Trước kia trước 1993 khi chưa có luật phá sản doanh nghiệp nên các doanhnghiệp Nhà nước khi không có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng đều đượcgiải quyết theo thủ tục giải thểtheo quyế
Trang 1LÒI NÓI ĐẦU
Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển đổi và đổi mới cơ chế quản lý nền kinh
tế, vì thế nhiều vấn đề về luật kinh tế cần được nghiên cứu để ngày càng phùhợp với nền kinh tế thế giới.Chúng ta vẫn chưa có mô hình đích thực của phápluật điều chỉnh các quan hệ kinh tế thị trường Nền kinh tế thị trường phát triểncần có môi trường pháp luật bởi vì pháp luật là điều kiện để các quan hệ kinh tếphát huy được ưu điểm của mình đồng thời tạo đà cho nền kinh tế phát triển bềnvững Vì vậy việc biên soạn những tài liệu về luật kinh tế vẫn còn đang là vấn
đề cấp thiết để đáp ứng được nhu cầu của không chỉ của các nhà kinh tế, cácnhà nghiên cứu mà còn là của người dân
Năm 1986 nhà nước đã có chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường saugần ba mươi năm đổi mới đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn từ nềnkinh tế thị trường mang lại, điều này chứng tỏ đường lối mà Đảng và Nhà nước
ta vạch ra và đang đi là đúng đắn Những kết quả này chính là dấu hiệu thểhiện đúng sức mạnh của nền kinh tế thị trường mang tiềm năng và hiệu quả đểchúng ta có thể thực hiện công cuộc dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng vănminh Vì vậy cơ chế thị trường đã được Hiến pháp 1992 của Việt Nam ghi nhậnthành một nguyên tắc Hiến định cho đến ngày nay, thực tiễn xác định phát triểnnền kinh tế thị trường trên thế giới hàng trăm năm qua đã chứng minh chochúng ta thấy những cơ sở để nói rằng pháp luật đã trở thành một bộ phận cấuthành của nền kinh tế thị trường văn minh Mặt khác luật kinh tế là tổng hợp cácquy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tổchức và hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các đơn vị kinh tế với nhau và giữachúng với các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế bằng cách sử dụng và phối
Trang 2hợp các phương pháp tác động khác nhau nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế
xã hội của đất nước
Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, với sự tác động của quy luật kinh tế trong đó
có quy luật cạnh tranh đã làm nảy sinh các mối quan hệ mới mà bản thân kinh
tế kế hoạch hoá không hàm chứa được Trong vòng đời doanh nghiệp, khi gặpkhó khăn, doanh nghiệp có thể ngừng hoạt động sản xuất, kinh doanh trong mộtthời gian nhất định Đây là một dạng rút lui tạm thời khỏi thị trường Tuynhiên, khi không thể tiếp tục hoạt động kinh doanh, doanhnghiệp phải rút lui khỏi thị trường thông qua hình thức giải thểhoặc phá sản doanh nghiệp
Khi một doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản đã làm nảy sinh nhiềumối quan hệ phức tạp cần được giải quyết Chẳng những quan hệ nợ nần giữacác chủ nợ với doanh nghiệp mắc nợ, quan hệ giữa doanh nghiệp mắc nợ vớingười lao động do tình trạng mất khả năng thanh toán nợ gây ra Vì vậy việcgiải quyết kịp thời các vấn đề đó có ý nghĩa rất quan trọng nhằm thiết lập mộttrật tự cần thiết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo quyền lợichủ thể của các mối quan hệ hay các bên liên quan
Trước kia (trước 1993) khi chưa có luật phá sản doanh nghiệp nên các doanhnghiệp Nhà nước khi không có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng đều đượcgiải quyết theo thủ tục giải thể(theo quyết định 315 của Hội đồng bộ trưởngngày 01.09.1990) kết quả là không ít những trường hợp nhà nước phải khoanh
nợ, xoá nợ gây ảnh hưởng không tốt đến quyền lợi của một số chủ nợ khi luậtphá sản được ban hành và có hiệu lực thì về nguyên tắc, tất cả các doanh nghiệpkhi kinh doanh thua lỗ đến mức mất khả năng thanh toán nợ đến hạn đều đượcgiải quyết theo luật phá sản doanh nghiệp; Nhìn chung luật phá sản doanhnghiệp được Quốc hội thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1993 đã đáp ứng đượcđông đảo quần chúng nhân dân và sự chờ đợi của các nhà doanh nghiệp nhằm
