1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân hai phường trường lạc và phước thới, quận ô môn, thành phố cần thơ

71 389 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại TP Cần Thơ hàng năm, từ cuối tháng 7 đến hết tháng 8, mực nước trên kênh rạch trong vùng tăng nhanh do lũ từ vùng TGLX đổ về qua QL 80 và từ sông Hậu chảy vào qua QL 91, cộng với mưa

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG NGẬP LŨ

VÀ PHƯƠNG CÁCH ỨNG PHÓ VỚI LŨ ĐỂ BẢO VỆ SINH

KẾ CỦA NGƯỜI DÂN HAI PHƯỜNG TRƯỜNG LẠC VÀ PHƯỚC THỚI, QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Sinh viên thực hiện TRẦN HOÀNG PHÚC 3103846

Cán bộ hướng dẫn ThS LÊ VĂN DŨ

Cần Thơ, 11/201

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG NGẬP LŨ

VÀ PHƯƠNG CÁCH ỨNG PHÓ VỚI LŨ ĐỂ BẢO VỆ SINH

KẾ CỦA NGƯỜI DÂN HAI PHƯỜNG TRƯỜNG LẠC VÀ PHƯỚC THỚI, QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Sinh viên thực hiện TRẦN HOÀNG PHÚC 3103846

Cán bộ hướng dẫn ThS LÊ VĂN DŨ

Cần Thơ, 11/201 3

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Nhờ sự tận tình và giúp đỡ của thầy cô và các bạn, đề tài tốt nghiệp của tôi

đã hoàn thành Có được kết quả này tôi xin gửi lời cám ơn đến:

Cha mẹ tôi, những người đã lo lắng và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và luôn ủng hộ tôi về tinh thần và vật chất

Thầy Lê Văn Dũ, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Thầy cô Bộ môn Quản Lý Môi Trường và Tài Nguyên Thiên Nhiên trường Đại học Cần Thơ đã cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường

Cô chú, Anh chị phường Trường Lạc và Phước Thới, quận Ô Môn, TPCT đã cung cấp cho tôi những số liệu thực tế

Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các bạn sinh viên lớp Quản lý môi trường, khóa 36 đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC HÌNH v

DANH MỤC KÝ HIỆU vi

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.2.3 Nội dung nghiên cứu 3

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 4

2.1 ĐỊNH NGHĨA CÁC THUẬT NGỮ 4

2.2 TỔNG QUAN VỀ LŨ LỤT TẠI VIỆT NAM 5

2.2.1 Đặc điểm lũ tại các vùng ở Việt Nam 5

2.2.2 Khái quát về 1 số trận lũ lụt điển hình và phân vùng ngập lụt ở ĐBSCL 6

2.3 TÌNH HÌNH THỜI TIẾT, THỦY VĂN VIỆT NAM 18

2.4 TÌNH HÌNH CHUNG VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 21

2.4.1 Khái quát về BĐKH 21

2.4.2 Tình hình BĐKH ở Việt Nam 24

2.5 MÔ TẢ VÙNG NGHIÊN CỨU 25

2.5.1 Đặc điểm tự nhiên của Thành phố Cần Thơ 25

2.5.2 Tóm tắt đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội quận Ô Môn 28

2.5.3 Giới thiệu mô hình ủ phân Compost ngầm 31

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 33

3.1.1 Thời gian 33

3.1.2 Địa điểm 33

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

Trang 5

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 33

3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 34

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 ĐẶC ĐIỂM NÔNG HỘ ĐƯỢC PHỎNG VẤN 35

4.1.1 Thông tin hộ gia đình được khảo sát ở hai phường 35

4.1.2 Thông tin về trình độ học vấn 36

4.1.3 Thông tin về vị trí nhà ở 37

4.1.4 Thông tin về xếp loại hộ gia đình 38

4.1.5 Thông tin về nguồn thu nhập gia đình 39

4.1.6 Tình trạng đất đai 39

4.2 ĐẶC ĐIỂM CANH TÁC NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN KHẢO SÁT 41 4.3 CÁC YÊU TỐ RỦI RO, THIÊN TAI VÀ CÁC BIỆN PHÁP ỨNG PHÓ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG VÙNG KHẢO SÁT 42

4.3.1 Các yếu tố rủi ro, thiên tai và thời tiết bất thường 42

4.3.2 Xu hướng thay đổi bất thường thời tiết so với 5 – 10 năm về trước 44

4.3.3 Thời gian bắt đầu xuất hiện lũ và khoảng thời gian lũ kéo dài trong năm trong khoảng 5 năm gần đây 44

4.3.4 Mức nước ngập phổ biến trên cơ sở hạ tầng nông thôn và đất canh tác trong vùng khảo sát 45

4.3.5 Các hoạt động sinh kế trong thời gian ngập lũ trong vùng khảo sát 46

4.3.6 Các thiệt hại do lũ gây ra cho các loại vật nuôi hay cây trồng trong vùng khảo sát 46

4.3.7 Các biện pháp làm giảm thiệt hại do lũ gây ra đối với các loại vật nuôi hay cây trồng trong vùng khảo sát 47

4.4 KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI NHỮNG BẤT THƯỜNG VỀ THỜI TIẾT CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG KHẢO SÁT 48

4.4.1 Tình hình hiểu biết và các phương thức tiếp cận với BĐKH 48

4.4.2 Xu hướng thay đổi lịch canh tác nông nghiệp 49

4.5 CÁC ĐỀ XUẤT CỦA NGƯỜI DÂN ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BĐKH 49

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

Trang 6

5.2 Kiến nghị 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO 52 PHỤ LỤC 53

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ vị trí thành phố Cần Thơ trong vùng Đồng bằng Sông Cửu Long 26

Hình 2.2 Bản đồ vị trí quận Ô Môn, TP Cần Thơ 29

Hình 2.3 Bản đồ vị trí phường Trường Lạc, quận Ô Môn, TP Cần Thơ 30

Hình 2.4 Bản đồ vị trí phường Phước Thới, quận Ô Môn, TP Cần Thơ 31

Hình 4.1 Tỷ lệ phần trăm về giới tính của chủ hộ được khảo sát 35

Hình 4.2 Tỷ lệ phần trăm trình độ học vấn của chủ hộ tại vùng khảo sát 36

Hình 4.3 Tỷ lệ phần trăm trình độ học vấn của vợ/chồng chủ hộ tại vùng khảo sát 36

Hình 4.4 Tỷ lệ phân bố nhà và đất canh tác của các hộ dân trong vùng khảo sát 37

Hình 4.5 Tỷ lệ xếp loại thu nhập hộ các hộ dân được phỏng vấn trong vùng khảo sát 38

Hình 4.6 Tỷ lệ về các nguồn thu nhập chính của các hộ dân trong vùng khảo sát 39

Hình 4.7 Tỷ lệ về sở hữu đất canh tác riêng của các hộ dân trong vùng khảo sát 40

Hình 4.8 Biểu đồ thể hiện diện tích các loại đất của người dân trong vùng khảo sát 41

Hình 4.9 Tỷ lệ đánh giá về yếu tố nhiệt độ của các hộ dân được phỏng vấn (n=80) 42

Hình 4.10 Tỷ lệ đánh giá về yếu tố khô hạn của các hộ dân được phỏng vấn (n=67) 42

Hình 4.11 Tỷ lệ đánh giá về yếu tố lũ lụt của các hộ dân được phỏng vấn (n=59) 43

Hình 4.12 Tỷ lệ đánh giá về yếu tố triều cường của các hộ dân được phỏng vấn (n=44) 43

Hình 4.13 Tỷ lệ đánh giá về xu hướng thay đổi yếu tố nhiệt độ cao so với 5 – 10 năm về trước của các hộ dân được phỏng vấn (n=80) 44

Hình 4.14 Tỷ lệ đánh giá về xu hướng thay đổi yếu khô hạn so với 5 – 10 năm về trước của các hộ dân được phỏng vấn (n=74) 44

Hình 4.15 Tỷ lệ đánh giá về xu hướng thay đổi yếu tố lũ lụt so với 5 – 10 năm về trước của các hộ dân được phỏng vấn (n=58) 44

Hình 4.16 Tỷ lệ đánh giá về xu hướng thay đổi yếu tố triều cường so với 5 – 10 năm về trước của các hộ dân được phỏng vấn (n=49) 44

Hình 4.17 Biểu đồ thể hiện mức ngập trên cơ sở hạ tầng nông thôn và đất canh tác trong vùng khảo sát 45

Hình 4.18 Giải pháp giảm thiểu thiệt hại do lũ gây ra đối với các loại vật nuôi hay cây trồng trong vùng khảo sát 47

Hình 4.19 Tỷ lệ phần trăm các hộ dân tham các khóa huấn luyện về phòng chống thiên tai 48

Hình 4.20 Tỷ lệ phần trăm các hộ dân có biết hoặc không các thông tin về thiên tai và BĐKH 48

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU

BĐKH: Biến đổi khí hậu

ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long

TBNN: Trung bình nhiều năm

TGLX: Tứ Giác Long Xuyên

TPCT: Thành phố Cần Thơ

Trang 9

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây đã có những trận lũ lụt lớn chưa từng thấy xảy ra tại vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Đặc biệt là cơn lũ lụt từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2000 được gọi cơn lũ thế kỷ Cơn lũ này đã làm gần 1.000 người thiệt mạng và tổn thất về tài sản và mùa màng được ước lượng đến 500 triệu USD Hiện nay mực nước sông Cửu Long đang ở trong tình trạng báo động Lũ lụt là một hiện tượng thiên nhiên xảy ra hàng năm tại vùng ĐBSCL Các cơn lũ bắt đầu khi nước sông Cửu Long dâng cao làm ngập vùng Savannakhet và Pakse ở miền Nam Lào rồi đến vùng Kratie ở miền Đông Campuchia Nước lũ từ thượng lưu theo sông Tiền và sông Hậu chảy vào nước ta rồi thoát ra biển Đông Mùa lũ thường kéo dài từ cuối tháng 6 cho đến cuối tháng 12 và được chia ra ba giai đoạn Trong giai đoạn 1, từ tháng 7 đến tháng 8, nước lũ chảy vào các kinh và các mương rạch thiên nhiên vùng Đồng tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên Cao điểm lũ lụt xảy ra trong giai đoạn 2 khi mực nước sông Tiền ở Tân Châu cao hơn 4,2 m, và mực nước sông Hậu ở Châu Đốc cao hơn 3,5 m Đây là những tiêu chuẩn của Ủy ban Quốc tế Sông Mekong (Mekong River Commission) dùng để định nghĩa mỗi khi ĐBSCL bị lụt Giai đoạn

3 bắt đầu từ tháng 10 khi mực nước hạ thấp dần cho đến cuối tháng 12

Như trên đã trình bày lũ lụt ở ĐBSCL bắt đầu do nước lũ ở thượng lưu sông Cửu Long Nước lũ vùng thượng lưu do đâu mà có? Hàng năm những trận bão biển

và gió mùa Tây Nam đã gây nên những trận mưa lớn làm mực nước sông Cửu Long dâng cao Đặc biệt vào năm 2000, gió mùa bắt đầu sớm hơn đến 6 - 8 tuần Những trận mưa lớn vào tháng 7 ở phía Bắc Lào và vùng Tây Nam Trung Hoa đã nâng cao mực nước sông Cửu Long ở Vạn Tượng Mực nước cứ dâng cao trong vòng hai tháng tới Đến cuối tháng 8, sông chính và các sông phụ ở Nam Lào đả tràn bờ Cọng thêm những cơn bão biển Đông đã liên tiếp mang đến những trận mưa lớn ở miền Trung nuớc ta, những tỉnh thành miền Đông nước Campuchia, và vùng ĐBSCL Đến đầu tháng 10 đã có một vùng biển nội địa sâu đến 2 m, phá hoại các

đê đập và cô lập hoá nhiều làng mạc ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp và Tiền Giang Cơn lũ năm 2000 đã gây nên những tổn thất nặng nề nhất từ trước đến nay ở miền Nam Trong số gần 1000 người bị thiệt mạng, 80% là trẻ em, và hơn 500.000 gia đình đã phải xin cứu trợ

Từ giữa thập niên 1980, các kênh hiện có đã được nới rộng Một số lớn kinh chính và một mạng lưới kinh phụ đã được đào xuyên qua vùng Đồng Tháp Mười,

