Theo Khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003: “Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hàn
Trang 1HỖ TRỢ TƯ PHÁP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA
TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
LỚP: LUẬT THƯƠNG MẠI 1 KHÓA 36
C T , tháng 11/2013
Trang 2GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân SVTH: Lê Thị Kim Ngọc
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3
GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân SVTH: Lê Thị Kim Ngọc
NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
Trang 4
GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân SVTH: Lê Thị Kim Ngọc
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do c ọ đề tài 1
2 P vi i c u 2
3 Mục đíc i c u 2
4 P ư p áp i c u 2
5 Bố cục của luậ vă 3
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GI I QUY T TRANH CHẤP B NG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ HỖ TRỢ TƯ PHÁP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 4
1.1 K ái quát c u về trọ tài t ư i 4
Kh i niệm trọng tài thương mại 4
2 Đặc điểm trọng tài thương mại 4
3 Phân loại trọng tài thương mại 6
1.2 K ái quát c u về i i qu t tra c p Trọ tài t ư i 9
2 Lược s h nh thành và ph t triển của phương th c gi i quy t tranh chấp ng Trọng tài thương mại 9
9
13
2.2 Kh i niệm ưu điểm và vai tr của phương th c gi i quy t tranh chấp ng Trọng tài thương mại 14
1.2.2
14
15
1.2.2.3
17
1.3 K ái quát về ỗ trợ tư p áp 19
3 Kh i niệm hỗ trợ tư ph p 19
3.2 C c iện ph p tư ph p hỗ trợ 19
3.3 Sự cần thi t ph i hỗ trợ tư ph p đối với hoạt động của trọng tài thương mại 20
3.4 Cơ quan tư ph p có thể hỗ trợ 21
Trang 5GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân SVTH: Lê Thị Kim Ngọc
CHƯƠNG 2 : QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ TƯ PHÁP ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 23
2.1 S ỗ trợ của T a á 23
2 T a n hỗ trợ Trọng tài thương mại trong việc p ng c c iện ph p h n cấp tạm th i 23
ẩ ờ 23
ẩ ờ 24
2 .2 Sự hỗ trợ của T a n trong việc ch định và thay đ i trọng tài viên 26
2.1.2.1 26
2.1.2.2 28
2 .3 T a n hỗ trợ đối với đăng ph n quy t trọng tài v việc 29
2.1.4 T a n hỗ trợ trong việc triệu tập nhân ch ng và thu thập ch ng c 30
30
31
2 .5 T a n hỗ trợ trong việc m t th a thuận trọng tài v hiệu và c định th m quyền gi i quy t tranh chấp của Hội đ ng trọng tài 32
2 .6 T a n m t hủy ph n quy t trọng tài 35
2.2 S ỗ trợ của C qua t i à á 37
2.2 Cơ quan thi hành n hỗ trợ việc thi hành quy t định p ng iện ph p h n cấp tạm th i 37
2.2.2 Cơ quan thi hành n hỗ trợ việc thi hành ph n quy t trọng tài 38
2.2.2.1 K ề s 38
C 39
CHƯƠNG 3 : THỰC TIỄN VÀ GI I PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ TƯ PHÁP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 41
3.1 T c ti và ột số t cập tro vi c áp dụ các qu đ của Luật trọ tài t ư i ă 2010 41
3 Thực tiễn trong việc p ng Luật trọng tài thương mại 41
3 .2 Một số ất cập trong quy định của Luật trọng tài thương mại về sự hỗ trợ đối với hoạt động của trọng tài thương mại 43
3 ề ẩ ờ 43
3 ề ố 46
3 3 ề ề 47
Trang 6GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân SVTH: Lê Thị Kim Ngọc
3 ề ề xe xé ỏ ẩ ề
Hộ ồ 47
3 5 ề ề 49
3.2 Gi i p áp cao vai tr của Trọ tài t ư i tro vi c i i qu t tra c p t ư i t qua o t độ ỗ trợ tư p áp của c qua tư p áp 50
3.2 Gi i ph p chung 51
3.2.2 Gi i ph p c thể 53
3 Q ề ẩ ờ ……… 53
3 Q ề ố
54
3 3 Q ề 55
3 Q ề xe xé ỏ ẩ ề Hộ ồ 55
3 5 Q ề ề 56
K T LUẬN 57 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KH O
Trang 7GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do c ọ đề tài
Trọng tài thương mại không phải là một hình thức giải quyết tranh chấp mới xuất hiện trong nền kinh tế Việt Nam Từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, trọng tài đã xuất hiện dưới tên gọi “trọng tài kinh tế” Tuy nhiên, ở nước ta, khái niệm trọng tài thương mại vẫn là một khái niệm xa lạ Số vụ tranh chấp được đưa ra Trung tâm trọng tài thương mại khá ít Thực trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, trọng tài thương mại chưa nhận được sự đánh giá cao từ giới doanh nhân Việt Nam Theo khảo sát của Bộ Tư pháp, phương thức giải quyết tranh chấp mà họ ưu tiên chọn lựa là thương lượng (57,8%), Toà án (46,8%), hoà giải (22,8%) và cuối cùng là trọng tài (16,9%)1 Có một số nguyên nhân như: doanh nghiệp chưa tin tưởng trọng tài, hoặc chưa biết đến phương thức này; hệ thống tổ chức trọng tài thương mại hiện nay còn khá thưa thớt với chưa đến mười trung tâm trọng tài (cụ thể là 9 trung tâm) và không phải trung tâm nào cũng hoạt động hiệu quả; đội ngũ trọng tài viên với số lượng hạn chế và một số nguyên nhân khác Trong đó, không thể không kể đến nguyên nhân xuất phát từ bản chất của trọng tài Trọng tài là tổ chức xã hội nghề nghiệp có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại Trọng tài không phải là cơ quan xét xử của Nhà nước như toà án Do vậy, khi giải quyết tranh chấp, trọng tài không nhân danh quyền lực nhà nước
mà nhân danh công bằng, lẽ phải, nhân danh công lý để ra các phán quyết Hoạt động trọng tài mang tính “quyền lực tư” nhiều hơn Chính vì vậy, khi giải quyết tranh chấp, nhiều khi trọng tài gặp khó khăn Ví dụ, khi phán quyết trọng tài không được một bên tự nguyện thi hành thì trung tâm trọng tài không có thẩm quyền cưỡng chế thi hành phán quyết đó Do đó,
sự hỗ trợ của các cơ quan tư pháp đối với hoạt động trọng tài là hết sức cần thiết Giải quyết tranh chấp bằng hình thức trọng tài thương mại đang được khuyến khích Bởi lẽ, đây là phương án vừa tiết kiệm thời gian (do thủ tục đơn giản hơn giải quyết tại tòa án) vừa hiệu quả, lại bảo đảm được bí mật kinh doanh và giữ uy tín cho các doanh nghiệp (xuất phát từ nguyên tắc xét xử không công khai của trọng tài thương mại)
1 Theo trang thông tin điện tử: Trọng tài thương mại: Quá trình hội nhập và phát triển
http://www.hcmcbar.org/NewsDetail.aspx?CatPK=4&NewsPK=296, [ngày truy cập 02-8-2013]
Trang 8GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân
Nghiên cứu những quy định của pháp luật về trọng tài thương mại nhằm tìm ra những nhược điểm và đưa ra phương hướng hoàn thiện là một vấn đề cấp thiết, để hoạt động trọng tài mang lại hiểu quả tối ưu nhất, góp phần quan trọng giảm tải công việc cho các tòa án Vì những lý do trên, người viết quyết định chọn đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hỗ trợ tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại” để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình
Kết hợp với nghiên cứu và phân tích sách báo, tạp chí luật học, trang thông tin điện tử
để tìm hiểu những quy định của pháp luật về hỗ trợ tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại
Trang 9GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân
5 Bố cục của luậ vă
Đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hỗ trợ tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại” ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục thì gồm
có 3 chương:
- C ư 1: K ái quát c u về i i qu t tra c p trọ tài t ư i
và ỗ trợ tư p áp đối với o t độ của trọ tài t ư i Chương này đưa ra cái
nhìn khái quát về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại và sự cần thiết của hỗ trợ
tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại
- C ư 2: C sở lý luậ và p áp lý về ỗ trợ tư p áp đối với o t độ của trọ tài t ư i Chương này nêu lên những quy định của pháp luật về hỗ trợ tư pháp của cơ
quan tư pháp (tòa án và cơ quan thi hành án) đối với hoạt động của trọng tài thương mại
- C ư 3: T c ti và i i p áp oà t i các qu đ của p áp luật về ỗ trợ
tư p áp đối với o t độ của trọ tài t ư i Chương này nêu lên một số thực tiễn
trong viêc áp dụng Luật trọng tài thương mại năm 2010 Đồng thời, đưa ra một số giải pháp nâng cao vai trò của trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp
Trang 10CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GI I QUY T TRANH CHẤP B NG
TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ HỖ TRỢ TƯ PHÁP ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
1.1 K ái quát c u về trọ tài t ư i
Kh i niệm trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp được áp dụng nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có thỏa thuận trọng tài Trọng tài là bên trung gian thứ ba được các bên tranh chấp chọn ra để giúp các bên giải quyết những xung đột, bất đồng giữa họ trên cơ sở đảm bảo quyền tự định đoạt giữa các bên Cũng có thể hiểu đây
là hình thức tài phán mà quyền lực của nó được tạo nên bởi chính các bên trong quan hệ tranh chấp thông qua thỏa thuận trọng tài
Theo Khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003: “Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do Pháp lệnh này quy định.” Còn trong Luật trọng tài thương mại năm 2010 tại Khoản 1 Điều 3: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này.”
