Sử dụng kĩ thuật chụp ảnh hiển vi để đưa ra các hình ảnh của đặc điểm giải phẫu, bột dược liệu... PHẦN II: THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ2.1 Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu 2.1.1 Nguyên li
Trang 1Bộ Y TỂ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
ĐỖ THỊ BÍCH THUẬN
MỘT SỐ DƯỢC LIỆU CHỨA COUMARIN
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DUỢC s ĩ KHOÁ 2001 - 2006 )
Người hướng dẫn : TS NGUYỄN VIẾT THÂN
DS HỒ TRUNG CHIẾN
Thòi gian thực hiện : 02/2006 - 05/2006.
Hà Nội, 5 - 2006
Trang 2Lòi cm ơn
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS Nguyễn Viết Thân và thầy giáo DS Hồ Trung Oiiến đã hết lòng hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Và cũng muốn gửi lời cảm Cfn đến các thầy cô giáo, kĩ thuật viên bộ
môn Dược liệu đã giúp đỡ, tạo điều kiện trong suốt thời gian thực hiện
em thực hiện khoá luận tại bộ môn
Để có được như ngày hôm nay, em không biết nói gì hơn là bày tỏ lòng biết ơn tất cả các thầy, cô giáo trong trường; toàn thể các bạn; người thân trong gia đình đã dạy bảo, giúp đỡ động viên em suốt năm năm học vừa qua
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2006
Sinh viên
Đỗ Thi Bích Thuân
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Đặt vấn đề 1
Phần I : Tổng quan 3
Phần II: Thực nghiệm và kết quả 5
2.1 Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu 5
2.1.1 Nguyên liệu 5
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 5
2.2 Kết quả thực nghiệm 10
2.2.1 Bạch chỉ 10
2.2.2 Cỏ nhọ n ồ i 19
2.2.3 Đương q u y 26
2.2.4 Mần tư ớ i 34
2.2.5 Mò mâm x ô i 40
2.2.6 Sài đ ấ t 46
Phần ni: Kết luận 53
Tài liêu tham khảo.
Trang 4CHÚ GIẢI CHỮVIẾT TẮT
HPTLC: Sắc ký lóỉp mỏng hiệu năng cao
TT : Thuốc thử
nm : nano mét (10'^ m)
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong giai đoạn gần đây, ngành Dược Việt Nam phát triển khá mạnh mẽ
cả về số lượng, chủng loại cũng như chất lượng các sản phẩm Bên cạnh các mặt hàng thuốc tân dược các sản phẩm Đông dược cũng ngày một được sử dụng nhiều Trên thị trường xuất hiện nhiều tên công ty mà khi nhắc đến người ta đã nghĩ ngay tới các sản phẩm Đông dược như: Traphaco, Đông Nam dược Bảo Long, Đông dược Phúc Hưng Mỗi công ty hàng năm cho ra đời nhiều sản phẩm mới cả về chủng loại cũng như mẫu mã Số lượng các sản phẩm đông dược sản xuất trong nước có nguồn gốc dược liệu cũng như các sản phẩm nhập nội khá nhiều Tuy nhiên, hiệu quả chữa bệnh của chúng còn chưa cao Để đánh giá hiệu quả chữa bệnh của thuốc Đông dược người ta dựa trên nhiều yếu tố, nhưng yếu tố quyết định nhất là chất lượng nguyên liệu làm thuốc Chất lượng nguyên liệu lại được kiểm định qua các yếu tố như: nguyên liệu này có đúng hay không? nguyên liệu có đạt yêu cầu ? v.v
Trong khi đó, nguồn nguyên liệu của Việt Nam khá phong phú với số lượng cây cỏ hơn 3200 loài thuộc gần 1200 chi và trên 200 họ được dùng làm thuốc Nên việc xác định rõ được nguồn gốc thuờng không dễ dàng Nhất là trong giai đoạn hiện nay các văn bản mang tính pháp qui về quản lý kiểm soát quá trình lưu thông, phân phối dược liệu trên thị trường còn thiếu thì công việc kiểm nghiệm dược liệu để xác định rõ nguồn gốc, tránh nhầm lẫn giả mạo là hết sức quan trọng Các chuyên luận trong Dược điển thường chỉ mô tả: đặc điểm hình thái cây thuốc, vị thuốc, đặc điểm vi học, các phản ứng định tính nên các chuyên luận này mang nặng tính chất cảm quan; chưa có hình ảnh hoá, lượng hoá các đặc điểm Để góp phần cụ thể hoá và tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng, chúng tôi tiến hành đề tài: “ Nghiên cứu thành lập tiêu chuẩn kiểm nghiệm một sô dược liệu chứa Coumarin".
