1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quy chế pháp lý về bảo hiểm hàng hóa trong nước tại việt nam

71 355 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 788,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh doanh bảo hiểm nói chung và bảo hiểm hàng hóa nói riêng là lĩnh vực đặc thù, các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này khá đa dạng và phức tạp, nếu không có một hệ thống pháp luật hoàn

Trang 1

BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 36: 2010 – 2014

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ BẢO HIỂM

HÀNG HÓA TRONG NƯỚC

TẠI VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ĐOÀN NGUYỄN MINH THUẬN NGUYỄN MỘNG CẦM

MSSV: 5105938 LỚP: LUẬT THƯƠNG MẠI 1-K36

Cần Thơ, tháng 12 năm 2013

Trang 2

BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 36: 2010 – 2014

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ BẢO HIỂM

HÀNG HÓA TRONG NƯỚC

TẠI VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ĐOÀN NGUYỄN MINH THUẬN NGUYỄN MỘNG CẦM

MSSV: 5105938 LỚP: LUẬT THƯƠNG MẠI 1-K36

Cần Thơ, tháng 12 năm 2013

Trang 3

một tương lai tươi sáng như ngày hôm nay Lời cảm ơn thứ hai

em xin được gửi đến quý Thầy Cô khoa Luật – Đại Học Cần

Thơ đã mang đến cho chúng em nguồn kiến thức quý báu và

những bài học làm người đáng trân trọng

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Cô Đoàn Nguyễn Minh Thuận đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em

rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp Bằng

tất cả tấm lòng của mình, em xin chúc quý Thầy Cô luôn có

nhiều sức khỏe và thành công trong công tác giảng dạy

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 1

2 Phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 2

5 Kết cấu của luận văn 2

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HÓA TRONG NƯỚC 4

1.1 Khái niệm và đặc điểm của hàng hóa 4

1.1.1 Khái niệm hàng hóa 4

1.1.2 Đặc điểm của hàng hóa 5

1.2 Lý luận chung về bảo hiểm hàng hóa trong nước 6

1.2.1 Bảo hiểm thương mại 6

1.2.1.1 Khái niệm bảo hiểm thương mại 7

1.2.1.2 Đặc điểm bảo hiểm thương mại 8

1.2.2 Khái quát chung về bảo hiểm hàng hóa trong nước 11

1.2.2.1 Khái niệm bảo hiểm hàng hóa trong nước 11

1.2.2.2 Đặc điểm bảo hiểm hàng hóa trong nước 12

1.2.2.3 Mục đích bảo hiểm hàng hóa trong nước 14

1.3 Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước 16

1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước 16

1.3.1.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước 16

1.3.1.2 Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước 17

1.3.2 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước 21

1.3.3 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước 22

1.4 Pháp luật điều chỉnh về bảo hiểm hàng hóa trong nước 23

Trang 7

CHƯƠNG 2: QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ BẢO HIỂM HÀNG HÓA TRONG

NƯỚC 25

2.1 Đối tượng và phạm vi được bảo hiểm 25

2.1.1 Đối tượng bảo hiểm 25

2.1.2 Phạm vi bảo hiểm 26

2.1.2.1 Bảo hiểm cho rủi ro cháy, nổ 27

2.1.2.2 Bảo hiểm cho rủi ro trộm cắp 28

2.1.2.3 Bảo hiểm cho rủi ro thiên tai 28

2.2 Số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm 29

2.2.1 Số tiền bảo hiểm 29

2.2.2 Phí bảo hiểm 31

2.3 Giám định tổn thất và bồi thường tổn thất 32

2.3.1 Giám định tổn thất 32

2.3.2 Bồi thường tổn thất 34

2.4 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước 37

2.4.1 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của bên mua bảo hiểm hàng hóa 37

2.4.1.1 Quyền của bên mua bảo hiểm 37

2.4.1.2 Nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm 40

2.4.2 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của doanh nghiệp bảo hiểm 43

2.4.2.1 Quyền của doanh nghiệp bảo hiểm 43

2.4.2.2 Nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm 46

CHƯƠNG 3: TỒN TẠI VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA BẢO HIỂM HÀNG HÓA TRONG NƯỚC 49

3.1 Vấn đề về nghĩa vụ cung cấp thông tin 49

3.1.1 Tồn tại 49

3.1.2 Giải pháp 51

Trang 8

3.2 Vấn đề về chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn 51

3.2.1 Tồn tại 51

3.2.2 Giải pháp 52

3.3 Vấn đề về chấm dứt hợp đồng bảo hiểm 53

3.3.1 Tồn tại 53

3.3.2 Giải pháp 54

3.4 Vấn đề về nghĩa vụ đóng phí của bên mua bảo hiểm 55

3.4.1 Tồn tại 55

3.4.2 Giải pháp 55

3.5 Vấn đề về chuyển nhƣợng hợp đồng bảo hiểm 56

3.5.1 Tồn tại 56

3.5.2 Giải pháp 57

KẾT LUẬN 58 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

  

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài

Trong thời kì hội nhập, nền kinh tế Việt Nam đang có một bước phát triển khá cao và ổn định so với các nước trong khu vực và trên thế giới Để có được thành quả đó là nhờ có sự đóng góp của tất cả các ngành và tất cả các thành phần kinh tế, trong đó phải kể đến sự đóng góp của hoạt động thương mại, đặc biệt là ngành sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều sâu và chiều rộng Chính vì vậy, hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa ở thị trường trong nước ngày càng nhộn nhịp, bắt kịp với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật

Với vị trí địa lý thuận lợi, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa đã mang đến cho nền kinh tế nước ta rất nhiều ưu đãi Thế nhưng kèm theo đó cũng là không

ít khó khăn do thiên nhiên mang lại Mặt khác, những nhân tố tác động từ con người cũng mang đến cho nền sản xuất, trao đổi hàng hóa nhiều rủi ro cũng như tác động tiêu cực Do đó nhu cầu quản lí, chuyển giao rủi ro từ nhà sản xuất, kinh doanh sang một chủ thể khác dần được hình thành trong xã hội Chính vì thế ngành bảo hiểm hàng hóa trong nước ra đời Nó không chỉ góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất

mà còn là một công cụ nhằm đảm bảo về mặt tài chính cho những đối tượng tham gia bảo hiểm khi xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm, giúp họ khôi phục đời sống, sản xuất kinh doanh Đó chính là những bằng chứng cụ thể nhất cho vai trò to lớn cũng như một tương lai phát triển của bảo hiểm hàng hóa trong thực tế

Sự cần thiết khách quan phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ bảo hiểm hàng hóa bắt nguồn từ nhu cầu quản lý xã hội, nhu cầu phát triển kinh tế của Nhà nước Từ nhu cầu này, mảng pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hóa trong nước cần được xây dựng và hoàn thiện phù hợp với định hướng chung trong lĩnh vực bảo hiểm Kinh doanh bảo hiểm nói chung và bảo hiểm hàng hóa nói riêng là lĩnh vực đặc thù, các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này khá đa dạng và phức tạp, nếu không có một hệ thống pháp luật hoàn thiện để điều chỉnh thì không những làm cho quyền lợi của các chủ thể tham gia hoạt động bảo hiểm không được đảm bảo mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, cùng với kiến thức đã học,

người viết chọn đề tài: “Quy chế pháp lý về bảo hiểm hàng hóa trong nước tại Việt Nam” để nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Trang 10

2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn này, người viết tập trung nghiên cứu về các quy định của pháp luật điều chỉnh vấn đề bảo hiểm cho hàng hóa trong nước giữa các thương nhân Việt Nam với nhau Cụ thể là nghiên cứu những quy định của pháp luật về đối tượng, phạm vi bảo hiểm, vấn đề giám định và bồi thường tổn thất cũng như quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm Từ đó liên hệ đến thực tiễn và đưa ra giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật để giúp cho hoạt động bảo hiểm hàng hóa trong nước ngày càng phát triển hơn

3 Mục đích nghiên cứu

Trước hết, nghiên cứu này nhằm làm rõ các quy định của pháp luật điều chỉnh về các vấn đề của bảo hiểm hàng hóa trong nước, thông qua đó bảo vệ quyền lợi của các bên khi tham gia bảo hiểm, xem xét tính chính xác, đúng đắn và hiệu quả của các quy định đó trên cơ sở khoa học và thực tế Từ đó, người viết ghi nhận những điểm chưa phù hợp, những thiếu sót và cuối cùng đưa ra những giải pháp kiến nghị đối với những vấn đề đang tồn tại Mục đích cuối cùng và lớn nhất của việc nghiên cứu này là đóng góp một phần nhỏ trong việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý hiệu quả và khả thi hơn để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm đối với hoạt động bảo hiểm hàng hóa trong nước một cách tốt nhất

