20 CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP SỬ DỤNG TÁC PHẨM ĐÃ CÔNG BỐ KHÔNG PHẢI XIN PHÉP KHÔNG PHẢI TRẢ TIỀN NHUẬN BÚT, THÙ LAO .... Các trường h
Trang 1TRẢ TIỀN NHUẬN BÚT THÙ LAO THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Ths Nguyễn Phan Khôi Phạm Nguyễn Huyền Trân
Bộ môn Luật Tư pháp MSSV: 5106110
Lớp: Luật Thương mại 2 - K36
Cần Thơ, tháng 12 năm 2013
Trang 2GVHD Nguyễn Phan Khôi SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, người viết đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình cùng với giúp đỡ quý báu của các thầy cô Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ, không chỉ mang lại cho người những kiến thức
cơ bản trong lĩnh vực học tập mà còn cả cách sống, cách làm khi bước chân ra
xã hội
Đặc biệt, người xin chân thành cảm ơn sự quan tâm chỉ dẫn tận tình của
Thầy Nguyễn Phan Khôi đã tạo điều kiện giúp người có thể hoàn thành tốt nhất
Luận văn tốt nghiệp này
Vì kiến thức và thời gian có hạn, thêm vào đó do lần đầu tiên tiếp xúc nên Luận văn này không tránh khỏi những sai sót, người rất mong nhận được sự đóng góp của quý Thầy Cô để Luận văn được tốt hơn
Cuối cùng người xin kính chúc quý Thầy Cô luôn dồi dào sức khỏe, gặt hái được nhiều thành công trong công tác giảng dạy, nghiên cứu
Xin trân trọng kính chào!
Cần Thơ, tháng 11 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Phạm Nguyễn Huyền Trân
Trang 3GVHD Nguyễn Phan Khôi SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
GVHD Nguyễn Phan Khôi SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
Trang 5
GVHD Nguyễn Phan Khôi SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP SỬ DỤNG TÁC PHẨM ĐÃ CÔNG BỐ KHÔNG PHẢI XIN PHÉP, KHÔNG PHẢI TRẢ TIỀN NHUẬN BÚT, THÙ LAO 5
1.1 Khái quát chung về quyền sở hữu trí tuệ 5
1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ 5
1.1.2 Đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ 6
1.1.3 Phân loại quyền sở hữu trí tuệ 7
1.2 Khái quát chung về quyền tác giả liên quan đến tác phẩm 7
1.2.1 Khái niệm về quyền tác giả 7
1.2.2 Đặc điểm của quyền tác giả 9
1.2.3 Ý nghĩa, vai trò của quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả 11
1.3 Khái quát chung về những quy định của pháp luật liên quan đến hạn chế độc quyền của quyền tác giả 13
1.3.1 Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao 14
1.3.2 Đặc điểm của việc sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao 15
1.3.3 Sơ lược các quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo pháp luật Việt Nam và quốc tế 16
1.3.3.1 Các quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo pháp luật Việt Nam 17
Trang 6GVHD Nguyễn Phan Khôi SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
1.3.3.2 Các quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo pháp luật các nước 18
1.3.3.3 Các quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo Công ước Berne 20
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP SỬ DỤNG TÁC PHẨM ĐÃ CÔNG BỐ KHÔNG PHẢI XIN PHÉP KHÔNG PHẢI TRẢ TIỀN NHUẬN BÚT, THÙ LAO 24 2.1 Phân tích các quy định của pháp luật về các trường hợp sử dụng tác phẩm
đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao 24
2.1.1 Các loại hình tác phẩm đã công bố được bảo hộ quyền tác giả được sử dụng không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao 24 2.1.2 Phân tích các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo quy định của pháp luật Việt Nam 26
2.1.2.1 Nhóm các trường hợp sao chép tác phẩm không cần phải xin phép, không cần phải trả tiền nhuận bút, thù lao 26 2.1.2.2 Nhóm các trường hợp trích dẫn, chuyển, nhập khẩu tác phẩm mà không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao 27
2.1.2.3 Nhóm các trường hợp còn lại 29 2.1.3 Các yêu cầu trong việc sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo quy định của pháp luật 32
2.2 So sánh hai quy định của pháp luật về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao với các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao 36
2.2.1 So sánh về mặt chủ thể 36
Trang 7GVHD Nguyễn Phan Khôi SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
2.2.2 So sánh về nội dung của hai điều luật 36
2.3 Các hành vi gây xâm phạm quyền tác giả trong quá trình sử dụng các quyền theo quy định của Điều 25 40
2.4 Các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả 44
2.4.1 Áp dụng biện pháp dân sự 44
2.4.3 Áp dụng biện pháp hình sự 48
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG TÁC PHẨM ĐÃ CÔNG BỐ KHÔNG PHẢI XIN PHÉP, KHÔNG PHẢI TRẢ TIỀN NHUẬN BÚT, THÙ LAO VÀ BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT 52
3.1 Thực trạng trong việc sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao ở nước ta hiện nay 52
3.1.1 Tình hình thực trạng 52
3.1.2 Nguyên nhân 60
3.2 Một số bất cập trong quy định của pháp luật liên quan đến việc sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao62 3.3 Một số giải pháp 67
3.3.1 Giải pháp chung 67
3.3.2 Một số giải pháp kiến nghị 67
KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8GVHD Nguyễn Phan Khôi 1 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với xu thế hội nhập hóa toàn cầu như hiện nay, vấn đề sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng đang được nhà nước, cá nhân và đặc biệt là các doanh nghiệp hết sức quan tâm Tài sản trí tuệ là một loại tài sản vô hình nhưng có giá trị rất to lớn đối với sự phát triển của cá nhân sở hữu nói riêng và nền kinh tế
cả nước nói chung Sự phát triển của một đất nước phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động sáng tạo của người dân và khuyến khích sáng tạo cá nhân, phổ biến các sáng tạo đó là điều kiện thiết yếu đối với quá trình phát triển Bảo hộ quyền tác giả là công cụ hữu hiệu nhất nhằm khuyến khích, làm giàu và phổ biến di sản văn hóa quốc gia
Hiện nay, trong thời đại công nghệ thông tin phát triển bùng nổ, nhu cầu được tiếp cận với tri thức thời đại, thưởng thức các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học của con người rất lớn vì vậy quyền tác giả càng được quan tâm, vấn đề đặt ra
là làm sao chúng ta thực hiện một cách hài hòa nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu tác phẩm với lợi ích của xã hội để có thể đáp ứng được một cách tốt nhất nhu cầu của xã hội mà vẫn bảo vệ được quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm nhằm khuyến khích sự sáng tạo và thực hiện các cam kết quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực sử dụng tác phẩm hiện nay Bước đầu tiên là thông qua pháp luật để cụ thể hóa nguyên tắc này, ngay từ Bộ Luật dân sự 1995 chúng ta đã dành hai điều khoản quy định về vấn đề này Điều 760 Bộ Luật dân sự 1995 quy
định: “Cá nhân, tổ chức được sử dụng tác phẩm của người khác đã được công bố, phổ biến, nếu tác phẩm không bị cấm sao chụp và việc sử dụng đó không nhằm mục đích kinh doanh và không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không xâm hại đến các quyền lợi khác của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm; cá nhân, tổ chức sử dụng tác phẩm không phải xin phép và không phải trả thù lao ” Điều 761 Bộ Luật dân sự 1995 quy định về các hình thức sử dụng tác
phẩm không phải xin phép, không phải trả thù lao trong đó có hình thức sao lại tác phẩm để sử dụng riêng Hiện tại Bộ Luật dân sự 1995 đã hết hiệu lực, Bộ Luật dân sự 2005 hiện hành chỉ quy định những nội dung mang tính nguyên tắc về quyền sở hữu trí tuệ còn các nội dung cụ thể được quy định tại Luật sở hữu trí tuệ (SHTT)
Cụ thể Điều 25 Luật SHTT hiện hành quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao và
Trang 9GVHD Nguyễn Phan Khôi 2 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
được Nghị định 100/2006/NĐ-CP, Nghị định 85/20011/NĐ-CP bổ sung, giải thích thêm Việc quy định điều này đã đưa các tác phẩm đến gần với công chúng thông qua việc pháp luật cho phép sử dụng tự do tác phẩm trong một số trường hợp nhất định Pháp luật đã tạo lập môi trường khuyến khích tự do sáng tạo các giá trị văn học, nghệ thuật và khoa học, thúc đẩy phong trào nghiên cứu, sáng tạo nói chung, trong giới trí thức, văn nghệ sĩ nói riêng Pháp luật là phương tiện để tác giả bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, là công cụ để quản lý, giữ gìn trật tự xã hội về quyền tác giả, ngăn chặn những sản phẩm văn hóa độc hại, bất lợi cho cộng đồng
và lợi ích quốc gia.Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hiện nay tình trạng vi phạm quyền tác giả cũng đã diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực và ngày càng phổ biến: thị trường băng, đĩa âm thanh, băng, đĩa hình được báo động về tình trạng nhập lậu qua biên giới, sao chép tùy tiện đã gây thiệt hại cho các chủ sở hữu tác phẩm Tình trạng in lậu sách vẫn chưa được chấm dứt Việc sao chép, sử dụng không phép các chương trình phần mềm đang là vấn đề gây ảnh hưởng đến chính sách đầu tư phát triển công nghệ thông tin của Nhà nước, làm thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm Cùng với đó, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy những quy phạm của quy định này còn nhiều bất cập, một số quy định chưa chặt chẽ và thống nhất về nội dung Chính vì vậy, trước tình trạng sử dụng tác phẩm phổ biến hiện nay, dù pháp luật cho phép nhưng với trình độ luật pháp hạn chế của người dân thì tình trạng xâm phạm quyền tác giả vẫn còn diễn ra Việc nghiên cứu về quy định các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao trong pháp luật SHTT là vấn đề mang tính cấp thiết, có ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật Từ những lý do trên, người
viết đã quyết định chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp là “các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo pháp luật Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở những kiến thức đã được tích lũy trong quá trình học tập, kế thừa những công trình nghiên cứu của các tác giả liên quan đến đề tài này, cũng như từ
cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đánh giá thực trạng áp dụng quy định Điều
25 Luật SHTT, người viết muốn tìm hiểu và làm sáng tỏ những quy định của Điều
25, đồng thời làm rõ những mặt tích cực và hạn chế, bất cập gặp phải trong quá trình áp dụng pháp luật Qua đó, người viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn
