THÔNG TIN, PHIẾU GIÁM ĐỊNH TÊN KHOA HỌC Phụ lục 1.4: Danh mục các cây thuốc được giám định tên khoa 62học và chứng nhận mã sổ tiêu bản xã Ba Vì Phụ lục 1.5: Danh mục các cây thuốc được g
Trang 1B ộ YTẾ
Phạm Hà Thanh Tùng
CỦA CỘNG ĐÒNG NGƯỜI DAO
ở MỘT SỔ XÃ MIÈN BÂC VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SỸ ĐẠI HỌC
KHOÁ 56 (2001-2006)
Ngirời hưởng dẫn: TS Trần Văn ơ n
ThS Hoàng Văn Lâm
Nơi thực hiện: Bộ môn Thực vật - trưởng ĐH Dược Hà Nội
Trang 2LCJI CAM ON
De CO dugc ban khoa luan tot nghiep nay, tm ac het toi xin bay to long kinh trong va biet an sau sac TS Tran Van On va ThS Hoang Van Lam (Trucmg DH Duac Ha N p i) la nhung nguai thay da true tiep hudng dan khoa hoc cho toi trong thai gian thirc hien de tai
Toi xin chan thanh cam om sur quan tam giup d a cua DS Le Dinh Bich, ThS Nguyen Quoc Huy, ThS Hoang Quynh Hoa, ThS Vu V ^ Anh va cac can bg bg mon Thyc vat Truong DH Dugc Ha Ngi trong suot qua trinh tham gia thuc nghiem khoa hgc tai bg mon
Trong qua trinh thuc hlen de tai, toi da nhan dugc su giiip da, tao dieu kien nghien cuu t h u ^ Igi cua Uy ban Nhan dan xa Ba Vi va xa Yen Ninh va sir hop tac cung cap thong tin cua cac hg gla dinh a cac thon Yen Son, Hgp Son, Hgp Nhat ( xa Ba Vi ) va cac thon Suoi Ben, Suoi Hang, Suoi Boc, Khe Khoang, Dong Phu 2, Dong Kem 4 ( xa Yen Ninh ) Toi ehan thanh cam an gia dinh ba Trieu Thi Thanh, ong Trieu HiJu Due, ba Trieu Thi Bay ( Ba V i )
va gia dinh ba Trieu Thi La ( Yen Ninh ) da nhiet tinh giup d a toi trong suot thai gian nghien cuu
Dac biet, toi xin bay to long biet an sau sac den cac thay c6 giang vien cung cac can bp truang DH Dugc Ha Ngi da giup dd, cung cap cho toi nhiing kien thuc quy bau trong qua trinh hgc tap, nghien cuu tai truang
Mac du con gap nhieu kho khan ve vat chat, thai gian, cung nhu trinh do c6 han, nhung vai nhung su giup da nhiet tinh va c6 hieu qua tren, toi da hoan thanh khoa luan nay dung thai han
Ha ngi, ngay 19 thang 05 nam 2006
Sink vien
Pham Ha Thanh Tung
Trang 3CHƯƠNG 2: THIÉT KÉ NGHIÊN c ú u , NỘI DUNG VÀ 13 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨXl
2.1THIÉT KÉ NGHIÊN c ứ u 13
2,2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 13
2.2.1 Các bệnh điều trị bàng phương pháp tắm và các cây 13thuốc sử dụng
2.2.3 Điều tra hoạt động thu hái, chế biển và bán các sản 16phẩm thuốc tắm
2.2.4 Điều tra Kiến thức ~ Thái độ - Thực hành (KAP) 16 trong sử dụng thuốc tắm tại các hộ gia đình
2.2.5 So sánh về tri thức sử dụng bài thuốc tắm của người 17Dao tai hai xã Yên Ninh và xã Ba Vì
Trang 4CHUƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u 183.1 TÍNH ĐA DẠNG CỦA CÂY THUÓC TẮM ĐƯỢC 18 NGƯỜI DAO SỬ DỤNG
3.2.4 Bài thuốc tắm người Dao ứong quan hệ cộng đồng 33
3.3 TỈNH TRẠNG s ử DỤNG VÀ BẢO TÒN BÀI THUỐC 35 TẤM
3.3.1 Kiến thức - Thái độ - Thực hành (KAP) của người 35dân trong việc sử dụng bài thuốc tắm
4.1 VÈ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 45
Trang 5THÔNG TIN, PHIẾU GIÁM ĐỊNH TÊN KHOA HỌC
Phụ lục 1.4: Danh mục các cây thuốc được giám định tên khoa 62học và chứng nhận mã sổ tiêu bản xã Ba Vì
Phụ lục 1.5: Danh mục các cây thuốc được giám định tên khoa 65học và chứng nhận mã sổ tiêu bản xã Yên Ninh
Phụ lục 1.6: Phiếu điều tra Kiến thức - Thái độ - Thực hành tại 68
tắm được người Dao sử dụng tại xã Yên Ninh
dụng ở xã Ba Vì và xã Yên Ninh
PHỤ LỤC 3: ẢNH MỘT s ố LOÀI CÂY THUỐC TẮM 81
ĐƯỢC NGƯỜI DAO SỬ DỤNG VỚI CÔNG DỤNG GIÓNG NHAU ở 2 XÃ BA VÌ VÀ YÊN NINH
Trang 6NHỮNG CHỮ VIÉT TẮT TRONG KHOÁ LUẬN
Người cung cấp tin trong quá trình tư liệu hoá tri thứcMức độ hiểm của cây thuốc tắm
Mức độ sử dụng của cây thuốc tắmMức độ giảm của cây thuốc tắmĐiểm bảo tồn của cây thuốc tắm
TIẾNG ANH
Vỉết tắt Viết đầy đủ
Resources (Hiệp hội Bảo tồn Quốc tế)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG «
vật
thuốc tam của cả 2 xã
ở 2 xã Ba Vì và Yên Ninh
Vì và Yên Ninh
hành trong sử dụng bài thuốc tắm trong cộng đồng tại xã Ba Vì
xã Ba Vì
xã Yên Ninh
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
dụng theo số loài
bệnh/chứng
Dao ở Ba Vì và Yên Ninh
thuốc tắm của người Dao
lứa tuổi ở xã Ba Vì
lứa tuôi ở xã Yên Ninh
Trang 9ĐẶT VẤN ĐÈ
Việt Nam được đánh giá là nước đứng thứ 16 trên thế giới đa dạng sinh vật, trong đó có hệ thực vật Vùng núi Việt Nam chiếm tới 3/4 diện tích lãnh thổ, là nơi cư trú của 54 dân tộc mà chủ yếu là các dân tộc thiểu số với khoảng
24 triệu người, chiếm hơn ỉ /3 dân số quốc gia Chính sự đa dạng về sấc tộc cùng với sự khác biệt về tập quán văn hóa trong từng cộng đồng dân tộc đã dẫn đến sự đa dạng những kinh nghiệm gia truyền [5’
Người Dao là cộng đồng dân tộc có cuộc sống gắn bó với hệ thực vật phorig phú của núi rừng Việt Nam và có những tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc rất quý báu Các nghiên cứu về người Dao ở 2 xã Ba Vì và Yên Ninh đều cho thay Bài thuốc tắm của người Dao là một bài thuốc quan trọng trong hoạt động chăm sóc sức khoẻ của cộng đồng với số loài cây sử dụng có thể lên đến 120 loài [8][14], tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu đầy đủ nào về tri thức sử dụng Bài thuốc tắm tại các địa phương trên
Nguồn cây cỏ phong phú và tri thức về cách sử dụng chúng để làm thuốc là hai mặt của vấn đề tài nguyên cây thuốc Việc thu thập tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc truyền thống nói chung và tri thức sử dụng Bài thuốc
tắm của người Dao nói riêng cần được nhìn nhận từ 2 góc độ (ỉ) Bảo tồn\ bao
gồm khai thác sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây cỏ làm thuốc, tư liệu hoá các tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc và trên hết là gìn giữ các giá trị vãn
hoá liên quan đến việc sử dụng cây cỏ làm thuốc, (ii) Phát triển: bao gồm
nghiên cứu hiện đại hoá nhằm nâng cao giá trị sử dụng của các tri thức sử dụng thuốc truyền thống đồng thời tôn ưọng các quyền sở hữu trí tuệ (IPR - Intellectual Property Right) và đảm bảo quyền lợi được chia sẻ công bằng,
Nghiên cứu Bài thuốc tắm được thực hiện theo các phương pháp của Thực vật dân tộc học nhàm mục đích xác định tương đối đầy đủ các cây cỏ sử dụng, tri thức và tình trạng sử dụng sử dụng cây cỏ làm thuốc đồng thời tôn trọng bản quyền của các tri thức bản địa của cộng đồng người Dao tại các địa
Trang 10phưcmg nơi nghiên cứu Việc nghiên cứu bài thuốc tắm tại hai địa phương khác nhau ở cộng đồng thuộc các nhóm Dao địa phương khác nhau với cùng phưoíng pháp có thể cho chúng ta những so sánh thú vị về văn hoá liên quan đến Bài thuốc tắm.
