1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Phép tu từ so sánh ôn từ và câu ở lớp 3, 4, 5

133 427 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ vai trò và tác dụng của phép tu từ so sánh, từ mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học, ngay từ lớp 1, các bài học của sách giáo khoa đã đưa vào khá nhiều hình ảnh so sánh… T

Trang 1

Lời cảm ơn

Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự giúp

đỡ tận tình của giảng viên hướng dẫn cùng các giảng viên trong khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non, sự quan tâm và tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường

Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Mai Thị Liên

Giang, người luôn tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để

em hoàn thành tốt đề tài này

Mặc dù đề tài đã hoàn thành nhưng không thể không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các thầy cô giáo cùng các bạn sinh viên góp ý, bổ sung để

đề tài được hoàn thiện hơn

Cuối cùng, em kính chúc quý thầy cô giáo dồi dào sức khỏe, hạnh phúc

và thành công trong sự nghiệp trồng người

Em xin chân thành cảm ơn!

Quảng Bình, tháng 5 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Phương Thúy

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu

và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công

bố trong bất kỳ công trình nào

Quảng Bình, tháng 5 năm 2015

Tác giả khóa luận Nguyễn Thị Phương Thúy

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của đề tài 6

7 Cấu trúc đề tài 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHÉP TU TỪ SO SÁNH TRONG MÔN TIẾNG VIỆT Ở LỚP 3, 4, 5 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Khái niệm về phép tu từ so sánh 7

1.1.2 Phân loại phép tu từ so sánh 10

1.1.3 Cấu tạo của phép tu từ so sánh 11

1.1.4 Giá trị biểu đạt của so sánh tu từ 19

1.2 Cơ sở thực tiễn 22

1.2.1 Môc tiªu cña viÖc d¹y häc phÐp tu tõ so s¸nh ë lớp 3, 4, 5 22

1.2.2 Các dạng bài tập sử dụng phép tu từ so sánh trong môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5 23

1.2.2 Nhận xét về các bài tập sử dụng phép tu từ so sánh trong môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5 24

CHƯƠNG 2 PHÉP TU TỪ SO SÁNH TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở LỚP 3, 4, 5 25

2.1 Khái quát về phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu qua hệ thống bài tập 26

2.2 Tìm hiểu các dạng bài tập về phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu 39

2.2.1 Nhóm bài tập nhận biết phép tu từ so sánh 40

2.2.2 Nhóm bài tập vận dụng phép tu từ so sánh 45

Trang 5

2.2.3 Nhận xét 2 nhóm bài tập nhận biết và vận dụng phép tu từ so sánh ở lớp 3, 4, 5 50

CHƯƠNG 3 PHÉP TU TỪ SO SÁNH TRONG CÁC PHÂN MÔN KHÁC

Ở LỚP 3, 4, 5 54

3.1.Phép tu từ so sánh trong phân môn Tập đọc ở lớp 3, 4, 5 54 3.1.1 Thống kê các hình ảnh so sánh trong các văn bản Tập đọc ở lớp 3, 4,

5 55 3.1.2 Vẻ đẹp của các hình ảnh so sánh trong các bài Tập đọc ở lớp 3, 4, 5 83 3.2 So sánh tu từ với phân môn Tập làm văn ở lớp 3, 4, 5 86 3.2.1 Các bài tập Tập làm văn ở lớp 3, 4, 5 có thể vận dụng phép tu từ so sánh 87 3.3.2 Tìm hiểu các dạng bài tập phép tu từ so sánh trong phân môn Tập làm văn 101 3.3 Phép tu từ so sánh trong phân môn Kể chuyện ở lớp 3, 4, 5 109 3.3.1 Thống kê các bài kể chuyện có hình ảnh so sánh ở lớp 3, 4, 5 109 3.3.2 Tác dụng của hình ảnh so sánh trong phân môn Kể chuyện ở lớp 3, 4,

5 120 3.4 Đánh giá chung về 3 phân môn: Tập đọc, Tập làm văn, Kể chuyện trong Môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5 122

KẾT LUẬN 124 TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là một trong những bộ môn giữ vai trò đặc biệt quan trọng Tiếng Việt cung cấp kiến thức phổ thông về ngôn ngữ, về những đặc điểm của tiếng mẹ đẻ Mặt khác, Tiếng Việt hình thành kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong cuộc sống của người học sinh Do đó, môn Tiếng Việt có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với bốn

kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết Với tính chất là môn học đặc thù, ngoài việc cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt nhằm phát triển năng lực trí tuệ, phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh, đồng thời môn học này còn hình thành và phát triển ở học sinh những phẩm chất tốt đẹp Ngoài ra, việc dạy học tiếng Việt làm cho đời sống của mỗi con người ngày càng thay đổi theo chiều hướng tích cực và việc làm nên những thay đổi đó không thể không kể đến

sự góp phần quan trọng của phép tu từ so sánh trong việc dạy học Tiếng Việt Trong cuộc sống hằng ngày, khi trò chuyện, giao tiếp với những người xung quanh không ai không một lần sử dụng phép tu từ so sánh “So sánh” là

“cách nói” rất quen thuộc và phổ biến trong cuộc sống cũng như trong sáng tạo văn chương Nhờ phép so sánh, người viết có thể gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh, đẹp đẽ cho người đọc, người nghe… So sánh được coi là một trong những phương thức tạo hình, gợi cảm hiệu quả nhất,

có tác dụng lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét đánh giá của con người, giúp con người cảm nhận văn học và cuộc sống một cách tinh tế hơn, sâu sắc hơn

So sánh là một trong những phép tu từ phổ biến, là phương thức quan trọng trong việc diễn tả thế giới ngoại cảnh và thế giới nội tâm của con người

So sánh có khả năng khắc họa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ đến người đọc, mặt khác làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể, sinh động và diễn đạt được mọi sắc thái biểu cảm cũng như bộc lộ tâm tư tình cảm một cách tế nhị và kín đáo

Phép tu từ so sánh gợi mở cho học sinh cảm nhận cái hay, cái đẹp của văn chương, góp phần mở mang tri thức, phát triển các năng lực trí tuệ, phát huy tính

Trang 7

tích cực trong việc viết văn, làm phong phú về tâm hồn, rèn luyện ý thức và lòng yêu mến sự giàu đẹp của tiếng Việt

Xuất phát từ vai trò và tác dụng của phép tu từ so sánh, từ mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học, ngay từ lớp 1, các bài học của sách giáo khoa đã đưa vào khá nhiều hình ảnh so sánh… Tuy nhiên, đến lớp 3 học sinh mới chính thức được học về phép tu từ so sánh và việc dạy phép tu từ so sánh cho học sinh

ở lớp 3 cũng là cách chuẩn bị dần để các em sử dụng thành thạo hơn phép tu từ

so sánh ở lớp 4, 5

Phép tu từ so sánh trong môn Tiếng Việt được xây dựng qua hệ thống bài tập Qua bài tập học sinh sẽ hiểu bản chất của so sánh như khái niệm, cấu trúc, tác dụng, trong phân môn Luyện từ và câu Mục đích là góp phần hình thành cho học sinh những kỹ năng hoạt động giao tiếp của ngôn ngữ Không chỉ trong phân môn Luyện từ và câu mà trong các phân môn Tập đọc, Tập làm văn, Kể chuyện cũng sử dụng so sánh như một biện pháp nghệ thuật So sánh trong các phân môn này khơi dậy sự hứng thú học tập, làm tăng giá trị biểu cảm của ngôn ngữ giúp học sinh giải mã những tác phẩm văn chương Tuy nhiên mỗi phân môn đều có cách sử dụng so sánh khác nhau nhưng đều có chung một đặc điểm

đó là phát triển tư duy và rèn kỹ năng sử dụng tiếng Việt

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Phép tu từ so sánh

trong môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận của

mình

2 Lịch sử vấn đề

Là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa phổ biến, so sánh tu từ đã được đề cập nhiều trong các sách văn phạm tiếng Việt trước đây và trong các giáo trình phong cách học tiếng Việt sau này Trong các công trình này, so sánh tu từ mặc dầu được khảo sát ở những mức độ nông sâu khác nhau nhưng hầu như không

hề có những quan niệm khác biệt để có thể gây ra những tranh luận đáng kể về học thuật

Theo tác giả Nguyễn Thế Truyền, phép tu từ so sánh xuất hiện cách đây 2.500 năm, ngay từ khi chưa hình thành lí luận Tu từ học Cho đến nay, trong phong cách học hiện đại, gần như mọi nhiệm vụ miêu tả và phân loại phép so

Trang 8

sánh đã kết thúc Tuy vậy, vẫn có những điều lý thú đáng nói về phép so sánh từ những phương diện khác