Trang 10GVHD Nguyễn Phan Khôi 3 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn Với mục tiêu nghiên cứu rõ ràng đã nêu, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu một số vấn đề trọng tâm như sau:
Về mặt lý luận: Đầu tiên trong luận văn sẽ khái quát về quyền SHTT và quyền tác giả để làm người đọc có cái nhìn sơ lược bằng cách người viết sẽ
đi vào làm sáng tỏ các khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao, luận văn đi sâu vào khai thác lịch sử hình thành và phát triển quy định này trong luật SHTT Việt Nam, luật của các nước và quốc tế, phân tích các quy định của luật và
so sánh với các quy định khác trong Luật SHTT để làm nổi bật quy định này
Về mặt thực tiễn: Luận văn nghiên cứu việc áp dụng các quy định của điều
25 vào thực tiễn ở nước ta Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng, người viết đưa ra những thiếu sót, khuyết điểm và những vướng mắc của việc áp dụng, cũng như những bất cập trong quy định của pháp luật, từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm góp phần tạo sự nhận thức đúng đắn, toàn diện khi áp dụng quy định này vào thực tiễn
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo pháp luật Việt Nam Cụ thể trong luận văn, người viết nghiên cứu các vấn đề như sau: khái quát về quyền SHTT và quyền tác giả; khái niệm, đặc điểm, sơ lược các quy định của pháp về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo luật Việt Nam, luật các nước và quốc tế Luận văn cũng đi vào đánh giá, nhận xét về thực tiễn việc áp dụng pháp luật của Điều 25, thông qua đó, người viết có những giải pháp, kiến nghị
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong luận văn, người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp lịch sử, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp
so sánh; phương pháp sắp xếp, chọn lọc các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài
từ giáo trình, sách, báo, tạp chí, internet, Bên cạnh đó, người viết còn sử dụng phương pháp phân tích luật viết, phương pháp đối chiếu giữa quy định của luật
Trang 11GVHD Nguyễn Phan Khôi 4 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
thực định và thực tiễn áp dụng các quy định đó Thông qua đó làm sáng tỏ những hạn chế, thiếu sót của luật thực định, cũng như những vướng mắc, bất cập khi áp dụng các quy định đó vào thực tiễn và đưa ra những kiến nghị để khắc phục
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công
bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao
Chương 2: Phân tích, đánh giá về những quy định của pháp luật về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao
Chương 3: Thực trạng việc sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao và bất cập trong quy định của pháp luật
Trang 12GVHD Nguyễn Phan Khôi 5 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
CHƯƠNG 1
LÍ LUẬN CHUNG VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP SỬ DỤNG TÁC PHẨM
ĐÃ CÔNG BỐ KHÔNG PHẢI XIN PHÉP, KHÔNG PHẢI TRẢ TIỀN
NHUẬN BÚT, THÙ LAO
1.1 Khái quát chung về quyền sở hữu trí tuệ
1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ
Trong xã hội văn minh và phát triển như hiện nay, cụm từ sở hữu trí tuệ (SHTT) càng được nhắc đến nhiều hơn và SHTT không phải là một khái niệm mới nhưng vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh và chính xác nhất nói về SHTT Một cách khái quát, khi nói đến SHTT thì ta có thể hiểu đó là việc sở hữu tài sản trí tuệ Tài sản trí tuệ chính là kết quả của quá trình hoạt động tư duy, sáng tạo của con người Đối tượng của loại sở hữu này là các tài sản vô hình, phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế vô cùng to lớn Qua các giai đoạn lịch sử phát triển của nhân loại, cùng với các loại tài sản hữu hình thông thường khác, tài sản sở hữu trí tuệ trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực khác của đời sống, quyết định đến sự phát triển thịnh vượng của một quốc gia cũng như toàn xã hội Đặc biệt khi các nguồn lực tự nhiên ngày càng trở nên cạn kiệt do khai thác quá tải thì tài sản trí tuệ ngày càng trở nên quan trọng Theo quy định của pháp
luật Việt Nam: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền liên quan đến giống cây trồng”.1
Theo Luật sư Trương Thị Hòa: “Quyền SHTT là quyền định đoạt đối với một tài sản trí tuệ nào đó thuộc về cá nhân hay tổ chức sở hữu nó Việc định đoạt này bao gồm : sử dụng, bán, cho thuê, cho mượn, tặng Quyền sở hữu trí tuệ được pháp luật công nhận và bảo vệ”.2
Cũng có một cách định nghĩa khác về quyền SHTT “Quyền SHTT là thuật ngữ chung dùng để chỉ những độc quyền được ghi nhận đối với những thành quả của các hoạt động trí tuệ của con người và cho các dấu hiệu được sử dụng trong
1 Theo Luật SHTT hiện hành, khoản 1 Điều 4
2 Luật sư Trương Thị hòa, Trò chuyện cùng DN- chuyên gia “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là bảo vệ niềm
tin cho người tiêu dùng”, http://www.bsa.org.vn/?p=viewcontent&id=9616&menufid=47 truy cập ngày
26/8/2013
Trang 13GVHD Nguyễn Phan Khôi 6 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
các hoạt động thương mại, chúng là những quyền vô hình nhưng có giá trị kinh tế” 3
Nói một cách đơn giản quyền sở hữu trí tuệ là quyền sở hữu đối với tài sản được tạo ra bằng trí tuệ con người Khi là chủ sở hữu của quyền sở hữu trí tuệ, thì chủ sở hữu có quyền tự do định đoạt tài sản, miễn là việc định đoạt không trái với pháp luật
1.1.2 Đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ
Tài sản liên quan đến SHTT là một loại tài sản đặc biệt, đó là thành quả của trí tuệ, óc sáng tạo của con người hay nói cách khác nó là tài sản vô hình nên quyền sở hữu đối với loại tài sản này sẽ có sự khác biệt tương đối so với loại quyền sở hữu tài sản hữu hình
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 thì “chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản” 4 Việc chiếm hữu tài sản vô hình trên thực tế chỉ mang tính chất tương đối, chủ sở hữu không thể ngăn chủ thể khác có được tài sản hoặc sử dụng đối tượng giống với mình sở hữu Đối với quyền sử dụng, chủ sở hữu tài sản trí tuệ thường được pháp luật thừa nhận những độc quyền nhất định trong việc sử dụng hoặc cho phép người khác sử dụng tài sản của mình Chủ sở hữu tài sản trí tuệ có thể độc quyền khai thác thương mại đối với sản phẩm trí tuệ được bảo hộ nhằm thu hồi và bù đắp cho khoản đầu tư mà chủ sở hữu đã bỏ ra để tạo thành sản phẩm Cuối cùng là quyền định đoạt tài sản thông qua việc chuyển giao quyền SHTT cho chủ thể khác Quyền SHTT bị giới hạn bởi quốc gia bảo hộ và thời gian bảo hộ Và quyền SHTT là quyền dân sự vì chủ thể có quyền nhân thân và quyền tài sản Từ nhũng phân tích trên, có thể rút ra được những đặc điểm cơ bản của quyền SHTT Thứ nhất, tài sản của sở hữu trí tuệ là tài sản vô hình, không chạm được nhưng lại mang giá trị thặng dư được tính bằng tiền Thứ hai, việc chiếm giữ tài sản chỉ mang tính tương đối Thứ ba, chủ sở hữu có những độc quyền nhất định trong việc sử dụng và độc quyền khai thác thương mại sản phẩm trí tuệ của mình Thứ tư là quyền định đoạt tài sản thông qua chuyển giao quyền SHTT Và cuối
3 GV Khoa Luật dân sự, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh , bài 4 “Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ”,
http://luatvietvn.wordpress.com/2011/06/26/bai-4-khai-quat-về-quyền-sở-hữu-trí-tuệ/ truy cập ngày
27/8/2013
4 Theo Điều 164 Bộ luật dân sự 2005
Trang 14GVHD Nguyễn Phan Khôi 7 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
cùng là giới hạn về quốc gia, thời gian bảo hộ và quyền SHTT là một trong những quyền dân sự
1.1.3 Phân loại quyền sở hữu trí tuệ
Quyền SHTT được phân chia thành 3 nhóm chủ yếu: quyền tác giả và quyền
liên quan đến tác giả; quyền sở hữu công nghiệp; quyền bảo hộ đối với giống cây trồng.5
Theo quy định tại Điều 3 Luật SHTT hiện hành thì đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học; đối tượng của quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh, chương trình được mã hóa Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý Đối tượng quyền đối với giống cây trồng vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch
1.2 Khái quát chung về quyền tác giả liên quan đến tác phẩm
1.2.1 Khái niệm về quyền tác giả
Quyền tác giả là một trong hai đối tượng quan trọng nhất của SHTT, được đề
cập đến trên phạm vi quốc tế lần đầu tiên bởi Công ước Berne 1886 Quyền tác giả được dùng để bảo vệ các sáng tạo tinh thần có tính chất văn hóa hay còn gọi là tác
phẩm không bị vi phạm bản quyền Ví dụ như các bài viết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp, phim và các chương trình truyền thanh Quyền này cũng cho phép người sáng tạo kiểm soát được việc khai thác, sao chép, cải biên, công bố tác phẩm của mình Có thể khái quát quyền tác giả hay tác quyền (tiếng Anh còn gọi là copyright) là độc quyền của một tác giả cho tác phẩm của người này.6 Thuật ngữ copyright trong tiếng Anh được dịch là quyền tác giả được ghép từ danh từ copy (bản sao, phỏng theo) và danh từ right (quyền) Như vậy, nguyên nghĩa tiếng Anh thì quyền tác giả được hiểu là quyền đối với các bản sao từ tác phẩm Tuy nhiên, nếu ta chỉ hiểu quyền tác giả theo nghĩa đó sẽ không khái quát hết được nội hàm của khái niệm quyền tác giả
Theo nghĩa rộng quyền tác giả bao gồm cả quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả Trong đó quyền tác giả được hiểu là một chế định pháp luật bao
5 Căn cứ theo khái niệm được dùng trong luật SHTT hiện hành, xem khoản 1 Điều 4
6 Copyright- Bản quyền tác giả http://luatminhkhue.vn/ban-quyen/copyright-ban-quyen-tac-gia-.aspx truy cập ngày 27/8/2013
Trang 15GVHD Nguyễn Phan Khôi 8 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
gồm hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sáng tạo, sử dụng và định đoạt các tác phẩm trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học Như vậy, theo nghĩa rộng, quyền tác giả không chỉ quy định quyền hạn của tác giả, người sáng tạo tác phẩm mà còn mở rộng ra các vấn đề khác như đối tượng quyền tác giả, giới hạn quyền tác giả, sử dụng tác phẩm Còn theo nghĩa hẹp quyền tác giả là những quyền dân sự cụ thể của chủ thể trong việc sáng tạo, sử dụng và định đoạt các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học