Trên cơ sở đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Điều tra tri thức sử dụng
Bài thuốc tắm của người Dao ở một số xã miền Bắc Việt Nam” với các
mục tiêu:
(1 ) Xác định các loài cây thuốc được người Dao sử dụng với mục đích
tắm chữa bệnh tại 2 xã Ba Vì và Yên Ninh
(2) Tư liệu hoá tri thức sử dụng Bài thuốc tắm của người Dao tại 2 xã
Trang 11số chất cỏ thể hấp thu qua da [23] [28'.
Trị liệu pháp bàng tắm thảo dược là một khái niệm không mới và đã được sử dụng rộng rãi từ rất lâu ở nhiều nước trên thế giới để chữa một sổ bệnh như mất ngủ, bệnh xương khớp, bỏng.v.v ở các nước phương Tây, tài liệu đầu tiên đề cập đến việc tắm thuốc là từ thế kỉ thứ nhất sau công nguyên Hiện nay, tắm thảo dược được dùng phổ biến như một dạng hưofng trị liệu pháp [23][27]
Theo tài liệu của Trung Quốc thì người Trung Quốc cổ đâ bẳt đầu dùng phương pháp tắm thảo dược để chữa một số bệnh có thể từ những năm
1700 - 1027 trước công nguyên Phưong pháp tắm thảo dược chủ yếu dùng cho hoàng hậu hoặc các cung nữ phục vụ cho nhà vua với mục đích làm đẹp
da, giảm căng thẳng và ngăn chặn quá trình lão hoá
[25]-Người Nhật bắt đầu sử dụng tắm thảo dược từ khoảng thế kỷ 9 và trở nên đặc biệt phổ biến dưới đời Edo (1603-1867) [25]
Người Tây Tạng sử dụng tấm là liệu pháp chính trong điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp Bên cạnh sử dụng cách tắm hơi nóng, người Tây Tạng còn bỏ thêm một số dược thảo vào nước tắm như Shugpa, Balu, Tsadh, Khenpa, Yombu.v.v ( Những cây này chỉ mọc tại Hy Mã Lạp Sơn nên chỉ có tên Tây T ạ n g ) [10
Hiện nay có nhiều cách giải thích khác nhau về tác dụng của phưcmg pháp tắm thảo duợc, trong đó 3 cách thường gặp là:
Trang 12(ỉ) Thủy trị liệu pháp (Hydrotherapy, Hydrothermal therapy) [23] [28
Thủy trị liệu pháp (Hydrotherapy) là phưomg pháp sử dụng nước trong chừa bệnh dựa trên tác dụng của nước Thuỷ nhiệt liệu pháp (Hydrothermal therapy) là phương pháp thủy trị liệu kểt hợp với tác dụng của nhiệt độ
Nguyên lý của phương pháp là dựa trên những phản ứng của cơ thể đối với những tác động của nóng và lạnh, vào áp lực nước trên cơ thể, và vào các cảm giác do nước thuốc mang lại Tín hiệu thần kinh được dẫn truyền từ cơ quan nhận cảm là da đến trung ương thần kinh kích thích việc hoạt động của
hệ miễn dịch, sản sinh hormon “stress”, tăng cưòmg hoạt động của hệ tuần hoàn và tiêu hóa, tăng cưòng tuần hoàn máu, làm giảm cảm giác đau.v.v
Thông thường, nước nóng tạo cảm giác thanh thản cho cơ thể, giảm hoạt động của các cơ quan Ngược lại, nước lạnh kích thích và tăng cường hoạt động của các cơ quan
Một số nghiên cứu mô tả và nghiên cứu có can thiệp đã cung cấp kết
~hỊ
quả vê tác dụng của phương pháp thuỷrìiệu pbàp Tác dụng điêu trị bỏng, giảm càng thẳng quá mức, giảm đau trong trường hợp đau khớp của thuỷ frị liệu pháp cũng đã được nêu ra qua một số nghiên cứu [16][18][21] [28]
(2) Hương trị liệu pháp (Áromatherapy) [23] [27]
Hương trị liệu pháp là phương pháp chăm sóc sức khoẻ bàng cách dùng hương thơm từ các tinh dầu thực vật như tinh dầu hoa hồng, chanh, bạc hà.v.v Áp dụng phương pháp tắm trong hương trị liệu pháp thường được áp dụng để chăm sóc da, giảm đau nhức, giảm căng thẳng và mệt mỏi, tăng cường sinh lực cho cơ thể
Nguyên ỉý của hương trị liệu pháp là dựa trên tác dụng khác nhau của các loại tinh dẩu trên hệ thần kinh Khi được hít vào, thông qua cơ quan nhận cảm khứu giác, tinh dầu tác động vào hệ limbic của hệ thần kinh trung ương
Trang 13đây ỉà bộ phận kiểm soát các hoạt động của cơ thể về cảm xúc, tâm trạng và khả năng ghi nhớ.
Các nghiên cứu trên tần số sóng não cho thấy mùi hưomg la-văng (lavender) tăng tần số sóng alpha ở não sau do đó tạo cho cơ thể cảm giác thư giản Ngược lại, mùi hưong nhài lại làm tăng tần số sóng bêta ở não truớc do
đó gây cho cơ thể cảm giác kích thích, [23 ]
Ngoài ra tinh dầu còn chứa các thành phần hoạt chất có thể tạo ra những tác dụng kháng khuẩn, kháng viêm, kích thích hệ miễn dịch.v.v Hiện nay, hương trị liệu pháp đang nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trên thế giới trong việc điều trị một số bệnh như mất ngủ, cảm, rối loạn tâm thần, viêm khớp,.v.v [23][24][26'
chữa mất ngủ \.y
Một ví dụ tiêu biểu là phương pháp tắm bàng cây “Golden Rod ” (Solidago virgaurea (L.)) được sử dụng theo kinh nghiệm truyền thống ở các nước phưong Tây để giảm các cơn đau khớp, đau cơ và viêm khớp dạng thấp Các nghiên cứu khoa học mới nhất cho thấy vỏ cây này có tỷ lệ cao aspirin và các chất có hoạt tính giống aspirin có tác dụng giảm đau trong các trường hợp viêm khớp [25]
Một nghiên cứu của khoa vi sinh học và miễn dịch trường Đại Học Y Quinghai đã chứng minh được tác dụng cải thiện miễn dịch ở các bệnh nhân
Trang 14viêm khớp dạng thấp khi sử dụng liệu pháp tắm Padma 28 có nguồn gốc từ y học Tây Tạng.