Như vậy, theo quy định của Luật trọng tài thương mại năm 2010 thì khái niệm trọng tài thương mại được hiểu theo nghĩa rộng hơn, không chỉ dừng lại ở việc giải quyết “các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại” như trong Pháp lệnh trọng tài thương mại mà trọng tài cũng giải quyết các tranh chấp khác nếu như các bên có thỏa thuận và thỏa mãn các điều kiện được quy định tại Điều 5 Luật trọng tài thương mại năm 2010 Tóm lại, có thể nhìn nhận trọng tài thương mại với hai tư cách: là phương thức giải quyết tranh chấp và là cơ quan giải quyết tranh chấp
2 Đặc điểm trọng tài thương mại
Với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, trọng tài có những đặc điểm sau:
, trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba,
là một trọng tài viên duy nhất hay Hội đồng trọng tài Trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp sẽ hoàn toàn độc lập với các bên, đưa ra phán quyết có tính bắt buộc bảo vệ quyền lợi các bên và đảm bảo sự công
Trang 11bằng với tư cách là “người cầm cân nảy mực”, không bên vực hay nghiêng lý lẽ về bên nào
, trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua một thủ tục tố tụng
chặt chẽ Đối với trọng tài thường trực, trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài viên và các bên tranh chấp phải tuân thủ đúng trình tự tố tụng mà pháp luật trọng tài, điều
lệ và quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài đó quy định Còn đối với trọng tài vụ việc, các bên có thể thỏa thuận thủ tục tố tụng riêng Ngoài ra, các trọng tài viên và các bên cũng phải tuân thủ đúng thủ tục tố tụng trọng tài mà mình đặt ra
, kết quả giải quyết tranh chấp tại trọng tài là phán quyết do trọng tài tuyên
bố với các bên đương sự của vụ tranh chấp Phán quyết của trọng tài mang tính chung thẩm, vừa kết hợp yếu tố thỏa thuận (các bên đương sự có thể thỏa thuận về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp, luật áp dụng đối với các cụ tranh chấp ), vừa kết hợp yếu tố tài phán (có giá trị bắt buộc với các bên)
Với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, trọng tài có những đặc điểm sau:
, trọng tài là một tổ chức xã hội – nghề nghiệp do các trọng tài viên tự
thành lập nên để giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại Trọng tài không phải là cơ quan xét xử của Nhà nước, không do Nhà nước thành lập, không hoạt động bằng ngân sách của Nhà nước Các trọng tài viên không phải là viên chức Nhà nước, không do Nhà nước bổ nhiệm và cũng không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Do đó, khi xét xử, trọng tài không nhân danh Nhà nước để ra phán quyết, càng không chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước Nhà nước không can thiệp sâu vào các hoạt động của trọng tài, nhưng sẽ thực hiện vai trò quản lý của mình thông qua hệ thống các quy định pháp luật, cũng như những tác động khác như tham gia điều ước quốc tế, đào tạo, hỗ trợ kinh phí và cơ sở vật chất…
, quyền lực của trọng tài xuất phát từ sự thỏa thuận của các bên chủ thể
tranh chấp đối với trọng tài Trong tố tụng trọng tài, trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp khi các bên tranh chấp có thỏa thuận lựa chọn giải quyết bằng trọng tài thương mại Nếu không có thoả thuận trọng tài trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp
về việc lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp cho mình hoặc có nhưng thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì trọng tài không có thẩm quyền giải quyết Chính các chủ thể tranh chấp, với việc lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp cho mình đã trao quyền lực xét xử cho trọng tài Nói cách khác, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhân danh ý chí tối cao của chủ thể tranh chấp chứ không nhân danh quyền lực Nhà nước
Trang 12, phán quyết của trọng tài vừa là sự kết hợp ý chí, sự thỏa thuận giữa các bên,
vừa mang tính tài phán của cơ quan có thẩm quyền xét xử Tuy nhiên, do trọng tài không phải là cơ quan xét xử của Nhà nước như tòa án nên phán quyết của trọng tài không mang tính quyền lực Nhà nước Phán quyết trọng tài chỉ có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp mà không có giá trị ràng buộc đối với bên thứ ba Ngay cả khi có một bên tranh chấp không tôn trọng phán quyết, không tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài thì trọng tài cũng không có cơ sở pháp lý nào để căn cứ cưỡng chế thi hành Phán quyết trọng tài được thi hành trên cơ sở tự nguyện của các bên hoặc nhờ đến sự hỗ trợ của cơ quan Nhà nước để cưỡng chế thi hành
, phán quyết của trọng tài thương mại có giá trị chung thẩm và không thể
kháng cáo trước bất kì cơ quan, tổ chức nào Trọng tài chỉ xét xử một lần và phán quyết
có giá trị chung thẩm Nếu không bị hủy thì phán quyết được chuyển sang ngay cơ quan thi hành án Đó chính là lý do doanh nghiệp thường lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vì tranh chấp được giải quyết rất nhanh chóng Hai bên có thể thỏa thuận yêu cầu trọng tài giải quyết trong một vài tháng, còn nếu đưa ra tòa án thời gian có thể hơn nhiều lần
Như vậy, với tư cách là một cơ quan tài phán, trọng tài tồn tại độc lập, song song với tòa án và có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khi được các chủ thể tranh chấp lựa chọn
3 Phân loại trọng tài thương mại
Kể cả khi các bên đã có thỏa thuận trọng tài từ trước hay khi tranh chấp đã phát sinh
và các bên quyết định sẽ đưa tranh chấp giải quyết tại trọng tài, việc đầu tiên phải thống nhất là hình thức trọng tài được lựa chọn Các bên tham gia tranh chấp có thể thỏa thuận
sử dụng hình thức trọng tài vụ việc hoặc trọng tài thường trực
( – , Hộ ồ )
Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài đươc lập ra theo yêu cầu của các đương sự
để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể Hình thức trọng tài này chỉ tồn tại và hoạt động trong thời gian giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên Trọng tài sẽ tự giải thể khi giải quyết xong vụ tranh chấp đó
Trọng tài vụ việc chỉ tồn tại với tính chất lâm thời, không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành cố định và không có danh sách trọng tài viên riêng Trọng tài viên được các bên lựa chọn hoặc chỉ định có thể là người có tên trong danh sách trọng tài viên hoặc không nằm trong danh sách trọng tài viên của bất kỳ trung tâm trọng tài nào Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng riêng cho mình mà quy tắc tố tụng để giải quyết vụ tranh chấp được các bên thỏa thuận xây dựng Tuy nhiên, nhằm tránh lãng
Trang 13phí thời gian và công sức để xây dựng quy tắc tố tụng cho mình, các bên tranh chấp có thể thỏa thuận lựa chọn bất kỳ một quy tắc tố tụng nào Thông thường các doanh nghiệp thường lựa chọn các quy tắc tố tụng của các Trung tâm trọng tài có uy tín trong nước cũng như nước ngoài
Khi tiến hành xét xử, hội đồng trọng tài không bị lệ thuộc vào bất kì quy tắc tố tụng nào Tuy nhiên phải đảm bảo nguyên tắc xét xử khách quan, vô tư và đúng pháp luật Hoạt động của trọng tài vụ việc rất linh hoạt, phù hợp với những tranh chấp đơn giản Trọng tài viên do các đương sự thỏa thuận lựa chọn không bị giới hạn bởi các trọng tài viên sẵn có Thông thường trọng tài viên được chọn có thể là các thương gia có tu nghiệp pháp lí hoặc các luật sư làm việc cho các công ty
Ưu điểm của trọng tài vụ việc là giải quyết vụ tranh chấp được giải quyết trong thời gian nhanh và chi phí cho tố tụng trọng tài thấp do việc thành lập dễ dàng và quy tắc hoạt động đơn giản Trọng tài vụ việc thường được thành lập khi tranh chấp đã xảy ra cho nên thường phù hợp với tính chất, điều kiện cụ thể của tranh chấp và quyền tự định đoạt của các bên cũng lớn hơn Tuy nhiên, trọng tài vụ việc cũng có những hạn chế nhất định Hạn chế lớn nhất là phải phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của các bên Nếu một bên không
có thiện chí, quá trình tố tụng sẽ luôn có nguy cơ bị trì hoãn và nhiều khi không thể thành lập được Hội đồng Trọng tài bởi vì không có quy tắc tố tụng nào được áp dụng Mặt khác, do tính không ổn định và không có quy chế hoạt động chặt chẽ nên hiệu quả giải quyết các vụ tranh chấp không cao
( ờ )
Ở các nước trên thế giới, trọng tài quy chế thường được tổ chức dưới những hình thức đa dạng như: các trung tâm trọng tài (Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông, Trung tâm trọng tài quốc tế Singapore), các hiệp hội trọng tài (Hiệp hội trọng tài Nhật Bản, Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ)2 hay các viện trọng tài (Viện trọng tài Stockholm – Thụy Điển) nhưng chủ yếu là được tổ chức dưới dạng các trung tâm trọng tài