Lí luận về biện pháp tu từ so sánh đã được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm với những công trình nghiên cứu có đề cập về phép tu từ so

sánh có thể kể đến như: Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt của Cù Đình Tú, NXB Đại học và Trung cấp chuyên nghiệp Hà Nội, 1983; Giáo trình phong cách học Tiếng Việt dành cho hệ Đào tạo từ xa của Hoàng Tất Thắng, Đại học Huế, 1995; 99 phương tiện và biện pháp tu từ so sánh Tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc, NXB GD, Hà Nội, 2001; Giáo trình phong cách học Tiếng Việt

của Nguyễn Thái Hòa, NXB Đại học Sư phạm, 2005; Nguyễn Thế Lịch với từ

so sánh đến ẩn dụ (Tính chất Ngôn ngữ, số 3, 1991); Hoàng Kim Ngọc với cuốn

So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình (Nxb KHXH, 2009)…

Một số đề tài nghiên cứu về phép tu từ so sánh trong dạy học Tiếng Việt

thành công như: Phương pháp dạy học phép tu từ so sánh ở lớp 3 – Luận văn thạc sỹ của Lê Thị Hạnh Đại học Vinh (2007); Một số phương pháp khi dạy các phép tu từ: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ trong phân môn Tiếng Việt của Trần Quang

Huấn (2013);

Cũng vào thời gian này có những công trình nghiên cứu về phương thức,

cấu tạo, nhận diện phép tu từ so sánh trong Tiếng Việt như: Tìm hiểu khả năng

sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong bài văn miêu tả của học sinh lớp 4, các dạng bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa - Khóa luận tốt nghiệp của Lê Thị Sơn Đại học Sư phạm Hà Nội (2009):

Luận văn đã nghiên cứu về khái niệm văn miêu tả, khái niệm và cách sử dụng so sánh, nhân hóa trong văn miêu tả, đồng thời xây dựng hệ thống bài tập có sử

dụng so sánh, nhân hóa cho học sinh lớp 4; Vận dụng kiến thức về so sánh, nhân hóa trong dạy học văn miêu tả ở Tiểu học - Luận văn thạc sỹ Giáo dục học của

Lê Thị Hằng Đại học Vinh (2010): Luận văn đã nghiên cứu một số biện pháp vận dụng phép tu từ so sánh, nhân hóa cũng như đưa ra một số bài tập cụ thể khi

vận dụng phép tu từ so sánh trong dạy văn ở Tiểu học;

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi có tham khảo thêm đề tài: Tìm hiểu biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ, nhân hóa trong các văn bản ở SGK Tiếng Việt

Trang 9

Tiểu học – Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Long Đại học Quảng Bình (2012); Phép tu từ so sánh trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học - Khóa luận

tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Thu Phương Đại học Quảng Bình (2013) Hai khóa luận này đã trang bị kiến thức về so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, đồng thời tập trung nghiên cứu khả năng sử dụng trong các bài tập đọc và đi sâu vào tìm hiểu về hệ thống các bài tập cũng như vẻ đẹp của việc sử dụng phép tu từ so sánh trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học

Ngoài ra chúng tôi còn tìm hiểu một số tài liệu qua Internet:

- Hiểu và dạy học phép tu từ so sánh - Sáng kiến kinh nghiệm của giáo

viên Nguyễn Thị Thu trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm (2009 - violet.vn): Bài viết đề cập đến khái niệm, cấu trúc, yêu cầu, các yếu tố và các kiểu so sánh, đồng thời tìm hiểu dạy học phép tu từ so sánh trong phân môn Tiếng Việt ở trường THCS

- Rèn kỹ năng nhận biết phép tu từ so sánh cho học sinh lớp 3 – Sáng kiến

kinh nghiệm của giáo viên Vũ Túy Phương trường Tiểu học B Trực Đại - Nam Định (2009 – violet.vn): Bài viết đề cập đến cách dùng từ so sánh, phân biệt, biết cách so sánh tu từ, đồng thời đưa ra các phương pháp rèn luyện học sinh kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3

- Rèn kỹ năng cảm thụ văn học qua một số biện pháp tu từ - Sáng kiến

kinh nghiệm của giáo viên Nguyễn Thị Thúy trường THCS Tam Hưng - Thanh Oai - Hà Nội (2010 – Luanvan.com): Bài viết hướng dẫn học sinh cách cảm thụ văn học qua các biện pháp tu từ nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, điệp ngữ, với các dạng bài tập nhằm giúp học sinh làm nổi bật nội dung và ý nghĩa của các tác phẩm trong quá trình học và làm bài tập

Các công trình nghiên cứu trên đã phần nào đề cập đến phép tu từ so sánh, tuy nhiên chưa có một tài liệu nào nghiên cứu một cách có hệ thống và cụ thể về phép tu từ so sánh trong tất cả các phân môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5

Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những thành tựu nghiên cứu của các tác

giả đi trước, chúng tôi thực hiện đề tài: “Phép tu từ so sánh trong môn Tiếng

Việt ở lớp 3, 4, 5”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 10

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Phép tu từ so sánh trong môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5

Đề tài khảo sát một số dạng bài tập về phép tu từ so sánh cho học sinh lớp

3, 4, 5 phù hợp với mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt Mặt khác, đề tài tổng hợp kiến thức về phép tu từ so sánh và biểu hiện của nó trong môn Tiếng Việt ở lớp

3, 4, 5

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài phải giải quyết được những nhiệm vụ cơ bản:

- Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết về phép tu từ so sánh nhằm tìm hiểu khái niệm, xây dựng cấu trúc và nội dung về phép tu từ so sánh trong môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5

- Giới thiệu, miêu tả và xây dựng một số dạng bài tập như phân tích mục tiêu, ý nghĩa và cách thức tổ chức thực hiện các bài tập

- Phân tích một số ví dụ trong các phân môn Luyện từ và câu, Tập đọc,

Kể chuyện và Tập làm văn để làm rõ vẻ đẹp và khả năng ứng dụng của biện pháp tu từ so sánh

- Nêu phương hướng triển khai một số dạng bài tập vào quá trình thực hiện dạy học ở lớp 3, 4, 5 Đề tài phải trình bày được phương hướng triển khai một số dạng bài tập về phép tu từ so sánh trong môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5 nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 11

Nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong đề tài, chúng tôi đã kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

5.1 Phương pháp phân tích – tổng hợp

Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu những dấu hiệu đặc thù, bản chất, cấu trúc so sánh, từ đó nắm vững bản chất của phép tu từ so sánh trong môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5 Đồng thời phương pháp này còn được dùng trong khi phân tích một số văn bản nghệ thuật

5.2 Phương pháp hệ thống hóa lý thuyết

Phương pháp này được sử dụng trong quá trình khái quát cách hiểu về so sánh, các bài tập có sử dụng hình ảnh so sánh trong môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5

5.3 Phương pháp thống kê – phân loại

Phương pháp thống kê – phân loại được dùng trong liệt kê, phân loại hệ thống bài tập, phân loại hệ thống so sánh nhằm đưa ra những con số chính xác

về các dạng bài tập so sánh và số lượng bài tập so sánh trong sách Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5 Từ đó làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo

- Nếu thành công, đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho giáo viên, phụ huynh

và học sinh trong dạy và học Tiếng Việt ở Tiểu học Ngoài ra, đề tài còn là một tài liệu bổ ích cho công tác học tập, giảng dạy của bản thân chúng tôi

Trang 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHÉP TU TỪ SO SÁNH

TRONG MÔN TIẾNG VIỆT Ở LỚP 3, 4, 5 1.1 Cơ sở lí luận

Tiếng Việt cũng như mọi ngôn ngữ là một hệ thống cấu trúc bao gồm ba

bộ phận: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Người Việt trong giao tiếp đã lựa chọn

và sử dụng các phương tiện thuộc ba bộ phận này một cách đặc biệt nhằm đáp ứng được những yêu cầu giàu âm hưởng, đậm chất tạo hình và súc tích về nội dung Việc vận dụng một cách đặc biệt các phương tiện ngôn ngữ ở trong từng thứ tiếng là không giống nhau Sự khác nhau đó trước hết bị quy định bởi cấu trúc của từng ngôn ngữ, sau nữa là do sự chi phối của từng đặc điểm tâm lý, truyền thống và phong tục tập quán của từng dân tộc

Những vấn đề xoay quanh ngôn ngữ luôn được các nhà nghiên cứu tranh luận, trong đó có phong cách về từ vựng – ngữ nghĩa Và so sánh là một trong bảy phương tiện từ vựng – ngữ nghĩa thường gặp

Là một trong các biện pháp phong cách, so sánh có thể xem là thước đo,

là cơ sở cho sự bình giá về khả năng diễn đạt của người nói So sánh góp phần rèn luyện và phát triển tư duy của con người, là mảnh đất màu mỡ cho mọi cá nhân thể hiện tài năng sáng tạo, bản sắc riêng của mình trong diễn đạt Chính vì vậy, tăng cường cho học sinh sử dụng so sánh là một trong những biện pháp để phát triển ngôn ngữ cho người học