1.1.2 ở Việt Nam
Việc áp dụng phương pháp tắm thuốc như một phucmg pháp chữa bệnh
đã đuợc thực hiện rộng rãi trong đời sống chủ yếu dưới hình thức xông và tắm trong các trưòmg hợp cảm với các cây thuốc sử dụng chủ yếu là các cây có thành phần tinh dầu cao như hưong nhu, tía tô, kinh giới, hoắc hương, lá long não.v.v
Các nghiên cứu tài nguyên cây thuốc cho thấy cộng đồng người dân tộc Dao' Mưcmg, Tày, Thái ở nhiều địa phương khác nhau ở nước ta như Hà Giang, Lào Cai, Hà Tây, Phú Thọ, Thái Nguyên, Nghệ An sử dụng phương pháp tắm như một cách chữa bệnh đặc biệt là bài thuốc tắm của người Dao với
số cây thuốc có thể từ 20-120 loài cây thuốc khác nhau [3][8][11][14] Đề tài
“Khảo sát bài thuốc tắm của người Dao đỏ ở Sa Pa, Lào Cai” được thực hiện năm 2005 đã cho thấy bài thuốc tắm của ngưởi Dao là một bài thuốc quý và
có nhiều giá trị ứng dụng và phát triển [3
1.2 NGƯỜI DAO ở VIỆT NAM
Nguời Dao ở Việt Nam hiện nay có hơn 500.000 người, nhân khẩu đứng hàng thứ 9 so với các dân tộc trong nước Người Dao cư trú phân tán, sống xen kẽ vái người Hmông, Tày, Nùng, Thái, Kinh.v.v dọc theo biên giới Việt - Trung, Việt - Lào và một só tỉnh trung du và miền biển Bắc Bộ Người Dao sống trên cả ba vùng địa hình là núi cao, vùng giữa và vùng thấp trong đó tập trung ở vùng giữa
Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quổc nhưng do nhiều biến cố lịch
sử mà phân tán thành các nhóm nhỏ và rời cái nôi của mình là đất Châu Dương và Châu Kinh để tản mát đi khấp nơi để sinh sổng trong đó một số
Trang 15nhóm đã di cư sang Việt Nam từ suốt thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ
XX Trong quá trình di cư, các nhóm người Dao đã tiếp thu thêm nhiều yếu tố văn hóa của các dân tộc khác đồng thời các yếu tổ văn hóa mới được nảy sinh
và hlnh thành những tính cách riêng và mang những tên họ khác nhau Hiện nay, dân tộc Dao ở nuớc ta có 6 nhóm theo sự phân chia Nguyễn Khắc Tụng gồm có Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, Dao Tiền, Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y - Dao Làn Tẻn [4][12]
Mặc dù vậy, tất cả các nhóm Dao đều sử dụng chung một thứ tiếng nói
Sự khác nhau về tiểng nói giữa các nhóm Dao ở Việt Nam là không đáng kể, chỉ ở một số từ vị cơ bản và thanh điệu còn cấu trúc ngữ pháp thì không có gì thay đối Ngôn ngữ Dao rất gần với ngôn ngữ Hmông nên được xếp vào nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao [12] Người Dao chưa có chữ viết riêng theo hệ La Tinh như một so dân tộc thiếu số khác, tuy nhiên một số người dùng chữ Hán
để ghi lại tiếng nói của mình như cách dùng chữ Nôm của người Việt Tiếng Dao là một ngôn ngừ có thanh địêu với 5 thanh điệu khác nhau, 28 phụ âm làm đầu, 4 nguyên âm đơn và 2 nguyên âm đôi làm âm đệm, 2 nguyên âm và
6 phụ âm ỉàm âm cuổi [8
Nguời Dao tự gọi mình là Kìm miền (Kìm mùn) có nghĩa là người ở rừng (kìm là rừng, miền là người ) do cuộc sống của họ luôn gắn liền với rừng núi ở vùng rẻo với các cây trồng chính là lúa nương và lúa nước trên ruộng bậc thang, ngô, sắn và một số loại rau màu khác Bên cạnh đó, người Dao còn nhiều nghề phụ gia đình và một số nghề thủ công ( đan lát, dệt vải, rèn, lâm giấy, nghề bạc.v.v ) đặc biệt là nghề làm thuốc Nam do xuất phát là cuộc sống ở vùng sâu vùng xa nên y học dân tộc luôn đóng vai trò chủ đạo Phần lớn các gia đình người Dao đều tự chữa bệnh cho các thành viên trong gia đình, mình theo các bài thuốc cha truyền con nổi [4
Cây thuốc được người Dao sử dụng là rất đa dạng và chữa nhiều nhóm bệnh/chứng khác nhau [4][8][12] Cây thuốc của người Dao nói chung có thể
Trang 16chia thành 3 loại chính: thuốc bổ, thuốc độc và thuốc chừa bệnh, Thuốc chữa bệnh thường là những cây cỏ có vị đắng, chát, ngọt hoặc bộ phận của động vật như mật gấu, dạ dày nhím, cao động vật [12].
Cây thuốc được người Dao có thể sử dụng dạng tươi, chế biến dưới dạng khô hoặc nấu thành cao Thông thường, trong chữa bệnh người Dao phải phối hợp nhiều vị thuốc theo những tỷ lệ nhất định thì mới trở thành bài thuốc
có hiệu quả Các cách sử dụng cây thuốc chính được xác định là (i) ăn, (ii) dùng ngoài và (iii) uổng [4] [8
Tên gọi Bài thuốc tắm (Đìa dảo xin - đìa: cây thuốc; dảo xin: tắm) dùng để chỉ việc sử dụng cây thuốc tắm của của người Dao trong điều fri các bệnh chứng theo những cách khác nhau Đây là bài thuốc gồm các cây thuốc thuộc nhóm các cày thuốc dùng ngoài Các nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc ở các xã Yên Ninh - huyện Phú Lưong - tỉnh Thái Nguyên và xã Ba Vì
- Huyện Ba Vì - tỉnh Hà Tây cho thấy nguời Dao ở các địa phương này đều
có tri thức sự dụng cây thuốc tắm rất phong phú [8][14], Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về bảo tồn và phát triển bài thuốc tắm ở hai địa phương trên
1.3 ĐIA ĐIỂM NGHIÊN CÚXJ «
1.3.1 Xã Ba Vì
ỉ 3 ỉ ỉ Điều kiện tự nhiên
Xã Ba Vì là một trong 7 xã thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Vì (VQGBV), thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây, nằm cách trung tâm thị xã Som Tây 18 km về phía Tây Diện tích tự nhiên 25,8 km^ Xã nằm ừong tọa độ địa
lý từ 21 “07’ đến 2 ^ 1 5 ’ độ vĩ Bắc, từ 105‘M8’ đến 105^25’ độ kinh Đông
ỉ 3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trang 17Xã gồm 3 thôn Yên Sơn, Hợp Nhất và Hợp Sofn với dân số 1875 người, phân bố ở 335 hộ, trong đó dân tộc Dao chiếm đa số (98%) và một số ít người Kinh, Mưỏrng (2%) Thu nhập bình quân đầu người năm 2005 là 2.100.000 đồng/ người,
v ề giáo dục, xã Ba Vì có 3 trường phổ thông cơ sở với đội ngũ 45 giáo viên và khoảng 600 học sinh, hai trường mầu giảo với 4 giáo viên Nói chung trẻ em đến tuổi đều được đi học Phần lớn trẻ em được học hết bậc tiểu học và trung học cơ sở Tỷ lệ học sinh học phố thông trung học và học đại học cao đẳng là rất thấp
v ề y tế và sức khỏe, do đặc điểm địa hình phân cắt, xã có 2 trạm y tế ở
Yên Sơn và Hợp Sơn với 3 y sỹ đa khoa, 1 y sỹ sản khoa và 1 y tế thôn bản Các bệnh thường gặp trong cộng đồng là đưòng tiêu hóa-hô hấp, cơ-xưong khớp và bệnh phụ nữ Xã có 1 chi hội Đông y với khoảng 25 hội viên,
1.3 ỉ 3 Người Dao ở x ã Ba Vì
Người Dao ở Ba Vì thuộc nhóm Dao quần chẹt (Dao sơn đầu) có nguồn gốc từ Quảng Tây (Trung Quốc), di cư vào Việt Nam từ khoảng 600 năm trước và đến khu vực núi Ba Vì vào đầu thế kỷ XX ở đây người Dao sống du canh trên độ cao 400-600 m với các hoạt động săn bắn và phát nương làm rẫy
Vào năm 1960, thực hiện cuộc vận động “hạ sơn” và phong trào hợp tác xã, người Dao di chuyển xuống độ cao dưới 100 m và thành lập 2 hợp tác