Khác với trọng tài vụ việc, trọng tài quy chế luôn tồn tại không phụ thuộc vào vụ tranh chấp của các bên Trọng tài thường trực có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, hoạt động thường xuyên, có trụ sở cố định, có danh sách trọng tài viên và hoạt động theo điều lệ riêng
Với tư cách là cơ quan tài phán thương mại trọng tài quy chế có một số đặc trưng sau đây:
Trang 14, trung tâm trọng tài là các tổ chức phi Chính phủ, không nằm trong hệ
thống cơ quan Nhà nước Các trung tâm trọng tài được thành lập theo quyết định của các trọng tài viên sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chứ không phải được thành lập bởi cơ quan Nhà nước Do đó, chúng không nằm trong hệ thống cơ quan quản lí nhà nước cũng không thuộc hệ thống cơ quan xét xử Nhà nước Hoạt động của các trung tâm trọng tài theo nguyên tắc tự trang trải mà không được cấp kinh phí từ ngân sách Nhà nước Trọng tài viên duy nhất hoặc hội đồng trọng tài không nhân danh quyền lực nhà nước mà nhân danh người thứ ba độc lập ra phán quyết Đây chính là sự khác biệt
cơ bản giữa trung tâm trọng tài với tòa án và trọng tài kinh tế Nhà nước trước đây
, các trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân, tồn tại độc lập với nhau
Giữa các trung tâm trọng tài không tồn tại quan hệ phụ thuộc cấp trên cấp dưới
, tổ chức và quản lí ở trung tâm trọng tài rất đơn giản, gọn nhẹ Cơ cấu của
trung tâm trọng tài gồm có ban điều hành và các trọng tài viên của trung tâm Cụ thể, trung tâm trọng tài có ban điều hành bao gồm có chủ tịch, một hoặc các phó chủ tịch và
có thể có tổng thư kí do các chủ tịch trung tâm trọng tài cử ra Các trọng tài viên trong danh sách trung tâm trọng tài có thể tham gia vào việc giải quyết tranh chấp khi được chọn hoặc chỉ định và hưởng lương theo vụ việc Nguồn thu chủ yếu của trung tâm trọng tài là từ lệ phí trọng tài khi được yêu cầu giải quyết tranh chấp
, mỗi trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và các quy tắc
tố tụng riêng trên cơ sở những quy định của pháp luật trọng tài Việc xây dựng quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài thường dựa trên cơ sở một bản quy tắc tố tụng trọng tài hay một số công ước quốc tế có liên quan cũng như bản quy tắc tố tụng của một số trung tâm trọng tài quốc tế có uy tín
, hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài được tiến hành bởi các trọng tài
viên của trung tâm Việc chọn hoặc chỉ định trọng tài viên tham gia giải quyết tranh chấp chỉ được giới hạn trong danh sách trọng tài viên của trung tâm Vì vậy, hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài chỉ được tiến hành bởi các trọng tài viên của chính trung tâm đó Như vậy, so với trọng tài vụ việc, trọng tài quy chế có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có trụ sở ổn định, có danh sách trọng tài viên, Điều lệ hoạt động và quy tắc tố tụng riêng Trọng tài quy chế được điều hành bởi các trọng tài viên là các chuyên gia giàu kinh nghiệm và vững vàng về chuyên môn Do đó, có thể hạn chế tối đa các sai sót có thể xảy
ra Tuy nhiên, trọng tài quy chế cũng có những hạn chế nhất định như chi phí trọng tài cao hơn so với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việc; quy tắc tố tụng được quy định sẵn nên đôi khi không phù hợp với từng vụ tranh chấp cụ thể; trọng tài viên là những người được quy định sẵn trong danh sách trọng tài viên của trung tâm trọng tài nên
Trang 15các chủ thể tham gia tranh chấp không thể lựa chọn một trọng tài viên ở ngoài Vì thế đã phần nào hạn chế quyền tự định đoạt của đương sự
Tóm lại, trọng tài vụ việc và trọng tài quy chế là hai hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được sử dụng phổ biến Mỗi hình thức đều tồn tại những ưu điểm và hạn chế nhất định bắt nguồn từ chính bản chất của nó Tùy từng vụ tranh chấp cụ thể, các bên tranh chấp có thể lựa chọn hình thức trọng tài nào là thực sự phù hợp để giải quyết tranh chấp cho mình
1.2 K ái quát c u về i i qu t tra c p Trọ tài t ư i
2 Lược s h nh thành và ph t triển của phương th c gi i quy t tranh chấp
ng Trọng tài thương mại
Giai đoạn trước khi có Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003
Trong lịch sử pháp luật dân sự Việt Nam, trọng tài đã được biết đến như là một bộ phận của các thiết chế giải quyết các tranh chấp thương mại bởi sự hiện diện các tòa án thương mại và các quy tắc trọng tài trong luật tố tụng dân sự ở nước ta vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, do nhiều lý do và hoàn cảnh khác nhau, khái niệm trọng tài chưa được biết đến một cách phổ biến ở Việt Nam3 Từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, trọng tài được biết đến dưới tên gọi trọng tài kinh tế
Trọng tài kinh tế xuất hiện và phát triển cùng với sự ra đời của chế độ hợp đồng kinh tế Ngày 14/11/1960, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/TTg về Tổ chức Trọng tài kinh tế Nhà nước
Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trọng tài kinh tế cũng đã được ban hành kèm theo Nghị định số 75-CP ngày 14/04/1975
Tiếp theo đó, Nghị định số 24/HĐBT ngày 10/08/1981 của Hội đồng Bộ trưởng, Hội đồng Trọng tài kinh tế được thống nhất tên gọi là Trọng tài kinh tế, ngạch Trọng tài viên được xác lập
Ngày 17/04/1984, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 62/HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trọng tài kinh tế bộ, tỉnh, huyện
3
Đào Trí Úc – Những vấn đề cơ bản của Luật trọng tài thương mại, Tạp chí Nhà nước và pháp luật Số 1/2010, trang
7
Trang 16Ngày 10/01/1990, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh về Trọng tài kinh tế quy định tổ chức, phân cấp thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế
Như vậy, Trọng tài kinh tế là cơ quan thuộc hệ thống cơ quan chấp hành và điều hành của Nhà nước (Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân các cấp), có chức năng quản
lý nhà nước đối với công tác hợp đồng kinh tế Nét đặc thù của Trọng tài kinh tế thể hiện
ở chỗ, hoạt động giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế cũng chính là phương tiện để đạt được mục đích trực tiếp điều hành, tổ chức các quan hệ kinh tế
Bên cạnh trọng tài kinh tế nhà nước, vào giai đoạn này ở Việt Nam còn tồn tại trọng tài phi chính phủ Năm 1963, Hội đồng trọng tài ngoại thương ra đời Hội đồng trọng tài ngoại thương được thành lập với chức năng xét xử những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng ngoại thương với một pháp nhân hay thể nhân nước ngoài Tiếp sau đó là sự ra đời của Hội đồng trọng tài hàng hải năm 1964 Hội đồng hàng hải có chức năng xét xử những tranh chấp phát sinh từ vận tải biển quốc tế liên quan đến một bên nước ngoài
Khi đất nước chuyển sang cơ chế kinh tế mới thì Trọng tài kinh tế với chức năng là một cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước tỏ ra không còn phù hợp Sự phát triển đa dạng các loại hình kinh tế cùng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế có hình thức
sở hữu khác nhau dẫn đến sự thay đổi cả về hình thức, tính chất của tranh chấp và đi liền với nó là nội dung tranh chấp Do vậy, phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế cũng đòi hỏi phải đổi mới Chính vì thế, từ ngày 28/12/1993, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Tòa kinh tế chuyên trách được hình thành trong
hệ thống Tòa án nhân dân với chức năng giải quyết các vụ tranh chấp kinh tế Đồng thời,
hệ thống trọng tài kinh tế được giải thể
Trước những đòi hỏi khách quan về đa dạng hoá các hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh phù hợp với đặc điểm của cơ chế thị trường, cũng như góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế, ngày 05/09/1994, Chính phủ đa ban hành Nghị định số 116-CP về tổ chức và hoạt động của các Trung tâm Trọng tài kinh tế Theo các quy định của Nghị định này, cụ thể tại Điều 1, thì “Trọng tài kinh tế là tổ chức xã hội
- nghề nghiệp có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế; các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau, liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu” Trọng tài kinh tế hoàn toàn được tách rời với chức năng quản lý Nhà nước như trước đây
Như vậy, tính đến thời điểm này tồn tại 2 mô hình trọng tài phi chính phủ, hoạt động theo 2 văn bản khác nhau Cụ thể, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (trên cơ sở hợp nhất Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải) hoạt động theo Quyết định số 204/TTg
Trang 17Đồng thời cũng có 5 trung tâm trọng tài được thành lập theo Nghị định 116/CP Các trung tâm này chỉ chịu sự điều chỉnh của Nghị định 116/CP
Các văn bản pháp luật nêu trên đều có hiệu lực pháp lý thấp, nội dung văn bản còn