1.1.1 Khái niệm về phép tu từ so sánh

Trong giao tiếp hằng ngày chúng ta vẫn hay sử dụng hình thức so sánh để câu nói thêm phần thuyết phục như: “Lan cao hơn mẹ”, “Mưa như trút nước”… Thậm chí trong kho tàng thành ngữ Việt Nam từ lâu đã tồn tại nhiều thành ngữ dưới dạng so sánh: “Xấu như ma”, “Đen như cột nhà cháy”… Việc dùng thủ pháp so sánh giúp người tiếp nhận hiểu sâu sắc hơn về những phương diện nào

đó của sự vật, sự việc, từ đó có cái nhìn khái quát hơn về vấn đề được đề cập đến

So sánh tu từ được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm nhiều bởi đây

là biện pháp nghệ thuật có thể giúp người ta bày tỏ được trạng thái tâm lí, tâm tư

Trang 13

tình cảm, cảm xúc một cách tế nhị, tinh tế Xung quanh vấn đề về phép tu từ so sánh có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến phép tu từ so sánh như các hình thức so sánh, cấu tạo của so sánh, các kiểu so sánh, Những kết quả đạt được cho thấy sự khám phá về phép tu từ so sánh hết sức phong phú Tuy nhiên bên cạnh kết quả đó còn tồn tại không ít vấn đề còn đang bàn cãi, tranh luận do còn có nhiều ý kiến khác nhau giữa các nhà nghiên cứu Ngay trong khái niệm

về so sánh cũng đã có nhiều ý kiến khác nhau Có thể nêu ra một vài khái niệm tiêu biểu về so sánh như sau:

“So sánh thường được hiểu là đưa một sự vật, sự việc ra đối chiếu về một mặt nào đó với sự vật, sự việc khác nhưng lại có đặc điểm tương tự mà giác quan có thể nhận biết được, nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt” [22, tr.3] “So sánh là việc đối chiếu hai hay nhiều sự vật, sự việc cùng có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả một cách đầy đủ các hình ảnh, đặc điểm của sự vật, hiện tượng” [27, tr.2] “So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với

sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để tạo nên một hình ảnh cụ thể hàm súc cho sự diễn đạt Nghĩa là đem cái chưa biết, chưa rõ đối chiếu với cái đã biết để qua cái đã biết mà nhận thức, hình dung được cái chưa biết” [35, tr.3]

Trong cuốn Giáo trình Việt ngữ, tác giả Đinh Trọng Lạc đã quan niệm về

so sánh như sau: “ So sánh là định nghĩa sự vật, hiện tượng hoặc khái niệm ở trong ngôn ngữ nghệ thuật thông qua sự so sánh chúng với hiện tượng hoặc khái niệm có cùng dấu hiệu chung Mục đích so sánh là để cụ thể hóa những sự vật trừu tượng, để người đọc dễ hiểu, dễ tưởng tượng hơn”, [6, tr.16]

Tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa ở giáo trình phong cách học Tiếng Việt cũng đưa ra định nghĩa về so sánh: “ So sánh là phương thức diễn đạt

tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc, người nghe.” [8, tr.17]

Theo tác giả Đào Thản viết trong quyển Từ Ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật rằng: “So sánh là lối nói đối chiếu hai sự vật hoặc hai hiện tượng

có một hay nhiều dấu hiệu giống nhau về hình thức bên ngoài hay tính chất bên

Trang 14

trong Lối đối chiếu như vậy được dùng với muc đích giải thích, miêu tả, đánh giá và biểu lộ tình cảm về đối tượng được nói đến” [2, tr.18]

Đưa ra định nghĩa đầy đủ nhất phải kể đến tác giả Lê Bá Hán Ông nêu:

“So sánh là phương thức biểu đạt bằng ngôn ngữ từ một cách hình tượng dựa trên cơ sở đối chiếu hai hiện tượng có những dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng này qua đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng kia” [10, tr.230]

Có thể thấy, các tác giả đều có định nghĩa riêng về biện pháp so sánh tu

từ Tuy cách diễn đạt không hoàn toàn giống nhau nhưng những quan niệm đó đều hướng đến một điểm chung: So sánh là sự đối chiếu giữa hai đối tượng khác nhau và hai đối tượng đem ra đối chiếu phải có nét tương đồng nào đó

Như vậy, qua nhiều quan niệm của các nhà nghiên cứu đã nêu ở trên chúng ta có thể rút ra một vài đặc điểm của phép tu từ so sánh như sau:

So sánh là đối chiếu một phương diện nào đó của ít nhất 2 sự vật hiện tượng

Những sự vật hiện tượng đưa ra đối chiếu phải khác loại và phải có nét tương đồng sâu xa nào đó trong những ngữ cảnh nhất định mà giác quan có thể nhận biết được

Đối chiếu để tìm ra các nét giống nhau và khác biệt giữa các đối tượng so sánh và được so sánh

Từ những định nghĩa về so sánh, có thể thấy so sánh là một trong những phương tiện quan trọng của tiếng Việt So sánh đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Cụ thể đã có không ít tài liệu nghiên cứu về

so sánh Tuy còn nhiều vấn đề tranh luận và bàn cãi nhưng mục đích cuối cùng của các công trình nghiên cứu là hoàn thiện phép tu từ so sánh Nắm được định nghĩa so sánh sẽ giúp học sinh nhận biết và sử dụng so sánh trong cách diễn đạt bóng bẩy, hình ảnh trong ngôn ngữ của con người Chính vì thế mà việc dạy học

tu từ so sánh cần một định nghĩa chính xác, dễ hiểu, phù hợp với quá trình chiếm lĩnh tri thức của học sinh trong khi các tài liệu chưa thống nhất về định nghĩa

Trang 15

1.1.2 Phõn loại phộp tu từ so sỏnh

So sỏnh tu từ xuất hiện rất nhiều trong cuộc sống và trong thơ văn với nhiều dạng khỏc nhau Đụi khi chỳng ta cú thể nhận ra cỏc đối tượng so sỏnh một cỏch dễ dàng nhờ cỏc dấu hiệu nhận biết riờng Cỏc đối tượng này cú lỳc là những sự vật, sự việc cú khi là những tớnh chất hay tõm trạng của con người…

Nú đa dạng và phong phỳ như chớnh sự phong phỳ và đa dạng của ngụn ngữ Cho nờn, cỏc hiện tượng xuất hiện trong so sỏnh cũng diễn ra khụng theo một dạng thức nhất định nào

Theo Nguyễn Thỏi Hũa, so sỏnh gồm cú 2 loại chủ yếu sau:

1.1.2.1 So sỏnh logic

“So sánh logic là một biện pháp nhận thức trong tư duy của con người, là việc đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vào các mối quan hệ nhất định nhằm tìm ra các sự giống nhau và khác biệt giữa chúng”.[13, tr.4]

Ví dụ:

Hồ này rộng hơn cái đầm ở làng

(TV3, t.1, tr.131)

Nũi tre đõu chịu mọc cong

Chưa lờn đó nhọn như chụng lạ thường

(Tre Việt Nam - Nguyễn Duy - TV4, t.1, tr.41 - NXB GD, 2012)

Cỏc cỏch so sỏnh này gọi là so sỏnh logic Cơ sở của phộp so sỏnh logic là dựa trờn tớnh đồng nhất, đồng loại của cỏc sự vật, hiện tượng và mục đớch của sự

so sỏnh là xỏc lập sự tương đương giữa hai đối tượng

Trang 16

Ở ví dụ trên, “bà” được ví như quả ngọt đã chín, bà càng có tuổi thì tình

cảm của bà càng sâu sắc, càng ngọt ngào như quả chín trên cây Với sự so sánh này, người cháu đã thể hiện được tình cảm yêu thương, quý trọng của mình đối với bà

Như vậy, điểm khỏc nhau cơ bản giữa hai kiểu so sỏnh này là tớnh hỡnh tượng, tính biểu cảm và tính dị loại của sự vật Ở so sỏnh logic, cỏi được so sỏnh

và cỏi so sỏnh là hai đối tượng cựng loại mà mục đớch của sự so sỏnh này là xỏc lập sự tương đương giữa hai đối tượng Cũn trong so sỏnh tu từ, cỏc đối tượng được đưa ra so sỏnh cú thể cựng loại, cú thể khỏc loại Mục đớch của so sỏnh này

là nhằm diễn tả một cỏch cú hỡnh ảnh đặc điểm của đối tượng Trờn thực tế, cú rất nhiều cõu diễn đạt sự so sỏnh nhưng so sỏnh tu từ là phải “ nhằm diễn tả hỡnh ảnh một lối tri giỏc mới mẽ về đối tượng”, tức là phộp so sỏnh đú phải đạt đến một hỡnh thức ổn định và cú một giỏ trị nội dung nhất định

