1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn xã vĩnh sơn, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc

85 715 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 7,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn xã vĩnh sơn, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam Đa số làngnghề đã trải qua lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước Từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, tiếnhành công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế làng nghề theo đó cũng phát triển mạnh Theothống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, cả nước hiện có khoảng hơn 1600 làngnghề được công nhận và hơn 3200 làng có nghề [16] Tuy nhiên, về cơ bản các làngnghề vẫn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, thiết bị thủ công, đơn giản, công nghệ lạc hậu,mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp, Với sự phát triển ồ ạt, thiếu quy hoạch của các làngnghề cùng với sự mất cân bằng giữa nhu cầu phát triển sản xuất và khả năng đápứng của cơ sở vật chất, ý thức của người dân trong bảo vệ môi trường, bảo vệ sứckhỏe và sự lỏng lẻo trong quản lý môi trường, hoạt động của các làng nghề đã vàđang gây áp lực rất lớn đến chất lượng môi trường tại các làng nghề

Vĩnh Phúc thuộc vùng Châu thổ sông Hồng, là cửa ngõ phía Tây Bắc củaThủ đô Hà Nội và là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Làtỉnh được thiên nhiên ưu đãi, có vị trí thuận lợi trong phát triển kinh tế - xã hội,những năm gần đây cùng với các chính sách ưu đãi đầu tư và khuyến khích khôiphục các làng nghề truyền thống của tỉnh, kinh tế làng nghề của tỉnh Vĩnh Phúc đã

có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấukinh tế khu vực nông thôn Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển của các làng nghề vẫncòn tồn tại nhiều vấn đề, trong đó ô nhiễm môi trường đang là vấn đề cấp thiết vàcần được quan tâm nhất

Làng nghề chăn nuôi rắn xã Vĩnh Sơn đã có từ lâu đời và đã được Ủy bannhân dân tỉnh Vĩnh Phúc công nhận là làng nghề truyền thống của tỉnh Cùng với sựphát triển kinh tế của tỉnh, làng nghề rắn Vĩnh Sơn cũng ngày càng phát triển với sựgia tăng về quy mô cũng như chất lượng và sự đa dạng của sản phẩm Rắn không

Trang 2

chỉ là nguyên liệu của các món đặc sản mà còn là nguyên liệu tạo thành các loạithực phẩm chức năng tốt cho sức khỏe như rượu rắn, cao rắn hay là nguyên liệu chếtạo các loại đồ mỹ nghệ như dây lưng, ví, giày da,… Nhận thức được tầm quantrọng của nghề nuôi rắn trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi tại một xãnông nghiệp như Vĩnh Sơn, ngày nay các trang trại nuôi rắn với quy mô lớn đã rađời và ngày càng phát triển mạnh mẽ

Chăn nuôi rắn là một nghề có tính chất đặc trưng rất đặc biệt, tuy nhiên cũng

có một số điểm chung so với các ngành chăn nuôi khác đó là vấn đề chất thải chănnuôi Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về số lượng các trang trại nuôi rắn, lượngchất thải cũng theo đó mà tăng lên đáng kể tạo ra áp lực lớn đối với môi trường khuvực

Trước thực trạng môi trường làng nghề hiện nay, tôi đã thực hiện đề tài

“Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thảiphát sinh từ các trang trại nuôi rắn xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh VĩnhPhúc” Kết quả của đề tài sẽ cho thấy hiện trạng tình hình phát sinh chất thải tại làngnghề rắn Vĩnh Sơn, từ đó đề xuất một số giải pháp hỗ trợ cho việc đưa ra các biệnpháp và chính sách quản lý môi trường một cách hiệu quả phục vụ cho việc xâydựng hình ảnh một làng nghề truyền thống xanh – sạch – đẹp, gây ấn tượng với dukhách trong và ngoài nước

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở xác định được hiện trạng, thành phần các loại chất thải phát sinh

từ hoạt động chăn nuôi rắn, từ đó đưa ra các biện pháp giảm thiểu và xử lý chất thảiphù hợp làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường do hoạt động chăn nuôi rắn tại xã VĩnhSơn, tạo tiền đề xây dựng khu làng nghề - dịch vụ du lịch theo tiêu chí phát triểnkinh tế gắn với bảo vệ môi trường Đồng thời, trở thành mô hình mẫu về bảo vệ môitrường cho các làng nghề chăn nuôi rắn khác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng

và cả nước nói chung

Trang 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các trang trại chăn nuôi rắn trên địa bàn

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

a Nguồn tư liệu

- Nguồn tư liệu do địa phương cung cấp;

- Tư liệu thu thập được từ quá trình đi điều tra, khảo sát trên địa bàn;

b Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Tiến hành điều tra, khảo sát cáctrang trại chăn nuôi rắn trên địa bàn xã Vĩnh Sơn để có những thông tin và cái nhìn

cụ thể, chính xác về thực trạng môi trường tại các trang trại chăn nuôi rắn trên địabàn

- Phương pháp kế thừa: Từ các số liệu, tài liệu và các thông tin có được, tổnghợp và phân tích đưa ra các đánh giá về ảnh hưởng của các loại chất thải phát sinh

từ các trang trại nuôi rắn Trong quá trình nghiên cứu có kế thừa các kết quả nghiêncứu trước đó trong khu vực nghiên cứu

- Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra các vấn đề môi trường tại cáctrang trại chăn nuôi rắn trên địa bàn xã Vĩnh Sơn bằng hệ thống các câu hỏi phỏngvấn để có những nhận xét, đánh giá khách quan, chính xác về tình hình phát sinhchất thải tại các trang trại chăn nuôi rắn

Trang 4

- Phương pháp chuyên gia: Phối hợp và tham khảo ý kiến của các chuyêngia và những người trực tiếp chăn nuôi rắn để xây dựng phương pháp và tổ chứcnghiên cứu có hiệu quả.

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Xây dựng các cơ sở lý luận và thực tiễn ban đầu về hiện trạng môi trườngtại làng nghề rắn Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc;

- Xây dựng và đề xuất các giải pháp có tính khoa học và thực tiễn cao nhằmgiải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường do các trang trại chăn nuôi rắn gây ra;

- Với các đề xuất về các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong đềtài sẽ góp phần thúc đẩy sự tham gia của nhà quản lý, người dân và các chủ trangtrại vì mục tiêu cải thiện môi trường và sức khỏe cộng đồng

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ RẮN VĨNH SƠN 1.1 Giới thiệu về nghề nuôi rắn

1.1.1 Nghề nuôi rắn ở Việt Nam

Nuôi rắn đã trở thành một nghề mang lại nhiều lợi ích kinh tế, tăng thu nhậpcho người dân và góp phần bảo tồn một số loài rắn đang có nguy cơ tuyệt chủng Từhàng ngàn năm nay, con người đã tốn rất nhiều công sức để tìm hiểu về tập tính sinhthái – sinh lý của con rắn để hình thành nên nghề nuôi rắn độc ở nhiều nơi trên khắpđất nước Việt Nam

Việt Nam là nước nằm trong vùng nhiệt đới nên được thiên nhiên ưu đãi chocác hệ sinh học động, thực vật nên các loài rắn của Việt nam có môi trường để sinhsống và phát triển Tuy nhiên những năm gần đây, nạn săn bắt động vật hoang dã,động vật quý hiếm để lấy thịt và xuất khẩu (trong đó có rắn) đang hoành hành gâymất cân bằng sinh thái hoặc một số loài có nguy cơ tuyệt chủng Theo thống kê củaCục Cảnh sát môi trường - Bộ Công an, mỗi năm, thị trường Việt Nam tiêu thụ3.400 tấn thịt động vật hoang dã [18] Vì vậy, hoạt động chăn nuôi, chế biến và kinhdoanh các sản phẩm từ rắn của của nhân dân những năm gần đây được khuyếnkhích phát triển một cách hợp pháp, thông qua hoạt động cấp phép của cơ quankiểm lâm

Hoạt động chăn nuôi, chế biến các sản phẩm từ rắn ở nước ta hiện nay đang

có chiều hướng phát triển mạnh tại một số làng nghề truyền thống hoặc mới pháttriển ở một số vùng nông thôn, trang trại

Theo số liệu thu thập sơ bộ hiện nay cho thấy ngoài một số làng nghề truyềnthống như: Làng Sơn Tang (nay là xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh VĩnhPhúc) có truyền thống chăn nuôi chế biến rắn từ những thế kỷ trước, làng rắn LệMật, thuộc xã Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội với truyền thống nuôirắn, bắt rắn cách đây hơn 900 năm, làng Bún, xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ,

Trang 6

tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) có nghề bắt rắn từ hàng trăm năm nay.Ngoài ra, những năm gần đây còn xuất hiện Hội nuôi rắn ở xã Tứ xã, huyện LâmThao, tỉnh Phú Thọ, một số hộ nông dân của Xã Chi Lăng, Hưng Hà, Thái Bình, trạinuôi rắn Đồng Tâm (xã Bình Đức, Châu Thành, Tiền Giang), trang trại của ôngTrường ở thôn Thọ An, xã Bình An, tỉnh Quảng Ngãi, hội nuôi rắn ở xã Động Đạt,huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, làng Bạch, xã Hoàng Đồng, Duy Tiên, HàNam, trang trại chăn nuôi trăn, rắn của ông Nguyễn Văn Minh (Năm Minh), ấp 44khu 3, xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, trang trại chăn nuôi trăn,rắn của ông Võ Văn Đương, thuộc làng nuôi rắn ấp Hoà Bình, xã Nguyễn VănThảnh, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, trang trại chăn nuôi trăn, rắn của ôngPhạm Hồng Nam - Quản đốc khu du lịch sinh thái Lâm ngư trường Sông Trẹm (xãBiển Bạc, huyện Thới Bình, tỉnh Kiên Giang), trại chăn nuôi rắn hổ mang của ôngNguyễn Văn Bình, Lê Hữu Trung thuộc làng nuôi rắn thôn Nghĩa Dũng, xã CẩmPhong, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá, trại chăn nuôi rắn hổ mang của ông TháiHữu Triều, thuộc làng nuôi rắn xóm 7, xã Tăng Thành, huyện Yên Thành, tỉnhNghệ An, trang trại Thịnh Phát, 14/3, ấp Thới Tây 1, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn,TPHCM, [4]

