Trong khi tại Thành phố Hồ Chí Minh, tính đến nay đã cókhoảng hơn 10 trung tâm Giới thiệu việc làm của nhà nước và công ty TNHH có chứcnăng đào tạo, cung ứng người giúp việc gia đình; tr
Trang 1BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG "TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM"
NĂM 2014 DÀNH CHO SINH VIÊN
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LÀM VIỆC
CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI -
NGỤ Ý CHO ĐÀO TẠO NGHỀ
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý (KD2)
Nhóm sinh viên thực hiện: Trần Minh Trang /Nữ
Đỗ Mỹ Linh /Nữ Nguyễn Nguyệt Minh/Nữ
Nguyễn Ngọc Anh /Nữ Dân tộc: Kinh
Lớp, khoa: E-BBA 3A, E-BBA 3B, Viện Quản Trị Kinh Doanh
Năm thứ: 3 / 4 năm đào tạo
Ngành học: Quản trị kinh doanh bằng tiếng Anh
Người hướng dẫn: TS Trần Thị Hồng Việt
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC VIẾT TẮT
GIỚI THIỆU CHUNG 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 6
4 Câu hỏi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
5.1 Quy trình nghiên cứu 7
5.2 Thu thập số liệu 8
5.3 Phân tích và xử lý số liệu 10
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
6.1 Đối tượng nghiên cứu 10
6.2 Phạm vi nghiên cứu 10
7 Cấu trúc báo cáo 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC LÀM VIỆC VÀ KHUNG NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 12
1.1 Định nghĩa về năng lực làm việc 12
1.2 Mô hình khung năng lực làm việc 13
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực làm việc của người lao động 14
CHƯƠNG 2 NGHỀ GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH VÀ NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH TẠI HÀ NỘI 16
2.1 Các khái niệm cơ bản 16
2.1.1 Nghề giúp việc gia đình 16
2.1.2 Lao động giúp việc gia đình 16
2.1.3 Thị trường lao động giúp việc gia đình 17
Trang 32.2 Tổng quan về thị trường lao động giúp việc gia đình ở Hà Nội 18
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH TẠI HÀ NỘI 21
3.1 Giới thiệu về mẫu điều tra 21
3.1.1 Thông tin chung về mẫu 21
3.1.2 Mục đích sử dụng lao động của đối tượng điều tra 22
3.1.3 Kênh thuê và phương thức thuê lao động 23
3.1.4 Hợp đồng lao động 23
3.1.5 Cách thức kiểm tra trình độ của lao động giúp việc 24
3.2 Phân tích nhân tố (EFA) của các biến điều tra 25
3.3 Kiểm định độ tin cậy của các số liệu điều tra 26
3.4 Phân tích năng lực làm việc của lao động giúp việc gia đình ở Hà Nội 27
3.4.1 Phân tích các biến kiến thức 27
3.4.1.1 Kiến thức của nhóm lau dọn nhà cửa 27
3.4.1.2 Kiến thức của nhóm nấu ăn 29
3.4.1.3 Kiến thức của nhóm chăm sóc trẻ em 30
3.4.1.4 Kiến thức của nhóm chăm sóc người ốm và người cao tuổi 31
3.4.1.5 Kiến thức của nhóm phụ giúp bán hàng 33
3.4.2 Phân tích các biến kỹ năng 34
3.4.2.1 Kỹ năng của nhóm lau dọn nhà cửa 34
3.4.2.2 Kỹ năng của nhóm nấu ăn 36
3.4.2.3 Kỹ năng của nhóm chăm sóc trẻ em 37
3.4.2.4 Kỹ năng của nhóm chăm sóc người ốm và người cao tuổi 38
3.4.2.5 Kỹ năng của nhóm phụ giúp bán hàng 40
3.4.2.6 Kỹ năng sống của lao động giúp việc 41
3.4.3 Phân tích các biến thái độ 42
3.5 Đánh giá về năng lực làm việc của lao động giúp việc gia đình tại Hà Nội- các vấn đề đặt ra và nguyên nhân 45
3.5.1 Đánh giá về năng lực làm việc của lao động giúp việc gia đình 45
Trang 43.5.1.2 Đánh giá chi tiết 46
3.5.2 Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trong năng lực làm việc của lao động giúp việc gia đình ở Hà Nội 49
4.1 Định hướng phát triển nghề giúp việc gia đình ở Việt Nam 52
4.2 Đề xuất đào tạo nghề giúp việc gia đình ở Hà Nội 53
4.2.1 Nội dung chương trình đào tạo 53
4.2.2 Cách thức tuyển chọn và thu hút học viên 58
4.2.3 Thời lượng đào tạo 59
4.2.4 Phương pháp đào tạo 59
4.2.5 Tổ chức đào tạo 60
4.2.6 Đánh giá và cấp chứng chỉ đào tạo 61
4.3 Các đề xuất có liên quan khác 61
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3
PHỤ LỤC 4
PHỤ LỤC 5
PHỤ LỤC 6
Trang 5Bảng 1: Quy mô và cấu trúc mẫu điều tra 9
Bảng 3.1: Đặc điểm mẫu điều tra 21
Bảng 3.2: Kết quả kiểm định các nhân tố xác định các biến đủ điều kiện phân tích 26
Bảng 3.3: Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach Alpha (α) của dữ liệu phân tích) của dữ liệu phân tích 25
Bảng 3.4: Kết quả điều tra về kiến thức của nhóm lau dọn nhà cửa 27
Bảng 3.5: Kết quả điều tra về kiến thức của nhóm nấu ăn 29
Bảng 3.6: Kết quả điều tra về kiến thức của nhóm chăm sóc trẻ em 30
Bảng 3.7: Kết quả điều tra về kiến thức của nhóm chăm sóc người ốm và người cao tuổi 32
Bảng 3.8: Kết quả điều tra về kiến thức của nhóm phụ giúp bán hàng 33
Bảng 3.9: Kết quả điều tra về kỹ năng của nhóm lau dọn nhà cửa 35
Bảng 3.10: Kết quả điều tra về kỹ năng của nhóm nấu ăn 36
Bảng 3.11: Kết quả điều tra về kỹ năng của nhóm chăm sóc trẻ em 37
Bảng 3.12: Kết quả điều tra về kỹ năng của nhóm chăm sóc người ốm và người cao tuổi 39
Bảng 3.13: Kết quả điều tra về kỹ năng của nhóm phụ giúp bán hàng 40
Bảng 3.14: Kết quả điều tra về kỹ năng sống của lao động giúp việc 41
Bảng 3.15: Kết quả điều tra về thái độ của lao động giúp việc 43
Bảng 4.1: Các lĩnh vực đào tạo ưu tiên theo loại hình lao động 57
Trang 6Biểu đồ 1: Quy trình nghiên cứu 7
Biểu đồ 1.1: Mô hình khung năng lực làm việc 13
Biểu đồ 3.1: Các loại hình lao động giúp việc gia đình 22
Biểu đồ 3.2: Kênh thông tin thuê lao động giúp việc 23
Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ chủ sử dụng lao động giao kết hợp đồng với người lao động 24
Biểu đồ 3.4: Cách thức kiểm tra trình độ lao động giúp việc 24
Biểu đồ 3.5: Khoảng cách chung về năng lực làm việc của lao động giúp việc 46
Biểu đồ 3.6: Khoảng cách kiến thức của lao động giúp việc 46
Biểu đồ 3.7: Khoảng cách kỹ năng của lao động giúp việc 47
Biểu đồ 3.8: Khoảng cách thái độ của lao động giúp việc 48
Trang 7EFA: Exploratory Factor Analysis
ILO: International Labour Organization
KMO: Kaiser-Meyer-Olkin
NCKH SV: Nghiên Cứu Khoa Học Sinh Viên
NĐ-CP: Nghị Định Chính Phủ
PGS.TS: Phó Giáo Sư – Tiến Sỹ
P-value: Probability value
SPSS: Statistical Package for the Social Sciences
TNHH: Trách Nhiệm Hữu Hạn
WTO: World Trade Organization
Trang 8GIỚI THIỆU CHUNG
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2007, Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) vớiquyết tâm từng bước xây dựng một nền kinh tế ngày càng ổn định và phát triển bềnvững.Mặc dù những năm vừa qua kinh tế nước ta phải đối mặt với nhiều thách thứclớn của lạm phát và khủng hoảng kinh tế thế giới, đời sống của người dân vẫn được cảithiện rõ rệt về mọi mặt.Mức sống dần đi lên của người dân cũng tỉ lệ thuận với nhịpđiệu hối hả của cuộc sống và sự cần thiết của các dịch vụ xã hội dành cho các giađình.Trong số các dịch vụ đó, giúp việc gia đình là một trong những dịch vụ đượcquan tâm hơn cả bởi nó giúp ích rất nhiều cho các gia đình bận rộn ở các thành phố lớnnhư Hà Nội