Quyền tác giả tại Việt Nam đã được quy định chi tiết trong Bộ Luật Dân sự
2005, Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định 100/NĐ-CP/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ
về quyền tác giả và quyền liên quan Theo đó, quyền tác giả là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo hoặc sở hữu” 7 Nội dung quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản Theo qui định tại điều 19 Luật
SHTT hiện hành quyền nhân thân bao gồm: đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả Quyền tài sản: làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chép tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính Tác phẩm được bảo
hộ theo cơ chế quyền tác giả là các tác phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật
Cũng cần phải lưu ý rằng “Quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm ra đời
mà không cần đơn yêu cầu công nhận, không phải trải qua bất kỳ thẩm định nào của cơ quan công quyền, không cần một thủ tục đăng ký nào”.8
7 Căn cứ theo khái niệm được dùng trong luật SHTT hiện hành, xem khoản 2 Điều 4
8 Theo GS TS Nguyễn Vân Nam, Định nghĩa tác phẩm theo Luật SHTT Việt Nam và quy định của TRIPS
http://tsnguyenvannam.wordpress.com va-qui-dịnh-của-trips/ truy cập ngày 29/8/2013
Trang 16/2010/08/18/dịnh-nghia-tac-phẩm-theo-luật-sở-hữu-tri-tuệ-việt-nam-GVHD Nguyễn Phan Khôi 9 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
1.2.2 Đặc điểm của quyền tác giả
Quyền tác giả là một trong những bộ phận của quyền SHTT chính vì vậy mà
quyền tác giả mang đầy đủ các đặc điểm của quyền SHTT:
Thứ nhất, đối tượng sở hữu của quyền tác giả là tài sản vô hình, phi vật thể
Quyền tác giả chỉ bảo hộ cho hình thức sáng tạo, nghĩa là đối tượng bảo hộ phải được thể hiện dưới hình thức là tác phẩm; quyền tác giả không bảo hộ cho một tác phẩm khi nó mới chỉ là ý tưởng sáng tạo Để được bảo hộ các ý tưởng đó phải thể hiện ra bằng hình thức cụ thể như âm thanh, hình ảnh, chữ viết, màu sắc, đường nét Quyền tác giả cũng không bảo hộ cho nội dung sáng tạo, để tránh trường hợp độc quyền về nội dung, ảnh hưởng đến sự sáng tạo của những người còn lại Nói cách đơn giản, tác phẩm phải được hình thành dưới một hình thức cụ thể; quyền tác giả chỉ dành cho sự thể hiện ý tưởng, khái niệm mà không dành cho bản thân ý tưởng, khái niệm đó
Thứ hai, quyền tác giả bảo hộ theo cơ chế tự động Phát sinh ngay khi tác
phẩm thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định mà không cần phải đăng kí, thẩm định hay bất cứ thủ tục tương tự nào
Thứ ba, quyền tác giả là một quyền dân sự nên mang đặc trưng là quyền nhân
thân gắn liền với quyền tài sản Quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác Quyền nhân thân gắn liền với tài sản, chủ thể quyền tác giả được hưởng các lợi ích vật chất từ đối tượng sở hữu của mình Luật
SHTT hiện hành của nước ta đề cập đến vấn đề độc quyền khai thác các quyền tài
sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả Theo đó các quyền như làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chép tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính chỉ có tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả mới có quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện.9
Quyền nhân thân và quyền tài sản của quyền tác giả gắn liền với nhau Nói cách khác, quyền tài sản là hệ quả pháp lý của quyền nhân thân Thật vậy, nếu tác giả không sáng tạo ra tác phẩm sẽ không có quyền nhân thân như: đặt tên cho tác
9 Xem quy định của Luật SHTT hiện hành, khoản 2 Điều 20
Trang 17GVHD Nguyễn Phan Khôi 10 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
phẩm, cho phép hay không cho phép người khác sử dụng tác phẩm của mình nếu không có quyền nhân thân thì tác giả sẽ không thể khai thác quyền tài sản như
hưởng lợi ích vật chất từ tác phẩm của mình Quyền tài sản của chủ sở hữu là độc quyền và theo quy định của pháp luật SHTT, tổ chức, cá nhân phải xin phép chủ
sở hữu trước khi sử dụng một trong các quyền tài sản nêu trên Việc quy định như vậy sẽ đảm bảo quyền lợi của tác giả đối với tác phẩm, đảm bảo tác giả khai thác tối đa quyền tài sản của mình đối với tác phẩm như: hưởng nhuận bút, thù lao; cho phép hoặc không cho phép người khác sử dụng tác phẩm Tuy nhiên, độc quyền được trao cho tác giả, chủ sử hữu tác phẩm sẽ không bao gồm quyền ngăn cản người khác sử dụng hợp lý tác phẩm đó Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cũng đã được hưởng thành quả lao động từ tác phẩm do mình sáng tạo trong một khoảng thời gian nhất định; và đương nhiên sau đó thì những tác phẩm này sẽ thuộc về toàn thể xã hội Vì mục đích mà luật SHTT muốn hướng đến, rất cơ bản và đơn giản đó là hướng tới công chúng, phục vụ nhu cầu thiết yếu của công chúng, dung hòa lợi ích chính đáng của tác giả, chủ sở hữu các sản phẩm trí tuệ với lợi ích chung của toàn xã hội, khuyến khích sáng tạo và tạo ra những sản phẩm văn hóa
phong phú đa dạng cho mọi người Luật SHTT quy định vấn đề độc quyền trong
một số trường hợp sẽ ảnh hưởng đến mục đích chung của luật SHTT muốn hướng đến Để đảm bảo tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả không lạm dụng những đặc quyền dành cho họ hoặc hạn chế thương mại một cách vô lý, pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các nước trên thế giới đều có quy định giới hạn quyền tác giả để hạn chế độc quyền tác giả, cụ thể là quy định tại Điều 25 Luật SHTT Việt Nam hiện hành
Một vấn đề cũng cần phải lưu ý đó là vấn đề nhuận bút, thù lao và các lợi ích
vật chất khác của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả Nhuận bút là “khoản tiền do bên sử dụng tác phẩm trả cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm khi tác phẩm được sử dụng” 10 ; thù lao là “khoản tiền do bên sử dụng tác phẩm trả cho những người thực hiện các công việc có liên quan đến tác phẩm” 11; lợi ích vật chất khác
là “các lợi ích mà tác giả được hưởng ngoài nhuận bút bao gồm: nhận sách biếu;
vé mời xem tác phẩm công bố, phổ biến; giải thưởng trong nước hoặc quốc tế ” 12
10 Xem khoản 1 Điều 5 Nghị định 61/2002/NĐ-CP về chế độ nhuận bút
11 Xem khoản 4 Điều 5 Nghị định 61/2002/NĐ-CP về chế độ nhuận bút
12 Xem khoản 5 Điều 5 Nghị định 61/2002/NĐ-CP về chế độ nhuận bút
Trang 18GVHD Nguyễn Phan Khôi 11 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả phải bỏ ra một khoản lớn vật chất và tinh thần để đầu tư sáng tạo ra được một tác phẩm hoàn chỉnh để đưa đến công chúng; thời gian kéo dài cùng với công sức rất lớn để hoàn thành một tác phẩm, tác giả có thể mất một năm, hai năm hoặc lên tới 10 năm cho một tác phẩm Người viết lấy ví
dụ: bộ phim Avatar của đạo diễn Jame Cameron, đạo diễn này phải mất 10 năm mới có thể làm ra được bộ phim này Chính nguyên do này, tác giả, chủ sở hữu
quyền tác giả phải được hưởng những quyền lợi thỏa đáng bằng khoản nhuận bút, thù lao hoặc các quyền lợi vật chất khác khi các chủ thể khác muốn khai thác, sử dụng tác phẩm Điều này được Luật SHTT quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 21
“tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả” Nhưng quy định tại Điều 25 Luật SHTT hiện hành lại quy định sử dụng tác
phẩm mà không phải trả tiền nhuận bút, thù lao Đây là một “ngoại lệ” của quyền tác giả, Luật SHTT quy định ra điều luật này như người viết đã đề cập là nhằm đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của tác giả và lợi ích chung của toàn xã hội Chế độ nhuận bút, thù lao tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả không được nhận nếu chiếu theo quy định của Điều 25, nhưng tác giả vẫn có thể nhận các quyền lợi vật chất khác như các giải thưởng trong nước, quốc tế vì Điều 25 chỉ quy định không được nhận tiền nhuận bút, thù lao mà không đề cập đến lợi ích vật chất khác
1.2.3 Ý nghĩa, vai trò của quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả
Trong thời Cổ đại và Trung cổ, vấn đề bảo vệ quyền đối với các sản phẩm
mang tính chất trí tuệ chưa được đặt ra, có chăng cũng chỉ là những quy định của pháp luật liên quan đến việc xác lập quyền sở hữu đối với các tác phẩm hiện hữu của tác giả Do đó, dù không được phép lấy cắp những tác phẩm nhưng người ta vẫn có thể sao chép tác phẩm đó thành nhiều bản mà không cần phải có sự đồng ý của tác giả gây ảnh hưởng đến quyền lợi cũng như uy tín của tác giả Cùng với sự phát triển ngày càng vượt bậc của nhân loại, nhất là lĩnh vực khoa học, công nghệ thì việc sao chép, in ấn tác phẩm cũng trở nên dễ dàng hơn Yêu cầu bảo hộ đối với một tác phẩm cũng ngày càng được quan tâm, bởi lẽ đây là cách hữu hiệu nhất để bảo vệ quyền lợi của tác giả và khuyến khích tác giả sáng tạo ra những tác phẩm mới Cùng với quá trình toàn cầu hóa, sự tác động qua lại giữa các quốc gia
Do đó việc bảo hộ quyền tác giả không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia gốc
Trang 19GVHD Nguyễn Phan Khôi 12 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
của một tác phẩm mà còn trên phạm vi toàn thế giới Cụm từ “quyền tác giả”
được nhắc đến nhiều hơn, giữ một vai trò và ý nghĩa vô cùng to lớn trong đời sống
xã hội hiện nay
Thực tế đã chỉ ra rằng, việc làm giàu và phổ biến di sản văn hóa quốc gia phụ thuộc trực tiếp vào mức độ bảo vệ đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật Số lượng sáng tạo trí tuệ của quốc gia càng nhiều thì quốc gia đó càng rạng danh và vai trò của quyền tác giả hết sức quan trọng Việc các tác giả đăng kí quyền tác giả của mình với các tổ chức SHTT sẽ đảm bảo quyền lợi của tác giả đối với tác phẩm, đảm bảo tác giả khai thác tối đa quyền tài sản của mình đối với tác phẩm như: hưởng nhuận bút, thù lao; cho phép hoặc không cho phép người khác sử dụng tác phẩm Điều này, góp phần khuyến khích những tác giả sáng tạo trí tuệ, tạo ra những tác phẩm làm giàu di sản văn hóa quốc gia, đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, xã hội Thêm vào đó, đăng ký quyền tác giả không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả Theo Cục bản quyền tác giả:
“Việc đăng ký bảo hộ không phải là cơ sở xác lập quyền tác giả; tác phẩm dù có đăng ký hay không đăng ký quyền tác giả đều được hưởng sự bảo hộ như nhau” 13