Tứ Giác Long Xuyên và các vùng khác trên khắp ĐBSCL với mục đích chính là thủy nông Hệ thống kinh này đã trở thành những lòng lạch thuận lợi cho nước lũ từ Kampuchea chảy vào Việt Nam sớm hơn, nhiều hơn và nhanh hơn Đồng thời, một

hệ thống đê đập ngăn mặn đã được xây dựng ở cuối đường thoát lũ ở hạ lưu cùng

Trang 10

với một hệ thống đường giao thông được nâng cao Vì không đủ khả năng thoát lũ,

hệ thống đê đập ngăn mặn và đường giao thông này đã làm cản trở nước lũ trong vùng ĐBSCL thoát ra biển Đông và vịnh Thái Lan Hậu quả là mực nước ngập

trong vùng ĐBSCL ngày càng sâu hơn và thời gian ngập ngày càng dài hơn (Trần

Tiễn Khanh (8/2001), Nguyên nhân lũ lụt lớn tại ĐBSCL)

Như đã trình bày, lũ lụt là 1 trong những thiên tai mang tính chu kỳ, gây thiệt hại lớn về người và của cải của người dân cư vùng ĐBSCL nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng Hằng năm mỗi khi lũ về là những người dân vùng ngập lũ lại khổ sở tìm cách chống chọi, có người đánh bắt cá tự nhiên, người thì trồng rau đỡ trên khu đất chưa ngập, người thì không làm gì,… Ngày nay cộng thêm vấn đề BĐKH, mưa bão thất thường thì lũ ngày càng bất thường hơn về cường độ lẫn thời gian

Tại TP Cần Thơ hàng năm, từ cuối tháng 7 đến hết tháng 8, mực nước trên kênh rạch trong vùng tăng nhanh do lũ từ vùng TGLX đổ về qua QL 80 và từ sông Hậu chảy vào qua QL 91, cộng với mưa nội đồng lớn, gây ngập úng trên diện rộng Đỉnh lũ thường xuất hiện cuối tháng 9 đến hết tháng 10, với thời gian ngập giảm dần theo hướng từ bắc xuống nam Có khoảng 88,7% diện tích nằm trong vùng ngập nông và kiểm soát lũ chủ động quanh năm, chỉ có 11,3% diện tích ngập lũ sâu

và nằm trong vùng kiểm soát lũ tháng 8 Lũ có tác dụng cung cấp phù sa, tiêu độc cho môi trường, nhưng lũ cũng gây tốn kém cho xây dựng các khu dân cư, khu công nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng Các trận lũ lớn và nhất là lũ lịch sử (năm 2000) ảnh hưởng khá nặng đến sản xuất lúa thu đông, các vườn cây ăn quả và nuôi trồng

thủy sản (Trần Tiễn Khanh (8/2001), Nguyên nhân lũ lụt lớn tại ĐBSCL)

Nền kinh tế chủ yếu của TP Cần Thơ là dựa vào nông nghiệp đặc biệt là các vùng ven như Ô Môn, Vĩnh Thạnh,… mà lũ lụt cùng với tác động của BĐKH đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến việc sản xuất nông nghiệp đặc biệt là việc ngập lũ Vì thế vấn đề đặt ra là cần có nghiên cứu về tình trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế nhằm giúp người dân cải thiện những phương pháp hiện tại

và ứng dụng được những phương pháp mới khoa học hơn, hiệu quả hơn

Từ những yêu cầu thực tế và tình hình thực tiễn thì đề tài “Khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân ở 2 phường Trường Lạc và Phước Thới Quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ” được tiến hành thực hiện

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người ở hai phường Trường Lạc và Phước Thới quận Ô Môn TP Cần Thơ

Trang 11

 Đề xuất các biện pháp cải thiện sinh kế cho người dân

1.2.3 Nội dung nghiên cứu

 Điều tra, phỏng vấn cán bộ địa phương và người dân vùng nghiên cứu về tình hình ngập lũ và các phương cách ứng phó lũ

 Nghiên cứu cải thiện, duy trì các phương thức thích ứng với lũ sẵn có tại địa phương và giới thiệu mới mô hình ủ phân compost ngầm nhằm thích ứng với lũ cũng như các yếu tố BĐKH khác

Trang 12

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 ĐỊNH NGHĨA CÁC THUẬT NGỮ

-Lũ: là hiện tượng nước sông dâng cao trong một khoảng thời gian nhất

định, sau đó giảm dần

- Lụt: là hiện tượng ngập nước của một vùng lãnh thổ do lũ gây ra Lụt có

thể do lũ lớn, nước lũ tràn qua bờ sông (đê) hoặc làm vỡ các công trình ngăn lũ vào các vùng trũng; có thể do nước biển dâng khi gió bão làm tràn ngập nước vùng ven

biển

- Biến đổi khí hậu: là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình

và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất

- Thích nghi với biến đổi khí hậu: là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc

con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH và tận dụng các cơ hội do nó mang lại

-Thời tiết: là trạng thái khí quyển tại một địa điểm nhất định được xác định

bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa,…

- Thời tiết cực đoan: là sự gia tăng cường độ của các yếu tố thời tiết như sự

thay đổi của cực nhiệt độ (những đợt nóng với nhiệt độ cao xảy ra thường xuyên hơn, rét đậm hơn, bão nhiệt đới mạnh hơn, mưa lớn tập trung hơn nhưng nắng hạn cũng gay gắt hơn,…) Thời tiết cực đoan còn bao gồm cả hiện tượng các yếu tố thời tiết diễn ra trái quy luật thông thường

- Khí hậu: thường được định nghĩa là trung bình theo thời gian của thời tiết

(thường là 30 năm, WMO)

- Thiên tai: có nghĩa là các hiện tượng thiên nhiên gây ra sự tổn hại về người

và vật chất, hệ sinh thái và động vật như bão, lũ lụt, hạn hán, núi lửa phun trào, sóng thần, vòi rồng (lốc xoáy), núi lỡ, sạt lỡ đất Thiên tai là hiện tượng tự nhiên nhưng

có mối quan hệ nhất định với BĐKH và các hiện tượng thời tiết cực đoan

- Nông nghiệp: là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất

đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm

cả lâm nghiệp, thuỷ sản (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, 2011)

Trang 13

- Phương thức canh tác nông nghiệp: là các hình thức sản xuất của con

người, sử dụng các tư liệu sản xuất phục vụ cho nông nghiệp nhằm tạo ra năng suất

Có rất nhiều phương thức canh tác nông nghiệp: du canh, nông lâm kết hợp (canh tác đồi núi), thâm canh,…

2.2 TỔNG QUAN VỀ LŨ LỤT TẠI VIỆT NAM

2.2.1 Đặc điểm lũ tại các vùng ở Việt Nam

2.2.1.1 Vùng đồng bằng bắc bộ và bắc trung bộ

Sông Hồng và sông Thái Bình có diện tích lưu vực 164.300 km2 trong đó phần lưu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam là 87.400 km2 bao gồm 23 tỉnh, thành phố, chiếm 75,7% diện tích tự nhiên của toàn Bắc bộ

Mùa lũ trên hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình thường xuất hiện sớm so với các vùng khác, từ tháng 5 đến tháng 9 Trung bình mỗi năm có từ 3 đến 5 trận lũ xuất hiện trên lưu vực này Tùy theo quy mô của trận lũ mà có thời gian kéo dài từ 8

- 15 ngày Những trận lũ lớn trên sông Hồng do 3 sông là sông Đà, sông Thao, sông

Lô tạo thành Trong đó sông Đà có vai trò quyết định và thường chiếm tỷ lệ 37% - 69% lượng lũ ở Sơn Tây (bình quân 49,2%), sông Lô có tỷ lệ lượng lũ 17 - 41,5% (bình quân là 28%), sông Thao chiếm tỷ lệ ít nhất 13% - 30% (trung bình 19%) Lũ sông Thái Bình do 3 sông Cầu, Thương, Lục Nam và một phần nước từ sông Hồng qua sông Đuống Biên độ mực nước lũ trên hệ thống sông Hồng dao động mạnh, tại

Hà Nội dao động ở mức trên 10 m Dao động mực nước trên sông Thái Bình tại Phả Lại ở mức trên 6 m

2.2.1.2 Vùng đồng bằng duyên hải miền Trung và miên Đông Nam Bộ

Các sông từ Quảng Bình đến Bình Thuận, mùa lũ xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 12 Đây là khu vực có hệ thống sông ngắn, dốc, lũ lên nhanh, xuống nhanh Các sông ở khu vực này có hệ thống đê ngăn lũ thấp hoặc chưa có đê Nước lũ không chỉ chảy trong dòng chính mà còn chảy tràn qua đồng bằng, biên độ dao động lớn

2.2.1.3 Vùng miền núi và Tây Nguyên

Lũ quét, lũ bùn đá thường xảy ra ở vùng đồi núi, nơi có độ dốc lớn, cường độ mưa lớn mà đường thoát nước bất lợi Lũ quét cũng có thể xảy ra do vỡ hồ chứa nhỏ, sạt lở đất lấp dòng chảy, Lũ quét đã xảy ra và có nguy cơ xảy ra hầu khắp tại

33 tỉnh miền núi trong cả nước thuộc 4 vùng: vùng núi phía Bắc, Trung bộ, Tây Nguyên và Đông Nam bộ Do sự biến đổi của khí hậu trong những năm gần đây, lũ quét xuất hiện ngày càng nhiều ở nước ta, bình quân có từ 2 đến 4 trận lũ quét xảy

ra trong mùa lũ hàng năm Có những nơi lũ quét xảy ra nhiều lần ở cùng một địa điểm Lũ quét thường phát sinh bất ngờ, xảy ra trong phạm vi hẹp nhưng rất khốc

Trang 14

liệt và thường gây những tổn thất nghiêm trọng về người và của Các trận lũ quét điển hình như: trận lũ quét ngày 27/7/1991 tại thị xã Sơn La; trận năm 1994 tại Mường Lay, Lai Châu; trận lũ quét tại Hà Tĩnh ngày 20/9/2002; trận lũ quét năm

2005 tại Yên Bái, Lũ quét hiện chưa dự báo được nhưng có thể chủ động phòng tránh bằng cách khoanh vùng nhưng nơi có nguy cơ xảy ra lũ quét, xây dựng hệ thống cảnh báo

Khu vực Tây nguyên: Khu vực này không có các hệ thống sông lớn, lượng

mưa trung bình năm nhỏ, phạm vi ảnh hưởng hẹp, thường mang đặc điểm lũ núi, lũ quét, biên độ lũ tại cầu ĐakBla trên sông ĐakBla ở mức 10 m

2.2.1.4 Vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Lũ chủ yếu từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về và chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều kết hợp với khả năng điều tiết của Biển Hồ Lũ diễn biến chậm, kéo dài trong suốt khoảng thời gian từ 4 đến 5 tháng trong năm, làm ngập hầu hết toàn

bộ vùng Đồng bằng sông Cửu Long

2.2.2 Khái quát về 1 số trận lũ lụt điển hình và phân vùng ngập lụt ở ĐBSCL

Diễn biến lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long có thể được hình dung và được nhận diện thông qua một số trận lũ lớn điển hình trong gần 45 năm qua Bức tranh ngập lụt toàn vùng lũ cho một cách nhìn khái quát để từ đó phân vùng ngập lụt phục

vụ kế hoạch kiểm soát lũ

Diễn biến lũ lụt ở ĐBSCL có thể được hình dung ra và được nhận diện thông qua một số trận lũ lụt lớn điển hình Thông thường, khoảng 4 - 6 năm tại ĐBSCL có một trận lũ lụt lớn Trong gần 45 năm qua, thì các năm 1961, 1978, 1984, 1991,

1994, 1996, 2000, 2001 và 2002 là những năm lũ lụt lớn

2.2.2.1 Một số trận lũ điển hình tại ĐBSCL

Trận lũ năm 1961: có đỉnh cao nhất trong vòng gần 45 năm qua, hình thành

do mưa của 5 cơn bão đổ bộ vào Việt Nam, đặc biệt là 2 cơn bão số 8 và số 10, gây

ra mưa lớn ở hạ Lào và Campuchia Lượng mưa tháng 8 và 9 nhiều nơi đạt từ 500 -

700 mm/tháng Tại Kratie, lưu lượng đỉnh lũ là 62.400 m3/s và tại PhnômPênh khoảng 43.400 m3/s Tổng lưu lượng lũ trung bình tháng 10 trên sông Tiền tại Mỹ Thuận và sông Hậu tại Vàm Cống là 42.200 m3/s Tại Tân Châu, Châu Đốc, lũ có dạng một đỉnh, xuất hiện hơi muộn hơn trung bình Đường quá trình lũ lên xuống nhịp nhàng, trơn đều Từ đầu tháng 7 đến giữa tháng 8, mực nước chỉ dao động ở mức từ 2,5 – 3,0 m tại Tân Châu và 2,0 m ở Châu Đốc Cuối tháng 8, mực nước lũ lên nhanh, cường suất 7 - 10 cm/ngày liên tục trong gần 10 ngày Sau đó, dao động