có nhiều điểm bất cập, thiếu đồng bộ và chưa có cơ chế đảm bảo cần thiết để trọng tài được vận hành có hiệu quả, khiến các doanh nghiệp không tin tưởng lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp
Giai đoạn từ khi Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 có hiệu lực
Sau gần 10 năm thực hiện Nghị định 116-CP, đã có 6 Trung tâm trọng tài được thành lập với hơn 130 trọng tài viên Các trung tâm trọng tài đã thể hiện những vai trò nhất định trong giải quyết các tranh chấp thương mại Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan và khái quát thì trọng tài chưa thể hiện được vai trò của mình với chức năng
là một cơ quan tài phán có vai trò hỗ trợ đắc lực cho Toà án trong việc giải quyết tranh chấp Đồng thời, qua quá trình hoạt động, các trung tâm này cũng đã thể hiện những bất cập của pháp luật Việt Nam như: điều chỉnh không toàn diện, thiếu các quy định cụ thể, một số nội dung lạc hậu không phù hợp với thực tiễn và các quy định của pháp luật thế giới Đặc biệt trong giai đoạn này, hình thức trọng tài vụ việc chưa được quy định
Nhằm khắc phục những hạn chế trên, đáp ứng yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng tăng cũng như phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 25/03/2003 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 08/2003/PL-UBTVQH về trọng tài thương mại và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2003 Sự ra đời của pháp lệnh đã đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật nước ta về trọng tài thương mại Nếu trước đây hoạt động Trọng tài được điều chỉnh tản mạn bằng các văn bản của Chính phủ như Nghị định 116-CP ngày 5-9-1994, Nghị định số 204-TTG ngày 28-4-
1993, Quyết định 114-TTG ngày 16-2-1996 hoặc trong một số các luật như Bộ luật hàng hải Việt nam 1990, Luật thương mại 1997 thì nay Pháp lệnh Trọng tài thương mại đã tạo
ra một nền tảng pháp lý thống nhất, có tính ổn định cao điều chỉnh hoạt động trọng tài Pháp lệnh đã khắc phục được những bất cập của những văn bản pháp luật về trọng tài trước đây Đồng thời đưa ra nhiều quy định mới về cơ bản phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế như hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trở thành trọng tài viên, ghi nhận trọng tài vụ việc, mở rộng một cách đáng kể thẩm quyền cho Trọng tài ở nước ta so với thẩm quyền của Trọng tài theo Nghị định 116-CP, quy định đầy đủ, rõ ràng về thoả thuận trọng tài, góp phần chấm dứt tình trạng “lấn quyền của Toà án đối với trọng tài”, ghi nhận mối quan hệ giữa trọng tài và tòa án bằng một loạt các quy định cụ thể như hỗ trợ thi hành thỏa thuận trọng tài, chỉ định trọng tài viên, giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, giải quyết yêu cầu hủy quyết định trọng tài, lưu trữ hồ sơ trọng tài…
Trang 18Pháp lệnh 2003 có những điểm mới tiến bộ như:
- ề ẩ ề : Pháp lệnh đã mở rộng thẩm quyền của trọng tài thương mại với cả
những hoạt động như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý thương mại, ký gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn, kỹ thuật, li – xăng, đầu
tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác, vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường biển, hàng không, đường sắt hoặc đường bộ và các hành vi thương mại khác4
- ề ề : Pháp lệnh đã mở rộng cơ hội để có thể trở thành trọng
tài viên là chỉ cần có bằng đại học và có thời gian công tác liên tục từ 5 năm trở lên5
- ề : Pháp lệnh đã có quy định về trọng tài vụ việc hay trọng tài
do các bên thành lập6
- ề ề : quy định tại khoản 4 Điều 26 của Pháp lệnh cho
phép các bên lựa chọn trọng tài viên hoặc do tòa án chỉ định có thể nằm trong danh sách của các trung tâm trọng tài tại Việt Nam và được lựa chọn cả trọng tài nước ngoài (chỉ áp dụng trong trọng tài vụ việc) Quy định này của Pháp lệnh đã mở rộng quyền lựa chọn trọng tài viên cho các bên tranh chấp Điều này giúp họ có thể lựa chọn trọng tài viên theo đúng với ý chí của mình
- ề ố ữ : trong Pháp lệnh 2003, trọng tài và tòa án
có mối quan hệ chặt chẽ hơn: tòa án giúp các bên lựa chọn trọng tài viên trong trường hợp cần thiết; tòa án ra quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp; tòa án giúp trọng tài lưu trữ hồ sơ; tòa án có quyền xem xét lại tính hợp pháp của thỏa thuận trọng tài và tòa án có quyền hủy quyết định trọng tài theo yêu cầu của bên không đồng ý trong trường hợp vi phạm thủ tục tố tụng trọng tài7 Điều này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với của trọng tài qua việc hỗ trợ trọng tài nhiều hơn trong quá trình giải quyết tranh chấp
- ề í ỡ : theo Điều 57 của Pháp lệnh thì
bên được thi hành có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án cấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành, thi hành phán quyết trọng tài Điều này nhằm tạo lòng tin cho các bên tranh chấp hơn về tính khả thi của phán quyết trọng tài Do đó, góp phần nâng cao chất lượng cũng như số lượng vụ việc tranh chấp được giải quyết
- ề : theo Pháp lệnh 2003 thì chỉ những địa
phương do chính phủ quy định mới được thành lập trung tâm trọng tài và Bộ trưởng Bộ
4 Điều 1 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 và Điều 5 Luật thương mại năm 1997
5 Điều 12 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003
6 Điều 19 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003
7
Khoản 1 và khoản 3 Điều 26, Điều 33, Điều 48, Điều 30, Điều 50 và Điều 54 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003
Trang 19Tư pháp có quyền quyết định thành lập các trung tâm trọng tài theo sự giới thiệu của Hội luật gia8
Tuy nhiên, bên cạnh những nét ưu việt nói trên, qua nhiều năm áp dụng, đã có nhiều quy định của Pháp lệnh bộc lộ những bất cập và không còn phù hợp với tình hình mới như: phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài, chủ thể của các tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài về mặt nội dung và hình thức, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, việc triệu tập nhân chứng, vấn đề xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, việc hủy quyết định trọng tài, vấn đề địa điểm tiến hành trọng tài, cách tính thời hiệu khởi kiện v.v…
Trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, đòi hỏi phải có hệ thống luật pháp tương đồng với các tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế Đặc biệt
là trong lĩnh vực trọng tài thương mại khi Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2010 đã có những biểu hiện lỗi thời, không còn phù hợp Mặt khác, khi kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu của các chủ thể kinh doanh và các pháp nhân muốn giải quyết vụ việc của mình một cách thuận lợi, nhanh chóng và có hiệu quả nhằm tiết kiệm tối đa thời gian và tiền bạc cũng ngày càng tăng trong khi Pháp lệnh năm 2003 chưa thật sự phát huy hết vai trò của mình
Từ những thực trạng trên đã làm nảy sinh nhu cầu cấp thiết đặt ra là cần phải khắc phục bằng việc ban hành một đạo luật mới về trọng tài thương mại để thay thế Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 trên cơ sở kế thừa những chế định tiến bộ, phù hợp với Pháp lệnh kết hợp với những quy định mới, hoàn chỉnh hơn
Ngày 17/6/2010, Luật trọng tài thương mại đã được Quốc hội hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua, có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2011, thay thế cho Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 Với 13 chương, 82 Điều, Luật trọng tài thương mại đã thể chế hóa một cách đồng bộ cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ở nước ta trên cơ sở kế thừa các quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 Bên cạnh đó, so với Pháp lệnh, Luật trọng tài thương mại có nhiều quy định mới tiến bộ nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại Sự ra đời của Luật trọng tài thương mại đã đánh dấu một bước ngoặc quan trọng trong lịch sử phát triển của các phương thức giải quyết tranh chấp Theo đó, những quy định về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được nâng lên thành luật với những quy định
8 Điều 14 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003
Trang 20chặt chẽ hơn, phù hợp hơn và có khả năng được phổ biến hơn Do đó, cũng phát huy được hết vai trò của mình
Những điểm mới cơ bản của Luật trọng tài thương mại năm 2010 bao gồm việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài; khắc phục sự không rõ ràng của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 về các trường hợp thoả thuận trọng tài; tạo điều kiện để trở thành trọng tài viên dễ dàng hơn; cho phép các tổ chức trọng tài nước ngoài được mở chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên9; cho phép Hội đồng trọng tài được thu thập chứng cứ10