xã (HTX) là HTX Yên Sofn và HTX Họrp Nhất Vào đầu những năm 1990 người Dao ở HTX Hợp Nhất được cấp đất và tách thành 2 thôn là Hợp Sơn và Họrp Nhất như ngày nay
Trang 181.3 ỉ 4 Hoạt động sử dụng cây cỏ ỉàm thuốc
Trong các cộng đồng các dân tộc Kinh, Mường và Dao sống ở vùng đệm của VQG Ba Vì thì cho đến nay chỉ có cộng đồng người Dao còn duy trì hoạt động thu hái, chế biến và bán cây cỏ và các sản phẩm thuốc có nguồn gốc
từ VQGBV Việc làm thuốc của người Dao trong xã đã trở thành một nghề với hơn 60 hộ gia đình tham gia vào các hoạt động bán thuốc Nam tại nhà, trong tỉnh và một sổ còn đi bán ở các tỉnh khác ở xa
Hoạt động thu hái, chế biến chủ yếu được thực hiện ở thôn Hợp Nhất
và Hợp Son Do hoạt động thu hái bị hạn chế vì đưòng đi thu hái phải qua khu vực bảo vệ nghiêm ngặt của VQGBV nên người Dao ở thôn Yên SoTi chủ yếu mua lại cây cỏ hoặc sản phẩm thuốc từ hai thôn trên để bán lại ra thị trường
Việc sử dụng cây cỏ làm thuốc vẫn là hoạt động chăm sóc sức khỏe chính của người dân trong xã Trần Văn ơ n đã thực hiện đề tài “Góp phần nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Vườn Quốc gia Ba Vì” qua đó xác định được 503 loài cây thuốc để chừa 131 bệnh/chứng khác nhau, thuộc 29 nhóm bệnh, đưa tổng số loài cây thuốc đã được xác định ở VQGBV lên 617 Theo quan niệm của người Dao ở VQGBV, một bài thuốc điển hình để chữa bệnh gồm 4 thành phần cơ bản là (i) ừị bệnh, (ii) đuổi bệnh, (iii) triệt bệnh và (iv) chống tái phát [8’
Các cách sử dụng cây thuốc chính đuợc xác định là (i) ăn, (ii) dùng ngoài và (iii) uống, Trong đường uống thì sạc thuốc và uống thuốc cao là 2 cách dùng phổ biến nhất Trong cách dùng ngoài thỉ tắm và đắp là 2 cách dùng phổ biến nhất, s ố loài cây thuốc tắm đã xác định là 59 loài, [8]
Trang 191.3.2 Xã Yên Ninh
ỉ, 3.2.1 Điểu kiện tự nhiên
Xã Yên Ninh là một xã phía Bắc của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 40 km về phía Bắc
Xã nằm dọc hai bên đường quốc lộ số 3, rộng khoảng 55,35 km^ và ở độ cao
từ 200-420m so với mặt nước biển
Ị 3.2.2 Điều kiện kỉnh tể - xã hội
Xã gồm 16 thôn với 6400 người phân bể-è-1571 hộ (2005) Thành phần dân tộc của xã (theo thứ tự từ nhiều đến ít): (i) Tày (2.845 người), (ii) Kinh (1548 người), (iii) Dao (955 người), (iv) Sán Chí (633 người), (v) Nùng (237 người), và một số hộ gia đình dân tộc Mưòoig, Hoa và Thái
Trong xã, người Dao cư trú trên đất núi đá vôi ở phía Đông Nam với hoạt động canh tác một phần vẫn là pháC nương làm rẫy và vẫn gắn liền với núi rừng Trong khi đó, người Tày cư trú ở khu đất feral it trên nền cát với độ dốc vừa phải ở phía Tây người Kinh cư trú chủ yếu dọc bên đường quốc lộ và các dải đất phù sa ven suối với hoạt động canh tác chính là làm lúa nước
v ề giáo dục, xã có 1 trưòng tiểu học, một trường trung học cơ sở và 1 trường trung học phổ thông phục vụ nhu cầu giảng dạy cho 920 học sinh Ngoài ra còn có một sổ trưÒTig mẫu giáo ở các thôn 100% trẻ em trong độ tuổi được đi học Tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông cơ sở là 96,2% Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học khoảng 60% Tỷ lệ học sinh đậu đại học là rất thấp
v ề y tể và sức khỏe, xã có 1 trạm y tế với 7 cán bộ trong đó có 1 bác
sỹ, 5 y sỹ và l hộ lý Bên cạnh đó, mỗi thôn đều có 1 y tế thôn bản và 1 cộng tảc viên dân số Xã tổ chức được 1 chi hội Đông y có 11 thành viên thuộc các dân tộc Dao, Tày, Nùng, Kinh
Trang 201.3.2.3 Người Dao ở xã Yên Ninh
Theo một số người cao tuổi trong xã thì người Dao ở đây có thể thuộc nhóm Dao Đỏ từ Quảng Đông và Quảng Tây đến Việt Nam vào khoảng cuổi thế kỷ XVIII Khi đến xã Yên Ninh, người Dao sổng du canh trên các dãy núi cao, hoạt động canh tác chính là p h át nuGfng làm rẫy Năm 1957, theo cuộc vận động “hạ sơn”, ngưcri Dao dần dần chuyển xuống núi và tập trung chủ yếu
ở các thôn Suối Hang, Suoi Bốc, Ba Họ, Khe Khoang và một số ít sống rải rác
ở các thôn khác
L3.2.4 Hoạt động sử dụng cây cỏ làm thuốc
Đe tài “Điều tra nghiên cứu các cây thuốc và bài thuốc dân tộc ở một xã thuộc huyện Bẳc Thái” do Nguyễn Vãn Tuân thực hiện đã xác định được 164 loài cây cỏ làm thuốc và 44 bài thuổc được nhân dân trong khu vực xã Yên Ninh dùng để chữa 27 loại bệnh [14'
Trong xã hoạt động thu hái, chế biến, và làm thuốc có thể gặp ở các cộng đồng dân tộc khác nhau trong đó chủ yếu là các dân tộc Tày, Dao và Sán Chí
Các cách chừa bệnh của nhân dân ở đây là (ỉ) sắc uống, (ii) ngâm rượu
để dùng ngoài hay uống, (iii) dùng ngoài (tắm, đắp) (iv) một số cách khác ( buộc thắt lưng, khoán, đút túi áo.v.v ) Đặc biệt là cách dùng thuốc tấm cho phụ nữ sau đẻ của người Dao ( có thể lên đến 120 loài nhưng thưòng dùng khoảng 20 loài ) số loài cây thuổc tám của người Dao đã được xác định là 50 loài í 14'
Trang 21CHƯƠNG 2: THIÉT KÉ NGHIÊN cứu, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ ũ
2.1.T H IẾ T KÉ N G H IÊN CỦXl: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả.[2'
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Xã Ba Vì - huyện Ba Vì - tỉnh Hà Tây
Xã Yên Ninh - huyện Phú Lương - tỉnh Thải Nguyên
2.1.2 Thòi gian nghiên cứu: 01/02/06 - 01/05/06
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu
Các cây thuốc được các cộng đồng người Dao tại xã Ba Vì và xã Yên Ninh sử dụng chữa bệnh bằng phương pháp tắm
Cộng đồng dân tộc Dao ở các thôn Yên Scm, Họrp Sơn, Hợp Nhất thuộc
2.2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỦXl
2.2.1 Các bệnh điều trị bằng phương pháp tắm và các cây thuốc sử dụng
Giai đoạn ỉ: Liệt ké tự do [9]
Chon mẫu: Do đặc thù hoạt động sử dụng cây cỏ làm thuốc tại 2 xã điều tra khác nhau nên người cung cấp tin (NCCT) được chọn là khác nhau, ở
xã Ba Vi, NCCT là những người có các hoạt động thu hái, chế biến và bán cây thuốc và các sản phẩm từ cây thuốc (thường gọi là “làm thuốc”), ở xã Yên Ninh, NCCT có thể là những những người làm thuốc hoặc là những người có hiểu biết nhiều về cây thuốc và được thừa nhận rộng rãi ưong cộng đồng
Trang 22số lương của NCCT: được xác định dựa trên “đưcmg cong loài” Khi
số lượng NCCT tăng lên mà số loài được liệt kê tăng lên không đáng kể thì có thể ngừng việc phỏng vấn liệt kê tự do số người đã được phỏng vấn là 12 người (xã Ba Vì) và 8 người (xã Yên Ninh)
Phỏng vấn: NCCT được yêu cầu kể tên các trường hợp có thể dùng phương pháp tắm thuốc và ứng với mỗi trường hợp liệt kê tất cả các cây thuốc bằng tiếng Dao được sử dụng
