1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Bồi dưỡng hứng thú học văn học dân gian cho học sinh lớp 6

85 1,1K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đề tài này, tác giả đã đề xuất được 5 biện pháp gây hứng thú cho học sinh: Giáo viên phải nâng cao lòng yêu người, yêu nghề và rèn luyện tay nghề, tổ chức các hoạt động ngoại khóa

Trang 1

Trường đại học quảng bình Khoa KHOA HọC Xã HộI

- -

Dương đệ đức

Bồi dưỡng hứng thú học văn học dân gian cho học sinh lớp 6

dân gian cho học sinh lớp 6

Khóa luận tốt nghiệp cao đẳng

Trang 2

Lời cảm ơn!

Bằng tấm lịng biết ơn sâu sắc, em xin được gửi đến Th.S Đỗ Thùy Trang - người đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khĩa luận lời cảm ơn chân thành nhất!

Cảm ơn quý thầy cơ giáo khoa Khoa học – Xã hội, quý thầy cơ giáo của trường Đại học Quảng Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em bồi dưỡng tri thức trong ba năm qua Đĩ khơng chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khĩa luận mà cịn là hành trang quý báu để em cĩ thể vững bước, tự tin hơn trên con đường đời đầy chơng gai của mình

Cũng nhân đây, em xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cơ giáo và các em học sinh trường THCS Đức Ninh (Đồng Hới – Quảng Bình) đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hồn thành khĩa luận

Cảm ơn gia đình - nơi nuơi dưỡng tâm hồn và khát vọng của em Cảm ơn bạn

bè đã chia sẻ, động viên và giúp đỡ mình trong suốt thời gian qua

Chúc thầy cơ, các bạn, các em học sinh luơn mạnh khỏe và thành cơng trong cuộc sống!

Sinh viên thực hiện

Dương Đệ Đức

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S Đỗ Thùy Trang – Giảng viên Trường Đại học Quảng Bình Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng tài liệu của các tác giả, tôi đã trích đầy đủ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu, kết quả trình bày trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này

Tác giả khóa luận

Dương Đệ Đức

Trang 4

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của đề tài 6

6 Cấu trúc khóa luận 6

B PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 Văn học dân gian và văn học dân gian trong chương trình Ngữ văn THCS 7

1.1.1 Văn học dân gian 7

1.1.2 Văn học dân gian trong chương trình Ngữ văn THCS 18

1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THCS và hứng thú học tập 21

1.1.4 Ý nghĩa của việc bồi dưỡng hứng thú học văn học dân gian cho học sinh lớp 6 28

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN CHO HỌC SINH LỚP 6 30

2.1 Các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học văn học dân gian cho học sinh lớp 6 30

2.1.1 Tạo tâm thế cho học sinh trong giờ dạy - học tác phẩm văn học dân gian 30

2.1.2 Tạo hứng thú cho học sinh thông qua lời dẫn, lời kể sáng tạo 31

2.1.3 Tạo hứng thú cho học sinh thông qua hệ thống câu hỏi - bài tập 32

2.1.4 Tạo hứng thú cho học sinh thông qua việc sử dụng các phương tiện dạy học 35

2.1.5 Tạo hứng thú cho học sinh thông qua các hình thức tổ chức dạy học 37

2.1.6 Bồi dưỡng hứng thú cho học sinh thông qua rèn các kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng 43

2.1.7 Bồi dưỡng hứng thú cho học sinh thông qua rèn kỹ năng đọc, kể diễn cảm 44

2.1.8 Bồi dưỡng hứng thú cho học sinh thông qua kiểm tra, đánh giá 47

2.2 Vai trò của người thầy và việc lựa chọn phương pháp – hình thức dạy học 49

2.2.1 Vị trí, vai trò của người giáo viên dạy văn học dân gian trong nhà trường 50

Trang 5

2.2.2 Năng lực của người thầy và sự lựa chọn các hình thức - phương pháp dạy học 51

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 54

3.1 Những vấn đề chung của thực nghiệm 54

3.1.1 Mục đích, nhiệm vụ của thực nghiệm 54

3.1.2 Địa bàn, thời gian, đối tượng thực nghiệm 54

3.2 Tiến trình thực nghiệm 54

3.2.1 Chọn nội dung thực nghiệm 54

3.2.2 Thiết kế giáo án 55

C PHẦN KẾT LUẬN 76

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 6

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Như bao dân tộc khác trên thế giới, trước khi văn học viết ra đời luôn có một bộ phận văn học của quần chúng nhân dân ra đời dựa trên những sáng tác tập thể, lưu truyền bằng miệng (ở Việt Nam còn gọi là văn học dân gian) Văn học dân gian mang trong mình những tư tưởng tình cảm tiến bộ, lành mạnh phù hợp với lời ăn tiếng nói của nhân dân Vì vậy, nó được coi là biểu tượng cho tinh hoa văn hóa và là tiếng nói tâm hồn của dân tộc ta qua các thế hệ

Nếu như ở các bộ môn khác mà học sinh được học ở trong chương trình đã cung cấp cho các em những tri thức về kiến thức khoa học kỹ thuật của nhân loại, về cuộc sống, về môi trường… thì bộ môn Ngữ văn cũng như văn học dân gian lại trực tiếp giúp các em hình thành ý thức, đạo đức, nhân cách Thế nhưng, việc dạy và học văn học dân gian hiện nay nhìn chung vẫn còn nhiều bất cập Một trong những nguyên nhân dẫn đến điều

đó chính là do phương pháp dạy học chưa thực sự hiệu quả và sự mất hứng thú học tập ở học sinh Trong khi đó, các nhà tâm lí học đã nghiên cứu và chỉ ra rằng hứng thú đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình hoạt động của con người Nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực vào hoạt động Một khi được làm việc phù hợp với hứng thú thì dù phải khó khăn con người cũng vẫn cảm thấy thoải mái và đạt được hiệu quả cao Để khắc phục những hạn chế đó, những năm trở lại đây việc dạy và học theo hướng đổi mới đã chú trọng đến việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh làm cho học sinh yêu thích và hứng thú với các môn học hơn Điều 24, Luật giáo dục

(do Quốc hội khóa X thông qua) cũng đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải

phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [31,19] Đây là định hướng cơ bản thiết thực đối với mỗi giáo viên trong đó có giáo viên dạy văn học dân gian

Qua tìm hiểu, phần văn học dân gian trong chương trình ngữ văn lớp 6 giữ một vị trí quan trọng trong chương trình văn học ở trường THCS Nó có ưu thế và sức mạnh riêng trong việc bồi dưỡng tâm hồn cho thế hệ trẻ của đất nước, nhất là trong thời đại hội nhập

Trang 7

quốc tế Cuộc sống xô bồ nhiều khi làm con người lãng quên đi những giá trị tốt đẹp của lịch sử thì việc giữ gìn bản sắc của dân tộc của các quốc gia lại càng quan trọng hơn Thông qua phân môn này, ta dễ dàng bồi đắp cho các em một tình yêu văn học, tình yêu

quê hương và đặc biệt là lòng tự hào về lịch sử, cội nguồn của dân tộc “Giúp các em có ý

thức tự tu dưỡng, biết thương yêu, quý trọng gia đình, bè bạn, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căn ghét cái xấu, cái ác…” [32;138] Từ đó,

bồi dưỡng hứng thú học tập cho các em, góp phần hình thành và rèn luyện nhân cách cho các em ngay từ khi đang ngồi trên ghế nhà trường Đó sẽ là hành trang tinh thần luôn theo sát các em trên những nẻo đường xây dựng đất nước Vì vậy, để việc giảng dạy văn học dân gian trong nhà trường được hiệu quả hơn thì việc nâng cao hứng thú học tập văn học dân gian cho học sinh lớp 6 là một trong những việc làm rất quan trọng Hứng thú sẽ làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức làm nảy sinh hoạt động và hành động một cách say

mê, sáng tạo, làm tăng sức làm việc cho các em… Trong học tập, đây là yếu tố quan trọng thôi thúc các em nắm bắt tri thức một cách nhanh hơn, sâu sắc hơn Sự hứng thú sẽ giúp các em tập trung chú ý vào đối tượng nhận thức, nhờ đó mà quan sát của các em trở nên nhạy bén và chính xác hơn Từ đó, chú ý trở nên bền vững, việc ghi nhớ dễ dàng và sâu hơn, quá trình tư duy sẽ tích cực hơn và tưởng tượng cũng sẽ phong phú hơn Không những thế, hứng thú còn giúp các em làm việc một cách tự giác, sáng tạo không biết mệt mỏi để chiếm lĩnh tri thức Nhờ đó, kết quả học tập ngày càng được nâng cao, năng lực của các em sẽ được hình thành và phát triển tích cực hơn Vì vậy, bồi dưỡng hứng thú học văn học dân gian đối với học sinh lớp 6 càng trở nên quan trọng Chỉ khi thực sự có hứng thú các em mới thấy được vẻ đẹp và giá trị của văn học dân gian trong cuộc sống

Do vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Bồi dưỡng hứng thú học văn học dân

gian cho học sinh lớp 6” làm khóa luận tốt nghiệp, mong rằng sẽ giúp ích cho phụ huynh,

giáo viên, những em học sinh, sinh viên và bạn đọc quan tâm đến vấn đề này

Trang 8

học văn học dân gian cho học sinh lớp 6” vẫn còn khá khiêm tốn và chưa được phổ biến

rộng rãi

Trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu về hứng thú xuất hiện tương đối sớm và ngày được phát triển Có thể khái quát lịch sử nghiên cứu hứng thú trên thế giới

theo các xu hướng sau: Đầu tiên là “Xu hướng giải thích bản chất tâm lý của hứng thú”

Đại diện cho xu hướng này có thể kể đến A.F.Bêliep Năm 1944, ông tiến hành thành

công luận án tiến sĩ “Tâm lý học hứng thú” Nội dung cơ bản của luận án là những vấn đề

lý luận tổng quát về hứng thú trong tâm lý học Xu hướng thứ 2 là “Xem xét hứng thú

trong mối quan hệ với sự phát triển nhân cách nói chung và vốn tri thức của cá nhân nói

trong quan hệ hình thành nhân cách” Lukin, Lêvitôp nghiên cứu “Hứng thú trong quan

hệ với năng lực” L.P.Bơlagôna Dejina, L.X.Xlavi, B.N.Mione lại xem xét “Hứng thú trong mối quan hệ với hoạt động” Các tác giả này đã coi hứng thú là động cơ có ý nghĩa

của hoạt động Trong xu hướng này còn có nhiều nhà nghiên cứu khác như:

L.X.Rubinstêin, A.V.Daparôzét, M.I.Bôliép, L.A.Gôđôn Và xu hướng cuối cùng là “Xu

hướng nghiên cứu sự hình thành và phát triển hứng thú theo các giai đoạn lứa tuổi” Có

thể kể đến G.ISukina “Nghiên cứu hứng thú trẻ em ở các lứa tuổi” V.N Marôsôva nghiên cứu “Sự hình thành hứng thú trẻ em trong điều kiện bình thường và trong điều

kiện không bình thường” Hầu hết những công trình nghiên cứu này đã phân tích đặc điểm

hứng thú của từng lứa tuổi, những điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú trong các giai đoạn phát triển lứa tuổi của trẻ

Ở Việt Nam, tính đến nay cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu hứng thú ở các mức độ khác nhau Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu liên quan đến vấn đề như: Năm 1973, Phạm Tất Dong đã bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ ở Liên Xô với đề tài:

“Một số đặc điểm hứng thú nghề của học sinh lớn và nhiệm vụ hướng nghiệp” Kết quả

nghiên cứu đã khẳng định sự khác biệt về hứng thú học tập giữa nam và nữ, hứng thú nghề nghiệp không thống nhất với xu hướng phát triển nghề của xã hội, công tác hướng nghiệp ở trường phổ thông không được thực hiện nên các em học sinh chịu nhiều thiệt thòi Hứng thú học tập các bộ môn của học sinh là cơ sở để đề ra nhiệm vụ hướng nghiệp

một cách khoa học Năm 1977, Phạm Huy Thụ với luận án “Hiện trạng hứng thú học tập