Có thể nói, giúp việc gia đình ở các đô thị lớn như Hà Nội đã trở thành mộtviệc làm hấp dẫn đối với nhiều phụ nữ nông thôn Đây là một trong những hệ quả củaviệc phát triển kinh tế và quá trình đô thị hóa nhanh chóng ở Hà Nội, đặc biệt là việcsát nhập tỉnh Hà Tây vào Hà Nội, khiến cho nhiều vùng đất được sửa đổi mục đích sửdụng từ đất canh tác nông nghiệp thành công nghiệp hoặc xây dựng các khu dân cưmới Điều này khiến cho một bộ phận không nhỏ người nông dân phải chuyển đổinghề hoặc học thêm nghề khác
Như vậy, quan hệ cung – cầu trong xã hội đã được thiết lập Các hộ gia đìnhthành thị ngày nay coi lao động giúp việc gia đình như một nhu cầu thiết yếu, giúp chongười vợ, người mẹ trong gia đình giảm bớt gánh nặng, có nhiều thời gian hơn chocông việc xã hội Đồng thời, dịch vụ giúp việc gia đình cũng giúp giải quyết tình trạngthiếu việc làm của một bộ phận lao động, đặc biệt là lao động nữ ở nông thôn
Tuy nhiên, nguồn cung cấp nhân lực cho dịch vụ giúp việc gia đình hầu hết làphụ nữ và trẻ em nghèo nông thôn với trình độ học vấn và kỹ năng chưa cao Theo cácchủ sử dụng lao động, hầu hết họ tìm lao động giúp việc gia đình qua quan hệ cá nhân,như bà con ở quê hoặc bạn bè giới thiệu Chỉ có một số rất ít tìm qua các Trung tâmgiới thiệu việc làm Việc tìm kiếm nguồn lao động tự phát này cũng nói lên rằng hầu
Trang 9hết các lao động không được đào tạo kỹ năng giúp việc Điều này đã gây nhiều khókhăn và làm mất thời gian cho cả người sử dụng lao động và người lao động Bên cạnh
đó, tinh thần, thái độ làm việc và ý thức trách nhiệm của không ít người giúp việc cũngchưa đáp ứng yêu cầu của các chủ sử dụng lao động Các tiêu chí về tính trung thực,thật thà, những hành vi ứng xử và nếp sống văn minh đô thị chưa đáp ứng yêu cầu củacác chủ thuê lao động ở thành phố
Ở Việt Nam, giúp việc gia đình đang dần trở thành một nghề chính thức Ngày
25 tháng 5 năm 2014, Nghị định số 27-NĐCP của Chính phủ quy định chi tiết thi hànhmột số điều của Bộ Luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình đã có hiệulực Theo bà Nelien Haspels - chuyên gia về giới của ILO châu Á - Thái Bình Dương,
tác động tích cực của Nghị định này là nó sẽ “gửi đi một thông điệp mạnh mẽ rằng nghề giúp việc gia đình, khi bảo đảm các yêu cầu quy định, là một nghề chuyên nghiệp, mang lại những lợi ích đáng kể về kinh tế và xã hội cho các gia đình thuê người giúp việc, cho bản thân người giúp việc và cả xã hội Việt Nam” Điều đó thể
hiện sự ghi nhận của Chính phủ rằng nghề giúp việc gia đình mang ý nghĩa quan trọng,
để các thị trường lao động có thể vận hành hiệu quả bằng cách tạo điều kiện để phụ nữlàm việc và duy trì năng suất lao động ngoài gia đình
Như vậy, ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng đang có một nhu cầu cấpthiết về đào tạo một cách bài bản để nâng cao năng lực làm việc cho lực lượng laođộng giúp việc gia đình Trong khi tại Thành phố Hồ Chí Minh, tính đến nay đã cókhoảng hơn 10 trung tâm Giới thiệu việc làm của nhà nước và công ty TNHH có chứcnăng đào tạo, cung ứng người giúp việc gia đình; trong khi ở Hà Nội, chưa có nhiềuquan tâm nghiên cứu thích đáng về lĩnh vực này, đặc biệt là những nghiên cứu đánhgiá cụ thể về trình độ năng lực hiện tại của lao động giúp việc gia đình nhằm cung cấpcác dữ liệu về nhu cầu đào tạo cho các trường dạy nghề hoặc trung tâm giới thiệu việclàm trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Như vậy, một số câu hỏi cấp thiết được đặt ra có liên quan đến lĩnh vực này là:
Những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết của lao động giúp việc gia đình hiện nay ở Hà Nội là gì? Thực trạng năng lực làm việc của đội ngũ lao động này đang ở mức độ nào? Có những gợi ý gì có thể đề xuất trong việc xây dựng chương trình đào
Trang 10tạo nghề nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp cho lao động giúp việc gia đình? Để trả
lời các câu hỏi trên, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài “Đánh giá năng lực làm việc của lao động giúp việc gia đình trên địa bàn Thành phố Hà Nội - Ngụ ý cho đào tạo nghề” trong công tình NCKH SV năm 2014 Nghiên cứu này sẽ đóng góp một
phần hữu ích trong việc đào tạo nâng cao năng lực làm việc cho lao động giúp việc giađình, thúc đẩy hình thành và phát triển nghề giúp việc, phát triển thị trường lao độnggiúp việc gia đình, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn và phát triển kinh tế xãhội của Thủ đô Hà Nội
2 Tổng quan nghiên cứu
Lao động giúp việc gia đình là một loại hình lao động đã xuất hiện trên từ rấtlâu trên thế giới và cả ở Việt Nam Lực lượng lao động này đã và đang đóng góp đáng
kể vào sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ kinh tế đổimới Trong giai đoạn hiện nay, khi mà nền kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu củacác gia đình ở thành phố về lao động giúp việc là rất lớn bởi phụ nữ dần bận rộn hơnvới các công việc xã hội và cần có người giúp đỡ công việc gia đình Tuy nhiên, trongquan niệm của đại bộ phận người dân Việt Nam hiện nay, lao động giúp việc gia đìnhvẫn chưa được coi là một nghề và những người làm công việc này không được tôntrọng như những ngành nghề khác Ở Việt Nam, hoạt động giúp việc gia đình vẫn cònnhiều tồn tại và chưa đáp ứng được nhu cầu của cả những gia đình sử dụng lao độnglẫn những người lao động về nhiều mặt
Năm 2001, tác giả Đặng Bích Thủy đã thực hiện nghiên cứu “Điều kiện sống vàlàm việc của trẻ em gái nông thôn ra Hà Nội làm nghề giúp việc gia đinh” thông quaphỏng vấn trực tiếp 17 nữ thiếu niên nông thôn dưới 17 tuổi đang làm giúp việc giađình tại Hà Nội Qua đó, lý do chủ yếu dẫn các em gái nông thôn ra Hà Nội làm nghềgiúp việc gia đình là do điều kiện gia đình khó khăn về kinh tế, một số em do chánhọc, học kém hay tò mò muốn xem cuộc sống ở Hà Nội như thế nào Điều kiện làmviệc của trẻ em gái giúp việc gia đình là rất khó khăn, hầu như phải làm việc trong tìnhtrạng căng thẳng cả về thể xác lẫn tinh thần với khoảng 12 – 14 tiếng lao đông/ngày.Tiền công nhận được tùy theo công việc của mỗi em và mọi điều kiên lao động chủyếu chỉ được thỏa thuận bằng miệng giữa chủ sử dụng lao động với người lao động.Các em luôn cảm thấy thiếu thốn tình cảm của người thân, cha mẹ và không có bạn bè
Trang 11cùng lứa để chia sẻ hoặc vui chơi do phải sống trong môi trường khép kín Đây là mộtthiệt thòi rất lớn đối với các em và nó cũng là một điểm bất lợi đối với sự hình thành
và phát triển tâm lý của các em sau này Dựa vào thực trạng đó, tác giả đã đưa ranhững kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức về quyền trẻ em và tuyên truyền sâu rộngcác điều luật có liên quan để đảm bảo quyền trẻ em, đồng thời Nhà nước cũng cần hỗtrợ việc làm cho các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Tuy nhiên, nghiên cứumới chỉ dừng lại ở lực lượng lao động giúp việc là trẻ em mà chưa đề cập đến nhữngđối tượng và độ tuổi lao động khác như phụ nữ và trung niên Những người lao động ở