Rắn thương phẩm từ các làng nuôi rắn nói trên chủ yếu được xuất khẩu sangthị trường tiêu thụ chính là Trung Quốc Ngoài ra, rắn còn được dùng để ngâmrượu, nấu cao và bán cho người dân có nhu cầu để làm thực phẩm chức năng, bồi bổ

cơ thể, hỗ trợ điều trị một số bệnh về xương khớp và dây thần kinh,…

Nghề nuôi rắn đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp người nông dân xóađói, giảm nghèo, ngoài ra còn giúp bảo tồn các nguồn gen quý hiếm Vì vậy, Nhànước ta đã và đang tạo điều kiện, đưa ra các hành lang pháp lý phù hợp để ngườidân có thể phát triển nghề chăn nuôi rắn, vừa góp phần phát triển kinh tế, vừa bảotồn tài nguyên thiên nhiên, duy trì và phát triển đa dạng sinh học của đất nước

Trang 7

1.1.2 Nghề nuôi rắn ở tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Vĩnh Tường

Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùngkinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng Thủ đô, có lợi thế về địa lý, kinh tế và văn hóa

Từ khi tái lập tỉnh đến nay, Vĩnh Phúc đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, kinh tếliên tục tăng trưởng với tốc độ cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷtrọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, lâm nghiệp vàthủy sản Giá trị sản xuất công nghiệp, tổng thu ngân sách, tổng sản phẩm nội tỉnh,chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và chỉ số phát triển con người (HDI) củaVĩnh Phúc luôn xếp trong nhóm 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu của cả nước Về vănhóa – xã hội cũng có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dânkhông ngừng được nâng lên [17]

Theo một số thống kê sơ bộ của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Sơn thì trên địabàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay có một số huyện có nghề nuôi rắn như: Vĩnh Tường,Yên Lạc, Sông Lô, Lập Thạch, Tam Đảo Trong đó, Vĩnh Tường là huyện có nhiềutrang trại nuôi rắn nhất và là huyện có nghề nuôi rắn lâu đời nhất, các huyện khácđều có nghề nuôi rắn ra đời sau huyện Vĩnh Tường do người dân ở các địa phươngnày đã mày mò tìm hiểu và đến học nghề tại Vĩnh Tường, sau đó về phát triển nghềnuôi rắn tại địa phương [4]

Huyện Vĩnh Tường hiện nay cũng chỉ còn lại một số xã có nghề nuôi rắn nhưVĩnh Sơn, Bình Dương, Yên Lập, Yên Bình, Vũ Di, Do những năm gần đây đầu

ra của con rắn thường bấp bênh và chăn nuôi không có lãi, người dân đã bỏ nghềnuôi rắn khá nhiều để chuyển sang làm các nghề khác có thu nhập ổn định hơn.Hiện nay, chỉ còn lại xã Vĩnh Sơn là xã có truyền thống lâu đời nhất vẫn duy trì vàphát triển được nghề nuôi rắn, đồng thời phát triển thêm việc sản xuất các sản phẩm

từ rắn [4]

1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của làng nghề rắn Vĩnh Sơn

1.2.1 Giới thiệu tổng quan về xã Vĩnh Sơn

a Vị trí địa lý

Trang 8

Vĩnh Tường là huyện nằm ở đỉnh tam giác đồng bằng Bắc Bộ, bên tả ngạnsông Hồng, về phía Tây Nam của tỉnh Vĩnh Phúc; Phía Bắc giáp huyện Lập Thạch

và Tam Dương, phía Tây Bắc giáp thành phố Việt Trì của tỉnh Phú Thọ, phía Tâygiáp huyện Ba Vì và thị xã Sơn Tây (thành phố Hà Nội), phía Đông giáp huyện YênLạc

Xã Vĩnh Sơn là một xã nằm ở phía Bắc của huyện Vĩnh Tường, phía Đônggiáp xã Bình Dương, phía Tây giáp thị trấn Thổ Tang và xã Thượng Trưng, phíaNam giáp xã Vũ Di, phía bắc giáp xã Đại đồng và Tân Tiến Xã có diện tích tựnhiên là: 327,34 ha; Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 236,27 ha, chiếm tỷ lệ72,18%; Đất phi nông nghiệp 91,07 ha, chiếm tỷ lệ 27,82%

Hình 1 1 Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Phúc

huyện

Vĩnh Tường

Trang 9

Hình 1 2 Bản đồ hành chính huyện Vĩnh Tường

Xã Vĩnh Sơn

Trang 10

b Điều kiện kinh tế - xã hội

Tính đến năm 2013, toàn xã có 1358 hộ với 5806 nhân khẩu, trong đó có 18

hộ với 84 nhân khẩu theo đạo Thiên chúa giáo Xã có 05 thôn (từ thôn 1 đến thôn5), địa bàn phân bố tập trung

Về lao động xã có 3450 người, chiếm 63% dân số toàn xã, trong đó lao độnglàm việc trong lĩnh vực nông nghiệp là 2.569 người, chiếm 71,5% lực lượng laođộng của xã, còn lại 28,5% là lao động trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, dịch vụthương mại

Cơ cấu kinh tế của xã: Nông nghiệp, thương mại dịch vụ

Thu nhập bình quân đầu người năm 2013 là 18,2 triệu đồng/người/năm

Về di tích: Năm 2000 di tích Đình, Chùa xã Vĩnh Sơn được xếp hạng di tíchlịch sử cấp Quốc gia Năm 2006 xã Vĩnh Sơn được công nhận là làng nghề rắntruyền thống Năm 2010, xã Vĩnh Sơn được vinh danh là một trong mười làngnghề tiêu biểu của cả nước, xã đã được nhiều đoàn khách quốc tế, lãnh đạo Đảng vàNhà nước tới thăm quan

Hạ tầng: Đường thôn, ngõ đã được lát gạch, đổ bê tông 100% Hệ thống điện

đã được dự án ReII đầu tư và đưa vào sử dụng Trạm y tế, trường mầm non, trườngTiểu học và trường Trung học cơ sở đều đạt chuẩn Quốc gia Đến năm 2013 xã đạt09/19 tiêu chí về Nông thôn mới, mục tiêu phấn đấu năm 2015 đạt 19/19 tiêu chí Hàng năm các chỉ tiêu pháp lệnh cấp trên giao xã đều hoàn thành và hoànthành vượt chỉ tiêu, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội luôn ổn định, đời sốngvật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao

1.2.2 Lịch sử ra đời và phát triển của làng nghề rắn Vĩnh Sơn

Đến nay, vẫn chưa tìm thấy các tài liệu lịch sử về sự ra đời của làng rắn VĩnhSơn Theo các bậc cao niên trong làng truyền lại, trước đây Vĩnh Sơn vốn là mộtvùng hoang vu, rậm rạp, cùng các ao, hồ, đầm, bãi Chính thổ nhưỡng nơi đây đãtạo điều kiện cho các loài động vật bò sát tìm đến sinh sống, trong đó có loài rắn

Trang 11

Trước đây, vào thời kỳ nông nhàn, người dân Vĩnh Sơn thường đi bắt rắn vềlàm thức ăn, ngâm rượu làm thuốc hoặc đem bán để kiếm thêm thu nhập trang trảicuộc sống Xã hội phát triển, với sự tiến bộ về khoa học - kỹ thuật và nhu cầu bồi bổsức khỏe của người dân, nhiều công dụng từ loài rắn đã được phát hiện Người dânVĩnh Sơn với kinh nghiệm và sự am hiểu về loài rắn được đúc rút qua nhiều năm đãhình thành lên nghề bắt rắn để bán Nhưng có một thực tế là cứ khai thác rắn trong

tự nhiên thì đến một lúc nào đó nguồn rắn cũng sẽ cạn kiệt Trước thực tế nguồn rắntrong tự nhiên ngày càng cạn kiệt mà nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ rắn ngàycàng tăng cao, người dân Vĩnh Sơn đã chuyển hướng từ săn bắt sang nuôi nhốt vàgây nuôi sinh sản để tạo nguồn rắn cung cấp cho thị trường

Nghề rắn ở Vĩnh Sơn đã trải qua rất nhiều thăng trầm theo dòng thời gian.Trong thời kỳ bao cấp, phong trào nuôi rắn đã bị lắng xuống cùng với khó khănchung của nền kinh tế, nhiều gia đình đã phải bỏ nghề nuôi rắn để chuyển sang nghềkhác Tuy nhiên, đến năm 1979, được sự quan tâm giúp đỡ của các cấp, các ngành,một số nhà khoa học như: Gs.Ts Trần Kiên, Gs Nguyễn Tài Lương, Gs Đái DuyBan, Ts Ngô Thị Kim, và Trung tâm Sinh lý – Hóa sinh người và động vật (nay

là Viện Công nghệ Sinh học Việt Nam), Vĩnh Sơn đã khánh thành và đưa vào hoạtđộng Trung tâm nhân giống rắn (thường gọi là Trại rắn Vĩnh Sơn) Trại rắn đi vàohoạt động là sự kết hợp giữa kinh nghiệm cổ truyền và tiến bộ khoa học kỹ thuật,giúp người dân trong xã nâng cao hiệu quả hoạt động chăn nuôi rắn [3]