Mỗi một hỡnh thức diễn đạt thớch ứng với một hoàn cảnh, giao tiếp cụ thể Việc lựa chọn cỏch diễn đạt là do nội dung, mục đớch và hoàn cảnh giao tiếp quy định Cũng như so sỏnh khi phõn loại cần dựa vào mục đớch của sự so sỏnh giỳp

học sinh cảm nhận tỏc phẩm bằng nghệ thuật ngụn từ

1.1.3 Cấu tạo của phộp tu từ so sỏnh

Cú nhiều quan niệm khỏc nhau về cấu trỳc so sỏnh Theo cỏc tỏc giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thỏi Hũa trong cuốn giỏo trỡnh phong cỏch học Tiếng Việt, hỡnh thức đầy đủ nhất của một phộp tu từ so sỏnh gồm 4 yếu tố:

(Mẹ vắng nhà ngày bóo – Đặng Hiển - TV 3, t.1, tr.32 - NXB GD, 2012)

Trang 17

Trong đó, đặc điểm của từng yếu tố được trình bày cụ thể như sau:

- YÕu tè 1: Lµ c¸i so s¸nh, ®©y lµ yÕu tè ®−îc hoÆc bÞ so s¸nh tïy theo

viÖc so s¸nh lµ tÝch cùc hay tiªu cùc

Có thể khẳng định, về nguyên tắc bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có thể đem ra so sánh:

+ Được so sánh là người, sự vật, ví dụ:

Mẹ về như nắng mới Sáng ấm cả gian nhà

(Mẹ vắng nhà ngày bão – Đặng Hiển - TV 3, t.1, tr.32 - NXB GD, 2012)

Trăng hồng như qủa chín Lửng lơ lên trước nhà

(Trăng ơi… từ đâu đến ? – Trần Đăng Khoa - TV 4, t.2, tr.107 - NXB GD, 2012)

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

- Yếu tố 2: Là cơ sở so sánh, đây là yếu tố chỉ tính chất sự vật hay trạng thái của hành động được nhìn nhận theo một cách nào đó có vai trò thể hiện thuộc tính của sự vật mà yếu tố được so sánh biểu thị, là thuộc tính được xem như tiêu biểu của sự vật mà yếu tố so sánh biểu thị Khi trong cấu trúc so sánh vắng yếu tố phương diện thì phải dựa vào liên tưởng để tìm ra nét tương đồng giữa yếu tố được so sánh và yếu tố so sánh, từ đó mới có thể xác định được là đã thực hiện sự so sánh về phương diện nào

- Yếu tố 3: Là mức độ so sánh hay còn gọi là từ so sánh thường được diễn

tả ở mức độ ngang bằng như nhau và đây được xem là yếu tố đơn giản nhất

Trang 18

trong cấu trúc so sánh, bao gồm các từ so sánh, từ là và cặp từ hô ứng bao nhiêu… bấy nhiêu

Các từ so sánh được dùng phổ biến nhất là: “như, tựa, tựa như, như là, như thể,…”

Ví dụ:

Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau

(Ca dao)

Từ “là” trong cấu trúc so sánh có giá trị tương đương từ như, nhưng sắc

thái ý nghĩa hoàn toàn khác nhau Như có sắc thái giả định, chỉ sự tương đồng về một khía cạnh nào đó, cảm nhận thiên về chủ quan, là có sắc thái khẳng định sự đồng nhất hoàn toàn, sự đánh giá có cơ sở khách quan

Ví dụ:

Quê hương là chùm khế ngọt Cho con trèo hái mỗi ngày Quê hương là đường đi học Con về rợp bướm vàng bay

(Quê hương – Đỗ Trung Quân - TV 3, t.1, tr.79 - NXB GD, 2012)

Dạng này rất dễ nhầm lẫn giữa câu so sánh với câu giới thiệu Bởi lẽ, cả

hai kiểu câu này đều có từ “là”:

Ví dụ:

a) Ngựa là con vật chạy rất nhanh

b) Trường học là ngôi nhà thứ hai của em

Hai câu trên, câu b là câu so sánh còn câu a là câu giới thiệu Mặc dù hai

câu trên đều có từ “là” theo định nghĩa trên thì câu a là câu so sánh nhưng câu

so sánh không phải có từ so sánh là đủ mà còn có vế so sánh Câu a nếu chữa

thành câu “Ngựa phi nhanh như bay” thì đó là câu so sánh, vì vậy khi gặp các

dạng bài tập này phải cẩn thận, xem xét cho kỹ nếu không sẽ bị nhầm lẫn hoặc

dễ bị “lừa”

Trang 19

- Yếu tố 4: Là cái được so sánh, tức là cái đưa ra để làm chuẩn so sánh Đây là yếu tố được xem là quan trọng nhất, không thể thiếu vắng được trong một phép so sánh vì nếu không có vế chuẩn thì không có so sánh Không có vế được so sánh thì so sánh trở thành ẩn dụ Sự xuất hiện của yếu tố này là kết quả của quá trình quan sát, liên tưởng của người nói, nó là kết quả có chọn lọc của người sử dụng, chính nó làm nên tính độc đáo trong phong cách ngôn ngữ của từng cá nhân Theo Nguyễn Thế Lịch, yếu tố này có một số cấu trúc sau:

+ Nêu lên tên gọi sự vật được dùng làm chuẩn

Ví dụ: Má đào, tóc mây, mũi dọc dừa, mặt chữ điền, con mắt lá răm, lông mày lá liểu, ngón tay búp măng,…

+ Miêu tả chi tiết thuộc tính của sự vật được dùng làm chuẩn, ví dụ:

Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim

(Tố hữu)

Tình anh như nước dâng cao Tình em như giải lụa đào tẩm hương

(Ca dao)

+ Thể hiện nhiều sự vật khác nhau, ví dụ:

Hồn tôi giếng ngọt trong veo Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh

Trang 20

Ví dụ: Ông hiền như hạt gạo

tố trờn cũn cú dạng khuyết một số yếu tố

Dạng 2: So sánh vắng yếu tố 1:

Đây là dạng so sánh khuyết yếu tố 1, tức là không có cái so sánh Cái so sánh là gì, điều đó phụ thuộc vào sự phỏt hiện tinh tế và khả năng liên tưởng của người đọc, người nghe

Ví dụ:

Chòng chành như nón không quai Như thuyền không lái như ai không chồng

(Ca dao)

Dạng so sánh này có rất nhiều trong thành ngữ so sánh: đông như hội, xấu như ma, lặng như tờ, ngọt như đường, sầu như dưa, trong như thạch, sạch như sương

Dạng 3: So sánh vắng yếu tố 2:

So sánh vắng yếu tố 2 còn gọi là so sánh chìm, tức là so sánh không có cơ

sở so sánh Thông thường, khi bớt cơ sở so sánh thì phần thuyết minh miêu tả ở cái được so sánh sẽ rõ ràng hơn Ngoài ra, nó còn tạo điều kiện cho sự liên tưởng rộng rãi, phát huy sự sáng tạo của người đọc, người nghe hơn là so sánh có đủ 4 yếu tố Dạng so sánh này kích thích sự làm việc của trí tuệ và tình cảm nhiều hơn

để có thể xác định được những nét giống nhau giữa 2 đối tượng ở 2 vế và từ đó nhận ra đặc điểm của đối tượng được miêu tả

Ví dụ:

Đây con sông như dòng sữa mẹ (Vàm Cỏ Đụng - Hoài Vũ - TV 3, t.1, tr.106 - NXB GD, 2012)

Trang 21

“con sông” được so sánh như “dòng sữa mẹ” và từ hình ảnh so sánh này người

đọc có thể suy nghĩ, liên tưởng tới nhiều hình ảnh khác nhau

Chẳng hạn:

Con sông đầy ăm ắp như dòng sữa mẹ Con sông ngọt ngào như dòng sữa mẹ Con sông tốt lành như dòng sữa mẹ

Đêm hè, hoa nở cùng sao Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh

(TV3, t.1, tr.43)

Tác giả đã rất thành công khi sử dụng hình thức so sánh này Trong đoạn thơ trên, nhà thơ đã dùng chỗ ngắt giọng (được ghi lại bằng gạch ngang) và đối chọi (giữa quả dừa và tàu dừa) để tạo nên một hình thức so sánh có âm điệu nhịp nhàng Cách so sánh thứ nhất vừa đúng vừa lạ: những quả dừa có khác gì đàn lợn con mà đàn lợn con này lại nằm trên cao Cách so sánh thứ hai vừa đẹp vừa lạ: tàu dừa mà thành chiếc lược, mây xanh mà thành suối tóc thì thật kì diệu và thơ mộng

Ngoài ra, còn có trường hợp yếu tố (1) và yếu tố (4) đổi chỗ cho nhau, còn gọi là so sánh đổi chỗ

Trang 22

Ví dụ: Đất Ê-ti-ô-pi-a là cha, là mẹ, là anh em ruột thịt của chúng tôi (TV3, t.1, tr 85)