độ tuổi này cũng cần phải nhận được sự quan tam đúng đắn, kịp thời
Một nghiên cứu khác là của tác giả Lê Việt Nga về “Tác động của dịch vụ giúpviệc tới gia đình” được thực hiện năm 2006 với phạm vi nghiên cứu là phường KimLiên, quận Đống Đa, Hà Nội Tác giả đã thu thập thông tin từ cả ba đối tượng có liênquan trực tiếp đến hoạt động giúp việc gia đình là: Người lao động, người sử dụng laođộng và người làm nghề môi giới hoạt động giúp việc gia đinh Nghiên cứu trên bướcđầu đã chỉ ra rằng như cầu thuê người giúp việc hiện nay ở Hà Nội là rất lớn, đồngnghĩa với những tác động không nhỏ của việc thuê người giúp việc tới cuộc sống củagia đình sử dụng dịch vụ Đồng thời, nghiên cứu cũng nêu lên một số khó khăn, trởngại của các bên như chất lượng làm việc của người lao động chưa cao, chưa đáp ứngđược yêu cầu của người sử dụng lao động Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Lê Việt Ngachỉ dựa trên một quy mô mẫu nghiên cứu khá nhỏ bao gồm 20 người làm thuê, 20 người
sử dụng lao động và 5 cán bộ giới thiệu việc làm trong phạm vi phường Kim Liên Bàinghiên cứu cũng chỉ khai thác được một số khía cạnh của hoạt động giúp việc gia đình dophạm vi nghiên cứu chưa rộng và cũng chưa đề ra được nhiều giải pháp thiết thực khắcphục tình trạng này
Nghiên cứu “Hiện trạng công việc và đời sống của nữ nhập cư làm giúp việcnhà tại thành phố Hồ Chí Minh” (2009) của tác giả Đào Bích Hà có đối tượng nghiêncứu là những người lao động trên 18 tuổi di cư từ nông thôn ra thành phố Hồ Chí Minhlàm công việc giúp việc gia đình Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu địnhtính với 15 cuộc phỏng vấn sâu để thu thập thông tin nhằm phản ánh thực trạng laođộng giúp việc gia đình hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh Theo nghiên cứu này, đa
số người giúp việc đều không hài lòng về thời gian làm việc nặng nhọc, cảm giác bị gò
Trang 12bó, thiếu tự do và chịu sự kiểm soát của gia chủ Ngoài ra người nữ di cư còn phảichấp nhận sự xa cách gia đình, không thể chăm sóc con cái và liên hệ xã hội với bạn
bè, người thân Tuy phạm vi nghiên cứu đã được mở rộng hơn so với nghiên cứu củatác giả Lê Việt Nga đã đươc đề cập ở trên, nghiên cứu này vẫn chưa đưa ra đượcnhững giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm giải quyết những tồn đọng trên
Trong nghiên cứu “Làn sóng phụ nữ nông thôn ra thành thị làm giúp việc giađinh” (2007), tác giả Dương Kim Hồng đã phần nào phản ánh được một số khía cạnhcủa hoạt động giúp việc gia đình ở hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ ChíMinh Theo đó, người lao động ở ngay trong nhà của gia chủ và người lao động thuênhà trọ ở ngoài là hai hình thức cơ bản của loại hình lao động giúp việc Tuy nhiên,hạn chế của nghiên cứu này là chỉ lấy ý kiến của những người là chủ hộ gia đình cóthuê người giúp việc mà không thực hiện phỏng vấn sâu người lao động giúp việc đểphản ánh trực tiếp tâm trạng, hoàn cảnh cũng như tâm tư nguyện vọng của họ
Mới đây nhất, bài nghiên cứu “Nghiên cứu thực trạng một số loại hình giúp việcgia đình ở Hà Nội hiện nay và đề xuất giải pháp quản lý” do tác giả Ngô Thị Ngọc Anhthực hiện năm 2009 đã cho chúng ta thấy thực trạng của lao động giúp việc gia đình ở
Hà Nội hiện nay và đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp và cần thiết để nâng cao chấtlượng lao động giúp việc gia đình, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người laođộng và người sử dụng lao động Đối tượng nghiên cứu là người lao động giúp việc vànhững hộ gia đình đang sử dụng dịch vụ này trên địa bàn các quận của thành phố HàNội như Ba Đình, Cầu Giấy, Đống Đa… Tất cả những đối tượng này đều được phỏngvấn sâu để có cái nhìn sâu hơn về thực trạng lao động giúp việc Tuy nhiên, tác giả mớichỉ đề xuất giải pháp về vấn đề quản lý lực lượng lao động giúp việc chứ chưa thực sự đisâu vào các giải pháp đào tạo nhằm nâng cao tay nghề làm việc của họ
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, nhu cầu về lao động giúp việcđang ngày một tăng lên như một xu thế tất yếu của quá trình phát triển Dịch vụ giúpviệc gia đình phát triển đã mang lại nhiều lợi ích to lớn cho xã hội nhưng cũng còn khánhiều tồn tại, vướng mắc cần phải giải quyết xung quanh kiến thức, kỹ năng củangười lao động, mối quan hệ chủ nhà- người giúp việc cũng như các chính sách bảo vệquyền lợi cho người lao động,vv Đây đang là một vấn đề nóng hổi, đòi hỏi sự quantâm thích đáng của các cơ quan chức năng.Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây mới
Trang 13chỉ tập trung vào một số khía cạnh cụ thể như tìm giải pháp tái hòa nhập cộng đồngcho lực lượng giúp việc là trẻ em hoặc các khía cạnh pháp luật và quản lý Các nghiêncứu này hầu như chưa đánh giá đầy đủ và hệ thống về thực trạng lao động giúp việcgia đình trên toàn thành phố Hà Nội, chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể, thiếtthực về đào tạo nhằm nâng cao năng lực làm việc của lao động giúp việc gia đình
Trước thực tiễn đó, đề tài nghiên cứu “Đánh giá năng lực làm việc của lao động giúp
việc gia đình trên địa bàn thành phố Hà Nội - Ngụ ý cho đào tạo nghề” sẽ tập trung
vào phân tích các yêu tố cấu thành nên năng lực làm việc, tìm ra khoảng cách giữanăng lực làm việc mong đợi từ phía người sử dụng lao động và năng lực làm việc thực
tế của người lao động Nghiên cứu này sẽ cung cấp những căn cứ về mặt khoa học vàthực tiễn cho việc đề xuất các kiến nghị đào tạo nâng cao tay nghề của lao động giúpviệc gia đình, từ đó đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy sự phát triển nghề giúp việc
và thị trường lao động giúp việc gia đình ở Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm vào các mục tiêu cơ bản sau đây:
Xác định các yêu cầu về năng lực làm việc (năng lực làm việc cần thiết) củalao động giúp việc gia đình trên địa bàn thành phố Hà Nội
Phân tích năng lực làm việc thực tế hiện nay của lao động giúp việc giađình trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó tìm ra khoảng cách giữa năng lực hiện tại vànăng lực cần thiết đối với lao động giúp việc gia đình
Đưa ra các đề xuất có liên quan đến đào tạo nghề cho lao động giúp việc giađình trên địa bànThành phố Hà Nội
4 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên đây, các câu hỏi nghiên cứu
cần phải trả lời bao gồm:
Năng lực làm việc cần thiết của lao động giúp việc gia đình trên địa bànThành phố Hà Nội gồm những nội dung gì?
Năng lực làm việc thực tế của lao động giúp việc gia đình trên địa bànthành phố Hà Nội hiện nay như thế nào so với những năng lực làm việc cần thiết?