, triệu tập nhân chứng11, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời12
; hủy bỏ quy định về quyền của một bên được gửi đơn lên toà án yêu cầu huỷ quyết định trọng tài nếu
“không đồng ý với quyết định trọng tài”13, làm hạn chế nguy cơ phán quyết của trọng tài
bị tòa án tuyên hủy
Đồng thời, Luật cũng đã đưa ra một loạt các quy định mới nhằm xác định mối quan
hệ pháp lý giữa tòa án và trọng tài thương mại trong quá trình giải quyết tranh chấp Cụ thể Điều 7 Luật trọng tài thương mại xác định rõ tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài Tính xác định và rõ ràng này của Luật sẽ tạo điều kiện để các Toà án và Hội đồng trọng tài cũng như các bên tranh chấp tránh được lúng túng trong các trường hợp cụ thể Và đó chính là điều kiện thuận lợi để trọng tài hoạt động có hiệu quả
2.2 Kh i niệm ưu điểm và vai tr của phương th c gi i quy t tranh chấp
ng Trọng tài thương mại
Tranh chấp thương mại là hệ quả tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh Vì vậy, giải quyết tranh chấp phát sinh được coi là đòi hỏi tất yếu trong nền kinh tế Giải quyết tranh chấp thương mại chính là việc lựa chọn hình thức, phương pháp hay các hoạt động
để điều chỉnh, giải tỏa những bất đồng, xung đột để khắc phục và loại trừ những mâu thuẫn phát sinh nhằm tạo lập lại sự cân bằng cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh
Trên thế giới nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng, tồn tại bốn phương thức giải quyết tranh chấp thương mại, bao gồm: thương lượng, hòa giải, tòa án và trọng tài thương mại Trong đó, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại là
9 Khoản 3 Điều 27 Luật trọng tài thương mại năm 2010
10 Được quy định tại Điều 47 Luật trọng tài thương mại năm 2010
11 Được quy định tại Điều 48 Luật trọng tài thương mại năm 2010
12 Được quy định tại Điều 49 Luật trọng tài thương mại năm 2010
13
Điều 50 Pháp lệnh trọng tài năm 2003
Trang 21một phương thức hữu hiệu, được nhiều doanh nghiệp trên thế giới tin tưởng lựa chọn và cũng đang được Nhà nước ta khuyến khích áp dụng
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại năm 2010 thì “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này” Có thể hiểu, tranh chấp sẽ được đưa ra giải quyết tại trọng tài thương mại nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có thỏa thuận trọng tài Điều này đồng nghĩa với việc các bên tham gia tranh chấp tự nguyện, gián tiếp trao quyền lực cho trọng tài để họ làm nhiệm vụ là bên thứ ba trung gian giải quyết mâu thuẫn trong vụ tranh chấp đó bằng việc đưa ra một phán quyết có tính chất bắt buộc đối với các bên tranh chấp
Như vậy, giống với phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng và hòa giải, trọng tài thương mại cũng không mang ý chí quyền lực Nhà nước Điều này sẽ làm cho phương thức này linh hoạt, mềm dẻo về thủ tục và đảm bảo tối đa quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp mà không bị ràng buộc nghiêm ngặt, chặt chẽ như giải quyết tranh chấp tại tòa án
Hiện nay, trọng tài được xem như là một phương thức giải quyết tranh chấp được ưa chuộng nhất Đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh thương mại bởi trọng tài không những khắc phục được những nhược điểm của các phương thức giải quyết tranh chấp như thương lượng, hòa giải, tòa án mà còn có khả năng phát huy tối ưu những ưu điểm của các phương thức đó
Một số ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại như sau:
So với tòa án:
- Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài bảo đảm tối đa quyền tự do thỏa thuận của các bên Các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn trọng tài viên có chuyên môn, nghiệp vụ, lựa chọn quy tắc tố tụng theo ý chí của mình Đồng thời, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại còn cho phép các bên có thể lựa chọn cả về thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp Từ đó, doanh nghiệp có thể sắp xếp thời gian hợp lý để vừa đảm bảo việc giải quyết tranh chấp vừa điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
- Phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm và không bị kháng cáo, kháng nghị14trong khi bản án, quyết định của tòa án có thể phải trải qua nhiều thủ tục xem xét khác
14
Khoản 5 Điều 4 Luật trọng tài thương mại năm 2010
Trang 22nhau (sơ thẩm, phúc thẩm, tái thẩm hay giám đốc thẩm) Đồng thời, việc xét xử tại trọng tài chỉ diễn ra ở một cấp xét xử thay vì hai cấp xét xử như ở tòa án Điều này giúp tiết kiệm chi phí về thời gian cũng như tiền bạc cho các bên tranh chấp
- Trọng tài xét xử không công khai15 bởi tiến trình giải quyết của trọng tài có tính riêng biệt Hầu hết các quy định pháp luật về trọng tài của các quốc gia đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài xử kín nếu các bên không có thỏa thuận khác Đây là một ưu điểm quan trọng bởi các doanh nghiệp không muốn các chi tiết của vụ tranh chấp bị đem ra công khai trước tòa án, điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động kinh doanh của mình Đặc biệt là những tranh chấp liên quan tới bí mật kinh doanh, các khiếm khuyết của hàng hóa, sản phẩm kém chất lượng… vì điều này sẽ khiến doanh nghiệp mất
uy tín và ảnh hưởng xấu đến việc kinh doanh của họ Do đó, xét xử bằng trọng tài giúp các doanh nghiệp bảo đảm được bí mật kinh doanh, giữ vững được uy tín và tránh nguy
cơ làm tổn thương đến các mối quan hệ hợp tác làm ăn Đó chính là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau Hơn nữa, sự tự nguyện thi hành quyết định của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốt hơn trong quan hệ làm ăn có thể diễn ra trong tương lai
- Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thể hiện tính năng động, linh hoạt và mềm dẻo Do đó dễ thích ứng hơn so với giải quyết tranh chấp bằng tòa án Tòa án khi xét xử phải tuân thủ một cách đầy đủ và nghiêm ngặt các quy định có tính chất quy trình, trình
tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự 2004 và các văn bản hướng dẫn liên quan Điều này khiến giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trở nên nhanh chóng hơn Trong khi đó giải quyết tranh chấp tại tòa án có thể kéo dài mấy năm
- Hoạt động của trọng tài diễn ra liên tục vì Hội đồng trọng tài xét xử vụ kiện là do các bên thỏa thuận lựa chọn, hoặc được chỉ định để giải quyết vụ kiện Do đó các trọng tài viên là người theo vụ kiện từ đầu đến cuối, nên họ có điều kiện để nắm bắt và tìm hiểu thấu đáo các tình tiết của vụ việc Chính điều này giúp trọng tài có thể hỗ trợ các bên dễ dàng đạt tới một thỏa thuận, điều mà ít khi xảy ra ở tòa án
So với thương lượng và hòa giải:
- Việc tham gia thương lượng, hòa giải không chỉ đòi hỏi các bên có thiện chí, trung thực mà còn phải có kiến thức cần thiết về chuyên môn và pháp lý Điều này không dễ dàng có được đối với mỗi bên tranh chấp Trong khi đó, trọng tài thường là những người
có chuyên môn, am hiểu pháp luật có thể giúp các bên tranh chấp khắc phục những khiếm khuyết về pháp lý của mình
15
Khoản 4 Điều 4 Luật trọng tài thương mại năm 2010
Trang 23- Trọng tài thương mại luôn có hẳn một khung pháp luật điều chỉnh, nên nếu quyết định trọng tài không được các bên tự nguyện thi hành sẽ có thể bị cưỡng chế thi hành Mặc dù trọng tài là một tổ chức phi chính phủ nhưng trọng tài lại được sự đảm bảo, hỗ trợ về mặt pháp lý của tòa án và cơ quan tư pháp16 Trong khi đó, hoạt động thương lượng, hòa giải ở nước ta hiện nay hoàn toàn mang tính tự phát, theo truyền thống, chưa
có văn bản pháp luật nào điều chỉnh cơ chế giải quyết tranh chấp bằng thương lượng và hòa giải Do đó, giá trị của kết quả thương lượng, hòa giải không được đảm bảo thi hành
và dễ bị các bên lợi dụng để kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ Trên thực tế, việc thực hiện kết quả thương lượng, hòa giải hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của các bên nên trong nhiều trường hợp tính khả thi không cao, không được đảm bảo thi hành
Ngoài ra, trọng tài còn nhiều ưu điểm khác như: trọng tài cho phép các bên được sử dụng kinh nghiệm của các chuyên gia và điều này được thể hiện ở quyền chọn trọng tài viên của các bên; khi xét xử, trọng tài không chịu sự chi phối bởi một cơ quan nào mà chỉ chịu sự giám sát của tòa án trong một số mặt về thủ tục tố tụng…
Với những ưu điểm như vậy, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đã ngày càng trở thành một phương thức tố tụng kinh doanh - thương mại hữu hiệu và được các bên lựa chọn bên ngoài tố tụng bằng tòa án
3
Trên thế giới, hình thức giải quyết tranh chấp qua trọng tài thương mại đang ngày càng chiếm ưu thế vì đây là phương thức phù hợp hơn cả so với giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải hay tòa án Thế nhưng, ở Việt Nam, số lượng vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài thương mại vẫn còn khá khiêm tốn trong khi hệ thống toà