Thứ hai, dựa vào mặt ngữ nghĩa ta cú thể chia phộp so sỏnh thành cỏc

Mục đớch của so sỏnh này khụng phải là tỡm sự giống nhau hay khỏc nhau

mà nhằm diễn tả một hỡnh ảnh, một bộ phận hay đặc điểm nào đú của sự vật giỳp người nghe, người đọc cú cảm giỏc hiểu biết sự vật một cỏch cụ thể, sinh động vỡ thế phộp so sỏnh này mang tớnh chất cường điệu

Dạng 2: So sỏnh hơn – kộm

Trong so sỏnh hơn – kộm từ so sỏnh được sử dụng là cỏc từ: hơn, hơn là, kộm, kộm gỡ, và đõy là dạng so sánh mà cơ sở so sánh luôn gắn liền với từ hơn: khoẻ hơn, cao hơn, đẹp hơn

Ví dụ: Thần chết chạy nhanh hơn gió

(TV3, t.1, tr.29)

Trang 23

Đây là một hình ảnh so sánh trích trong tác phẩm “Người mẹ” của An-đéc-xen Thần Đêm tối vì muốn thử thách người mẹ đã nói với bà rằng:

“Thần chết chạy nhanh hơn gió” Trong tâm thức của mỗi người, gió là vị thần

chạy nhanh hơn cả, và không có cách nói nào miêu tả sự chạy nhanh của thần chết hay hơn bằng một sự so sánh như thế Tuy nhiên, người mẹ vẫn đuổi kịp thần chết, bởi một điều: Không có gì chiến thắng được trái tim người mẹ, không

có gì so sánh được với tình yêu của mẹ dành cho con

Muốn chuyển so sỏnh hơn – kộm sang so sỏnh ngang bằng người ta thờm

một trong cỏc từ phủ định: khụng, chưa, chẳng, vào trong cõu và ngược lại

Vớ dụ:

Búng đỏ quyến rũ tụi hơn những cụng thức toỏn học

=> Búng đỏ quyến rũ tụi khụng hơn những cụng thức toỏn học

Dạng 3: So sánh bậc cao nhất (bậc tuyệt đối)

Đây là dạng so sánh dùng để khẳng định một việc gì đó theo cách nhìn nhận, cách đánh giá riêng của người so sánh

Ví dụ: Ôi lòng Bác bao la trong di chúc

Vẫn hạt lúa củ khoai chân chất bình thường

Những ví dụ trên cho ta thấy các đối tượng được đưa ra để so sánh khác nhau về bản chất Nhưng do một cách nhìn đặc biệt, các đối tượng vốn là khác loại, khác bản chất có thể chuyển hóa được cho nhau, có những đặc điểm, những nét giống nhau Một so sánh đẹp là một so sánh phát hiện, phát hiện ra những gì nhiều người không nhìn ra, không nhận thấy

Trang 24

Từ cấu tạo của phép tu từ so sánh, ta có thể nhận thấy rằng, khi nghiên cứu về so sánh cần dựa vào cấu trúc và ngữ nghĩa Dựa vào cấu tạo để biết và nhận diện phép tu từ so sánh cũng như tìm hiểu cấu tạo hoàn chỉnh của so sánh

Như vậy, muốn có sự hiểu biết đầy đủ và toàn diện về so sánh đòi hỏi cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng Đối với học sinh Tiểu học, mức độ hiểu về phép tu từ

so sánh không quá cao, chỉ yêu cầu nhận diện và vận dụng so sánh trong nói và viết sao cho có hiệu quả Muốn dạy tốt, giáo viên cần phải linh hoạt các phương pháp dạy học phù hợp với trình độ của học sinh nhằm làm cho các em học tốt so sánh Do đó nhiệm vụ của người giáo viên cần xác định các tiêu chí nhằm giúp học sinh dễ dàng nhận diện và phân loại so sánh dựa trên phương thức cấu tạo

1.1.4 Giá trị biểu đạt của so sánh tu từ

Tiếng Việt có nhiều biện pháp khác nhau như: Biện pháp tu từ so sánh, biện pháp tu từ nhân hóa, biện pháp tu từ ẩn dụ, biện pháp tu từ hoán dụ,… Tuy nhiện mỗi biện pháp đều có một giá trị riêng So sánh tu từ là một cách tu từ cho nên nó cũng mang những giá trị chung như các biện pháp tu từ khác Trên thực

tế, dù Tiếng Việt khá phong phú và đa dạng so với một số ngôn ngữ khác trên thế giới nhưng nó cũng có giới hạn nhất định Trong khi đó, đời sống của con người ngày càng phát triển nhu cầu diễn đạt, bộc lộ tâm tư tình cảm càng cao nảy sinh ra các dạng thức làm giàu thêm vốn ngôn ngữ, khiến cách diễn đạt thêm phần thuyết phục Cùng với các biện pháp tu từ khác, so sánh tu từ trở nên

vô cùng cần thiết cho sự diễn đạt, đối với cùng một đối tượng, ta có nhiều từ ngữ

để biểu thị hơn và làm cho sự diễn tả trở nên sâu sắc, đa dạng, phong phú, mang nhiều nét nghĩa

Vì so sánh là dựa trên những nét nghĩa tương đồng giữa các đối tượng cho nên so sánh tu từ là sự phát hiện, đối chiếu những nét tương đồng ấy Muốn được như thế thì người sử dụng phải có sự nhạy bén trong các giác quan, sự tế nhị trong tâm hồn Từ đó, phát hiện ra những điều mà người khác chưa để ý đến

Vì vậy, giá trị của biện pháp tu từ đầu tiên là mang chức năng nhận thức giúp cho chúng ta hiểu một cách đầy đủ, cặn kẻ những hàm ý ẩn chứa bên trong câu chữ Qua các hình ảnh so sánh tu từ, người nói thể hiện ít nhiều tình cảm: yêu,

Trang 25

ghột, buồn, vui, khen, chờ, khinh, quý trọng đối với đối tượng và qua đú tỏc động đến người nghe Chớnh vỡ thế, ngoài giỏ trị mang chức năng nhận thức so sỏnh tu từ cũn cú giỏ trị mang chức năng biểu cảm – cảm xỳc Sau đõy chỳng tụi

sẽ đi sõu hơn vào tỡm hiểu về hai chức năng

1.1.4.1 Chức năng nhận thức

Paolơ cho rằng: “Sức mạnh của so sánh là nhận thức ” [4, tr.193] Bản

chất của sự so sánh là lấy một hình ảnh cụ thể để miêu tả một hình ảnh chưa

(Hồ Chí Minh) Nhờ “tiếng hát xa” mà người đọc có thể hình dung ra âm thanh của tiếng suối và có tình cảm với tiếng suối Nhờ “vẽ ” mà người đọc hình dung ra rõ rệt

độ sáng và đường nét của cảnh rừng với đêm trăng

Như vậy, biện phỏp so sỏnh tu từ đem lại cho con người nhận thức sõu sắc hơn những thuộc tớnh nào đú của đối tượng, đú là những hiểu biết hay tri giỏc mới mẻ, hoàn chỉnh về sự vật, hiện tượng, tớnh chất, trong thế giới quan qua hỡnh ảnh so sỏnh

1.1.4.2 Chức năng biểu cảm – cảm xỳc

Bên cạnh chức năng nhận thức, phép so sánh còn có chức năng biểu cảm -

cảm xúc Gôlúp nói: “Hầu như bất kì sự biểu đạt hình ảnh nào cũng có thể chuyển thành hình thức so sánh ” [4, tr.192] Trong lời nói hàng ngày, chúng ta

đã gặp rất nhiều cách ví von rất hay, rất có hình ảnh, rất thấm thía Mỗi một sự

so sánh là một lời nhận xét mà ít có cách nói nào diễn đạt hiệu quả hơn: gầy như mắm, béo như lợn, hôi như cú, gầy như quỷ

Trang 26

Rõ ràng cũng nói về biển nhưng nếu nói theo cách bình thường là: “Biển rất rộng và nước có màu xanh thẳm ” thì sẽ không tác động nhiều đến người nghe

bằng cách nói của Vũ Tú Nam: “Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch ” (TV3, tr 8) Bởi vì, ở cách nói thứ hai không chỉ đơn thuần là thông

tin, sự kiện mà nó còn thể hiện thái độ của người nói đối với sự kiện đó Đúng là cũng nói về biển nhưng qua xúc cảm của nhà văn, biển trở nên đẹp và có hồn hơn bởi vì nhà văn đã sử dụng phép so sánh trong khi miêu tả

Với chức năng biểu cảm, so sánh là “cách nói” dễ đi vào lòng người, dễ chiếm được lòng người, làm cho người ta dễ nhớ, dễ thuộc và nhớ lâu So sánh tu

từ chính là một phương thức tạo hình, gợi cảm, là đôi cánh giúp cho chúng ta bay vào thế giới của cái đẹp, của trí tưởng tượng vô cùng phong phú