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết sử dụng các phương pháp sau đây: phương pháp phân tích luật viết, phương pháp liệt kê, phương pháp so sánh, tổng hợp, phương pháp thu thập và xử lý thông tin cùng với việc tìm hiểu thêm nhiều tài liệu để thực hiện việc nghiên cứu đề tài

Cụ thể, người viết tiến hành phân tích làm rõ các kiến thức chuyên môn, từ

đó xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề mình đang nghiên cứu Tiến hành trình bày các quy định của pháp luật, giải thích và chỉ rõ các mặt tích cực và những điểm tồn tại trong các quy định này Bên cạnh đó, người viết thu thập những sự kiện và thống

kê các số liệu thực tế để chứng minh cho các vấn đề đã nêu Cuối cùng người viết tổng hợp các vấn đề trong một mối liên hệ thống nhất, giúp người đọc có cái nhìn tổng quát và nhìn nhận đúng bản chất của vấn đề

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:

Trang 11

Chương 1: Khái quát chung về bảo hiểm hàng hóa trong nước Ở chương

này, người viết đề cập đến khái niệm và đặc điểm của hàng hóa, khái quát chung về bảo hiểm hàng hóa trong nước, và từ đó người viết đã nêu lên được mục đích, vai trò của bảo hiểm trên thực tế Những vấn đề chung về bảo hiểm là nền tảng cho sự phát triển nhiều loại bảo hiểm khác nhau, trong đó, bảo hiểm hàng hóa trong nước đang dần được hình thành và hoàn thiện thông qua các quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước Trong chương này, người viết cũng đã trình bày khái quát vấn đề pháp luật điều chỉnh về bảo hiểm hàng hóa trong nước, nhằm giúp người viết và người đọc nắm được quá trình hình thành những quy định của pháp luật điều chỉnh vấn đề này và dễ dàng tiếp cận chương 2 của luận văn

Chương 2: Quy chế pháp lý về bảo hiểm hàng hóa trong nước Chương

này, người viết đi sâu vào phân tích những quy định của pháp luật về đối tượng, phạm vi được bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm, kể cả các quy định về giám định tổn thất và giải quyết bồi thường Đặc biệt, người viết còn đề cập đến những quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước Từ việc phân tích các nội dung trên sẽ giúp cho người viết đưa ra được những mặt tồn tại của pháp luật về bảo hiểm hàng hóa trong nước Và đây cũng chính là cơ sở để người viết đề

xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật tại chương 3

Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả của bảo hiểm hàng hóa trong nước Trong chương này,

người viết đã dựa trên cơ sở lý luận chung của chương 1, kết hợp với việc phân tích pháp luật ở chương 2 và đối chiếu những vấn đề tồn tại, vướng mắc của pháp luật so với điều kiện thực tế khi áp dụng, người viết đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn quy định của pháp luật về bảo hiểm hàng hóa trong nước đang được quan tâm đặc biệt ở Việt Nam

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, với sự nỗ lực của bản thân nhưng do hạn chế về thời gian, tài liệu cũng như lần đầu tiên người viết nghiên cứu một đề tài khoa học nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Người viết rất mong nhận được

sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô và các bạn để cho bài viết được hoàn thiện hơn

Trang 12

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM

HÀNG HÓA TRONG NƯỚC

1.1 Khái niệm và đặc điểm của hàng hóa

1.1.1 Khái niệm hàng hóa

Theo nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin, hàng hóa là sản phẩm của lao động, thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán Khái niệm hàng hóa được ghi nhận trong luật pháp các quốc gia trên thế giới hiện nay, mặc dù có những nét khác biệt nhất định song đều có xu hướng mở rộng các đối tượng là hàng hóa được phép lưu thông thương mại

Cùng với sự phát triển của xã hội, hàng hóa ngày càng phong phú và đa dạng Theo pháp Luật thương mại của đa số các nước và trong nhiều điều ước quốc

tế (như Hiệp định GATT, Hiệp định thành lập khối thị trường chung Châu Âu, Công ước viên năm 1980 về mua bán hàng hóa…), hàng hóa là đối tượng của mua bán thương mại được hiểu bao gồm những loại tài sản có hai thuộc tính cơ bản là:

có thể đưa vào lưu thông và có tính chất thương mại Theo pháp luật Hoa Kỳ, hàng hóa bao gồm mọi thứ có thể dịch chuyển được quyền sở hữu vào thời gian xác định theo hợp đồng mua bán hàng hóa Hàng hóa có thể là hàng hóa đã có ở hiện tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai.1

Theo pháp luật Việt Nam, Luật thương mại năm 1997 quy định, hàng hóa

bao gồm: “máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các

động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua, bán”. 2

Khái niệm hàng hóa theo cách hiểu này hẹp hơn so với quan niệm phổ biến trên thế giới Khắc phục sự bất cập của Luật thương mại 1997

về khái niệm hàng hóa, Luật thương mại 2005 quy định: “ Hàng hóa bao gồm: Tất

cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai”.3

Thế thì động sản là gì thì điều 174 Bộ luật dân sự 2005 đã có quy định: Động sản là những tài sản không phải là bất động sản Bất động sản bao gồm đất đai, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, các tài sản gắn liền với nhà

Trang 13

ở hay công trình xây dựng đó, các tài sản khác gắn liền với đất đai và các tài sản khác do pháp luật quy định

Động sản hình thành trong tương lai tức là động sản chưa hình thành hay chưa tồn tại vào thời điểm giao kết hợp đồng Còn những vật gắn liền với đất đai thì bao gồm cây cối, mùa màng hay khoáng sản…Với cách hiểu như vậy, hàng hóa ở đây có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại

Tuy nhiên không phải tất cả những gì được gọi là hàng hóa đều là đối tượng của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa Bởi lẽ trong thực tế, không một hợp đồng bảo hiểm tài sản nào nói chung hay hợp đồng bảo hiểm hàng hóa nói riêng được xác lập khi đối tượng của hợp đồng là vật chưa hình thành vào thời điểm giao kết Hay nói cách khác đối tượng của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước phải là hàng hóa

có thực và điều này đã được rút ra từ quy định về đối tượng hợp bảo hiểm tài sản tại điều 40 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010 Hàng hóa trong nước được đề cập trong đề tài này là động sản có thực, không bao gồm động sản hình thành trong tương lai mà trong quá trình sản xuất, lưu kho hay vận chuyển thì những loại hàng hóa này có thể gặp những rủi ro nhất định như cháy, nổ, thiên tai, trộm cắp… Do đó, chủ sở hữu hàng hóa hoặc người được chủ sở hữu ủy quyền

có thể mua bảo hiểm cho hàng hóa để chuyển giao rủi ro cho doanh nghiệp bảo hiểm trước những rủi ro có thể xảy ra trong thực tế

1.1.2 Đặc điểm của hàng hóa

Hàng hóa nói chung có hai đặc điểm chính là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. 4

4

Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2009, trang 58-63

Trang 14

Giá trị sử dụng của hàng hóa là đặc điểm của hàng hóa gắn liền với vật thể hàng hóa, nhưng không phải là giá trị sử dụng cho bản thân người sản xuất hàng hóa mà là giá trị sử dụng cho người khác, cho xã hội Giá trị sử dụng đến tay người khác, người tiêu dùng phải thông qua việc mua – bán Trong nền sản xuất hàng hóa, vật mang giá trị sử dụng đồng thời cũng là vật mang giá trị trao đổi

 Giá trị trao đổi

Giá trị trao đổi là tương quan về số lượng, là tỉ lệ giữa hàng hóa này với hàng hóa khác trong trao đổi

Khi đưa ra ngoài thị trường để mua bán thì giá trị của hàng hóa thể hiện qua giá trị trao đổi hay giá cả của hàng hóa Nếu hai vật thể khác nhau mà có thể trao đổi được với nhau thì giữa chúng phải có cơ sở chung nào đó Cái chung đó không thể là công dụng của chúng vì không ai trao đổi những hàng hóa giống hệt nhau về giá trị sử dụng Các hàng hóa khác nhau chỉ có một thuộc tính chung làm cho chúng

có thể so sánh với nhau trong khi trao đổi, đó là các hàng hóa đều là sản phẩm của lao động Cơ sở cho hai hàng hóa trao đổi với nhau là lao động xã hội hao phí vào việc sản xuất ra những hàng hóa đó Lao động hao phí để tạo ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa là cơ sở chung của trao đổi, được gọi là giá trị hàng hóa Qua trao đổi, giá trị được thể hiện bằng tiền (giá cả)