Trang 9

các môn của học sinh cấp 2 một số trường tiên tiến” Từ đó tác giả đề xuất biện pháp giáo

dục nhằm nâng cao hứng thú học tập cho học sinh Năm 1977, tổ nghiên cứu của khoa

tâm lý học giáo dục trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội I đã nghiên cứu đề tài “Hứng thú

học tập của học sinh cấp 2 đối với môn học cụ thể” Đề tài chứng minh hứng thú học tập

các môn của học sinh cấp 2 là không đồng đều Năm 1980, Đặng Trường Thanh nghiên

cứu “Hứng thú bộ môn của học sinh cấp 3” Năm 1981, Nguyễn Thị Tuyết với đề tài luận văn “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học văn học lớp 10 ở một số trường phổ thông trung

học tại thành phố Hồ Chí Minh” Trong đề tài này, tác giả đã đề xuất được 5 biện pháp

gây hứng thú cho học sinh: Giáo viên phải nâng cao lòng yêu người, yêu nghề và rèn luyện tay nghề, tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho học sinh, tổ chức các giờ dạy mẫu, chương trình phải hợp lý và động viên học sinh tích cực tham gia các hoạt động văn hóa

nghệ thuật Năm 1982, Đinh Thị Chiến “Bước đầu tìm hiểu hứng thú với nghề sư phạm

của giáo sinh CĐSP Nghĩa Bình” Tác giả đưa ra 3 biện pháp để giáo dục hứng thú đối

với nghề sư phạm cho giáo sinh, trong đó tác giả nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng

của dư luận xã hội Năm 1984, Trần Thị Thanh Hương đã thực nghiệm “Nâng cao hứng

thú học toán của học sinh qua việc điều khiển hoạt động tự học ở nhà của học sinh” Năm

1987, Nguyễn Khắc Mai với đề tài luận án “Bước đầu tìm hiểu thực trạng hứng thú đối

với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên tại trường của sinh viên khoa tâm lý giáo dục” Tác giả đã đưa ra những nguyên nhân gây hứng thú là do ý nghĩa của

môn học, trình độ của học sinh, phương pháp giảng dạy của giảng viên Năm 1988, Vũ

Thị Nho với đề tài “Tìm hiểu hứng thú với năng lực học văn của học sinh lớp 6” Đề tài

đã tiến hành thực nghiệm để nghiên cứu bước đầu về hứng thú về năng lực học văn của các em học sinh lớp 6 Từ đó đưa ra những giải pháp tạo hứng thú và phát triển năng lực

cho các em học sinh lớp 6 Năm 1994, Hoàng Hồng Liên có đề tài “Bước đầu nghiên cứu

những con đường nâng cao hứng thú cho học sinh phổ thông” tác giả kết luận dạy học

trực quan là biện pháp tốt nhất để tác động đến hứng thú của học sinh Năm 1996, Đào

Thị Oanh đã nghiên cứu về “Hứng thú học tập và sự thích nghi với cuộc sống nhà truờng

của học sinh tiểu học” Năm 1998, Phạm Thị Thắng “Nghiên cứu sự quan tâm của cha mẹ đến việc duy trì hứng thú học tập cho các em thanh thiếu niên” Năm 1999, Nguyễn Hoài

Thu nghiên cứu “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học môn ngoại ngữ của học sinh lớp 10

Trang 10

PTTH Hà Nội” Năm 1999, Lê Thị Thu Hằng với đề tài “Thực trạng hứng thú học tâp các môn Lý luận của sinh viên trường đại học TDTT I” Trong đó phương pháp, năng lực

chuyên môn của giảng viên là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hứng thú học tập của sinh

viên Năm 2000, Trần Công Khanh đã đi sâu nghiên cứu “Tìm hiểu thực trạng hứng thú

học môn Toán của học sinh trung học cơ sở thị xã Tân An” Kết quả cho thấy đa số học

sinh trong diện điều tra chưa có hứng thú học toán Năm 2005, Phạm Mạnh Hiền nghiên

cứu “Hứng thú học tập của học viên thuộc trung tâm phát triển kỹ năng con người Tâm

Việt” Trong đó nổi bật lên phương pháp giảng dạy của giảng viên có ý nghĩa to lớn tác

động tới hứng thú học của học viên Ngoài ra còn rất nhiều công trình khác cũng nghiên cứu về vấn đề này… Điểm chung của các công trình nghiên cứu lý luận về hứng thú là đã đưa ra nhiều quan điểm xung quanh vấn đề hứng thú, đưa ra các khái niệm hứng thú, phân loại hứng thú và sự hình thành hứng thú Đây là những vấn đề lý luận cốt lõi đặt cơ sở cho việc nghiên cứu hứng thú ở mức độ sâu hơn trong các lĩnh vực hoạt động Từ đó, tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập cho các

em

Bên cạnh đó, để tìm ra những biện pháp “Bồi dưỡng hứng thú học văn học dân gian

cho học sinh lớp 6” tôi còn tham khảo một số công trình khác liên quan đến đề tài của

những nhà nghiên cứu văn học dân gian tiêu biểu như: Chu Xuân Diên, Phan Trọng Luận, Hoàng Tiến Tựu, Đinh Gia Khánh, Đỗ Bình Trị, Nguyễn Viết Chữ Ngoài ra, tôi còn tham khảo thêm những bài viết, các sáng kiến kinh nghiệm, các giáo trình, bài giảng, khóa luận liên quan của các anh chị khóa trước Đó cũng chính là cơ sở để tôi xác định một số nội dung trong khóa luận này

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu hứng thú học tập văn học dân gian của học sinh khối 6

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Do không có điều kiện nghiên cứu trên bình diện rộng và điều kiện thực tế không cho phép, tôi chỉ tập trung nghiên cứu các cơ sở lí luận, sau đó tiến hành điều tra, thử nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học văn học dân gian cho các lớp khối 6 tại Trường THCS Đức Ninh – Thành phố Đồng Hới – Tỉnh Quảng Bình

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

- Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này, tôi đã vận dụng phối hợp các phương pháp sau:

4.1 Phương pháp so sánh đối chiếu

- Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã sử dụng phương pháp so sánh - đối chiếu để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt của các phương pháp, đồng thời đối chiếu kết quả trước và sau khi thực nghiệm để thấy được hiệu quả của các biện pháp

6 Cấu trúc khóa luận

- Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Một số biện pháp bồi dưỡng hứng thú học văn học dân gian cho học sinh lớp 6 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Văn học dân gian và văn học dân gian trong chương trình Ngữ văn THCS

1.1.1 Văn học dân gian

1.1.1.1 Khái niệm

Trong lịch sử đã có một thời gian dài, văn học dân tộc chỉ có một bộ phận duy nhất

là văn học dân gian Cho đến khi chữ viết xuất hiện mới có văn học viết Lúc này, văn học dân tộc lúc này gồm có hai bộ phận chính là văn học dân gian và văn học viết Trong đó, văn học dân gian là bộ phận ra đời sớm hơn và giữ vai trò mở đường cho sự hình thành và phát triển của văn học viết Tuy nhiên do ảnh hưởng của lịch sử, chữ viết ra đời muộn, đất nước bị xâm lược và bị âm mưu đồng hóa nên một thời gian dài người Việt Nam đã dùng chữ Hán để sáng tác… Do vậy, mặc dù đã có chữ viết, văn học viết nhưng phần lớn dân chúng chỉ biết đến một bộ phận văn học dân tộc là văn học dân gian Ðiểm chung giữa văn học dân gian và văn học viết cùng là loại hình nghệ thuật ngôn từ Giữa hai loại hình này có nhiều nét khác biệt, thậm chí những khác biệt đó mang tính bản chất Từ ngôn ngữ đến hình thức, sự tác động và cả quá trình sáng tác Có thể khẳng định rằng: văn học dân gian khác văn học viết, nó không chỉ là bộ phận của văn học dân tộc mà còn là một bộ phận trong lĩnh vực rộng hơn là văn hóa dân gian Đó chính là lí do dẫn đến những quan

niệm và cách phô diễn khác nhau về văn học dân gian Có quan niệm coi “Văn học dân

gian là thành phần ngôn từ ở trong những sáng tác dân gian mang tính nguyên hợp (như tục ngữ, ca dao, dân ca, thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích…) Thành phần ngôn từ

ở đây vừa là bộ phận của một chỉnh thể lớn hơn là nghệ thuật diễn xướng dân gian (bao gồm nhiều thành tố như: ngôn ngữ, nhạc, vũ điệu bộ) vừa là một chỉnh thể nhỏ có tính độc lập tương đối, có quy luật sinh thành, tồn tại, phát triển riêng, có thể và cần phải tách

ra để nghiên cứu như một đối tượng riêng của một ngành khoa học chuyên môn Và đó là ngành nghiên cứu chuyên môn về văn học dân gian (bên cạnh các ngành nghiên cứu chuyên môn khác như: âm nhạc dân gian, vũ đạo dân gian, nghệ thuật sân khấu, nghệ thuật tạo hình dân gian…)” [28,5] Cũng có quan niệm coi “Văn học dân gian chỉ là những sáng tác ngôn từ có giá trị nghệ thuật thực sự của nhân dân, chứ không phải là không thể bao gồm toàn bộ thành phần ngôn ngữ ở trong những sáng tác dân gian mang

Trang 13

tính nguyên hợp và diễn xướng (như tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện kể dân gian… )”

[28,5] Đối với quan niện này, đối tượng nghiên cứu của môn văn học dân gian bị co lại rất hẹp, chỉ bao gồm những gì được coi là có giá trị văn học ( nghĩa là có tính hình tượng

rõ rệt) Đây là một biểu hiện của khuynh hướng lấy quan điểm nghiên cứu văn học (mà chủ yếu là văn học hình tượng, văn học đã được chuyên môn hóa cao) để nhìn nhận, đánh giá văn học dân gian - một loại sáng tác ngôn từ khác với văn học viết rất nhiều phương diện (về lịch sử hình thành, phát triển, lực lượng sáng tác, phương thức, chức năng, thi

pháp…) Ngoài ra, còn có quan niệm cho rằng “Văn học dân gian chỉ là một trong những

thành tố của nghệ thuật diễn xướng (hay biểu diễn), một loại nghệ thuật tổng hợp bao gồm nhiều thành tố (ngôn ngữ, nhạc, vũ, động tác…) kết hợp chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể thống nhất không thể chia tách được Và do đó, không có và không thể có nghiên cứu riêng về văn học dân gian mà chỉ có thể nghiên cứu chung tất cả các thành tố (văn- vũ- nhạc…) trong nghệ thuật diễn xướng mang tính tổng hợp ấy mà thôi” [28;6] Ở

quan niệm này, chẳng những việc nghiên cứu riêng về thành phần nghệ thuật ngôn từ (văn học dân gian) bị phủ nhận mà việc nghiên cứu riêng về tất cả các thành phần nghệ thuật khác trong loại hình sáng tác dân gian mang tính tổng hợp và diễn xướng (như âm nhạc,

vũ đạo…) đều bị phủ nhận

Trong những quan niệm trên, quan niệm được nhiều người tán thành hơn cả là quan niệm thứ nhất Tuy cách diễn đạt, thể hiện có khác nhau, nhưng nhìn chung hầu hết các giáo trình, giáo khoa, tài liệu hướng dẫn học tập, giảng dạy về văn học dân gian trong nhà trường nước ta những năm gần đây đều đã và đang được viết chủ yếu theo quan điểm này

Khái quát lại, ta có thể coi “Văn học dân gian vừa là một bộ phận của sáng tác của văn

học dân tộc, vừa là một bộ phận nghệ thuật ngôn từ truyền miệng của văn hóa dân gian, phản ánh sinh hoạt xã hội, công việc làm ăn, đời sống tâm lí, tình cảm, thái độ, nguyện vọng, kinh nghiệm mọi mặt của nhân dân lao động các thế hệ” [9,8]

Để hiểu rõ hơn về văn học dân gian, bên cạnh việc phân biệt với văn học viết, chúng

ta cần phải phân biệt với các lĩnh vực sáng tác dân gian khác như văn nghệ dân gian, văn

hóa dân gian (folklore) “Trong tiếng Anh, thuật ngữ “folklore” có nghĩa là kho tàng trí

thức của nhân dân hay trí khôn dân gian ( “folk” là nhân dân, người thân thuộc, họ hàng; “lore” là trí khôn, trí tuệ, kho tàng, vốn hiểu biết)” [28,8] Người đầu tiên dùng