Giai đoạn 2: Thu thập mau tiêu bản
Mầu tiêu bản của tất cả các cây thuốc trong danh mục liệt kê tự do được thu thập, xử lý bằng phuong pháp khô và lưu trữ tại phòng tiêu bản của trưỏng Đại học Dược Hà Nội (HNIP) số mẫu đã được lưu tại HNIP là 88 mẫu tiêu bản của xã Ba Vi và 78 mẫu tiêu bản của xã Yên Ninh (phụ lục 1.2; 1.3; 1.4)
Giai đoạn 3: Xác định tên khoa học
Tên khoa học của mẫu tiêu bản được giám định bởi TS Trần Văn ơ n (Trường Đại học Dược Hà Nội ) bằng phương pháp so sảnh hình thái dựa trên các sách cây thuốc, thực vật chí, và các đặc điểm mau tiêu bản tại phòng tiêu bản XrưÒTig Đại Học Dược Hà Nội (HNIP)
Giai đoạn 4: X ử ỉỷ dữ liệu
Từ các danh mục liệt kê do các NCCT khác nhau cung cấp và các mẫu tiêu bản thu được, loại bỏ các tên tiếng Dao đồng nghĩa, tảng hợp và lập một danh mục tên tiếng Dao các trường hợp sử dụng phương pháp tắm và các cây thuốc tắm được người Dao sử dụng ở các địa phương điều tra
Giai đoạn 5: Đảnh giá độ tin cậy
Điều tra viên sử dụng danh mục tên cây thuốc tắm thu được ở giai đoạn
4 để phỏng vấn NCCT: “ Bác/anh/chị cỏ sử dụng cây thuốc X i để tắm trong trường hçfp Yj không?” (với x¡ là tên các cây thuốc và Yj tên các bệnh bằng tiếng Dao trong danh mục)
Độ tin cậy của thông tin được tính theo công thức Friedman [9]:
Trang 23Fyt Độ tin cậy của thông tin ( 0 < Fv < 1 )Sij! SỐ người nói cây thuốc i chữa bệnh j
^ S: Tổng số người được hỏi
Do đối tượng nghiên cứu của đề tài là các cây thuốc được cộng đồng sử dụng nên chỉ các cây thuốc tắm với công dụng có hệ số tin cậy Fv>0.25 mới được tư liệu hóa
Số NCCT đã được phỏng vấn là 30 ở xã Ba Vi và 20 ở xã Yên Ninh
2.2.2 Xác định tình trạng bảo tồn của cây thuốc
Dựa vào danh mục cây thuốc tắm thu được ở giai đoạn 4, xác định tình trạng bảo ton của các cây thuốc sử dụng các kỹ thuật cho điểm của PRA [9],
Ba tiêu chuẩn được áp dụng để đánh giả mửc bảo tồn của cây thuốc là:
(i) Mức độ hiếm (1-5, với 5 là hiểm nhất) ;
(ii) Mức độ khai thác (1-5, với 5 là mức độ khai thác nhiều nhất)
(iii) Mức giảm trữ lượng trong 10 năm qua (0-9, với 9 tương ứng với mức giảm 90%) Trong quá trình xử lý số liệu chỉ tiêu này được rút gọn thảnh thang 1-5 nhầm cân bang với các chỉ tiêu khác
Các tiêu chuẩn trên được xác định thông qua việc phỏng vấn các NCCT thuòmg xuyên có các hoạt động thu hái và bán thuốc ở các địa bàn khác nhau
ở từng xã điều tra Giá trị của mỗi tiêu chuẩn được xác định bằng giá trị trung bình của giá trị các NCCT cung cấp
Điểm bảo tồn (ĐBT) được xác định bàng tổng giá trị ba tiêu chuẩn trên Trong phạm vi đề tài, chúng tôi xác định các loài có ĐBT>10 là các loài có mức ưu tiên bảo tồn cao
Trang 242.2.3 Điều tra hoạt động thu hái, chế biến và bán các sản phẩm thuốc tắm
Tham gia hoạt động thu hái, chế biến, sử dụng thuốc tắm tại các hộ gia đình và bán thuốc tắm của những người làm thuốc tại các địa phương Các thông tin được tư ỉiệu hoá thông qua quan sát và trao đổi với người dân ừong cộng đồng tham gia vào các hoạt động này,
2.2.4 Điều tra Kiến thức - Thái độ - Thực hành (KAP) trong sử dụng thuốc tắm tại các hộ gia đình
a Điều tra KAP của các hộ gia đĩnh người Dao:
Đối tương phỏng vấn: Được chọn theo phương pháp phân tầng [2] với tầng được xác định là (i) các hộ gia đinh có làm thuổc Nam và (ii) các gia đình không làm thuốc Nam Lứa tuối người chọn phỏng vấn là trên 25
Nôi dung điều tra : (i) Thông tin về KAP trong sử dụng thuốc tắm (phụ lục 1.5) và (ii) Test nhận thức 20 loài cây thuốc tắm có có Fv cao
Do thời gian thực hiện đề tài có hạn nên chúng tôi chỉ thu thập được các thông tin về KAP của 60 người đã lập gia đỉnh tại 60 hộ gia đình trên địa bàn
Trang 25b Điều tra Bài thuốc tắm trong mối quan hệ của người Dao với các dân tộc khác
Mầu điều tra chọn theo phương pháp thuận tiện Điều tra định tính với
nội dung điều tra là các thông tin về KAP của các hộ gia đình này về bài thuốc
tắm của người Dao
Điều tra đã được thực hiện tại 30 hộ gia đinh với thành phần dân tộc là
Tày (14 hộ), Kinh ( 8 hộ ), Sán Chí ( 6 hộ ) Sán Chí + Tày ( 1 hộ ) và Kinh +
Dao (1 hộ ) ở 3 thôn Đồng Phủ 2, Đồng Kem 4 và Suối Bén trên địa bàn xã
So sánh về cây thuốc sử dụng: dựa trên việc so sánh các mẫu tiêu bản
thu thập và tên khoa học đã xác định
So sánh về tri thức sử dụng: thông qua phỏng vấn và phỏng vấn chéo
thông tin từ NCCT ở 2 xã
H
Trang 26CHƯƠNG 3: KÉT QUẢ NGHIÊN CỦXí
3.1 TÍNH ĐA DẠNG CỦA CÂY THUỐC TẢM Được NGƯỜI DAO sử
DUNG «
3.1.ĩ Đa dạng theo các bậc phân loại
Qua điều tra đã xác định được 88 loài cây thuốc tắm được người Dao ở
Ba Vì sử dụng, trong đó có 66 loài đã xác định tên khoa học đến loài, 82 loài được xác định đên chi, và 6 loài chưa xác định được tên(KH} Các loài này thuộc 64 chi, 38 họ của 2 ngành thực vật chính là Pinophyta và Magnoliophyta (bảng 3.1)
Số loài cây thuốc tắm được người Dao ở xã Yên Ninh sử dụng là 78 trong đó 42 loài đã được xã định tên khoa học đến loài, 71 loài đã được xác định đến chi, 76 loài đã xác định đến họ và 2 loài chưa xác định được tên khoa học (phụ lục ỉ 4) Các loài đâ xác định này thuộc 67 chi, 42 họ của 3 ngành thực vật ỉà Equisetophyta, Pinophyta và Magnoliophyta (bảng 3.1)
Phân bố các loài cây thuốc tám theo ngành được trình bày ở bảng 3.1 Ngành Magliophyta có số loài nhiều nhất với 82/84 (97,6%) ở xã Ba Vì và 72/74 (97.29%) ở xã Yên Ninh
Bảng 3.1 Phân bố các loài thuốc tắm trong các ngành thực vật
họ Sổ chi Sổ loài Sổ ho Sổ chi SỐ h à i
Trang 27ở taxon bậc họ, có 28 họ thực vật (bảng 3.2) xuất hiện trong danh mục thuốc tắm ở cả 2 xã trong đó các họ Araceae (Ráy), Asteraceae (Cúc), Euphorbiaceae (Thầu dầu), Fabaceae (Đậu), Myrcinaceae (Sim), Rutaceae (Cam), Verbenaceae (Cỏ roi ngựa) là các họ trên 2 loài cây thuốc tắm ở cả 2
xã điều tra ở xã Ba Vì, họ có nhiều cây thuốc tắm nhất là Euphorbiacae (9 loài) và ở xã Yên Ninh, họ có nhiều cây thuốc tắm nhất là Fabaceae (7 loài) Các họ thực vật sử dụng khác nhau ở 2 xã điều tra đều chỉ chứa 1 loài
Bảng 3.2: Danh mục các họ xuât hiện trong danh mục thuốc tắm của cà 2 xã
Tên khoa học Tên Viêt Nam Sâ chi Số loài Sô chỉ Sô ỉoàì
Trang 28ớ taxon bậc chi, mức tương đồng ở bậc chi là khá cao với 28 chi giống nhau ( chiếm 43,38%) ( phụ lục 2.3 ) có cây thuốc tắm ở 2 xã trong đó có 25 chi có cây thuốc sử dụng để tắm với công dụng giống nhau Sự phân bố số lượng các chi theo số lượng loài Chi có số loài nhiều nhất là 4 (BV) và 3 (YN), Số chi có trên 2 loài cây thuốc tắm chiếm tỷ lệ 25% (BV) và 12,7% (YN).