Thực hiện nghị quyết của Trung Ương về đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiệnđại hóa nông thôn và phát triển tiểu thủ công nghiệp, Đảng Ủy, HĐND, UBND xãVĩnh Sơn luôn chú trọng công tác khuyến khích, tạo điều kiện cho các cơ sở, các hộchăn nuôi rắn có cơ hội mở rộng sản xuất

Được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp, năm 1994, nghề nuôi rắn đã đượcNhà nước công nhận tính hợp pháp Năm 1995, được sự giúp đỡ của Viện Côngnghệ Sinh học Việt Nam về quy trình ấp nở và chăm sóc, người dân Vĩnh Sơn đãgây nuôi thành công loài rắn Hổ Trâu, Hổ Mang và Hổ Chúa sinh sản Đến năm

Trang 12

2010, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo hành lang pháp lý (xác nhận rắnnuôi) cho những người nuôi rắn và thương lái được thuận lợi trong quá trình buônbán, vận chuyển rắn đến nơi tiêu thụ Năm 2006, khu quy hoạch làng nghề rắn VĩnhSơn đã được phê duyệt tại quyết định số 2488/QĐ-UBND ngày 13 tháng 10 năm

2006 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc với diện tích 20,87 ha [12] Đây là khu làng nghềtruyền thống của xã Vĩnh Sơn, tập trung các cơ sở chăn nuôi và chế biến các sảnphẩm từ rắn, đồng thời là khu dịch vụ, du lịch và phát triển kinh tế - xã hội của địaphương

Căn cứ theo tiến trình lịch sử ra đời và phát triển của làng rắn Vĩnh Sơn,ngày 24 tháng 11 năm 2006, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ký quyết định số3120/QĐ-UBND về việc công nhận làng nghề rắn Vĩnh Sơn đạt tiêu chuẩn làngnghề truyền thống [13] Tiếp theo đó, ngày 31 tháng 12 năm 2007, Hội làng nghềrắn Vĩnh Sơn được thành lập và là chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể số 113742, cấpngày 14 tháng 11 băn 2008 cho các sản phẩm: Nọc rắn, rắn ngâm rượu, cao rắn, rắnngâm rượu mật ong, thịt rắn, thịt rắn đóng hộp,…

Đến nay, rắn vẫn là một loại đặc sản đang lên cơn sốt, thị trường trong nướcđang đổ xô đi tìm các loại thuốc quý và thị trường nước ngoài vẫn còn đang bỏ ngỏ.Nhưng để rắn Vĩnh Sơn thực sự trở thành hàng hóa thì cần xây dựng một thươnghiệu mạnh cho làng rắn, để thương hiệu “rắn Vĩnh Sơn” có thể vươn ra tầm thế giới

1.2.3 Tình hình phát triển nghề rắn tại xã Vĩnh Sơn hiện nay

Hiện nay, toàn xã Vĩnh Sơn có khoảng hơn 850 hộ chăn nuôi rắn, trong đó

có khoảng 15 hộ chăn nuôi với quy mô lớn, 100 hộ có quy mô trung bình và khoảng

735 hộ chăn nuôi rắn với quy mô nhỏ, trong đó cơ bản các hộ đều nuôi rắn sinh sản.Tính đến tháng 5/2014, sản lượng rắn đầu vào của toàn xã ước đạt trên 42 tấn, sốtrứng đưa vào ấp khoảng 300.000 quả

Chăn nuôi rắn hiện nay đã trở thành ngành sản xuất chính của người dân địaphương Theo thống kê của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Sơn, trong năm 2013, tổng

Trang 13

giá trị sản xuất từ hoạt động chăn nuôi đạt 38,4 tỷ đồng, trong đó giá trị sản xuất từchăn nuôi rắn ước đạt 29,4 tỷ đồng

Hiện nay, trên toàn xã có 02 hợp tác xã và 03 công ty chuyên chăn nuôi, chếbiến và kinh doanh các sản phẩm từ rắn, có 01 nhà hàng chuyên các món ẩm thực

về rắn, 01 trại rắn trung tâm của toàn xã và đã thành lập Hội làng nghề rắn VĩnhSơn

Các sản phẩm của làng nghề bao gồm: Rắn sống, thịt rắn, rắn ngâm rượu,nọc rắn, da rắn, cao rắn, cao rắn ngâm mật ong, đều có giá trị về sức khỏe và kinh

tế cao, được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng Sản phẩm từ rắn một phần đượcngười dân trong xã chế biến thành rắn ngâm rượu, cao rắn, cao rắn ngâm mật ong,một phần được bán cho các nhà hàng đặc sản, còn lại rắn sống được bán để làm rắngiống bố mẹ cho các trang trại rắn trong nước hoặc xuất khẩu sang thị trường TrungQuốc

Hiện tại, nghề nuôi rắn tại xã Vĩnh Sơn vẫn đang được duy trì và phát triểnmặc dù còn tiềm ẩn nhiều rủi ro trong quá trình chăn nuôi cũng như những khókhăn về đầu ra của sản phẩm Nghề chăn nuôi và chế biến các sản phẩm từ rắn đãđem lại thu nhập cho các hộ gia đình trong xã, góp phần xóa đói giảm nghèo, manglại hiệu quả kinh tế - xã hội cao, làm thay đổi bộ mặt của xã Vĩnh Sơn

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình pháttriển để đưa làng nghề rắn Vĩnh Sơn trở thành một thương hiệu mạnh mẽ và uy tíntrên thị trường trong và ngoài nước Một số khó khăn điển hình mà làng nghề gặpphải như:

- Sản phẩm hàng hoá của làng nghề còn đơn giản, mẫu mã chậm được đổimới, công tác quảng cáo tiếp thị còn rất hạn chế, sản phẩm chủ yếu xuất thô (rắnthương phẩm chưa qua chế biến) do vậy chưa có những đơn đặt hàng lớn

- Vốn cho hoạt động sản xuất chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn, nguồn vốncác tổ chức tín dụng cho vay còn rất khiêm tốn

Trang 14

- Vấn đề nghiên cứu phòng, chữa bệnh cho rắn chưa được nhà nước quantâm đúng mức Do đó việc phòng và chữa bệnh cho đàn rắn chủ yếu do kinh nghiệm

cổ truyền và qua quá trình chăn nuôi mà tích luỹ được

- Khu vực quy hoạch làng nghề vẫn còn một số hộ chưa chấp hành giảiphóng mặt bằng để bàn giao cho chủ đầu tư thực hiện dự án, do đó những hộ có nhucầu mở rộng sản xuất, chăn nuôi chưa có điều kiện về mặt bằng để đầu tư

- Do nghề rắn tồn tại và phát triển từ lâu đời và tự phát do vậy khu chăn nuôi

và sản xuất các sản phẩm từ rắn chủ yếu là làm trên diện tích đất thổ cư của giađình Do vậy người ở xen lẫn với rắn và các vật nuôi khác (trâu, bò, lợn, gà chimcút, ), từ đó chất thải chăn nuôi được tiêu thoát chung với các chất thải sinh hoạtkhác, dễ gây ô nhiễm môi trường và khó quản lý được các mầm bệnh lây lan từtrang trại của gia đình này sang trang trại của gia đình khác Vấn đề này ảnh hưởnglớn đến công tác xử lý và cô lập những trang trại rắn đã mắc bệnh đồng thời gây ảnhhưởng không nhỏ đến sức khoẻ của cộng đồng dân cư trên toàn xã

- Mặc dù các văn bản quy phạm pháp luật được hướng dẫn khá chi tiết về cácthủ tục cần thiết để xin phép thành lập trại gây nuôi, nhưng một số nội dung hướngdẫn nặng về các tiêu chuẩn khoa học, chưa phù hợp với đại đa số trình độ của ngườinông dân “chân lấm, tay bùn”

- Các trang trại gây nuôi rất muốn các cơ quan khoa học giúp đánh dấu sảnphẩm gây nuôi để tránh những đầu nậu trà trộn giữa con rắn gây nuôi với con rắnkhai thác ngoài tự nhiên (hiện nay các biện pháp đánh dấu quá phức tạp, giá cả lạiđắt chưa phù hợp với người dân chăn nuôi)

- Các chính sách của Nhà nước chưa đề cập đến việc hỗ trợ các hộ chăn nuôirắn về kinh phí nhằm mở rộng sản xuất nhằm mục đích sản xuất ra nhiều con giốngđáp ứng nhu cầu của các hộ chăn nuôi rắn thương phẩm, từ đó sản xuất ra nhiều sảnphẩm cung cấp cho thị trường tiêu dùng, đồng thời góp phần hạn chế nạn khai thácrắn bừa bãi trong tự nhiên

Trang 15

- Nhà nước chưa đề cập đến vấn đề chính sách giao cho các cơ quan nghiêncứu khoa học, nghiên cứu cụ thể tập tính, đặc tính sinh học cũng như quy trình gâynuôi sinh sản những động vật hoang dã quý hiếm, để từ đó chuyển giao cho các hộnông dân nuôi, đặc biệt như làng nghề truyền thống xã Vĩnh Sơn, nhằm giải quyếtviệc làm đang dư thừa rất lớn trong khu vực nông thôn.