Trang 14

thuật ngữ “folklore” trên báo chí là nhà khảo cổ học người Anh, ông William Thoms dùng trong bài báo đăng trên tạp chí: “The Athenaeum”, số 982 ngày 23/8/1846, tại Luân Đôn

với ý nghĩa là những di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là di tích của nền văn hoá tinh thần như phong tục, đạo đức, tín ngưỡng, những bài dân ca, những câu chuyện kể của cộng đồng Sau khi xuất hiện, thuật ngữ này được hiểu với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau tùy theo quan niệm và cách nhìn của các nhà nghiên cứu sử dụng thuật ngữ này Ở Việt Nam, thuật ngữ này đã sớm được các nhà nghiên cứu quan tâm Theo lời phát biểu

của nhà văn Hoài Thanh – chủ tịch đầu tiên của hội văn nghệ dân gian Việt Nam: “Danh

từ folklore mà cả thế giới đều dùng nói một sự thực là ở bất cứ dân tộc nào, các loại hình văn nghệ dân gian cũng gắn bó với nhau từ nguồn gốc, từ trong thực tiễn tồn tại và phát triển của nó Từ thuở sơ sinh nhạc, thơ, múa kịch, đều chung một mầm Đến khi lớn lên thì các loại hình tách bạch ra, nhưng vẫn phải nương tựa vào nhau mà sống Thơ dân gian tồn tại, phát triển và lưu truyền bằng hát đối đáp Nếu bỏ nhạc thì múa khó thành Mất sự tích văn học, mất làn điệu, mất múa thì chèo cũng mất Tranh làng Hồ phải đi liền với hội Tết Trên hình con gà, con lợn có cả dấu âm dương thuộc tín ngưỡng dân gian, lại

có cả ca dao hay thơ vịnh Một ngôi đình, ngôi chùa, một pho tượng, một hòn đá thiêng đều có nhiều truyền thuyết liên quan” [28,9] Theo đó, ta có thể hiểu thuật ngữ này với

những ý nghĩa sau : Về nghĩa rộng, “folklore là văn hóa dân gian” Bao gồm những sáng

tạo vật chất và tinh thần mang tính nghệ thuật do dân chúng sáng tạo nên Như văn học dân gian, hội họa dân gian, nghi lễ dân gian, tạo hình dân gian, kiến trúc dân gian, y học dân gian, ẩm thực dân gian đến các tín ngưỡng, tôn giáo dân gian, thậm chí là cả bùa chú,

phong thủy Về nghĩa hẹp, “folklore là văn nghệ dân gian” Bao gồm những sáng tạo

văn hóa, nghệ thuật tinh thần của nhân dân như: nghệ thuật ngữ văn dân gian (tức văn học dân gian), nghệ thuật tạo hình dân gian, nghệ thuật diễn xướng dân gian: gồm văn hóa dân gian, lễ hội dân gian, hội họa dân gian, âm nhạc dân gian… Bên cạnh đó, folklore còn có

“nghĩa chuyên biệt là văn học dân gian” Tức là folklore là hình thức ngôn từ gắn với

nhạc, vũ, kịch do tập thể dân chúng sáng tác Theo đó, ta có thể dùng thuật ngữ folklore văn học để chỉ văn học dân gian đồng thời phân biệt nó với các đối tượng khác cũng thuộc phạm trù folklore - văn hoá văn dân gian Đây được coi là thành phần cốt lõi, phát

Trang 15

trển mạnh mẽ nhất và có sức sống lâu bền nhất Bao gồm các loại sáng tác dân gian mang tính nghệ thuật ngôn từ (như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, tục ngữ, ca dao… )

1.1.1.2 Chức năng và đặc trưng của văn học dân gian

Văn học dân gian được coi là một kho tàng trí thức vô cùng phong phú về đời sống của các dân tộc (là kho trí khôn của nhân dân về mọi lĩnh vực của đời sống tự nhiên, xã hội, con người) Kho tri thức này phần lớn là những kinh nghiệm lâu đời được nhân dân ta đúc kết từ thực tế Vào trong các tác phẩm, nó được mã hoá bằng những ngôn từ và hình tượng nghệ thuật tạo ra sức hấp dẫn người đọc, người nghe, dễ phổ biến, dễ tiếp thu và có sức sống lâu bền cùng năm tháng Nó ngợi ca, tôn vinh những giá trị tốt đẹp của con người và để lại những bài học giáo dục sâu sắc về truyền thống dân tộc (truyền thống yêu nước, đức kiên trung, lòng vị tha, lòng nhân đạo, tinh thần đấu tranh chống cái ác, cái xấu ) Góp phần hình thành những giá trị tốt đẹp cho các thế hệ xưa và nay Trước hết

có thể kể đến chức năng nhận thức, văn học dân gian là người bạn đồng hành của nhân

dân lao động từ xưa đến nay Theo sát mọi mặt đời sống của nhân dân, phản ánh chân thực sâu sắc cuộc sống ấy Do vậy, văn học dân gian giúp cho người đời sau có những nhận thức đúng đắn về thế giới quan, nhân sinh quan của thế hệ những người đi trước Nó cung cấp cho con người những kiến thức về trạng thái sinh hoạt cả về vật chất và tinh thần, về lao động và chiến đấu, về quan hệ xã hội, phong tục, tập quán, tình cảm, ước mơ,

về cảnh đẹp của quê hương đất nước, về quá khứ hào hùng của dân tộc Thứ hai là chức

năng giáo dục: Văn học dân gian chứa đựng những kinh nghiệm của nhân dân qua các thế

hệ, là nơi lưu giữ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Vì vậy, văn học dân gian có giá trị giáo dục vô cùng to lớn Nó dạy cho chúng ta cách ăn nói, ứng xử cho phù hợp với các mối quan hệ xã hội Ca ngợi cái tốt, lên án phê phán cái xấu, cái ác Đem đến cho con người những bài học quý giá về lẽ sống để họ tự rèn luyện bản thân mình ngày một tốt đẹp hơn Cụ thể, nó hình thành trong con người một tư tưởng tiến bộ, giúp họ có thái độ

và quan điểm đúng đắn về cuộc sống Giúp con người biết yêu ghét đúng đắn, làm cho tâm hồn con người trở nên lành mạnh, trong sáng, cao thượng hơn Qua đó, góp phần xây dựng lối sống cao đẹp cho chúng ta: nhân ái, thẳng thắn, biết bênh vực, bảo vệ đấu tranh cho cái đúng, tiến tới công bằng xã hội Từ đó làm thay đổi hoặc nâng cao tư tưởng, tình cảm của con người theo chiều hướng tích cực, tốt đẹp, tiến bộ, đồng thời làm cho con

Trang 16

người ngày càng hoàn thiện về đạo đức Nhưng điều đặc biệt là tác dụng giáo dục của văn học dân gian không phải ngay lập tức mà dần dần thấm sâu nhưng rất lâu bền, nó gợi những cảm nghĩ sâu xa về con người và cuộc đời, nó gián tiếp đưa ra những bài học, những đề nghị về cách sống Như vậy, văn học dân gian không chỉ góp phần hoàn thiện bản thân con người mà còn hướng họ tới những hành động cụ thể, thiết thực vì một cuộc

đời ngày càng tốt đẹp hơn Ngoài ra, văn học dân gian còn có chức năng thẩm mĩ Với

chức năng này, văn học dân gian mang tới cho con người những vẻ đẹp của thiên nhiên,

vẻ đẹp của những cảnh đời cụ thể trong đời sống hàng ngày hoặc vẻ đẹp hào hùng của chiến trận, đặc biệt văn học đi sâu miêu tả vẻ đẹp của con người từ hình thể bên ngoài đến những diễn biến sâu xa trong tư tưởng tình cảm và những hành động gây ấn tượng thật khó quên đối với mọi người Tạo cho chúng ta những khoái cảm thẩm mĩ về vẻ đẹp hồn nhiên, chân thật, giản dị của thiên nhiên và con người Những mẫu mực về xây dựng hình tượng nghệ thuật bay bổng độc đáo, cách sử dụng ngôn ngữ giàu âm thanh, nhịp điệu, hình ảnh; biện pháp nghệ thuật tượng trưng, hư cấu kì ảo, sự kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn đều là những giá trị thẩm mĩ làm cho con người thêm mến yêu cuộc sống, khao khát hướng tới những điều tốt đẹp nhất

Tóm lại, văn học dân gian là một bộ phận văn học đặc trưng, tiêu biểu, là bông hoa

nghệ thuật sáng chói trên bầu trời văn học Việt Nam Nó có “Đóng góp to lớn trong việc

gìn giữ, mài giũa và phát triển ngôn ngữ dân tộc sâu sắc và những sáng tạo nghệ thuật độc đáo, tài hoa của văn học dân gian có tác động mạnh mẽ đối với sự hình thành và phát triển của văn học viết từ nội dung đến hình thức” [23,6] Góp phần giữ gìn và phát huy

bản sắc riêng của dân tộc và tô điểm thêm cho bức tranh chung của văn chương các dân tộc trên thế giới trong lịch sử, hiện tại và cả tương lai

Để có thể đảm nhận những chức năng quan trọng như vậy, văn học dân gian luôn

mang trong mình những đặc trưng riêng Đầu tiên, phải kể đến tính truyền miệng Ở nước

ta, văn học dân gian ra đời từ khi chưa có chữ viết, vì thế truyền miệng là một phương thức được lưu truyền rộng rãi, phổ biến trong dân gian Đặc biệt, các tác phẩm văn học dân gian được sáng tác chủ yếu ngay trong khi lao động, trong sinh hoạt hằng ngày như: (chăn trâu, cắt cỏ, tát nước đầu đình hay khi chèo thuyền giã gạo… ) nên ngay cả khi chữ viết xuất hiện, người ta không thể dừng lại để viết ra những tâm tình, những suy nghĩ của

Trang 17

mình trong khi đang làm việc Ở đây, truyền miệng không chỉ là sự lưu truyền bằng miệng mà nó còn phản ánh cả một quá trình sáng tác, lưu truyền, sử dụng, biểu diễn bằng miệng của tác phẩm văn học dân gian Nghĩa là, tính truyền miệng tạo ta sự chọn lọc tự nhiên của các tác phẩm văn học dân gian Nếu một tác phẩm trở nên lạc hậu với thị hiếu thẩm mĩ của thời đại thì nó sẽ sớm bị quên lãng Ngược lại, nó sẽ được cô đúc, lưu truyền rộng rãi Như vậy, tính truyền miệng là một phương thức truyền bá đặc thù, thể hiện được những vẻ đẹp riêng, độc đáo của văn học dân gian Bên cạnh tính truyền miệng phải kể đến tính tập thể Có thể nói, đây cũng là một thuộc tính quan trọng hàng đầu có tính chất đặc thù của văn học dân gian Mặc dù văn học dân gian là sáng tác của nhân dân, nhưng không phải tất cả nhân dân đều là tác giả Tính tập thể được thể hiện chủ yếu trong quá trình sử dụng tác phẩm Có những tác phẩm là sáng tạo của tập thể theo đúng nghĩa đen của nó Người ta sáng tác trong khi cùng nhau làm việc Người này hát lên một câu, người khác thêm vào một câu để cuối cùng thành một bài ca hoàn chỉnh Nếu nó hay thì sẽ được mọi người trong tập thể nhớ và truyền lại cho những người khác Cũng vì thế mà không ai còn nhớ là nó bắt đầu như thế nào và không có ai là tác giả chính thức của sáng tác đó Tuy nhiên, vẫn có nhiều sáng tác lúc đầu là của một người nào đó, bắt nguồn từ cảm xúc

cá nhân Nhưng sau khi xuất hiện, tập thể thấy hay, hấp dẫn, phù hợp với tình cảm chung liền tiếp nhận nó và lưu truyền từ người này sang người khác Trong quá trình lưu truyền

đó, tác phẩm được sửa sang chỉnh lí nhào nặn tùy theo yêu cầu của tập thể nên sáng tác đó

trở thành sản phẩm chung của tập thể Cùng với những đặc trưng nói trên, tính nguyên

hợp và đa chức năng là một trong những thuộc tính chung của sáng tác dân gian, trong đó

có văn học dân gian Giữa hai thộc tính này có quan hệ mật thiết với nhau Tính nguyên hợp trong các tác phẩm văn học dân gian là sự tổng hợp một cách tự nhiên nhiều thành phần nghệ thuật, chức năng, ý thức trong một chỉnh thể nghệ thuật không thể chia cắt

Nó biểu hiện ở sự hòa lẫn những hình thức khác nhau của ý thức xã hội trong các thể loại Văn học dân gian không chỉ là nghệ thuật ngôn từ thuần túy mà là sự kết hợp của nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau, tồn taị dưới ba dạng: ẩn (tồn tại trong trí nhớ của tác giả dân gian), cố định (tồn tại bằng văn tự) và hiện (tồn tại thông qua diễn xướng) Trước hết là sự nguyên hợp về mặt chức năng Bên cạnh các chức năng của loại hình nghệ thuật ngôn từ, người dân sáng tác văn học dân gian chủ yếu là để phục vụ những sinh hoạt hàng

Trang 18

ngày, công việc lao động sản xuất hoặc thực hành các nghi thức cầu cúng Hoàng Tiến