án luôn trở nên quá tải, dẫn đến làm ảnh hưởng chất lượng vụ việc xét xử sơ thẩm, tăng
vụ việc xét xử phúc thẩm, kéo dài thời gian xử lý, tăng lượng vụ tồn đọng, không kịp giải quyết Nguyên nhân một phần do nhiều doanh nghiệp cho rằng các phán quyết của trọng tài thương mại sẽ không có giá trị thực thi, do chưa hiểu hết được ưu điểm và chưa thật
sự đánh giá đúng vai trò của phương thức này nên còn e dè và chưa lựa chọn sử dụng trọng tài như một phương thức giải quyết tranh chấp hữu hiệu Theo thống kê của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, tổng số vụ tranh chấp được đưa ra giải quyết trong 17 năm tính từ năm 1993 đến năm 2012 chỉ có 639 vụ Trong đó thấp nhất là năm 1993 chỉ
16 Điều 7 và Điều 66 Luật trọng tài thương mại năm 2010
Trang 24với 6 vụ và cao nhất là năm 2011 với 83 vụ17 Đây là những con số rất nhỏ so với trọng tài các nước khác
Như vậy, việc phân tích những vai trò của phương thức trọng tài thương mại cho các doanh nghiệp hiểu rõ sẽ góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy sự phát triển của trọng tài cũng như tháo gỡ những khó khăn trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp thương mại
Có thể kể đến một số vai trò quan trọng của trọng tài thương mại như sau:
Đối với Tòa án:
Hoạt động trọng tài có hiệu quả góp phần làm giảm tải số vụ tranh chấp ở tòa án
Do đó, nâng cao chất lượng xét xử (cho cả trọng tài và tòa án) vì số vụ tranh chấp được chia đều ra, áp lực công việc hạ xuống nên các cán bộ chuyên môn cũng có thể đảm bảo chất lượng kết quả làm việc, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng kéo dài thời gian xét
xử và giảm số vụ tranh chấp tồn đọng
Đối với các doanh nghiệp:
- Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài giúp tiết kiệm thời gian và tiền bạc do cơ chế hoạt động hết sức đơn giản và linh hoạt Tại tòa án, khi xét xử các bên hoàn toàn phụ thuộc vào sự chỉ đạo của toà án về thủ tục, thời gian, địa điểm, cách thức xét xử… được quy định trước đó Trong khi đó, với trọng tài, các bên thông thường được tự do lựa chọn thủ tục, thời gian, địa điểm phương thức giải quyết tranh chấp theo phương thức tiện lợi, nhanh chóng, hiệu quả nhất cho các bên trong khuôn khổ pháp luật cho phép Điều này
có thể làm giảm chi phí, thời gian và tăng hiệu quả cho quá trình giải quyết tranh chấp Bên cạnh đó, trọng tài chỉ có một cấp xét xử và phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị bởi bất kỳ cơ quan tổ chức nào Trong khi tòa án phải trải qua nhiều giai đoạn tố tụng, nhiều cấp xét xử và phán quyết của tòa án thường bị kháng cáo, kháng nghị hay khiếu nại Quyết định trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục nhanh những tổn thất về tiền, hàng trong kinh doanh thương mại
- Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài bảo đảm bí mật cho doanh nghiệp (bởi nguyên tắc xét xử không công khai) Tính bí mật được thể hiện rõ ở nội dung tranh chấp
và danh tính của các bên được giữ kín Điều này giúp các doanh nghiệp giữ vững uy tín của mình, không bị mất cơ hội cạnh tranh lành mạnh sau khi vụ tranh chấp kết thúc
- Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài giúp duy trì quan hệ đối tác làm ăn giữa các doanh nghiệp Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối hoà khí lâu dài giữa các bên tranh chấp Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ hợp tác
17 Theo trang thông tin điện tử của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam: Số vụ tranh chấp tại VIAC trong 17 năm
từ 1993 đến 2012, nam-tu.aspx, [ngày truy cập 10-8-2013]
Trang 25http://www.viac.org.vn/vi-VN/Home/thong-ke-92/357/So-vu-tranh-chap-tai-VIAC-trong-17-kinh doanh giữa các đối tác Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện Xét xử bằng trọng tài sẽ làm giảm mức độ xung đột căng thẳng của những bất đồng trên cơ sở những câu hỏi gợi mở, trong một không gian kín đáo, nhẹ nhàng… Đó là những yếu tố tạo điều kiện
để các bên duy trì được quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau
Như vậy, việc giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài có vai trò hết sức quan trọng trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp thương mại Điều này cũng mang lại ý nghĩa to lớn cho sự phát triển kinh tế nước ta Hiểu rõ vai trò đó, cần phát huy và hoàn thiện những quy định pháp luật trong Luật trọng tài thương mại năm 2010 nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của trọng tài trong nước cũng như thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế của nước ta
1.3 K ái quát về ỗ trợ tư p áp
3 Kh i niệm hỗ trợ tư ph p
Tư pháp là bảo vệ luật pháp, thực thi công lý, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện
và chống lại các hành vi vi phạm pháp luật18
Theo từ điển tiếng Việt thì hỗ trợ có nghĩa là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào
Vậy có thể hiểu hỗ trợ tư pháp có nghĩa là giúp đỡ, tiếp sức để việc bảo vệ luật pháp, thực thi công lý, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện và chống lại các hành vi vi phạm pháp luật được tiến hành thuận lợi, nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả
Như vậy, hỗ trợ tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại có thể hiểu là việc giúp đỡ, tiếp sức cho các trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại được tiến hành nhanh chóng, dễ dàng, hiệu quả và phù hợp với những quy định của pháp luật về trọng tài thương mại cũng như pháp luật về tố tụng Các hoạt động hỗ trợ có thể diễn ra từ giai đoạn xử lý hồ sơ vụ việc, giải quyết vụ việc đến lúc thi hành phán quyết trọng tài hay đăng ký phán quyết trọng tài (đối với trọng tài vụ việc)
3.2 C c iện ph p tư ph p hỗ trợ
Việc hỗ trợ tư pháp đối với hoạt động của trọng tài mang lại những ý nghĩa nhất định trong việc giải quyết tranh chấp Các hoạt động tư pháp hỗ trợ bao gồm:
- Hỗ trợ trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời;
- Hỗ trợ chỉ định và thay đổi trọng tài viên;
- Hỗ trợ đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc;
18 Theo trang thông tin điện tử: Quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp là gì?,
http://www.google.com.vn/giaidap/thread?tid=088a4c6b5fc3114e, [ngày truy cập 10-8-2013]
Trang 26- Hỗ trợ triệu tập nhân chứng và thu thập chứng cứ;
- Hỗ trợ xem xét thoả thuận trọng tài vô hiệu;
- Hỗ trợ xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài;
- Xem xét hủy quyết định trọng tài;
- Hỗ trợ việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
- Hỗ trợ việc thi hành phán quyết trọng tài
Hầu hết các hoạt động hỗ trợ tư pháp trên xuất phát từ nguyên nhân thẩm quyền của trọng tài Đó là những hoạt động mà trọng tài không có thẩm quyền hoặc thẩm quyền thuộc cơ quan tư pháp khác Do bản chất của trọng tài thương mại là cơ quan tài phán phi chính phủ, không mang quyền lực Nhà nước Quyền lực của trọng tài là do các bên tranh chấp tín nhiệm mà có Vì vậy, có một số hoạt động trọng tài thương mại không có thẩm quyền mà phải cần sự hỗ trợ của các cơ quan khác
3.3 Sự cần thi t ph i hỗ trợ tư ph p đối với hoạt động của trọng tài thương mại
Sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước trong quá trình tố tụng trọng tài là một vấn đề
đã được đề cập đến rất nhiều trong khoa học pháp lý Trên thực tế, trong quá trình hoạt động của mình, trọng tài cũng gặp không ít khó khăn mà những khó khăn đó trọng tài không thể tự mình giải quyết do nó vượt ra ngoài tầm kiểm soát trong phạm vi thẩm quyền Vì vậy, trọng tài phải cần đến sự hỗ trợ của tòa án và các cơ quan tư pháp khác Một số khả năng có thể xảy ra khiến trọng tài gặp vướng mắt trong quá trình giải quyết tranh chấp như:
- Theo sự thỏa thuận của các bên tranh chấp, trọng tài có quyền ra các quyết định có hiệu lực bắt buộc đối với các bên tranh chấp nhưng lại không có quyền ra lệnh bắt buộc đối với bất kỳ bên thứ ba nào khác có liên quan đến tranh chấp Chính sự hạn chế về quyền lực này nên không phải lúc nào quá trình giải quyết tranh chấp cũng được bảo đảm diễn ra suôn sẻ và có hiệu quả Ví dụ như trọng tài không thể buộc nhân chứng, giám định viên tham gia phiên họp xét xử nếu như họ không tự nguyện Một vài trường hợp như vậy, trọng tài có thể nhờ đến sự trợ giúp của tòa án Tòa án với quyền lực Nhà nước của mình, sẽ giữ vai trò hỗ trợ, giúp đỡ trọng tài triệu tập nhân chứng, giám định viên
- Sau khi có phán quyết của trọng tài về vụ tranh chấp, cho dù các bên đã thỏa thuận rằng phán quyết trọng tài là chung thẩm và có giá trị bắt buộc đối với các bên nhưng nếu một trong hai bên không có thiện chí, không tự nguyện thi hành thì trọng tài cũng không