Trang 14Khảo sát chủ sử dụng lao động
Phỏng vấn sâu chủ sử dụng lao động
Khảo sát chủ sử dụng lao động
Phỏng vấn sâu chủ sử dụng lao đông và người lao động
Năng lực làm việc cần thiết
Năng lực làm việc thực tế
Sự khác biệt
Đề xuất
Khung lý thuyết về năng lực làm việc
Có những kiến nghị gì về đào tạo nghề giúp việc gia đình nhằm nâng caonăng lực và sự chuyên nghiệp trong công việc cho lao động giúp việc gia đình tạithành phố Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Quy trình nghiên cứu
Biểu đồ 1: Quy trình nghiên cứu
(Nguồn: Phân tích nhóm nghiên cứu)
Trang 15Quá trình nghiên cứu bao gồm các bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu các tài liệu thứ cấp về nghề giúp việc gia đình và nănglực làm việc của lao động giúp việc gia đình (trong đó có khung lý thuyết về năng lựclàm viêc của người lao động)
Bước 2: Phỏng vấn các hộ gia đình sử dụng lao động
Bước 3: Thiết kế bảng hỏi dựa trên tài liệu thứ cấp và phỏng vấn
Bước 4: Khảo sát thử và kiểm tra lại tính chính xác của bảng hỏi
Bước 5: Thực hiện khảo sát và phỏng vấn sâu chính thức chủ sử dụng laođộng và lao động giúp việc gia đình
Bước 6: Phân tích số liệu đã thu thập được, rút ra vấn đề và nguyên nhân
Bước 7: Đề xuất các kiến nghị
5.2 Thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp: Nguồn thông tin thức cấp được thu thập từ các tài liệu sách,báo cáo, dữ liệu về lao động giúp việc gia đình đã được nghiên cứu để xác đinh yêucầu về năng lực làm việc và đánh giá năng lực làm việc thực tế của lao động giúp việc
ở Hà Nội Đặc biệt, các mô hình lý thuyết về năng lực làm việc của người lao độngđược xem xét và lựa chọn làm căn cứ cho việc xây dựng mô hình khung năng lực củalao động giúp việc gia đình
Số liệu sơ cấp: Được thu thập theo 2 cách sau đây:
- Điều tra khảo sát:
+ Đối tượng khảo sát: Các hộ gia đình sử dụng lao động giúp việc ở Hà Nội + Mẫu khảo sát: Bảng 1 cho thấy tổng số phiếu phát ra là 170 phiếu, tổng số phiếu
thu về là 143 phiếu được phân bổ trên 8 quận nội thành của Thành phố Hà Nội, trong đóHoàn Kiếm và Hai Bà Trưng có số phiếu thu về nhiều nhất (25 phiếu), Tây Hồ và CầuGiấy có số lượng ít nhất (10 phiếu) Căn cứ chọn mẫu dựa vào đặc điểm và điều kiện sốngcủa dân cư cũng như trình độ phát triển kinh tế xã hội của các quận nội thành của Thànhphố Hà Nội
Trang 16Bảng 1: Quy mô và cấu trúc mẫu điều tra
+ Quá trình khảo sát được tiến hành qua 2 bước: Bước 1, khảo thử để kiểm tra
độ chính xác của bảng hỏi; Bước 2, khảo sát chính thức để thu thập thông tin về nănglực làm việc cần thiết và thực tế của người lao động cũng như các mong muốn đề xuấtcủa các bên liên quan
- Phỏng vấn sâu:
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn sâu 10 chủ sử dụng lao động và 15lao động giúp việc gia đình Mục đích phỏng vấn sâu chủ sử dụng lao động để nắmđược các yếu tố phản ánh nội dung năng lực làm việc cần thiết của lao động giúp việcgia đình, thực trạng năng lực làm việc thực tế của người lao động hiện nay và đặc biệt
là giúp làm rõ hơn nội hàm của các vấn đề được phát hiện trong thực trang.Phỏng vấn
Trang 17sâu lao động giúp việc nhằm nhận biết năng lực làm việc thực tế của lao động giúpviệc hiện nay, mức độ đạt được cụ thể về kiến thức, kỹ năng và thái độ, và các nhân tốảnh hưởng đến mỗi loại Nhóm nghiên cứu rất chú trọng đến đối tượng này bởi vì khảosát mới chỉ cung cấp thông tin từ góc nhìn của chủ sử dụng lao động, vì thế cần phải
có thêm phỏng vấn sâu người lao động đề cung cấp cái nhìn toàn diện và đầy đủ từquan điểm của đối tượng này
5.3 Phân tích và xử lý số liệu
Các dữ liệu nghiên cứu sau khi thu thập xong được phân tích và xử lý bằngphương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính Phân tích định lượng sử dụngcông cụ phân tích thống kê đa biến với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS, với các bước cụthể như là thống kê mô tả mẫu, kiểm định độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố,phân tích means Phân tích định tính được sử dụng kết hợp để phân tích thông tin thuđược từ phỏng vấn sâu,cùng với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh… đểrút ra các nhận xét và kết luận cho vấn đề nghiên cứu
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
Năng lực làm việc của lao động giúp việc gia đình bao gồm 3 yếu tố cấu thànhtrong khung năng lực làm việc là: kiến thức, kỹ năng, và thái độ
6.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian:
Các gia đình sử dụng lao động giúp việc gia đình trên địa bàn thành phố HàNội, tập trung tại các quận trung tâm (bao gồm quận Hoàn Kiếm, quận Hai Bà Trưng,quận Tây Hồ, quận Đống Đa, quận Ba Đình, quận Thanh Xuân, quận Cầu Giấy, quậnHoàng Mai)
Về mặt thời gian: Số liệu được thu thập từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2014
7 Cấu trúc báo cáo
Giới thiệu chung
Trang 18Chương 1: Cơ sở lý thuyết về năng lực làm việc và khung năng lực làm việc
của người lao động
Chương 2: Nghề giúp việc gia đình và năng lực làm việc của lao động giúp
việc gia đình ở Hà Nội
Chương 3: Phân tích năng lực làm việc của lao động giúp việc gia đình tại Hà Nội Chương 4: Một số đề xuất về đào tạo nhằm nâng cao năng lực làm việc của lao
động giúp việc gia đình tại Hà Nội
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC LÀM VIỆC VÀ KHUNG NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1 Định nghĩa về năng lực làm việc
Mặc dù nội dung về năng lực làm việc có thể tìm thấy ở nhiều tài liệu sách, báo
áo, luận văn trên thế giới nhưng hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa chung nào về vấn
đề này Dựa trên các cách tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiêncứu sẽ định nghĩa năng lực làm việc theo các cách khác nhau Dưới đây là một số địnhnghĩa tiêu biểu về năng lực làm việc:
Spencer, L.M., McClelland, D.C., & Spencer, S.M (1990) định nghĩa “… năng
lực là những động lực, đặc điểm, sự tự nhận thức, kiến thức, quan điểm và các giá trị,
các kỹ năng nhận biết và hành vi - bất kỳ một đặc điểm cá nhân nào mà có thể đolường một cách đáng tin cậy mà những đặc điểm này có thể cho thấy sự khác biệt đáng
kể giữa những người thực hiện tốt và những người thực hiện trung bình, những ngườithực hiện hiệu quả và những người thực hiện không hiệu quả Năng lực có thể baogồm cả ý định, hành động và kết quả”
Theo Bernard Wynne và David Stringer trong tác phẩm “Tiếp cận Đào tạo và
Phát triển dưới góc độ Năng lực” năm 1997 thì “Năng lực bao gồm kỹ năng, kiến
thức, hành vi và thái độ tích luỹ được của một cá nhân sử dụng để đạt được các kết quả mà công việc của họ đòi hỏi”.
Nói cách khác thì năng lực được thể hiện qua kỹ năng, kiến thức, hành vi và thái
độ mà con người tích luỹ được và áp dụng để đạt được kết quả trong công việc củamình Như vậy, năng lực được gắn với kết quả đầu ra của công việc, chứ không phảiyếu tố đầu vào
Căn cứ vào phạm vi của bài nghiên cứu, năng lực làm việc có thể được định
nghĩa như sau: “Năng lực làm việc là tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ và
hành vi của một cá nhân nhằm đảm bảo cho cá nhân đó có thể thực hiện được công việc và đạt kết quả tốt”.