ở mức 4,5 m trong 10 ngày rồi lên chậm trở lại trong gần 1 tháng để đạt đến đỉnh cao nhất Đỉnh lũ tại Tân Châu là 5 -12 m vào ngày 10/10, tại Châu Đốc là 4,9 m

Trang 15

vào ngày 13/10, xuất hiện cùng kỳ đỉnh triều tháng 10 Thời gian duy trì mực nước trên 4,5 m là 53 ngày Lũ rút muộn hơn trung bình 10 - 15 ngày

Trận lũ năm 1966: có đỉnh lũ tại Tân Châu cao thứ 2 trong vòng 45 năm

qua Lũ do mưa hai trận bão đổ bộ vào Việt Nam gây ra Lượng mưa tại một số trạm thượng lưu trong các tháng 7, 8 là từ 500 - 800 mm Tổng lượng lũ tại Kratie thấp hơn lũ 1961, lưu lượng đỉnh lũ là 58.600 m3/s Tháng 6 (thay vì chỉ đến tháng 4 hoặc 5 như hàng năm), Biển Hồ vẫn còn bổ sung nước cho sông chính để chuyển về ĐBSCL Tổng lượng nước từ Biển Hồ chảy ra trong mùa lũ 1966 lớn hơn so với mùa lũ 1961 Vào ĐBSCL, lũ 1966 có dạng một đỉnh trơn đều, lên đều từ giữa tháng 7 với cường suất trung bình 4 cm/ngày để đạt đỉnh là 5 - 11 m tại Tân Châu vào ngày 27/9 và 4,85 m tại Châu Đốc vào ngày 28/9, sớm hơn lũ 1961 nửa tháng Phần đỉnh lũ năm 1966 khá nhọn, thời gian duy trì trên 4,5 m ngắn, chỉ 38 ngày

Trận lũ năm 1978: là một trong những trận lũ lớn cả về lưu lượng, tổng

lượng và diễn biến bất thường Năm 1978, có 3 cơn bão, trong đó có 2 cơn liên tiếp vào miền Trung (số 8, ngày 20/9 và số 9, ngày 26/9), gây mưa lớn ở trung hạ Lào

và Đông - Bắc Thái Lan trong 3 tháng 7, 8 và 9 Lượng mưa tháng thường 400 -800

mm, thậm chí trên 900 mm (tháng 8, tại Pakse) Tại Pakse, lưu lượng đỉnh lũ là 56.000 m3/s (lớn nhất), vượt các trận lũ lớn khác khoảng 10.000 m3/s (trên 12%) Đỉnh lũ tại Kratie được ước tính là 68.000 – 70.000 m3/s, cũng vượt xa các trận lũ lớn khác Tại thượng lưu, lũ 1978 có hai đỉnh, xuất hiện cách nhau hơn 1 tháng và đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước rất nhiều Về đồng bằng, sau khi qua Biển Hồ, lũ vẫn

có dạng hai đỉnh Đầu tháng 8, khi mực nước ở Tân Châu trên 3 m và Châu Đốc trên 2 m đã lên nhanh do lũ thượng nguồn và đạt đỉnh thứ nhất là 4,46 m tại Tân Châu ngày 30/8 và 4,15 m tại Châu Đốc ngày 5/9 Lũ lên nhanh, có những ngày đạt

13 cm tại Tân Châu và 14 cm tại Châu Đốc Sau đỉnh lũ thứ nhất, lũ rút chậm khoảng 2 tuần và lên lại để đạt đỉnh thứ hai vào ngày 9/10 là 4,78 m tại Tân Châu

và 4,46 m tại Châu Đốc Cuối tháng 10, lũ đã xuống đến mức an toàn, không khác

so với hàng năm Lũ đến sớm, đỉnh lũ cao ngay cuối tháng 8 đã gây thiệt hại lớn Thời gian duy trì mực nước từ 4,33 m trở lên là 60 ngày Đỉnh lũ vào tháng 10 trùng

kỳ triều cường và mưa lớn nội đồng nên ngập lụt lớn

Trận lũ năm 1984: Mưa lớn do hai đợt gió mùa Tây - Nam liên tiếp nhau

trong cuối tháng 8 đầu tháng 9 đã gây lũ lớn ở thượng trên sông Mekong Lưu lượng đỉnh lũ tại Kratie lên tới 62.600 m3/s Lũ tại Tân Châu và Châu Đốc bắt đầu lên vào đầu tháng 8, nhưng nhờ vào đợt lũ lớn thượng nguồn đã lên nhanh hơn và đạt đỉnh thứ nhất là 4,44 m vào ngày 29/8 tại Tân Châu, sau đó lên xuống chậm trong khoảng 7 - 10 ngày và lên trở lại để đạt đỉnh là 4,81 m vào ngày 13/9 tại Tân Châu và 4,37 m vào ngày 15/9 tại Châu Đốc Giữa tháng 9, lũ đã bắt đầu xuống nhanh cho đến đầu tháng 10, giữ ở mức 4,20 m khoảng 15 - 20 ngày và tiếp tục rút

Trang 16

nhanh vào cuối tháng 10 Tại thượng lưu, lũ 1984 có hai đỉnh, cách nhau khoảng 20 ngày, đỉnh sau cao hơn đỉnh trước Do điều tiết của Biển Hồ, lũ ở ĐBSCL chuyển thành dạng 1 đỉnh và đỉnh sau bẹt đi nhiều và thành thời kỳ mực nước ít biến đổi Mưa nội đồng không ảnh hưởng lớn và thủy triều thấp, thuận lợi cho thoát lũ nên từ dưới Tân Châu, Châu Đốc, mực nước cao nhất trên sông chính thấp hơn so với lũ

1978 chừng 5¸25 cm Lũ rút sớm và nhanh nên thời gian duy trì mực nước 4,50 m chỉ có 34 ngày, ngắn hơn nhiều so với lũ 1978

Trận lũ năm 1991: Mùa lũ được bắt đầu như hàng năm, hết tháng 7, mực

nước còn dưới mức 3 m tại Tân Châu và 2,5 m tại Châu Đốc Đầu tháng 8, lũ lên chậm và còn dưới 3 m Ngày 15/8, bão FRED vào đèo Ngang qua Tây Nguyên, trung Lào và bắc Campuchia, gây mưa lớn (563 mm/tháng tại Pakse), gây lũ khá lớn ở thượng lưu Lưu lượng đỉnh lũ tại Kratie khoảng 64.000 m3/s, tổng lượng lớn nhất trong 90 ngày là 296 tỷ m3 Trên thượng lưu, lũ 1991 có dạng răng cưa với 3 đỉnh phụ và đỉnh chính lưu lượng 63.900 m3/s tại Kratie Vào ĐBSCL, lũ có dạng hai đỉnh với đỉnh chính xuất hiện trước và đỉnh phụ xuất hiện sau 1,5 tháng Từ 17/8, khi ở mức 2,87 m, lũ tại Tân Châu bắt đầu lên nhanh, đạt đỉnh là 4,80 m ngày 13/9 Cuối tháng 9, lũ rút dần, nhưng sau lên lại và đạt đỉnh phụ vào đầu tháng 10, thấp hơn đỉnh trước nhiều Lũ 1991 có dạng gần giống lũ 1984 Lũ 1991 đứng hạng

4 về lưu lượng đỉnh nhưng lại đứng hạng 17 - 19 về tổng lượng lũ tại Kratie và hạng thứ 11 về đỉnh tại Tân Châu, 15 về đỉnh tại Cần Thơ Đỉnh lũ tại Tân Châu và Châu Đốc không cao (thấp hơn lũ 1978 và 1984), duy trì mực nước trên 4,5 m chỉ có 20 ngày, ngắn nhất trong số các trận lũ lớn, song do gặp triều cường và mưa nội đồng lớn nên gây ngập lụt rộng và sâu Hướng thoát lũ trong năm 1984 đã bắt đầu có những thay đổi so với trước đây do hệ thống bờ bao chống lũ tháng 8 và lũ chính vụ phát triển mạnh ở An Giang, Đồng Tháp, Long An, Kiên Giang, Tiền Giang và Cần Thơ, cùng mạng đường giao thông các cấp được làm mới và kiên cố dần

Trận lũ năm 1994: Do mưa lớn và sớm ở thượng lưu nên lũ 1994 xuất hiện

khá sớm Đỉnh lũ cao nhất năm tại Kratie là khoảng 61.500 m3/s, xảy ra ngày 6/8, sớm chừng một tháng so với bình thường Sau đó, lũ rút nhanh trong 20 ngày rồi lên lại để đạt đỉnh thứ hai thấp hơn Tại ĐBSCL, lũ năm 1994 cũng sớm hơn trung bình gần một tháng Từ 20/7, khi mực nước Tân Châu là 2,78 m và Châu Đốc là 2,3 m,

do lũ thượng nguồn về nhiều, lũ ở đồng bằng lên nhanh, đạt gần 4 m tại Tân châu và 3,25 m tại Châu Đốc vào ngày 13/8 Sau khoảng nửa tháng xuống chậm trên sông Tiền và ít thay đổi trên sông Hậu, lũ tăng lên lại vào đầu tháng 9 và đạt đỉnh luõ cao nhất năm vào ngày từ 03 - 05/10 tại Tân Châu là 4,53 m và Châu Đốc là 4,23 m Đỉnh lũ tại Tân Châu và Châu Đốc năm 1994 thấp hơn nhiều so với lũ những năm khác, nhưng dạng lũ bẹt, duy trì lâu ở mực nước cao, lại trùng hai kỳ triều cường nửa cuối tháng 9 và đầu tháng 10, khiến mực nước lũ ngoài sông và trong đồng ở các vùng trũng ngập sâu hơn nhiều so với năm trung bình, vượt cả những năm lũ

Trang 17

lớn khác gần đây Sự phát triển nông nhiệp ở vùng ngập lũ ĐBSCL đã tác động rõ rệt hơn, không chỉ gây tăng đỉnh lũ mà còn làm thay đổi cả dạng và thời gian xuất hiện lũ trong nội đồng

Trận lũ năm 1996: Do ảnh hưởng của các hình thế thời tiết gây mưa lớn ở

vùng trung và hạ Lào từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9, lũ lên cao ở vùng thượng trung lưu sông Mekong giữa tháng 9 và đạt đỉnh 13,01 m tại Pakse ngày 26/9 và 23,01 m tại Kratie ngày 28/9 và 10,93 m tại PhnômPênh ngày 2/10 Lũ 1996 là một trong vài trận lũ có lưu lượng đỉnh 64.000 – 65.000 m3/s tại Kratie Tuy nhiên, do lũ khá nhọn nên tổng lượng 60 ngày lớn nhất chỉ khoảng 225 tỷ m3 và tổng lượng 90 ngày lớn nhất là 303 tỷ m3 (trong khi lũ 1961 tương ứng là 262 tỷ và 343 tỷ) Tại Tân Châu, từ đầu tháng 8, mực nước luôn dao động ở mức 3,10 - 3,50 m, nhưng từ ngày 13/9, lên nhanh với cường suất cao, có thời kỳ đạt 9 -12 cm/ngày (lớn nhất là

14 cm/ngày) và từ 17/10 lên chậm lại, chỉ 1¸2 cm/ngày để đạt đỉnh vào ngày 7/10 với mực nước lớn nhất 487 cm Tại trạm Châu Đốc trên sông Hậu lũ cũng có diễn biến tương tự và đạt mực nước cao nhất là 454 cm vào ngày 7/10 Tuy lũ xuất hiện muộn (giữa tháng 9), nhưng lên nhanh với cường suất hiếm thấy trên sông chính tại Tân Châu trong nhiều năm qua, nên chỉ 20 ngày đã đạt đỉnh, trong khi ở các trận lũ khác thường phải từ 40 - 50 ngày mới đạt đến đỉnh Lũ 1996 là lũ một đỉnh Đỉnh lũ xuất hiện sớm hơn lũ 1961, 1978 nhưng muộn hơn lũ 1991, 1994 Triều cường trong tháng 10 làm gia tăng đáng kể mực nước lũ phần thuộc các tỉnh Tiền Giang, Long An, Cần Thơ, Vĩnh Long và Bến Tre Mưa nội đồng tăng thêm ngập úng cho các tỉnh Kiên Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long và Tiền Giang Diễn biến mực nước và dòng chảy lũ trong nội đồng phức tạp hơn so với trước đây Nếu như những năm trước đây lũ chảy từ sông Tiền vào Đồng Tháp Mười qua kênh Hồng Ngự thì trong năm 1996, tình hình đã ngược lại: nước từ nội đồng theo Hồng Ngự chảy rất mạnh

ra sông Tiền trong thời gian dài trước, trong và sau đỉnh lũ

Trận lũ năm 2000: Đây là trận lũ lịch sử tại ĐBSCL Các chuyên gia, nhất là

chuyên gia tư vấn về quy hoạch thủy lợi, nông nghiệp, giao thông,… Trận lũ năm

2000 ở ĐBSCL có những điểm rất khác thường:

 Đây là trận lũ dạng 2 đỉnh lớn, là dạng lũ ít gặp (1978, 1984, ) ở ĐBSCL, trong đó đỉnh thứ nhất trên dòng chính tại các trạm đầu nguồn đạt mức cao và sớm lịch sử, đỉnh thứ 2 đạt mức cao nhất (tại Châu Đốc) hoặc đặc biệt cao (tại Tân Châu) với 2 đỉnh xuất hiện cách nhau 51 ngày, lâu hơn những năm có lũ 2 đỉnh khác khoảng 10 - 20 ngày, gây ngập lụt lâu nhất và sâu nhất trong 80 năm gần đây tại ĐBSCL;

 Lũ lụt về sớm nhất lịch sử và các đỉnh lũ đều rất cao, trong đó đỉnh lũ vào ngày 2/8 (4,22 m tại Tân Châu) cao hơn mực nước cùng kỳ trong các năm lũ lớn (như 1961, 1966 và 1996) tới 1 - 1,5 mét và sớm hơn trung bình khoảng 1 tháng,

Trang 18

còn đỉnh lũ chính vụ vào cuối tháng 9 lớn nhất lịch sử ở Châu Đốc (490 cm) và rất cao ở Tân Châu (506 cm)

 Diễn biến lũ lụt rất phức tạp, nằm ngoài tầm hiểu biết đã tích lũy được về lũ lụt ở ĐBSCL Từ đầu tháng 7, trên lưu vực sông Mekong đã xuất hiện trận lũ lớn và sớm nhất trong hơn 45 năm qua Tiếp theo, giữa và cuối tháng 7, lũ thượng nguồn sông Mekong đạt đỉnh kép với tổng lượng lớn Do đó, tại ĐBSCL vào giữa tháng 7

đã cao hơn 3,0 mét tại Tân Châu Đầu tháng 8, đã xuất hiện đỉnh lũ thứ nhất: tại Tân Châu là 4,22 m Sau đó, do tác động của bão số 2 và số 4, mưa lớn diện rộng trên nền lũ cao của tháng 7, đã làm xuất hiện trận lũ mới, thuộc loại lớn nhất trong hơn

80 năm gần đây trên lưu vực sông Mekong Do lũ thượng nguồn sớm, tổng lượng rất lớn, trong khi nền nước lụt đang rất cao, nên đã xảy ra một trận lũ lớn lịch sử tại ĐBSCL Trong 75 năm qua, chưa bao giờ có lũ lụt sớm, lớn, diện rộng, ngập sâu và kéo dài ngày như trận lũ năm 2000 Nó đã gây ảnh hưởng rộng lớn và rất nặng nề về người, tài sản và môi trường

 Có thể nói rằng, nguyên nhân sâu xa gây nên trận lũ lụt lịch sử năm 2000 là

do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, của hiện tượng La Nina mạnh kéo dài (từ năm 1999 đến hết năm 2000)

 Ngoài ra, tác động phi tự nhiên (của con người) thông qua những thay đổi rất lớn về cơ sở hạ tầng ở vùng châu thổ sông Mekong nói chung và ở ĐBSCL nói riêng cũng là nguyên nhân gián tiếp quan trọng gây nên lụt lớn và diễn biến phức tạp

Trận lũ năm 2001: Tiếp theo trận lũ lịch sử năm 2000, năm 2001 ở

ĐBSCL đã xảy ra một trận lũ rất lớn ở ĐBSCL (một trong 4 - 5 trận lũ lớn nhất thời

kỳ 1961¸ 2004 về tổng lượng lũ và đỉnh lũ) Có thể tóm tắt diễn biến của trận lũ này như sau:

 Trên thượng nguồn, vào giữa tháng 8, lũ đạt đỉnh cao nhất năm tại Kratie 22,9 m (đứng thứ 3 sau đỉnh lũ năm 1978, 1996, cao hơn lũ 2000) Đợt lũ lớn thứ hai xảy ra vào nửa đầu tháng 9 với đỉnh đều cao hơn đỉnh lũ thứ hai của trận lũ năm

1978 khoảng 80 cm, nhưng thấp hơn đỉnh lũ của năm 2000 khoảng 70 cm Dòng chảy lũ năm 2001 chủ yếu được hình thành từ phần lưu vực thuộc Lào và Tây Nguyên Việt Nam, chiếm tới 70% tổng lượng lũ tại Kratie (tổng lượng lũ từ tháng 6 đến tháng 10 là gần 465 tỷ m3, đứng thứ 2 kể từ năm 1939 đến nay, sau lũ năm 2000) Do mưa ở vùng lưu vực Biển Hồ thuộc Campuchia và ở ĐBSCL thấp hơn TBNN khá nhiều, nên đỉnh lũ tại vùng PhnômPênh nhỏ hơn đỉnh lũ năm 2000 khoảng 45 cm, mặc dù đỉnh lũ tại Kratie năm 2001 cao hơn năm 2000

 Các đặc điểm chính của trận lũ năm 2001 tại ĐBSCL là:

Trang 19

- Lũ năm 2001 thuộc loại đặc biệt lớn và sớm (chỉ muộn hơn lũ năm 2000 khi

lũ thấp hơn báo động 3, còn khi lũ ở mức trên báo động 3 lại sớm nhất từ trước tới nay), là dạng lũ 2 đỉnh cao rất bất lợi cho phòng tránh

- Cường suất lũ lớn hiếm thấy: nước lên rất nhanh vào cuối tháng 8, lớn nhất tới 15¸25 cm/ngày ở vùng đầu nguồn, nhiều ngày lũ lên 30,5 cm/ngày, là trường hợp mới quan trắc thấy lần đầu tiên ở ĐBSCL

- Lũ lụt lớn với đỉnh kép trên 4,7 m xảy ra liên tiếp trong năm 2000 và 2001 là trường hợp duy nhất quan trắc được trong 50 năm gần đây Đỉnh lũ thứ nhất tại Tân Châu là 4,73 m vào ngày 3/9 và tại Châu Đốc là 4,45 m vào ngày 5/9; đỉnh thứ hai tại Tân Châu là 4,78 m ngày 20/9, tại Châu Đốc là 4,48 m vào ngày 23/9 Đỉnh lũ ở vùng nội đồng xuất hiện vào cuối tháng 9, đầu tháng 10

- Đặc biệt, do tác động kết hợp của lũ và triều rất cao (vào lúc đỉnh triều Vũng Tàu mực nước lũ là 4,20 mét), và có thể do quy mô đắp đê bao sau trận lũ lịch sử năm 2000 tăng đột biết ở vùng hạ lưu, nên đỉnh lũ tại vùng cuối nguồn đạt mức cao nhất trong hơn 40 năm gần đây và cao hơn đỉnh lũ năm 2000: tại Mỹ Thuận, đỉnh lũ

là 1,83 m (năm 2000 là 1,8 m); tại Cần Thơ là 1,98 m (năm 2000 là 1,79 m) Thời gian duy trì mực nước trên 4,5 m ở Tân Châu là 47 ngày, dài hơn so với lũ năm

2000

- Lũ làm ngập sâu các vùng đầu nguồn, làm sạt lở nhiều công trình, đường giao thông, bờ sông kênh, một số đê bao, bờ bao, Ngập vừa và ngập nông ở vùng giữa và cuối nguồn Ngập lụt ở Đồng Tháp Mười và ở TGLX đều thấp hơn so với lũ năm 2000 từ 10 - 60 cm, đồng thời xuất hiện khá chậm so với thời gian xuất hiện mực nước đỉnh ở Tân Châu và Châu Đốc

- Lưu lượng trung bình ngày lớn nhất chảy vào ĐBSCL là 43.800 m3/s vào ngày 4/9 và 20/9 (năm 2000 là 51.700 m3/s), trong đó lưu lượng lớn nhất qua Tân Châu là 23.800 m3/s, qua Châu Đốc là 7.110 m3/s, qua biên giới vào Đồng Tháp Mười là 11.100 m3/s, vào TGLX là 3.700 m3/s, đều nhỏ hơn lũ năm 2000

- Tổng lượng lũ vào ĐBSCL từ 1/8 đến 20/10 khoảng 253 tỷ m3, trong đó theo sông Tiền 59%; sông Hậu 17%; vào sông Tiền trên đoạn Tân Châu - Hồng Ngự là 6%; qua biên giới vào Đồng Tháp Mười 12%; vào TGLX 6% và vào khu giữa sông Tiền - sông Hậu là 0,05%, đều thay đổi không đáng kể so với trong lũ năm 2000

- Lượng lũ thoát từ TGLX ra Vịnh Thái Lan chiếm 78% (giảm so với năm 2000), phần thoát ra vùng Tây sông Hậu khoảng 22% Ở Đồng Tháp Mười, lưu lượng trung bình ngày lớn nhất tại Tân An và Bến Lức đều là 3.280 m3/s; lượng nước thoát ra sông Vàm Cỏ và chảy trở lại sông Tiền cũng có khác lũ năm 2000

- Cơ chế tiêu thoát lũ ra Biển Tây, trở lại sông Tiền và sông Hậu, ra sông Vàm

Cỏ, nhìn chung, không thay đổi nhiều Do các công trình dẫn lũ về đã khá hoàn chỉnh, nhưng các công trình tạo khả năng thoát lũ ra Biển Tây còn chưa đồng bộ nên lượng nước thoát qua Biển Tây trong nửa cuối tháng 9 không lớn như mong

Trang 20

muốn, việc mở các cửa thoát ra biển trong tháng 10 đã cho thấy khả rõ khả năng tăng lượng nước thoát từ TGLX ra biển, lưu lượng nước lớn nhất đo được ở các cửa mới mở lớn hơn nhiều lượng nước thoát qua các cửa hiện có Việc nghiên cứu điều khiển các cửa thoát trong từng thời kỳ và ở những vị trí thích hợp chắc chắn có khả năng tăng đáng kể lượng nước thoát qua biển Tây

- Lượng nước từ Đồng Tháp Mười thoát ra sông Tiền tăng lên đáng kể, nhất là

từ nửa cuối tháng 9, khi lũ trên dòng chính lên lại Hướng thoát chủ yếu là qua phần

từ Phong Mỹ về An Hữu đến Long Định Lượng nước thoát ra sông Vàm Cỏ trong

lũ năm 2001 khá lớn

- Nhìn chung, các hướng chính thoát nước lũ, lụt từ ĐBSCL không có thay đổi

gì đáng kể so với trong các trận lũ lớn các năm trước, tuy mức độ thoát ở mỗi hướng có khác biệt nhất định, ở một vài hướng có những thay đổi cơ bản so với những nhận xét, đánh giá trước đây về khả năng thoát nước lụt từ ĐBSCL Những hướng chính là thoát lũ theo các dòng chính, về sông Vàm Cỏ và ra Biển Tây năm

2001

- Dòng chính sông Tiền và sông Hậu, sau khi được phân phối lại theo các kênh

và sông Vàm Nao, thoát lượng nước lũ gần tương đương nhau ra biển Lưu lượng lớn nhất trên sông Tiền tại Mỹ Thuận trong lũ năm 2000 là 17.200 m3/s và trên sông Hậu tại Cần Thơ là 17.700 m3/s Lượng nước thoát theo sông Hậu lớn hơn theo sông Tiền một chút, song nếu tính cả lượng nước thoát từ Đồng Tháp Mười qua QL 1A (đoạn An Hữu - Long Định) sau đó lại trở lại sông Tiền thì tổng lưu lượng thoát theo sông Tiền vẫn lớn hơn theo sông Hậu

- Lượng nước thoát theo sông Vàm Cỏ trong lũ năm 2001 nhỏ hơn trong lũ năm 2000 không nhiều, chứng tỏ lũ thoát theo sông Vàm Cỏ khá thuận lợi Lượng nước lũ từ Đồng Tháp Mười thoát trở lại sông Tiền trên đoạn QL 30 trong năm

2001 tuy nhỏ hơn trong lũ năm 2000 nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các hướng thoát Cơ chế điền nước trong nội đồng cấu thành từ mạng ô đồng giới hạn bởi các bờ bao, đường giao thông có cao trình vượt lũ năm 1996 hoặc 2000 và việc xây dựng, cải tạo các kênh, bơ bao, cầu cống trên vùng nằm dưới QL 1A, QL 30 là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi tỷ lệ phân phối lượng nước vào/ra Đồng Tháp Mười