Tuy nhiên, việc đăng ký quyền tác giả lại cần thiết và rất có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền tác giả, đặc biệt trong việc chứng minh quyền tác giả khi có tranh chấp xảy ra Cụ thể là nếu tác giả, chủ sở hữu tác phẩm đã sáng tạo ra một tác phẩm mà không đăng kí quyền tác giả thì khi có tranh chấp xảy ra, các chủ thể này phải có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả của mình đối với tác phẩm đó, tức là phải tự mình cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyền tác giả của mình đối với tác phẩm và việc này sẽ gây ra nhiều khó khăn, phức tạp Ngược lại, khi cá nhân,
tổ chức là tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm đăng kí bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu tác phẩm được Cục bản quyền tác giả văn học – nghệ thuật cấp Giấy chứng nhận bản quyền tác giả cho tác phẩm, chủ sở hữu tác phẩm thì khi có tranh chấp xảy ra mặc nhiên đây sẽ là bằng chứng hữu hiệu nhất, và tác giả, chủ sở hữu tác phẩm không cần phải có nghĩa vụ chứng minh Qua đó tác giả có quyền lợi hợp pháp chống lại mọi hành vi vi phạm
13 Cục bản quyền tác giả, Bản quyền tác giả, Hỏi đáp quyền tác giả, Lợi ích của việc đăng kí quyền tác giả
http://baohothuonghieu.com/banquyen/tin-chi-tiet/loi-ich-cua-viec-dang-ky-quyen-tac-gia/273.html truy cập ngày truy cập 30/8/2013
Trang 20GVHD Nguyễn Phan Khôi 13 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
Việc quy định thời hạn bảo hộ, nhằm đảm bảo quyền lợi của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm cũng như đảm bảo sự công bằng, hài hòa với các lợi ích xã hội, trong điều ước quốc tế và Luật SHTT nước ta quy định về thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả mất Quy định này nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế của người thừa kế tác giả, còn quyền nhân thân thì gắn liền với tác giả mãi mãi, không ai có quyền xâm phạm Đối với nước ta quyền tác giả là một lĩnh vực phức tạp và còn mới mẻ, nhưng các quy định pháp luật Việt Nam về quyền tác giả về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu bảo hộ quyền tác giả, khuyến khích các hoạt động sáng tạo, bảo hộ quyền tác giả của những tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học do lao động của tư duy sáng tạo ra, bảo đảm việc điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội ở lĩnh vực này, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, dự báo được xu thế phát triển trong nước và trên trường quốc tế, thể hiện tư tưởng tiến bộ, nhân văn về quyền con người của Nhà nước Việt Nam
1.3 Khái quát chung về những quy định của pháp luật liên quan đến hạn chế độc quyền của quyền tác giả
Hạn chế độc quyền của quyền tác giả là những giới hạn về quyền của tác giả
hay còn được hiểu như là các "ngoại lệ" của quyền tác giả Giới hạn quyền tác giả là quy định liên quan tới việc khai thác, sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bảng ghi âm hình, chương trình sóng các trường hợp đặc biệt, cụ thể nhằm đáp ứng các nhu cầu chính đáng phục vụ công tác thông tin, nghiên cứu khoa học, giảng dạy và chính sách xã hội Nói một cách khái quát, giới hạn quyền tác giả là các hành vi sử dụng hạn chế, khai thác tài sản của người khác mà không xâm phạm quyền tác giả Bản chất của giới hạn quyền tác giả là hạn chế một số quyền lợi vật chất của tác giả hay là quyền được sử dụng hợp lý tác phẩm của người khác trong một số trường hợp nhất định Hình thức chủ yếu của những hạn chế này là các trường hợp
sử dụng tự do tác phẩm đã công bố, trong đó có trường hợp phải trả tiền nhuận bút thù lao, có trường hợp không phải trả tiền nhuật bút thù lao
1.3.1 Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao
Nói chung pháp luật SHTT luôn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể
quyền tác giả trong đại đa số các trường hợp, tuy nhiên cũng như pháp luật SHTT hầu hết các quốc gia, Luật SHTT Việt Nam cũng có giới hạn quyền tác giả, quy
Trang 21GVHD Nguyễn Phan Khôi 14 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
định một số trường hợp đặc biệt, cụ thể tại khoản 1 Điều 25 luật SHTT Việt Nam hiện hành
Sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm các trường hợp đặc biệt như sau:
Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá
nhân Ví dụ: thầy cô giáo sử dụng những bài viết, bài nghiên cứu để soạn giáo án
và để dạy học
Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh
họa trong tác phẩm của mình Lấy ví dụ như nhà văn Hoài Thanh sử dụng trích dẫn hợp lý một số tác phẩm của các nhà văn khác để bình luận văn học
Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn
phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu Ví dụ: phát thanh viên trích đoạn một tác phẩm để dùng trong một chương trình kể chuyện trên radio
Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác
giả, không nhằm mục đích thương mại Cụ thể như các giáo viên có thể trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại
Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu Ví dụ như thư viện Khoa Luật sao chép các tác phẩm của Tiến Sĩ Phạm Văn Beo lưu trữ trong thư viện để sinh viên học tập, nghiên cứu không nhằm mục đích thương mại
Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức
nào Ví dụ: buổi tuyên truyền của thanh niên tình nguyện dùng những bài hát của các nhạc sĩ nổi tiếng mà không xin phép nhằm mục đích cổ động
Ngoài ra, còn có ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy; chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó; chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị; nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng
Cần lưu ý đối với việc sao chép tác phẩm trong các trường hợp tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân, trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục
Trang 22GVHD Nguyễn Phan Khôi 15 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
đích thương mại không được áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính
1.3.2 Đặc điểm của việc sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao
Vì lợi ích của xã hội, cộng đồng, người hưởng thụ, kể cả lợi ích của việc khuyến khích công dân sáng tạo tiếp, Luật SHTT đã có các quy định về giới hạn quyền tác giả, tuy nhiên việc sử dụng tác phẩm trong những trường hợp đã nêu phải tuân theo những điều kiện và theo những cách thức hợp lý do pháp luật quy định Tổ chức cá nhân muốn sử dụng tác phẩm trong trường hợp này thì trong khuôn khổ của pháp luật, không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác phẩm, không gây hại đến các quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải ghi rõ thông tin về tên tác giả, nguồn gốc và xuất xứ của tác phẩm Trong trường hợp tác phẩm đã hết thời gian bảo hộ thì tác phẩm thuộc về công chúng Khi sử dụng tác phẩm này thì mọi người sử dụng tác phẩm vẫn phải tôn trọng những quyền tác giả mà pháp luật quy định là thời gian bảo hộ là vô hạn
Việc sử dụng tác phẩm trong những trường hợp đã nêu ở trên chỉ được thực hiện đối với những tác phẩm đã công bố một cách hợp pháp Còn đối với những tác phẩm mà tác giả chưa công bố, dù tác giả hay chủ sở hữu tác phẩm chưa đăng
ký quyền tác giả thì việc sử dụng cũng được coi là có hành vi xâm phạm Việc sử dụng tác phẩm cũng không được gắn với mục đích thương mại vì quyền khai thác tác phẩm trên khía cạnh kinh tế được pháp luật quy định độc quyền dành cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm
Ở nhiều quốc gia, một số hình thức sử dụng nhất định tác phẩm được bảo vệ bản quyền không vi phạm quyền của chủ sở hữu bản quyền Ví dụ như học thuyết
sử dụng hợp lý (tiếng Anh là fair - use) trong phạm vi của luật bản quyền Hoa Kỳ, học thuyết này cho phép trích dẫn hoặc sao chép các tư liệu của người khác đã đăng kí bản quyền một cách phi lợi nhuận mà không cần xin phép, trong tác phẩm của tác giả khác Luật SHTT của Việt Nam cũng quy định chặt chẽ việc sử dụng tác phẩm trong trường hợp này để hạn chế những hành vi xâm hại
1.3.3 Sơ lược các quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công
bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo pháp luật Việt Nam và quốc tế
Trang 23GVHD Nguyễn Phan Khôi 16 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
Ngay trong bản Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận những quyền
cơ bản của công dân liên quan đến quyền tác giả Nó thể hiện tư tưởng tiến bộ, nhân văn về con người Đó là quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản của công dân; là việc Nhà nước cam kết bảo vệ quyền lợi của trí thức; tôn trọng quyền tư hữu tư nhân về tài sản
Năm 1976 Việt Nam gia nhập tổ chức SHTT thế giới (WIPO), nhưng bước ngoặt phải được tính từ Đại hội Đảng lần thứ VI 1986, đề ra phương hướng được
cụ thể vào ngày 14 tháng 11 năm 1986, tức là ngày Hội đồng Bộ trưởng ban hành nghị định số 142/HĐBT quy định về quyền tác giả, mở đầu cho quá trình đổi mới
tư duy về quyền tác giả ở nước ta Mười năm sau đó, Pháp lệnh quyền tác giả được ban hành để rồi lại bị hủy bỏ bởi sự ra đời của Bộ luật dân sự, trong đó dành hẳn một chương của Phần VI cho các quy định về quyền tác giả Để đáp ứng yêu cầu mới về bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan tại quốc gia, đặc biệt là yêu cầu hội nhập quốc tế, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI đã thông qua dự án Luật Sở hữu Trí tuệ Luật này điều chỉnh các quan hệ sáng tạo và vấn đề bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng mới,
có hiệu lực từ ngày 1/7/2005, sau này được sửa đổi bổ sung bởi Luật SHTT hiện hành Việc ra đời của Bộ Luật Dân sự, với Luật SHTT là một bước tiến dài về hoạt động lập pháp ở Việt Nam trong lĩnh vực này, nó đã tiếp thu những giá trị tiến bộ
từ những văn bản pháp luật đã qua kiểm nghiệm trong cuộc sống, về cơ bản phù hợp với chuẩn mực chung của thế giới Đồng thời nó đã phản ánh được xu thế phát triển quyền tác giả ở Việt Nam, trong bối cảnh nhu cầu tiếp cận với tri thức của công chúng ngày càng gia tăng và trình độ nhận thức pháp luật vẫn còn thấp thì việc các tác phẩm được sử dụng một cách tự do, phổ biến không xin phép sẽ làm ảnh hưởng đến quyền tác giả Chính vì vậy Luật SHTT đã có những quy định nhằm đảm bảo cân bằng lợi ích của công chúng và của tác giả