- Chính sách của Nhà nước chưa cụ thể về việc thưởng cho những ngườicung cấp thông tin về việc khai thác rắn trong tự nhiên Vì vậy chưa khuyến kíchđược cộng đồng dân cư giám sát, phát hiện cung cấp tin cho cơ quan chức năngngăn chặn kịp thời tệ nạn khai thác tuỳ tiện động vật, thực vật trong môi trườnghoang dã

- Căn cứ theo nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 thì rắn Hổ mangchúa (Ophiophagas hannah) thuộc nhóm I B – nhóm nghiêm cấm khai thác sử dụng

vì mục đích thương mại mà chỉ được khai thác vì mục đích nghiên cứu khoa học (kể

cả để tạo nguồn giống ban đầu phục vụ cho nuôi sinh sản, trồng cấy nhân tạo, quan

hệ hợp tác Quốc tế) [11] Tuy nhiên do đặc thù của nghề chăn nuôi rắn xã Vĩnh Sơn

đã có từ rất lâu đời, thực tế qua quá trình chăn nuôi người dân đã gây nuôi sinh sảnthành công giống rắn này Qua kinh nghiệm thực tế của người dân họ đã biết lai tạogiữa giống rắn chúa sống ở khu vực miền Nam với giống rắn chúa ở vùng núi phíaBắc các thế hệ F2, F3, F4, đều phát triển rất tốt, con giống khoẻ mạnh, ít bệnh tật,phát triển cân đối Tuy nhiên, theo pháp luật hiện hành thì loài này nghiêm cấmnuôi vì mục đích thương mại, do vậy nhân dân Vĩnh Sơn gặp rất nhiều khó khăntrong vấn đề chứng minh nguồn gốc của rắn để thực hiện các bước theo quy trìnhgây nuôi sinh sản mà các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã quy định

Tuy gặp nhiều khó khăn trong công tác chăn nuôi, mở rộng sản xuất và tìmkiếm đầu ra cho sản phẩm Nhưng bên cạnh những khó khăn đó, làng nghề rắn VĩnhSơn cũng được Đảng và Nhà nước tạo nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển làngnghề truyền thống như:

Trang 16

- Từ việc được Nhà nước cho phép gây nuôi rắn nhằm mục đích thương mại

đã tạo điều kiện cho người nông dân tiếp cận với các nguồn vốn vay từ các tổ chứctín dụng để đầu tư cho phát triển chăn nuôi rắn - nghề truyền thống của địa phương.Trước năm 2000 người dân muốn vay vốn chăn nuôi rắn gặp rất nhiều khó khăn,các tổ chức tín dụng không cho vay vốn vào mục đích chăn nuôi rắn Thực chấtngười dân vay vốn chăn nuôi rắn đều phải chuyển sang lí do chăn nuôi gia súc, giacầm, Do vậy số vốn vay được rất ít, không đủ để đầu tư mở rộng việc nhân nuôinên tốc độ phát triển của làng nghề có phần chậm chạp hơn, chưa xứng với tiềmnăng của một làng nghề truyền thống Sau năm 2000, khi được phép gây nuôi rắn

hổ mang, các tổ chức tín dụng đã đầu tư cho việc gây nuôi rắn, từ đó nhân dân cóđiều kiện đầu tư mở rộng sản xuất chăn nuôi, do vậy mức tăng trưởng từ nghề chănnuôi rắn bắt đầu tăng mạnh

- Cũng từ việc cho phép chăn nuôi rắn đã giúp người nông dân trong xã tiếpcận nhanh hơn với cơ chế thị trường Và một điều quan trọng khác là toàn bộ nhữngngười nuôi có kiến thức từ cao đến thấp đều không ngừng tự tìm tòi học hỏi cáckiến thức khoa học kỹ thuật cũng như các văn bản của Nhà nước liên quan đến độngvật hoang dã và tự học hỏi lẫn nhau để tích luỹ kinh nghiệm cho đầu tư chăn nuôirắn

- Cho phép chăn nuôi rắn nhằm duy trì và phát triển nghề truyền thống đã trởthành động lực quan trọng giúp cho các đoàn viên, hội viên của các tổ chức chính trị– xã hội, tổ chức nghề nghiệp phát triển kinh tế, nâng cao đời sống Từ đó họ tintưởng hơn vào tổ chức và hăng say tham gia các hoạt động xã hội Và cũng từ cáchoạt động xã hội đó đã tạo điều kiện để họ gần gũi trao đổi thông tin, gắn kết vớinhau hơn Thực tế cho thấy các tổ chức chính trị xã hội ở Vĩnh Sơn đều hoạt độngtốt và là những đơn vị đi đầu trong các phong trào của huyện, của tỉnh

Hiện nay, khách đến với làng nghề rắn Vĩnh Sơn sẽ được thụ hưởng nhiềudịch vụ như: Thăm quan khu chăn nuôi rắn, trực tiếp quan sát loài động vật đangdần hiếm gặp trong môi trường tự nhiên, cảm nhận những khó khăn của nghề nuôi

Trang 17

rắn, thưởng thức những món ăn ngon, lạ và bổ dưỡng được chế biến từ thịt rắn và ra

về với những sản phẩm truyền thống được bày bán tại làng rắn như cao rắn, rượurắn,

1.3 Quy trình chăn nuôi rắn tại làng nghề rắn Vĩnh Sơn

1.3.1 Quy cách xây dựng chuồng trại

* Chuồng nuôi rắn con:

Chuồng nuôi rắn có thể xây dựng đơn giản hoặc kiên cố, to, nhỏ hoặc vừaphải, tùy thuộc vào điều kiện của từng hộ gia đình Có một số mô hình tạo nhà ở (ôchuồng) cho chuồng nuôi rắn con như sau:

- Diện tích mỗi ô chuồng khoảng 10 đến 15m2

- Tường ngăn giữa các ô cao 80 đến 100cm Thường thì người nuôi rắn đi lạitrên thành tường để chăm sóc rắn

- Một số cách bố trí chỗ ở (ụ rắn) cho rắn con:

+ Cách 1: Ụ rắn được bố trí sao cho chỉ chiếm 1/3 đến 1/4 ô chuồng Mặtbằng ụ rắn được làm 2 đến 3 tầng bằng các tấm giát (gần giống giát giường) xếpchồng lên nhau Giữa các tấm giát có thể lót rơm, cỏ khô hoặc đất cục cho rắn ở và

Trang 18

* Chuồng nuôi rắn to (rắn thương phẩm, rắn hậu bị và rắn sinh sản):

- Diện tích mỗi ô tùy theo điều kiện có thể xây dựng kích thước (30x40x40)

cm để nuôi 01 con rắn hoặc có thể rộng hơn với kích thước (40x60x40) cm để nuôi

01 cặp rắn sinh sản, tường xây gạch, nền lát gạch thấm nước (loại gạch đỏ lát sân)

- Nắp chuồng ở: Có thể làm nắp bê tông có cửa (15 x 20 cm), có khung cửa

cố định, có bản lề cửa và chốt khóa cửa cẩn thận hoặc có thể làm bằng gỗ, cửa lưới

- Cách 2: Dùng dung dịch phoocmon (HCHO) 1-2% phun đều, sau 3 ngày cóthể cho nguyên liệu ấp và trứng vào ấp

Xung quanh phòng ấp cần phun thuốc khử côn trùng để phòng trừ kiến, mối,ruồi, muỗi xâm hại trứng rắn

Trang 19

* Phương pháp ấp:

- Nguyên liệu ấp: Nguyên liệu ấp gồm đất thịt nhẹ hoặc đất cát pha và cátđen Nguyên liệu ấp phải được phơi nắng nhiều ngày và phải được khử trùng Tùyđiều kiện độ ẩm môi trường của từng khu vực cụ thể mà quyết định tỷ lệ nguyênliệu dùng để ấp trứng

- Phương pháp ấp: Rải nguyên liệu ấp xuống nền phòng ấp với độ dàykhoảng 15-20cm Các ổ trứng được đặt lên nguyên liệu ấp và đặt cách nhau khoảng5cm Sau khi đặt trứng ta dùng nguyên liệu ấp phủ lên bề mặt trứng dày từ 1-2cm.Hàng tuần có thể phun chế phẩm EM để đảm bảo môi trường ấm Kiểm tra độ ẩmhàng ngày ở phòng ấp

- Thời gian ấp trứng: Trứng ấp trong thời gian từ 57-60 ngày thì nở rắn con.Thời gian ấp có thể ngắn lại hoặc dài hơn tùy thuộc vào độ ẩm thường xuyên củanguyên liệu ấp

Hình 1 5 Trứng rắn hổ mang Hình 1 6 Trứng rắn đang được ấp

1.3.2.2 Quy trình nuôi rắn giống và rắn thương phẩm

a Kỹ thuật chuẩn bị thức ăn cho rắn

* Đặc điểm dinh dưỡng:

- Rắn là động vật thuộc nhóm ăn thịt, thành phần thức ăn của rắn thích ứngvới sự có mặt và mật độ thức ăn ở ngoài thiên nhiên Rắn hổ mang có thể ăn cácloại thịt nói chung như cóc, nhái, chuột, gà, chim, trứng,

Trang 20

- Các loại rắn nói chung có khả năng ăn nhiều trong một bữa (30-40% so vớitrọng lượng cơ thể) Song, trong tự nhiên, không phải lúc nào chúng cũng kiếmđược thức ăn Trong điều kiện nuôi nhốt, rắn có thể ăn bằng 10-15% trong lượng cơthể và ăn cách 2-3 ngày một lần.