Tựu trong cuốn: “Văn học dân gian Việt Nam” đã cho rằng “Nhân dân sáng tác và sử

dụng văn học dân gian không phải như một loại nghệ thuật chuyên môn cách biệt với đời sống hàng ngày mà là một công cụ vạn năng (đa chức năng) của đời sống, giao cho nó tất cả những gì mà nó có thể thực hiện được để đáp ứng nhu cầu mọi mặt về đời sống Vì thế, văn học dân gian không phải chỉ là văn học - nghệ thuật mà nó còn là triết lí Lịch

sử, luân lí, tín ngưỡng, khoa học thường thức là kho tàng trí khôn và kinh nghiệm sống của nhân dân về mọi phương diện (chăn nuôi, trồng trọt, dạy con cái, làm nhà, thiên văn, khí tượng )” [28,12] Chẳng hạn truyền thuyết: Sơn Tinh Thủy Tinh không chỉ là nghệ

thuật ngôn từ biểu hiện trí tưởng tưởng thẩm mĩ phong phú, bay bổng, kỳ diệu của người xưa mà nó còn là khoa học nhận thức, giải thích về hiện tượng lũ lụt xảy ra hàng năm vào một thời điểm nhất định ở vùng đồng bằng Bắc Bộ hoặc nó ghi lại những nguyên tắc trong phong tục, tập quán hôn nhân của người Việt cổ, đồng thời nó cũng biểu hiện tín ngưỡng của họ Đối với biểu tượng văn học dân gian, tính nguyên hợp thể hiện rõ nét ở tính đa chức năng của chúng: Chức năng thăm dò hay chính là chức năng nhận thức; chức năng thay thế hay có thể gọi là chức năng biểu hiện; chức năng trung chuyển, liên kết các yếu tố của đời sống văn hóa, đặc biệt là mối quan hệ giữa con người với vũ trụ; chức năng giáo dục, điều chỉnh và hoàn thiện nhân cách con người; chức năng xã hội hóa, tạo ra các đặc trưng của một thời đại, một nền văn hóa, là cơ sở cho giao lưu thẩm thấu các nền văn hóa, thiết lập mối liên thông giữa các năng lực đối kháng trong tinh thần, từ đó vượt lên

mở đường cho sự tiến bộ của ý thức; hay chức năng thẩm mĩ - cái đẹp nghệ thuật ngôn từ của biểu tượng văn học dân gian Bên cạnh đó, tính nguyên hợp thể hiện ở sự đa thành phần trong một tác phẩm văn học dân gian Nó không chỉ là phần lời đã được cố định trong các văn bản mà nó bao gồm nhiều thành phần khác nhau Chẳng hạn trong các hình thức nghệ thuật biểu diễn dân gian, múa rối nước là một loại hình nghệ thuật tổng hợp tự nhiên rất rõ rệt Loại hình nghệ thuật này tiếp thu và sử dụng linh hoạt, sáng tạo nhiều loại nghệ thuật thẩm mĩ và dân gian khác nhau: đan, dệt, chạm khắc, vẽ màu, sơn thếp, làm pháo, kiến trúc, thêu thùa, âm nhạc, nhảy múa, thơ ca, truyện kể Tính nguyên hợp của văn học dân gian chẳng những thể hiện ở sự kết hợp nhiều loại phương tiện và chất liệu nghệ thuật khác nhau: lời, nhạc, vũ mà còn thể hiện ở sự kết hợp đan xen nhiều loại

Trang 19

hình thái ý thức chưa phân hóa rõ rệt, sâu sắc (ngoài hình thái ý thức thẩm mĩ còn có nhiều thành tố ý thức khác nhau: tín ngưỡng, tôn giáo, triết lí, luận lí ) Chính điều đó đã tạo ra sự hài hòa và vẻ đẹp hồn nhiên, độc đáo đến mức tuyệt vời của những hình tượng

nghệ thuật trong tác phẩm văn học dân gian Chẳng hạn truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh cũng như truyện Cóc kiện trời và truyện Chú Cuội cung trăng đều là những sáng tác dân gian

mang tính nguyên hợp rõ nét (vừa là văn học, vừa là khoa học, đồng thời cũng là tín ngưỡng sùng bái các lực lượng tự nhiên của người Việt Cổ) Chúng vừa phản ánh, vừa lí giải thể hiện ước mơ, khát vọng chinh phục, chi phối tự nhiên theo sự hiểu biết còn ít ỏi nhưng rất táo bạo của người nguyên thủy Tuy nhiên, tính nguyên hợp trong các tác phẩm văn học dân gian không những được thể hiện ở sự kết hợp, hòa quyện một cách nhuần nhuyễn giữa các yếu tố thành phần trong một tác phẩm mà còn được thể hiện trong từng yếu tố Chẳng hạn, tính nguyên hợp trong chèo được thể hiện nổi bật không chỉ ở sự hòa quyện một cách nhuần nhuyễn giữa các yếu tố: tích chèo (truyện), diễn viên, người xem, nhạc cụ, đạo cụ, trang phục, giai điệu, vũ đạo, mà còn được thể hiện trong từng yếu tố: khán giả của chiếu chèo vừa là người thưởng thức, đánh giá về vở diễn, vừa có thể là diễn

viên tham gia biểu diễn (thông qua hình thức tiếng “đế”: lời hỏi, lời đỡ giọng, lời họa

theo của người xem trong các vở chèo); hoặc nhân vật trong chèo bộc lộ tâm trạng, tính cách qua cả lời hát, điệu hát và động tác điệu bộ cử chỉ khi hát; thủ pháp gây cười của nhân vật anh hề được gợi lên từ tên gọi nhân vật (mẹ Đốp, anh Khèo, cu Sứt ), hóa trang

- trang phục (râu vểnh, mặt nhọ, quần ống cao, ống thấp ), điệu đi, dáng đứng (lảo đảo như say, đi khèo ), lời nói (nói chệch, nói lái ) Ngoài ra, tính nguyên hợp còn biểu hiện trên phương diện thể loại Khi tìm hiểu các tác phẩm văn học dân gian ta thấy hiện tượng đồng xuất hiện các yếu tố thi pháp của nhiều loại thể trong một tác phẩm Đặc biệt là giữa các loại thể: sử thi thần thoại với dân ca nghi lễ; thần thoại với truyền thuyết; truyện cổ tích loài vật với ngụ ngôn; hoặc mượn lời thơ, lời hát trong ca dao - dân ca để diễn tả tâm trạng nhân vật, hoặc khắc họa bối cảnh nhân vật xuất hiện Để xếp loại chúng, các nhà khoa học thường dựa vào những yếu tố thi pháp nổi trội để quyết định nó thuộc thể loại nào Nét độc đáo nhất của tính nguyên hợp còn được thể hiện trong quá trình sáng tác và diễn xướng tác phẩm văn học dân gian Có thể nói, biểu hiện cụ thể của tính nguyên hợp chính là tính biểu diễn Nhiều khi người nghệ sĩ chỉ mượn làn điệu (hoặc công thức truyền

Trang 20

thống) để sáng tác lời cho phù hợp với văn cảnh giao tiếp Ở đây, mối quan hệ giữa các thành phần nghệ thuật trong quá trình sáng tác và diễn xướng là mối quan hệ hữu cơ, tự nhiên Sự tham gia của các thành phần nghệ thuật trong quá trình sáng tác và diễn xướng thường được thực hiện một cách đồng thời Là sự hòa quyện không thể tách rời giữa các yếu tố xuất phát từ sự tổng hợp một cách tự nhiên, tự phát, vốn có ngay từ khi tác phẩm mới hình thành của những người sáng tác và trình diễn văn học dân gian Đó chính là lẽ tồn tại của tính nguyên hợp Tóm lại, tính nguyên hợp là một trong những thuộc tính nổi trội, cơ bản, quan trọng vào bậc nhất của văn học dân gian Thuộc tính này có mặt ở hầu hết các phương diện: nội dung, tư tưởng, chức năng, hình thái ý thức nghệ thuật, sáng tác, biểu diễn, lưu truyền của văn học dân gian và ảnh hưởng sâu sắc đến các thuộc tính khác của văn học dân gian Đây là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt các tác phẩm văn học dân gian với các tác phẩm văn học hiện đại như: truyện ngắn, tiểu thuyết, ký, thơ mới Ngoài đặc trưng truyền miệng, tập thể, văn học dân gian còn đặc trưng bởi tính dị bản Đây chính là hệ quả từ những đặc trưng nói trên của văn học dân gian Văn học dân gian là những sáng tác tập thể, nhân dân cùng tham gia vào công việc sáng tạo, biểu diễn, thưởng thức Vì thế, khi chưa có chữ viết các tác phẩm được sáng tác và lưu truyền bằng miệng Thông qua hình thức này, lâu ngày tác phẩm văn học dân gian có phần biến đổi về hình thức, kết cấu ngôn từ… cho phù hợp với từng vùng miền địa phương, song về nội dung thì không thay đổi, tạo nên các dị bản Như vậy, dị bản là những văn bản tương đồng, tương tự nhau về nội dung ý nghĩa và có sự thay đổi về cách dùng từ ngữ cho phù hợp với mục đích sử dụng theo từng vùng miền, từng hoàn cảnh… Tính dị bản làm cho tác phẩm văn học dân gian không đứng yên mà luôn được biến hóa tùy hoàn cảnh, nhu cầu, thị hiếu và thời kì lịch sử khác nhau Thực tế cho thấy, trong văn học dân gian ít có một truyện kể, một câu ca dao nào chỉ có một bản duy nhất mà thường có nhiều dị bản Đây được coi là một đặc điểm vốn có, tự nhiên của văn học dân gian Việt Nam Nó làm cho người sử dụng tác phẩm văn học dân gian trở nên rộng hơn, số lượng tác phẩm phong phú, đa dạng hơn cả về ý nghĩa cũng như nội dung thể loại

Có thể nói văn học dân gian Việt Nam mang trong mình những chức năng và đặc trưng riêng biệt Xét trong mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn hóa, có thể thấy văn học dân gian là một bộ phận của văn hóa Việt Nam Nó luôn tồn tại và phát triển gắn với

Trang 21

sinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động qua các thế hệ Đây là mối quan hệ

biện chứng, phản ánh quy luật của quan hệ riêng chung có tầm cấp triết học: “Cái riêng

chỉ tồn tại trong mức độ nó liên hệ với cái chung Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng,

liên hệ nhiều chiều, nhất là không thể không đặt nó trong mối quan hệ với văn hóa (cái

chung) như Bakhtin đã xác nhận: “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn

hóa Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa của một thời đại trong đó nó tồn tại” [33,362] Như vậy, cùng với nhiều loại hình nghệ thuật khác, văn học

dân gian đã góp một phần lớn vào cấu trúc của văn hóa Nếu văn hóa thể hiện quan niệm

và cách ứng xử của con người trước thế giới thì văn học dân gian là nơi lưu giữ những thành quả, những kinh nghiệm, những phong tục, tập quán… một cách sinh động nhất Để

có được những thành quả đó, văn hóa của một dân tộc đã phải trải qua nhiều chặng đường tìm kiếm, chọn lựa, đấu tranh và sáng tạo để hình thành những giá trị trong xã hội Ta có thể xem văn học dân gian là một biểu hiện của văn hóa và là tấm gương phản chiếu văn hoá Trong những tác phẩm văn học dân gian, ta tìm thấy hình ảnh của văn hoá qua lăng kính của tác giả dân gian Đó là kinh nghiệm sản xuất, là cách ứng xử, là lệ làng phép nước, là phong tục tập quán, lễ hội, là sinh hoạt của cộng đồng qua các thế hệ… trong những câu ca dao, tục ngữ, những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết… Ngược lại, văn hóa trong tính thống nhất và đa dạng của nó không thể không ảnh hưởng đến văn hoc dân gian – một trong những bộ phận nhạy cảm của văn hóa Nhất là ở những nước có nền văn hóa đóng vai trò đặc biệt quan trọng như nước ta Nếu văn hoá chi phối hoạt động và sự phát triển của văn học dân gian, thì ngược lại, văn học dân gian cũng tác động đến văn hóa, hoặc trên toàn thể cấu trúc, hoặc thông qua những bộ phận hợp thành khác của nó Văn học dân gian làm nền tảng cho văn hóa Việt Nam Trong quá trình lao động và sáng tạo, tác giả dân gian luôn đấu tranh, phê phán những biểu hiện phản văn hoá, đồng thời khẳng định những giá trị, những tinh hoa văn hoá của dân tộc Ta có thể tìm thấy điều đó trong những tác phẩm văn học dân gian mà rõ nét nhất là những tác phẩm đã được đưa vào trong nhà trường

Trước mối quan hệ mật thiết như vậy, việc dạy và học văn học dân gian trong nhà trường dưới góc nhìn văn hoá là một hướng đi cần thiết và đầy triển vọng Hay nói cách

Trang 22

khác, cần phải dạy học văn học dân gian như là một biểu hiện của giáo dục văn hóa

“Cùng với những cách tiếp cận văn học bằng xã hội học, mỹ học, thi pháp học…, cách

tiếp cận văn học bằng văn hoá học giúp chúng ta lý giải trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuật với hệ thống mã văn hoá được bao hàm bên trong nó” [34] Khi nhận thức hay lý

giải các hiện tượng văn hóa dân gian trong tác phẩm cần phải gắn liền với môi trường sinh hoạt văn hóa của nó, tức là các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng Ở đây, những yếu

tố văn hoá liên quan đến thiên nhiên, địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán, ngôn ngữ… có thể được vận dụng để cắt nghĩa những phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm

Ta cũng biết rằng, văn học dân gian được đưa vào trong nhà trường là phần tinh hoa được chắt lọc, gồm những giá trị đã được thời gian thử thách, phù hợp với thiên chức của giáo dục Đó là vốn liếng căn bản để con người làm hành trang tiếp tục khám phá, cảm nhận, chinh phục kiến thức và vẻ đẹp của văn học dân gian ở trong và ngoài nhà trường Do vậy, việc dạy và học văn học dân gian như là một biểu hiện của giáo dục văn hóa là một hoạt động bổ ích, gần gũi với đời sống nên nó mang tính thực tế cao Nhất là trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về mọi mặt của xã hội thì việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (trong đó có văn học dân gian) là điều rất cần thiết Gắn hoạt giáo dục với văn hóa hay lồng ghép các hoạt động văn hóa vào giáo dục sẽ giúp cho người học dễ dàng tiếp nhận các giá trị của văn hóa cũng như những giá trị tinh thần của văn học dân gian Cũng qua hoạt động này, người dạy có thể giúp người học lý giải những kiến thức sâu rộng hơn, đa chiều hơn, bao gồm cả thị hiếu độc giả, bối cảnh xã hội và con đường phát triển nói chung của văn học dân gian Có thể nói, giáo dục văn hóa thông qua văn học dân gian là hoạt động nền tảng của văn hoá, đáp ứng nhu cầu cung cấp nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và nâng cao dân trí, hướng đến mục tiêu đào tạo những con người có nhân cách và năng lực nghề nghiệp Một nền giáo dục toàn diện bao gồm giáo dục tri thức, giáo dục đạo đức, giáo dục thể chất và giáo dục thẩm mỹ Do vậy, văn học dân gian có vai trò quan trọng trong giáo dục đạo đức và giáo dục thẩm mỹ, là con đường đưa con người vươn đến điều thiện và cái đẹp; đồng thời góp phần vào hai lĩnh vực giáo dục kia, giúp con người nhận ra sự thật và vững vàng về mặt tâm lý

Như vậy, nhìn một cách tổng thể, văn hóa học nó bao quát toàn bộ hiện tượng và những biểu hiện đa dạng của văn hóa (trong đó có văn học dân gian) Vì thế, văn học dân

Trang 23

gian luôn có mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực khác nhau của văn hoá truyền thống Mỗi tác phẩm văn học dân gian là một sản phẩm của văn hoá và người đọc là một người thụ hưởng văn hoá Vì vậy, để quá trình dạy và học tác phẩm dân gian trong và ngoài nhà trường một cách hiệu quả thì nhất thiết phải dạy học văn học dân gian như là một biểu hiện của giáo dục văn hóa Thông qua đó, đem đến cho người học một cách nhìn đa chiều

về cuộc sống; giúp các em khắc sâu hơn kiến thức; đồng thời làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của dân tộc Góp phần giữ gìn và phát huy những tinh hoa văn hóa của dân tộc ta trong cả hiện tại và cả tương lai

1.1.2 Văn học dân gian trong chương trình Ngữ văn THCS

1.1.2.1 Khảo sát chương trình

Bộ sách giáo khoa Ngữ văn Trung học cơ sở được biên soạn theo chương trình THCS ban hành theo quyết định số 03/2002/QĐ-BGD&ĐT, ngày 24 tháng 1 năm 2002 của bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo Bên cạnh những hướng cải tiến chung của Bộ như giảm tải, tăng thực hành, gắn đời sống, nét cải tiến chung của Chương trình và sách giáo khoa môn Ngữ văn là hướng tích hợp Biểu hiện rõ nét nhất của hướng đó là việc sáp nhập ba phần lâu nay vẫn thường được gọi là ba phân môn (Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn) vào một chỉnh thể là Ngữ văn và do đó, từ chỗ có ba bộ sách Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn, nay chỉ còn một bộ sách duy nhất là Ngữ văn Việc thay đổi cấu tạo và tên gọi môn học ảnh hưởng không nhỏ đến cấu trúc sách giáo khoa, tố chức bài học cũng như nhiều nội dung và phương pháp học tập, giảng dạy Mỗi bài học, đơn vị của sách giáo khoa, nói chung đều gồm đủ ba phần : Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn Các văn bản được

bố trí và sắp xếp theo hệ thống thể loại và phần nào theo tiến trình văn học sử Trong phần chú thích, các yếu tố Hán Việt khi được giải thích riêng đều in nghiêng; phần lớn những yếu tố này sẽ được tập hợp lại một cách hệ thống cuối sách giáo khoa tập hai của mỗi lớp

Ngoài số lớn văn bản được hướng dẫn tìm hiểu tại lớp, còn một số văn bản “tự học có

hướng dẫn” mang tính chất bắt buộc nhằm hình thành, phát triển thói quen và khả năng tự

học, tìm tòi nghiên cứu: số lượng loại văn bản này sẽ được nâng dần lên ở những lớp trên

“Ở từng phân môn, còn một số văn bản phụ và văn bản đọc thêm có tính chất tư liệu

nhằm giúp học sinh hiểu rõ hơn một vài phương diện của văn bản chính, nắm vững vấn

đề lí thuyết hay có thêm chất liệu để làm tốt hơn các bài tập” [18,3] Tất cả được sắp xếp

Trang 24

theo một trình tự hợp lí, khoa học, đảm bảo sự tích hợp giữa ba phân môn: Văn - Tiếng Việt - Tập làm văn theo thứ tự tăng dần về thời lượng cũng như số lượng kiến thức Lớp

6, (140 tiết); lớp 7 (140 tiết), lớp 8 (140 tiết) đến lớp 9 tăng lên (175 tiết) Ở mỗi lớp, phần Văn học chiếm phần lớn nội dung kiến thức và thời lượng, tiếp đến là phần Tập làm văn

và Tiếng Việt Như vậy, chương trình Ngữ văn THCS đã cung cấp cho các em một hệ thống bao gồm cả văn học dân gian lẫn văn học viết với một số lượng các tác phẩm khá phong phú và đa dạng từ lớp 6 đến lớp 9

Riêng phần văn học dân gian trong toàn bộ chương trình THCS được học tập trung vào lớp 6, 7 trong 22 tiết Cụ thể như sau:

Truyền thuyết (5 tác phẩm)

- Kể lại các sự kiện và nhân vật lịch sử hoặc có liên quan đến lịch sử theo quan điểm nhìn nhận lịch sử của nhân dân

- Con Rồng cháu Tiên

- Bánh chưng bánh giày

- Thánh Gióng

- Sơn Tinh, Thuỷ Tinh

- Sự tích Hồ Gươm Truyện

cổ tích (5 tác phẩm)

- Kể về số phận của những con người bính thường trong

xã hội(người mồ côi, người

em, người dũng sĩ, chàng ngốc,… có yếu tố hoang đường, thể hiện quan niệm và

mơ ước của nhân dân về hạnh phúc và công bằng xã hội

- Kể lại các câu chuyện trong

đó nhân vật chủ yếu là động vật và đồ vật để nói bóng gió kín đáo chuyện con người nhằm nêu lên những kinh nghiệm sống, bài học luân lí, triết lí nhân sinh

- Ếch ngồi đáy giếng

- Thầy bói xem voi

- Đeo nhạc cho Mèo

- Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng

Trang 25

Truyện cười (2 tác phẩm)

- Kể lại các sự việc, hiện tượng gây cười nhằm mục đích giải trí và phê phán những thói hư tật xấu trong

- Những câu hát về tình cảm gia đình

- Những câu hát về tình yêu quê hương đất nước

- Những câu hát than thân

- Những câu hát châm biếm

Tục ngữ

- Là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh, thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt (tự nhiên, lao động, xã hội…) được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ và lời ăn tiếng nói hằng ngày

- Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất

ở sân đình gọi là chèo sân đình) Phổ biến ở vịnh Bắc

Bộ

- Quan Âm Thị Kính

Qua bảng thống kê, ta thấy: phần văn học dân gian ở lớp 6 chủ yếu là các truyện dân gian tiêu biểu của Việt Nam và thế giới (Cây bút thần – truyện cổ tích Trung Quốc và Ông lão đáng cá và con cá vàng – truyện cổ tích Nga); gồm tất cả 16 bài với 4 thể loại khác nhau Trong đó có 5 truyền thuyết, 5 truyện cổ tích, 4 truyện ngụ ngôn và 2 truyện

Trang 26

cười được học trong 14 tiết Các thể loại ở đây đã được sắp xếp theo một trình tự hợp lý theo từng thể loại Và ở mỗi đơn vị thể loại, bài dạy đã được kết cấu thành hai phần : phần tiểu dẫn được nêu lên trước nhằm chỉ ra các đặc trưng của thể loại, sau đó mới đến các tác phẩm cụ thể là những minh chứng cho các đặc trưng ấy Đặc biệt, phần văn học dân gian được sắp xếp tập trung vào đầu học kì I ở lớp 6 càng cho thấy tầm quan trọng và ý nghĩa

to lớn của nó đối với việc giáo dục và bồi dưỡng tâm hồn, đạo đức, nhân cách cho các em ngay từ những ngày đầu bước chân vào nhà trường Như vậy, học xong phần văn học dân gian THCS nói chung nhất là phần văn học dân gian lớp 6, học sinh đã nắm đựơc những thể loại đặc trưng của văn học dân gian với những tác phẩm tiêu biểu, trên cơ sở đó có đựơc một cái nhìn tổng quát về bức tranh văn học dân gian nước ta

Có thể xem như ở bậc học này đã giải quyết được những kiến thức cơ bản về văn học dân gian; góp phần lưu giữ lại trong tâm hồn các em những hình ảnh đậm đà về đất nước và con người Việt Nam

1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THCS và hứng thú học tập

1.1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lí học sinh lớp 6

“Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có một vị trí và

ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây là thời kì phát triển phức tạp nhất và cũng là thời kì chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này” [11,12] Đặc biệt là đối

với học sinh lớp 6, con người các em được cấu tạo đầy đủ các bộ phận của một cơ thể đang phát triển cả về nhận thức, nhân cách Trong đó cơ quan phát âm, ngôn ngữ cũng như tư duy, tưởng tượng, sáng tạo, tình cảm, trí nhớ phát triển mạnh phù hợp với sự tiếp nhận và thực hiện dễ dàng các hoạt động mới theo chức năng của chúng

Trong chương trình lớp 6, các em được chuyển sang nghiên cứu có hệ thống những

cơ sở của các khoa học, theo từng phân môn cụ thể… Mỗi môn học gồm những khái niệm, những quy luật được sắp xếp thành một hệ thống tương đối sâu sắc Do vậy, phần lớn các em đã có ý thức tự học, có hứng thú bền vững đối với môn học Vì thế, trong giáo

dục người giáo viên cần phải “Hiểu rõ nhu cầu, đặc điểm tâm sinh lí để kịp điều chỉnh,

uốn nắn, thúc đẩy lôi cuốn học sinh vào các hoạt động đa dạng” [24,8] Từ đó, giúp các

em “Khắc phục những khó khăn trong học tập và hình thành nhân cách một cách tốt

nhất” [11,16]

Trang 27

* Về trí nhớ:

Năng lực ghi nhớ của các em tăng lên rõ rệt, cách thức ghi nhớ được cải tiến, hiệu suất ghi nhớ cũng được nâng cao Các em có nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ tài liệu trừu tượng Có kỹ năng hoạt động tư duy và biết tiến hành các thao tác như so sánh, hệ thống hóa, phân loại, nhằm ghi nhớ tài liệu Kỹ năng nắm vững phương tiện ghi nhớ của các em được phát triển ở mức độ cao Các em đã bắt đầu biết sử dụng những phương pháp đặc biệt để ghi nhớ và ghi nhớ máy móc ngày càng nhường chỗ cho ghi nhớ lôgic Hiệu suất

của ghi nhớ trở nên tốt hơn “Các em thường phản đối các yêu cầu của giáo viên bắt học

thuộc từng câu từng chữ, có khuynh hướng muốn tái hiện bằng lời nói của mình” [11,16]

Vì thế, người giáo viên, nhất là giáo viên dạy văn học dân gian phải dạy cho các em rõ sự cần thiết phải ghi nhớ chính xác những định nghĩa, khái niệm, đặc trưng của văn học dân gian như tính truyền miệng, tính nguyên hợp, tính tập thể… hay phân biệt các thể loại của

nó như truyền thuyết với cổ tích, ngụ ngôn… Cùng với đó, phải rèn luyện cho các em có

kỹ năng trình bày chính xác nội dung bài học theo cách diễn đạt của mình Thường xuyên kiểm tra sự ghi nhớ bằng sự tái hiện để biết được hiệu quả của ghi nhớ Đặc biệt, cần hướng dẫn các em vận dụng cả hai cách ghi nhớ máy móc và ghi nhớ ý nghĩa một cách hợp lý và chỉ cho các em thiết lập các mối liên tưởng ngày càng phức tạp, gắn tài liệu mới

và cũ, giúp cho việc lĩnh hội tri thức có hệ thống hơn, đưa tài liệu vào hệ thống tri thức