Thế giới hữu hỡnh quanh ta bị hạn chế bởi tầm nhỡn, “tầm” nghe, núi chung là bởi cỏc giỏc quan, cũn thế giới vụ hỡnh nội tõm rất phong phỳ nhưng

khụng thể diễn đạt vớ như “nhớ, thương, buồn, vui, ” kể cả những phẩm chất,

trạng thỏi sự vật, cũng khụng dễ gỡ mà núi được bằng lời Chớnh nhờ phộp tu từ

Mỗi một phõn mụn cú kỹ năng sử dụng so sỏnh khỏc nhau Tựy theo mục đớch và yờu cầu của bài học mà trong quỏ trỡnh giảng dạy giỏo viờn cú những phương phỏp dạy học riờng Tuy nhiờn, một mặt giỏo viờn cần giỳp học sinh phỏt hiện hỡnh ảnh so sỏnh, mặt khỏc khuyến khớch học sinh sử dụng so sỏnh trong núi và viết để tăng gợi hỡnh, gợi cảm và sinh động hơn Ngoài ra, trong việc giảng dạy phõn mụn Kể chuyện cũng là một cỏch để giỏo viờn rốn cho học sinh kỹ năng sử dụng so sỏnh

Trang 27

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Mục tiêu của việc dạy học phép tu từ so sánh ở lớp 3, 4, 5

Như chỳng ta đó biết, mục tiờu mụn Tiếng Việt ở trường phổ thụng cú nhiệm vụ hỡnh thành năng lực hoạt động ngụn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngụn ngữ được thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với bốn kỹ năng: nghe, núi, đọc, viết

Thụng qua mụn Tiếng Việt, giỏo viờn cần hiểu như thế nào là so sỏnh, cỏch nhận biết và vai trũ của so sỏnh trong ngụn ngữ Từ đú định hướng cỏch dạy – học so sỏnh cú hiệu quả nhất Dạy học so sỏnh tức là dạy cho học sinh kỹ năng sử dụng biện phỏp tu từ so sỏnh trong bốn kỹ năng: nghe, núi, đọc, viết Mỗi kỹ năng đều giỳp học sinh sử dụng biện phỏp tu từ so sỏnh một cỏch khoa học, chớnh xỏc và bất ngờ

Thống nhất với mục tiêu của chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học, mục tiêu của việc dạy biện pháp tu từ so sánh ở lớp 3, 4, 5 là rèn luyện kĩ năng và ụn tập kiến thức về so sỏnh giỳp học sinh sử dụng thành thạo phộp tu từ so sỏnh vào trong học tập mụn Tiếng Việt cũng như trong việc giao tiếp hàng ngày của cỏc

em Thông qua việc giải bài tập, HS nhận diện phép tu từ so sánh tức là chỉ ra

được hình ảnh, nhân vật hoặc chi tiết được sử dụng trong bài đồng thời hiểu được tác dụng của phép tu từ so sánh

Ngoài việc nắm được dấu hiệu và hiểu được giá trị biểu cảm của phép tu từ

so sánh ở lớp 3, chương trình còn yêu cầu HS biết vận dụng so sánh tu từ vào việc nói viết, như biết dùng những hình ảnh so sánh sinh động trong giao tiếp, trong làm văn hay khi kể lại một câu chuyện mà các em được nghe, được đọc

Đây cũng là một cách chuẩn bị dần để các em sử dụng thành thạo hơn phép so sánh tu từ khi làm các bài văn kể chuyện, miêu tả ở lớp 4 hoặc lớp 5

Mặc dù những kiến thức về so sánh được dạy cho HS lớp 3, 4, 5 còn ở mức

độ sơ giản song thông qua đó chương trình còn muốn bước đầu trang bị cho HS những cách nói, cách nhìn giản dị mà sâu sắc, tinh tế về đời sống, văn hoá, văn học của con người Việt Nam Từ đó, góp phần hình thành và phát triển tư tưởng, tình cảm và nhân cách HS

Trang 28

Để làm được những điều này, cần phải giúp học sinh nắm được định nghĩa cũng như nhận biết, cách sử dụng so sánh trong mỗi hoàn cảnh nhất định

Hệ thống bài tập là một trong những con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất trong việc hình thành và phát triển khả năng sử dụng so sánh của học sinh

1.2.2 Các dạng bài tập sử dụng phép tu từ so sánh trong môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5

Hệ thống bài tập về phép tu từ so sánh ở lớp 3, 4, 5 là một tập hợp gồm các dạng bài tập khác nhau được sắp xếp một cách có hệ thống, có tính khoa học Dù có sự khác biệt về kiểu bài, cách thức tổ chức, tuy nhiên tất cả các bài tập đều nhằm hướng đến mục đích cuối cùng là nâng cao khả năng tư duy và cảm thụ văn học cho học sinh Tiểu học

Hệ thống bài tập gồm hai nhóm cơ bản: nhóm bài tập nhận biết phép tu từ

Dạng 1: Bài tập nhận biết những sự vật được so sánh

1.2.1.2 Nhóm bài tập vận dụng phép tu từ so sánh

Ở d¹ng bµi tËp nµy cã 2 lo¹i bµi tËp nhá, đã lµ:

Trang 29

Bài tập nhận biết tác dụng của phép tu từ so sánh và bài tập đặt câu có dùng phép so sánh

Ở loại thứ nhất, chương trình không yêu cầu cụ thể HS phải chỉ ra tác dụng của phép so sánh mà HS phải cảm nhận được cái hay của hình ảnh so sánh

và diễn đạt cảm nhận ấy thành lời Ở loại thứ hai, SGK đã cung cấp sẵn nội dung

so sánh qua các tranh vẽ từng cặp sự vật có đặc điểm giống nhau (hoặc gần giống nhau) về hình thức HS chỉ cần xác định đối tượng so sánh và đối tượng

đưa ra làm chuẩn để so sánh ở từng cặp Cũng loại bài tập này còn có dạng bài

điền từ thích hợp vào chỗ trống, bài tập cho trước cái so sánh yêu cầu HS tìm ra cái để làm chuẩn so sánh Cái khó là các em phải tìm được những hình ảnh so sánh hợp lí và sinh động

Đõy là bài tập yờu cầu học sinh phỏt biểu cảm nghĩ, cảm nhận của cỏ nhõn

về cỏi hay, cỏi đẹp của hỡnh ảnh so sỏnh vừa tỡm được gúp phần giỏo dục và bồi dưỡng nhõn cỏch cho học sinh Từ đú, học sinh vận dụng nú vào trong núi và viết để phỏt triển ngụn ngữ

1.2.3 Nhận xột về cỏc bài tập sử dụng phộp tu từ so sỏnh trong mụn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5

Qua việc tỡm hiểu cỏc dạng bài tập về phộp tu từ so sỏnh trong chương trỡnh Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5, chỳng tụi nhận thấy một số điểm như sau:

Thứ nhất, nội dung cỏc bài tập về phộp tu từ so sỏnh rất đa dạng và phong

phỳ, phự hợp với trỡnh độ nhận thức của HS Ở cỏc lớp học trước, HS đã được

học và nói những câu có hình ảnh so sánh Tuy nhiên, đó chỉ là những câu nói đơn giản giỳp học sinh bước đầu làm quen với phép so sánh tu từ Cũn qua cỏc lớp trờn học sinh đi sõu vào tỡm hiểu cỏc hỡnh ảnh so sỏnh Từ đú để thấy được, chương trình được sắp xếp từ dễ đến khó, từ nhận diện những hỡnh ảnh so sỏnh đến vận dụng những kiến thức này vào việc dựng từ, cõu Những hiểu biết và kỹ năng cơ bản này sẽ giỳp cỏc em cảm nhận được cỏi hay của văn chương và vận dụng nú trong cỏc giờ của phõn mụn Tập đọc và Kể chuyện, cú cỏch quan sỏt và thể hiện trong phõn mụn Tập làm văn sao cho cú hiệu quả nhất Hơn nữa những kiến thức về tu từ so sánh sẽ giúp các em nâng cao khả năng nói trong các cuộc giao tiếp

Trang 30

Thứ hai, những kiến thức trong chương trình về biện pháp tu từ so sánh là những kiến thức cơ bản Các em được làm quen với cấu trúc hoàn chỉnh của phép tu từ so sánh với đầy đủ cả 4 yếu tố (cái so sánh, cơ sở so sánh, mức độ so sánh và cái được so sánh) cũng như làm quen các mô hình của so sánh nhằm giúp các em nắm vững kiến thức tốt hơn

Để dạy học tiếng mẹ đẻ có sự phát triển về chất cần phải hình thành, phát triển ngôn ngữ như là hình thành, phát triển một hoạt động Muốn hình thành và phát triển hành động nói năng phải thông qua một hệ thống bài tập Vì vậy, hệ thống bài tập phải ưu tiên lên hàng đầu Bài tập là yếu tố không thể thiếu và có vai trò, vị trí hết sức quan trọng Thông qua hệ thống bài tập, học sinh củng cố

và nâng cao kiến thức đặc biệt là phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ, đáp ứng yêu cầu giao tiếp trong gia đình, nhà trường và xã hội