Trang 6Nội dung khoá luận:
Nghiên cứu minh họa đặc điểm hình thái câv thuốc bằng hình ảnh
Sử dụng kĩ thuật chụp ảnh hiển vi để đưa ra các hình ảnh của đặc điểm giải phẫu, bột dược liệu
<♦ Thực hiện quá trình vi thăng hoa các dược liệu nghiên cứu, quan sát và chụp ảnh tinh thể dưới kính hiển vi
Dược điển Việt Nam III, chụp ảnh và phân tích các bản sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao trong các điều kiện khác nhau
Trang 7PHẦN I: TỔNG QUAN
Đầu thế kỷ XIX, người ta đã tìm ra chất Coumarin đầu tiên trong một loại cây họ Đậu (Dipteryx odorata Willd Fabaceae). Từ đó hình thành nên nhóm hợp chất có tên chung “Coumarin” xuất phát từ tên địa phương"Coumarou” của cây này
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học đã tìm ra hơn 200 chất Coumarin khác nhau So với các loại hợp chất khác thì đây quả
là một con số khiêm tốn, nhưng nó là một nhóm hợp chất quan trọng trong Y học và thậm chí đã trở thành một chương quan trọng trong dược liệu cổ điển Các dược liệu chứa Coumarin thấy trong 150 loài thuộc 30 họ thực vật Những
họ hay gặp như: họ Trúc đào (Apocỵnaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ Hoa tán
Trong khóa luận chúng tôi tiến hành nghiên cứu kiểm nghiệm 6 dược liệu thường dùng có chứa Coumarin thu từ các cây thuộc 3 họ sau:
-Họ Cúc (Asteraceae), thuộc bộ Cúc (Asteraỉes). Phân lớp Cúc
dược liệu lấy từ các cây: cỏ nhọ nồi (Ecỉipta prostrata (L.) L.); Mần tưói
Meư.) Họ Hoa tán (Apiaceae), thuộc bộ Hoa tán (Apiales). Phân lớp Hoa hồng (Rosidae), lớp Ngọc lan {Magnoliopsida). Dược liệu lấy từ cây Bạch chỉ
Yuan]; và cây Đưoíng quy di thực {Angelica acutiloba (Sieb, et Zucc.) Kitagawa)
- Họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae), thuộc bộ Hoa môi {Lamíales). Phân lớp Hoa môi (Lamiidae), lớp Ngọc lan (Magnolìopsida). Trong họ này nghiên
Trang 8cứu dược liệu lấy từ cây Mò mâm xôi (Cỉerodendrum philippinum var Symplex Wu et Fang hoặc Clerodendrum fragrans Vent.).[6][8]
Xét về mặt cấu trúc, các chất Coumarin đều có khung Benzo a - pvron
và đây cũng chính là chất Coumarin đơn giản nhất Trong số 200 chất đã tìm
ra dựa trên đặc điểm về cấu trúc người ta phân ra làm 3 nhóm chính: Coumarin đơn giản, Furanocoumarin, Pyrocoumarin Coumarin đơn giản là những chất chỉ có khung Benzo a - pyron và các nhóm thế gắn quanh khung,còn Furanocoumarin là những chất có khung cơ bản Benzo a - pyron gắn thêm khung furan .[2][10]
Coumarin thưòíng là những chất dễ kết tinh không màu, nhiều chất trong
số chúng có thể thăng hoa được Ngoài ra các hợp chất Coumarin có huỳnh quang dưới ánh sáng tử ngoại, cường độ huỳnh quang phụ thuộc nhóm oxy của phân tử Coumarin cũng như pH của dung dịch Khả năng cho huỳnh quang mạnh nhất là OH ở C-7 Trong phân tử có vòng lacton (este nội) nên Coumarin dễ bị mở vòng bởi kiềm tạo thành muối tan trong nước, nếu acid hoá sẽ đóng vòng lại Người ta đã ứng dụng các tính chất trên trong định tính dược liệu chứa Coumarin
Vì có mùi thơm, nên nhóm hợp chất Coumarin ngoài các ứng dụng trong
y học chúng còn được dùng nhiều trong nghành mỹ phẩm, thực phẩm với vai trò như chất định hương, tạo mùi thơm cho các sản phẩm Ví như sản phẩm Thanakha - công ty Shwebo Minthamee Co., Ltd - Myanmar (Burma), hay các sản phẩm của hãng Nivea trong thành phần có thêm Coumarin Theo nhiều nghiên cứu thì một số Coumarin có khả năng gây ung thư, độc trên gan và thận Để đảm bảo sức khoẻ cho người sử dụng, từ giữa thế kỷ XX, nhiều nước