* Về tư duy:

Ở lứa tuổi này, tư duy của các em bắt đầu có những biến đổi căn bản Tư duy nói chung và tư duy trừu tượng nói riêng phát triển mạnh là một đặc điểm cơ bàn của hoạt động tư duy của thiếu niên Những thành phần của tư duy trừu tượng cụ thể vẫn tiếp tục

phát triển, giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc của tư duy “Các em hiểu các dấu hiệu

bản chất của đối tượng nhưng không phải bao giờ cũng phân biệt được những dấu hiệu

đó trong mọi trường hợp” [11,17] Hơn nữa, ở tuổi các em, tính phê phán của tư duy cũng

được phát triển, các em biết lập luận giải quyết vấn đề một cách có căn cứ Các em không

dễ tin như lúc nhỏ, nhất là ở lứa tuổi này, các em đã biết vận dụng lý luận vào thực tiễn, biết lấy những điều quan sát được, những kinh nghiệm riêng của mình để minh họa kiến thức Do vậy, người giáo viên dạy văn cần lưu ý khi dạy văn học dân gian cần chú ý phát triển tư duy trừu tượng cho các em để làm cơ sở cho việc lĩnh hội kiến thức khoa học

Trang 28

trong chương trình Chỉ dẫn cho các em các biện pháp để rèn luyện kỹ năng tư duy: “Biết

phê phán cái xấu, biểu dương cái hay, cái đẹp…” thông qua các hình tượng nhân vật

trong truyện cổ tích, truyện cười, ngụ ngôn…

* Về tưởng tượng:

Các em có một khả năng tưởng tượng phong phú, sáng tạo hơn trước “Tưởng tượng

tái tạo khá đầy đủ, chính xác và mang tính khách quan hơn” [11,17] Nhờ đó, việc tái tạo

những câu chuyện dân gian tương đối chính xác Giáo viên dạy văn học dân gian cần nắm

rõ đặc điểm này để giúp các em phát huy một cách có hiệu quả nhất

* Về chú ý:

Ở giai đoạn này “Chú ý có chủ định chiếm ưu thế và khá bền vững, các em có thể tập

trung lâu dài vào một hay một số đối tượng” [11,17] Khối lượng chú ý tăng lên rõ rệt,

cùng một lúc có thể tập trung vào một số đối tượng khác nhau mà vẫn đạt kết quả cao Tuy nhiên tính lựa chọn của chú ý phát triển và phụ thuộc vào tính chất tri thức của môn học, mức độ hứng thú của các em với tri thức đó Do vậy, bằng những phương pháp – hình thức khác nhau, người giáo viên dạy văn phải luôn tạo ra sự hứng thú thu hút sự chú

ý của các em trong quá trình dạy và học các tác phẩm văn học dân gian

* Về ngôn ngữ:

“Các em nói và diễn đạt rõ ràng, lưu loát bằng ngôn ngữ của chính mình, dùng câu

đúng ngữ pháp” [11,18] Đây là đặc điểm rất thuận lợi cho quá trình tư duy trong hoạt

động dạy và học văn học dân gian, giáo viên cần giúp các em phát huy ưu thế này Thông qua quá trình kể, nói, viết, hay tái hiện các khái niệm… để giúp cho các em khắc phục những thiếu sót, hạn chế trong việc dùng từ, vốn từ, khả năng diễn đạt, phát triển ngôn ngữ cho các em…

* Về tình cảm:

“Ở lứa tuổi này, các em đã biết phục tùng lí trí, tình cảm cao cấp phát triển mạnh

mẽ” [11,22] Đạo đức các em hình thành rõ nét qua những rung động yêu ghét rõ ràng,

biết rung động trước cái đẹp, cái mới, cái sáng tạo… Tuy nhiên, “Tâm trạng thay đổi

nhanh chóng, thất thường, có lúc đang vui những chỉ vì một cớ gì đó lại sinh ra buồn ngay hoặc đang lúc bực mình nhưng gặp điều gì thích thú lại tươi cười ngay” [11,22]

Đây là một trong những biểu hiện rất độc đáo của các em: có khi bồng bột, nông nổi, dễ

Trang 29

bị kích động và dễ thay đổi… Do vậy, giáo viên cần biết sử dụng đặc điểm này trong dạy học tác phẩm dân gian một cách hợp lí để giúp các em tiếp thu bài một cách hứng thú, hiệu quả hơn

Trên đây là những đặc điểm tâm sinh lý có ảnh hưởng rất lớn đến việc bồi dưỡng hứng thú học văn học dân gian cho học sinh lớp 6 Do vậy, muốn dạy học tác phẩm dân gian đạt hiệu quả cao, tạo được hứng thú cho học sinh thì trước hết người giáo viên cần phải nắm rõ các đặc điểm tâm sinh lí của học sinh và vận dụng phối hợp các phương pháp – hình thức dạy học một cách linh hoạt Thông qua đó, đem đến sự vận động khoa học cho não bộ và các cơ quan phát âm, ngôn ngữ, tư duy Tạo ra hứng thú, rèn luyện tình cảm đạo đức ý chí, làm phong phú tâm hồn, phát triển khả năng học tập cho các em, là điều kiện để phát triển toàn diện nhân cách cho các em

1.1.3.2 Hứng thú học tập

* Khái niệm hứng thú và hứng thú học tập

Theo Côvaliôp “Hứng thú là thái độ đặc thù của cá nhân đối với một đối tượng nào

đó có ý nghĩa của nó trong đời sống và sự hấp dẫn tình cảm của nó” Sự hứng thú thể

hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê của chủ thể hoạt động bởi nội dung hoạt động, ở cả bề rộng và bề sâu của hứng thú Sự hứng thú gắn liền với tình cảm của con người, nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực vào các hoạt động đó Trong bất cứ công việc gì, nếu có hứng thú làm việc thì con người sẽ có cảm giác dễ chịu

và thoải mái, từ đó tham gia tích cực và sáng tạo hơn vào các hoạt động

Có thể nói, hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tư duy và nâng cao sức làm việc cho con người Ngược lại, nếu không có hứng thú, dù có làm gì cũng sẽ không đem lại kết quả cao Đặc biệt, đối với các hoạt động nhận thức, sáng tạo, hoạt động học tập, vui chơi giải trí khi không có hứng thú sẽ làm mất

đi động cơ hoạt động dẫn đến kết quả học tập sẽ không cao, thậm chí xuất hiện những cảm xúc tiêu cực, dễ gây ra chán nản ảnh hưởng rất lớn đến công việc học tập cũng như

cuộc sống Từ định nghĩa về hứng thú của A.G Côvaliôp chúng tôi cho rằng: “Hứng thú

học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể hoạt động đối với đối tượng của hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong đời sống của cá nhân”

Trang 30

* Đặc điểm của hứng thú

- Về cấu trúc của hứng thú:

Tiến sĩ tâm lý học N.Gmavôzôva đã dựa vào 3 biểu hiện để đưa ra quan niệm của mình về cấu trúc của hứng thú Thứ nhất, cá nhân hiểu rõ được đối tượng đã gây ra hứng thú Thứ hai, có cảm xúc sâu sắc với đối tượng gây ra hứng thú Thứ ba, cá nhân tiến hành những hành động để vươn tới chiếm lĩnh đối tượng đó Vậy theo ông thì: hứng thú liên quan đến việc người đó có xúc cảm tình cảm thực sự với đối tượng mà mình muốn chiếm lĩnh, có niềm vui tìm hiểu và nhận thức đối tượng, có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động, tự nó lôi cuốn, kích thích hứng thú, những động cơ khác không trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động chỉ có tác dụng hỗ trợ cho sự nảy sinh và duy trì hứng thú chứ không xác định bản chất hứng thú Vì vậy hứng thú là sự kết hợp giữa nhận thức, xúc cảm tích cực và hoạt động Nếu chỉ nói đến mặt nhận thức thì chỉ là sự hiểu biết của con người đối với đối tượng, còn chỉ nói đến mặt hành vi là chỉ đề cập đến hình thức biểu hiện bên ngoài, không thấy được xúc cảm của họ đối với đối tượng đó, có nghĩa là hiểu được nội dung tâm lý của hứng thú nó tiềm ẩn bên trong Hứng thú phải là sự kết hợp giữa nhận thức và xúc cảm tích cực và hành động Nghĩa là có sự kết hợp giữa sự hiểu biết về đối tượng với sự thích thú với đối tượng và tính tích cực hoạt động với đối tượng Ta có thể

khái quát thành 3 thành tố: “Nhận thức – Xúc cảm tích cực – Hoạt động” Ba thành tố này

có quan hệ chặt chẽ với nhau trong hứng thú cá nhân Để có hứng thú đối với đối tượng nào đó cần phải có các yếu tố trên Trong cấu trúc hứng thú, sự tồn tại của từng mặt riêng

lẻ không có ý nghĩa đối với hứng thú, không nói lên mức độ của hứng thú Ngược lại, nó luôn có quan hệ mật thiết với nhau, tương tác lẫn nhau

- Về biểu hiện của hứng thú:

Có 2 mức độ khác nhau: ở mức độ thứ nhất, chủ thể mới dừng lại ở việc nhận thức

về đối tượng: chưa có xúc cảm tình cảm với đối tượng đó, chưa tiến hành, hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó Còn ở mức độ thứ hai, đối tượng hứng thú thúc đẩy chủ thể hoạt động Hứng thú có thể biểu hiện ở nội dung của nó như: Hứng thú học tập, nghiên cứu khoa học, đi mua hàng, đi dạo chơi hay có thể biểu hiện ở chiều rộng, chiều sâu của nó Những người có hứng thú đối với nhiều đối tượng khác nhau, nhiều lĩnh vực khác nhau thường có cuộc sống hời hợt, bề ngoài Những người chỉ tập trung hứng thú vào một hoặc

Trang 31

một vài đối tượng thì cuộc sống thường đơn điệu Trong thực tế những người thành đạt là những người biết giới hạn hứng thú của mình trong phạm vi hợp lý, trên nền những hứng thú khác nhau, họ xác định được một hoặc một số hứng thú trung tâm mang lại ý nghĩa thúc đẩy con người hoạt động Tạo nên nguồn kích thích mạnh mẽ, tính tích cực cho cá nhân, do ảnh hưởng của nguồn kích thích này, mà tất cả các quá trình diễn ra khẩn trương, còn hoạt động trở nên say mê và đem lại hiệu quả cao

- Phân loại hứng thú:

Căn cứ vào hiệu quả của hứng thú có thể chia ra làm 2 loại: hứng thú thụ động (là loại hứng thú tĩnh quan dừng lại ở hứng thú ngắm nhìn, chiêm ngưỡng đối tượng gây nên hứng thú, không thể hiện mặt tích cực để nhận thức sâu hơn đối tượng, làm chủ đối tượng

và hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực mình hấp thụ) và hứng thú tích cực (không chỉ chiêm ngưỡng đối tượng gây nên hứng thú, mà lao vào hoạt động với mục đích chiếm lĩnh được đối tượng Nó là một trong những nguồn kích thích sự phát triển nhân cách, hình thành kỹ năng kỹ xảo, nguồn gốc của sự sáng tạo)

Căn cứ vào nội dung đối tượng, nội dung hoạt động lại chia ra làm 5 loại: hứng thú vật chất (là loại hứng thú biểu hiện thànhnguyện vọng như muốn có chỗ ở đầy đủ, tiện nghi, ăn ngon, mặc đẹp ) Hứng thú nhận thức (ta có thể hiểu hứng thú dưới hình thức học tập như: hứng thú vật lý học, hứng thú triết học, hứng thú tâm lý học ) Hứng thú lao động nghề nghiệp (hứng thú một ngành nghề cụ thể: hứng thú nghề sư phạm, nghề bác sĩ ) Hứng thú xã hội – chính trị (hứng thú một lĩnh vực hoạt động chính trị) Hứng thú mĩ thuật (hứng thú về cái hay, cái đẹp như văn học, phim ảnh, âm nhạc )

Căn cứ vào khối lượng của hứng thú chia ra làm hai loại Một là hứng thú rộng (bao quát nhiều lĩnh vực nhiều mặt nhưng không sâu) Hai là hứng thú hẹp (hứng thú với từng mặt, từng ngành nghề, lĩnh vực cụ thể ) Như vậy, trong cuộc sống cá nhân đòi hỏi có hứng thú rộng - hẹp, vì chỉ có hứng thú hẹp mà không có hứng thú rộng thì nhân cách của

họ sẽ không toàn diện, song chỉ có hứng thú rộng thì sự phát triển nhân cách cá nhân sẽ hời hợt thiếu sự sâu sắc