- Cân bằng nước ở TGLX vẫn như trong các trận lũ lớn trước đây Tổng lưu lượng lớn nhất ngày thoát từ TGLX trong lũ chính vụ năm 2001 nhỏ hơn trong lũ năm 2000 Tỷ lệ phân bố giữa các hướng về cơ bản tương tự như trong lũ lụt năm

2000, chứng tỏ các công trình kiểm soát lũ vùng TGLX đã hoạt động khá ổn định trong 2 năm lũ lớn Tình trạng tiêu thoát vùng tứ giác Hà Tiên đã được cải thiện nhiều, song vẫn cần xem xét để có biện pháp cải thiện hơn nữa

- Ngập lũ ở vùng khu giữa sông Tiền - sông Hậu do nước 2 sông tràn vào là chính, lượng nước theo kênh từ phía trên tuyến đường Châu Đốc - Tân Châu vào

Trang 21

khu giữa là không đáng kể trong lũ sớm, trong lũ chính vụ lại từ khu giữa chảy ra sông

- Về khả năng dẫn lũ, thoát lũ của hệ thống kênh ngang và dọc thuộc ĐBSCL: + Trên vùng TGLX, vai trò của các kênh dọc dẫn nước trong, ít phù sa từ biên giới thoát ra Biển Tây tăng lên nhiều (lớn nhất kênh T5, Trà Sư, Tha La, sau đó là kênh T6, T4, T3, ); Cùng với quá trình đó là sự gia tăng lượng nước sông Hậu nhiều phù sa theo các kênh trên đoạn Châu Đốc về Long Xuyên vào trong đồng với hướng chảy thống trị trong thời kỳ lũ lên từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 10 (lượng nước lớn nhất truyền theo các kênh Tri Tôn, Ba Thê và các kênh từ kênh Đào đến kênh Năng Gù)

+ Trong vùng Đồng Tháp Mười, tất cả các kênh dọc đã phát huy tác dụng dẫn

lũ về Đồng Tháp Mười (lớn nhất là các kênh trên đoạn Hồng Ngự - Tân Hồng, sau

đó là kênh trên đoạn Thông Bình - Long Khốt, trong đó lớn nhất là qua cầu Thống Nhất, Tân Công Chí, Bình Thạnh, ) Các kênh ngang Đồng Tháp Mười, khi lũ lên, chủ yếu lại thoát nước ra sông Tiền (hướng thống trị từ giữa tháng 8, khác với hiện tượng dẫn nước vào đồng như trước đây) Nước thoát mạnh nhất là qua cầu Phong

Mỹ, Cần Lố, Đốc Vàng Hạ, Trà Lọt, Cổ Cò và nhiều kênh khác, nhất là cắt qua QL 1A Các kênh ngang cũng có tác dụng khá rõ trong dẫn nước lũ sang phía Vàm Cỏ

Trận lũ năm 2002: Như một thách đố, năm 2002 lại xảy ra một trận lũ đặc

biệt lớn ở ĐBSCL, điều chưa từng có kể từ khi có các quan trắc lũ lụt một cách bài bản ở ĐBSCL trong hơn 80 năm qua Lũ năm 2002 trên sông Mekong là một trong

5 trận lũ lớn nhất thời kỳ 1961 - 2004 về tổng lượng lũ và đỉnh lũ (tương đương lũ năm 1966, 1961, 1978, 2000 và 2001) Diễn biến trận lũ này có thể được tóm tắt như sau:

 Mưa lớn và sớm đã làm cho lũ ở trung và hạ lưu sông Mekong liên tục tăng Đến nửa cuối tháng 8, lũ đạt đỉnh cao nhất năm (ở mức tương đương đỉnh lũ năm

2000, riêng tại Viên Chăn đạt 12,6 m (đứng thứ 2 sau đỉnh lũ năm 1966) tại trạm Kratie - đạt đỉnh 22,49 mét, thấp hơn đỉnh lũ năm 2001 khoảng 0,4 m, đứng thứ 4 sau đỉnh lũ các năm năm 1978, 1996, 2000 và 2001)

 Dòng chảy lũ năm 2002 chủ yếu được hình thành từ phần lưu vực thuộc Lào

và Tây Nguyên Việt Nam, chiếm tới 60% tổng lượng lũ tại Kratie (tổng lượng lũ từ tháng 6 - 10 là gần 456 tỷ m3, đứng thứ 4 kể từ năm 1939 đến nay, sau lũ năm 1961,

2000, 2001)

 Do mưa ở vùng lưu vực Biển Hồ thuộc Campuchia và ở ĐBSCL tương đương với TBNN, đặc biệt là trong tháng 9 cao hơn khá nhiều với TBNN và tổng lượng mưa cao hơn nhiều so với năm 2001, nên khả năng cắt đỉnh lũ của Biển Hồ kém hơn năm 2001: mặc dù đỉnh lũ năm 2000 tại Kratie thấp hơn năm 2001 gần 0,5

m, nhưng lũ 2002 tại PhnômPênh đạt đỉnh tương đương lũ năm 2001

Trang 22

 Tại ĐBSCL, lũ năm 2002 thuộc loại đặc biệt lớn, sớm và lũ 2 đỉnh cao (tương tự như lũ 1978 và 2001) Vào ngay từ đầu tháng 7, lũ sớm và lớn đã tràn về, tạo sức ép lớn lên khu vực đầu nguồn vùng ĐBSCL Nhất là cuối tháng 8 đến đầu tháng 10 lũ uy hiếp liên tục, làm nên trận lũ hai đỉnh thuộc loại đặc biệt lớn và ít gặp ở ĐBSCL Nước lên rất nhanh vào đầu tháng 7 và giữa tháng 8, lớn nhất tới 25 cm/ngày ở vùng đầu nguồn, nhiều ngày lũ lên 30 - 35 cm/ngày, thậm chí có ngày lên tới 0,43 m tại Tân Châu đầu tháng 7 là trường hợp hiếm thấy lần ở ĐBSCL

 Đỉnh lũ thứ nhất tại Tân Châu là 4,6 m vào ngày 29/8 và tại Châu Đốc là 4,17 m vào ngày 1/9; đỉnh thứ hai tại Tân Châu là 4,82 m ngày 30/9, tại Châu Đốc

là 4,42 m vào ngày 23/9 Đỉnh lũ ở vùng nội đồng xuất hiện vào cuối tháng 9, đầu tháng 10; đặc biệt, do tác động kết hợp của lũ, triều mạnh và các thay đổi của hạ tầng vùng duyên hải (sau các trận lũ năm 2000 và 2001 tại phần ĐBSCL nằm dưới

QL 1A), nên đỉnh lũ tại vùng cuối nguồn đạt mức cao nhất trong hơn 40 năm gần đây: tại Mỹ Thuận, đỉnh lũ là 1,91 m; tại Mỹ Tho: 1,66 m, tại Bến Lức: 1,45 m

 Thời gian duy trì mực nước trên 4,50 m ở Tân Châu là 35 ngày, đứng thứ 3 lịch sử, sau các năm 1961, 2001 Ngập lụt ở vùng đầu nguồn và giữa Đồng Tháp Mười và ở TGLX đều thấp hơn so với lũ năm 2000 từ 10 - 60 cm, tương đương lũ năm 2001, đồng thời xuất hiện khá chậm so với thời gian xuất hiện mực nước đỉnh

ở Tân Châu và Châu Đốc

 Cơ chế tiêu thoát lũ ra Biển Tây, trở lại sông Tiền, sông Hậu, ra sông Vàm

Cỏ, nhìn chung, không thay đổi nhiều Do các công trình dẫn lũ về đã khá hoàn chỉnh, trong khi các công trình thoát lũ ra Biển Tây còn chưa đồng bộ, nên lượng nước thoát qua Biển Tây trong nửa cuối tháng 9 không lớn Việc mở các cửa thoát

ra biển trong tháng 10 cho thấy khả năng thoát từ TGLX ra biển còn khá lớn, lưu lượng nước đo được ở các cửa mới mở lớn hơn nhiều lượng nước thoát qua các cửa

đã có trước đó

 Lượng nước từ Đồng Tháp Mười thoát ra sông Tiền tăng lên đáng kể, nhất là

từ nửa cuối tháng 9 Hướng thoát chủ yếu là qua phần từ Phong Mỹ về An Hữu đến Long Định Lượng nước thoát ra sông Vàm Cỏ trong lũ năm 2002 khá lớn

 Nhìn chung, các hướng chính thoát nước lũ, lụt từ ĐBSCL không có thay đổi

gì đáng kể so với các năm 2000 và 2001, tuy mức độ thoát ở mỗi hướng có khác biệt nhất định Những hướng chính là theo các dòng chính, về sông Vàm Cỏ và ra Biển Tây

 Ngập lũ ở vùng khu giữa sông Tiền - sông Hậu do nước 2 sông tràn vào là chính Đường mực nước trong lũ sớm, lũ chính vụ trên sông Tiền cao hơn trên sông Hậu

 Vai trò mưa nội đồng ở ĐBSCL trong lũ năm 2002 khá rõ (như trong lũ 1996

và lũ 2000) Trong lũ 2002 ở ĐBSCL, đỉnh lũ tại các khu vực ĐBSCL đã trùng các

Trang 23

kỳ triều cường (trong đó tại Vũng Tàu, đỉnh triều là 4,27 mét, ngày 8/10 - thuộc loại đặc biệt cao), nên nước lũ lụt khó thoát hơn, gây ngập sâu và diện rộng hơn, nhất là vùng cuối nguồn: Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Lức, Mỹ Tho, Bến Tre

 Đánh giá vai trò hệ thống kênh ngang và dọc ở ĐBSCL trong trận lũ năm 2002:

- Trong vùng TGLX, các kênh dọc và ngang đều đóng vai trò tích cực: hiệu quả dẫn nước trong, ít phù sa từ biên giới thoát nhanh ra Biển Tây tăng lên nhiều (lớn nhất kênh T5, Trà Sư, Tha La, sau đó là kênh T6, T4, T3, ) bởi các kênh dọc Cùng với quá trình đó là sự gia tăng lượng nước sông Hậu nhiều phù sa theo các kênh ngang trên đoạn Châu Đốc - Long Xuyên

- Trong vùng Đồng Tháp Mười, các kênh dọc đưa nước từ Campuchia vào đồng và ra sông Vàm Cỏ, trong khi các kênh ngang khi lũ lên cao cũng chảy ra sông Tiền (hướng thống trị từ giữa tháng 8 là chảy ra sông Tiền, khác với hướng dẫn nước vào đồng như trước đây) Nước thoát mạnh nhất là qua cầu Phong Mỹ, Cần

Lố, Đốc Vàng Hạ, Trà Lọt, Cổ Cò và nhiều kênh khác cắt qua QL 1A Các kênh ngang cũng có tác dụng dẫn nước lũ sang phía Vàm Cỏ

- Mức độ dẫn nước vào Đồng Tháp Mười và TGLX và thoát nước ra trong lũ sớm và lũ chính vụ nhìn chung tương tự như trong lũ năm 2000

 Yếu tố triều tác động mạnh hơn và thường tạo đỉnh lớn nhất năm khi lũ bắt đầu rút lại gặp triều đang cao Quá trình mực nước có dạng dao động triều khá rõ Biên độ dao động từ 2,5 - 3,0 m ở vùng ven biển, giảm còn 0,4 - 0,6 m ở khu giáp vùng lũ - triều Ven biển, triều hoàn toàn chiếm ưu thế và mực nước cao nhất thuần tuý do triều Chênh lệch mực nước giữa các nơi không nhiều Mực nước cao nhất trong vùng đạt từ 1,7 - 2,2 m Do hệ thống kênh rạch phát triển, triều đã ảnh hưởng mạnh hơn đến vùng thứ 2, tác động nhất định đến quá trình nước rút

2.2.2.2 Phân vùng ngập lụt ở ĐBSCL

Vùng ngập, độ sâu và thời gian ngập lụt là những đặc trưng chính phản ánh tình trạng ngập lụt ở ĐBSCL Ngập lụt tại ĐBSCL do nhiều yếu tố (lũ thượng nguồn, điều tiết của Biển Hồ, cơ sở hạ tầng, thủy triều và các biện pháp công trình phòng tránh lũ) với tỷ lệ đóng góp khác nhau gây ra

Theo nguyên nhân chính gây ngập có thể phân ra 4 vùng ngập như sau:

 Vùng ngập lũ có nguyên nhân gây ngập chủ yếu do lũ Ngập lụt ở ĐBSCL chủ yếu là ngập lũ, mức độ ảnh hưởng của triều lên dạng đường quá trình lũ không đáng kể hoặc chỉ biểu hiện rõ hơn vào kỳ cường và làm cho nước lũ khó tiêu thoát hơn Việc xác định độ ngập sâu chủ yếu dựa vào quan hệ giữa mực nước lũ và cao trình mặt đất ở vùng ngập và sự lan truyền của lũ vào trong vùng Trong các trận lũ lớn, yếu tố lan truyền lũ đóng vai trò không đáng kể Các công trình ở nội đồng như