■ Ba Vì
□ Yên Ninh
1 loài 2 loài 3 loài
Số toài cùa chi
Hĩnh 3 ỉ: Phăn bắ so lượng chi cây thuốc tắm người Dao sử dụng theo sổ loài
ớ taxon bậc loài, có 22 loài cây thuốc được cộng đồng người Dao ở 2
xã sử dụng với cùng công dụng, chiếm tỷ lệ 25% số cây thuốc tắm được sử dụng trong mỗi cộng đồng (bảng 3.3) Trong số đó ngoài 3 cây thuốc Hương nhu, Bưởi, Chanh là những cây thuốc thông đụng dùng xông, tắm trong trường hợp bệnh cảm của nhân dân ta thì các cây thuốc còn lại có thể xem là kiến thức đặc trưng riêng của người Dao
Bủng 3.3: Cây thuốc tẳm được dùng công dụng giống nhau
ở 2 xã Ba Vì và Yên Ninh
TI' Tên khoa học Tên Dao
Ba n
Tên Dao Yẽn Ninh
Tên thường dùng
Công dụng chung
Trang 29Bảng 3.3: Cây thuốc tắm được dừng công dụng giống nhau
ở 2 xã Ba Vì và Yên Ninh
7T Tên khoa học Tên Dao
Ba V]
Tên Dao Yên Ninh
Tên thường dùng
Công dụng chung
2
Blumea balsamifera
phòng hậu sản
3 Buddỉeịa asiatica Lour. Pit peo Cù péo Bo chó ngứa4
Cissus subtetragona
Planch.
Quyên dòi m'hây
Quyên dòi m'hây
tài
Xươngkhớp5
Citrus granáis (L)
6 Cilrus limonia Osbeck Chanh* Chanh* Chanh cảm
10
Homaỉomena occuỉta
(Lour.) SchoU. Hầu đang Hầu hạp đang
Thiên niên kiên
Xươngkhớp11
Homonoia riparia
phòng hậu sản
12 ỉỉex spl. Đìa d'han Đìa d'hản (cây tan)
phòng hậu sản
13 numera spỉ.
Cù tạy
phòng hậu sản
14 Mimosa púdica L. Mìa nhay
Mỉa ói, mia
xươngkhớp19
Psychotria rubra
(Lour.) Poit.
Đìa xèng meng
f ^ ' - ' -^ - 7 - — J
leo tiêng phô thông ** : Tên gọi theo tiêng TàyGhi chú: *: Tên được gọi t
Trang 303.1.2 Đa dạng theo dạng sống
Các cây thuốc tắm được sử dụng ở cả 2 xã Ba Vì và Yên Ninh thuộc 5 loại dạng sống chính với số lượng theo các bậc phân loại được trình bày ở bảng 3.4 Các dạng sống chính của cây thuốc tắm gồm: (i) Gổ, (ii) Bụi, (iii) Bụi leo, (iv) Dây leo và (v) cỏ
_ Bảng 3.4: Đa dạng cầy thuốc tắm theo dạng sổng ở 2 xã B V và YN
ở xã Ba Vì, một tỷ lệ lớn (28,41%) các cây thuốc tắm ỉà chỉ công dụng, tác dụng của cây Lý giải cho điều này là do tỷ lệ cây thuốc tắm dùng trong trường hợp đau xương khớp là khá cao( bảng 3.4) Theo quan niệm của người Dao ở đây thì nguyên nhân chính gây ra các bệnh xương khớp là gió (dào) và khi gió nhập vào người ỉâu ngày sẽ tụ thành bệnh gọi là lồ lào (lồ: lâu ngày; lào: gió nhập vào người ) Do vậy tên các cây thuốc tắm ở đây có một nhóm
tên các cây thuốc chỉ loại cây trừ nguyên nhân gây bệnh là dào mia ( dào: gió
; mia: cây ) và một nhóm các tên chỉ các loại cây có tác dụng chữa khỏi bệnh
Trang 31lả các lồ lào mia (lồ lào; bệnh lồ lào ; mia: cây ) Hai nhóm tên này không có
trong cấu trúc tên cây thuốc tắm của người Dao xã Yên Ninh
■ Ba Vì
□ Yên Ninh
13.o|
[ 16.9
-Đặc điểm Cõng Ngôn ngữ Ngu6n cây dụng khác gốc
Ý nghĩa tén cây thuổc tắm
Không biết
Hình 3.2: Cách gọi tên cây thuốc tắm của người Dao
ở xã Yên Ninh, tỷ lệ số cây thuốc tắm được gọi tên theo ngôn ngữ khác tiếng Dao là 20,51% trong khi đó tỷ lệ này ở xã Ba Vì chỉ là 9,09 % (bảng 3.3) Tương tự, nểu như trong số 22 loài cây thuốc tắm được đùng giống nhau
ở cả 2 xã, ở xã Ba Vì có 2/22 loài được gọi tên bằng ngôn ngữ khác ( tiếng phổ thông ) thì trong khi đó ở xã Yên Ninh có đến 6/22 loài (3 loài bằng tiếng Tày và 3 loài bằng tiếng phổ thông ) (bảng 3.2) Điều này có thể lý giải được
từ đặc trưng xã hội của 2 xã ỏ Ba Vì, 98% dân số là nguời Dao, ngôn ngữ giao tiếp chính hàng ngây trong cộng đồng là tiếng Dao nên tên các cây thuốc bằng tiếng Dao ở đây vẫn ít bị ảnh hưởng bởi các các ngôn ngừ khác Trong khi đó xã Yên Ninh là một môi trường đa tộc người với 3 nhỏm dân tộc chính
là Tày, ÍCinh và Dao Trước khi tiếng phổ thông trở nên phổ biến như hiện nay thi ngôn ngữ giao tiếp chính trong cộng đồng là tiếng Tày vì vậy khá nhiều tên cây thuốc của người Dao ở xã Yên Ninh là gọi theo tên của tiếng Tày
Trang 32Trong số 22 loài cây thuốc tắm được dùng giống nhau ở cả 2 xã thì 9 loài cây thuổc tắm ( 10,22% ) có tên gọi tiếng Dao giổng nhau ở cả hai địa
phương là Đìa dhản ụ iex sp.) , Sình pầu {Acorus gramineus Soland), Quyền dòi m ’hây (Cissus subtetragona Pỉanch Planch.), M ’hầy mui (Gnetum
latifolium (Bỉ.) Margf.), Đìa chụt {Helỉciopsỉs lobata (Merr.) Sĩeumer ), Hầu
đang {Homaỉomena occulta (Lour.) Schott) , s lùi liềm {Homonoia riparia
Lour.), Cù tạy m ’hây ụiligera spL), Mìa nhay {Mimosa púdica L ), Chìm tàu
lậu (Pegia sarmentosa (Lee.) Hand.-Mazz.) (bảng 3.2) Đây là các loài đặc
trưng cho tri thức sử dụng thuốc tắm của người Dao
Các loài có tên gọi bàng tiếng Dao khác nhau giữa hai xã như Puồng
ton (BV) và Đìa chùng ỉậu (YN) {Vernonia cinerea (L.) Less ), Pit peo (BV)
và Cù péo (YN) {Buddleja asiatica Lour.) Các loài mang tên có ý nghĩa gần
giống nhau và có cách đọc không khác nhau nhiều như Đìa xèng meng (BV)
và Đèng tòn meng (YN) (Psychotria rubra (Lour.) Poit), Pù chặt mau (BV) và Chàn mau (YN) (Tinospora sinensis (Lour.) Merr.) Các sự khác nhau này cỏ
thê do đặc trưng khác nhau của ngôn ngừ hai nhóm Dao địa phưong hoặc do
có sự biến đối trong quá trình di cư của họ
Các thuốc dùng trong trưòng hợp này cũng thưòng được chia thành hai nhóm ứng với hai mục đích chữa bệnh như trên