1.3.3.1 Các quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo pháp luật Việt Nam
Xuất phát từ những nguyên nhân lịch sử, trong một thời gian dài, các tác phẩm do tác giả Việt Nam sáng tạo không được xem xét đúng mức như những tài sản thuộc sở hữu trí tuệ Đúng ra mà nói thì trong thời gian đó, tác giả rất ít được quan tâm đến những lợi ích tinh thần và kinh tế Ngược lại, bản thân tác giả cũng
Trang 24GVHD Nguyễn Phan Khôi 17 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
không có những đòi hỏi gì hơn là làm sao cốt để các tác phẩm của họ được công bố, phổ biến trước công chúng càng nhiều càng tốt Sáng tác của tác giả càng được phổ biến rộng rãi, càng được nhiều người sử dụng thì đó chính là phần thưởng cao quý dành cho họ Cái chung đặt trên cái riêng là hiện tượng bao trùm suốt một thời của chế độ tập trung bao cấp trước đây và cũng đã được thể hiện tương đối rõ ràng trên phương diện pháp lý về bảo hộ quyền tác giả trong thời gian đó Khái niệm về quyền tác giả lúc bấy giờ chỉ bó hẹp trong phạm vi nhuận bút; người sáng tạo ra tác phẩm không biết mình có quyền và nghĩa vụ gì, còn các tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm phần đông lại dành cho mình toàn quyền sử dụng tác phẩm mà không cần để ý đến quyền lợi tinh thần và vật chất của tác giả Xét về khía cạnh kinh tế thì việc sử dụng không xin phép và không trả tiền tác giả đã tạo ra nhiều lợi nhuận cho những tổ chức, cá nhân sản xuất và kinh doanh văn hóa phẩm, bởi các đối tượng này giảm được rất nhiều chi phí đầu vào Còn xét về khía cạnh văn hóa nghệ thuật và khoa học - công nghệ, về mặt tiêu cực, việc tự do khai thác tác phẩm sẽ làm ảnh hưởng đến tác phẩm, có thể sẽ bị mất đi một phần giá trị ban đầu của nó; về mặt tích cực thì việc tự do khai thác các tác phẩm cũng đã góp phần đa dạng hóa các loại hình văn hóa phẩm, kể cả về hình thức lẫn nội dung, nâng cao đời sống tinh thần trong nhân dân Nhận thấy được tình hình thực tế đó mà pháp luật Việt Nam có những quy định giới hạn quyền tác giả nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm với lợi ích của công chúng Cụ thể,
theo quy định tại Điều 760 Bộ luật dân sự 1995 thì “cá nhân, tổ chức được sử dụng tác phẩm của người khác đã được công bố, phổ biến, nếu tác phẩm không bị cấm sao chụp và việc sử dụng đó không nhằm mục đích kinh doanh và không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không xâm hại đến quyền lợi khác của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm; cá nhân, tổ chức sử dụng tác phẩm không phải xin phép và không phải trả tiền nhuận bút thù lao cho tác giả hoặc chủ
sở hữu tác phẩm, nhưng phải ghi hoặc nhắc đến tác giả và nguồn gốc của tác phẩm.” Quy định chưa chặt chẽ của pháp luật cùng với việc buông lỏng quản lý về
việc tuân thủ bản quyền và ý thức không tôn trọng pháp luật đã khiến cho việc sử dụng tác phẩm một cách tự do ở Việt Nam trở nên hết sức phổ biến, làm ảnh hưởng không chỉ quyền nhân thân của tác giả, chủ sở hữu mà còn cả việc khai thác bình thường của tác phẩm gốc Hiện tại Bộ luật dân sự 1995 đã hết hiệu lực, Bộ luật dân sự 2005 hiện hành chỉ quy định những nội dung mang tính nguyên tắc về
Trang 25GVHD Nguyễn Phan Khôi 18 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
quyền sở hữu trí tuệ còn các nội dung cụ thể được quy định tại Luật SHTT 2005 về sau được sửa đổi bổ sung vào năm 2009 Tại Điều 25 Luật SHTT quy định một trong những trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không
phải trả tiền nhuận bút, thù lao là “tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân” và “sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu” 14 Điều 25 Nghị định 100/2006/NĐ-CP giải thích
“tự sao chép một bản quy định tại điểm a khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ áp dụng đối với trường hợp nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân, không nhằm mục đích thương mại” Điều 738 BLDS 2005 và Điều 20 Luật SHTT đều
quy định một trong những quyền tài sản của tác giả được pháp luật bảo hộ là quyền sao chép tác phẩm Pháp luật Việt Nam định nghĩa quyền sao chép tác
phẩm là “quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao của tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử” 15 Với các quy định trên thì việc “sử dụng” tác phẩm có thể được thể hiện dưới rất nhiều hình thức không chỉ riêng hình thức sao chép mà còn có hoạt động trích dẫn; ghi âm, ghi hình tác phẩm; biểu diễn tác phẩm; chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc sang ngôn ngữ khác; nhập tác phẩm… Như vậy trong những trường hợp và điều kiện nhất định chúng ta có quyền sử dụng tác phẩm mà không cần xin phép tác giả, không cần trả thù lao cho tác giả, tuy nhiên việc sử dụng không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
1.3.3.2 Các quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố
không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo pháp luật các nước
Theo pháp luật của Liên bang Nga, cụ thể là Luật Bản quyền 1993 thì quyền
sử dụng “tự do” tác phẩm (sử dụng tác phẩm không cần có sự đồng ý của tác giả
và không cần trả thù lao cho tác giả mà không bị xem là vi phạm) được qui định tại các điều từ Điều 18 đến Điều 26, trong đó sao chép tác phẩm được qui định tại Điều 20 Sao chép tác phẩm không cần có sự đồng ý và trả thù lao cho tác giả
14 Xem quy định tại điểm a, đ khoản 1 Điều 25 Luật SHTT hiện hành
15 Khoản 2 Điều 23 Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan
Trang 26GVHD Nguyễn Phan Khôi 19 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
nhưng bắt buộc phải có sự trích dẫn tên tác giả, nguồn gốc sao chép và sao chép trong giới hạn một bản duy nhất, không nhằm mục đích thương mại, được quyền thực hiện với các điều kiện sau: tác phẩm được công bố một cách hợp pháp bởi thư viện, bộ phận lưu trữ nhằm mục đích khôi phục, thay thế những bản bị thất lạc,
hư hỏng; các bài viết riêng biệt và một phần không lớn của tác phẩm được công bố hợp pháp trong các tuyển tập, trên báo chí, những đoạn ngắn từ những tác phẩm viết (có hoặc không có sự minh họa) được công bố một cách hợp pháp bởi thư viện, cơ quan lưu trữ theo yêu cầu của cá nhân và phục vụ cho mục đích học tập và nghiên cứu; các bài viết riêng biệt và một phần không lớn của tác phẩm được công bố hợp pháp trong các tuyển tập, trên báo chí, những đoạn ngắn từ những tác phẩm viết (có hoặc không có sự minh họa) được công bố một cách hợp pháp bởi các cơ sở giáo dục nhằm mục đích phục vụ cho việc học tập tại giảng đường Như vậy, thứ nhất, sao chép theo qui định của Luật Bản quyền 1993 của Liên bang Nga chỉ được thực hiện đối với những tác phẩm đã được công bố hợp pháp Thứ hai, việc sao chép bắt buộc vẫn phải có sự trích dẫn tên tác giả, nguồn gốc sao chép, có nghĩa không có sự vi phạm quyền nhân thân của tác giả Ngoại lệ của nguyên tắc này có thể là trường hợp sao chép một số trang thay cho những trang bị mất hoặc
hư hỏng Thứ ba, chỉ có thể sao chép một bản duy nhất Qui định này gần như tạo
ra một sự che chắn cho hoạt động sao chép tác phẩm không hợp pháp vì pháp luật không chỉ rõ hoặc có sự hạn chế rõ ràng số lượng tối đa bản sao được phép sao chép trong một khoảng thời gian nhất định Thứ tư, việc sao chép không gắn liền với mục đích thương mại Điều này không nên nhầm lẫn với việc trả phí cho sao chép, khi mức phí tương ứng với mức chi phí cho việc sao chép Vấn đề sẽ khác đi nếu như mức phí không phải chỉ để bù đắp lại chi phí mà còn để phân chia dưới hình thức lợi nhuận Qui định này cũng tạo rất nhiều kẽ hở cho việc quản lý các cơ sở photocopy và bảo vệ quyền của tác giả, chủ sở hữu Thứ năm, hoạt động sao chép chỉ được thực hiện trong các trường hợp được ghi nhận trực tiếp tại điều này Ngoài những trường hợp nói trên, mọi việc sao chép các tác phẩm được công bố hợp pháp bởi thư viện, cơ sở lưu trữ, cơ sở đào tạo đều phải có sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu
Cũng như ở Việt Nam, Luật bản quyền năm 1976 của Hoa Kỳ cũng có những quy định nhằm hài hòa hóa lợi ích của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm và những lợi ích công cộng của xã hội, theo đó các quyền của tác giả có thể bị hạn chế bởi việc
Trang 27GVHD Nguyễn Phan Khôi 20 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
sử dụng của bên thứ ba Việc sử dụng tác phẩm bởi các thư viện, cơ quan lưu trữ vì mục đích nghiên cứu, giảng dạy không nhằm kinh doanh, theo quy định của Luật bản quyền năm 1976, là không vi phạm quyền tác giả Tại Điều 107 quy định
về “hạn chế đối với các quyền độc quyền: sử dụng hợp lý” như sau: không trái với các quy định tại Điều 106 và 106a, được phép sử dụng một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm các hình thức sử dụng thông qua hình thức sao chép, dưới dạng bản sao hoặc bản ghi hoặc bởi bất kỳ một phương thức nào được quy định trong Điều này cho mục đích bình luận, phê bình, đưa tin hoặc nghiên cứu, giảng dạy (bao hàm cả việc sử dụng nhiều bản photocopy cho lớp học), là không vi phạm quyền tác giả Để xác định xem liệu việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp cụ thể có phải là sử dụng được phép hay không cần xem xét đến các yếu tố như: mục đích, số lượng và thực chất của phần được sử dụng trong tác phẩm và quan trọng nhất là vấn đề ảnh hưởng của việc sử dụng đó đối với tiềm năng thị trường, hoặc đối với giá trị của tác phẩm được bảo hộ 16 Ngoài ra tại Điều 108 về hạn chế các quyền độc quyền cũng quy định: không trái với quy định của Điều
106, sẽ không bị coi là hành vi vi phạm quyền tác giả đối với việc tái bản nhiều hơn một bản sao hoặc bản ghi của tác phẩm cho mục đích lưu trữ và dùng trong
thư viện với việc “tái bản hoặc phân phối đó được thực hiện không nhằm mục đích thu lợi nhuận, dù trực tiếp hay gián tiếp; sưu tập của thư viện và lưu trữ để phục vụ công chúng ” 17 Như vậy khi xét trong tương quan so sánh, nội dung của các điều luật này không có khác biệt lớn so với quy định của pháp luật Việt Nam tại khoản 2 Điều 25 Luật SHTT năm 2005
1.3.3.3 Các quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố
không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo Công ước Berne
Qua hàng loạt chủ trương, chính sách và các biện pháp quản lý Nhà nước