đã cấm lưu hành các sản phẩm chứa chất phụ là Coumarin
Để thuận tiện cho việc theo dõi và tránh trùng lặp, chúng tôi trình bày phần tổng quan tương ứng với từng vị dược liệu được nghiên cứu
Trang 9PHẦN II: THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ
2.1 Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Nguyên liệu
Trong khoá luận chúng tôi tiến hành nghiên cứu các mẫu dược liệu sau:
- Rễ của cây Bạch chỉ {Angelica dahurica (Fisch ex Hoffm.) Benth et Hook.f.), họ Hoa tán (Apiaceae). Thu hái tại trung tâm nuôi trồng và chế biến dược liệu-Viện Dược liệu
- Phần trên mặt đất của cây cỏ nhọ nồi [Eclipta prostrata (L.) L.], họ
- Rễ của cây Đương quy di thực {Angelica acutỉloba (Sieb, et Zucc) Kitagawa), họ Hoa tán (Apiaceae). Thu hái tại thị trấn Sapa tỉnh Lào Cai
Và trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng sử dụng các mẫu Đương quy thu mua tại một số hiệu thuốc phố Lãn ông
- Phần trên mặt đất của cây Mần tưới (Eupatorium fortunei Turcz.), họ
- Phần trên mặt đất của cây Mò mâm xôi (Clerodendrum philỉppinum
var Symplex Wu et Fang), họ c ỏ roi ngựa (Verbenaceae). Thu hái tại Vườn thực vật ĐH Dược Hà Nội
- Phần trên mặt đất của cây Sài đất {Wedelia chinensis (Osbeck) Meư.),
họ Cúc (Asteraceae). Thu hái tại Vườn thực vật ĐH Dược Hà Nội
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu
Xử lý và bảo quản mẫu
Mẫu dược liệu nghiên cứu có thể là dược liệu tươi hay dược liệu đã qua chế biến, sau khi thu về được xử lý bằng phương pháp thích hợp, rồi cho vào túi PE bảo quản ở nơi khô ráo
Trang 10Quan sát các đăc điểm hình thái ( Nghiên cứu cảm quan)
Dược liệu được quan sát bằng mắt thường về hình dạng, kích thước, màu sắc và thể chất
Với những dược liệu có cây tươi thì quan sát và mô tả đặc điểm
+ Cây; Có thể chụp toàn cây hoặc một bộ phận của cây hoặc một bộ phận mang hoa hay quả bằng máy ảnh kỹ thuật số, các file ảnh đưa vào máy tính
+ Dược liệu: Chọn những dược liệu có những điểm đặc trưng, rõ ràng đặt lên nền thích hợp, chụp ảnh và xử lý tương tự như phần ảnh của cây
Nghiên cứu hiển vi [18]
khoảng 5 đến 10 phút, tính từ lúc sôi tuỳ từng trường hợp cụ thể
+ Rửa bằng nước cất cho đến sạch cloramin
+ Ngâm trong dung dịch clorai hydrat 75% khoảng 5-10 phút
+ Rửa lại bằng nước sạch đến hết clorai hy drat 75%
+ Ngâm trong dung dịch Acid acetic 10% trong 10 phút
+ Rửa bằng nước sạch đến hết acid
Trang 11• Nhuộm mầu: Nhuộm bằng phương pháp nhuộm kép thông thường với
đỏ son phèn và xanh methvlen
+ Các lát cắt sau khi rửa hết acid được nhuộm bằng đỏ son phèn
+ Rửa bằng nước cất đến khi nước không còn màu hồng
+ Nhuộm lát cắt bằng xanh methylen
+ Rửa lại nhiều lần bằng nước cất
+ Thời gian nhuộm tuỳ theo tính chất bắt màu của các tổ chức
trình này được tiến hành theo các bước sau:
+ Các lát cắt sau khi đã nhuộm được khử nước từ từ bằng cồn có độ cồn tăng dần từ 10°, 20° ,30° 80°, 90*^ sau đó là cồn tuyệt đối
+ Rửa lại bằng Xvlen nguvên chất 3 lần
- Lên kính và cố định:
+ Nhỏ lên phiến kính một giọt Bôm Canada
+ Dùng bút lông lấy vi phẫu đặt vào giữa giọt Bôm trên phiến kính, sau
đó đậy lá kính lên
+ Để tiêu bản ở nơi thoáng mát 1-2 tuần
+ Tiêu bản đã được ổn định, đưa lên kính hiển vi quan sát, mô tả đặc điểm giải phẫu
ngửi để nhận biết mùi vị của bột.