có quyền và nghĩa vụ cưỡng chế thi hành phán quyết do chính mình ban hành Điều này xuất phát từ bản chất của trọng tài, quyền lực của trọng tài bắt nguồn từ quyền lực của
Trang 27hợp đồng do các bên tranh chấp giao phó Phán quyết của trọng tài không mang tính quyền lực Nhà nước, không đại diện cho ý chí của Nhà nước mà đại diện cho ý chí của các bên Vì vậy, tính khả thi của phán quyết trọng tài hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của các bên tranh chấp Trong những trường hợp như vậy, hiệu quả của việc thi hành phán quyết trọng tài sẽ phụ thuộc một phần vào mức độ hợp tác giữa trọng tài và các cơ quan tư pháp khác Chẳng hạn như các cơ quan tư pháp khác hỗ trợ trọng tài thi hành phán quyết trọng tài
- Trong quá trình tố tụng, trọng tài chỉ có thể hoạt động trong phạm vi thẩm quyền
do các bên giao phó Cụ thể là trọng tài chỉ được giải quyết một số loại tranh chấp nhất định và theo cách thức do các bên lựa chọn theo thỏa thuận của họ Nếu trọng tài vượt quá thẩm quyền được ủy nhiệm hoặc không tuân thủ các nguyên tắc tố tụng trong thỏa thuận trọng tài, không thực hiện đầy đủ, đúng đắn, hoặc không khách quan, công bằng trong khi hoàn thành trách nhiệm của các bên giao phó thì các quyết định của trọng tài có thể bị chính các bên tranh chấp yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét hủy
bỏ, không công nhận và không cho thi hành để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Như vậy, cần có một cơ chế giám sát, xem xét mang tính quyền lực của Nhà nước đối với trọng tài để đảm bảo cho trọng tài ngay từ khi bắt đầu và trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp sẽ không vượt quá giới hạn thẩm quyền của mình, đảm bảo quá trình được diễn ra đúng đắn, vô tư, khách quan và trung lập Do đó, các quyết định của trọng tài cũng sẽ được đảm bảo hiệu quả
- Xuất phát từ yêu cầu quản lý Nhà nước đối với hoạt động trọng tài: các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý hoạt động của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, trong
đó có trọng tài thương mại Thông qua việc hỗ trợ tư pháp cho các hoạt động của trọng tài, Nhà nước thể hiện sự quản lý, giám sát của mình đối với trọng tài Đồng thời, tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động của trọng tài
3.4 Cơ quan tư ph p có thể hỗ trợ
Việc hỗ trợ tư pháp đối với hoạt động của trọng tài có thể được thực hiện thông qua tòa án và cơ quan thi hành án
Tòa án:
Trọng tài thương mại hoạt động có hiệu quả tốt sẽ giảm gánh nặng cho tòa án rất nhiều trong việc giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại Đồng thời, cũng đáp ứng được nhu cầu của các nhà kinh doanh trong việc giải quyết tranh chấp sao cho nhanh chóng và tiết kiệm nhất Do đó, việc tòa án hỗ trợ cho hoạt động của trọng tài có hiệu quả là hết sức cần thiết Góp phần điều hòa cho hoạt động xét xử nói chung và cho việc giải quyết các tranh chấp liên qua đến kinh doanh thương mại nói riêng
Trang 28Cùng là cơ quan tài phán có chức năng xét xử, thực thi công lý, đảm bảo công bằng
và lợi ích hợp pháp cho các bên, nên tòa án và trọng tài có mối liên hệ mật thiết Tòa án
có thể hỗ trợ trọng tài rất nhiều Trong khi trọng tài thương mại là một tổ chức phi chính phủ, hoàn toàn không mang quyền lực Nhà nước thì tòa án lại là cơ quan xét xử đại diện cho Nhà nước đứng ra thực thi công lý Vì vậy, trong hoạt động tiến hành tố tụng của mình, nếu trọng tài gặp khó khăn trong vấn đề thẩm quyền thì tòa án là cơ quan hỗ trợ đắc lực hàng đầu Chẳng hạn trong việc triệu tập nhân chứng, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc…
Cơ quan thi hành án:
Nếu tòa án là cơ quan hỗ trợ trọng tài trong việc tư pháp thì cơ quan thi hành án hỗ trợ trọng tài trong vấn đề hành pháp Cơ quan thi hành án là cơ quan hành chính Nhà nước thực thi để đảm bảo hoàn thành chức năng và nhiệm vụ được giao
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, sau khi đã có quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc sau khi đã có phán quyết trọng tài, nếu các bên không tự nguyện thi hành thì trọng tài có thể nhờ sự hỗ trợ của cơ quan thi hành án để đảm bảo cho quyết định của trọng tài được thi hành
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của mình, trọng tài thương mại đã có những vai trò và ý nghĩa nhất định trong việc giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại và ngày càng được hoàn thiện hơn nhằm đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp cũng như quá trình hội nhập quốc tế Tuy nhiên, phải thẳng thắn nhìn nhận rằng trong quá trình hoạt động của mình, trọng tài đã bộc lộ những mặt yếu kém và hạn chế Những nguyên nhân dẫn đến sự khiếm khuyết này hoàn toàn có thể được cải thiện nếu các trung tâm trọng tài có quy trình hoạt động hiệu quả, chặt chẽ, hợp lý, hệ thống pháp luật về trọng tài thương mại được cập nhật, bổ sung kịp thời, bên cạnh đó sự hỗ trợ tích cực của tòa án và các cơ quan thi hành án cũng là yếu tố góp phần cho trọng tài hoạt động ngày càng tốt hơn
Trang 29CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ TƯ PHÁP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
Biện pháp khẩn cấp tạm thời được hiểu là một công đoạn tố tụng rút ngắn và giản đơn nhằm giúp cơ quan tài phán can thiệp nhanh chóng, kịp thời nhằm bảo vệ chứng cứ, tài sản tranh chấp hoặc các đảm bảo khác thiết yếu cho thi hành các nghĩa vụ, trong khi phiên tranh tụng chính chưa kết thúc19
Biện pháp khẩn cấp tạm thời thường có các đặc trưng sau:
- Các biện pháp này phải do một bên yêu cầu, thường là nguyên đơn Cơ quan tài phán thường không có quyền tự mình ra các quyết định nhằm bảo toàn tài sản đang tranh chấp, trừ trường hợp được quy định tại Điều 119 Bộ luật tố tụng dân sự20
- Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải có căn cứ Bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chứng minh được sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời21
và phải bồi thường thiệt hại nếu việc áp dụng đó là không đúng
và làm phát sinh thiệt hại cho bên bị áp dụng22
- Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không được xem là bản án
- Các biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng có thể bị khiếu nại Việc khiếu nại không làm đình chỉ việc thi hành biện pháp khẩn cấp tạm thời Cơ quan thi hành án chỉ đình chỉ
19
Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài – Phó giáo sư, Thạc sĩ Phạm Duy Nghĩa – Khoa Luật & Chương trình dạy kinh tế Fulbright – Đại học kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Số 23/2010
20 Khoản 3 Điều 99 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
21 Khoản 1 Điều 117 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
22
Khoản 1 Điều 101 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
Trang 30việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bị khiếu nại khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại ra quyết định hủy bỏ chúng
ph
ẩ ờ
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại thì theo Luật trọng tài thương mại, các bên có quyền làm đơn yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời phù hợp để bảo vệ tài sản đang bị tranh chấp23 Còn theo quy định tại Điều 33 Pháp lệnh trọng tài thương mại năm
2003 thì chỉ có Tòa án cấp tỉnh nơi Hội đồng trọng tài thụ lý vụ tranh chấp mới có thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Như vậy, Luật trọng tài thương mại đã mở rộng thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cho cơ quan tài phán tư - Hội đồng trọng tài Quy định mới này hoàn toàn hợp lý Bởi vì Hội đồng trọng tài là cơ quan giải quyết tranh chấp, hơn ai hết họ là những người hiểu rõ nhất nội dung vụ việc, cũng như mức độ, tính cần thiết của các biện pháp cần áp dụng
Tuy nhiên, Hội đồng trọng tài chỉ có thể ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sau khi Hội đồng trọng tài đã thành lập và chỉ có quyền ra quyết định áp dụng sáu biện pháp khẩn cấp tạm thời Cụ thể theo khoản 2 Điều 49 Luật trọng tài thương mại năm 2010 thì Hội đồng trọng tài có thể áp dụng sáu biện pháp khẩn cấp tạm thời sau:
- Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp;
- Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng trọng tài;
- Kê biên tài sản đang tranh chấp;
- Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các bên tranh chấp;
- Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên;
- Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp
Theo quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật trọng tài thương mại thì bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn gửi đến Hội đồng trọng tài Điều này có nghĩa là nếu muốn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, các bên phải chờ đến khi Hội đồng Trọng tài được thành lập Tuy nhiên, nếu phải chờ đợi như vậy thì trong một số trường hợp, biện pháp này sẽ không còn ý nghĩa gì nữa Do bản chất của biện pháp khẩn cấp tạm thời mang tính nhanh chóng, khẩn trương, kịp thời và phải được áp dụng ngay khi một bên thấy rằng quyền lợi hợp pháp của mình có nguy cơ bị xâm phạm Vì vậy, tại
23
Khoản 1 Điều 48 Luật Trọng tại thương mại năm 2010
Trang 31khoản 1 Điều 53 Luật trọng tài thương mại quy định “Sau khi nộp đơn khởi kiện, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, một bên có quyền làm đơn gửi đến Toà án có thẩm quyền yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời” Trường hợp các bên đã có thỏa thuận lựa chọn một tòa án
cụ thể thì tòa án có thẩm quyền là tòa án được các bên lựa chọn24 Còn nếu như các bên không có thỏa thuận lựa chọn tòa án thì tòa án có thẩm quyền là tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng25
Các biện pháp khẩn cấp tạm thời mà Tòa án có thẩm quyền thực hiện liên quan đến tranh chấp thương mại được quy định tại Điều 102 Bộ Luật tố tụng dân sự, bao gồm:
- Kê biên tài sản đang tranh chấp
- Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp
- Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp
- Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hoá khác
- Phong toả tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong toả tài sản ở nơi gửi giữ
- Phong toả tài sản của người có nghĩa vụ
- Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định
- Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy định
Như vậy, không cần chờ đến khi Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp mà chỉ cần đã nộp đơn khởi kiện, nếu thấy quyền lợi hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại thì một bên cũng có quyền nộp đơn yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Điều này cũng là một khắc phục hạn chế cho quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật trọng tài thương mại
Khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, các bên cần lưu ý để gửi đơn yêu cầu tới đúng cơ quan có thẩm quyền Trên thực tế, Luật trọng tài thương mại đã dự liệu
và phân định phạm vi thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời giữa Hội đồng trọng tài và Tòa án nhằm tránh tình trạng xung đột về thẩm quyền nhưng vẫn đảm bảo trong mọi trường hợp các bên đều có thể làm đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình26 Để tránh sự chồng chéo khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời giữa hai cơ quan tài phán, Luật đã quy định nếu Hội
24 Khoản 1 Điều 7 Luật trọng tài thương mại năm 2010
25 Điểm đ khoản 2 và khoản 3 Luật trọng tài thương mại năm 2010
26 Vai trò của tòa án trong tố tụng trọng tài thương mại - Thạc sĩ Phạm Tuấn Anh – Thẩm phán Chánh Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, http://dddn.com.vn/phap-luat/vai-tro-cua-toa-an-trong-to-tung-trong-tai- thuong-mai-20100924024421877.htm, [ngày truy cập 10-9-2013]
Trang 32đồng trọng tài đã áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án sẽ từ chối, trừ những trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không thuộc thẩm quyền của HĐTT27 Còn nếu Tòa án đã áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Khoản 2 Điều 49 Luật trọng tài thương mại thì Hội đồng trọng tài phải từ chối28
Có thể nhận thấy, Tòa án đóng vai trò hỗ trợ rất lớn trong trường hợp các bên đã có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc những biện pháp khẩn cấp tạm thời không thuộc thẩm quyền áp dụng của Hội đồng trọng tài Điều này thể hiện sự can thiệp của quyền lực nhà nước đối với hoạt động của trọng tài, giúp cho trọng tài hoạt động hiệu quả hơn và bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia vụ kiện tốt hơn, góp phần bảo toàn tài sản của đương sự trong vụ tranh chấp, tránh những hành vi tiêu cực, cố tình tẩu tán tài sản để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ Do vậy, việc hỗ trợ kịp thời của tòa án đối với việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là hết sức cần thiết và có ý nghĩa Điều
đó không chỉ đảm bảo cho việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có hiệu quả mà còn làm cho phán quyết trọng tài có tính khả thi và đảm bảo uy tín cho hoạt động trọng tài
2 .2 Sự hỗ trợ của T a n trong việc ch định và thay đ i trọng tài viên
án được các bên lựa chọn30 Còn nếu các bên không có thỏa thuận lựa chọn tòa án thì tòa
án có thẩm quyền là tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi cư trú của
bị đơn nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của bị đơn nếu bị đơn là tổ chức; trường hợp có nhiều bị đơn thì tòa án có thẩm quyền là tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của một trong các bị đơn đó; trường hợp bị đơn có nơi cư trú hoặc trụ sở ở nước ngoài thì tòa
án có thẩm quyền là tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn31
Tại khoản 1 Điều 41 Luật trọng tài thương mại về thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc có quy định: trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác thì “Trong thời hạn 30 ngày,
kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn phải chọn Trọng tài
27 Khoản 5 Điều 53 Luật Trọng tài thương mại năm 2010
28 Khoản 2 Điều 49 Luật Trọng tài thương mại năm 2010
29 Điều 40 Luật Trọng tài thương mại năm 2010
30 Khoản 1 Điều 7 Luật trọng tài thương mại năm 2010
31
Điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều 7 Luật trọng tài thương mại năm 2010
Trang 33viên và thông báo cho nguyên đơn biết Trọng tài viên mà mình chọn Hết thời hạn này, nếu bị đơn không thông báo cho nguyên đơn tên Trọng tài viên mà mình chọn và các bên không có thoả thuận khác về việc chỉ định Trọng tài viên, thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn” Theo đó, trong thời hạn
30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn có quyền chọn Trọng tài viên cho vụ tranh chấp Khoảng thời gian 30 ngày này là khoảng thời gian pháp luật cho phép bị đơn chọn Trọng tài viên và thông báo cho nguyên đơn Như vậy, nếu bị đơn không chọn trọng tài viên và thông báo cho nguyên đơn trong thời gian luật định, bị đơn sẽ mất đi quyền chọn Trọng tài viên của mình Lúc này quyền chỉ định Trọng tài viên thuộc về Tòa án có thẩm quyền khi có yêu cầu của nguyên đơn Quy định này nhằm tránh tình trạng bị đơn cố tình dây dưa, gây khó khăn cho việc giải quyết
Đối với trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn thì nếu sau 30 ngày, phía bị đơn không chọn được Trọng tài viên, thì một hoặc các bên có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên cho các bị đơn32 Đây là quy định mới của Luật trọng tài thương mại 2010 Trong khi Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 chỉ quy định nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án chỉ định Trọng tài viên33
thì Luật trọng tài thương mại 2010 lại cho phép cả bên nguyên đơn và bị đơn đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết Vì theo quy định của Luật trọng tài thương mại 2010 trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn, “các bị đơn phải thống nhất chọn Trọng tài viên” Điều này không phải lúc nào cũng thực hiện được do các bị đơn có thể có những quan điểm và ý kiến khác nhau về việc chọn Trọng tài viên Hoặc có một hoặc một số bị đơn muốn cố tình day dưa, kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp nhằm có thời gian để tẩu tán, cất giấu tài sản còn một số khác thì lại muốn nhanh chóng giải quyết xong vụ tranh chấp tránh ảnh hưởng đến việc kinh doanh cũng như uy tín trên thương trường của mình Do đó, nếu các bị đơn không thống nhất được việc chọn Trọng tài viên, một trong số họ có thể yêu cầu Tòa án hỗ trợ trong việc chỉ định Trọng tài viên cho vụ tranh chấp Quy định này nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi cho bị đơn trong việc lựa chọn trọng tài viên
Tại Điều 41 Luật trọng tài thương mại cũng có quy định về việc Tòa án có thẩm quyền hỗ trợ các bên trong việc chỉ định Chủ tịch Hội đồng trọng tài34
hoặc chỉ định Trọng tài viên duy nhất trong trường hợp các bên thoả thuận vụ tranh chấp do một trọng tài viên duy nhất giải quyết35
Những quy định của Luật trọng tài thương mại 2010 về sự hỗ trợ của Tòa án đối với việc chỉ định trọng tài viên trong trường hợp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ
32 khoản 2 Điều 41 Luật trọng tài thương mại năm 2010
33 Khoản 2 Điều 26 Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003
34 khoản 3 Điều 41 Luật trọng tài thương mại năm 2010
35
khoản 4 Điều 41 Luật trọng tài thương mại năm 2010