được triển khai trong một vài năm gần đây đã cho thấy, việc tham gia Công ước Berne ở Việt Nam có thể được coi là một bước đột phá về mặt nhận thức của Nhà nước ta trên lĩnh vực này, mở ra một giai đoạn mới trong tiến trình hội nhập quốc tế về bảo hộ quyền tác giả vốn được coi là một bộ phận cấu thành của quyền sở
16 Xem quy định tại Điều 107, 106, 106a của Luật bản quyền Hoa Kỳ 1976
17 Xem quy định tại Điều 108 Luật bản quyền Hoa Kỳ 1976
Trang 28GVHD Nguyễn Phan Khôi 21 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
hữu tài sản trí tuệ, loại tài sản vô hình đang ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong giá trị của hàng hóa
Theo Công ước, các tác phẩm được bảo hộ một cách tự động, có nghĩa là việc bảo hộ tác phẩm không lệ thuộc vào thủ tục đăng ký hay các thủ tục tương tự Công ước quy định việc bảo hộ được tiến hành là vì lợi ích của bản thân tác giả và những người thừa kế của họ Riêng đối với tác phẩm điện ảnh, các nước thành viên có thể quy định người trước hết có quyền đối với tác phẩm loại này là nhà sản xuất, tiếp đó mới là đạo diễn, người viết kịch bản hay những người liên quan khác Những tác giả được bảo hộ theo Công ước phải là công dân hay người thường trú trên lãnh thổ các nước thành viên hoặc tác giả, tuy không thuộc những người nói trên, nhưng lần đầu tiên có tác phẩm được công bố tại một trong các nước thành viên hay cùng một lúc công bố ở cả hai nước thành viên và không phải là thành viên Công ước
Cần khẳng định rằng “quyền sao chép tác phẩm là một trong những quyền tài sản cơ bản và quan trọng nhất của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm và quyền này được bảo hộ cả từ góc độ pháp luật quốc tế, cả từ góc độ pháp luật quốc gia” 18
Dưới góc độ luật quốc tế, Điều 9 Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và
nghệ thuật quy định: “Tác giả có các tác phẩm văn học, nghệ thuật được Công ước này bảo hộ, được hưởng độc quyền cho phép sao in các tác phẩm đó dưới bất
kỳ phương thức hay hình thức nào” Các tác phẩm văn học nghệ thuật được Công ước liệt kê tại Điều 2 bao gồm “tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học nghệ thuật và khoa học, bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào, chẳng hạn như sách, tập in nhỏ và các bản viết khác, các bài giảng, bài phát biểu…” 19 Như vậy, theo quy định trên thì giáo trình, đề cương bài giảng, sách
tham khảo, sách chuyên khảo, các luận án, luận văn, các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành và các tài liệu khác đều là các tác phẩm được bảo hộ theo Công ước Berne Công ước dành cho tác giả các quyền kinh tế như độc quyền dịch, sao chép dưới bất cứ hình thức nào, theo bất cứ quy trình nào ; quyền trình diễn tác phẩm kịch, nhạc kịch, âm nhạc; quyền phát sóng và truyền đạt tới công chúng ; quyền
18 Tạp chí KHPL số 2 (39)/2007 Về quyền photocopy tác phẩm trong môi trường giáo dục, http://www.hcm
ulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&catid=108:ctc20072&id=281:vqptcp tptmtgd&Itemid=110 truy cập ngày 24/10/2013
19 Xem Điều 2 Công ước Berne
Trang 29GVHD Nguyễn Phan Khôi 22 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
tạo ra tác phẩm cải biên, chuyển thể Bên cạnh đó, Công ước cũng thừa nhận sự bảo hộ đối với các quyền tinh thần của tác giả như quyền về danh nghiã tác giả và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, chống lại bất kỳ biểu hiện nhằm bóp méo, phá hoại xuyên tạc hay hành động xúc phạm tới tác phẩm để làm phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả Và như đã đề cập ở trên, một trong những nguyên tắc của luật sở hữu trí tuệ là đảm bảo cân bằng về quyền và lợi ích của chủ sở hữu với lợi ích của xã hội Do đó, bên cạnh việc quy định độc quyền sao chép cho chủ sở hữu, pháp luật còn quy định những hạn chế quyền tác giả đối với quyền sao chép
Cụ thể, khoản 2 Điều 9 Công ước Berne quy định: “Luật pháp quốc gia thành viên
có quyền cho phép sao in tác phẩm trong một vài trường hợp đặc biệt, miễn là sự sao in đó không phương hại đến việc khai thác bình thường tác phẩm hoặc không gây thiệt thòi bất chính cho những quyền lợi hợp pháp của tác giả” 20 Ở đây, Công ước đã không chỉ rõ những trường hợp nào có thể thực hiện việc sao chép tác phẩm mà không cần sự xin phép của tác giả, không cần trả thù lao cho tác giả, mà để cho pháp luật của quốc gia thành viên tự quy định cụ thể trong pháp luật nước mình Tuy nhiên, hạn chế quyền tác giả chỉ được thực hiện nếu thỏa mãn được một trong hai điều kiện Thứ nhất, sự sao in đó không phương hại đến việc khai thác bình thường tác phẩm Thứ hai, sự sao in đó không gây thiệt thòi bất chính cho những quyền lợi hợp pháp của tác giả Công ước quy định hạn chế một số quyền kinh tế nhất định của tác giả, cho phép sử dụng các tác phẩm mà không cần phải xin phép và trả thù lao cho người nắm quyền tác giả chẳng hạn như trích dẫn và sử dụng tác phẩm dưới hình thức minh họa với mục đích giảng dạy, những ghi chép nhất thời để phát tin Cụ thể tại điều 10 và 10 bis của Công ước Berne quy định điều kiện sử dụng tự do các tác phẩm đã công bố Điều này khẳng định quyền tác giả là bất khả xâm phạm, mặt khác các tác phẩm là tài sản của nhân loại nên cần có những điều kiện vừa thuận lợi cho người sử dụng, vừa bảo vệ được lợi ích chính đáng của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm để công chúng có cơ hội kịp thời tiếp cận với những tri thức của thời đại Đặc biệt, nhằm khuyến khích việc tham gia Công ước của những nước mới dành được độc lập đang có những khó khăn trong việc phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội
20 Xem điều 9 Công ước Berne
Trang 30GVHD Nguyễn Phan Khôi 23 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
Với các quy định nêu trên của Công ước Berne và pháp luật Việt Nam thì rõ ràng là trong những trường hợp và điều kiện nhất định chúng ta có quyền sử dụng tác phẩm mà không cần xin phép tác giả, không cần trả thù lao cho tác giả Nhưng việc sử dụng đó phải đảm bảo những điều kiện nhất định nhằm tránh những hành
vi gây xâm hại đến quyền tác giả Việc pháp luật Việt Nam và quốc tế có những quy định “ngoại lệ” như vậy đều là vì hướng đến mục tiêu chung của Luật SHTT là hướng tới công chúng, đảm bảo rằng công chúng có thể tiếp cận đến những tri thức của xã hội một cách dễ dàng qua đó góp phần hài hòa hóa giữa lợi ích của tác giả và lợi ích chung của toàn xã hội
Như đã phân tích những vấn đề lý luận ở chương 1, người viết làm rõ những vấn đề mang tính lý luận, thông qua đó để có cái nhìn khái quát về các trường hợp quy định tại điều 25, qua tới chương tiếp theo người viết tiếp tục đi sâu vào vấn đề liên quan đến việc sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao nhưng không còn ở khía cạnh lý luận mà người viết phân tích về mặt pháp lý để làm sáng tỏ vấn đề hơn
Trang 31GVHD Nguyễn Phan Khôi 24 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP SỬ DỤNG TÁC PHẨM ĐÃ CÔNG BỐ KHÔNG PHẢI XIN PHÉP KHÔNG PHẢI TRẢ TIỀN NHUẬN BÚT, THÙ LAO 2.1 Phân tích các quy định của pháp luật về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao 2.1.1 Các loại hình tác phẩm đã công bố được bảo hộ quyền tác giả được
sử dụng không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao
Quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm ra đời mà không cần đơn yêu cầu công nhận, không phải trải qua bất kỳ thẩm định nào của cơ quan công quyền, không cần một thủ tục đăng ký nào Do nó phát sinh dễ dàng và không được thẩm định trước nên khi có tranh chấp hay vi phạm quyền tác giả thì công việc đầu tiên của tòa án là xác định có hay không có quyền tác giả đối với sản phẩm là đối tượng tranh chấp, nghĩa là xác định sản phẩm đó có phải là một tác phẩm hay không
Khái niệm tác phẩm theo Luật SHTT hiện hành quy định “tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất
kỳ phương tiện hay hình thức nào” 21 Mặc dù bất kỳ một sản phẩm nào trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện dưới bất kỳ phương thức hay hình thức nào cũng có thể được coi là một tác phẩm nhưng không phải tác phẩm nào cũng được bảo hộ quyền tác giả Nói đến tác phẩm được bảo hộ là ta nhớ đến các tiêu chí : là sản phẩm của con người, được thể hiện dưới một hình thức nhất định và hình thức đó mang tính sáng tạo Đầu tiên điều kiện quan trọng nhất của tác phẩm đó là có tính nguyên gốc, nghĩa là tác phẩm đó phải là kết quả của quá trình lao động của chính tác giả chứ không phải ai khác Nó phải mang dấu ấn riêng biệt của năng lực sáng tạo của tác giả Điều này được Luật SHTT Việt Nam hiện hành quy định tại khoản 3, Điều 14 Thêm vào đó, một tác phẩm do con người tạo ra phải chứa đựng nội dung tinh thần nhất định Tinh thần, tư tưởng hay tình cảm đó phải được thể hiện thông qua tác phẩm Điều này không thể có được trong những sản phẩm của hoạt động thuần túy máy móc Thông qua ngôn ngữ như một công
cụ, tư tưởng, tình cảm của tác giả được thể hiện trong các tác phẩm ngôn ngữ
21 Xem quy định tại khoản 7 Điều 4 Luật SHTT hiện hành
Trang 32GVHD Nguyễn Phan Khôi 25 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
Trong các tác phẩm âm nhạc, nội dung tinh thần là cảm xúc, cảm nhận, tình cảm thể hiện qua sự sắp đặt âm thanh một cách sáng tạo mang tính chất riêng của nhà soạn nhạc Trong tác phẩm hội họa đó là cảm xúc nẩy sinh khi ngắm bức họa… Và tác phẩm của sự sáng tạo tinh thần cần được thể hiện trong những hình thức mà con người có thể tiếp cận, trong những dạng thức có thể chuyển tải cách thức thể hiện sự sáng tạo đó
Qua những phân tích trên, ta thấy mặc dù bất kỳ một sản phẩm nào trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện dưới bất kỳ phương thức hay hình thức nào cũng có thể được coi là một tác phẩm nhưng không phải tác phẩm nào cũng được pháp luật bảo hộ Theo quy định cụ thể tại Điều 14 Luật SHTT hiện
hành thì các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả là “tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm: tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký
tự khác; tài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; tác phẩm báo chí; tác phẩm âm nhạc; tác phẩm sân khấu; tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra từ phương pháp tương tự; tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng; tác phẩm nhiếp ảnh; tác phẩm kiến trúc; bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học; tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu…”