Như vậy, hàng hóa nói chung có hai đặc điểm chính là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và mang tính thống nhất Tính thống nhất thể hiện ở chỗ chúng cùng tồn tại trong một vật phẩm và một vật đã là hàng hóa thì bắt buộc phải có hai đặc điểm kể trên Trong phạm vi nghiên cứu này thì đối tượng của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước phải có thêm một đặc điểm nữa đó là hàng hóa phải là động sản có thực vào thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, nghĩa là không đề cập đến các động sản hình thành trong tương lai Khái niệm động sản cũng như động sản hình thành trong tương lai đã được người viết trình bày rất cụ thể ở tiểu mục 1.1.1 về khái niệm hàng hóa

1.2 Lý luận chung về bảo hiểm hàng hóa trong nước

1.2.1 Bảo hiểm thương mại

Xã hội ngày càng phát triển và bảo hiểm ngày càng khẳng định sự có mặt không thể thiếu được từ mọi hoạt động của con người bởi rủi ro nhiều hơn, các nhu cầu về an toàn cũng lớn hơn Ngày nay, các sản phẩm bảo hiểm rất đa dạng, bảo hiểm hàng hóa trong nước là một sản phẩm của loại hình bảo hiểm tài sản Bảo hiểm tài sản là một trong ba loại hình bảo hiểm thương mại được phân chia dựa trên

Trang 15

đối tượng được bảo hiểm Do đó, khi nghiên cứu về bảo hiểm hàng hóa trong nước thì việc tìm hiểu khái niệm cũng như đặc điểm của bảo hiểm thương mại là điều rất cần thiết

1.2.1.1 Khái niệm bảo hiểm thương mại

Bảo hiểm thương mại còn được hiểu là sự kết hợp giữa hoạt động kinh doanh với việc quản lý các rủi ro Mặc dù có nguồn gốc và lịch sử phát triển khá lâu đời nhưng do tính đặc thù của loại hình dịch vụ này, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về bảo hiểm thương mại, mà người ta chỉ đưa ra các quan niệm về bảo hiểm thương mại theo các góc độ tiếp cận khác nhau:5

Bảo hiểm là một nghiệp vụ mà người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi bên bán bảo hiểm Bên bán bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê Đây là cách hiểu về bảo hiểm của Monique Gaullier Với Dennis Kessler thì bảo hiểm

thương mại được hiểu một cách khá ngắn gọn: “Bảo hiểm là sự đóng góp của số

đông vào sự bất hạnh của số ít” 6

Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam cũng có cùng cách nhìn như thế về bảo hiểm: Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay một số ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho những thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do những rủi

ro gây ra.7

Các học giả của trường Đại học Kinh tế quốc dân nói về bản chất của bảo hiểm như sau: Thực chất của hoạt động bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm trong nước giữa những người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi tai nạn, rủi ro bất ngờ xảy ra gây tổn thất đối với người tham gia bảo hiểm.8

Trang 16

Trong Luật Kinh doanh bảo hiểm không sử dụng thuật ngữ “bảo hiểm thương mại” mà sử dụng thuật ngữ “kinh doanh bảo hiểm”, theo đó kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.9

Tuy nhiên, về mặt lý luận, khái niệm bảo hiểm thương mại và kinh doanh bảo hiểm là giống nhau

Sự khác nhau trong các quan niệm xuất phát từ việc nhìn nhận bảo hiểm ở nhiều góc độ Bảo hiểm là một kỹ thuật nghiệp vụ đặc trưng nên rất khó tìm ra được một định nghĩa hoàn hảo thể hiện được tất cả những khía cạnh của nó Trên phương diện lý thuyết cơ bản, bảo hiểm là phương pháp chuyển giao rủi ro được thực hiện thông qua hợp đồng bảo hiểm, trong đó bên mua bảo hiểm chấp nhận trả phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy

ra sự kiện bảo hiểm.10

Những cách tiếp cận nêu trên đều đã nêu được một số đặc trưng cơ bản nhất của bảo hiểm Trong đó, theo người viết thì cách nhìn nhận của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam bao hàm được những đặc trưng cơ bản của quan hệ bảo hiểm Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm, nhưng nói đến bảo hiểm tức là nói đến chia sẻ rủi ro, là dịch vụ được thực hiện trên cơ sở lấy sự đóng góp của số đông để

bù đắp cho những bất hạnh của số ít Đây là hai đặc trưng quan trọng không thể thiếu được đối với bất kỳ một loại hình bảo hiểm nào Từ sự phân tích này cho thấy, bảo hiểm có thể được hiểu một cách tổng quát là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít thông qua hoạt động chuyển giao rủi ro từ chủ thể mua bảo hiểm sang chủ thể nhận bảo hiểm

1.2.1.2 Đặc điểm bảo hiểm thương mại

 Là một trung gian tài chính

Đặc điểm của bảo hiểm nói chung là thời điểm thu phí bảo hiểm và thời điểm bồi thường bảo hiểm thường cách nhau một khoảng thời gian nhất định Phí bảo hiểm được thu trước và doanh nghiệp bảo hiểm chỉ bồi thường khi sự kiện bảo hiểm xảy ra Như vậy, từ thời điểm thu phí đến thời điểm bồi thường thông thường là một

Trang 17

khoảng thời gian khá dài, hơn nữa rất hiếm khi rủi ro xảy ra đồng loạt, do đó doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có một lượng vốn nhàn rỗi nhất định Nguồn vốn này sẽ được các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư vào các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân để sinh lợi Việc đầu tư các nguồn vốn nhàn rỗi có ý nghĩa quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp bảo hiểm

Các doanh nghiệp bảo hiểm với rất nhiều sản phẩm bảo hiểm hầu như đã đáp ứng được những nhu cầu bảo hiểm phong phú từ khách hàng Hiện các doanh nghiệp bảo hiểm đang quản lý một lượng lớn nguồn vốn Nguồn vốn này các doanh nghiệp bảo hiểm có nhu cầu đầu tư dài hạn vào các dự án.11

Các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia tích cực vào đầu tư, tài trợ dự án, giải ngân vốn cho các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế Đây là một nguồn cung cấp vốn dồi dào cho các doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất và tăng trưởng kinh tế Dù rằng các doanh nghiệp bảo hiểm được sinh ra không phải nhằm mục đích kinh doanh tiền tệ, nhưng trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có thể kinh doanh rủi ro trên cơ sở thực hiện song song công việc đầu tư tài chính, từ đó góp phần tăng nguồn vốn cho nền kinh tế Là một trung gian tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm thu hút, cung ứng vốn, góp phần đáp ứng các nhu cầu về vốn, thúc đẩy sự luân chuyển, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế

 Là một ngành dịch vụ đặc biệt

Doanh nghiệp bảo hiểm không cung cấp một sản phẩm hữu hình như nhà cửa hay phương tiện đi lại mà sản phẩm của các doanh nghiệp bảo hiểm là những sản phẩm “vô hình”.12

Điều đó có nghĩa là, tại thời điểm bán bảo hiểm doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không thể biết được rủi ro có xảy ra hay không Sản phẩm mà doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp cho bên mua bảo hiểm là sản phẩm có thể hình thành trong tương lai và cũng có thể không hình thành trong tương lai Khi

đó, trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phát sinh khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Bản chất của sản phẩm bảo hiểm là một dịch vụ, một lời hứa, một lời cam kết mà doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra với khách hàng Khách hàng đóng phí để đổi lấy những cam kết bồi thường hoặc chi trả trong tương lai thông qua hợp đồng bảo hiểm Cam kết trong hợp đồng là cam kết thanh toán bằng tiền hoặc bằng hàng hóa

Trang 18

với giá trị tương đương tổn thất trong bảo hiểm phi nhân thọ hoặc một số tiền cụ thể nào đó trong bảo hiểm nhân thọ.13

Bên cạnh đó, tâm lý người mua bảo hiểm thường không muốn tiêu dùng dịch

vụ này Bởi lẽ khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra cũng đồng nghĩa với việc họ phải chịu những tổn thất nhất định, đó là những hư hỏng về tài sản, hàng hóa hay những tổn thương về tinh thần và sức khỏe Chính vì vậy, dù có được bồi thường tổn thất thì tâm lý chung khách hàng vẫn không muốn tiêu dùng dịch vụ này