- Xác định màu sắc, mùi, vị bột dược liệu bằng cảm quan
Trang 12- Lên tiêu bản: Sử dụng các dung dịch lên kính khác nhau để làm tiêu bản bột dược liệu, thường dùng nước hoặc dung dịch cloral hydrat 10%, glycerin
- Quan sát các đặc điểm bột bằng kính hiển vi Mô tả các đặc điểm đó
- Chuyển các đặc điểm của bột trên kính hiển vi thành các file trên máy
tắc của sắc ký lớp mỏng thông thường nhưng được tiến hành trong những điều kiện chuẩn nhất định Bên cạnh đó, có sự hỗ trợ của máy móc và phần mềm vi tính
Tiến hành:
Quá trình chuán bi:
+ Chuẩn bị dịch chiết: cho một gam dược liệu vào một ống nghiệm to, cho thêm lOml methanol Để một thời gian Lọc lấy dịch chấm sắc ký
+ Hệ dung môi: dựa trên sự tham khảo các tài liệu tìm một số hệ dung môi để thăm dò, khảo sát, từ đó tìm được hệ dung môi thích hợp đối với mỗi dược liệu
+ Bản mỏng: sử dụng bản sắc ký tráng sẵn silicagel GF254 (Merck) hoạt hoá ở 110°c trong Ih
Quá trình tiến hành:
+ Pha hệ dung môi
+ Cho hệ dung môi chạy sắc ký vào bình, để dung môi bão hoà
Trang 13+ Chấm sắc ký: các vết dịch chiết dược liệu trên bản sắc ký được chấm bằng máy chấm sắc ký CAMAG - Linomat 5.0 với phần mềm điều khiển winCATS.
+ Khai triển dung môi chạy sắc ký
+ Làm khô bản mỏng sắc ký bằng cách để dung môi tự bav hơi
+ Pha và phun thuốc thử hiện màu
+ Quan sát bản mỏng sắc ký dưới đèn tử ngoại (ở hai bước sóng tử ngoại 254nm và 366nm), ánh sáng trắng (bản sắc ký sau khi phun thuốc thử hiện màu vanilin trong ethanol)
Chuẩn bi nguyên liêu cho quá trình vi thăng hoa:
Các dược liệu làm khô ở nhiệt độ thấp khoảng 25°c (để tránh hiện tượng thăng hoa của hoạt chất cần nghiên cứu)
Thưc hiên quá trình vi thăng hoa:
Lấy khoảng Ig nguyên liệu cho vào dụng cụ kim loại và đặt trên bếp điện có lưới amian Khi lượng nhiệt cung cấp đủ nóng (từ bếp điện) (Luôn chú
ý là phải để nhiệt độ bếp tăng dần, ban đầu luôn để phiến kính không che kín dụng cụ kim loại), phiến kính có bông tẩm nước lạnh được đặt lên dụng cụ thăng hoa và cứ khoảng 2-3 phút lần lượt thay phiến kính khác Tổng cộng
Trang 14cho 1 lần thí nghiệm từ 8-10 tiêu bản Quá trình được dừng lại khi trên phiến kính không có các vết mờ (do tinh thể bám vào).