Trang 201.2 Mô hình khung năng lực làm việc
Dựa vào các định nghĩa trên, mô hình khung năng lực bao gồm 3 yếu tố chính:Kiến thức, kỹ năng và thái độ
Biểu đồ 1.1: Mô hình khung năng lực làm việc
(Nguồn:Tổng hợp của nhóm nghiên cứu)
Cụ thể:
Kiến thức được định nghĩa là (i) chuyên môn và kỹ năng đã được cá nhân tiếp
thu được thông qua kinh nghiệm hoặc đào tạo, hiểu biết về lý thuyết và thực hành củamột lĩnh vực cụ thể, (ii) là vốn hiểu biết trong một lĩnh vực nhất định hoặc hiểu biếtchung, bao gồm thực tiễn và thông tin, (iii) sự quan tâm hoặc am hiểu có được từ kinhnghiệm về một tình huống hoặc sự kiến nhất định Tóm lại, kiến thức quy về hiểu biếtliên quan đến kết quả thực hiện công việc Hiểu biết là cái mà con người cần phải biết
để có thể thực hiện được một công việc một cách hợp lý
Kỹ năng là khả năng tiếp thu để có thể thực hiện được một kết quả nhất định
trong khoảng thời gian và công sức bỏ ra ít nhất Kỹ năng có thể phân loại thành kỹnăng chung và kỹ năng cụ thể trong một lĩnh vực nhất định Kỹ năng thường đòi hỏinhững bối cảnh hoặc kích thích nhất định từ môi trường để đánh giá mức độ kỹ năngđược bộ lộ và áp dụng
Năng lực làm việc
Kiến thức
Thái độ
Kỹ năng
Trang 21Thái độ là khuynh hướng phản ứng lại các đối tượng, tình huống theo hướng tích
cực hoặc tiêu cực Thái độ có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn về hành động, phản ứng lạicác thách thức, động cơ và khen thưởng của mỗi cá nhân
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực làm việc của người lao động
Mức thu nhập: Người lao động coi mức lương là một yếu tố để tạo động lực
cho công việc của họ Quyết định này lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó một yếu
tố quan trọng là mức thu nhập mà một người muốn đi làm, hay là một mức thu nhập tốithiểu để người đó chấp nhận hy sinh thời gian của mình cho công việc Phụ thuộc vào việcmức lương của họ ở mức độ nào (ít hay nhiều) mà họ cố gắng làm tốt hay không tốt bằngcông việc của họ
Các đặc tính của hộ gia đình: Tùy thuộc vào quy mô của hộ gia đình, giới tính
của người lao động, tình trạng hôn nhân và khả năng kinh tế của gia đình mà mỗingười lao động có những năng lực làm việc khác nhau Ví dụ như một người lao động
có quy mô gia đình lớn, và còn gia đình để chăm sóc thì họ không thể dành nhiều thờigian hy sinh được cho công việc, vì vậy năng lực làm việc của họ thường không đượcbằng những người có ít mối quan tâm cho gia đình
Các yếu tố về khả năng: Năng lực của người lao động quyết định phần lớn cơ
hội có việc làm của họ Tuy nhiên, việc đo lường những yếu tố này rất khó, nếu có thìcũng không chính xác vì có rất nhiều nghuyên nhân như: trình độ học vấn phản ánhkhông chính xác khả năng có thể đảm nhận được công việc tốt hay không của ngườilao động, nó chỉ phản ánh hình thức đào tạo mà chưa đề cập tới những loại hình khácnhư đạo tạo trong công việc, đào tạo ngắn hạn; về chất lượng giáo dục đào tạo, ở cácvùng miền và các trường khác nhau là khác nhau; những kiến thức học được ở trườngcũng chưa chắc đã phù hợp đối với công việc trong thực tế
Động lực làm việc : Những động lực sẽ khuyến khích một người đi làm cũng
sẽ làm tăng khả năng tham gia thị trường lao động của họ và do vậy ảnh hưởng tới khảnăng làm việc của người lao động Những nhân tố như: thái độ của gia đình đối vớiviệc đi làm của một cá nhân, môi trường làm việc, hỗ trợ của các cơ quan chức năng
và sự đào tảo bài bản cho công việc Tuy nhiên, người nghèo sẽ ít có cơ hội được họctập, đào tạo nghề, họ thiếu thông tin
Trang 22Vùng kinh tế: Người lao động ở các vùng miền kinh tế khác nhau sẽ có những
khả năng và đặc điểm khác nhau Ví dụ như người lao động từ nông thôn sẽ chăm chỉ
và cần cù hơn người lao động ở thành phố Tuy nhiên, người lao động ở những vùngmiền nghèo khó thường không có cơ hội được đào tạo kỹ năng thiết yếu cho công việc
Trang 23CHƯƠNG 2 NGHỀ GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH VÀ NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA LAO ĐỘNG
GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH TẠI HÀ NỘI
2.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1 Nghề giúp việc gia đình
Hiện nay ở Việt Nam chưa có quy định hay điều luật nào nêu chính xác, rõ ràng
về khái niệm của nghề giúp việc gia đình Căn cứ sự tìm hiểu qua các nghiên cứu
trước đó, nhóm nghiên cứu đưa ra khái niệm sau:
“ Nghề giúp việc gia đình là một loại hình dịch vụ, trong đó những lao động giúp
việc gia đình bằng kiến thức và kỹ năng của mình sẽ tham gia vào các công việc gia đình trong mối quan hệ việc làm Công việc gia đình được định nghĩa là "công việc được thực hiện trong hoặc cho một hộ gia đình hoặc nhiều hộ gia đình".
Tính chất đặc thù: Thực hiện các công việc gia đình và chăm sóc gia đình, bao
gồm các công việc như dọn dẹp nhà, nấu ăn, giặt và ủi quần áo, chăm sóc trẻ
em, hoặc người cao tuổi hoặc người ốm trong gia đình, làm vườn, bảo vệ ngôinhà, lái xe cho gia đình, và cả việc chăm sóc vật nuôi trong nhà
Đối tượng khách hàng: Các hộ gia đình có nhu cầu sử dụng lao động giúp việc
gia đình
2.1.2 Lao động giúp việc gia đình
Theo PGS.TS Nguyến Hữu Minh, Viện trưởng Viện Giới và Gia đình cho rằng:Hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể nào về người giúp việc gia đình trên thếgiới Mỗi nhà nước đều đang tự áp dụng những định nghĩa khác nhau và thi hànhchính sách pháp luật khác nhau về khái niệm này và sử dụng thuật ngữ “lao động giúpviệc gia đình” để chỉ người lao động làm các công việc khác nhau trong gia đình baogồm cả công việc gia đình và chăm sóc gia đình Ở Việt Nam, theo Dự thảo Bộ Luật
lao động sửa đổi Điều 191 nêu: “Người giúp việc gia đình là người lao động được
người sử dụng thuê để làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình Các công việc trong gia đình là: Công việc nội trợ, quản gia, chăm
Trang 24sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại”
Theo Điều 179 Bộ luật Lao động 2012, lao động giúp việc gia đình được định
nghĩa rằng: “Lao động giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các
công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình Các công việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại Người làm các công việc giúp việc gia đình theo hình thức khoán việc thì không thuộc đối tượng áp dụng của Bộ luật này”
Dựa theo kết quả nghiên cứu và tình hình tại Việt Nam hiện nay, nhóm nghiên
cứu cho rằng :” Lao động giúp việc gia đình là những người lao động được trả tiền
dựa trên cơ sở thỏa thuận với người sử dụng lao động làm các công việc liên quan đến gia đình, có thể làm cho một hoặc nhiều gia đình khác nhau làm từ công việc nhà như đi chợ, nấu ăn, vệ sinh, nhà cửa, lau chùi, dọn dẹp, giặt giũ đến việc chăm sóc thành viên trong gia đình, như người già, trẻ em, phụ nữ, mang thai/sau khi sinh, người khuyết tật hoặc những công việc tạo ra lợi nhuận cho gia đình có thể diễn ra trong hoặc ngoài gia đình lao động giúp việc gia đình được thuê có thể sống cùng gia đình hoặc không tùy theo từng đối tượng người sử dụng lao động muốn, và có thể làm toàn thời gian cũng như bán thời gian”
Từ những định nghĩa nêu trên cho thấy, khái niệm lao động giúp việc gia đình
của Bộ Luật lao động Việt Nam và nhóm nghiên cứu có điểm chung như sau:”Lao
động giúp việc gia đình là những người lao động làm các công việc trong gia đình
cho một hay nhiều hộ gia đình dựa trên thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và lao động giúp việc” Tuy nhiên, định nghĩa của nhóm nghiên cứu đã mở rộng hơn, bao
gồm cả những người lao động tham gia thực hiện các công việc tạo ra lợi nhuận chogia đình
2.1.3 Thị trường lao động giúp việc gia đình
Nghiên cứu chỉ ra rằng: “Thị trường là là nơi tập hợp những người mua và bán
có tác động qua lại lẫn nhau và là chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc
Trang 25tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm hoặc hàng hóa nhất định”
“Thị trường lao động là nơi diễn ra sự trao đổi giữa người sử dụng lao động và người lao đông Thị trường lao động là một bộ phận khó tách rời trong nền kinh tế thị trường và chịu sự ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường Một thi trường lao động tốt là thị trường có lượng cầu và lượng cung tương ứng”
“Thị trường lao động giúp việc gia đình là thị trường lao động mà ở đó có sự trao đổi giữa chủ sở hữu lao động giúp việc gia đình và lao động giúp việc hợp tác, thỏa thuận với nhau làm những công việc gia đình và chăm sóc gia đình để đem đến lợi ích cho cả hai bên” Thị trường lao động giúp việc có đặc điểm khác với những thị
trường lao động khác Thông thường lao động giúp việc gia đình đa số thường xuấtphát từ nông thôn, người lao động thường có hoàn cảnh gia đình và điều kiện kinh tếkhó khăn Hiện nay, ở Việt Nam thị trường lao động giúp việc đang được đánh giá cao
và có số lượng cầu khá lớn trên thị trường lao động
2.1.4 Năng lực làm việc của lao động giúp viêc gia đình
Năng lực làm việc của lao động giúp việc gia đình là kiến thức, kỹ năng và thái độcần có của người giúp việc khi tham gia vào các công việc gia đình và chăm sóc giađình như công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sócngười già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liênquan đến hoạt động thương mại Nó đòi hỏi phải được trang bị những kiến thức cầnthiết, kỹ năng cơ bản, thái độ và hành vi của lao động giúp việc gia đình nhằm đảmbảo cho người đó có thể thực hiện được công việc của họ và đạt kết quả tốt
2.2 Tổng quan về thị trường lao động giúp việc gia đình ở Hà Nội
Trải qua gần 30 năm đổi mới và phát triển, Việt Nam đã đạt được những thànhtựu to lớn nhất định trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Kinh
tế thị trường phát triển khá nhanh, ổn định và đang có xu hướng tăng mạnh, đời sốngnhân dân được cải thiện rõ rệt ở mọi tầng lớp, nhất là ở các đô thị Số lượng các giađình có mức thu nhập ổn định và khá giả ngày càng tăng nhanh, do đó nhu cầu tiếp cận
và sử dụng các loại dịch vụ xã hội của các gia đình ở đô thị ngày càng trở nên phổbiến Vì thế, nhu cầu cần có lao động giúp việc gia đình để có thời gian tập trung hơn
Trang 26cho công việc và nâng cao chất lượng cuộc sống đang trở thành nhu cầu thực tế củanhiều gia đình Hiện nay, nước ta có hơn 200.000 lao động giúp việc gia đình, trong đólao động giúp việc gia đình là nữ chiếm tới hơn 90% Ở các thành phố lớn, nhu cầu vềlực lượng lao động này đang ngày một tăng Nguồn cung ứng lao động chủ yếu đềuxuất phát ở nông thôn.