Căn cứ vào tính bền vững chia ra làm 2 loại: hứng thú bền vững (thường gắn liền với năng lực cao và sự nhận thức sâu sắc nghĩa vụ và thiên hướng của mình) và hứng thú không bền vững (thường bắt nguồn từ nhận thức hời hợt đối tượng hứng thú)

Trang 32

Căn cứ vào chiều sâu của hứng thú chia ra làm 2 loại: hứng thú sâu sắc (thường thể hiện thái độ thận trọng có trách nhiệm với hoạt động, công việc Mong muốn đi sâu vào đối tượng nhận thức, đi sâu nắm vững đến mức hoàn hảo đối tượng của mình) Hai là hứng thú hời hợt bên ngoài (đây là những người qua loa đại khái trong quá trình nhận thức, trong thực tiễn họ là những người nhẹ dạ nông nổi)

Căn cứ vào chiều hướng của hứng thú có thể chia ra làm 2 loại: hứng thú trực tiếp (hứng thú đối với bản thân quá trình hoạt động, hứng thú với quá trình nhận thức, quá trình lao động, và hoạt động sáng tạo) và hứng thú gián tiếp (loại hứng thú với kết quả hoạt động)

1.1.3.3 Vai trò của hứng thú

* Đối với hoạt động nói chung:

Trong quá trình hoạt động của con người, cùng với nhu cầu, hứng thú kích thích hoạt động làm cho con người say mê hoạt động đem lại hiệu quả cao trong hoạt động của mình Hứng thú hình thành và phát triển dẫn đến nhu cầu trong lĩch vực đó phát triển dễ dàng hơn Nhu cầu và hứng thú có quan hệ mật thiết với nhau, nhu cầu là tiền đề, cơ sở của hứng thú, khi có hứng thú với một cái gì thì cá nhân sẽ hoạt động tích cực chiếm lĩnh đối tượng để thỏa mãn nhu cầu trong cuộc sống lúc đó xuất hiện nhu cầu mới cao hơn Công việc nào có hứng thú cao hơn thì người thực hiện nó một cách dễ dàng, có hiệu quả cao, tạo ra xúc cảm dương tính mạnh mẽ đối với người tiến hành hoạt động đó, và họ sẽ tìm thấy niềm vui trong công việc, công việc trở nên nhẹ nhàng, ít tốn công sức hơn, có

sự tập trung cao Ngược lại người ta cảm thấy gượng ép, công việc trở nên nặng nhọc khó khăn làm cho người ta mệt mỏi, chất lượng hoạt động giảm rõ rệt

* Đối với hoạt động nhận thức:

Hứng thú là động lực giúp con người tiến hành hoạt động nhận thức đạt hiệu quả, hứng thú tạo ra động cơ quan trọng của hoạt động Hứng thú làm tích cực hóa các quá trình tâm lý (tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng )

* Đối với năng lực:

Khi chúng ta được làm việc phù hợp với hứng thú, thì dù phải vượt qua muôn ngàn khó khăn, người ta vẫn cảm thấy thoải mái làm cho năng lực trong lĩnh vực hoạt động ấy

dễ dàng hình thành, phát triển “Năng lực phụ thuộc vào sự luyện tập, nhưng chỉ có hứng

Trang 33

thú mới cho phép người ta say sưa làm một việc gì đó tương đối lâu dài không mệt mỏi

mà không sớm thỏa mãn mà thôi Hứng thú làm cho năng khiếu thêm sắc bén” Đối với

người học việc hình thành năng lực phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có hứng thú của người học đối với môn học là rất quan trọng, trong quá trình giảng dạy giảng viên phải thu hút được người học vào bài giảng làm cho người học có hứng thú đối với môn học Hứng thú là yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển năng lực cá nhân Nghĩa là hứng thú và năng lực có quan hệ biện chứng với nhau, cái này làm tiền đề cho cái kia và ngược lại Hứng thú và năng lực là một cặp không tách rời khỏi nhau, nếu hứng thú không thực sự sâu sắc, đầy đủ, nói chung hứng thú không được nuôi dưỡng lâu dài nếu không có những năng lực cần thiết để thỏa mãn hứng thú Đối với người học hứng thú học tập có vai trò quan trọng Nó tạo ra động cơ chủ đạo của hoạt động học tập hình thành năng lực cần thiết cho người học Nó có quan hệ mật thiết với nhau, tương tác lẫn nhau, Vì vậy việc hình thành và phát triển hứng thú nói chung và hứng thú học tập nói riêng là một việc làm rất cần thiết

Với vai trò đặc biệt quan trọng như vậy, người dạy văn và người học văn muốn đạt kết quả cao nhất thiết phải tạo cho mình một sự ham thích, say mê, tìm tòi sáng tạo ở mức

độ cao hơn bình thường Bởi chỉ có ham thích mới chăm chỉ, chịu khó học và có như vậy mới có điều kiện đạt kết quả tốt Hay nói cách khác có hứng thú, say mê học tốt môn văn học dân gian thì mới có tiền đề để học giỏi môn Ngữ văn nói chung và phần văn học dân gian nói riêng

1.1.4 Ý nghĩa của việc bồi dưỡng hứng thú học văn học dân gian cho học sinh lớp 6

Như đã nói ở trên, hứng thú có một vai trò quan trọng hàng đầu trong quá trình hoạt động của con người Nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực vào hoạt động Khi được làm việc phù hợp với hứng thú thì dù gặp khó khăn con người cũng vẫn cảm thấy thoải mái và đạt được hiệu quả cao Thực tế cho thấy hứng thú đối với các bộ môn của học sinh luôn tỉ lệ thuận với kết quả học tập của các em Do vậy, bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh là một trong những điều cốt yếu trong quá trình dạy và học văn nói chung và văn học dân gian nói riêng Bởi hứng thú là biểu hiện trong sự tập trung cao độ của chú ý, nó làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức Vì nó có quan hệ với chú ý và tình cảm nên khi đã có hứng thú thì thường hướng toàn bộ quá trình nhận thức vào toàn

Trang 34

bộ đối tượng, khiến quá trình đó nhạy bén và sâu sắc hơn Hứng thú nảy sinh hành động

và hành động sáng tạo Hứng thú phát triển sâu sắc tạo ra nhu cầu cao cho các em, các em

sẽ phải hành động để thoả mãn hứng thú đó Những hành động phù hợp với hứng thú như vậy thường được tiến hành một cách hết sức tự giác, đầy tính sáng tạo nên bao giờ cũng

có kết quả cao Cho nên khi có hứng thú thì các em tham gia vào bài học rất tích cực, làm

tăng hiệu quả của quá trình nhận thức Do vậy, “Bồi dưỡng hứng thú học văn học dân

gian cho học sinh lớp 6”là một trong những việc làm rất hữu ích Bởi vì phần văn học dân

gian trong chương trình ngữ văn lớp 6 giữ một vị trí quan trọng trong chương trình văn học ở THCS Nó có ưu thế và sức mạnh riêng trong việc bồi dưỡng vẻ đẹp dân gian và bồi đắp tâm hồn cho thế hệ trẻ của đất nước Nhất là trong thời đại hội nhập quốc tế, đời sống ngày càng được nâng cao, cuộc sống xô bồ nhiều khi làm chúng ta lãng quên đi những giá trị tốt đẹp của lịch sử thì việc giữ gìn bản sắc của dân tộc của các quốc gia lại càng quan trọng hơn Những tác phẩm văn học dân gian sẽ bồi đắp cho các em một tình yêu văn học, tình yêu quê hương và đặc biệt là lòng tự hào về lịch sử, cội nguồn của dân tộc Góp phần tích cực vào việc bồi đắp tâm hồn dân tộc cho thế hệ trẻ khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường Thông qua việc bồi dưỡng hứng thú học văn học dân gian cho học sinh lớp 6, ta dễ dàng bồi đắp cho các em hứng thú học tập, giúp các em mở rộng hiểu biết, phát triển trí tuệ và đặc biệt là góp phần tạo dựng và hoàn thiện nhân cách, làm

phong phú thêm cho tâm hồn các em “Giúp các em có ý thức tự tu dưỡng, biết thương

yêu, quý trọng gia đình, bè bạn, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căn ghét cái xấu, cái ác… ” [32,138] Và đó sẽ là hành trang tinh thần cho các

em vững bước trong tương lai

Trang 35

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ HỌC VĂN

HỌC DÂN GIAN CHO HỌC SINH LỚP 6

Để dạy và học tốt bộ môn Ngữ văn nói chung và phần văn học dân gian lớp 6 nói riêng, người giáo viên cũng như học sinh trước hết phải có niềm say mê, yêu thích văn chương, có tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc, thêm vào đó là một vốn tri thức phong phú, dồi dào Muốn có được tất cả những điều đó người giáo viên phải không ngừng học tập

và rèn luyện cho mình những chuẩn mực, kiến thức chuyên môn ngay từ khi là sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường Thực tế cho thấy không có phương pháp giảng dạy nào có

ưu điểm tuyệt đối cho mọi trường hợp Mỗi phương pháp đều có ưu điểm và hạn chế riêng, phù hợp cho những trường hợp khác nhau về nội dung và đặc điểm môn học, mục tiêu bài dạy, thời lượng, số lượng học sinh trong lớp Vì vậy, người giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo và chủ động trong việc sử dụng các phương pháp dạy học để tạo hứng thú

cho học sinh Trong khuôn khổ của khóa luận của đề tài “Bồi dưỡng hứng thú học văn

học dân gian cho học sinh lớp 6” tôi tập trung đề cập đến một số biện pháp cơ bản, đơn

giản, dễ thực hiện nhằm tạo hứng thú và đem lại hiệu quả cao trong dạy và học phần văn học dân gian lớp 6

2.1 Các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học văn học dân gian cho học sinh lớp 6 2.1.1 Tạo tâm thế cho học sinh trong giờ dạy - học tác phẩm văn học dân gian

Có nhiều cách để tạo hứng thú cho học sinh, tuy nhiên với đặc thù của bộ môn văn học dân gian thì việc tạo tâm thế trong giờ dạy là một biện pháp rất hữu ích, thu hút sự

quan tâm chú ý lắng nghe từ phía học sinh GS Phan Trọng Luận đã từng viết: “Thi pháp

văn học dân gian nhắc chúng ta một điều quan trọng trong phương pháp dạy: phải chú ý tới tâm thức học sinh và những khoảng cách về nhiều mặt của các em đối với thế giới văn học dân gian cổ xưa ở làng quê – đặc biệt là đối với học sinh thành thị - khi hướng dẫn các em học văn học dân gian trong nhà trường” [14,346] Theo đó, tạo tâm thế cho học

sinh được coi là một trong những yếu tố quan trọng trong việc tiếp thu, lĩnh hội các tác

phẩm văn học dân gian “Khoảng cách” ở đây chính là “Những khoảng cách về thời đại,

về văn hóa, về tâm lí, biểu tượng, ngôn ngữ, về cách cảm, cách nghĩ… ” [14,346] Đó

chính là những hàng rào ngăn cách không cho các em đến được với thế giới của văn học dân gian để khám phá ra những vẻ đẹp đậm đà và thi vị của nó Do vậy, là một người giáo

Trang 36

viên dạy văn học dân gian, bằng mọi cách khác nhau phải tái tạo lại môi trường dân gian nên thơ và không khí cổ xưa của làng quê Việt đậm sắc màu dân tộc Qua đó, cung cấp thêm cho các em những hiểu biết về phong tục tập quán, về cách cảm, cách nghĩ, về tâm lí

và ngôn ngữ của người bình dân trong văn học dân gian, và khi cần có thể sử dụng một cách hợp lí các làn điệu dân ca và các hình thức diễn xướng dân gian để đưa học sinh về với thế giới của văn học dân gian, sống trong thế giới trữ tình dân gian thi vị ấy Nghĩa là phải tạo ra cho các em một tâm thế để các em cảm thụ và tiếp nhận các tác phẩm văn học

dân gian Đó cũng là một biện pháp hữu ích để “Gợi hồn quê dân tộc, đưa các em về với

cội nguồn đất nước, làm giàu thêm tâm hồn, hoàn thiện thêm nhân cách của thế hệ trẻ”

[14,347] Có thể nói, đây cũng là con đường truyền tải tốt nhất tác phẩm văn học dân gian đến với học sinh Tạo cho các em sự hứng thú nhất định để tiếp thu các kiến thức trong tác phẩm văn học dân gian