Quan sát trên kính hiển vi:
Trong quá trình thí nghiệm sử dụng kính hiển vi độ phóng đại khoảng 90 lần Quan sát tinh thể, nhận xét hình dạng tinh thể, phát hiện tinh thể có dạng đặc trưng (nếu có), bằng cách dùng phản ứng tạo iodo coumarin có mầu nâu hoặc tím, dung dịch thử là I + KI
Chup ảnh tinh thể:
Tinh thể sau khi vi thăng hoa dược chụp ảnh dưới kính hiển vi có gắn máy ảnh kĩ thuật số Sau đó chuyển các hình ảnh tinh thể Coumarin thành các file trên máy tính
2.2 Kết quả thực nghiệm
2.2.1 Bạch chỉ
Tổng quan
Dược liệu là rễ phơi hay sấy khô của cây Bạch chỉ [Angelica dahurica
(Fisch, ex Hoffm) Benth et Hook.f hoặc Angelica dahurica (Fisch, ex Hoffm.) Benth et Hook.f wai formosana (Boiss.) Shan et Yuan], họ Hoa tán
(Apiaceae).[l]
Bạch chỉ được nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam sau năm 1960 Lúc đầu, trồng thử ở Sapa, sau chuyển dần xuống Tam Đảo và ngoại thành Hà Nội (các cây thuốc ở Viện Dược liệu) đều thấy cây sinh trưởng và phát triển tốt Hiện nay, Bạch chỉ đã được trồng phổ biến ở những tỉnh miền trung du cũng như đồng bằng ở miền Bắc.[21]
Thành phần hoá học: ngoài tinh dầu trong rễ củ còn có các dẫn chất coumarin đã được biết như Byak-angelicin, Byak-angelicol, Oxypeucedamin, Imperatorin, Isoimperatorin, Scopoletin [21][7]
Trang 15Bạch chỉ có tác dụng hạ sốt, giảm đau dùng trong điều trị cảm cúm, sốt xuất huyết, đau nhức đầu, đau răng, đau kinh, còn dùng chữa đau khớp xương, mụn nhọt mưng mủ, vết thương do bỏng [3][5]
*Yêu cầu kiểm nghiệm:
Dược điển Việt Nam III có chuyên luận Bạch chỉ với các tiêu chuẩn kiểm nghiệm: Đặc điểm dược liệu, đặc điểm hiển vi, các phản ứng định tính và sắc
ký lớp mỏng so với mẫu chuẩn
Cây dùng thay thế: ở nước ta, không có cây Bạch chỉ mọc hoang Các thầy thuốc y học cổ truyền và nhân dân ở nhiều nơi đã dùng rễ cây M
át rừng (Miỉlettia pulchra Kurz, họ Đậu - Fabaceae) còn gọi là Đậu dự, cây Nếnh để thay với tên Bạch chỉ nam [21] Để giả mạo Bạch chỉ ở Trung quốc người ta dùng rễ của một số cây trong họ Cần như: Heracleum
Kết quả thưc nghỉèm
- Mô tả cây:
Cây cỏ, cao 0,5-1 m, sống lâu năm, thân hình trụ, rỗng, không phân nhánh Lá to, có cuống, phần dưới phát triển thành bẹ ôm lấy thân, phiến lá xẻ 2-3 lần lông chim, mép khía răng, có lông ở gân lá mặt trên Cụm hoa tán kép, mọc ở ngọn, hoa nhỏ màu trắng Quả bế, dẹt, toàn thân câỵ có mùi thơm(Ảnh la)
- Mô tả dược liệu:
Rễ nguyên, ít khi phân nhánh, thẳng hoặc hơi cong, đầu trên mang vết tích của cổ rễ, đầu dưới nhỏ dần, mặt ngoài màu vàng nhạt, có nhiều nếp nhăn dọc, có dấu vết của rễ con và nhiều chỗ sần sùi nhô lên Thể chất cứng chắc khó bẻ Dươc liêu có mùi thơm
Trang 16- Đặc điểm bột dược liệu:
Bột màu trắng ngà, mùi thơm hắc, vị cay hơi đắng Soi trên kính hiển vi thấy nhiều hạt tinh bột hình tròn hay hình khối, nằm riêng lẻ hay tập trung thành đám, các mảnh mạch mạng hoặc mạch vạch
- Đặc điểm vi phẫu:
Mặt cắt ngang rễ tròn Từ ngoài vào trong có: Lớp bần gồm những tế bào hình chữ nhật xếp thành các vòng đồng tâm và dãy xuyên tâm Mô mềm vỏ được cấu tạo từ những tế bào thành mỏng, có các khuyết, nhiều ống tiết to nằm rải rác trong mô mềm và cả trong vùng libe Libe tạo thành các bó sít nhau Tầng phát sinh libe-gỗ tạo thành vòng rất rõ Các mạch gỗ lófn tập trung thành dãy hướng tâm trong mô mềm gỗ không hoá gỗ Tia tuỷ rộng gồm 5-10 dãy tế bào
Các đặc điểm vi phẫu, bột của Bạch chỉ về cơ bản không có gì khác so với các hình ảnh trong cuốn sách “Kiểm nghiệm Dược liệu bằng phương pháp hiển vi”.[19]
- Định tính:
A Lấy 5g bột dược liệu, thêm 50ml ethanol (TT), lắc đều, đun cách thuỷ
5 phút Lọc, cô dịch còn khoảng lOml (dung dich A)
Lấy 1 ống nghiệm, cho vào Iml dung dịch A, thêm Iml dung dịch Natri carbonat 10% (TT) hay Natri hydroxyl 10% (TT) và 3ml nước cất, đun cách thuỷ 3 phút, để thật nguội, cho từ từ từng giọt thuốc thử Diazo (TT)
B Lấv 0,5g bột dược liệu vào ống nghiệm, thêm 3ml nước, lắc đều trong 3 phút, lọc, nhỏ 2 giọt dịch lọc vào tờ giấy lọc, để khô, quan sát dưới ánh sáng tử ngoại (365nm)
Trang 17C Cho 0,5g bột dược liệu vào ống nghiệm, thêm 3ml ether, lắc 5 phút, để yên 20 phút Lấy Iml dịch ether, thêm 2-3 giọt dung dịch hydroxylamin hydroclorid 7% trong methanol và 2-3 giọt dung dịch kali hydroxyd 20% trong methanol Lắc kỹ, đun nhẹ trên cách thuỷ, để nguội điều chỉnh pH 3-4 bằng acid hydrochloric loãng (TT) Sau đó thêm 1-2 giọt duns dịch Sắt(III) clorid 1% trong ethanol (TT).