Trang 33ii Tầm po ’ng (các bệnh cơ xương khớp)
Tầm po’ng là khái niệm rộng được người Dao sử dụng ừong ừiròng hợp đau nhức xưong khớp, đau cơ, sưng khớp, tê, bại liệt.v.v Nguyên nhân của bệnh được cho là do phong
Trong chữa trị các bệnh này, người Dao thường có một khung chung các cây thuốc được sử dụng trong tất cả các trưòng hợp với mục đích trừ phong Ngoài ra đối với từng bệnh cảnh cụ thể lại có những nguyên tắc gia giảm riêng Phương pháp dùng trong điều trị thường kết hợp đồng thời thuốc uống và thuốc tắm, xông Đa phần các cây thuốc tắm trong trường hợp này đồng thời cũng là các thuốc dùng trong uổng
iiL X iết (các bệnh lở ngứa)
Xiết theo người Dao gồm 2 trường hợp là ngứa ngoài da (thường đo vệ sinh kém hoặc mắc phải trong khi ỉao động) và phong ngứa (do nhiễm phong) Các trường hợp ngứa ngoài da thường gặp như sơn ãn, ghẻ, nấm, nuớc ăn chân, mụn ngứa trẻ em.v.v và có thể điều trị đom giản bằng cách tắm Tniòmg hợp ngứa do phong được cho là phong ngứa đã vào máu và điều trị bằng cách phối họrp thuốc tắm và thuốc uống Các cây thuốc tắm ngứa thường rất đắng
và không được dùng để uống
Trên thực tế không có triệu chứng cụ thể nào để phân biệt 2 loại ngứa ngoài da và ngứa do phong Trong thực hành chữa bệnh, người Dao thường bắt đầu bằng sử dụng phưong pháp tắm, nếu không hiệu quả thì phải kết hợp thêm thuốc uổng khác
ỈV, Cam, chụ cam (bệnh "cam ” trẻ em)
Theo quan niệm của người Dao có nhiều loại bệnh cam khác nhau như cam ra lười, cam ra mắt, cam giật, cam mồ hôi trộm, cam gầy (cam đường ruột), cam béo, cam vàng da.v.v Cách hiểu về các loại bệnh cam cũng rất
Trang 34khác nhau ở các nhóm Dao địa phương khác nhau nhưng nguyên nhân chính của bệnh thường được biết đến là đo dinh dưỡng kém Đe phát hiện một trẻ bị bệnh cam, người Dao có những dấu hiệu nhận biết nhất định như quan sát màu da, tròng mắt, phân của trẻ hoặc dùng cách chẩn đoán đặc biệt như
“khẩy” vào khớp ngón tay
Cách điều trị bệnh cam thường dùng là tấm thuốc và uống thuốc hoặc theo một số cách “chữa mẹo” theo quan niệm của từng địa phương
Thông thường, phuomg pháp tắm thưòng được dùng trong trường hợp cam vàng da Theo quan niệm của người Dao việc chữa trị bệnh cam cần phải thực hiện càng sớm càng tổt nếu không bệnh sẽ dẫn đến những biến chứng có hại cho trẻ sau này như mù mắt, trẻ chậm phát triển
vi Cảm cúm và đậu ỉào
Đậu lào là một bệnh cảnh đặc biệt theo quan niệm của người Dao Bệnh
có các biểu hiện như cảm cúm và thường được phát hiện bàng cách lấy củ ráy ngứa, chấm vôi và đánh khắp người, nếu đúng bệnh thì người bệnh sẽ không
bị ngứa
Trong điều trị, phương pháp chính là đến trạm y te hoặc các cơ sở dược
để mua thuốc tây Phucmg pháp xông tắm trong các trường hợp cảm cúm và đậu lào thường được sử dụng với mục đích hỗ trợ điều trị Các cây thuốc dùng xông tắm thường là các cây thuốc mọc quanh vườn và dễ dàng lấy được ngay khi cần dùng
Trang 353.2,2,2 Tính thống nhất trong cách sử dụng các cây thuốc tắm chữa các bệnh/chứng
Neu như ở xâ Ba Vì, việc làm thuốc đã trở thành một nghề với 90% số
hộ người Dao có khả năng dùng cây thuốc để chừa bệnh, không những cho bản thân cộng đồng mà còn dùng để bán thì ở xã Yên Ninh, số người thường xuyên có các hoạt động làm thuốc thì ít hcm nhiều Vì vậy, nhìn chung tính thống nhất trong tri thức sử dụng cây thuốc tắm trong chữa các bệnh/chứng ở
xã Ba Vỉ là cao hơn so với xã Yên Ninh ( hình 3.3) số công dụng của cây thuốc có hệ số tin cậy Fv >0.75/ tổng công dụng được sử dụng của cây thuốc
tam ở xã Ba Vì là 54,08 % trong khi đó ở xã Yên Ninh tỷ lệ này chỉ là
34,41%
Trưòng hợp tắm sau đẻ ở xã Ba Vì, cây thuốc tắm sử dụng trong trường
hợp tắm sau đẻ chính là Đìa dhản ựỉex sp.) với Fv =1 Việc gia thêm một số
cây thuốc tắm khác như Đìa chụt (Heỉicia sps.), Puồng ton ( Vernonia cinerea
(L.) Less.) hay Sình pầu ( Acorus gramineus Soỉand.) trong trường hợp này
chỉ gặp ở một sổ ít người Vì vậy tỷ lệ số loài cây thuốc tắm có Fv >0,75 / tổng số loài cây thuốc tắm sử dụng ở đây là thấp
Trang 363.2.2.3 Số lượng cây thuốc tắm đu'Ọ'c sử dụng
Quan niệm thưòng gặp khi sử dụng thuốc tắm của người Dao là “sổ cây lấy được tắm càng nhiều càng tốt” Tuy nhiên, thông thuòng một lần tắm người Dao sử dụng từ 7 - 20 loài cây thuốc Trong các trường hợp tắm cam, ngứa, phù thì chỉ cần lấy 3-5 loài
Số lượng cây thuoc tắm có có công dụng chữa bệnh/chứng khác nhau là khác nhau (bảng 3,3) Nhìn chung, số lượng các loài sử dụng tương ứng với mức độ thường gặp của các bệnh/chứng trong cộng đồng trừ trường hợp bệnh cảm do các cây thuốc dùng tắm trong trường hợp này là các cây có thể lấy được quanh nhà Các trường hợp cam, vả phù thường ít gặp nên số lượng cây thuốc tắm dùng trong các trường hợp này là không nhiều
Các cây thuốc tắm trong trường hợp ngứa thưòng là cây thuốc có vị rất đắng, không uống được và thường trong chừa trị tắm thuốc chỉ giải quyết được các trường hợp ngứa ngoài da Do vậy số lượng cây thuốc tẳm ngứa đuợc cộng đồng sử dụng thường cũng không nhiều
Bảng 3.5 : So lượng cây thuốc tam chữa các bệnh/chứng
Bệnh/Chứng Xương khớp Sau đẻ Ngứa Phù Cam Cảm