2.1.2 Tạo hứng thú cho học sinh thông qua lời dẫn, lời kể sáng tạo

Với đặc thù của bộ môn văn học dân gian – việc thể hiện lời dẫn, lời kể sáng tạo của giáo viên trong giờ dạy học tác phẩm văn học dân gian có ý nghĩa rất lớn Lời dẫn, lời kể sáng tạo ở đây có ý nghĩa xác lập hoàn cảnh riêng, chú ý riêng, tách biệt hoàn cảnh của giờ học với hoàn cảnh thực tại đang diễn ra một cách khách quan Về một phương diện nào đó, có thể gọi đó là xác định hoàn cảnh có tính chất chủ quan nhằm tạo những điều kiện cần và đủ cho hoạt động học tập của học sinh Việc thể hiện lời kể, lời dẫn sáng tạo của giáo viên chính là quá trình định hướng sư phạm và dẫn dắt hoạt động tích cực của học sinh vào một thế giới có đối tượng Lời dẫn của giáo viên khi bài học bắt đầu có ý nghĩa tạo ra một tâm thế đặc trưng cho học sinh định hướng nhận thức Đó chính là việc thiết lập một dòng liên tưởng cảm xúc hay một dự cảm khái quát cho những hình dung, tưởng tượng nghệ thuật của học sinh Nó kết thúc hoặc ngắt mạch sự chú ý của học sinh vào các đối tượng hoặc mối quan tâm khác và đưa học sinh hưng phấn với bầu không khí của thực tại, dấy lên cảm xúc mới mẻ, hào hứng trước những vấn đề đã được đặt ra trong tác phẩm Yêu cầu đối với lời dẫn của giáo viên đó là: lời dẫn phải dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học cơ bản, kết hợp với kỹ năng sư phạm vững vàng, thông qua ngôn ngữ và cử chỉ diễn đạt, mở ra không khí mới lạ, kích thích hưng phấn và gây được sự chú

ý của học sinh Lời dẫn của giáo viên càng hấp dẫn, mới mẻ và sáng tạo càng có khả năng

Trang 37

nhanh chóng gây được hứng thú của học sinh Ngược lại, lời dẫn rời rạc hoặc qua loa dễ dẫn đến tình trạng khi giờ học đã bắt đầu những học sinh có vẻ chưa tập trung hoặc hoàn toàn ở ngoài thế giới nghệ thuật của tác phẩm Lời dẫn hay đôi khi phụ thuộc vào những yếu tố chủ quan và khách quan Yếu tố chủ quan là những hiểu biết về chuyên môn, chất giọng và khả năng diễn đạt kiến thức, kỹ năng sư phạm Có thể kết hợp chất giọng truyền cảm với những cử chỉ của mắt, tay, đầu, cách ngắt giọng… Giáo viên có thể tạo nên những ngữ cảnh sư phạm Yếu tố khách quan là vấn đề lựa chọn dung lượng kiến thức và phương pháp diễn đạt phù hợp Về nội dung, lời dẫn cần ngắn gọn, súc tích nhưng phải nêu lên được vấn đề trọng tâm Nghĩa là định hướng phải xác định rõ ràng đối tượng cho bài học Lời dẫn quá ngắn sẽ không đủ ý, lời dẫn quá dài sẽ gây phân tán chú ý của học sinh khó xác định trọng tâm và phương hướng nhận thức Về hình thức, tuỳ theo từng yêu cầu bài dạy học tác phẩm văn chương có thể thực hiện linh hoạt các bài dẫn: lời dẫn trực tiếp (là lời dẫn có tính chất định tính, định danh vấn đề, có thể nêu trực tiếp về tác giả, tác phẩm, thể loại… ) hay lời dẫn gián tiếp (là loại lời dẫn có tính chất phản đề hoặc nêu vấn

đề tăng cường sự chú ý của học sinh vào tác phẩm)

Lời dẫn xuất phát từ chính hiểu biết của giáo viên về bài học hoặc những tham khảo

có liên quan tới bài học Phải xây dựng được mối liên hệ lôgic chặt chẽ giữa lời dẫn với vấn đề bản chất của bài học, đồng thời đảm bảo tính định hướng cho quá trình tiếp nhận Đặc biệt, lời dẫn, lời kể sáng tạo được thể hiện trong khi đánh giá tác phẩm dân gian sẽ tạo hứng thú ở các em, giúp các em hình thành năng lực khái quát về tiếp nhận các giá trị của văn học dân gian

2.1.3 Tạo hứng thú cho học sinh thông qua hệ thống câu hỏi - bài tập

Câu hỏi trong dạy học là một dạng cấu trúc ngôn ngữ để diễn đạt một yêu cầu, đòi hỏi, một mệnh lệnh mà người học cần phải giải quyết Thông qua hệ thống câu hỏi, người giáo viên thực hiện việc giảng bài, nhằm luyện tập, thực hành, hướng dẫn tổ chức học sinh học, nhằm khích lệ và kích thích suy nghĩ, đánh giá học sinh Ở đây, hệ thống câu hỏi bài tập trong bài dạy học tác phẩm dân gian có thể gồm nhiều dạng khác nhau như các câu hỏi – bài tập trong sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo hay các bài tập câu hỏi do giáo viên sáng tạo nên Tuy nhiên, với đặc thù của văn học dân gian ta có thể kể đến những loại câu hỏi, bài tập gây được nhiều hứng thú từ học sinh như: câu hỏi tìm hiểu

Trang 38

đặc trưng thể loại, câu hỏi đòi hỏi đối chiếu, so sánh các dị bản, câu hỏi yêu cầu tìm hiểu tình tiết chính tạo nên cốt truyện và sơ đồ diễn biến cốt truyện

Câu hỏi đòi hỏi đối chiếu, so sánh các dị bản: Nằm trong hệ thống câu hỏi tìm hiểu

nội dung và nghệ thuật của tác phẩm và khai thác cảm nhận của học sinh Đây là loại câu hỏi làm nổi bật đặc trưng riêng biệt của văn học dân gian so với các bộ phận văn học khác, nhằm giúp học sinh có cái nhìn toàn diện hơn về tác phẩm, làm nổi bật vẻ đẹp của đặc điểm thi pháp văn học dân gian Đặc điểm của dạng câu hỏi này thể hiện qua bảng sau:

Biết

- Nêu các điểm khác biệt giữa các

dị bản

- Sử dụng ở phần hướng dẫn học sinh tìm hiểu phần tiểu dẫn

Hiểu, vận dụng - Nêu ý nghĩa của các điểm tương

đồng và khác biệt đó và lý giải

Sáng tạo - Thể hiện quan điểm của cá nhân

về các dị bản trong truyện

- Sử dụng ở phần hướng dẫn đọc hiểu văn bản và củng

Biết - Kể lại các diễn biến chính của câu

chuyện, tìm tình tiết

Hiểu, vận dụng

- Phân tích và nêu ý nghĩa của các chi tiết, tình tiết trong vai tò thúc đẩy cốt truyện phát triển

Sáng tạo - Đánh giá và sáng tạo thêm các chi

tiết khác cho câu chuyện

- Sử dụng ở phần hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản và phần củng cố- luyện tập

Trang 39

Câu hỏi yêu cầu phân tích để rút ra ý nghĩa của hình tượng nghệ thuật: thuộc cả ba

hệ thống: cảm xúc, tìm hiểu nội dung và nghệ thuật, hình dung tưởng tượng Loại câu hỏi

này nhằm giúp học sinh phát huy năng lực khái quát, từ những chi tiết, tình tiết cụ thể tìm

ra ý nghĩa của hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm: trong việc phản ánh các sự kiện cộng đồng, sự kiện lịch sử, mối quan hệ xã hội Đặc điểm của dạng câu hỏi này là: từ việc phân tích hình tượng nghệ thuật, học sinh phải tìm ra ý nghĩa nhân sinh, bài học mà người xưa gửi gắm đằng sau hình tượng đó Nếu dạng câu hỏi tìm hiểu tình tiết chính tạo nên cốt truyện và sơ đồ diễn biến cốt truyện, yêu cầu phân tích các tình tiết, chi tiết thì dạng câu hỏi này yêu cầu ở mức độ khái quát cao hơn Thông qua tìm hiểu các chi tiết, học sinh khái quát đặc điểm của hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, cùng ý nghĩa của chúng Để trả lời được loại câu hỏi này, nhận thức của học sinh về bài học không dừng lại

ở mức độ biết mà từ mức độ hiểu, vận dụng tới sáng tạo

Câu hỏi để tổ chức đánh giá tác phẩm về nội dung và nghệ thuật: thuộc cả 3 hệ

thống câu hỏi: cảm xúc, tìm hiểu nội dung và nghệ thuật, hình dung tưởng tượng, giúp học sinh khái quát toàn bộ giá trị, tư tưởng của tác phẩm, phát huy sức sáng tạo và cảm nhận của người học Đặc điểm của dạng câu hỏi này thể hiện qua bảng sau:

Biết - Nhắc lại những giá trị cơ

bản của tác phẩm

Hiểu, vận dụng

- Đánh giá, cảm nhận của bản thân về chi tiết, nhân vật truyện So sánh trong hệ thống các tác phẩm cùng thể loại và khác thể loại

Sáng tạo - Liên hệ với bản thân và thực

tế cuộc sống

- Sử dụng ở phần tiểu kết, tổng kết, luyện tập-củng

cố

Câu hỏi tìm hiểu đặc trưng thể loại: nằm trong hệ thống câu hỏi tìm hiểu nội dung

và nghệ thuật của tác phẩm giúp học sinh nhận diện các dấu hiệu về thể loại và thấy được vai trò của chúng trong việc chi phối nội dung, nghệ thuật của văn bản…

Trang 40

Ngoài ra, người giáo viên cũng có thể sử dụng các loại câu hỏi, bài tập khác tùy theo điều kiện thực tế để tạo hứng thú cho học sinh Thông qua hệ thống câu hỏi, người giáo viên dễ dàng lôi cuốn học sinh tham gia vào bài học một cách hứng thú hơn Học sinh có thể tự chiếm lĩnh tri thức thông qua hệ thống câu hỏi Phát huy trí tưởng tượng và năng lực sáng tạo một cách độc lập Từ đó, tham gia tranh luận, tích cực xây dựng bài sôi nổi Tóm lại, để đưa ra một hệ thống câu hỏi là một công việc không dễ và đặt câu hỏi hay, hiệu quả, gây được hứng thú ở học sinh lại càng khó hơn Tuy nhiên, khó không phải

là không làm được Nhất là đối với bộ môn này, việc xây dựng một hệ thống câu hỏi phù hợp sẽ đem lại những kết quả rất hứu ích cho cả giáo viên và học sinh

2.1.4 Tạo hứng thú cho học sinh thông qua việc sử dụng các phương tiện dạy học

Trước hết, “Phương tiện dạy học nói chung là toàn bộ những trang thiết bị, đồ dùng,

dụng cụ được sử dụng phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy và học tập trong nhà trường”

Phương tiện dạy học tạo điều kiện thuận lợi để truyền thụ tri thức, hình thành các kỹ năng, phát triển hứng thú học tập giúp các em nắm vững kiến thức, phát triển năng lực nhận thức và hình thành nhân cách cho học sinh Trong xã hội hiện nay, các phương tiện dạy học rất phong phú và đa dạng Bên cạnh những phương tiện dạy học truyền thống như sách giáo khoa, giáo trình, bảng viết, bảng phụ, tranh ảnh đã chuẩn bị sẵn có thể kể đến những phương tiện dạy học hiện đại như: máy chiếu đa năng, các đoạn phim, video cip dưới sự hỗ trợ của các phần mềm như Powerpoint, Mindmap đã được đưa vào ứng dụng

và đem lại hiệu quả rất thiết thực Tuy nhiên, để sử dụng các phương tiện dạy học một cách hiệu quả, người giáo viên cần phải biết lựa chọn, vận dụng phối hợp các phương tiện một cách phù hợp, đúng lúc, đúng thời điểm Theo PGS TS Hà Nguyễn Kim Giang:

“Chất lượng dạy học của một môn học phụ thuộc vào cá nhân người dạy bao nhiêu thì

cũng phụ thuộc vào các phương tiện học tập mà người đó có thể sử dụng thành thạo bấy

Với đặc thù của văn học dân gian, người giáo viên phải căn cứ vào mục đích sử dụng

ở tất cả các giai đoạn của quá trình dạy học để lựa chọn những phương tiện dạy học phù hợp, đem lại hiệu quả cao nhất tạo hứng thú cho học sinh Trong khuôn khổ của khóa luận này, chúng tôi chỉ đề cập đến việc sử dụng máy chiếu Bởi trong xã hội công nghệ thông tin ngày càng phát triển thì máy chiếu được sử dụng rất phổ biến Thông qua phương tiện

Ngày đăng: 21/09/2015, 09:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức tổ chức thảo - Bồi dưỡng hứng thú học văn học dân gian cho học sinh lớp 6
Hình th ức tổ chức thảo (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w