♦♦♦ Sắc kv lớp mỏng:
Các mẫu Bạch chỉ được chiết bằng dung môi ethanol sau đó triển khai bằng hệ dung môi Benzen-ethyl acetate (9 : 1)[1] Dung dịch thử và dung dịch đối chiếu cho các vết trên sắc ký đồ tương tự nhau Đồng thời chúng tôi cũng chiết các chất trong mẫu Bạch chỉ bằng dung môi methanol, sau đó triển khai
ở hai hệ dung môi:
Hệ 1: Ethylacetat - Toluen - Acidformic ( 5 : 6 : 1 )
Hệ 2: Benzen - Ethỵlacetat (95 : 5)
Kết quả sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao dịch chiết Bạch chỉ trong methanol sẽ trình bày trang sau (Hình 1.1-6)
trong methanol cho thấy ở điều kiện thí nghiệm, các bản sắc ký triển khai trong hai hệ dung môi khác nhau nhưng số lượng vết trên sắc ký đồ quan sát dưới ánh sáng tử ngoại bước sóng 366nm là như nhau
❖ Vi thăng hoa:
Tinh thể Coumarin trong Bạch chỉ có hình khối (Ảnh Ib) Khi nhỏ một giọt dung dịch I + KI lên phiến kính có tinh thể, quan sát trên kính hiển vi thấy các tinh thể chuyển sang màu tím
Trang 18Nhân xét
Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy các mẫu dược liệu Bạch chỉ trên thị trưòỉng thường ít có nhầm lẫn, giả mạo Tuy nhiên, giữa các mẫu được trồng ở các điều kiện khác nhau có sự khác nhau không nhiều; như với mẫu Bạch chỉ trồng vùng đồng bằng thường có lõi giữa rễ và giảm độ thơm, lượng tinh bột ít hơn so với Bạch chỉ trồng vùng núi Do vậy nên trồng Bạch chỉ theo một quy trình thích hợp
Phản ứng định tính Coumarin bằng cách tạo phức màu tím đỏ, trên thực
tế chỉ thu được phức màu nâu nhạt Điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể do trong dịch chiết Bạch chỉ trong ether có lẫn nhiều chất khác không chỉ có Coumarin Riêng với quá trình vi thăng hoa trên phiến kính thu tinh thể Coumarin ở dược liệu Bạch chỉ khó thực hiện, vì trong Bạch chỉ hàm lượng tinh dầu rất cao, khi vi thăng hoa ở nhiệt độ cao Coumarin và tinh dầu cùng bay hơi Coumarin dễ tan trong tinh dầu nên rất khó thấy tinh thể
Trang 19D.733
M s x H
245.6
393 ộ 455.2
2165.8
1473 4.93 10.69 7.92 Q.15 43.54
9 04
Er.d Rrf 0.036
Ũ.Ũ6§
0.342 D.40$
5506.3 16§1.D
9^34,0
6Ù6ÍÍ,3 65D9.2 Ộ9843.1
4Ã54.6
5-28 1.61 5.82 6.24 íiộ.974.65
SubstName
Total Height 4ở74.ti4 Total A-ea ; 1042ỷ:5
Trang 20/ \
*
A /
Á,' \
Total Height 26377 1 Total iifea 667383
Hình 1.2: Kết quả sắc ký dịch chiết Bạch chỉ trong methanol quan sát dưới ánh sáng tử ngoại bước sóng 366nm
•T.rsck 3
ICO.