Năm 2011, 46% các hộ gia đình được khảo sát ở Hà Nội có lao động giúp việcgia đình và tỷ lệ này tăng hơn gấp đôi so với giai đoạn trước năm 2000 Nữ giới chiếmtới 90,7% số giúp việc gia đình và phần lớn là lao động nhập cư từ nông thôn Mộtkhảo sát nghiên cứu tại Hà Nội cho thấy, trong tổng số lao động giúp việc gia đình hơn80% là nữ; hơn 60% ở độ tuổi 30-50; 19% ở độ tuổi 20-30; 80% là ở nông thôn ra,74% trước đây làm nghề nông với đa số người giúp việc gia đình tốt nghiệp trung học
cơ sở (chỉ có 1 người tốt nghiệp cao đẳng) và gần 60% qua họ hàng giới thiệu đếnngười sử dụng lao động
Theo người sử dụng lao động, 85% người sử dụng lao động tìm người giúp việcthông qua họ hàng và người quen, chỉ có khoảng 14% tìm qua các trung tâm giới thiệuviệc làm Tùy đối tượng gia đình mà người giúp việc có thể ở cùng chủ hoặc không,làm bán thời gian hoặc toàn thời gian Một số ít người giúp việc được thuê để chămsóc bệnh nhân nằm viện là được đào tạo trước các kỹ năng nhưng số lượng đó khôngnhiều Ngoài ra, một số lượng không nhỏ chủ nhà thuê người giúp việc kinh doanh đểtạo ra lợi nhuận như bán hàng ăn uống, hàng mỹ phẩm, hoặc sản xuất gia công Họthuê từ khoảng 2 người cho đến hơn 10 người giúp việc
Theo khảo sát và phỏng vấn sâu của nhóm nghiên cứu, thu nhập của người laođộng giúp việc gia đình trên địa bàn Hà Nội là khoảng 3 triệu đồng/tháng, không baogồm chi phí ăn, ở Mức lương của lao động giúp việc gia đình đang được thả nổi theonhu cầu của thị trường lao động Nhu cầu của người sử dụng lao động giúp việc giađình ngày càng cao thì mức lương trả cho lao động giúp việc gia đình càng có xuhướng tăng, như thời điểm giáp Tết âm lịch, gia chủ phải trả lương khoảng 4-5 triệuđồng một tháng
Báo cáo nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Phát triểncộng đồng đã nêu rõ vai trò của lao động giúp việc gia đình trong việc giải quyết việc
Trang 27làm, giải phóng phụ nữ và đóng góp giá trị kinh tế cho các quốc gia.Cũng như ở cácquốc gia châu Á khác, nhu cầu giúp việc gia đình đang ngày một tăng lên ở Việt Nam.Đặc biệt, cùng với sự mở rộng của tầng lớp trung lưu dự báo rằng số lượng lao độnggiúp việc gia đình trong năm 2015 sẽ tăng khoảng 63% so với năm 2008 (từ 157.000lên 246.000 lao động) với 98,7% lao động là nữ giới Tuy nhiên, thực trạng lao độnggiúp việc gia đình tại Việt Nam vẫn bị đánh giá thấp và ít được pháp luật đề cập đến.
Trang 28CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH TẠI HÀ NỘI
3.1 Giới thiệu về mẫu điều tra
3.1.1 Thông tin chung về mẫu
Nghiên cứu được tiến hành với 170 mẫu điều tra, kết quả thu về được 143phiếu Sau khi loại bỏ 23 phiếu không chính xác, còn lại 120 phiếu hợp lệ cho phântích
Bảng 3.1: Đặc điểm mẫu điều tra
(Nguồn: Thu thập của nhóm nghiên cứu)
Theo bảng 3.1, kết quả phân loại đối tượng tham gia nghiên cứu cho thấy số đốitượng điều tra là nữ là 75 người, chiếm 62,5%%, so với nam là 45 người, chiếm37,5%.Phân loại theo vị trí trong gia đình, số đối tượng là chủ hộ (người ra quyết định)
là 55 người, chiếm 45,8% so với số đối tượng là thành viên gia đình 65 người, chiếm54,2% Phân loại theo nghề nghiệp lần lượt là Kinh doanh tự do (44,2%); Công chứcNhà nước (29,2%); Nội trợ (26,6%) Phân loại theo thu nhập bao gồm 4 nhóm:Thunhập dưới10 triệu đồng/tháng (11,7%); từ 10 – 20 triệu (37,5%); từ 20 – 30 triệu(34,2%); trên 30 triệu (16,6%)
Trang 293.1.2 Mục đích sử dụng lao động của đối tượng điều tra
Theo biểu đồ 3.1, mục đích sử dụng lao động của đối tượng điều tra cho ta thấy
con số tỷ lệ lao động giúp việc phân theo loại hình lao động Theo kết quả điều tra,
hiện nay các hộ gia đình trên địa bàn thành phố Hà Nội sử dụng lao động giúp việc vớicác mục đích khác nhau, bao gồm: Trông trẻ em; Chăm sóc người ốm và hăm nomngười cao tuổi; Lau dọn, làm vệ sinh nhà cửa; Nấu ăn; Giúp bán hàng, quán ăn Dướiđây là số liệu thu thập được về tỷ lệ phần trăm của từng loại hình lao động giúp việcnhư biểu đồ 3.1:
Lau dọn, làm vệ sinh nhà cửaNấu ăn
Giúp bán hàng, quán ăn
Biểu đồ 3.1: Các loại hình lao động giúp việc gia đình
(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu)
Dựa vào biểu đồ trên, các hộ gia đình thuê người giúp việc chủ yếu với mụcđích giúp đỡ công việc gia đình; cụ thể hơn là nhu cầu về lau dọn, làm vệ sinh nhàcửa chiếm tỷ lệ cao nhất là 35% Xếp thứ hai về tỷ lệ phần trăm là lao động giúp việcvới mục đích nấu ăn, khoảng 23% Tiếp đến là lao động giúp việc với mục đích chămnom trẻ em là 20%; chăm nom người cao tuổi, chăm sóc người ốm và phụ giúp bánhàng, với tỷ lệ phần trăm trong khoảng từ 8 – 14%
3.1.3 Kênh thuê và phương thức thuê lao động
Biểu đồ 3.2 dưới đây cho ta thấy các chủ hộ gia đình sử dụng những kênh thuêgiúp việc theo những tỷ lệ sau đây:
Trang 30Họ hàng, người thânkhác
Biểu đồ 3.2: Kênh thông tin thuê lao động giúp việc
(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu)
Biểu đồ trên cho thấy, kênh thông tin thường được chủ sử dụng lao động giúpviệc chủ yếu là thông qua bạn bè, quen biết và họ hàng, người than với tỷ lệ lần lượtgiữa hai nhóm là 42% và 43% Ngoài ra, cũng có một số chủ sử dụng lao động sửdụng kênh thông tin khác như qua trung tâm giới thiệu việc làm là 9%; qua trung tâmđào tạo người giúp việc là 5% và khác là 1%
Về phương thức thuê lao động, hiện nay, các hộ gia đình thường thuê lao độnggiúp việc bằng hai phương thức chính đó là: Thuê giúp việc theo giờ và giúp việc ởcùng gia đình Cụ thể theo kết quả được điều tra, số hộ gia đình thuê giúp việc theo giờ
là 53% và thuê giúp việc ở cùng gia đình là 47%
3.1.4 Hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động và lao động giúp việc gia đình
là rất cần thiết Các hợp đồng này sẽ phần nào giúp giải quyết vấn đề khi có sự tranhchấp về lợi ích giữa hai bên Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát các chủ sử dụng laođộng hiện nay, phần lớn (64%) họ không giao kết hợp đồng để thỏa thuận với ngườigiúp việc gia đình
Trang 31(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu)
3.1.5 Cách thức kiểm tra trình độ của lao động giúp việc
Việc kiểm tra trình độ của người giúp việc trước khi quyết định thuê đóng vaitrò quan trọng đến chất lượng và hiệu quả thực hiện công việc sau này Theo kết quảđiều tra khảo sát, người sử dụng lao động thường kiểm tra trình độ theo các cách sau(Biểu đồ 3.4)
Biểu đồ 3.4: Cách thức kiểm tra trình độ lao động giúp việc
(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu)
Căn cứ vào biểu đồ trên, có thể thấy đa số các chủ sử dụng lao động kiểm tratrình độ người giúp việc thông qua thử việc một thời gian (45%) Tiếp đến lần lượt làhỏi về kinh nghiệm làm việc (34%) và quan sát, phỏng vấn (16%) Cũng có một số ít
Trang 32người sử dụng lao động không thực hiện bất kỳ kiểm tra nào vì đã tin tưởng vào ngườigiúp việc mình chọn (16%)
3.2 Phân tích nhân tố (EFA) của các biến điều tra
Từ 120 kết quả hợp lệ, nhóm nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 16.0, ápdụng phương pháp phân tích nhân tố Principal Components với phép xoay Varimax.Điều kiện phân tích thỏa mãn các tiêu chí (1) Hệ số Eigenvalue >1 ; (2) Hệ số kiểmđịnh KMO > 0,5 ; (3) Kiểm định Bartlett có Sig ≤ 0,05 ; (4) Tiêu chuẩn FactorLoading > 0,5 ; (5) Phương sai trích > 50% Kết quả phân tích được thể hiện qua bảng3.3 dưới đây:
Bảng 3.2: Kết quả kiểm định các nhân tố xác định các biển đủ điều kiện phân tích
EFA Các hệ số
Phương sai trích
Số biến
Factor loading Kết luận
(Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm nghiên cứu)
- Xem xét bảng KMO và kiểm định Bartlett cho thấy, với 17 biến kiến thức, kếtquả kiểm định Bartlett sau EFA lần 1 có số KMO là 0,902 đáp ứng điều kiện; p-value(sig = 0,000) cho thấy ý nghĩa thống kê Phương sai trích 65,548% cho thấy các biếnnày giải thích 65,548% quan sát
- Với 20 biến kỹ năng, kết quả EFA lần 1 cho thấy 1 biến có hệ số tải nhỏ hơn0.5 nên không đủ điều kiện phân tích Sau khi rút trích 1 biến, kết quả EFA lần 2 chothấy 19 biến còn lại đủ điều kiện phân tích vì hệ số tải lớn hơn 0,5 và KMO là 75,898thỏa mãn điều kiện Kiểm định Bartlett cho p-value (sig = 0,000) có ý nghĩa thống kê.Phương sai trích 75,898% cho thấy các biến này giải thích 75,898% quan sát
Trang 33- Với 11 biến thái độ, kết quả EFA cho thấy số KMO là 0,918 đáp ứng điềukiện; p-value (sig = 0,000) cho thấy ý nghĩa thống kê Phương sai trích 64,803% chothấy các biến này giải thích 64,803% quan sát.