Mỗi bài tập có nội dung và hình thức khác nhau Vì vậy, bài tập dễ lôi cuốn học sinh vào hoạt động học tập, đồng thời tạo ra những cái mới, cái hay kích thích hứng thú học tập cho học sinh Do đó, các bài tập cần được vận dụng

và sử dụng linh hoạt trong dạy và học Tiếng Việt cho học sinh

CHƯƠNG 2 PHÉP TU TỪ SO SÁNH TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở LỚP 3, 4, 5

Tiếng Việt là một môn học ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh Với tư cách là một phân môn thực hành của môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học, luyện từ và câu có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh năng lực sử dụng từ và câu trong giao tiếp và học tập Đây là nhiệm vụ chính yếu, cuối cùng của dạy luyện từ và câu ở Tiểu học Dạy luyện từ chính là dạy thực hành từ ngữ trên quan điểm giao tiếp, dạy từ trên bình diện phát triển lời nói Đó chính là công việc làm giàu vốn từ cho học sinh, giúp học sinh mở rộng, phát triển vốn từ, nắm nghĩa của từ, luyện tập sử dụng từ Từ đó, giúp học sinh nói năng đúng chuẩn mực, phù hợp với mục đích

và môi trường giao tiếp đồng thời góp phần rèn luyện tư duy và giáo dục thẩm

Trang 31

mĩ cho học sinh Trong đó, biện pháp tu từ so sánh góp một phần không nhỏ làm nên điều này So sánh có khả năng khắc họa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động, mặt khác so sánh còn có tác dụng làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể sinh động, diễn đạt được mọi sắc thái biểu cảm so sánh tu từ còn là phương thức bộc lộ tâm tư tình cảm một cách kín đáo và tế nhị

Trong môn Tiếng Việt phép tu từ so sánh thể hiện ở các dạng bài tập như: bài tập nhận diện hình ảnh so sánh, những sự vật được so sánh, các vế so sánh, các đặc điểm so sánh, ; bài tập tìm các từ so sánh; bài tập nhận biết tác dụng của so sánh; bài tập đặt câu có dùng biện pháp so sánh nhằm giúp học sinh sử dụng biện pháp tu từ so sánh một cách có hiệu quả nhất

Thông qua việc giải bài tập, HS nhận diện phép tu từ so sánh tức là chỉ ra được hình ảnh, nhân vật hoặc chi tiết được sử dụng trong bài đồng thời hiểu được tác dụng của phép tu từ so sánh và vận dụng được chúng vào trong giao tiếp hàng ngày Mặc dù những kiến thức về so sánh được dạy cho học sinh lớp

3, 4, 5 còn ở mức độ sơ giản, song thông qua đó chương trình còn muốn bước đầu trang bị cho học sinh những cách nói, cách nhìn giản dị mà sâu sắc, tinh tế

về đời sống, văn hóa, văn học của con người Việt Nam Từ đó, góp phần hình thành, phát triển tư tưởng, tình cảm và nhân cách học sinh

Hệ thống bài tập về phép tu từ so sánh được sử dụng trong các giờ dạy của môn Tiếng Việt nhưng chủ yếu thuộc phân môn Luyện từ và câu Mỗi bài tập là phương tiện, kỹ năng, là mục đích cần đạt tới Các yêu cầu về nội dung và hình thức của hệ thống bài tập về phép tu từ so sánh sẽ được cụ thể hóa ở lệnh

và ngữ liệu bài tập, cách sắp xếp các bài tập trong hệ thống

2.1 Khái quát về phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu qua

hệ thống bài tập

Luyện từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc mở rộng hệ thống hóa vốn từ ngữ cho học sinh Ngay từ tên gọi của phân môn đã cho ta thấy mục đích của nó Tên gọi luyện từ và câu thể hiện nhận thức mới của nhà soạn thảo chương trình về nhiệm vụ và đặc trưng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học; chú

Trang 32

trọng thực hành luyện tập hơn là lý thuyết Luyện từ và câu dạy cho học sinh hiểu nghĩa của từ, cách sử dụng từ, cách đặt câu và sử dụng câu,…

Từ và câu đóng vai trò rất lớn trong hệ thống ngôn ngữ Vai trò của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyết định tầm quan trọng của việc dạy Luyện từ

và câu ở Tiểu học Việc dạy luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hóa làm phong phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản

về từ và câu, rèn cho học sinh kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu

để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời giúp cho học sinh có khả năng hiểu các câu nói của người khác Luyện từ và câu có vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em

Một trong những nội dung dạy học Luyện từ và câu là dạy các biện pháp

tu từ vựng – phép tu từ so sánh

Ở phân môn Luyện từ và câu, lý thuyết về phép tu từ so sánh được dạy chủ yếu trong TV 3, tập 1, được học trong 7 tuần, cứ 2 tuần 1 tiết, chiếm khoảng 1/5 tổng số thời gian của chương trình học kì 1 Cụ thể như sau:

3 Mái ấm Tìm hình ảnh so sánh và tìm các từ chỉ sự so

sánh

24

5 Tới trường So sánh hơn kém, cách thêm các từ so sánh

vào những câu chưa có từ so sánh

43

7 Cộng đồng So sánh sự vật với con người 58

10 Quê hương Làm quen so sánh âm thanh với âm thanh 79

Trang 33

Tìm những sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ,

câu văn dưới đây:

c) Cánh diều như dấu “á”

Ai vừa tung lên trời

Trang 34

3

(Thanh Hải)

b) Em yêu nhà em

Hàng xoan trước ngõ Hoa xao xuyến nở Như mây từng chùm

d) Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đường

trăng lung linh dát vàng

- Cháu khỏe hơn ông nhiều!

Ông là buổi trời chiều Cháu là ngày rạng sáng

(Phạm Cúc)

b) Ông trăng tròn sáng tỏ

Soi rõ sân nhà em Trăng khuya sáng hơn đèn

Ơi ông trăng sáng tỏ

(Trần Đăng Khoa)

c) Những ngôi sao thức ngoài kia

Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con

Đêm nay con ngủ giấc tròn

Mẹ là ngọn gió của con suốt đời

(Trần Quốc Minh)

43

Trang 35

6 Ghi lại các từ so sánh trong những khổ thơ trên 43

7

Tìm những sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ

dưới đây:

Thân dừa bạc phếch tháng năm

Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao

Đêm hè, hoa nở cùng sao

Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh

(Trần Đăng Khoa)

43

8

Hãy tìm các từ so sánh có thể thêm vào những câu chưa có

từ so sánh trong khổ thơ sau:

Thân dừa bạc phếch tháng năm

Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao

Đêm hè, hoa nở cùng sao

Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh

c) Cây pơ – mu đầu dốc

Im như người lính canh Ngựa tuần tra biên giới Đủng đỉnh đèo hí vang

(Nguyễn Thái Vận)

d) Bà như quả ngọt chín rồi

Càng thêm tuổi tác, càng tươi lòng vàng

58

Trang 36

(Võ Thanh An)

10

Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:

Đã có ai lắng nghe Tiếng mưa trong rừng cọ Như tiếng thác dội về Như ào ào trận gió

Hãy tìm những âm thanh được so sánh với nhau trong mỗi

câu thơ, câu văn dưới đây:

a) Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

(Nguyễn Trãi)

b) Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

(Hồ Chí Minh)

c) Mỗi lúc, tôi càng nghe rõ tiếng chim kêu náo động

như tiếng xóc những rổ tiền đồng Chim đậu chen nhau trắng xóa trên những đầu cây mắm, cây chà là, cây vẹt rụng trụi gần hết lá

(Đoàn Giỏi)

80

Trong các đoạn trích sau, những hoạt động nào được so

sánh với nhau:

a) Con trâu đen lông mượt

Cái sừng nó vênh vênh

Nó cao lớn lênh khênh

Trang 37

12

Chân đi như đập đất

(Trần Đăng Khoa)

b) Cau cao, cao mãi

Tàu vươn giữa trời Như tay ai vẫy Hứng làn mưa rơi

(Ngô Viết Dinh)

c) Xuồng con đậu quanh thuyền lớn giống như đàn con

nằm quanh bụng mẹ Khi có gió, thuyền mẹ cót két rên rỉ, đám xuồng con lại húc húc vào mạn thuyền

Bà hiền như suối trong

(Trúc Thông)

c) Cam Xã Đoài mọng nước

Giọt vàng như mật ong

(Phạm Tiến Duật)