Mặt khác, bảo hiểm có chu trình kinh doanh ngược, tức là doanh nghiệp bảo hiểm không phải bỏ vốn ra trước, mà đầu tiên họ sẽ nhận phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm đóng góp và sau đó phía doanh nghiệp bảo hiểm mới thực hiện nghĩa vụ với bên được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra

 Là hoạt động vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro

Khi tham gia bảo hiểm, người mua sẽ đóng góp một số tiền gọi là phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Tính tiết kiệm của hợp đồng bảo hiểm thể hiện ở chỗ: việc tham gia bảo hiểm cũng giống như việc gửi tiết kiệm, bên mua bảo hiểm dùng từng khoản tiền nhỏ để đóng phí bảo hiểm, khi sự kiện bảo hiểm xảy ra người thụ hưởng sẽ nhận được khoản tiền chi trả bảo hiểm từ doanh nghiệp bảo hiểm lớn hơn số phí bảo hiểm họ đã bỏ ra.14

Việc nộp phí bảo hiểm là bắt buộc theo thỏa thuận, đồng thời không thể tùy tiện lấy lại các khoản phí

đã nộp (khác với việc gửi tiền tại Ngân hàng) nên tiết kiệm cho bên mua bảo hiểm những khoản chi tiêu không thực sự cần thiết

Bên cạnh đó, hoạt động bảo hiểm thương mại cũng mang tính rủi ro, không chỉ cho doanh nghiệp bảo hiểm mà còn cho người tham gia bảo hiểm Vì bảo hiểm

có chu trình kinh doanh ngược nên nếu phải trả tiền bảo hiểm hay phát sinh vấn đề bồi thường cho nhiều hợp đồng bảo hiểm cùng một lúc thì doanh nghiệp bảo hiểm

13

Đỗ Hữu Vinh, Bảo hiểm và giám định hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển,

Nxb Tài chính, Hà Nội, 2003, trang 15

14

Mục đích của bên mua bảo hiểm là hạn chế tổn thất xảy ra đối với mình khi đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro, tuy nhiên rủi ro có thể xảy ra hoặc không xảy ra nên bên mua bảo hiểm chỉ mua bảo hiểm khi doanh nghiệp bảo hiểm cam kết chi trả số tiền lớn hơn phí bảo hiểm mà họ bỏ ra Bởi vì chẳng ai đi mua bảo hiểm cho một sự kiện chưa chắc chắn là sẽ xảy ra mà chỉ được hưởng số tiền bảo hiểm bằng với phí bảo hiểm mình bỏ ra nếu có rủi ro, còn không có rủi ro họ sẽ mất phí bảo hiểm, như vậy bên mua bảo hiểm sẽ không được lợi gì từ việc mua bảo hiểm

Trang 19

sẽ rất khó khăn trong việc chi trả hay bồi thường Về phía người mua bảo hiểm, trong trường hợp xảy ra rủi ro mà không nằm trong phạm vi được bảo hiểm thì họ

sẽ không được bồi thường hay nhận tiền bảo hiểm mặc dù đã đóng phí bảo hiểm trước đó

 Là sự chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm

Rủi ro là yếu tố mà con người không thể lường trước được, đây là một khái niệm quan trọng, một thuật ngữ cơ bản trong bảo hiểm Suy cho cùng, nguyên lý của bảo hiểm là “không có rủi ro thì không có bảo hiểm”.15

Đặc điểm của bảo hiểm

là sự phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia

bảo hiểm cùng chịu Nói cách khác, bảo hiểm dựa trên quy luật “số đông bù số

ít” 16

Doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường về tài chính cho những tổn thất xảy

ra thuộc phạm vi bảo hiểm Số tiền bồi thường bằng tổn thất thực tế, nhưng cao nhất bằng số tiền bảo hiểm Do đó, số tiền bồi thường cho một người tham gia trong một rủi ro nào đó thông thường lớn hơn số phí họ nộp Trong trường hợp đó, doanh nghiệp bảo hiểm phải lấy số phí của nhiều người tham gia vào dịch vụ bảo hiểm ấy

để chi trả cho một người (hoặc một số ít người) không may gặp phải rủi ro gây tổn thất Quy luật này mang tính tương trợ, cùng san sẻ rủi ro trong cộng đồng những người tham gia Như vậy mối quan hệ trong bảo hiểm không chỉ là mối quan hệ giữa nhà bảo hiểm và người được bảo hiểm mà là tổng thể các mối quan hệ giữa người được bảo hiểm trong cùng một cộng đồng bảo hiểm.17

1.2.2 Khái quát chung về bảo hiểm hàng hóa trong nước

1.2.2.1 Khái niệm bảo hiểm hàng hóa trong nước

Nguồn gốc phát sinh của hoạt động bảo hiểm chính là sự tồn tại của các rủi

ro trong thực tế Nhu cầu của con người ngày càng cao, do đó họ không chỉ muốn đảm bảo cho bản thân và gia đình mà còn muốn đảm bảo rủi ro cho công việc kinh doanh nên bảo hiểm hàng hóa ra đời Vì một trong những hình thức khắc phục rủi

ro tốt nhất là chuyển giao rủi ro cho các doanh nghiệp bảo hiểm Khi rủi ro xảy ra với một thành viên thì hậu quả của nó sẽ được phân tán, sẽ được số đông còn lại của

Trang 20

cộng đồng cùng gánh chịu Đó chính là cách xử lý và khắc phục rủi ro tốt nhất, hay nói cách khác, hoạt động kinh doanh bảo hiểm không chỉ đơn thuần là lợi nhuận mà còn mang tính xã hội sâu sắc

Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010 không đưa

ra định nghĩa thế nào là bảo hiểm hàng hóa trong nước song có thể xác định bản chất pháp lý của vấn đề này thông qua hoạt động mua bán hàng hóa trong nước Mua bán hàng hóa trong nước là hoạt động mua bán hàng hóa giữa thương nhân Việt Nam với nhau trên lãnh thổ Việt Nam.18

Do đó, bảo hiểm hàng hóa trong nước trong phạm vi nghiên cứu này được hiểu là một loại hình bảo hiểm mà theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận các rủi ro về hàng hóa của bên mua bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, được thực hiện giữa các thương nhân Việt Nam với nhau trên lãnh thổ Việt Nam

1.2.2.2 Đặc điểm bảo hiểm hàng hóa trong nước

 Áp dụng nguyên tắc bồi thường

Nguyên tắc bồi thường được áp dụng khi thanh toán, chi trả bảo hiểm Số tiền bồi thường mà người được bảo hiểm nhận được trong mọi trường hợp không vượt quá thiệt hại thực tế xảy ra Nghĩa là doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có thể chi trả

số tiền bồi thường tương ứng với thiệt hại thực tế xảy ra đối với người được bảo hiểm trong phạm vi số tiền bảo hiểm mà hai bên tự thỏa thuận Chẳng hạn như một doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo mua bảo hiểm cho toàn bộ xưởng kẹo của mình là

20 triệu đồng Sau một vụ cháy, số kẹo bị thất thoát và hư hỏng có giá trị 8 triệu đồng, nên số tiền bồi thường mà doanh nghiệp này nhận được từ phía doanh nghiệp bảo hiểm trong trường hợp này là 8 triệu đồng

 Áp dụng “nguyên tắc thế quyền hợp pháp”

Nguyên tắc này được áp dụng khi xuất hiện người thứ ba có lỗi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm Theo đó, sau khi doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm thì người được bảo hiểm phải chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà mình đã nhận cho doanh nghiệp bảo hiểm.19

Nguyên tắc thế quyền hợp pháp nhằm đảm bảo quyền lợi của người được

Trang 21

bảo hiểm, chống lại hành vi rũ bỏ trách nhiệm của người thứ ba có lỗi Mặt khác, quy định này còn ngăn chặn trường hợp người mua bảo hiểm vừa đòi người thứ ba bồi thường thiệt hại, vừa nhận tiền bồi thường từ phía doanh nghiệp bảo hiểm Như vậy, người mua bảo hiểm sẽ nhận được một khoản giá trị gấp đôi số tổn thất, điều này trái với nguyên tắc bồi thường nói chung

Tuy nhiên, có một số ngoại lệ khi áp dụng nguyên tắc thế quyền hợp pháp

Đó là khi người thứ ba gây thiệt hại là cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột của người được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm không được yêu cầu họ bồi hoàn khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã trả cho người được bảo hiểm, trừ trường hợp những người này cố ý gây ra tổn thất.20

Vấn đề này đã được quy định rất

cụ thể tại khoản 3, điều 49 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010

 Bảo hiểm trùng

Trong bảo hiểm hàng hóa trong nước, nếu bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm với nhiều doanh nghiệp bảo hiểm để bảo hiểm cho cùng một đối tượng, với cùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm thì được gọi là bảo hiểm trùng.21