Như vậy, kết quả phân tích nhân tố qua hệ số KMO cho thấy 17 biến kiến thức,
19 biến kỹ năng và 11 biến thái độ đủ điều kiện phân tích Phần tiếp theo nhóm nghiêncứu sẽ phân tích chi tiết từng khía cạnh theo các biến này
3.3 Kiểm định độ tin cậy của các số liệu điều tra
Sau khi phân tích nhân tố và chọn ra 17 biến kiến thức, 19 biến kỹ năng và 11
biến thái độ phù hợp, nhóm nghiên cứu đã tiến hành kiểm định độ tin cậy của tài liệu.
Theo Staler (1995) và Peterson (1994) thì hệ số đo độ tin cậy của dữ liệu định lượngtrong cuộc khảo sát Cronbach’s Alpha (α) của dữ liệu phân tích)
- Nếu hệ số Cronbach’s Alpha (α) của dữ liệu phân tích) có giá trị từ 0,8 đến gần 1 thì thang đolường là rất tốt;
- Nếu hệ số Cronbach’s Alpha (α) của dữ liệu phân tích) có giá trị từ 0,7 đến 0,8 thì số liệu có thể
sử dụng được tương đối tốt;
- Nếu hệ số Cronbach’s Alpha (α) của dữ liệu phân tích) có giá trị từ 0,6 trở lên là có thể sử dụngđược trong trường hợp các khái niệm đo lường là mới hoặc tương đối mới đối vớingười trả lời
Kết quả kiểm định độ tin cậy của dữ liệu bằng hệ số Cronbach’s Alpha (α) của dữ liệu phân tích) đượcthể hiện qua bảng 3.2 dưới đây:
Bảng 3.3: Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha (α) của) của
dữ liệu phân tích
Cronbach’s
(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu)
- Nhân tố “kiến thức mong đợi” gồm 17 biến với hệ số Cronbach’s Alpha (α) của dữ liệu phân tích)bằng (0,974)
Trang 34- Nhân tố “kiến thức thực tế” gồm 17 biến với hệ số Cronbach’s Alpha (α) của dữ liệu phân tích) bằng (0,947)
- Nhân tố “kỹ năng mong đợi” gồm 19 biến với hệ số Cronbach’s Alpha (α) của dữ liệu phân tích) bằng (0,98)
- Nhân tố “kỹ năng thực tế” gồm 19 biến với hệ số Cronbach’s Alpha (α) của dữ liệu phân tích) bằng (0,931)
- Nhân tố “thái độ mong đợi” gồm 11 biến với hệ số Cronbach’s Alpha (α) của dữ liệu phân tích) bằng (0,961)
- Nhân tố “thái độ thực tế” gồm 11 biến với hệ số Cronbach’s Alpha (α) của dữ liệu phân tích) bằng(0,945)
Kết quả kiểm định hệ số (α) của dữ liệu phân tích) cho thấy số liệu điều tra là đáng tin cậy và phù hợp
để phân tích
3.4 Phân tích năng lực làm việc của lao động giúp việc gia đình ở Hà Nội
3.4.1 Phân tích các biến kiến thức
3.4.1.1 Kiến thức của nhóm lau dọn nhà cửa
Bảng 3.4: Kết quả điều tra về kiến thức của nhóm lau dọn nhà cửa
cách
Biết sử dụng đồ dùng điện tử (tủ lạnh, máy
Có kiến thức về cách giữ gìn, bảo quản các
Hiểu biết về khí hậu, phong thủy trong vùng
Hiểu biết về tập quán, văn hóa, thói quen và
(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu)
Tiêu chí “Biết sử dụng đồ dùng điện tử (tủ lạnh, máy giặt, máy hút bụi, bàn
là…)”
Trang 35Ở tiêu chí này, người sử dụng lao động đánh giá năng lực làm việc của lao độnggiúp việc tại gia đình họ với mức trên trung bình là 3,27 điểm Lý do của mức điểm này
là do những lao động giúp việc này đều đến từ các vùng nông thôn, hoàn cảnh gia đìnhcòn khó khăn, chưa được tiếp cận nhiều đến các đồ dùng điện tử hiện đại được sử dụngtrong các gia đình thành phố hiện nay
Dưới đây là một cuộc phỏng vấn sau đối với người lao động giúp việc về khókhăn của họ khi sử dụng các đồ gia dụng cơ bản trong nhà chủ:
“Bác giúp việc ở gia đình tôi hiện nay là một người bà con xa từ quê lên Do gia đình bác khó khăn, nhà lại đông người nên tôi thuê bác để giúp bác phần nào trang trải được cho gia đình Vì ở dưới quê, bác toàn thực hiện các công việc giặt giũ bằng tay, nấu ăn thì nấu bằng bếp củi nên lúc mới lên bác còn lạ lẫm với máy giặt, nồi cơm điện và bếp ga Vì vậy mà giai đoạn đầu, tôi phải hướng dẫn bác cụ thể về cách sử dụng các thiết bị này.”
