng cách 18 x 18 cm) Diện tích ruộng mô hình 2.000 m2, ruộng có lên luống rộng 4m theo chiều dài khu ruộng

để dễ điều tiết nước, làm cỏ và phòng trừ sâu bệnh

Đồng thời chọn 3 ruộng ngẫu nhiên sau cấy của nông dân: Cấy mật độ 40 khóm/m2, làm ruộng vệ tinh theo dõi ghi chép và so sánh tập quán sản xuất của các ruộng vệ tinh với ruộng canh tác lúa cải tiến theo SRI

Các biện pháp kỹ thuật được áp dụng trong ruộng canh tác lúa cải tiến (SRI) bao gồm:

a) Kỹ thuật làm mạ, tuổi mạ khi cấy

Gieo mạ trên nền đất cứng, gieo 0,5 kg hạt giống/10m2 đất Ngâm hạt giống sạch vào nước trong thời gian 24 giờ và tiếp tục ủ trong 24 giờ Dùng bùn trộn đều với 10 kg phân chuồng hoai mục, san đều trên mặt đất tạo thành luống với độ dầy 3

cm, sau đó gieo hạt giống đã nảy mầm đều tay Sau khi gieo 24 giờ dùng nước bùn pha loãng tưới đều trên mặt luống, sau đó mặt luống mạ được duy trì đủ bằng cách dùng bình tưới nước đều lên mặt luống Khi cây mạ được 2,5 lá dùng xẻng xúc nhẹ đem đi cấy ngay trong ngày

b) Kỹ thuật làm đất

Đất ruộng cấy được làm kỹ, nhuyễn, cày và bừa hai lần, san phẳng mặt ruộng trước khi cấy Trước khi cấy tiến hành bón lót toàn bộ phân NPK và cào lại lần cuối vùi các loại phân vào tầng canh tác, điều này giúp cây mạ không bị ngộ độc cục bộ, đồng thời san phẳng mặt ruộng trước khi cấy Mức nước trong ruộng trước khi cấy khoảng 3 cm

c) Kỹ thuật, mật độ cấy và khoảng cách cấy

Cấy 1 dảnh/khóm Dùng tay bẻ từng dảnh mạ đặt nhẹ nhàng lên mặt ruộng theo khoảng cách đã xác định

Mật độ cấy: 30 khóm/m2 (18 cm x 18 cm) Khoảng cách khóm này đến khóm kia theo lưới ô vuông (ô vuông mắt sàng)

d) Kỹ thuật sử dụng phân bón: Loại phân, loại phân, cách bón phân (theo quy

trình bón phân)

e) Kỹ thuật quản lý nước (tưới khô ướt xen kẽ)

Đây là vùng ruộng chủ động nước tưới, tiêu:

Trang 40

Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng: Sau khi bón thúc lần một 7 ngày, rút cạn nước trong ruộng trong thời gian 7 ngày, sau đó cho nước vào ruộng với mức nước

3 cm khoảng 7 ngày Cứ như vậy, trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng sẽ rút nước làm khô ruộng 2 lần

Giai đoạn sinh trưởng sinh thực (40 ngày sau cấy - giai đoạn tượng khối sơ khởi) cho nước vào ruộng, giữ mức nước 3 cm đến trước khi gặt 15 ngày rút nước cạn phơi ruộng đến khi gặt

f) Kỹ thuật quản lý sâu bệnh và phòng trừ cỏ dại

Chỉ phun thuốc trừ sâu khi mật độ sâu cao đến mức có khả năng gây tổn hại đến năng suất lúa:

Sâu cuốn lá nhỏ: Giai đoạn đẻ nhánh > 50 con/m2 Giai đoạn đòng - trỗ >20 con/m2 Sâu đục thân: >0,2 ổ trứng/m2 Rầy nâu, rầy lưng trắng > 2000 con/m2

Phòng trừ cỏ dại: Toàn bộ khu ruộng lúa ứng dụng SRI làm cỏ bằng tay

Bảng 2.1 Mật độ cấy, lượng phân bón, số lần sử dụng thuốc BVTV

Chỉ tiêu theo dõi Ruộng ứng dụng SRI Ruộng nông dân

25 kg NPK 5:10:3 (Bón lót nổi sau khi bừa lần cuối và trước khi cấy)