- Rắn là động vật có khả năng nhịn ăn tất tốt, từ vài tháng (ngủ đông) đến lâuhơn Khả năng nhịn ăn của rắn gắn liền với nhu cầu nước uống và sự thay đổi nhiệt

độ không khí Nếu cung cấp nước uống đầy đủ hoặc khi nhiệt độ không khí giảmthấp thì khả năng nhịn ăn của rắn có thể lâu hơn

ăn Trước khi cho ăn, đem rã đông và trộn đều các loại thuốc cần cho rắn ăn kèmtheo dự kiến

Hình 1 7 Thức ăn cho rắn

b Kỹ thuật nuôi rắn

Trang 21

* Kỹ thuật nuôi rắn con:

- Rắn con 1 ngày tuổi được nhặt vào phòng nuôi riêng Trong thời gian từ

6-7 ngày sau nở, rắn không ăn mà chỉ sống bằng các chất dinh dưỡng còn lại trongnoãn hoàng Thời điểm này, chỉ cần cho rắn uống nước Sau khi rắn lột xác lần đầu,

ta cho rắn dùng thức ăn dành cho rắn sơ sinh

- Mật độ nuôi rắn: Rắn con được nuôi với mật độ khoảng 10-15 con/m2.Trong vườn rắn cần đắp nhiều ụ hang cho rắn trú Mật độ khoảng 30-50 con/ụ Cứkhoảng 50 rắn con ta để 01 đĩa thức ăn và 01 đĩa nước uống

* Nuôi rắn thương phẩm:

- Rắn thương phẩm được nuôi vào các ô chuồng nhỏ riêng biệt Đối với rắn

dự kiến chọn làm rắn hậu bị và sinh sản cần nuôi chúng ở những ô chuồng rộnghơn

- Thức ăn cho các loại rắn lớn này được cắt to hơn, số lượng nhiều hơn vàcác bữa cách nhau từ 2-3 ngày

* Rắn ngủ đông:

- Vào khoảng tháng 11 đến tháng 3 hàng năm, khi nhiệt độ không khí xuốngthấp dưới 200C, rắn có hiện tượng ngủ đông Mọi hoạt động của rắn trong thời giannày gần như bị dừng lại Rắn cần chỗ trú ấm áp, khô ráo, yên tĩnh để ở

- Đối với rắn con, có thể cho rắn ngủ đông ngay tại ô chuồng nuôi bằng cáchdùng vật liệu phủ lên ụ rắn sao cho ụ rắn không bị gió lùa, không bị ướt khi mưa và

có nhiệt độ, độ ẩm ổn định Cũng có thể chuyển rắn vào trú đông trong nhà, songvẫn cần vật liệu ủ ấm

- Đối với rắn to, cần chuyển rắn tập trung từ vài con tới vài chục con vào mộtchuồng rộng hơn với vật liệu ủ đông, tạo cho rắn môi trường ấm hơn Trong thờigian này, ta tận dụng để khử trùng chuồng nuôi cho năm sau

- Vật liệu ủ đông cho rắn có thể là lá chuối khô, rơm rạ, cỏ khô, thậm chí cảruột chăn bông cũ

Trang 22

1.3.3 Một số bệnh thường gặp ở rắn, cách phòng và điều trị bệnh cho rắn [1]

a Bệnh do dinh dưỡng

Do thức ăn cho rắn trong điều kiện nuôi nhốt thường đơn điệu, vì vậy rắnthường mắc một số bệnh do thiếu vitamin, chủ yếu là các vitamin như: Vitamin A,vitamin nhóm B, vitamin D2,

Sự thiếu cân đối trong thành phần dinh dưỡng cùng với chế độ nuôi khônghợp lý, vệ sinh thức ăn không tốt dễ làm phát sinh một số bệnh về đường tiêu hoá vàtuần hoàn như bệnh tắc mạch máu do lắng đọng cholesterol và a xit uric là nguyênnhân làm chết rắn đột ngột

b Bệnh do nhiễm trùng

Bệnh đường tiêu hoá do vi khuẩn Salmonella rất phổ biến ở rắn và có thể lây

sang người, vì vậy cần chú ý vệ sinh cá nhân sau khi tiếp xúc với rắn, đặc biệt là rắnbệnh Khi rắn bị bệnh nặng, cần phải điều trị bằng thuốc kháng sinh

Bệnh viêm miệng rất thường gặp ở rắn Bệnh này thường do vi khuẩn, nấmgây ra và thường đi kèm với tình trạng thiếu vitamin Khi bệnh nhẹ có thể rửa bằngnước oxy già, bôi thuốc Sulphadimidine, bệnh nặng cần phải điều trị bằng khángsinh

Nhiễm trùng đường hô hấp cũng hay gặp ở rắn Biểu hiện của bệnh là miệngrắn hơi mở, thở khò khè, đôi khi tạo ra các bong bóng ở miệng Rắn có thể bị tắcmũi hoàn toàn, làm cho hơi thở nặng nhọc và nghe khá rõ Cần điều trị bằng khángsinh khi rắn có biểu hiện viêm đường hô hấp

d Bệnh do ký sinh trùng

Về mặt hiệu quả kinh tế, các bệnh do ký sinh trùng gây thiệt hại lớn nhất.Tuy tỷ lệ rắn chết do ký sinh trùng không cao như các bệnh do vi khuẩn, nhưng kýsinh trùng gây ra các bệnh có tính chất mãn tính, làm giảm tăng trọng, giảm sức đềkháng bệnh, tạo thuận lợi và làm lây lan các bệnh nhiễm trùng khác Một số loài kýsinh trùng nguy hiểm cũng có thể gây dịch làm chết rắn hàng loạt

Trang 23

Biểu hiện chung của bệnh do nội ký sinh là rắn gầy yếu, mệt mỏi, kém ăn, dakhông bóng, thường có rối loạn tiêu hoá Có nhiều loại thuốc đặc trị ký sinh trùng,cần có chẩn đoán chính xác để dùng thuốc thích hợp Ký sinh trùng có khả năng lâylan mạnh, vì vậy cần hết sức chú trọng các biện pháp vệ sinh chăn nuôi và áp dụngcác biện pháp phòng bệnh.

e Bệnh do các vết thương

Các vết thương của rắn do nhiều nguyên nhân gây ra như: Săn bắt, vậnchuyển, cắn nhau, Nguyên tắc chung khi điều trị vết thương cho rắn là phải rửa,sát trùng vết thương bằng các dung dịch sát trùng thông thường, nhốt rắn ở nơi sạch

sẽ, khô ráo để tránh nhiễm trùng và nấm từ môi trường

f Bệnh ướp xác

Biểu hiện: Xác rắn không lột được, nếu để lâu rắn kém ăn, khô kiệt và chết.Điều trị: Rắn bị ướp xác cần bắt vào túi lưới, ngâm rắn khoảng 20 – 30 phúttrong dung dịch sát khuẩn (berberin , tertracyclin, ) với nồng độ 0,5 – 1,0 g/lítnước sạch

Trang 24

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI PHÁT SINH

TỪ CÁC TRANG TRẠI NUÔI RẮN TẠI XÃ VĨNH SƠN

Chăn nuôi là một trong những ngành sản xuất tạo ra lượng chất thải nhiềunhất ra môi trường Và chăn nuôi rắn cũng không phải là một ngoại lệ Chất thảichăn nuôi chứa nhiều thành phần có khả năng gây ô nhiễm môi trường, làm ảnhhưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của vật nuôi và sức khỏe của con người Vìvậy, việc hiểu rõ lượng phát thải, thành phần và các tính chất của chất thải chănnuôi nhằm có biện pháp quản lý và xử lý thích hợp, giảm thiểu ô nhiễm môi trường,tận dụng nguồn chất thải vào mục đích kinh tế là một việc làm cần thiết và ngàycàng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết

2.1 Hiện trạng các loại chất thải phát sinh từ hoạt động chăn nuôi rắn

2.1.1 Chất thải rắn thông thường

a Các nguồn phát sinh

Chất thải rắn thông thường phát sinh từ các trang trại chăn nuôi rắn có thànhphần chủ yếu bao gồm:

- Chất thải rắn sinh hoạt

- Chất thải phát sinh từ bản thân con rắn: Phân rắn, lớp da sau khi rắn lột xác

- Xác rắn chết do các bệnh thông thường

- Nội tạng và các phần loại bỏ trong quá trình chế biến thức ăn cho rắn, nộitạng của rắn bị loại bỏ trong quá trình chế biến, thức ăn thừa của rắn

- Bao bì, vỏ hộp thuốc phòng và điều trị bệnh cho rắn

Ngoài ra, do các trang trại hầu hết đều nằm trên một phần diện tích đất ở của

hộ gia đình được trích ra để xây dựng chuồng trại nuôi rắn, do đó chất thải rắn phátsinh từ các trang trại nuôi rắn trên địa bàn xã Vĩnh Sơn ngoài chất thải từ quá trìnhchăn nuôi còn có chất thải rắn sinh hoạt của người dân