Xuất phát từ tâm lý của bên mua bảo hiểm mà bảo hiểm trùng xuất hiện Bên mua bảo hiểm nghĩ rằng khi giao kết hợp đồng bảo hiểm với nhiều doanh nghiệp thì khi xảy ra sự kiện bảo hiểm họ sẽ nhận được nhiều tiền bồi thường hơn, thậm chí số tiền bồi thường lớn hơn giá trị hàng hóa mua bảo hiểm Tuy nhiên, Luật Kinh doanh bảo hiểm đã điều chỉnh vấn đề này, khoản 2 điều 44 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm

2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010 có quy định: khi xảy ra sự kiện bảo hiểm đối với hợp đồng bảo hiểm trùng, thì mỗi doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo tỉ lệ giữa số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trên tổng số tiền bảo hiểm của tất cả các hợp đồng mà bên mua bảo hiểm đã giao kết Tổng số tiền bồi thường của các doanh nghiệp bảo hiểm không vượt quá giá trị thiệt hại thực tế của tài sản nói chung và của hàng hóa nói riêng Để giải thích cho quy định này, ta có thể xem xét

ở ví dụ sau:

Ông A mua bảo hiểm rủi ro thiên tai cho lô hàng thức ăn gia súc trong quá trình vận chuyển từ Cần Thơ đến Long An ở doanh nghiệp bảo hiểm B vào ngày 19/10/2013 với số tiền bảo hiểm là 1,2 tỉ đồng Ngày 19/11/2013 ông A lại mua bảo

Trang 22

hiểm rủi ro thiên tai cho lô hàng này tại doanh nghiệp bảo hiểm C với số tiền bảo hiểm là 800 triệu đồng Không may trong quá trình vận chuyển, lô hàng đã bị hư hỏng nặng do gặp phải bão số 10 Giá trị lô hàng thức ăn gia súc bị hư hỏng được định giá vào thời điểm tổn thất là 800 triệu đồng Trong trường hợp này, trách nhiệm của hai doanh nghiệp theo quy định của pháp luật được xác định như sau:

* Doanh nghiệp bảo hiểm B chịu trách nhiệm bồi thường là: 1,2 tỉ là số tiền đã thỏa thuận trong hợp đồng với ông A chia cho 2 tỉ (tổng số tiền bảo hiểm của hai hợp đồng bảo hiểm mà ông A giao kết với B và C) được tỉ lệ là 60% nhân với giá trị thiệt hại thực tế là 800 triệu Vậy số tiền mà doanh nghiệp B phải bồi thường cho ông A là 480 triệu

* Doanh nghiệp bảo hiểm C phải chịu trách nhiệm bồi thường là: 800 triệu chia cho

2 tỉ được tỉ lệ là 40% nhân với giá trị thiệt hại thực tế là 800 triệu sẽ ra số tiền là

1.2.2.3 Mục đích bảo hiểm hàng hóa trong nước

Bảo hiểm hàng hóa trong nước không chỉ nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho bên mua bảo hiểm đối với hàng hóa của mình, trước những rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào thông qua việc chuyển rủi ro cho phía doanh nghiệp bảo hiểm, mà còn góp phần giúp các doanh nghiệp bảo hiểm thu được lợi nhuận từ việc thu phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm

 Bảo hiểm hàng hóa trong nước nhằm bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất

Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất là tác dụng chủ yếu của bảo hiểm hàng hóa trong nước Nói đến bảo hiểm là nói tới khả năng bồi thường khi có tổn thất xảy

ra và vai trò của các doanh nghiệp bảo hiểm là cung cấp các loại dịch vụ đặc biệt nhằm khôi phục khả năng vật chất, tài chính như trước khi xảy ra rủi ro, khắc phục hậu quả, ổn định đời sống và quá trình sản xuất kinh doanh

Việc mua bảo hiểm giúp các cá nhân, tổ chức chuyển rủi ro sang các doanh nghiệp bảo hiểm Các cá nhân khắc phục được khó khăn về tài chính, dễ dàng ổn định đời sống hơn, các tổ chức kinh doanh bảo toàn vốn, tài sản, giữ cho chu kỳ sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn

Trang 23

 Bảo hiểm hàng hóa trong nước nhằm tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất

Bên cạnh khả năng giải quyết các hậu quả của rủi ro, bảo hiểm hàng hóa trong nước còn góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất đến mức thấp nhất Nhờ đó những thiệt hại về hàng hóa được giảm thiểu và những hậu quả về kinh tế - xã hội cũng được chủ động phòng tránh Dựa trên cơ sở các rủi ro xảy ra hằng năm, các tổ chức kinh doanh bảo hiểm tiến hành nghiên cứu các rủi ro, thống kê các tai nạn, tổn thất, từ đó xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến thiệt hại Những nguyên nhân này giúp các doanh nghiệp bảo hiểm có thể đề ra được các biện pháp kiểm soát ngăn ngừa rủi ro hiệu quả nhất nhằm giảm đến mức thấp nhất tổn thất có thể xảy ra

Việc các doanh nghiệp bảo hiểm tích cực thực hiện các biện pháp phòng tránh rủi ro không chỉ để giảm bớt chi phí bồi thường nhằm nâng cao lợi nhuận cho mình, mà quan trọng hơn là góp phần giảm bớt những hậu quả đáng tiếc về vật chất lẫn tinh thần khi xảy ra tổn thất Khi xây dựng các điều khoản, quy tắc, biểu phí cũng như trong quá trình triển khai nghiệp vụ các doanh nghiệp bảo hiểm luôn chú

ý đến việc tăng cường áp dụng các biện pháp phòng tránh cần thiết

Các doanh nghiệp bảo hiểm cũng luôn đôn đốc các cá nhân, tổ chức tham gia mua bảo hiểm cho hàng hóa để bảo vệ tài sản của chính mình Do bảo hiểm không

có nghĩa là đỗ hết trách nhiệm cho bên bán bảo hiểm nên thông qua phân tích nguyên nhân của những rủi ro, tai nạn bất ngờ, doanh nghiệp bảo hiểm rút ra được những biện pháp cần thiết để cùng khách hàng thực hiện nhằm đề phòng tổn thất xảy ra Chẳng hạn trong bảo hiểm cháy, doanh nghiệp bảo hiểm cùng người tham gia thực hiện các biện pháp để hạn chế chập điện, nổ… như trang bị các thiết bị an toàn về điện, thiết bị chống sét… hoặc mua sắm thêm phương tiện chữa cháy.22

 Bảo hiểm hàng hóa trong nước nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước

Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm thương mại nói chung và bảo hiểm hàng hóa trong nước nói riêng phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước như mọi doanh nghiệp khác hoạt động trong nền kinh tế Hằng năm, thông qua việc nộp thuế, bảo hiểm hàng hóa trong nước đã đóng góp không nhỏ vào ngân sách Nhà

22

Nguyễn Văn Định, Giáo trình Quản trị Kinh doanh bảo hiểm, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2003,

trang 34

Trang 24

nước Bên cạnh đó, bảo hiểm cũng góp phần tiết kiệm cho ngân sách thông qua việc thực hiện tốt khâu phòng ngừa và hạn chế tổn thất, giảm đến mức thấp nhất những thiệt hại đáng tiếc có thể xảy ra.23

 Bảo hiểm hàng hóa trong nước góp phần tạo việc làm cho xã hội

Cũng là một khía cạnh đáng kể trong vai trò của bảo hiểm, ngành bảo hiểm hàng hóa trong nước đã thu hút một lượng lớn lao động làm việc cho các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, mạng lưới đại lý bảo hiểm và các nghề nghiệp liên quan như giám định tổn thất, định giá hàng hóa bị tổn thất… Trong điều kiện thất nghiệp đang ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế toàn cầu thì sự phát triển của ngành bảo hiểm hàng hóa vẫn được coi là nhiều tiềm năng ở các quốc gia sẽ góp phần giải quyết việc làm trong xã hội

1.3 Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước

1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước

1.3.1.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước

Pháp luật về hợp đồng từ lâu đã chiếm một vị trí rất quan trọng trong pháp luật Việt Nam, bởi hầu hết các giao dịch trong xã hội, dù có mục đích kinh doanh hay đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường, đều liên quan đến hợp đồng Hợp đồng là phương tiện pháp lý quan trọng nhằm thỏa mãn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội Chính vì lẽ đó mà các chế định về hợp đồng và các vấn đề liên quan đến hợp đồng trong Bộ luật dân sự 2005 đã có hơn 300 điều luật quy định

về vấn đề này Mục đích của pháp luật hợp đồng là nhằm bảo vệ quyền tự do ý chí của các bên