117

14 Quan sát từng cặp tranh rồi viết những câu có hình ảnh so

Tìm những từ thích hợp với mỗi chỗ trống:

a) Công cha nghĩa mẹ được so sánh như , như

Trang 38

15 b) Trời mưa, đường đất sét trơn như

c) Ở thành phố có nhiều tòa nhà cao như

Huy Cận như “hai bàn tay em” so sánh với “hoa đầu cành”, còn của Vũ Tú Nam lại biết những sự vật được so sánh với nhau như “mặt biển” với “tấm thảm khổng lồ”, nhưng trong thơ Lương Vĩnh Phúc lại nhận ra sự vật “cánh diều” so sánh với “dấu á”, riêng đối với đoạn thơ của Phạm Như Hà lại hiểu sự vật “dấu hỏi” với “vành tai nhỏ” được so sánh với nhau [18, tr.8]

Như vậy, mỗi câu thơ, đoạn văn sẽ có các hình ảnh so sánh khác nhau tùy theo dụng ý của tác giả nhưng thông qua bài tập này học sinh tìm ra được các sự vật được so sánh với nhau, chỉ ra được điểm giống nhau nhất định giữa các sự vật được đem ra so sánh Qua bài tập tìm ra được sự vật so sánh với nhau ở bài tập 2 SGK, ở bài tập 3 SGK, học sinh biết thêm tác dụng của phép tu từ so sánh

qua các ví dụ cụ thể như: Huy Cận đã sử dụng hình ảnh so sánh “hai bàn tay em/ như hoa đầu cành” ý muốn nói hoa đầu cành luôn là hoa tươi thắm, xinh đẹp và bàn tay em cũng giống như bông hoa kia Còn hình ảnh “mặt biển” so sánh với “tấm thảm khổng lồ” của Vũ Tú Nam vì chúng đều bằng phẳng, êm và đẹp Qua hình ảnh so sánh “cánh diều” như “dấu á” của Lương Vĩnh Phúc

nhằm qua hình ảnh so sánh này học sinh nhận ra cánh diều cong cong, võng xuống giống hệt như dấu á Riêng trong đoạn thơ của Phạm Như Hà tác giả sử

dụng hình ảnh so sánh “dấu hỏi” như “vành tai nhỏ” [18, tr.8] giúp học sinh

nhận ra chúng đều cong cong như nhau Cái dấu hỏi có hình vòng xuống giống cái tai của con người

Đến tiết thứ 2, tuần 3, chủ điểm Mái ấm, học sinh biết tìm ra các hình ảnh

so sánh như: “mắt” so sánh với “vì sao”, “hoa” so sánh với “mây từng chùm”,

Trang 39

“mùa đông” như “cái tủ ướp lạnh”, “mùa hè” giống như “cái bếp lò nung”,

“dòng sông” lại tựa như “một đường trăng lung linh dát vàng” [18, tr.24], các

tác giả đã tìm ra được những điểm giống nhau để mang ra so sánh với nhau như: Ánh mắt của Bác sáng giống như vì sao trên trời, những chùm hoa thì giống như những chùm mây và trời mùa đông lạnh như cái tủ ướp lạnh, trời mùa hè thì nóng như bếp lửa lò nung Thông qua bài tập này giúp cho học sinh biết được cách so sánh nhằm rèn cho học sinh kỹ năng sử dụng phép tu từ so sánh ở nhiều khía cạnh khác nhau của phương diện ngôn ngữ Song song với bài nhận biết hình ảnh so sánh, ở bài tập 2 này, học sinh còn sử dụng sự hiểu biết của mình để ghi lại các từ chỉ sự so sánh ở bài tập 1 SGK như: câu a từ chỉ sự so sánh là từ

“tựa”, câu b là từ “như”, còn câu c với câu d từ so sánh là từ “là” [18, tr.24]

qua bài tập này nhằm giúp học sinh phân biệt phép tu từ so sánh với các phép tu

từ khác

Qua tiết học thứ 3, tuần 5, chủ điểm Tới trường, học sinh tiếp tục tìm

được các hình ảnh so sánh trong bài tập 1 SGK ở những khổ thơ như: “ông” so sánh với “buổi trời chiều”, “bà” so sánh với “ngày rạng sáng”, “trăng” giống như “đèn”, “mẹ” giống như “ngôi sao, ngọn gió” [18, tr.43] và ở bài tập 2

SGK học sinh tiếp tục biết ghi lại các từ so sánh ở bài tập 1 SGK như: các hình

ảnh so sánh ở câu a qua từ “là”, câu b qua từ “hơn”, còn đối với câu c có các từ

so sánh đó là “chẳng bằng” và từ “là” [18, tr.43] Ngoài 2 dạng bài tập nói trên,

tiếp tục bài học này học sinh còn tìm ra những sự vật được so sánh với nhau mà

không có từ chỗ dựa như: “quả dừa” so sánh với “đàn lợn con” và “tàu dừa” như “chiếc lược” [18, tr.43] nhằm thông qua bài tập này học sinh nắm được đặc

điểm cấu tạo của phép tu từ so sánh Cuối cùng của tiết học, học sinh lớp 3 còn

biết tìm các từ so sánh có thể thêm vào những câu chưa có từ so sánh: “Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao” => “Quả dừa giống như, tựa như, y như, đàn lợn

con nằm trên cao” Còn hình ảnh so sánh “Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây

xanh” => “Tàu dừa như, giống như, là chiếc lược chải vào mây xanh”

Còn tiết học thứ 4, tuần 7, chủ điểm Cộng đồng, để khắc sâu về kiến thức phép tu từ so sánh, một lần nữa học sinh biết tìm ra các hình ảnh so sánh trong

Trang 40

câu thơ sau: “trẻ em” so sánh với “búp trên cành”, “ngôi nhà” như “trẻ nhỏ”,

“cây pơ – mu” như “người lính canh” và “bà” so sánh với “quả ngọt chìn rồi”

[18, tr.58] "Trẻ em" giống như "búp trên cành" Vì đều là những sự vật còn tươi non đang phát triển đầy sức sống non tơ, chứa chan niềm hy vọng, "bà" sống đã lâu, tuổi đã cao giống như "quả ngọt chín rồi" đều phát triển đến độ già giặn có giá trị cao, có ích lợi cho cuộc đời, đáng nâng niu và trân trọng… Với việc tìm

ra các hình ảnh so sánh đó học sinh có cách nhìn mới mẻ về cuộc sống xung quanh

Ngoài những tiết học trên, tiết học thứ 5, tuần 10, chủ điểm Quê hương, học sinh lớp 3 còn nhận ra những âm thanh so sánh với nhau như trong thơ

Nguyễn Trãi, học sinh nhận thấy “tiếng suối” so sánh với “tiếng đàn cầm”, còn trong thơ của Hồ Chí Minh học sinh nhận ra “tiếng suối” như “tiếng hát xa”,

bên cạnh đó học sinh nhận ra các âm thanh so sánh với nhau trong câu văn của

Đoàn Giỏi đó là “tiếng chim” so sánh với “tiếng xóc những rổ tiền đồng” Tuy nhiên, học sinh còn tìm thấy các âm thanh so sánh với nhau như: “tiếng mưa”

so sánh với “tiếng thác dội về, ào ào trận gió” của Nguyễn Viết Bình Không

những vậy ở tiết học này, SGK lại đưa ra bài tập nhận biết tác dụng của phép tu

từ so sánh nhằm giúp học sinh biết hình dung những sự vật so sánh với nhau có tác dụng gì? như: qua sự so sánh trên, em hình dung tiếng mưa trong rừng cọ rất mạnh, mưa rất to, tiếng mưa của bạt ngàn rừng cây

Sau tiết thứ 5, tuần 12, tiết 6, chủ điểm Bắc – Trung – Nam, ở tiết học này, chương trình đưa ra dạng bài tập giúp học sinh nắm chắc được từ chỉ hoạt động, từ đó học sinh sẽ tìm được các hoạt động được so sánh với nhau Chẳng

hạn: Hoạt động "đi" so sánh với hoạt động "đập đất" qua từ "như"; Hoạt động “ Vươn” của tàu lá dừa giống hoạt động “ vẫy” tay của con người Hoạt động

“đậu” thì so sánh với “nằm” và “húc húc” như “đòi” bú tí

Ở bài tập này không chỉ kích thích hứng thú học tập của học sinh mà còn giúp học sinh có cách nhìn nhận phép tu từ so sánh ở nhiều phương diện khác nhau

Ngày đăng: 21/09/2015, 09:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức: cho câu thơ, đoạn thơ, câu văn. Yêu cầu học sinh tìm những sự  vật được so sánh trong các câu thơ, đoạn thơ, câu văn đó - Khóa luận tốt nghiệp Phép tu từ so sánh ôn từ và câu ở lớp 3, 4, 5
Hình th ức: cho câu thơ, đoạn thơ, câu văn. Yêu cầu học sinh tìm những sự vật được so sánh trong các câu thơ, đoạn thơ, câu văn đó (Trang 43)
Hình ảnh này giúp học sinh nhận ra là hai người cùng một đất nước nhằm miêu - Khóa luận tốt nghiệp Phép tu từ so sánh ôn từ và câu ở lớp 3, 4, 5
nh ảnh này giúp học sinh nhận ra là hai người cùng một đất nước nhằm miêu (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w