Trang 25

Qua quá trình điều tra thực tế tại xã Vĩnh Sơn cho thấy: Đa số các loại chấtthải rắn phát sinh từ các trang trại đều chứa hàm lượng các chất hữu cơ và dinh

dưỡng cao, chứa nhiều loại vi sinh vật gây bệnh như: E.Coli, Coliform, Fecal Coliform, Salmonella,

b Lượng chất thải

Lượng chất thải rắn thông thường phát sinh từ các trang trại chăn nuôi rắnphụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Chuồng nuôi có sử dụng chất độn (thông thường làgạch mộc hoặc đất phơi khô) hoặc chuồng nuôi không sử dụng chất độn (thường sửdụng loại chuồng nuôi làm bằng gỗ), loại thức ăn cho rắn (sử dụng cóc làm thức ăn

sẽ có nhiều bộ phận thừa hơn là sử dụng gà, vịt con hoặc rắn nước), mùa sinhtrưởng của rắn (mùa nóng là mùa sinh trưởng nên con rắn sẽ tiêu thụ thức ăn nhiềuhơn, dẫn đến lượng chất thải phát sinh vào mùa nóng cũng nhiều hơn vào mùalạnh) Ngoài ra, do các trang trại chăn nuôi rắn đa phần đều sử dụng một phần diệntích đất ở của hộ gia đình, vì vậy lượng chất thải rắn thông thường phát sinh từ cáctrang trại chăn nuôi rắn còn bao gồm cả chất thải rắn sinh hoạt

Theo số liệu thống kê từ 50 phiếu điều tra tại các trang trại chăn nuôi rắn trênđịa bàn xã Vĩnh Sơn (trong đó có 03 trang trại quy mô lớn, 18 trang trại quy môtrung bình và 29 trang trại quy mô nhỏ) thì lượng chất thải rắn thông thường phátsinh từ mỗi trang trại trung bình như sau:

Bảng 2 1 Lượng chất thải rắn thông thường phát sinh tại các trang trại

STT Chất thải Lượng phát sinh trung bình (kg/trang trại.ngày)

Quy mô lớn Quy mô trung bình Quy mô nhỏ

Trang 26

Theo số liệu điều tra do Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Sơn cung cấp, tổng số hộchăn nuôi rắn trên địa bàn toàn xã Vĩnh Sơn hiện nay là khoảng 850 hộ, trong đó có

15 hộ có quy mô trang trại lớn, 100 hộ có quy mô trang trại trung bình, số còn lại cókhoảng 735 hộ có quy mô trang trại nhỏ Theo đó, lượng chất thải rắn thông thườngphát sinh từ các trang trại lớn trung bình khoảng 12,03 kg/trang trại.ngày, từ cáctrang trại có quy mô trung bình khoảng 7,26kg/trang trại.ngày Thành phần chủ yếu

có trong chất thải rắn thông thường phát sinh từ các trang trại là chất thải rắn sinhhoạt, phân thải và thức ăn thừa và từ các trang trại có quy mô nhỏ là 4,97 kg/trangtrại.ngày Như vậy, tổng lượng chất thải rắn phát sinh hàng ngày trên toàn xã (theo

số liệu điều tra) ước tính khoảng 4559,4 kg/ngày, trong đó lượng chất thải rắn sinhhoạt phát sinh khoảng 2235,85 kg/ngày; Số còn lại là chất thải rắn phát sinh từ hoạtđộng chăn nuôi của các trang trại (khoảng 2323,55 kg/ngày)

Các số liệu điều tra ở trên là số liệu được ước tính trong mùa nóng (từ tháng

4 đến tháng 10 hàng năm) Căn cứ vào đặc tính sinh học của con rắn thì lượng chấtthải từ hoạt động chăn nuôi rắn chỉ phát sinh với khối lượng lớn vào mùa nóng làmùa sinh trưởng và phát triển của con rắn Vào mùa nóng, mỗi bữa ăn của rắn cáchnhau khoảng 3 ngày, tuy nhiên vào mùa lạnh (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau),mỗi bữa ăn của rắn cách nhau từ 2 – 4 tuần, và vào mùa lạnh lượng rắn chăn nuôitại các trang trại cũng giảm đi đáng kể do vào mùa này các chủ hộ sẽ bán rắn ra thịtrường, tiến hành dọn dẹp chuồng trại để chuẩn bị cho mùa nuôi rắn năm sau Vìvậy, lượng chất thải phát sinh từ hoạt động chăn nuôi rắn vào mùa lạnh sẽ giảm điđáng kể

2.1.2 Nước thải

a Nguồn phát sinh

Theo kết quả điều tra, khảo sát thực tế các trang trại chăn nuôi rắn trên địabàn xã Vĩnh Sơn thì nước thải phát sinh từ các trang trại chăn nuôi rắn gồm có nướcthải chăn nuôi và nước thải sinh hoạt

Trang 27

- Nước thải chăn nuôi: Phát sinh từ quá trình chuẩn bị thức ăn cho rắn (rửathức ăn cho rắn, rửa đĩa để thức ăn, vệ sinh tay chân trong quá trình chuẩn bị, ), từquá trình vệ sinh chuồng trại Loại nước thải này có chứa hàm lượng cao các chấthữu cơ và các vi sinh vật gây bệnh Ở một số trang trại lớn còn có nước thải phátsinh từ quá trình làm mát mái chuồng trại vào mùa nóng Thành phần chính củanước thải phát sinh từ quá trình làm mát là chất rắn lơ lửng, lá cây,

- Nước thải sinh hoạt: Phát sinh từ quá trình ăn uống, sinh hoạt, vệ sinh củangười dân Thành phần của loại nước thải này cũng chứa hàm lượng cao các loạichất hữu cơ, chất dinh dưỡng, các loại vi sinh vật gây bệnh,

b Lượng nước thải

Theo số liệu thống kê từ 50 phiếu điều tra tại các trang trại chăn nuôi rắn trênđịa bàn xã Vĩnh Sơn thì lượng nước thải phát sinh tại mỗi trang trại trung bìnhkhoảng 0,5 – 1,0 m3/ngày (vào mùa nóng); Chỉ có 01 trang trại có hệ thống làm mátmái, do vậy lượng nước thải phát sinh tại trang trại này nhiều hơn đáng kể, trungbình khoảng 5m3/ngày

Theo kết quả tổng hợp từ 50 phiếu điều tra trên địa bàn xã Vĩnh Sơn, tổnglượng nước thải phát sinh từ 50 trang trại được điều tra trung bình là 40m3/ngày(vào mùa nóng) Như vậy, với tổng số hộ chăn nuôi rắn trên địa bàn toàn xã là 850

hộ, lượng nước thải phát sinh từ các trang trại trong một ngày trung bình khoảng680m3/ngày

Cũng như đối với chất thải rắn, lượng nước thải phát sinh từ các trang trạivào mùa lạnh cũng ít hơn vào mùa nóng do vào mùa lạnh rắn ăn ít, số lượng rắnnuôi tại các trang trại cũng ít hơn mùa nóng Vì vậy lượng nước thải phát sinh từhoạt động chăn nuôi cũng giảm đi đáng kể Vào mùa lạnh, do nhiệt độ không khígiảm xuống thấp nên không cần làm mát mái chuồng trại, vì vậy không phát sinhnước thải từ quá trình làm mát mái

Trang 28

2.1.3 Khí thải

Cũng như các ngành chăn nuôi khác, khí thải phát sinh từ hoạt động chănnuôi rắn chủ yếu gồm các khí như: CO2, H2S, NH3, CH4, Các khí này phát sinh chủyếu từ hoạt động hô hấp, tiêu hóa và bài tiết của con rắn;

Ngoài ra, khí thải còn phát sinh từ khu vực lưu trữ chất thải chăn nuôi Tùythuộc vào loại hình lưu trữ (bể kín, hệ thống thu gom, xử lý, ) lượng khí ô nhiễm

sẽ phát thải vào môi trường nhiều hay ít;

Khí ô nhiễm còn phát thải từ đồng ruộng, vườn cây, do sử dụng phân rắn

để bón cho cây trồng Lượng phân, trạng thái của phân hay kỹ thuật bón phân đềuảnh hưởng đến lượng khí phát thải từ phân Nếu bón phân ủ đúng kỹ thuật sẽ giảmkhí gây mùi [2]

Lượng khí thải phát sinh từ hoạt động chăn nuôi rắn còn phụ thuộc vào nhiềuyếu tố như:

- Loại hình chăn nuôi: Nuôi rắn con hay rắn sinh sản, rắn thương phẩm;

- Mức độ thông gió của hệ thống chuồng nuôi;

- Thời gian hoạt động của con rắn: Mùa nóng rắn hoạt động nhiều hơn mùalạnh, do đó lượng khí thải phát sinh vào mùa nóng cũng nhiều hơn vào mùa lạnh

Nhìn chung, các khí ô nhiễm có thể phát sinh khắp mọi nơi từ chuồng nuôi,quá trình thu gom, lưu trữ và sử dụng chất thải Có nhiều yếu tố khác nhau ảnhhưởng đến sự hình thành và phát tán các khí ô nhiễm hay khí gây mùi trong chănnuôi như:

- Thức ăn và nước uống: Thức ăn là nguồn nguyên liệu gốc đầu tiên để tạonên hầu hết các khí thải, đặc biệt là khí gây mùi trong chất thải chăn nuôi Theonghiên cứu của Spoelstra (1980), trong quá trình lưu trữ chất thải chăn nuôi, khímetan (CH4) được sản sinh ra tỷ lệ nghịch với sự tạo thành các khí gây mùi Nếuquá trình sinh metan không bị ức chế, các hợp chất tạo khí gây mùi sẽ được oxy hóa

Trang 29

triệt để tới sản phẩm cuối cùng là CO2 và CH4 Các yếu tố làm ức chế quá trình sinhmetan là nhiệt độ thấp, kim loại nặng hay nồng độ cao của các khí H2S, NH3, [2]

- Bản thân con rắn: Trạng thái sức khỏe và giai đoạn phát triển của con rắncũng là các yếu tố ảnh hưởng tới sự sản sinh ra các khí gây ô nhiễm và gây mùi;

- Phân rắn: Hầu hết các khí gây mùi được tạo thành chủ yếu từ quá trìnhphân giải kỵ khí các hợp chất hữu cơ được bài tiết từ vật nuôi;