Quan hệ bảo hiểm hàng hóa trong nước được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng bảo hiểm hàng hóa Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước có bản chất chung của hợp đồng, là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ bảo hiểm hàng hóa Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước song có thể xác định bản chất pháp lý của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước trên cơ sở quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010 về hợp đồng bảo hiểm Theo đó, hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và

23

Giáo trình Nguyên lý bảo hiểm, Trường Đại học công nghiệp TP HCM, trang 15

Trang 25

doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.24

1.3.1.2 Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước

 Về hình thức hợp đồng

Tùy thuộc vào mức độ quan trọng và cần thiết của hợp đồng mà mỗi loại hợp đồng sẽ có những hình thức khác nhau Chẳng hạn các hợp đồng mua bán nhỏ, thông thường thì hình thức có thể bằng miệng nhưng các hợp đồng mua bán các tài sản có giá trị lớn như mua bán nhà thì hình thức hợp đồng bắt buộc phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực Tùy thuộc vào từng loại hợp đồng mà pháp luật sẽ có quy định về hình thức Theo Điều 401 Bộ luật dân sự 2005 thì hợp đồng được thể hiện bằng các hình thức như: bằng lời nói, văn bản hay bằng hành vi cụ thể

Theo quy định của pháp luật, hợp đồng bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước nói riêng phải được lập thành văn bản.25

Văn bản là một căn cứ vững chắc cho việc giao kết hợp đồng, đồng thời là nơi chứa đựng quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mà bất kỳ sự làm trái nào so với hợp đồng đều

là bằng chứng rõ ràng cho việc vi phạm hợp đồng Mặt khác, bằng việc giao kết hợp đồng bằng văn bản, ta có thể xác định được tính nghiêm túc của các bên trong hợp đồng

Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex, fax.26

Hình thức hợp đồng phải thỏa mãn hai điều kiện, điều kiện cần là hợp đồng phải được lập thành văn bản và điều kiện đủ là văn bản này phải được thể hiện thông qua một trong các hình thức: giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex, fax.27

Quan hệ bảo hiểm hàng hóa trong nước không bao giờ phát sinh nếu giữa các bên không có hợp đồng bảo hiểm hàng hóa có hiệu lực

24

Dựa trên định nghĩa về hợp đồng bảo hiểm tại Khoản 1, Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm

2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010

25

Điều 14 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010

26 Điều 14 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010.

27

Võ Thị Pha, Giáo trình Lý thuyết bảo hiểm, Nxb Tài chính, 2005, trang 18

Trang 26

Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước được cấu thành từ nhiều bộ phận với các tên gọi khác nhau như: giấy yêu cầu bảo hiểm, quy tắc bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm, điều khoản bổ sung, phụ lục hợp đồng Giấy yêu cầu bảo hiểm có chữ ký của bên mua bảo hiểm là bộ phận không tách rời của hợp đồng bảo hiểm.28

Tất cả những giấy tờ trên đều nhằm mục đích xác định rõ ràng, cụ thể quan hệ giữa các bên trong hợp đồng bảo hiểm

 V ề chủ thể hợp đồng

Các bên tham gia trong hợp đồng gọi là chủ thể của hợp đồng Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước được ký kết trên sự thỏa thuận của hai bên là doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm Hay nói cách khác, hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước được người viết nghiên cứu trong đề tài này được xác lập giữa các chủ thể đều là thương nhân Việt Nam chứ không đề cập đến thương nhân nước ngoài

Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.29

Theo quy định này thì thương nhân là tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi thương mại một cách độc lập thường xuyên như một nghề nghiệp và đăng kí kinh doanh là nghĩa vụ của thương nhân Luật thương mại 1997 thì đăng ký kinh doanh là thủ tục bắt buộc để xác lập tư cách thương nhân nhưng ở Luật thương mại 2005 thì đăng kí kinh doanh

là nghĩa vụ của thương nhân, nên chưa đăng ký kinh doanh thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình Điều này đồng nghĩa với việc luật công nhận có “thương nhân thực tế” Thương nhân thực tế là các chủ thể có hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên nhưng chưa đăng ký kinh doanh và đối tượng này cũng chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại.30

Thương nhân thực tế cũng có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh như thương nhân khác, có thể vì tạm thời họ chưa đi đăng ký kinh doanh nhưng đây là nghĩa vụ nên bắt buộc họ phải thực hiện

Về doanh nghiệp bảo hiểm, theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm

năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010 thì doanh nghiệp bảo hiểm là các doanh nghiệp được Bộ tài chính cấp giấy phép thành lập và hoạt động.31

Doanh nghiệp bảo

28

Điều 570 Bộ luật dân sự 2005

29 Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005.

Trang 27

hiểm trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước là bên bảo hiểm có nghĩa vụ bồi thường đối với bên mua bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Nếu không có doanh nghiệp bảo hiểm thì cũng không xuất hiện hợp đồng bảo hiểm

Theo Luật doanh nghiệp thì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, trụ sở ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.32

Cũng giống như doanh nghiệp trong Luật doanh nghiệp, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm cũng thực hiện việc kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận từ việc bán sản phẩm bảo hiểm, theo khoản 5 điều 3

Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010 thì: “Doanh

nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm” Theo đó, điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp bảo hiểm được tham gia

vào chủ thể của hợp đồng bảo hiểm là phải được thành lập và hoạt động hợp pháp theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm

2010, Luật doanh nghiệp 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Doanh nghiệp bảo hiểm là một tổ chức có đầy đủ tư cách pháp nhân, được Nhà nước cho phép tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm Như vậy, phạm vi chủ thể bảo hiểm hạn chế rất nhiều so với chủ thể mua bảo hiểm

Đối với bên mua bảo hiểm, họ là tổ chức, cá nhân thỏa các điều kiện của một

thương nhân Bên mua bảo hiểm cho hàng hóa trong nước phải có quyền lợi được bảo hiểm đối với hàng hóa đó Quyền lợi được bảo hiểm chính là quyền của chủ sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với hàng hóa hay quyền của những người được chủ sở hữu ủy quyền chiếm hữu (quản lý, nắm giữ) hoặc quyền sử dụng hàng hóa

Đối với bảo hiểm hàng hóa trong nước, người mua bảo hiểm và người được bảo hiểm phải là một Bởi vì, người được bảo hiểm trong bảo hiểm hàng hóa phải là người có quyền lợi vật chất từ hàng hóa, mà quyền lợi này được thể hiện qua quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt hàng hóa Bên cạnh đó, trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước, người thụ hưởng cũng chính là người được bảo hiểm (tức là người mua bảo hiểm) Tuy nhiên, nếu người mua bảo hiểm chỉ định một người khác thụ hưởng số tiền bồi thường thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trả tiền bồi thường cho người này

32

Khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005

Trang 28

Để được doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm thì bên mua phải có lợi ích bảo hiểm Lợi ích bảo hiểm là sự biểu hiện về mặt kinh tế của quyền lợi bảo hiểm Lợi ích được bảo hiểm phải đáp ứng các yêu cầu sau:

Đầu tiên, lợi ích được bảo hiểm phải là lợi ích hợp pháp, tức là phải được

pháp luật thừa nhận “Những quyền lợi không hợp pháp không thể được bảo hiểm

do vi phạm pháp luật và nguy cơ gây thiệt hại cho xã hội”.33 Chẳng hạn, một người mua bảo hiểm cho hàng hóa do mình trộm cắp được là điều không thể Bởi vì, cơ sở hình thành nên quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu hoặc quyền quản lý của bên mua bảo hiểm

Thêm vào đó, lợi ích trong bảo hiểm hàng hóa phải là lợi ích tồn tại ở thời

điểm giao kết hợp đồng Một người mua bảo hiểm cho hàng hóa mà không chứng minh được lợi ích cần bảo hiểm đang tồn tại thì không thể hình thành quan hệ bảo hiểm hàng hóa

Mặt khác, lợi ích bảo hiểm phải định lượng được, tức là có thể tính toán về

mặt giá trị, đối với những hàng hóa mà các bên không thể định giá hoặc không có

cơ sở để định giá như cổ vật, hàng quý hiếm…thông thường doanh nghiệp bảo hiểm

sẽ từ chối bảo hiểm vì không có căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường

Trong bảo hiểm hàng hóa trong nước, quyền lợi được bảo hiểm chỉ là quyền lợi về mặt vật chất của bên mua bảo hiểm đối với hàng hóa Do đó, người mua bảo hiểm chỉ có thể là chủ sở hữu hoặc chủ thể đang có quyền sử dụng hay quản lý hàng hóa Người được bảo hiểm trong bảo hiểm hàng hóa là người có quyền lợi vật chất được doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm Như vậy, một lần nữa ta có thể khẳng định là đối với bảo hiểm hàng hóa trong nước, người mua bảo hiểm và người được bảo hiểm là một

 Về đối tượng hợp đồng

Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước là hàng hóa đang tồn tại vào thời điểm giao kết hợp đồng và phải định giá được bằng tiền, mà trong quá trình sản xuất, lưu kho, bảo quản hay lưu thông ở thị trường mà xảy ra các rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm thì sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm chi trả tiền bồi thường Hay nói cách khác đó là tài sản của thương nhân, và hàng hóa là gì với những đặc điểm như thế nào mới trở thành đối tượng của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong

33

Trương Mộc Lâm và Lưu Nguyên Khánh, Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2001, trang 96.