(Nguyễn Thị Cẩm Khê, 46 tuổi, quận Thanh Xuân)
Tiêu chí “Có kiến thức về cách giữ gìn, bảo quản các đồ dùng gia đình sau
khi sử dụng”
Ở tiêu chí này, điểm đánh giá của người sử dụng lao động giúp việc dành chongười lao động cũng ở mức trên trung bình là 3,23 điểm Qua phỏng vấn sâu một sốngười lao động giúp việc, đa số họ đều cho biết mình không có nhiều kiến thức vàkinh nghiệm trong việc bảo quản và giữ gìn đồ dùng gia đình sau khi sử dụng bởi họkhông có nhiều cơ hội được tiếp xúc và sử dụng các đồ dùng gia đình hiện đại trênthành phố Tuy nhiên những kiến thức này có thể học hỏi được và phần lớn họ đều tiến
bộ theo thời gian
Tiêu chí “Hiểu biết về khí hậu, phong thủy trong vùng và cách trang trí sắp
đặt”
Người sử dụng lao động đánh giá người lao động chưa có nhiều kiến thức về sơcứu và cấp cứu nói chung với số điểm khá thấp là 2,52 điểm Số điểm này khá thấp so vớimức mong đợi của người sử dụng lao động là 3.41 điểm
Trang 36 Tiêu chí “Hiểu biết về tập quán, văn hóa, thói quen và phong cách sống của
địa phương”
Ở tiêu chí này, người sử dụng lao động đã đánh giá mức độ hiểu biết về tậpquán, văn hóa, thói quen và phong cách sống của địa phương của người lao động caohơn so với tiêu chí trên (3,08 điểm) Lý giải cho điều này, một số người sử dụng laođộng cho rằng họ thường thuê người lao động ở các tỉnh có vị trí địa lí gần Hà Nội nênphong tục tập quán cũng không khác nhau nhiều và người lao động cũng có thể tự điềuchỉnh lối sống của mình cho phù hợp với lối sống của gia chủ
3.4.1.2 Kiến thức của nhóm nấu ăn
Bảng 3.5: Kết quả điều tra về kiến thức của nhóm nấu ăn
cách
Biết chế độ dinh dưỡng hợp lí cho các bữa
Có kiến thức và biết chế biến nhiều món ăn
Thông thạo giá cả và biết cách đi chợ mua
(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu)
Tiêu chí “Biết chế độ dinh dưỡng hợp lý cho các bữa ăn gia đình”
Tiêu chí này này khá quan trọng đối với người lao động ở mảng giúp việc giađình Họ nhận được mức đánh giá là 3,08 điểm Theo phỏng vấn sâu, những kiếnthức này được lao động giúp việc biết đến thông qua kinh nghiệm bản thân, báo chí,học hỏi từ những người lao động giúp việc khác hoặc từ chính người sử dụng laođộng chứ không được tiếp cận với các tài liệu khoa học
Tiêu chí “Có kiến thức và biết chế biến nhiều món ăn ngon cho gia đình”
Ở tiêu chí này, người lao động nhận được mức đánh giá là 2,97 điểm, thấp hơnmột chút so với tiêu chí trên So với mức mong đợi khá lớn từ phía người sử dụng lao
Trang 37động (3,94 điểm) người lao động cần phải trau dồi nhiều hơn nữa về thức và cách chếbiến nhiều món ăn ngon, bổ dưỡng cho gia đình.
Tiêu chí “Thông thạo giá cả và biết cách đi chợ mua đồ ăn ngon, sạch, rẻ”
Ở tiêu chí này, người sử dụng lao động đánh giá người lao động với mức điểmtương đối cao là 3,13 điểm Thông qua phỏng vấn sâu, một số người lao động giúpviệc cho rằng họ nhận được điểm đánh giá cao ở tiêu chí này là do kinh nghiệm sống,mua đồ dùng gia đình và thực phẩm ở quê nhà nên biết được đâu là đồ ăn ngon, sạch,rẻ
Dưới đây là một cuộc phỏng vấn sâu đối với người lao động giúp việc về giá cả
và cách đi chợ mua đồ ăn ngon, sạch, rẻ hằng ngày:
“Ở quê tôi thực phẩm ngon và sạch hơn ở đây nên tôi có nhiều kinh nghiệm trong việc nhận biết đâu là thực phẩm tươi, ngon, sạch Điều này giúp ích cho tôi rất nhiều trong việc đi chợ cho gia đình chủ nhà”
(Nguyễn Ngọc Thủy, 42 tuổi, quận Ba Đình) 3.4.1.3 Kiến thức của nhóm chăm sóc trẻ em
Bảng 3.6: Kết quả điều tra về kiến thức của nhóm chăm sóc trẻ em
cách
Hiểu cách chăm sóc và chế độ dinh dưỡng
Hiêu biết về các bệnh lý cơ bản thường gặp
(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu)
Tiêu chí “Hiểu tâm sinh lý trẻ nhỏ”
Theo khảo sát, mức độ hiểu tâm sinh lý trẻ nhỏ của người lao động giúp việcchỉ được đánh giá ở mức trung bình là 3,06 điểm Tuy nhiên so với mức mong đợi khá
Trang 38cao từ người sử dụng lao động (4,04 điểm) thì người lao động cần phải được đào tạothêm nhiều về tiêu chí này.
Tiêu chí “Hiểu cách chăm sóc và chế độ dinh dưỡng cho trẻ em đúng khoa
học”
Cách chăm sóc và chế độ dinh dưỡng cho trẻ em là điều gây tranh cãi khá nhiềugiữa người lao động và người sử dụng lao động giúp việc gia đình bởi người lao độnggiúp việc thường xuất thân từ vùng nông thôn, không được tiếp cận nhiều với cácthông tin khoa học nên thường chăm sóc trẻ em theo cách dân gian, trong đó có nhiềuphương pháp không chính xác và an toàn Vì vậy mức đánh giá của người sử dụng laođộng ở tiêu chí này chỉ là 2,83 điểm
Tiêu chí “Hiêu biết về các bệnh lý cơ bản thường gặp ở trẻ em và cách phòng
chống”
Kiến thức về bệnh lý cơ bản thường gặp ở trẻ em và cách phòng chống cũng làmột trong những tiêu chí bị đánh giá thấp từ phía người sử dụng lao động với 2,9điểm Như đã nói ở trên, người lao động giúp việc xuất thân từ nông thôn thường sửdụng các biện pháp dân gian để chữa bệnh cho trẻ, tuy nhiên không phải tất cả các biệnpháp đó đều đúng
3.4.1.4 Kiến thức của nhóm chăm sóc người ốm và người cao tuổi
Bảng 3.7: Kết quả điều tra về kiến thức của nhóm chăm sóc người ốm và người
Trang 39cấp cứu nói chung
Hiêu biết vè các bệnh lý cơ bản thường gặp
Hiểu cách chăm sóc và điều chỉnh chế độ dinh
(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu)
Tiêu chí “Biết những kiến thức căn bản về sơ cứu và cấp cứu nói chung”
Đây là một trong những tiêu chí bị người sử dụng lao động đánh giá thấp nhất,chỉ 2,82 điểm So với mức mong đợi khá lớn từ phía người sử dụng lao động (3,83điểm), số điểm thấp này cho thấy sự thiếu hụt lớn về kiến thức sơ cứu và cấp cứu cănbản của người lao động
Dưới đây là một cuộc phỏng vấn sâu đối với người lao động giúp việc về khókhăn của họ trong việc sơ cứu và cấp cứu trong tình huống gia đình:
“Theo kinh nghiệm ở quê tôi, mỗi lần bị bỏng là sẽ đậy chiếc khăn mỏng lên và nhai lá bỏng đắp vào để chữa bỏng.Nhưng ra thành phố rồi tôi không tìm được lá bỏng nữa Vì vậy bác chủ nhà phải hướng dẫn cho tôi lại từ đầu cách chữa bỏng đúng khoa học và hiệu quả”
( Nguyễn Thị Liên, 35 tuổi, quận Hai Bà Trưng)
Tiêu chí “Hiểu tâm sinh lý người cao tuổi”
Ở tiêu chí này, người sử dụng lao động đánh giá người lao động với mức điểm
là 2,86 điểm So với mức mong đợi lớn từ phía người người sử dụng lao động (3,74điểm) thì số điểm thực tế này tương đối thấp, cho thấy sự thiếu hụt về kiến thức tâmsinh lý người cao tuổi
Tiêu chí “Hiêu biết về các bệnh lý cơ bản thường gặp ở người già và cách
phòng chống”
Cũng như tiêu chí trên, tiêu chí này nhận được số điểm đánh giá khá thấp từphía người sử dụng lao động (2,59 điểm), điều này cho thấy tiêu chí kiến thức này củalao động giúp việc chưa đáp ứng được mong đợi của họ (mức mong đợi là 3,6 điểm)
Trang 40 Tiêu chí “Hiểu cách chăm sóc và điều chỉnh chế độ dinh dưỡng hợp lý, khoa
học cho người ốm”
Tiêu chí này đặc biệt quan trọng với những người lao động ở mảng chăm sócngười ốm Ở tiêu chí này, số điểm đánh giá của người lao động là 2,91 điểm, chưa đápứng được sự mong đợi của người sử dụng lao động (3,75 điểm) Lý giải cho điều này,một số người sử dụng lao động cho rằng người lao động giúp việc xuất thân từ nôngthôn nên khó có khả năng tiếp cận được với các thông tin khoa học chính xác về cáchchăm sóc và điều chỉnh chế độ dinh dưỡng hợp lý, khoa học cho người ốm trong môitrường bệnh viện và gia đình hiện đại ở thành phố
3.4.1.5 Kiến thức của nhóm phụ giúp bán hàng
Bảng 3.8: Kết quả điều tra về kiến thức của nhóm phụ giúp bán hàng
(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu))
Tiêu chí “Có kiến thức về sản phẩm mà mình đang bán cho chủ nhà”
Ở tiêu chí này, người sử dụng lao động đánh giá người lao động ở mức điểmkhá thấp là 2,81 điểm So với mức mong đợi của người sử dụng lao động là 3,48 điểm,
có thể thấy rằng người lao động cần phải được đào tạo them về kiến thức của sản phẩm
mà mình đang bán cho chủ nhà
Tiêu chí “Biết cách phục vụ và quảng cáo sản phẩm tới khách hàng”
Với số điểm đánh giá thấp là 2,6 điểm, người lao động giúp việc gia đình chưa đápứng được sự mong đợi của người sử dụng lao động Lý do là do họ chưa được tiếp xúc