Trang 24

đường xá, cầu cống, hệ thống đê bao, kênh, khu dân cư, Thường làm thay đổi độ sâu ngập lụt, diện ngập và thời gian ngập (bắt đầu và kết thúc) Đối với lũ lớn, độ sâu ngập lũ thay đổi từ 3,0 m đến 3,5 m ở vùng ngập sâu (sát sông lớn và gần biên giới) đến 1,5 - 2,5 m ở vùng ngập trung bình (chiếm phần lớn diện tích hai tỉnh Đồng Tháp và An Giang, một phần hai tỉnh Long An và Kiên Giang), và 1,0 m đến 1,5 m ở vùng ngập nông (nằm phần lớn ở các tỉnh Long An, Tiền Giang, Kiên Giang và Cần Thơ) Đối với năm lũ trung bình và nhỏ, độ sâu ngập giảm từ 0,5 m đến 2,0 m ở từng nơi so với lũ lớn Trong vùng ngập lũ, có thể chia làm hai hay ba vùng khác nhau, tuỳ phân định mức độ ngập Nếu chia làm hai vùng gồm vùng ngập sâu (trên 1,5 m) và vùng ngập nông (dưới 1,5 m), thì ranh giới hai vùng thường là từ sông Vàm Cỏ Tây đến kênh Nguyễn Văn Tiếp, sang rạch Cái Tàu Thượng và kênh Cái Sắn; vùng phía trên là ngập sâu, phía dưới là vùng ngập nông

 Vùng ngập úng do mưa là nguyên nhân chính Vùng ngập úng do mưa rất đa dạng cả về sự phân bố, diện, độ sâu và thời gian ngập Một số vùng ngập úng do mưa cục bộ là chính, mực nước trong đồng thường cao hơn mực nước ngoài kênh Một số vùng khác ngập úng do kết hợp mưa đồng và nước ngoại lai, mực nước trong đồng đôi khi lại thấp hơn mực nước ngoài sông, kênh Vì vậy, việc đánh giá mức độ ngập sâu do mưa là rất khó khăn

 Vùng ngập úng do mưa - triều Một số vùng ở ĐBSCL bị ngập úng do mưa

và do triều là chính Những vùng ngập do mưa là các vùng đất thấp, nằm giáp ranh giữa vùng ngập do lũ và vùng bị tác động của triều, cao trình mặt đất thường chỉ từ 0,2 m đến 0,6 m, tiêu thoát nước kém Ngay giữa mùa mưa lũ, gặp triều cường và mưa lớn kéo dài, diện tích ngập có thể lên đến 700 ngàn ha, gồm cuối vùng Cái Sắn

- Xà No, trung tâm bán đảo Cà Mau, U Minh Thượng, U Minh Hạ, hạ lưu ven Vàm

Cỏ Tây như Bo Bo, Bắc Đông, Bà Bèo, ven Vàm Cỏ Đông như Đức Hoà, Xuân Khánh, Nơi có biên độ triều ngay trong mùa mưa lũ chỉ vào khoảng 0,3 - 0,5 m nên tiêu thoát nước rất khó khăn

 Vùng ngập do triều nằm rải rác ven bờ Biển Đông, là các vùng trũng thấp xen kẽ các giồng cát cao ven biển hay các vùng đất mới lấn ra biển, cao độ dưới 0,4

m, như các vùng cửa sông Vàm Cỏ, ven biển Trà Vinh, vùng cửa sông Mỹ Thanh, Gành Hào, vùng mũi Cà Mau, cửa sông Ông Đốc, Thường bị ngập vào kỳ triều cường, ngập sâu hơn khi có mưa lớn nội đồng vào cuối mùa (tháng 10 - 11) Diện tích ngập triều ở ĐBSCL vào khoảng 200 - 300 ngàn ha

Theo thời gian ngập lụt có thể phân ĐBSCL làm 4 vùng ngập chính:

 Vùng ngập lâu và ngập rất sâu: Ngập lũ trên 2,0 m, kéo dài từ 3 - 5 tháng, trung bình là 3,5 - 4,0 tháng liên tục, từ tháng 8 - 11 Ranh giới vùng ngập sâu, ngập lâu ở Đồng Tháp Mười là biên giới, bờ sông Tiền, kênh Đồng Tiền và kênh Phước

Trang 25

Xuyên; vùng kẹp giữa hai sông Tiền - Hậu trên Vàm Nao; ở TGLX là vùng từ biên giới về bờ sông Hậu và kênh Mạc Cần Dưng

 Vùng ngập lâu và ngập sâu trung bình: Ngập sâu từ 1,0 - 2,0 m, kéo dài 3 - 4 tháng, từ tháng 8 - 11, một số vùng thấp từ tháng 9 - 12 Vùng ngập lâu và ngập sâu trung bình giới hạn ở phía trên là vùng ngập rất sâu, phía dưới là kênh Nguyễn Văn Tiếp, kênh 12 và sông Vàm Cỏ Tây ở Đồng Tháp Mười; là rạch Cái Tàu Thượng ở vùng kẹp giữa hai sông; là tuyến đường Long Xuyên - Thoại Sơn - Tri Tôn

ở TGLX

 Vùng ngập lâu nhưng ngập nông: Ngập sâu từ 0,5 m đến 1,0 m, thường kéo dài 2,5 tháng đến 3,5 tháng, từ tháng 9 - 12 Vùng ngập nông, giới hạn phía trên là vùng ngập sâu trung bình, giới hạn phía dưới là sông Vàm Cỏ Đông và trục QL 1A cho đến Mỹ Tho và ven theo bờ sông Tiền ở Đồng Tháp Mười; là trục đường QL 1A ở vùng kẹp giữa hai sông; là tuyến đường Cần Thơ - Vị Thanh - Gò Quao - Rạch Giá ở TGLX và vùng Tây sông Hậu

 Vùng ngập không đáng kể bao gồm phần còn lại của ĐBSCL (một số nơi hoàn toàn không bị ngập như vùng Bảy Núi tỉnh An Giang, vùng trung tâm Bến Tre, ) Đại bộ phận vùng này bị ngập do mưa hoặc do mưa và triều (trung tâm Bán đảo Cà Mau, U Minh Thượng, Gò Công, ) và ngập do triều (Nam bán đảo Cà Mau, ven biển Trà Vinh, Bến Tre, )

Xét tác động của lũ và triều có thể phân vùng ngập lụt ra làm 3 khu chính:

 Khu lũ, lụt chủ yếu do nước từ biên giới và từ sông, ảnh hưởng triều không đáng kể Khu này có thể bao gồm phía bắc kênh Hồng Ngự, Bắc Vàm Nao, phần lớn TGLX Từ tháng 7 - 8, triều hầu như không thể hiện rõ (thể hiện qua sự dao động vài cm trong ngày) trên đường quá trình lũ Lũ thay đổi nhanh theo thời gian và không gian Độ dốc mặt nước lớn và tiêu thoát nhanh Trong khi lũ tại Tân Châu dao động trong khoảng 4,8 - 5,2 m ở những trận lũ lớn, thì tại Chợ Mới, mức dao động chỉ từ 3,5 m đến 3,8 m, thấp hơn 1,0 m

 Khu lũ và triều, chịu ảnh hưởng ít của triều, nằm giữa kênh Hồng Ngự

và Nguyễn Văn Tiếp, tuy lũ vẫn chiếm ưu thế nhưng triều đã có tác động mạnh lên quá trình lũ Vào những tháng đầu mùa lũ, mực nước hầu như vẫn còn dao động theo triều, đặc biệt là trên sông Vàm Cỏ Tây và trong nội đồng Mực nước triều cường trước khi lũ về ở mức xấp xỉ 1,0 m Khi lũ về, dao động mực nước theo triều giảm dần và mực nước hàng ngày tăng dần Biên độ dao động lúc lũ cao nhất cũng còn khoảng từ 0,3 m đến 0,4 m ở những khu giáp vùng triều - lũ Chênh lệch mực nước giữa các nơi trong vùng này không nhiều, chỉ từ 0,2 m đến 0,5 m Mực nước

lũ cao nhất đã xảy ra trong vùng lũ - triều đạt từ 2,0 m đến 2,5 m

Trang 26

 Khu triều - lũ, chịu ảnh hưởng mạnh của triều, gồm khu nam kênh Nguyễn Văn Tiếp, khu sát biển Tây - có thể coi là vùng ngập chủ yếu do triều Yếu

tố triều tác động mạnh hơn và thường tạo đỉnh lớn nhất năm khi lũ bắt đầu rút lại gặp triều đang cao Quá trình mực nước có dạng dao động triều khá rõ Biên độ dao động từ 2,5 m đến 3,0 m ở vùng ven biển, giảm còn 0,4 m đến 0,6 m ở khu giáp vùng lũ - triều Ven biển, triều hoàn toàn chiếm ưu thế và mực nước cao nhất thuần tuý do triều Chênh lệch mực nước giữa các nơi không nhiều Mực nước cao nhất trong vùng đạt từ 1,7 m đến 2,2 m Do hệ thống kênh rạch phát triển, triều đã ảnh hưởng mạnh hơn đến vùng thứ 2, tác động nhất định đến quá trình nước rút

2.3 TÌNH HÌNH THỜI TIẾT, THỦY VĂN VIỆT NAM

2.3.1 Đặc điểm chung về thời tiết và thủy văn ở Việt Nam

Tuy lãnh thổ Việt Nam nằm trọn trong vùng nhiệt đới nhưng khí hậu VN phân bố thành 3 vùng khí hậu riêng biệt theo phân loại khí hậu Köppen với miền Bắc mang khí hậu cận nhiệt đới ẩm ấm, Bắc trung bộ là khí hậu nhiệt đới gió mùa, miền nam và nam trung bộ mang đặc điểm nhiệt đới Xavan Đồng thời, do nằm ở rìa phía đông nam của phần châu Á lục địa, giáp với biển Đông (một phần của Thái Bình Dương), nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiểu khí hậu gió mùa mậu dịch, thường thổi ở các vùng vĩ độ thấp

Việt Nam có bốn miền khí hậu chủ yếu, bao gồm: miền khí hậu phía Bắc, miền khí hậu phía Nam, miền khí hậu Trung và Nam Trung Bộ, và miền khí hậu biển Đông

Miền khí hậu phía Bắc

Bao gồm phần lãnh thổ phía Bắc dãy Hoành Sơn Miền này có khí hậu cận nhiệt đới ẩm với bốn mùa xuân, hè, thu, đông rõ rệt Tuy nhiên, miền khí hậu này có đặc điểm là mất ổn định vời thời gian bắt đầu - kết thúc các mùa và về nhiệt độ

Miền khí hậu phía Nam

Gồm phần lãnh thổ thuộc Tây Nguyên và Nam Bộ Miền này có khí hậu nhiệt đới xavan với hai mùa: mùa khô và mùa mưa (từ tháng 4 - 5 đến tháng 10

- 11) Quanh năm, nhiệt độ của miền này cao Khí hậu miền này ít biến động nhiều trong năm

Miền khí hậu Trung và Nam Trung Bộ

Gồm phần lãnh thổ phía Đông dãy Trường Sơn, kéo dài từ phía Nam dãy Hoành Sơn tới Phan Thiết Đây là miền khí hậu chuyển tiếp giữa hai miền khí hậu

Trang 27

nói trên và mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa Miền này lại có thể chia làm hai vùng:

Miền khí hậu biển Đông

Biển Đông VN mang đặc tính hải dương và tương đối đồng nhất

2.3.1.2 Đặc điểm chung về thủy văn

Mạng lưới sông ngòi VN dày đặc, nhiều nước, nhiều phù sa:

– Địa hình VN chủ yếu là đồi núi được Tân Kiến Tạo làm trẻ lại do đó có độ dốc lớn, trên đó lại được nhận lượng mưa khá lớn tập trung vào mùa hạ đã tạo nên mạng lưới sông ngòi (nước chảy tràn) bao gồm hàng ngàn sông suối lớn nhỏ với hình dạng, tính chất, hướng chảy khác nhau

– VN có mật độ sông suối dày đặc với 2.360 con sông Trung bình cứ 1 km sông/km2 Tuy nhiên có sự phân bố không đồng đều giữa các nơi : những vùng núi