- Các yếu tố môi trường khu vực chăn nuôi: Nhiệt độ là yếu tố môi trường cóảnh hưởng lớn tới sự phát tán các khí thải Thường vào mùa lạnh sự phát tán mùithấp hơn mùa nóng Tốc độ trao đổi không khí hay vận tốc gió có tương quan tỷ lệthuận với quá trình phát tán khí thải chăn nuôi vào không khí Nồng độ bụi trongkhông khí cũng có tương quan tỷ lệ thuận với sự phát tán khí ô nhiễm hay khí gâymùi

2.1.4 Chất thải nguy hại

a Nguồn phát sinh

Theo thống kê từ 50 phiếu điều tra tại 50 trang trại nuôi rắn trên địa bàn xãVĩnh Sơn thì chất thải nguy hại phát sinh từ các trang trại nuôi rắn chủ yếu baogồm: Bóng đèn huỳnh quang hỏng, pin hết, ắc quy hỏng

Các loại chất thải nguy hại này chủ yếu phát sinh từ hoạt động sinh hoạt vàchăn nuôi của người dân, cụ thể:

- Bóng đèn huỳnh quang hỏng: Chỉ phát sinh từ hoạt động sinh hoạt củangười dân (Do hầu hết các trang trại nuôi rắn đều được xây dựng trong diện tích đất

ở của người dân trong xã Hơn nữa, trong các khu vực chuồng trại nuôi rắn chỉ sửdụng bóng đèn sợi đốt nên không phát sinh bóng đèn huỳnh quang hỏng);

- Pin và ắc quy hỏng: Phát sinh từ hoạt động sinh hoạt và chăn nuôi củangười dân do việc sử dụng đèn pin và ắc quy dự phòng khi mất điện

Trang 30

b Lượng phát sinh

Theo số liệu thống kê trên 50 phiếu điều tra tại các trang trại nuôi rắn trên địabàn xã Vĩnh Sơn cho thấy: Lượng chất thải nguy hại phát sinh từ các trang trạikhông lớn, trung bình mỗi trang trại chỉ thải ra khoảng 0,5 kg/năm Như vậy, vớitổng số trang trại nuôi rắn trên địa bàn xã Vĩnh Sơn là 850 trang trại, ước tính tổnglượng chất thải nguy hại phát sinh khoảng 425 kg/năm, tương đương với khoảng1,2kg/ngày

Lượng chất thải này tuy không lớn nhưng có tính nguy hại cao, hơn nữangười dân thường thải bỏ chất thải nguy hại lẫn với chất thải rắn sinh hoạt, vì vậyảnh hưởng do chất thải nguy hại là rất khó kiểm soát

2.2 Phân loại chất thải

2.2.1 Các loại chất thải có thể tái sử dụng được

Dựa trên kết quả điều tra thực tế tại địa bàn xã Vĩnh Sơn cho thấy một số loạichất thải có thể tái sử dụng được như sau:

- Phân rắn: Có thể tận dụng để làm phân bón cho cây trồng

- Xác rắn (lớp da cũ được lấy ra khi rắn lột xác): Được thu gom và bán lạicho các cơ sở sản xuất thuốc đông y;

- Nội tạng và các phần loại bỏ trong quá trình chế biến thức ăn cho rắn, thức

ăn thừa của rắn, nội tạng của rắn bị loại bỏ trong quá trình chế biến: Được thu gom

và tận dụng làm thức ăn cho cá;

- Xác rắn chết do các bệnh thông thường: Thường được người dân chế biếnthành các món ăn hoặc ngâm rượu làm thuốc

2.2.2 Các loại chất thải không thể tái sử dụng

Các loại chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn phần lớn đều có thể tái

sử dụng được Tuy nhiên, vẫn còn một số loại chất thải không thể tái sử dụng vàđược người dân thải bỏ cùng với chất thải sinh hoạt

Trang 31

Các loại chất thải không thể tái sử dụng được bao gồm: Nước thải; Khí thải;Chất thải nguy hại và các chất thải rắn thông thường như: Vỏ hộp thuốc phòng và trịbệnh cho rắn, bùn lắng từ các mương dẫn nước thải.

Qua kết quả điều tra và khảo sát thực tế tại các trang trại chăn nuôi rắn trênđịa bàn xã Vĩnh Sơn cho thấy:

- Lượng chất thải rắn thông thường phát sinh hàng ngày tương đối nhiều.Tuy nhiên hầu hết đều có thể tái sử dụng được, do đó mức độ ô nhiễm môi trường

do chất thải rắn là không lớn;

- Vào mùa nóng, lượng nước thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn là tươngđối lớn Tuy nhiên, người dân thường thải trực tiếp nước thải ra môi trường màchưa có các biện pháp quản lý, xử lý phù hợp dẫn đến tình trạng ô nhiễm môitrường nước mặt khu vực

- Đối với chất thải nguy hại: Tuy lượng phát sinh không nhiều nhưng ngườidân thường thải bỏ cùng với chất thải rắn sinh hoạt mà chưa có biện pháp thu gom,quản lý và xử lý phù hợp;

- Khí thải: Đây là nguồn thải rất khó kiểm soát do các trang trại chăn nuôirắn trên địa bàn xã Vĩnh Sơn đều có quy mô hộ gia đình nên việc trang bị hệ thống

xử lý khí thải chưa thể thực hiện được Cũng như các ngành chăn nuôi khác, lượngkhí thải từ hoạt động chăn nuôi rắn cũng được thải trực tiếp vào môi trường màkhông qua xử lý

2.3 Tác động của chất thải phát sinh từ hoạt động chăn nuôi rắn tới môi trường

Chất thải phát sinh từ hoạt động chăn nuôi hiện đang là một vấn đề bức xúctrong tất cả các dự án chăn nuôi từ quy mô vừa và nhỏ cho đến quy mô lớn Chấtthải chăn nuôi có thể gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và gây ảnhhưởng đến sức khỏe, đời sống của con người và toàn bộ hệ sinh thái tự nhiên nếu

Trang 32

chúng ta không biết cách quản lý và biến chất thải chăn nuôi thành một nguồn tàinguyên quý giá.

Trong chất thải chăn nuôi luôn tồn tại một lượng lớn vi sinh vật hoại sinh.Nguồn thức ăn của chúng là các chất hữu cơ, vi sinh vật hiếu khí sử dụng ôxy hòatan trong nước tạo ra những sản phẩm vô cơ như: NO2, NO3, SO3, CO2, Quá trìnhnày xảy ra nhanh và không tạo mùi hôi thối Nếu lượng chất hữu cơ quá nhiều, visinh vật hiếu khí sẽ sử dụng hết lượng ôxy hòa tan trong nước làm khả năng hoạtđộng phân hủy của chúng kém đi, làm gia tăng quá trình phân hủy yếm khí tạo racác sản phầm như: CH4, H2S, NH3, Indol, Scortol, tạo mùi hôi, nước màu đen và

có váng Những sản phẩm này là nguyên nhân làm gia tăng bệnh đường hô hấp, timmạch ở người và động vật [2]

Một số ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi đến môi trường được kể đến nhưsau:

- Trong quá trình lưu trữ, làm phân bón cho cây trồng, một lượng lớn khíNH3, CH4, CO2, bị phát thải vào không khí dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trườngkhông khí của xã và các khu vực lân cận;

- Chất thải chăn nuôi thường chứa hàm lượng Nitơ và Photpho cao, khi thảivào môi trường sẽ gây nên tình trạng phú dưỡng đất, nước mặt;

- Các chất thải rắn như: Phân khô, vật liệu lót chuồng có thể hình thành nênbụi trong không khí chuồng nuôi Tác hại của bụi thường kết hợp với các yếu tốkhác như vi sinh vật, endotoxin và khí độc Bụi bám vào niêm mạc gây dị ứng cơquan khứu giác, gây khó chịu, làm cho vật nuôi mắc hội chứng bệnh hô hấp [2]

- Các vi sinh vật có trong chất thải chăn nuôi có thể xâm nhập vào trong đất,bám vào các hạt đất do kích thước nhỏ và có khả năng tích điện Các điều kiện làmtăng sự hấp thu các vi sinh vật trên hạt đất gồm có sự hiện diện của các cations.Trong đất cát được bao bọc bởi ion sắt có thể hấp thu tới 6,9x108 vsv/gram cát.Khoáng kim loại của đất sét tạo các vị trí bám, nồng độ các chất hữu cơ thấp, pH

Trang 33

thấp Lượng mưa lớn sẽ tạo điều kiện cho việc di chuyển của các vi sinh vật qua đất.Trái lại, trong điều kiện hạn hán, việc di chuyển này sẽ bị hạn chế hơn;

Ảnh hưởng của bụi và khí thải chăn nuôi:

- Bụi trong chuồng nuôi có nguồn gốc từ cơ thể vật nuôi, thức ăn, chất lótchuồng, bề mặt cơ thể vật nuôi, phân và các nguồn khác như nền chuồng và tườngvách Bụi trong không khí chuồng nuôi thường không đồng nhất về hình dạng, kíchthước và thành phần, chúng có thể gây tác hại đến sức khỏe con người và vật nuôi

cả bên ngoài – khi tiếp xúc với da và niêm mạc, cũng như bên trong – khi hít haynuốt vào Phản ứng đầu tiên đối với bụi là sự gia tăng tiết dịch nhờn nhằm loại bỏbụi khỏi đường hô hấp Tuy nhiên sự tiếp xúc lâu dài với nồng độ bụi cao sẽ làmgiảm số lượng các tế bào niêm mạc có lông và tăng số lượng tế bào goblet, cuốicùng các màng nhầy sẽ bị teo và các tuyến nhờn bị suy kiệt Bụi có thể kết hợp lạitạo thành các hạt trong phổi, gây ảnh hưởng đến chức năng phổi Các tổn thươngnày sẽ dễ dàng dẫn đến sự nhiễm trùng thứ phát và gây viêm phổi mãn tính [2]

- Hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới tác động gây ô nhiễm của các chất khí

ô nhiễm trong chăn nuôi là nồng độ chất gây ô nhiễm và thời lượng phơi nhiễm.Dựa vào khả năng gây độc của các khí này, người ta đã phân thành các nhóm sau:

+ Các khí thuộc nhóm gây kích thích bao gồm: NH3, H2S, Indol, Skatole,Phenol, Mercaptant, Ở nồng độ bán cấp tính, các khí này gây tổn thương đường

hô hấp và phổi, đặc biệt là gây tổn thương niêm mạc đường hô hấp Hydrogensulfide (H2S) là khí rất độc, sinh ra từ sự phân hủy yếm khí phân Cơ chế gây độcchủ yếu là kích ứng màng nhầy gây phù niêm mạc đường hô hấp và tích lũy K2S,Na2S; ức chế các men cytochrome oxidase, làm rối loạn các chuyển hóa tế bào, cuốicùng tác động lên thần kinh trung ương H2S còn kết hợp với Sắt trong Hemoglobinlàm mất khả năng vận chuyển ôxy của hợp chất này Ngoài ra, NH3 còn gây kíchthích thị giác và làm giảm thị lực; [2]

+ Các khí gây ngạt: CH4, CO2, CO, trơ về mặt sinh lý nhưng nếu hít vàovới nồng độ cao sẽ làm giảm khả năng tiếp nhận ôxy, gây nên hiện tượng ngạt thở

Trang 34

Khí gây ngạt hóa học (như CO) sẽ kết hợp với hemoglobin của hồng cầu trong máulàm ngăn cản sự thu nhận ôxy hay làm giảm quá trình sử dụng ôxy của mô bào KhíCarbonic (CO2) được sinh ra từ hô hấp và từ các quá trình phân hủy các chất hữu

cơ Theo Barker & ctv (2000), khi nồng độ CO2 trong không khí ở mức 6% với thời

gian tiếp xúc trong 30 phút sẽ gây ra tình trạng khó thở, đờ đẫn, đau đầu; Khi nồng

độ trên 10% sẽ gây ra tình trạng hôn mê, choáng váng, bất tỉnh, và với nồng độ trên25% sẽ gây tử vong ở người [2]

+ Các khí gây mê: Là các hợp chất carbonhydrate có ảnh hưởng ít hoặckhông ảnh hưởng đến phổi, nhưng nếu hít vào với một lượng lớn sẽ được hấp thuvào máu và sẽ có tác dụng như dược phẩm gây mê [2]

- Trong không khí chuồng nuôi còn có nhiều loại vi sinh vật gây bệnh cónguồn gốc chủ yếu từ cơ thể hay các chất tiết từ vật nuôi, chất thải, thức ăn và chấtlót chuồng Các vi sinh vật trong không khí thường kết hợp với bụi và các khí độc,phần lớn chúng là các vi sinh vật gây bệnh cơ hội, có thể có một số vi sinh vật gâybệnh truyền nhiễm, đặc biệt là trong các ổ dịch bệnh Vi sinh vật trong không khí cóthể làm suy giảm các cơ chế phòng vệ của cơ thể, gây ra các bệnh hô hấp mãn tính

do tiếp xúc trong thời gian dài [2]

2.4 Đánh giá mức độ ô nhiễm do chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn

2.4.1 Hiện trạng môi trường làng nghề rắn Vĩnh Sơn

Theo Báo cáo kết quả phân tích quan trắc hiện trạng môi trường tỉnh Vĩnh Phúc, hiện trạng môi trường đất, nước mặt, nước ngầm tại xã Vĩnh Sơn – huyện

Vĩnh Tường – tỉnh Vĩnh Phúc trong 03 năm gần đây (2012, 2013, 2014) như sau:

a Kết quả phân tích chất lượng nước mặt

Vị trí, thời gian lấy mẫu và kết quả phân tích hiện trạng chất lượng nước mặttrong 3 năm (2012, 2013, 2014) tại sông Phan - đoạn chảy qua xã Vĩnh Sơn đượcthể hiện trong các bảng dưới đây:

Trang 35

Bảng 2 2 Vị trí và thời gian lấy mẫu nước mặt [5, 6, 7]

BTNMT (Cột B1)

Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4

2 Hàm lượng oxy

3 Nhu cầu oxy

4 Nhu cầu oxy hóa

Trang 36

Bảng 2 4 Kết quả phân tích hiện trạng chất lượng nước mặt năm 2013 [6]

STT Chỉ tiêu phân

tích

Đơn vị tính

BTNMT (Cột B1)

2 Hàm lượng oxy

3 Nhu cầu oxy

4 Nhu cầu oxy hóa

08:2008/BTNMT (Cột B1)

Trang 37

hòa tan (DO)

3 Nhu cầu oxy

4 Nhu cầu oxy

Trang 38

b Chất lượng nước ngầm

Vị trí, thời gian lấy mẫu và kết quả phân tích các thông số chất lượng nướcngầm trong 3 năm (2012, 2013, 2014) tại xã Vĩnh Sơn được thể hiện trong các bảngdưới đây:

Bảng 2 6 Vị trí và thời gian lấy mẫu nước ngầm [5, 6, 7]

09:2008/BTNMT Mùa mưa Mùa khô

Trang 39

Kết quả QCVN 09:2008/

BTNMT Mùa mưa Mùa khô

Trang 40

Bảng 2 9 Kết quả phân tích hiện trạng chất lượng nước ngầm năm 2014 [7]

thử nghiệm

Đơn vị tính

Kết quả QCVN 09:2008/

BTNMT Mùa mưa Mùa khô

đó cho thấy nước ngầm khu vực xã Vĩnh Sơn đã bị ô nhiễm bởi vi sinh vật Nguyênnhân do hầu hết chất thải rắn, nước thải sinh hoạt và nước thải chăn nuôi của toàn

xã đều được thải trực tiếp ra môi trường mà không qua xử lý Các chất ô nhiễm và

Ngày đăng: 21/09/2015, 11:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. 1. Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Phúc - Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn xã vĩnh sơn, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc
Hình 1. 1. Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Phúc (Trang 8)
Hình 1. 2. Bản đồ hành chính huyện Vĩnh Tường - Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn xã vĩnh sơn, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc
Hình 1. 2. Bản đồ hành chính huyện Vĩnh Tường (Trang 9)
Hình 1. 3. Chuồng nuôi rắn con - Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn xã vĩnh sơn, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc
Hình 1. 3. Chuồng nuôi rắn con (Trang 17)
Hình 1. 4. Chuồng nuôi rắn to - Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn xã vĩnh sơn, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc
Hình 1. 4. Chuồng nuôi rắn to (Trang 18)
Hình 1. 5. Trứng rắn hổ mang Hình 1. 6. Trứng rắn đang được ấp - Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn xã vĩnh sơn, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc
Hình 1. 5. Trứng rắn hổ mang Hình 1. 6. Trứng rắn đang được ấp (Trang 19)
Hình 1. 7. Thức ăn cho rắn - Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn xã vĩnh sơn, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc
Hình 1. 7. Thức ăn cho rắn (Trang 20)
Bảng 2. 1. Lượng chất thải rắn thông thường phát sinh tại các trang trại - Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn xã vĩnh sơn, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2. 1. Lượng chất thải rắn thông thường phát sinh tại các trang trại (Trang 25)
Bảng 2. 4. Kết quả phân tích hiện trạng chất lượng nước mặt năm 2013 [6] - Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn xã vĩnh sơn, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2. 4. Kết quả phân tích hiện trạng chất lượng nước mặt năm 2013 [6] (Trang 36)
Bảng 2. 6. Vị trí và thời gian lấy mẫu nước ngầm [5, 6, 7] - Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn xã vĩnh sơn, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2. 6. Vị trí và thời gian lấy mẫu nước ngầm [5, 6, 7] (Trang 38)
Bảng 2. 8. Kết quả phân tích hiện trạng chất lượng nước ngầm năm 2013 [6] - Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn xã vĩnh sơn, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2. 8. Kết quả phân tích hiện trạng chất lượng nước ngầm năm 2013 [6] (Trang 39)
Bảng 2. 9. Kết quả phân tích hiện trạng chất lượng nước ngầm năm 2014 [7] - Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn xã vĩnh sơn, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2. 9. Kết quả phân tích hiện trạng chất lượng nước ngầm năm 2014 [7] (Trang 40)
Bảng 2. 12. Bảng tổng hợp kết quả phân tích chất lượng đất năm 2013 [6] - Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn xã vĩnh sơn, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2. 12. Bảng tổng hợp kết quả phân tích chất lượng đất năm 2013 [6] (Trang 41)
Bảng 2. 13. Bảng tổng hợp kết quả phân tích chất lượng đất năm 2014 [7] - Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn xã vĩnh sơn, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2. 13. Bảng tổng hợp kết quả phân tích chất lượng đất năm 2014 [7] (Trang 42)
Bảng 2. 14. Vị trí và thời gian lấy mẫu môi trường không khí làng nghề [8, 9, - Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải phát sinh từ các trang trại nuôi rắn xã vĩnh sơn, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2. 14. Vị trí và thời gian lấy mẫu môi trường không khí làng nghề [8, 9, (Trang 43)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w