Các tác phẩm nêu trên được pháp luật bảo hộ, và tác giả của tác phẩm được bảo hộ sẽ được hưởng quyền độc quyền khai thác đối với tác phẩm đó Nhưng một tác phẩm theo mục đích và ý nghĩa của Luật SHTT thì phải hướng đến công chúng, tạo điều kiện cho công chúng có thể tiếp cận một cách dễ dàng đến những tri thức của thời đại, việc quy định độc quyền khai thác tác phẩm sẽ làm ảnh hưởng đến mục tiêu chung của Luật SHTT Cá nhân, tổ chức muốn sử dụng hay phổ biến tác phẩm đều phải xin phép tác giả và như thế hoạt động thường ngày của xã hội sẽ phải bị ngừng trệ vì chờ chúng ta xin phép lẫn nhau Thấy được tình trạng đó, và cũng vì mục đích đảm bảo lợi ích công chúng Luật SHTT Việt Nam
đã quy định các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao cụ thể tại Điều 25
Trang 33
GVHD Nguyễn Phan Khôi 26 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
2.1.2 Phân tích các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải
xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo quy định của pháp luật Việt Nam
Trong chương 1, ở mục 1.3.1 người viết có nêu khái quát về các trường hợp
sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút thù lao, nhưng người viết không đi sâu vào vấn đề và cũng chưa làm rõ khía cạnh pháp lý mà chỉ dừng lại ở mặt lý luận và đưa ra những ví dụ Vì vậy ở phần này, người viết sẽ phân tích các quy định của pháp luật về trường hợp này để làm rõ vấn đề
Điều 25 Luật SHTT hiện hành quy định 10 trường hợp được quyền sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút thù lao Dựa vào tính chất của các trường hợp người viết chia thành 3 nhóm : nhóm các trường hợp sao chép tác phẩm; nhóm các trường hợp trích dẫn, chuyển, nhập khẩu tác phẩm; nhóm các trường hợp còn lại ghi hình, biểu diễn, chụp ảnh…
2.1.2.1 Nhóm các trường hợp sao chép tác phẩm không cần phải xin
phép, không cần phải trả tiền nhuận bút, thù lao
Nhóm các trường hợp sao chép tác phẩm mà không cần phải xin phép, không cần phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo Điều 25 Luật SHTT hiện hành và Nghị
định 100/2006/NĐ-CP quy định thì có 2 trường hợp sao chép là trường “tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân” 22 và
“sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện nhằm mục đích nghiên cứu” 23
Thuật ngữ “sao chép” là “việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm,ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào,bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử” 24 Khi cá nhân, tổ chức sao chép tác phẩm thì
cần phải lưu ý là số lượng và khối lượng tự sao chép được bao nhiêu là không vi phạm, và sao chép nhằm mục đích gì Từ nhũng quy định trong Luật SHTT và Nghị định 100/2006/NĐ-CP cho ta thấy, pháp luật Việt Nam chỉ cho phép sao chép tác phẩm không quá một bản trong trường hợp nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân, không nhằm mục đích thương mại Nghiên cứu khoa học được
pháp luật Việt Nam định nghĩa là “hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng,
22 Xem điểm a khoản 1 Điều 25 Luật SHTT hiện hành
23 Xem điểm đ khoản 1 Điều 25 Luật SHTT hiện hành
24 Xem khoản 10 Điều 4 Luật SHTT hiện hành
Trang 34GVHD Nguyễn Phan Khôi 27 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng” 25 Như vậy, đối với điểm a khoản 1 Điều 25 Luật SHTT thì trường hợp này việc tự sao chép của cá nhân pháp luật vẫn cho phép, nhưng phải trong một giới hạn nhất định, nếu vượt khỏi khuôn khổ mà pháp luật cho phép sẽ gây ra hành
vi xâm phạm đến quyền tác giả Còn đối với điểm đ khoản 1 Điều 25 Luật SHTT cũng quy định rõ ràng là việc sao chép không được quá một bản Ngoài ra, thư viện không được phép sử dụng tùy ý tác phẩm như sao chép và phân phối các tác phẩm tới công chúng, kể cả các bản sao kỹ thuật số Thư viện chỉ được phép lưu trữ, và sử dụng nhằm nghiên cứu, ngoài ra các hoạt động khai thác tác phẩm với mục đích khác đều bị coi là vi phạm quyền tác giả
Ví dụ: Giảng viên khoa Luật trường Đại học Cần Thơ tự sao chép một bản tác
từ tác phẩm báo chí để đưa vào bài giảng của mình trên lớp phục vụ cho công việc giảng dạy Hay thư viện khoa Luậ Đại học Cần Thơ có lưu trữ một số giáo trình của các trường Đại học khác để sinh viên, giảng viên của khoa có thể đến đọc nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu, học tập
2.1.2.2 Nhóm các trường hợp trích dẫn, chuyển, nhập khẩu tác phẩm mà không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao
Nhóm các trường hợp trích dẫn, chuyển, nhập khẩu tác phẩm mà không phải
xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao Các trường hợp trích dẫn được quy định cụ thể tại điểm b, c, d khoản 1 Điều 25 Luật SHTT, thuật ngữ “trích dẫn” được hiểu là trích dẫn, rút một phần của tác phẩm đã công bố một cách hợp
lý Thông qua những quy định của Luật SHTT và Nghị định 100/2006/NĐ-CP thì
ta có thể thấy, việc trích dẫn tác phẩm không phải muốn trích tùy ý sao cũng được mà cần phải thực hiện một cách hợp lý, việc trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận, làm sáng tỏ tác phẩm của mình hay phục vụ giảng dạy, viết báo, phát thanh, truyền hình, phim tài liệu mà không nhằm mục đích thương mại; số lượng, thực chất, nội dung phần trích dẫn không được tự mình sửa lại, làm sai ý tác giả mà phải phù hợp với tính chất, đặc điểm của loại hình tác phẩm được sử dụng để trích dẫn, phần trích dẫn tác phẩm gốc không trở thành phần chính của tác phẩm mới và cũng không được gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm
25 Xem khoản 4 Điều 3 Luật khoa học và công nghệ 2010
Trang 35GVHD Nguyễn Phan Khôi 28 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
được sử dụng Thuật ngữ “không làm sai ý tác giả” thực tế rất mơ hồ, khi sáng tạo
ra tác phẩm và khi tác phẩm công bố trước công chúng, nội dung và tư tưởng mà
tác giả muốn truyền đạt có người sẽ hiểu theo cách này hay cách khác Ví dụ: trong một tác phẩm văn học, khi phân tích ý nghĩa tác phẩm thì sẽ có nhiều luồng
ý kiến khác nhau về tư tưởng, tình cảm mà tác giả muốn gửi gắm vào trong đó Vì
vậy khi trích dẫn tác phẩm, để tránh trường hợp làm sai ý tác giả, ta nên giữ nguyên nội dung, kết cấu, tính chất của tác phẩm Cần lưu ý thêm một vấn đề khi trích dẫn tác phẩm, dù chỉ là một phần nhỏ của tác phẩm cũng phải ghi rõ nguồn gốc tác phẩm, tên tác giả Việc trích dẫn cũng được quy định trong Công ước
Berne 1886 “được coi là hợp pháp những trích dẫn rút từ một tác phẩm đã được phổ cập tới công chúng một cách hợp pháp, miễn là sự trích dẫn đó phù hợp với những thông lệ chính đáng và trong mức độ phù hợp với mục đích, kể cả những trích dẫn các bài báo và tập san định kỳ dưới hình thức điểm báo” 26, điều này cho thấy pháp luật Việt Nam quy định là phù hợp với những quy định của quốc tế Cả
3 trường hợp trích dẫn được quy định rất cụ thể trong Luật SHTT Việt Nam, và được Nghị định 100/2006/NĐ-CP chi tiết hóa hơn nữa, mặc dù trong nghị định chỉ đề cập đến điểm b khoản 1 Điều 25 Luật SHTT, nhưng từ đó ta có thể dùng phương pháp suy lý mạnh để suy ra 2 trường hợp còn lại cũng quy định tương tự
Ví dụ: Đối với trường hợp quy định tại khoản đ “trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại” trong sách ngữ văn lớp 11 có trích dẫn một phần tác phẩm “Số đỏ” của nhà văn Vũ Trọng Phụng; nội dung và ý nghĩa của bài văn được trích dẫn đó là
“Hạnh phúc một tang gia” vẫn được giữ nguyên nhằm mục đích giảng dạy cho các học sinh
Trường hợp chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị trong Nghị định 100/2006/NĐ-CP không có quy định chi tiết, theo cách
hiểu và phân tích của người viết việc chuyển tác phẩm phải có một số điều kiện như nội dung của tác phẩm gốc khi chuyển sang chữ nổi hay ngôn ngữ khác phải giữ nguyên nội dung, dịch sát nghĩa, không làm sai ý tác giả; phải ghi rõ nguồn gốc tác phẩm và tên tác giả Trong trường hợp này thì số lượng các tác phẩm dịch không quy định cụ thể, nhưng không có nghĩa là có thể dịch không hạn chế số
26 Xem Điều 10 Công ước Berne 1886
Trang 36GVHD Nguyễn Phan Khôi 29 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
lượng, việc chuyển tác phẩm cũng phải ở mức độ phù hợp để không làm ảnh hưởng đến tác phẩm
Ví dụ: Trung tâm người khuyết tật chuyển tác phẩm “Bỉ vỏ” của nhà văn Nguyên Hồng cho các em khiếm thị trong trung tâm được đọc tác phẩm
Trường hợp còn lại nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng quy định tại điểm k khoản 1 Điều 25 của Luật SHTT, việc nhập khẩu chỉ
được nhập với số lượng không quá một bản, việc sử dụng tác phẩm nhập khẩu chỉ được phục vụ mục đích nghiên cứu, học tập riêng cho cá nhân, không được phổ biến rộng rãi hay sao chép ra nhiều bản tác phẩm để tuyên truyền người khác vì như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến quyền tác giả
2.1.2.3 Nhóm các trường hợp còn lại
Nhóm các trường hợp còn lại bao gồm điểm e, g, h khoản 1 Điều 25 Luật
SHTT Trường hợp quy định tại điểm e “biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền cổ động
không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào”; thuật ngữ “biểu diễn tác phẩm” hay
còn được hiểu là “biểu diễn trước công chúng” là “việc biểu diễn tác phẩm một cách trực tiếp hoặc thông qua các chương trình ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được”.27 Biểu diễn tác phẩm sân khấu hay loại hình biểu diễn nghệ thuật khác, dù bất kỳ hình thức biểu diễn nào, thì mục đích của các cuộc biểu diễn này chỉ nhằm tuyên truyền vận động, để các tác phẩm nghệ thuật phục vụ công chúng không mang tính thương mại thì không được thu tiền dù bất kỳ tình huống nào Tính chất và quy mô của
cuộc biểu diễn pháp luật cũng đã quy định cụ thể là “buổi sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền cổ động” đây chỉ đơn thuần là một buổi sinh hoạt tập thể với quy mô không
lớn hay là tuyên truyền, vận động một sự kiện nào đó, nếu tác phẩm được dùng trong các chương trình lớn như ca nhạc, sân khấu kịch phát sóng trực tiếp khi thì mặc dù không thu tiền nhưng sai với mục đích sử dụng tác phẩm đã quy định rõ ràng trong luật thì vẫn có thể rơi vào các hành vi gây xâm hại quyền tác giả