đá rắn, đá vôi mưa ít có mật độ sông ngòi thấp 0,5 km sông/km2 Tại các sườn núi đón gió, có lượng mưa nhiều, mật độ sông suối khoảng 1,5 km sông/km2 Riêng ở khu vực đồng bằng mật độ khá lớn khoảng 3 - 4 km sông/km2 Nếu đi dọc bờ biển thì cứ các 20 km lại có một cửa sông Đa số sông VN là sông ngắn và dốc (có 2.170 sông là sông nhỏ và ngắn – chiếm 92,5%, có diện tích lưu vực khoảng 500 km2 và dài dưới 100 km) Các sông lớn ở VN chỉ chiếm phần hạ lưu

– Sông VN có lưu lượng lớn do VN có lượng mưa lớn, lưu lượng bình quân

là 26.200m3/s, tương ứng với tổng lượng nước là 839 tỉ m3/năm (trong số này chỉ có 38,5% được sinh ra trong lãnh thổ VN) Trong tổng lượng nước nói trên thì nước chảy tràn trên mặt chiếm 637 tỷ m3/năm (76%), còn lại là nước ngầm Lượng nước trên mặt phân bố không đồng đều:

+ Sông Cửu Long chiếm 60,4%

+ Sông Hồng chiếm 15,1%

+ Các sông còn lại 24,5%

– Mođun (Module) ở VN khá lớn, khoảng 30 lít/s/km2 nhưng cũng có sự phân bố không đều Vùng mưa nhiều mođun đạt 75 lít/s/km2, vùng mưa ít như cực Nam Trung Bộ 10 lít/s/km2

M (mođun) = (Q x 10^3) / F (F: diện tích lưu vực Q: tổng lượng nước)

– Sông VN có lượng phù sa lớn do VN có khí hậu nội chí tuyến mưa nhiều, địa hình trẻ, độ dốc lớn, làm cho độ xâm thực của sông VN tương đối cao, bình quân là 225 tấn/năm/km2.(Những nơi mưa nhiều, độ dốc lớn, độ xâm thực đạt 1.168 tấn/năm/km2 như lưu vực Hoà Bình – sông Đà) Từ đó làm cho hàm lượng phù sa

Trang 28

khá cao Tổng lượng phù sa của các sông VN là 200 triệu tấn/năm (sông Hồng 60%, sông Cửu Long 35%,…)

Mạng lưới sông ngòi VN phản ánh cấu trúc địa hình:

– Địa hình VN có 2 hướng chính là hướng vòng cung và hướng Tây Bắc – Đông Nam và phù hợp với nó là hướng của các dãy núi, từ đó làm cho sông VN có

2 hướng chính : hướng vòng cung và hướng Tây Bắc – Đông Nam và đổ thẳng ra biển Đông Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ như sông Kì Cùng, một

số phụ lưu của sông Đà có hướng ngược lại, các sông ở Tây Nguyên đổ sang Campuchia sau đó mới ra biển Ngoài ra, sông VN còn vô vàn phúc tạp như chia thành nhiều bậc khi chảy qua địa hình bậc thang hoặc có đoạn lòng sông mở rộng,

có đoạn thu hẹp (thác ghềnh)

– Sông VN thường bắt nguồn từ những vùng núi cao: [ sông Hồng bắt nguồn

từ dãy Ngụy Sơn (1.766 m ở Vân Nam)], hầu hết các sông còn lại đều bắt nguồn từ vùng núi cao trên dưới 1000 m làm cho sông ngòi VN có độ dốc lớn Sông Hồng ở Việt Trì có độ dốc 23 cm/km, sông Lô có độ dốc 33 cm/km, sông Đà 71 cm/km, các sông ở đông trường sơn có độ dốc trên 100 cm/km

– Do sông có độ dốc lớn, mưa nhiều vào mùa hạ làm cho sông VN đổ ra biển bằng nhiều cửa: sông Hồng 4 cửa (Trà Lí, Ba Lạt, Lạch, Đáy), sông Cửu Long ra biển bằng 9 cửa (Tiểu, Đại, Balai, Hàm luông, Cổ Chiên, Cung Hầu, Định An, Bát Xắc, Tranh Đề)

Thủy chế của sông ngòi VN:

– Thủy chế của sông ngòi VN phù hợp với chế độ khí hậu Khí hậu VN có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô tương ứng với mùa khô là mùa cạn còn mùa mưa là mùa lũ Tuy nhiên do tính phúc tạp của khí hậu VN đó là sự phân hoá theo khu vực (nơi mưa ít, nơi mưa nhiều, nơi mưa vào mùa hạ, nơi mưa vào mùa đông) làm cho mùa lũ không thống nhất trong cả nước

– Mùa lũ ở VN thường dài 4 – 5 tháng (tháng 5 – 10), chiếm 70 – 80% lượng nước của cả năm Tùy nơi mà đỉnh lũ có sự khác nhau, nhìn chung có xu thế chậm dần từ Bắc – Nam, do có sự liên quan giữa dải hội tụ CIT Bắt đầu bằng những lưu vực thuộc Bằng Giang – Kì Cùng có lũ vào tháng 7 - 8, các sông ở Bắc Trung Bộ vào tháng 9, Huế sông Hương tháng 10, Nam Trung Bộ tháng 11, khu vực Nam Bộ

lũ cực đại vào tháng 9

– Vào mùa lũ do lượng mưa lớn cộng với độ dốc địa hình tác động lên lớp thổ nhưỡng dày của vùng nội chí tuyến nhiệt đới làm cho các hệ thống sông có hàm lượng phù sa rất lớn Vào mùa hạ, hàm lượng phù sa nhỏ

Trang 29

– Mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 4 lượng nước chiếm 20 – 30%, thậm chí vào mùa cạn có sông không có nước như ở Cực Nam Trung Bộ Vì vậy làm cho độ chênh lệch nước giữa đỉnh lũ và đỉnh cạn rất lớn, lên đến 15 – 20 lần Mùa cạn cũng

có khuynh hướng chậm dần từ Bắc – Nam (Ở Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 5, Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ từ tháng 11 đến tháng 5, ở miền Nam mùa cạn ngắn từ tháng 11 đến tháng 4)

2.4 TÌNH HÌNH CHUNG VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

2.4.1 Khái quát về BĐKH

2.4.1.1 Khái niệm BĐKH

BĐKH trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo

BĐKH là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người

(Theo công ước chung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu) 2.4.1.2 Nguyên nhân:

Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác Nhằm hạn chế sự biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6

- CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển CO2 cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép

- CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than

- N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp

- HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC - 23 là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC - 22

- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm

- SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê

Trang 30

2.4.1.3 Các biểu hiện của biến đổi khí hậu:

- Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung

- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất

- Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển

- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người

- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác

- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển

2.4.1.4 Một số hiện tượng của BĐKH

- Hiện tượng sương khói

2.4.1.5 Hậu quả của việc biến đổi khí hậu:

- Các hệ sinh thái bị phá hủy

- Mất đa dạng sinh học: Nhiệt độ trái đất hiện nay đang làm cho các loài sinh vật biến mất hoặc có nguy cơ tuyệt chủng Khoảng 50% các loài động thực vật

sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050 nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 1,1 đến 6,4 oC nữa

- Chiến tranh và xung đột

- Các tác hại đến kinh tế

Trang 31

- Dịch bệnh: Nhiệt độ tăng cùng với lũ lụt và hạn hán đã tạo điều kiện thuận lợi cho các con vật truyền nhiễm như muỗi, ve, chuột,… sinh sôi nảy nở, truyền nhiễm bệnh gây nguy hại đến sức khỏe của nhiều bộ phận dân số trên thế giới

- Hạn hán

- Bão lụt

- Những đợt nắng nóng gay gắt

- Các núi băng và sông băng đang teo nhỏ

- Mực nước biển đang dâng lên

2.4.1.6 Tác động của BĐKH và tình trạng dễ tổn thương với BĐKH ở Việt Nam

Những lĩnh vực được đánh giá là dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu bao gồm: nông nghiệp và an ninh lương thực, tài nguyên nước, sức khoẻ Vùng bị dễ tổn thương nhất là ven biển và miền núi Đối tượng dễ bị tổn thương nhất và người

nghèo, phụ nữ và trẻ em và đồng bào dân tộc thiểu số (Bộ Tài nguyên và Môi

trường, 2008)

Các nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong bối cảnh BĐKH và thiên tai

Ảnh hưởng của BĐKH không giống nhau giữa các nhóm/đối tượng trong xã hội Nghiên cứu các nhóm dễ tổn thương và lý do tổn thương có ý nghĩa quan trọng trong việc đề xuất các giải pháp ứng phó phù hợp với tác động của BĐKH Hộ nghèo/người nghèo thường gắn với sản xuất nông nghiệp như là một nguồn thu nhập chính; trong khi đó, như đã nêu ở trên, sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực dễ bị tổn thương nhất bởi tác động của biến đổi khí hậu Hộ nghèo thường là hộ có nguồn lực hạn chế, như nguồn đất đai hạn hẹp, nhà cửa và tài sản mang tính thô sơ do vậy

họ dễ bị tỗn thương hơn so với các loại hộ khác khi chịu tác động của BĐKH Hộ nghèo thường có các hoạt động sinh kế đơn điệu do vậy khả năng đa dạng hóa các nguồn thu nhập để hạn chế tác động của BĐKH thường thấp Hơn thế nữa, do hạn chế về nguồn lực cho nên khả năng hồi phục sau khi bị tác động bởi thiên tai của hộ nghèo thường chậm hơn so với các loại hộ khác trong cộng đồng Một số ý kiến khác cho rằng BĐKH tác động đến tất cả các đối tượng trong xã hội, xét về mặt tuyệt đối thì hộ khá và trung bình bị thiệt hại do BĐKH nhiều hơn so với hộ nghèo BĐKH đã làm cho hộ không nghèo và cận nghèo trở thành hộ nghèo

Phụ nữ và trẻ em cũng là nhóm dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH Nghiên cứu tại xã Đồng Thăng tỉnh Lạng Sơn cho biết phụ nữ dân tộc Dao và dân tộc Tày thường trực tiếp sản xuất nông nghiệp và mang lại nguồn lương thực cho gia đình BĐKH ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp do vậy có thể hạn chế tiếng nói của họ trong gia đình Cũng do tác động của BĐKH, nguồn thu nhập từ sản xuất

Trang 32

nông lâm nghiệp tại địa phương giảm xuống, cho nên di cư để tìm kiếm việc làm đang ngày càng trở nên phổ biến đối với đồng bào dân tộc thiểu số Thông thường, nam giới di cư để lại gánh nặng quản lý gia đình và công việc sản xuất cho người phụ nữ do vậy tác động của biến đổi khí hậu đến người phụ nữ càng nghiêm trọng hơn Hơn nữa, để tạo thêm thu nhập cho gia đình, phụ nữ người dân tộc thiểu số phải vào rừng để khai thác thêm các loại lâm sản ngoài gỗ, các loại dược thảo Công việc này vốn trước đây thông thường do nam giới đảm nhiệm Điều này làm giảm thời gian tiếp cận các hoạt động xã hội của người phụ nữ

Sau khi thiên tai diễn ra, cả nam và nữ giới đều phải tốn thời gian và sức lực phục hồi cuộc sống của gia đình Nam giới thường làm các việc mang tính sức vóc tuy nhiên phụ nữ thường vất vả hơn do vị trí truyền thống của họ trong gia đình, trong khi đó sự đóng góp của phụ nữ không được đánh giá một cách xứng đáng do các công việc mà họ làm còn gọi là công việc không tên BĐKH làm tiêu tốn nhiều thời gian của phụ nữ cho những công việc mà không được trả tiền Điều này càng làm nặng quan điểm phụ nữ chịu trách nhiệm cho các công việc trong gia đình Việc tiêu tốn nhiều thời gian cho các công việc của gia đình, làm giảm thời gian tiếp cận các sinh hoạt của cộng đồng, tiếp cận các phúc lợi của xã hội Điều này càng làm giảm thấp vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội (Phạm Thu Hiền, 2011) Hạn hán làm suy giảm nguồn nước không chỉ cho sản xuất mà còn cho sinh hoạt của gia đình Phụ nữ và trẻ em thường là đối tượng chựu trách nhiệm lấy nước cho sinh hoạt của gia đình Do địa hình phức tạp ở miền núi phía Bắc cho nên việc lấy nước thường tốn nhiều thời gian Điều này có thể ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ em

và cũng như gánh nặng cho phụ nữ Tương tự như hạn hán, khi nhiệt độ xuống thấp, phụ nữ và trẻ em thường phải lấy củi đốt để sưởi ấm cho gia đình

(Nhóm công tác BĐKH (CCWG))

2.4.2 Tình hình BĐKH ở Việt Nam

Trên thực tế, tại VN đã có những biểu hiện của BĐKH về các yếu tố khí hậu

cơ bản (nhiệt độ, lượng mưa, ) cũng như các yếu tố thời tiết (bão, mưa lớn, hạn hán, ) Được biết trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình tại VN đã tăng 0,7 °C, mực nước biển dâng 20 cm Trong thời gian, cùng với tình hình chung của Thế giới,