Ghi chú: * Tông các tỷ lệ % không băng 100% do một cây thuôc có thê sử dụng
trong nhiều hơn 1 bệnh/chứng
Số lượng cây thuốc tắm được sử dụng nhiều trong các trưàng hợp đau xương khớp (BV) và tắm cho phụ nữ sau đẻ (YN) (bảng 3.5) Điều này được
lý giải như sau:
Trang 37- Thông thường đối với người Dao ở Ba VI trong trưòng hợp tắm sau
đẻ thưÒTig chỉ cần dùng Đìa dhản (ỉỉex sp.) hoặc trong một số ít trường hợp có
thế kết hợp Đìa dhản với một so loài khác với mục đích phòng hậu sản Tuy nhiên trong phần lớn trường hợp người Dao ở đây còn dùng thêm các loài cây thuốc dùng trong trường hçfp tam đau xương khớp để giúp người phụ nữ tránh mắc phải các bệnh về xương khớp sau này
- Đối với người Dao ở xã Yên Ninh, hoạt động tắm thuốc chủ yếu ở đây
ỉà đối với phụ nữ sau đẻ nên số cây thuốc dùng tắm trong trường hợp này là nhiều nhất (66,67%) Bên cạnh đó, tri thức sử dụng cảc bài thuốc tắm ừong các trường hợp tắm xương khớp, tắm phù thưòng là tri thức riêng một sổ ít người do vậy sự phổ biến và thống nhất trong trường hợp này ỉà hạn chể
3.2.3 Thu hái, chế biến, sử dụng Bài thuốc tắm
3.2.3.1 Thu hái thuốc tắm
a Bộ phận cây thuoc tam sử dụng
Bộ phận sử dụng của các loài cây thuốc tắm là thân, dây leo và lá Một
số ít các cây dùng thân rễ hoặc cả cây (hình 3.4, phụ lục 1.3;1.4), Người Dao cho rằng đối với cây thuốc thông thường thì phần Ị á nhiều chất hơn phần thân
và đối với loài cây thuốc dạng dây leo thì phần dây chứa nhiều “chất” hơn phần lá Trước đây khi cây thuốc còn nhiều và việc khai thác không bị giới hạn thì việc tắm hay uống chỉ sử dụng phần cây thuốc có nhiều “chất” hcm Ngày nay cùng với sự cạn kiệt do khai thác quá mức (BV, YN) và cấm khai thác cây thuốc từ Vườn quốc gia (BV) thì cây thuốc trở nên hiếm hơn và frong
sử dụng người Dao phải tận dụng cả những phần ít “chất” hon
Như vậy, bộ phận dùng tắm của cây thuốc là thân và lá với ưu tiên dùng
lá (phần thân leo cho uống) đối với các cây hiện nay còn hiếm như M ’hầy mui
(Gnetum latifoHum (Bỉ.) Margf.) , Đỉa chụt {Heỉiciopsỉs ỉobata (Merr.) Sỉeumer), Tầm kha m ’hây (Ventỉlago ỉeiocarpa B e n t h ) K i ế n g một số
Trang 38cây, bộ phận dùng tắm chỉ là thân như Chì chuôi m ’hây (Ficus annuỉata Bỉ.) (
b Thời điểm thu hái
Theo một sổ thầy thuốc ở xã Yên Ninh thì quy định của một số gia đình
về thời điểm thu hải cây thuốc trước đây là khá khắt khe: sáng chỉ được hái từ 8-lOh và chiều từ 2-4h Ngày nay quan niệm trên không còn nữa và đa phần người Dao đi lấy thuổc tắm vào bất kỳ lúc nào nếu cần dùng Tuy nhiên, nhiều
hộ gia đình vẫn kiêng không đi lấy cây thuốc vào ỉúc giữa ừưa (12h) vì theo
họ vào lúc này cây thuốc lấy được sẽ ít “chất” và tác dụng chữa bệnh không tốt
c Cách nhận biết cây thuốc tắm:
Cách nhận biết cây thuốc tắm của người Dao khá đa dạng như quan sát hình dạng, màu sắc lá, thân cây; dùng dao chặt vào thân để quan sát hình dạng vết cắt hoặc chất nhựa chảy ra; ngửi đổi với một số cây có mùi thơm đặc biệt
Trang 39Hình ỉ 5: Hoạt động thu hái - ché biến - sử dụng và bán thuốc tắm của người Dao
ự ) + (2): Thu hái thuốc tám; (3)+(4): Chế biến thuốc tắm; (5): Bảo quàn thuốc tám
(6): Bán thuốc tắm đến cho khách hàng; (7): Sử dụng thuốc tám trong cộng đồng (8) + (9): Kiểm tra, thu mua và sử dụng thuốc tắm tại các cơ sở tắm
Trang 40d Hoạt động thu hái ( hình 3,5.1)
, Dựa vào tính chất và mục đích, việc thu hái chia 2 loại:
- Thu hái để dùng ngay: Đối tượng thu hái có thể là bất kỳ ai trong cộng đồng nhận biết đuợc cây thuốc, không phân biệt nam hay nữ Theo người Dao tắm thuốc tốt nhất là dùng dạng cây tươi nên cây thuốc tắm thường thu hái ngay trước khi dùng tắm số lượng cày thuốc lấy có thể không nhiều Việc hái thuốc thường chỉ kéo dài không quá một buổi
- Thu hái để làm thuốc: Đối tượng thu hái thường là những người làm thuốc hoặc là những người chuyên thu hái về để bán lại cho người làm thuốc, Việc thu hái cây thuốc tắm thường kết hợp với việc thu hái các cây thuốc chữa bệnh khác Để lấy đủ số cây thuốc tắm cần mất nhiều ngày đi rừng Cây thuốc tắm sau khi lấy về được băm nhỏ (hình 3.5.3), phơi hoặc sao khô (hình 3.5.4), đóng vào túi nylon hoặc bao tải để bảo quản (hình 3,5.5)
3.2.3.2 Cách tắm thuốc
Cây thuốc tắm sau khi thu hái và sơ che được cho vào nồi dung tích 10-
20 lít (có gia đình dùng nồi dung tích 40 lít) hoặc chảo gang lớn, đun sôi kỳ (hình 3.5.7), đổ ra chậu
Đổi với trường họrp đau xương khớp hoặc cảm trước khi tắm nên xông bằng cách trùm vỏ chăn kín người và chậu nước thuốc để dùng hơi xông cho đến khi toát mồ hôi Đổi với người bị tăng huyết áp thường không được xông hoặc chỉ được xông từ từ và không trùm chăn kín đầu Nước thuốc sau khi xông lại được dùng để tắm
Nước thuổc để một lúc đến nhiệt độ vừa với người tắm (thường không nóng quá hoặc không nguội quá) Cách đánh giá chất lượng một nồi nước thuốc tắm của người Dao chủ yếu vẫn mang tính cảm quan về độ đậm nhạt Tuyệt đổi không pha loãng nước thuốc bằng nước lạnh, nếu muốn có thêm nước tam thì phải đổ thêm nước vào nồi thuốc đế đun tiếp các nuớc khác Thông thường, người Dao không đun quá 3 nước