Trang 29

nước thì người viết đã trình bày rất chi tiết ở mục 1.1.1 về khái niệm hàng hóa và mục 1.1.2 về đặc điểm của hàng hóa

Sở dĩ cầnphải có điều kiện là hàng hóa phải đang tồn tại vào thời điểm giao kết hợp đồng vì khi mua bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm phải chứng minh quyền lợi được bảo hiểm đối với hàng hóa bảo hiểm, muốn vậy thì hàng hóa phải đang hiện hữu Một khi xảy ra rủi ro cũng thuận tiện cho việc kiểm tra, xác minh tổn thất cũng như quyết định số tiền bồi thường

 Về nội dung hợp đồng

Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước là một loại hợp đồng bảo hiểm, vì vậy nó phải có những nội dung cơ bản của một hợp đồng bảo hiểm theo quy định của pháp luật.34

Pháp luật cho phép doanh nghiệp bảo hiểm được soạn thảo hợp đồng mẫu với những điều khoản cụ thể, nhất là phần điều kiện chung Vì vậy, thông thường thì bên mua bảo hiểm chỉ có thể đồng ý giao kết hoặc từ chối giao kết dựa trên mẫu hợp đồng đã định sẵn Lý do mà Nhà nước trao quyền cho doanh nghiệp bảo hiểm được phép soạn thảo mẫu hợp đồng là vì doanh nghiệp bảo hiểm biết rõ những yếu tố liên quan đến quyền và nghĩa vụ giữa các bên, biết rõ những đặc trưng

cơ bản của hoạt động kinh doanh bảo hiểm để trên cơ sở đó hình thành nên các điều khoản của hợp đồng Theo quy định tại Điều 13, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm

2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010, ngoài những điều khoản cơ bản buộc phải có trong hợp đồng, các bên được quyền thỏa thuận thêm các điều khoản khác Trên thực tế, nội dung của các điều khoản chủ yếu do doanh nghiệp bảo hiểm quy định căn cứ vào Bộ quy tắc, điều khoản bảo hiểm, biểu phí bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm ban hành.35

1.3.2 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước

Những thỏa thuận trong hợp đồng có hiệu lực sẽ có giá trị ràng buộc các bên, hợp đồng có tính chất là “luật” giữa các bên Các bên phải thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận theo đúng hợp đồng Để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng mang lại lợi ích cho các bên đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ; pháp luật quy định những nguyên tắc, có tính chất bắt buộc phải tuân theo đối với các chủ thể trong quá trình thực hiện hợp đồng Theo quy định của Bộ luật dân

Trang 30

sự 2005, việc thực hiện hợp đồng nói chung và hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước nói riêng phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:

 Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác

 Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, đảm bảo tin cậy lẫn nhau

 Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.36

1.3.3 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước

Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010 không quy định cụ thể các điều kiện để hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước có hiệu lực

Vì vậy, khi xem xét hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước, cần dựa trên các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định trong Bộ luật dân sự

2005 Căn cứ vào quy định tại Điều 22, Bộ luật dân sự 2005, có thể xác định một hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, các chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước phải

có năng lực chủ thể để thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng Trong phạm vi đề tài này, người viết chỉ đề cặp đến chủ thể tham gia hợp đồng là các thương nhân, đó là bên mua bảo hiểm và bên bán bảo hiểm

Thứ hai, đại diện của các bên giao kết hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong

nước phải đúng thẩm quyền Đại diện hợp pháp của chủ thể hợp đồng có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền Khi xác định thẩm quyền giao kết hợp đồng bảo hiểm hàng hóa, cần lưu ý quy định tại Điều 145 Bộ luật dân sự, theo

đó khi người không có quyền đại diện giao kết, thực hiện hợp đồng bảo hiểm, sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với bên hợp đồng được đại diện, trừ trường hợp được người đại diện hợp pháp của bên được đại diện chấp thuận Bên đã giao kết hợp đồng với người không có quyền đại diện phải thông báo cho bên kia để trả lời trong thời hạn ấn định; nếu hết thời hạn này không có trả lời thì hợp đồng không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với bên được đại diện nhưng người không

có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên đã giao kết hợp đồng với

36

Điều 412 Bộ luật dân sự 2005

Trang 31

mình, trừ trường hợp bên đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện

Thứ ba, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của

pháp luật, không trái đạo đức xã hội Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng không bị cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật

Thứ tư, hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước được giao kết đảm bảo các

nguyên tắc của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việc quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng nhằm đảm bảo sự thỏa thuận giữa các bên phù hợp với ý chí thực của họ, hướng đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ Theo quy định của Bộ luật dân sự, việc giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước nói riêng phải tuân thủ các nguyên tắc: tự do giao kết nhưng không trái pháp luật và đạo đức xã hội; tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.37

Những hành vi cưỡng ép, đe dọa hay lừa dối để giao kết hợp đồng… là lý

do dẫn đến hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước không có hiệu lực

Thứ năm, hình thức hợp đồng phải phù hợp với quy định pháp luật Cụ thể,

hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước phải được lập thành văn bản Trường hợp các bên không tuân thủ hình thức hợp đồng này thì đây sẽ là lý do dẫn đến hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước sẽ bị vô hiệu

1.4 Pháp luật điều chỉnh về bảo hiểm hàng hóa trong nước

Ở Việt Nam, không có tài liệu nào chứng minh một cách chính xác về thời gian xuất hiện của hoạt động bảo hiểm Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, vào năm

1880 có các Hội bảo hiểm ngoại quốc như Hội bảo hiểm Anh, Pháp, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ…đã chú ý nhiều đến khu vực Đông Dương Các hiệp hội bảo hiểm ngoại quốc đại diện tại Việt Nam bởi các doanh nghiệp thương mại lớn Ngoài việc buôn bán các doanh nghiệp này còn mở thêm một trụ sở để làm đại diện bảo hiểm

Ở miền Nam, vào năm 1926 có chi nhánh đầu tiên của Doanh nghiệp Asietique Đến năm 1929, các doanh nghiệp của Việt Nam đặt trụ sở tại Sài Gòn, đó

Franco-là Việt Nam Bảo Việt Doanh nghiệp chỉ hoạt động về bảo hiểm xe ô tô Từ năm

1945, bảo hiểm hoạt động với tư cách là một dịch vụ tài chính Từ năm 1952 trở về sau hoạt động bảo hiểm mới được mở rộng với nhiều hình thức phong phú với sự hoạt động của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm trong nước và ngoại quốc.38

Trang 32

từ năm 1954 đến 1975, ở miền Nam Việt Nam đã tồn tại 57 doanh nghiệp bảo hiểm dưới nhiều loại hình pháp lý: doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp tương hỗ, doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài Sau 1975, một số doanh nghiệp bảo hiểm tư nhân ở miền nam đã được quốc hữu hóa và sáp nhập vào Doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam

Trước nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, trên cơ sở nghiên cứu hoạt động bảo hiểm ở các nước phát triển trên thế giới, nghị định số 100/CP của Chính phủ ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm được ban hành đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong sự phát triển của ngành kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam, tạo điều kiện mở rộng nhiều loại hình kinh doanh bảo hiểm với nhiều tổ chức trong

và ngoài quốc doanh để nâng cao chất lượng hoạt động bảo hiểm

Hiện nay hệ thống các văn bản pháp luật Việt Nam chỉ tập trung điều chỉnh vấn đề bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển Bởi lẽ theo quan điểm của mọi người và đặc biệt là các nhà làm luật thì đây là hoạt động thương mại tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Do đó ít ai chú ý đến việc mua bảo hiểm hay ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề mua bảo hiểm cho hàng hóa trong nước Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay, hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm không ngừng được hoàn thiện, chỉnh sửa và bổ sung Ngày 09 tháng 12 năm 2000, Luật Kinh doanh bảo hiểm được Quốc Hội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 8, khóa X và có hiệu lực ngày 01/04/2001, đặt nền móng pháp lý cơ bản cho sự phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam Do hiện nay một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 không còn phù hợp nữa nên Quốc Hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm ngày 24 tháng 10 năm 2010, có hiệu lực ngày 01 tháng