VN đã và đang chịu ảnh hưởng biến đổi khí hậu, thiên tai bão lụt hạn hán đã diễn ra với cường độ mạnh hơn trước

Theo kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho VN do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2009, nhiệt độ trên tăng ít nhất 1,1 – 1,9 °C, nhiều nhất 2,1 – 3,6 °C, lượng mưa tăng ít nhất 1,0 – 5,2 % và nhiều nhất từ 1,8 – 10,1 %, mực nước biển dâng ít nhất 65 cm, nhiều nhất 100 cm so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999 Tác động tiềm tàng BĐKH ở VN thể hiện trong tất cả các lĩnh vực chủ yếu: tài

Trang 33

nguyên nước, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, năng lượng, giao thông vận tải, sức khỏe

2.5 MÔ TẢ VÙNG NGHIÊN CỨU

2.5.1 Đặc điểm tự nhiên của Thành phố Cần Thơ

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở cuối dòng chảy của sông Mekong trước khi đổ ra Biển Đông và và một phần nhỏ ra Vịnh Thái Lan Đây là một vùng đất thấp và bằng phẳng, cao độ trung bình phổ biến ở nhiều nơi từ 1,0 – 2,0 m so với mực nước biển, được bồi tụ bởi phù sa của sông Mekong Vùng đồng bằng có diện tích gần 4 triệu ha (39.734 km2), trong đó có trên 2,4 triệu ha đất được

sử dụng cho canh tác nông nghiệp (NEDECO, 1993) Vùng Đồng bằng này là nơi

cư trú của hơn 18,6 triệu người dân (năm 2010) Về mặt sinh thái, vùng ĐBSCL là đất ngập nước lớn nhất Việt Nam (Tuan and Guido, 2007), có đầy đủ các kiểu rừng sát ngập mặn, ngập lợ, rừng ngập nước có than bùn, vùng rừng tràm ngập nước ngọt, nước phèn Vùng đồng bằng có một hệ thống sông rạch chằng chịt dài hàng ngàn km và hai mặt giáp biển Đông và biển Tây dài hơn 600 km Do địa thế nằm ở vùng cuối hạ lưu, toàn bộ dòng chảy lũ từ thượng nguồn tràn về vùng ĐBSCL qua hai nhánh sông Tiền, sông Hậu và phần tràn bờ chảy trên đất liền vượt biên giới giữa Campuchia và Việt Nam làm ngập nhiều vùng đất trũng, chủ yếu là vùng Tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, vùng Đồng Tháp Mười và vùng trũng giữa hai nhánh sông Tiền và sông Hậu Mùa lũ bắt đầu từ tháng 7, gia tăng dần từ tháng 8 – 9, cao điểm vào tháng 10 và giảm dần vào tháng 11 - 12 Bình quân vào mùa mưa, lưu lượng lũ cao nhất là 139.000 m3/giây, gây ngập từ 1,2 đến 1,9 triệu ha

Mỗi năm, vùng ĐBSCL cung cấp hơn 50% sản lượng lúa, 65% lượng thủy sản và 75% lượng cây ăn trái cho cả nước Mỗi năm vùng ĐBSCL cung cấp cho thế giới hơn 2 triệu tấn gạo xuất khẩu, chiếm 90% lượng gạo bán ra thế giới của Việt nam Hầu hết người dân vùng ĐBSCL sống dọc theo các bờ sông rạch và tuyến giao thông, sinh hoạt và sản xuất của cư dân phụ thuộc lớn vào dòng chảy sông Cửu Long Tuy là nơi sản xuất nông ngư nghiệp lớn, vùng ĐBSCL vẫn còn là một khu vực có mức GDP thấp, GDP bình quân đầu người năm 2007 là 9,47 triệu đồng, tương đương 591 USD, đạt tốc độ tăng trưởng GDP là 12,34%, trình độ dân trí còn kém, thiếu thốn về cơ sở hạ tầng, nhà cửa tạm bợ

Trang 34

Thành phố Cần Thơ được công nhận là đô thị loại I trực thuộc Trung ương vào ngày 24 tháng 6 năm 2009 theo Quyết định số 889/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Đây là một thành phố tương đối trẻ nằm dọc theo bờ Tây của sông Hậu, khu vực trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long, tọa độ 10o2’N 105o47’E và 10,033oN 105,783oE, giáp với 5 tỉnh: phía Đông giáp Vĩnh Long và Đồng Tháp, phía Bắc giáp An Giang, phía Tây giáp Kiên Giang và phía Nam giáp với Hậu Giang Khoảng cách giữa thành phố Cần Thơ và các đô thị khác trong vùng như sau: Long Xuyên 60 km, Rạch Giá 116 km, Cà Mau 179 km Riêng thành phố Hồ Chí Minh và biển Đông lần lượt cách Cần Thơ 169 km và 75 km Tổng diện tích tự nhiên của thành phố: 140.895 ha (năm 2010) chia thành chín quận, huyện và 85 phường, xã Có năm quận nội thành bao gồm: Cái Răng, Ninh Kiều, Bình Thủy, Ô Môn và Thốt Nốt và bốn huyện ngoại thành bao gồm: Phong Điền, Thới Lai, Cờ Đỏ

và Vĩnh Thạnh.Với vị trí nằm trung tâm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), là thành phố cửa ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mê Kông, là địa bàn trọng điểm giữ vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh của vùng ĐBSCL và cả nước

Nằm trong vùng đồng bằng, địa hình thành phố Cần Thơ nhìn chung khá bằng phẳng với độ cao thay đổi từ 0,5 - 1,8 m, phổ biến từ 0,8 - 1,2 m và có xu hướng nghiêng nhẹ từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo dòng chảy của sông Hậu và

từ Đông Bắc xuống Tây Nam theo hướng cắt ngang sông Hậu Về tổng thể, địa hình của thành phố chia thành 2 vùng:

 Vùng đất cao nằm ven sông Hậu có cao trình 1,0 - 1,5 m, thấp dần về phía nội đồng, vùng ven lộ Cái Sắn có độ cao trên dưới 0,8 m, thấp dần đến vùng giữa Thốt Nốt, Ô Môn (nông trường Sông Hậu) cao trình chỉ còn 0,5 m

Hình 2.1 Bản đồ vị trí thành phố Cần Thơ trong vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

Trang 35

 Vùng đất thấp nằm về phía giáp ranh Kiên Giang thuộc khu vực huyện Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Thới Lai và một phần diện tích khu vực phía Đông Nam thuộc Quận Cái Răng và huyện Phong Điền, cao trình phổ biến từ 0,5 - 0,8 m Về chi tiết, chia theo dạng địa hình, phần lớn diện tích đất của thành phố Cần Thơ phân bố trên 3 dạng địa hình chính là trung bình, trung bình cao và trung bình thấp với diện tích 133.065 ha (chiếm 85,87% so với tổng diện tích tự nhiên), trong đó ở địa hình trung bình là 56.076 ha (40,03%), ở địa hình trung bình thấp: 38.809 ha (27,70%) và ở địa hình trung bình cao: 25.409 ha (18,14%); còn lại ở địa hình cao: 7.579 ha (5,41%)

 So với các tỉnh lân cận, lượng mưa tại TP Cần Thơ ở vào mức trung bình (1.635 mm/năm) và chia làm 2 mùa rõ rệt, trong đó mùa mưa đạt 1.512 mm, chiếm 92% lượng mưa cả năm và mùa khô đạt 123 mm, chỉ chiếm 8% lượng mưa cả năm, dẫn tới mùa mưa thường bị ngập úng ở các khu vực địa hình thấp và mùa khô thường thiếu nước cho canh tác, nhưng nhờ có nguồn nước tưới chủ động từ sông Hậu, nên rất thuận lợi cho thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng, có thể đáp ứng nhu cầu nông sản hàng hóa chính như lúa gạo, trái cây, rau đậu, thủy sản gần như quanh năm Đặc biệt là sản xuất nông nghiệp khá ổn định như không có thiên tai (giông, bão, lũ) nghiêm trọng

2.5.1.2 Chế độ thủy văn và tình trạng ngập lũ nội đồng

cm, có thể lợi dụng thủy triều để tưới tiêu tự chảy cho cây trồng, cấp thoát nước cho nuôi thủy sản gần như toàn bộ diện tích của vùng Tuy nhiên, vào cuối mùa khô,

Ngày đăng: 21/09/2015, 19:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Bản đồ vị trí thành phố Cần Thơ trong vùng Đồng bằng Sông Cửu Long - khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân hai phường trường lạc và phước thới, quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 2.1 Bản đồ vị trí thành phố Cần Thơ trong vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (Trang 34)
Hình 2.2 Bản đồ vị trí quận Ô Môn, TP Cần Thơ - khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân hai phường trường lạc và phước thới, quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 2.2 Bản đồ vị trí quận Ô Môn, TP Cần Thơ (Trang 37)
Hình 2.3 Bản đồ vị trí phường Trường Lạc, quận Ô Môn, TP Cần Thơ - khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân hai phường trường lạc và phước thới, quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 2.3 Bản đồ vị trí phường Trường Lạc, quận Ô Môn, TP Cần Thơ (Trang 38)
Hình 2.4 Bản đồ vị trí phường Phước Thới, quận Ô Môn, TP Cần Thơ - khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân hai phường trường lạc và phước thới, quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 2.4 Bản đồ vị trí phường Phước Thới, quận Ô Môn, TP Cần Thơ (Trang 39)
Hình 4.1 Tỷ lệ phần trăm về giới tính của chủ hộ được khảo sát - khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân hai phường trường lạc và phước thới, quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 4.1 Tỷ lệ phần trăm về giới tính của chủ hộ được khảo sát (Trang 43)
Hình 4.2 Tỷ lệ phần trăm trình độ học vấn của chủ hộ tại vùng khảo sát - khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân hai phường trường lạc và phước thới, quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 4.2 Tỷ lệ phần trăm trình độ học vấn của chủ hộ tại vùng khảo sát (Trang 44)
Hình 4.4 Tỷ lệ phân bố nhà và đất canh tác của các hộ dân trong vùng khảo sát - khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân hai phường trường lạc và phước thới, quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 4.4 Tỷ lệ phân bố nhà và đất canh tác của các hộ dân trong vùng khảo sát (Trang 45)
Hình 4.5 Tỷ lệ xếp loại thu nhập hộ các hộ dân được phỏng vấn trong vùng khảo sát - khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân hai phường trường lạc và phước thới, quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 4.5 Tỷ lệ xếp loại thu nhập hộ các hộ dân được phỏng vấn trong vùng khảo sát (Trang 46)
Hình 4.6 Tỷ lệ về các nguồn thu nhập chính của các hộ dân trong vùng khảo sát - khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân hai phường trường lạc và phước thới, quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 4.6 Tỷ lệ về các nguồn thu nhập chính của các hộ dân trong vùng khảo sát (Trang 47)
Hình 4.7 Tỷ lệ về sở hữu đất canh tác riêng của các hộ dân trong vùng khảo sát - khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân hai phường trường lạc và phước thới, quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 4.7 Tỷ lệ về sở hữu đất canh tác riêng của các hộ dân trong vùng khảo sát (Trang 48)
Hình 4.8 Biểu đồ thể hiện diện tích các loại đất của người dân trong vùng khảo sát - khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân hai phường trường lạc và phước thới, quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 4.8 Biểu đồ thể hiện diện tích các loại đất của người dân trong vùng khảo sát (Trang 49)
Hình 4.11 Tỷ lệ đánh giá về yếu tố lũ - khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân hai phường trường lạc và phước thới, quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 4.11 Tỷ lệ đánh giá về yếu tố lũ (Trang 51)
Hình 4.13 Tỷ lệ đánh giá về xu hướng thay đổi - khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân hai phường trường lạc và phước thới, quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 4.13 Tỷ lệ đánh giá về xu hướng thay đổi (Trang 52)
Hình 4.17 Biểu đồ thể hiện mức ngập trên cơ sở hạ tầng nông thôn và đất canh tác - khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân hai phường trường lạc và phước thới, quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 4.17 Biểu đồ thể hiện mức ngập trên cơ sở hạ tầng nông thôn và đất canh tác (Trang 53)
Hình 4.18 Giải pháp giảm thiểu thiệt hại do lũ gây ra đối với các loại vật nuôi hay cây trồng - khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân hai phường trường lạc và phước thới, quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 4.18 Giải pháp giảm thiểu thiệt hại do lũ gây ra đối với các loại vật nuôi hay cây trồng (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w