Ví dụ: Trong buổi sinh hoạt lớp, lớp phó văn thể sử dụng bài hát “Nhật ký của mẹ” để tuyên truyền, vận động nhân dịp Ngày lễ của mẹ
27 Tổ chức Cộng đồng sáng tạo (creative commons), giấy phép sử dụng, mục 1 giải thích từ ngữ
http://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/3.0/vn/legalcode truy cập ngày 16/10/2013
Trang 37GVHD Nguyễn Phan Khôi 30 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
Trường hợp quy định tại điểm g “ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy”; thuật ngữ “ghi âm, ghi hình” là hoạt động lưu
lại giọng nói, hình ảnh và lưu trữ vào băng, đĩa, usb hay những công cụ có thể luu trữ khác Mục đích của việc ghi âm, ghi hình cũng như các trường hợp khác là phi thương mại, chỉ nhằm đưa tin thời sự, giảng dạy Một buổi biểu diễn có thể liên quan đến một vấn đề, một sự kiện trong xã hội, các bản tin thời sự hằng ngày có thể ghi lại và phát sóng mà không cần phải xin phép, việc này chỉ thuần túy là nhằm mục đích đưa đến công chúng những tin tức, chứ không có mục đích thương mại Việc giảng dạy, cá nhân có thể ghi âm, ghi hình để lưu trữ phục vụ mục đích này, nhưng không được ghi lại với số lượng nhiều, cụ thể là không quá một bản sao vì như vậy sẽ ảnh hưởng một phần không nhỏ đến tác phẩm
Ví dụ: Đài VTV3 ghi hình buổi biểu diễn của ca sĩ Hiền Thục để đưa tin tức thời
sự trong chuyên mục sự kiện văn hóa nổi bật trong tuần
Trường hợp còn lại quy định tại điểm h, chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó Tác phẩm tạo hình quy định tại điểm g khoản
1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục như: hội hoạ, đồ hoạ, điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt và các hình thức thể hiện tương tự, tồn tại dưới dạng độc bản Riêng đối với loại hình đồ hoạ, có thể được thể hiện tới phiên bản thứ 50, được đánh số thứ tự có chữ ký của tác giả 28 Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là “tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối,
bố cục với tính năng hữu ích có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản xuất hàng loạt bằng tay hoặc bằng máy như: biểu trưng; hàng thủ công mỹ nghệ; hình thức thể hiện trên sản phẩm, bao bì sản phẩm” 29 Tác phẩm nhiếp ảnh là tác phẩm thể hiện hình ảnh của thế giới khách quan trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra hay có thể được tạo ra bằng bất cứ phương pháp kỹ thuật nào (hoá học, điện tử hoặc phương pháp khác) 30 Còn tác phẩm kiến trúc là các bản vẽ thiết kế dưới bất kỳ hình thức nào thể hiện ý tưởng sáng tạo về ngôi nhà, công trình xây dựng, quy hoạch không gian (quy hoạch xây dựng) đã hoặc
28 Khoản 1 Điều 15 Nghị định 100/2006/NĐ-CP
29 Khoản 2 Điều 15 Nghị định 100/2006/NĐ-CP
30 Điều 16 Nghị định 100/2006/NĐ-CP
Trang 38GVHD Nguyễn Phan Khôi 31 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
chưa xây dựng Tác phẩm kiến trúc bao gồm các bản vẽ thiết kế về mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt, phối cảnh, thể hiện ý tưởng sáng tạo về ngôi nhà, công trình, tổ hợp công trình kiến trúc, tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan của một vùng, một đô thị, hệ thống đô thị, khu chức năng đô thị, khu dân cư nông thôn 31 Người viết dựa vào những quy định của pháp luật đưa ra những định nghĩa về các tác phẩm để có thể hiểu biết các tác phẩm đó một cách rõ ràng Việc trưng bày, giới thiệu các tác phẩm này tại nơi công cộng không với mục đích thương mại, không thu bất kỳ một khoản phí nào đối với việc trưng bày tác phẩm Nơi công cộng phải là những nơi mà công chúng có thể dễ dàng tiếp cận với tác phẩm, tạo điều kiện để hình ảnh của các tác phẩm đến gần hơn với công chúng
Một lưu ý, tại khoản 3 Điều 25 Luật SHTT quy định điểm a, đ của khoản 1 không áp dụng đối với các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính Nếu các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học khác như: tác phẩm âm nhạc, tác phẩm văn học, tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian… đều hướng mục đích cuối cùng là đến công chúng, có thể phố biến rộng rãi đến công chúng, nhìn chung thì các tác phẩm này thường hướng đến một vấn đề, một sự kiện xã hội phổ biến nào đó nhằm tuyên truyền, cổ động, ý thức công chúng Đối với một tác phẩm kiến trúc, theo định nghĩa người viết đã
nêu trên thì đó là “một bản vẽ thiết kế thể hiện những ý tưởng sáng tạo về ngôi nhà, công trình xây dựng… đã hoặc chưa xây dựng…” Nếu cho phép sao chép để
nghiên cứu, giảng dạy, khi đứng trên khía cạnh kinh tế có thể ảnh hưởng đến lợi ích không nhỏ của tác giả, vì các tác phẩm kiểu này thường ít mang tính nghệ thuật nhưng vẫn được xem là một dạng của tác phẩm và được tác giả sáng tạo ra phần lớn vì mục đích kinh tế, từ lợi nhuận và khoản vật chất mà bản vẽ thiết kế đó mang lại cho tác giả Từ đó, cho thấy nếu pháp luật cho phép sao chép tác phẩm kiến trúc sẽ dẫn đến các trường hợp xảy ra tranh chấp quyền tác giả về một bản vẽ ngôi nhà, công trình xây dựng có cùng thiết kế Đối với tác phẩm tạo hình, như
khái niệm mà người viết đã nêu ở trên đó là các tác phẩm “hội hoạ, đồ hoạ, điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt và các hình thức thể hiện tương tự, tồn tại dưới dạng độc bản ” Ngay từ bản thân quy định của luật cũng đã nêu rõ, các tác phẩm thuộc kiểu
này là độc bản, nghĩa là chỉ có duy nhất một bản và ngay cả đối với tác phẩm đồ
31 Điều 17 Nghị định 100/2006/NĐ-CP
Trang 39GVHD Nguyễn Phan Khôi 32 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
họa có thể thể hiện tới phiên bản 50 nhưng cũng phải đánh số thứ tự và có chữ ký của tác giả, điều đó có thể suy ra là những người khác sẽ không có quyền sao chép dưới bất kỳ hình thức nào Chương trình máy tính là tập hợp các chỉ dẫn thể hiện dưới dạng các mã, các lệnh mà cá nhân hoặc một tổ chức sáng tạo ra để máy tính có thể thực hiện một công việc, một thao tác nào đó theo ý của người tạo ra
chương trình, đây là một trường hợp ngoại lệ vì “tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng hợp pháp bản sao chương trình máy tính có thể làm không quá một bản sao
dự phòng, để thay thế khi bản sao đó bị mất, bị hư hỏng hoặc không thể sử dụng được” 32
Qua những phân tích quy định của pháp luật trên, ta có thể thấy được rằng, việc quy định các trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao góp phần đảm bảo một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung, pháp luật quyền tác giả nói riêng là nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu tác phẩm với lợi ích của xã hội Nước
ta là một nước đang phát triển, thu nhập của người dân còn thấp, nhưng nhu cầu về thưởng thức các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (sau đây gọi tắt là tác phẩm), nhu cầu tiếp cận với tri thức của nhân loại là rất lớn, do vậy vấn đề được đặt ra là làm sao chúng ta thực hiện một cách hài hòa nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu tác phẩm với lợi ích của xã hội để có thể đáp ứng được một cách tốt nhất nhu cầu của xã hội mà vẫn bảo vệ được quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm nhằm khuyến khích sự sáng tạo và thực hiện các cam kết quốc tế
2.1.3 Các yêu cầu trong việc sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin
phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo quy định của pháp luật
Pháp luật SHTT nước ta quy định những trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút thù lao, nhưng việc sử dụng tác phẩm cũng phải nằm trong giới hạn, dù pháp luật cho phép nhưng cá nhân, tổ chức không thể tùy tiện sử dụng tác phẩm theo ý muốn Điều này người viết từng đề cập đến trong mục 1.3.2 nhưng chỉ khái quát sơ lược và mang tính lý luận, người viết tiếp tục tìm hiểu vấn đề này ở phương diện những quy định của pháp luật nhằm làm rõ và cụ thể hóa hơn Theo quy định tại khoản 2 điều 25 Luật SHTT hiện hành
32 Xem khoản 3 Điều 3 của Nghị định 85/2011/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP
Trang 40GVHD Nguyễn Phan Khôi 33 SVTH Phạm Nguyễn Huyền Trân
“tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, phải thông tin về tên tác giả
và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm” Từ quy định trên, ta thấy pháp luật đã quy
định rõ ràng các yêu cầu khi sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao
Thứ nhất, việc cần lưu ý trước hết khi sử dụng tác phẩm là tác phẩm được sử dụng phải là tác phẩm đã công bố Tác phẩm đã công bố là “những tác phẩm đã được phát hành với sự đồng ý của tác giả, không phân biệt phương pháp cấu tạo các bản sao, miễn là các bản đó đủ để đáp ứng nhu cầu hợp lý của quần chúng, tùy theo bản chất của tác phẩm” 33 Cụ thể cá nhân tổ chức có hành vi sao chép,
trích dẫn, ghi âm, ghi hình… tác phẩm mà tác giả chưa công bố đến công chúng thì đó được coi là một hành vi “ăn cắp ý tưởng” nếu tác phẩm đó vẫn chưa hoàn chỉnh, chưa thể hiện dưới dạng vật chất nhất định mà đó chỉ là những ý tưởng
Luật SHTT của nước ta quy định “quyền tác giả chỉ phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký” 34 từ khía cạnh này ta thấy, quyền tác giả
chỉ phát sinh khi tác phẩm đã định hình dưới một dạng vật chất như: sách, báo, phim ảnh, chương trình máy tính, bản thiết kế… và khi quyền tác giả phát sinh thì
cá nhân, tổ chức thực hiện một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều
25 sẽ bị coi là hành vi xâm hại quyền tác giả vì luật chỉ quy định những tác phẩm
đã công bố; việc sao chép, trích dẫn hay biểu diễn… đã vô ý công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép tác giả, nó trở thành hành vi gây xâm hại đến quyền tác giả theo quy định tại Điều 28 Luật SHTT
Một ví dụ minh họa: nhạc sỹ A đã nghĩ ra giai điệu của một bài hát, nhạc sĩ A chưa viết thành bản nhạc mà chỉ hát cho nhạc sĩ B nghe, sau đó bài hát được nhạc
sĩ B lấy giai điệu và sáng tác, tác phẩm âm nhạc này rất nổi tiếng trên thị trường
Ví dụ mà người viết đưa ra chỉ ra một điều, tác phẩm âm nhạc này khi nhạc sĩ A nghĩ ra chỉ là những ý tưởng, giai điệu, mà chưa thể hiện dưới dạng vật chất nhất định, nghĩa là thể hiện dưới dạng nốt nhạc, các kí tự âm nhạc thì việc nhạc sỹ B
33 Xem Điều 3 Công ước Berne 1886
34 Xem khoản 1 Điều 6 Luật SHTT 2005 sđbs 2009