kg kali 12 NSC: 6 kg đạm + Thúc 2: Đứng cái: 2 kg kali Đứng cái – Đòng: 2 kg

đạm + 3 kg kali

Ghi chú: NSC - ngày sau cấy

Ngày đăng: 21/09/2015, 20:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ thí nghiệm: - thành phần sâu hại lúa, diễn biến mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến sri vụ mùa năm 2014 tại huyện nam trực, tỉnh nam định
Sơ đồ th í nghiệm: (Trang 42)
Sơ đồ thí nghiệm: - thành phần sâu hại lúa, diễn biến mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến sri vụ mùa năm 2014 tại huyện nam trực, tỉnh nam định
Sơ đồ th í nghiệm: (Trang 44)
Sơ đồ thí nghiệm: - thành phần sâu hại lúa, diễn biến mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến sri vụ mùa năm 2014 tại huyện nam trực, tỉnh nam định
Sơ đồ th í nghiệm: (Trang 46)
Bảng 3.1. Ứng dụng từng phần hệ thống SRI ở vụ mùa 2014 tại huyện Nam Trực, - thành phần sâu hại lúa, diễn biến mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến sri vụ mùa năm 2014 tại huyện nam trực, tỉnh nam định
Bảng 3.1. Ứng dụng từng phần hệ thống SRI ở vụ mùa 2014 tại huyện Nam Trực, (Trang 49)
Bảng 3.2. Thành phần sâu hại lúa vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam Trực, Nam Định - thành phần sâu hại lúa, diễn biến mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến sri vụ mùa năm 2014 tại huyện nam trực, tỉnh nam định
Bảng 3.2. Thành phần sâu hại lúa vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam Trực, Nam Định (Trang 51)
Hình 3.1. Ổ sâu non mới nở sâu đục - thành phần sâu hại lúa, diễn biến mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến sri vụ mùa năm 2014 tại huyện nam trực, tỉnh nam định
Hình 3.1. Ổ sâu non mới nở sâu đục (Trang 52)
Bảng 3.3. Thành phần thiên địch của sâu hại lúa vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam Trực, Nam Định - thành phần sâu hại lúa, diễn biến mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến sri vụ mùa năm 2014 tại huyện nam trực, tỉnh nam định
Bảng 3.3. Thành phần thiên địch của sâu hại lúa vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam Trực, Nam Định (Trang 55)
Hình 3.8. Chuồn chuồn kim xanh  (Agriocnemis femina Brauer) - thành phần sâu hại lúa, diễn biến mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến sri vụ mùa năm 2014 tại huyện nam trực, tỉnh nam định
Hình 3.8. Chuồn chuồn kim xanh (Agriocnemis femina Brauer) (Trang 56)
Bảng 3.4. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ  C. medinalis  trên ruộng lúa ứng dụng - thành phần sâu hại lúa, diễn biến mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến sri vụ mùa năm 2014 tại huyện nam trực, tỉnh nam định
Bảng 3.4. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ C. medinalis trên ruộng lúa ứng dụng (Trang 58)
Bảng 3.10. Năng suất lúa thí nghiệm 4 loại thuốc hoá học phòng trừ sâu đục thân - thành phần sâu hại lúa, diễn biến mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến sri vụ mùa năm 2014 tại huyện nam trực, tỉnh nam định
Bảng 3.10. Năng suất lúa thí nghiệm 4 loại thuốc hoá học phòng trừ sâu đục thân (Trang 69)
Bảng 3.13. Hạch toán hiệu quả kinh tế trên ruộng lúa ứng dụng SRI và ruộng - thành phần sâu hại lúa, diễn biến mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến sri vụ mùa năm 2014 tại huyện nam trực, tỉnh nam định
Bảng 3.13. Hạch toán hiệu quả kinh tế trên ruộng lúa ứng dụng SRI và ruộng (Trang 72)
Hình 1: Cấy ruộng SRI ngày 15/7/2014 - thành phần sâu hại lúa, diễn biến mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến sri vụ mùa năm 2014 tại huyện nam trực, tỉnh nam định
Hình 1 Cấy ruộng SRI ngày 15/7/2014 (Trang 81)
Hình 7. Ruộng thí nghiệm phòng trừ  rầy nâu (Nam Trực, Nam Định, - thành phần sâu hại lúa, diễn biến mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến sri vụ mùa năm 2014 tại huyện nam trực, tỉnh nam định
Hình 7. Ruộng thí nghiệm phòng trừ rầy nâu (Nam Trực, Nam Định, (Trang 82)
Hình 11. Ô thuốc thí nghiệm ruộng  phòng trừ sâu đục thân 2 chấm (Nam - thành phần sâu hại lúa, diễn biến mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến sri vụ mùa năm 2014 tại huyện nam trực, tỉnh nam định
Hình 11. Ô thuốc thí nghiệm ruộng phòng trừ sâu đục thân 2 chấm (Nam (Trang 83)
Hình 10. Ô thuốc thí nghiệm ruộng - thành phần sâu hại lúa, diễn biến mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến sri vụ mùa năm 2014 tại huyện nam trực, tỉnh nam định
Hình 10. Ô thuốc thí nghiệm ruộng (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w