T ra o k 3
oo 1" "
o 1
.^ ĩ 0_2:
Trang 21Total Height 2475 0^ Total ¿v-ea ; 297Ộ0.5
Hình 1.4: Kết quả sắc ký dịch chiết Bạch chỉ trong methanol quan sát dưới ánh sáng tử ngoại bước sóng 254nm
Trang 22Total Height 4CỈ47.18 Total A v:3 : 5 1 7 4 6 Ở
ílình 1.6: Kết quả sắc ký dịch chiết Bạch chỉ trong methanol
quan sát dưới ánh sáng trắng khi hiện màu
Trang 23hết các nước vùng Nam hoặc Đông Nam Châu Á ở Việt Nam, Nhọ nồi phân
bố rộng rãi ở khắp các vùng đồng bằng, trung du và miền núi.[21]
Nhọ nồi chứa các dẫn chất Thiophen, coumarin (Wedelolacton), Stigmasterol Ngoài ra còn có một số glycosid, tanin, tinh dầu, chất đắng và một lượng nhỏ các alcaloid như nicotin 0,078% (theo khối lượng khô) ecliptin [21]
Cỏ nhọ nồi có tác dụng bổ thận, mạnh xương, đen tóc, mát huyết, cầm máu, giải độc VỊ thuốc Nhọ nồi thường được dùng là thuốc bổ máu, cầm máu, bên trong và bên ngoài, chữa ho ra máu, lỵ ra máu, rong kinh, băng huyết, chảy máu cam, trị ra máu Ngoài ra còn dùng chữa ban sởi, ho, hen, viêm họng, lao phổi, di mộng tinh, bệnh nấm ở da, làm thuốc mọc tóc và nhuộm tóc [5][14][16]
*Yêu cầu kiểm nghiệm:
Dược điển Việt Nam III có yêu cầu kiểm nghiệm cỏ nhọ nồi theo các tiêu chuẩn: đặc điểm thực vật, đặc điểm hiển vi, các phản ứng định tính
Kết quả thưc nghiêm
- Mô tả cây:
Cây thảo, thân hình trụ, màu lục hoặc đỏ tía,dài khoảng 30-50cm, có lông cứng Lá nguyên hình mũi mác, mọc đối, gần như không cuống, mép có khía răng cưa và có lông cứng cả hai mặt Cụm hoa hình đầu, màu trắng, mọc
Trang 24ở kẽ lá hay ngọn cành Đầu mang hai loại hoa: hoa cái hình lưỡi nhỏ ở ngoài, hoa lưỡng tính hình ống ở trong Quả bế hình trái xoan (Ảnh 2a).
- Mô tả dược liệu:
Dược liệu là toàn bộ phần trên mặt đất đã phơi hav sấy khô, có màu xanh đen (Ảnh 2b)
- Đặc điểm bột dược liệu:
Bột màu lục xám, không có mùi vỊ gì đặc biệt Soi trên kính hiển vi thấy: Mảnh biểu bì phiến lá thường mang lông che chở đa bào và lỗ khí; lông che chở có thành dày, mặt ngoài xù xì Mảnh mạch vạch, mạch xoắn Sợi có thành hơi dày Hạt phấn hoa hình cầu gai, màu vàng nhạt Đôi khi thấy những mảnh cánh hoa gồm những tế bào thành mỏng, lông tiết chân đơn bào đầu đa bào
- Đặc điểm vi phẫu:
lông che chở đa bào, có 2-3 hàng tế bào mô dày có thành dày ở góc Bên trong
là mô mềm vỏ gồm các tế bào có thành mỏng Trong mô mềm vỏ có các mô khuyết lớn Đám mô cứng có tế bào hình đa giác, thành hoá cellulose Trụ giữa gồm nhiều đám libe-gỗ xếp rời nhau, mô mềm ruột gồm các tế bào hình tròn hay đa giác, thành mỏng, càng vào trong tế bào càng lớn
Vi phẫu lá:
Phần gân lá: Mặt trên hơi lõm, mặt dưới lồi Biểu bì trên và biểu bì dưới gồm một hàng tế bào hình trứng Tế bào biểu bì trên nhỏ hcfn tế bào biểu bì dưới Biểu bì có lông che chở đa bào, thành dày, mặt ngoài xù xì Dưới biểu bì
là mô dày gồm 2-3 hàng tế bào thành dày ở góc Mô mềm gồm các tế bào
hình trứng, thành mỏng, ở giữa gân có 3-7 bó libe-gỗ xếp thành hình vòng
cung, bó libe-gỗ ở giữa to nhất Libe gồm các tế bào hình đa giác nhỏ, kích thước không đều nhau Gỗ có mạch gỗ xếp thành hàng.(Ảnh 2c)