07 năm 2011

Trên đây là cơ sở lý luận chung nêu lên một cách khái quát về bảo hiểm hàng hóa trong nước Hiện nay, pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể như thế

nào để điều chỉnh vấn đề này thì người viết sẽ trình bày cụ thể ở chương 2: Quy chế

pháp lý về bảo hiểm hàng hóa trong nước

Trang 33

CHƯƠNG 2: QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ BẢO HIỂM

HÀNG HÓA TRONG NƯỚC

2.1 Đối tượng và phạm vi được bảo hiểm

2.1.1 Đối tượng bảo hiểm

Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước là hàng hóa, hay nói cách khác đó là tài sản của thương nhân Theo đó, trong quá trình sản xuất, lưu kho, bảo quản hay lưu thông ở thị trường trong nước mà xảy ra các rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm thì sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm chi trả tiền bồi thường

Hàng hóa ở đây phải được phép giao dịch trên thị trường Nghĩa là hàng hóa không thuộc danh mục những đối tượng mà Nhà nước cấm kinh doanh.39

Tuy nhiên không phải đối tượng nào được gọi là hàng hóa cũng là đối tượng của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước mà chỉ những hàng hóa được đề cập ở đoạn cuối của mục 1.1.1 về khái niệm hàng hóa mới là đối tượng của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trong nước

Chính vì đối tượng của bảo hiểm hàng hóa trong nước là hàng hóa (một loại tài sản) nên tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, hàng hóa được bảo hiểm phải đang tồn tại và các bên phải định giá được giá trị của hàng hóa đó Đây cũng là căn

cứ quan trọng để xác định mức phí bảo hiểm và phạm vi trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm Bởi lẽ, hàng hóa là những vật có thực nên nếu có xảy ra tổn thất thì đó cũng là những tổn thất mà con người có thể tính toán được Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ bồi thường tương xứng với tổn thất thực tế từ hàng hóa mà người được bảo hiểm phải gánh chịu Bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có thể thỏa thuận bảo hiểm một phần hoặc toàn bộ giá trị hàng hóa đó

Cũng giống như bảo hiểm tài sản, yếu tố mà doanh nghiệp bảo hiểm đứng ra bảo hiểm đó là quyền lợi về tài chính của người mua bảo hiểm đối với hàng hóa được bảo hiểm Để tiến hành mua bảo hiểm cho hàng hóa, người mua bảo hiểm phải chứng minh được quyền lợi tài chính của mình đối với hàng hóa đó Quyền lợi tài

39 Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 06 năm 2006 quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh có điều kiện và Nghị định 43/2009/NĐ-CP, nghị định sửa đổi bổ sung danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh của Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 06 năm 2006 quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hóa, dịch

vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh có điều kiện

Trang 34

chính này được thể hiện qua việc, nếu hàng hóa bị tổn thất thì chính người mua bảo hiểm sẽ phải gánh chịu thiệt hại Quyền lợi này có được từ việc sở hữu hoặc sử dụng đối với hàng hóa Vì vậy, người mua bảo hiểm trong bảo hiểm hàng hóa phải chính là chủ sở hữu hoặc chủ thể đang trực tiếp quản lý hàng hóa đó

Quy định trên xuất phát từ lý do: khi những chủ thể được chủ sở hữu hàng hóa chuyển giao quyền chiếm hữu hay quyền sử dụng đới với hàng hóa thì họ có trách nhiệm đối với hàng hóa đó Nếu hàng hóa bị hư hỏng hoặc mất mát thì họ phải

có trách nhiệm bồi thường cho chủ sở hữu Như vậy, trong trường hợp này, các chủ thể được chủ sở hữu hàng hóa ủy quyền quản lý mua bảo hiểm cho hàng hóa, thực chất là chuyển giao trách nhiệm vật chất từ mình sang cho doanh nghiệp bảo hiểm.40

Trong bảo hiểm hàng hóa trong nước, bên mua bảo hiểm phải chứng minh được tổn thất của hàng hóa phải có những ảnh hưởng đối với họ thì mới được phép mua bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm nếu bên này chứng minh được rằng họ có quyền lợi đối với hàng hóa bảo hiểm Trường hợp bên mua bảo hiểm được chủ sở hữu ủy quyền quản lý đối với hàng hóa thì họ phải có bằng chứng pháp lý về sự ủy quyền đó.41

Quyền lợi có thể được bảo hiểm là một trong những nguyên tắc cơ bản của

bảo hiểm hàng hóa bởi lý do: Nếu người mua bảo hiểm có quyền lợi được bảo hiểm

trên hàng hóa mà họ mua bảo hiểm thì khả năng sẽ giảm thiểu sự trục lợi Trên thực

tế, ít có khả năng người có lợi ích đối với hàng hóa lại hủy hoại nó trừ khả năng trục lợi Tức là, người mua bảo hiểm tự hủy hoại hàng hóa không còn nhiều giá trị để được bồi thường hoặc hủy hoại thêm để được hưởng số tiền bồi thường lớn hơn Mặt khác, nếu người mua bảo hiểm không có quyền lợi đối với hàng hóa đó thì tổn thất xảy ra không liên quan đến họ

2.1.2 Phạm vi bảo hiểm

Phạm vi bảo hiểm là giới hạn xác định trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm Tức là nếu có rủi ro trong phạm vi bảo hiểm xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường theo cam kết trong hợp đồng Thông thường, phạm vi bảo hiểm sẽ được thể hiện qua một điều khoản cụ thể trong hợp đồng bảo hiểm Thực tế cho thấy có rất nhiều loại rủi ro và tổn thất có thể ảnh

Trang 35

hưởng đến sự an toàn của đối tượng bảo hiểm nhưng những yêu cầu về kỹ thuật pháp lý chỉ cho phép các nhà bảo hiểm bảo hiểm cho một số trường hợp nhất định Tuy nhiên, vì lĩnh vực bảo hiểm hàng hóa trong nước rất rộng nên trong phạm vi nghiên cứu này, người viết chỉ tập trung vào một số trường hợp phổ biến, xảy ra thường xuyên trong thực tế Do đó, phạm vi bảo hiểm được đề cập ở đây bao gồm: bảo hiểm cho rủi ro cháy, nổ, bảo hiểm cho rủi ro trộm cắp và bảo hiểm cho rủi ro thiên tai

2.1.2.1 Bảo hiểm cho rủi ro cháy, nổ

Thông tư 220/2010/TT-BTC của Bộ Tài Chính ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2010 hướng dẫn thực hiện chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc có quy định: hàng hóa là một trong những đối tượng phải tham gia bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc Cháy là phản ứng hóa học có tỏa nhiệt và phát sáng do nổ hoặc bất kỳ nguyên nhân nào khác Nổ là phản ứng hóa học gây ra việc giải phóng khí và năng lượng đột ngột với khối lượng lớn đồng thời phát ra âm thanh và ảnh hưởng vật lý đến các vật xung quanh Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong mọi trường hợp sẽ không vượt quá tổng số tiền bảo hiểm ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm tại thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm.42

Doanh nghiệp bảo hiểm không có nghĩa vụ bồi thường nếu thiệt hại do một trong những nguyên nhân sau đây gây ra:43

 Hàng hóa tự lên men hay tự tỏa nhiệt

 Hàng hóa chịu tác động của một quá trình xử lý có dùng nhiệt

 Những thiệt hại do bên mua bảo hiểm cố ý vi phạm các quy định về phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ Thiệt hại xảy ra do các thiết bị điện bị quá tải, quá áp lực, đoản mạch, tự đốt nóng hay rò điện do bất kỳ nguyên nhân nào, kể cả do sét đánh

 Những thiệt hại do hành động cố ý gây cháy, nổ của bên mua bảo hiểm nhằm mục đích đòi bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bảo hiểm

Thực tế cho thấy thiệt hại do cháy, nổ gây ra đối với hàng hóa là rất lớn, thế nhưng phần lớn các thương nhân đều có tâm lý chủ quan, đánh cược hàng hóa của

Ngày đăng: 21/09/2015, 13:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w