Trang 25Phần phiến lá: Biểu bì trên và biểu bì dưới gồm một dãy tế bào mang lông che chở Biểu bì dưới có lỗ khí Mô giậu gồm 1 hàng tế bào hình chữnhật, thành mỏng, chiếm khoảng 1/3 bề dày phiến lá Mô khuyết (Ảnh 2d).Các đặc điểm vi phẫu thân, bột của cỏ nhọ nồi về cơ bản không có gì khác so với các hình ảnh trong cuốn sách “Kiểm nghiệm Dược liệu bằng
ether chuvển sang màu xanh da trời
Trong chuyên luận cỏ nhọ nồi của Dược điển Việt Nam III không có tiêu chuẩn về sắc ký lớp mỏng, để góp phần bổ sung tư liệu tham khảo, chúng tôi tiến hành sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao với:
+ Dịch chấm sắc ký: dịch chiết cỏ nhọ nồi trong methanol
+ Hệ dung môi triển khai: Benzen-Aceton (9 : 1)
Kết quả sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao dịch chiết cỏ nhọ nồi trong methanol sẽ trình bày ở những trang sau (Hình 2.1-3)
*1* Vi thăng hoa:
Các tinh thể có hình khối nằm riêng lẻ, không màu (Ảnh 2e) Khi nhỏ một giọt dung dịch I + KI lên phiến kính có tinh thể, thấy các tinh thể chuyển sang màu nâu
Trang 26Nhân xét
Các kết quả sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao của dịch chiết cỏ nhọ nồi trong methanol cho thấy khi quan sát bản sắc ký dưới ánh sáng tử ngoại ở
bước sóng 366nm, trên sắc ký đồ có số vết nhiều và rõ ràng nhất
Sau khi thực hiện quá trình vi thăng hoa trên phiến kính, thông thường các tinh thể không xuất hiện ngay, cần một thời gian sau tinh thể có hình ảnh
rõ ràng
Trang 27ỉ Ỵ / - ' ? ' ^
Ảnh 2a: Cây cỏ nhọ nồi
Ảnh 2c: Vi phẫu gân lá cỏ nhọ nồi
Ảnh 2b: Dược liệu cỏ nhọ nồi Ảnh 2d: Vi phẫu phiến lá cỏ nhọ nồi
Trang 29Total Height 5205 1 Total ¿^€«3 ; 9979?? S
Hinh 2.3: K6't qua s^c ky dich chi6t Co nho n6i trong methanol
quan sat dudi anh sang trang khi hien mau
Trang 302.2.3 Đương quy
Tổng quan
Dược điển Việt Nam III có hai chuyên luận: chuyên luận Đương quy và Đương quy di thực Theo như hai chuyên luận này, Đương quy là rễ đã phơi
hoặc sấy khô của câv Đương quy {Angelica sinensis (Oliv.) Diels), họ Hoa tán
cây Đương quy di thực từ Nhật Bản {Angelica acutiloba (Sieb, et Zucc.) Kitagawa), họ Hoa tán {Apiaceae).{\\
Hiện nay, tại Việt Nam trồng chủ yếu loài Đương quy {Angelica
Trong khoá luận này chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu các mẫu Đương quy sau:
+ Đương quy di thực lấy mẫu ở thị trấn Sapa, tỉnh Lào Cai
+ Một số mẫu khác thu mua tại các hiệu thuốc trên phố Lãn ông
Nhìn chung các giống Đương quy đều có nguồn gốc ở vùng ôn đới Cây được đưa vào trồng từ lâu ở Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản Còn ở Việt Nam khi trồng Đương quy thường cũng phải lựa chọn thời vụ, sao cho mùa gieo hạt và sinh trưởng của cây trùng với thời gian có nhiệt độ thấp trong năm [21]
Đương quy được phân thành nhiều loại: Quy đầu gồm phần đầu của rễ chính, đường kính l,5-4cm đầu tù và tròn, còn mang vết tích của lá; Quy thân
là rễ đã loại bỏ phần đầu và đuôi; Quy vĩ là phần rễ phụ hay rễ nhánh, đường kính 0,3-1 cm và toàn Quy gồm cả rễ cái và rễ phụ.[16]
Thành phần hoá học chính của Đương quy là tinh dầu, ngoài ra còn có coumarin, acid amin, vitamin [21]
Đương quy là vị thuốc rất phổ thông trong đông ỵ Nó là đầu vị trong chữa bệnh phụ nữ, đồng thời có trong nhiều đơn thuốc bổ và trị bệnh khác như thuốc chữa bệnh thiếu máu xanh xao, đau đầu, cơ thể gầy yếu, suy tim, mệt