Trang 3tìm ra một trật tự chung cần thiết để đảm bảo quyền lợi họp pháp của các chủ
nợ, các doanh nghiệp mắc nợ và của người lao động, bảo đảm trật tự kỷ cươngcho xã hội và quyền lợi cho các bên liên quan
Tuy nhiên phá sản là một vấn đề từ lý luận đến thực tiễn là một quá trình tìmhiểu và nghiên cứu bởi khi một doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản nó sẽ ảnhhưởng rất lớn đến nền kinh tế và đặc biệt là quyền lợi của người lao động ítnhiều sẽ bị xáo trộn như tiền lương, các chế độ, việc làm và các vấn đề tiêu cựcphát sinh
Đối với nước ta việc phá sản vẫn là một vấn đề mới mẻ Cho nên thực tiễngiải quyết phá sản của nước ta trong thời gian qua còn gặp không ít khó khănvướng mắc Chính vì vậy mà việc nắm bắt, hiểu biết đầy đủ về thủ tục giảiquyết yêu cầu tuyên bố phá sản của doanh nghiệp là sự cần thiết và cấp bách Vìnhững lý do trên nhóm 3 đã chọn đề tài:
"Thực trạng về vấn đề phá sản, giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam” làm
đề tài khoá luận nhằm nâng cao tầm nhìn sâu - rộng trong lĩnh vực phá sản, giảithể của doanh nghiệp
Để làm sáng tỏ đề tài nghiên cứu nhóm sẽ đi sâu nghiên cứu những phầnchính sau đây:
Mục I: Nhận thức chung về phá sản, giải thể doanh nghiệp
Mục II: Thực trạng về phá sản, giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam.
Mục III: Nhận xét và kết luận về thực trạng phá sản, giải thể doanh nghiệp
ở Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu để hoàn thiện bản khoá luận này, cácthông tin từ các trang web và các tài liệu về kinh tế, tài chính và pháp luật đãgiúp nhóm có được những kiến thức và tư liệu hữu ích để xây dựng bài tiểuluận
Trang 41.2 Khái niệm về phá sản doanh nghiệp:
Danh từ phá sản được bắt nguồn từ tiếng Latinh "RUIN" có nghĩa là là "sựkhánh tận" khái niệm này dùng để chỉ tình trạng mất cân đối giữa thu và chi củamột chủ doanh nghiệp mà biểu hiện trực tiếp và rõ nhất của sự mất cân đối giữathu và chi là tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn phải trả
Pháp luật của nhà nước trên thế giới có nhiều chế định khác nhau về phápluật phá sản đối với các loại hình doanh nghiệp Thậm chí có nhiều quan điểmkhác nhau về định lượng và định tính trong việc xác định một doanh nghiệp lâmvào tình trạng phá sản doanh nghiệp hay mất khả năng thanh toán nợ đến hạnnhư luật phá sản của Malaysia, Hunggari, Trung Quốc Song cho dù có các chếđịnh khác nhau như vậy nhưng pháp luật các nước đều có khái niệm thống nhất
là một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản khi doanh nghiệp đó không cònkhả năng thanh toán nợ đến hạn
Tại Việt Nam, Luật phá sản doanh nghiệp đã qua một số thay đổi, điềuchỉnh phù hợp với tình hình kinh tế và hoạt động của doanh nghiệp, trước đây làLuật phá sản DN 1993, sau đó là Luật Phá sản 2004 và đến nay vào ngày19/6/2014 Quốc hội đã thông qua Luật Phá sản năm 2014 Luật này có hiệu lực
từ ngày 1/1/2015, thay thế cho Luật Phá sản 2004 quy định:
Trang 5Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán không thực hiện
nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanhtoán Trong đó:
Chủ nợ là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp thực hiện nghĩa
vụ thanh toán khoản nợ, bao gồm chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảmmột phần và chủ nợ có bảo đảm, trong đó:
Nợ không có bảo đảm là khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản của doanh
nghiệp hoặc của người thứ ba
Nợ có bảo đảm là khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp hoặc
của người thứ ba
Nợ có bảo đảm một phần là khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh
nghiệp hoặc của người thứ ba mà giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn khoản nợ đó
1.3 Yêu cầu mở thủ tục phá sản:
Các đối tượng sau đây được phép nộp đơn yêu cầu tòa án mở thủ tục phá sản đểxem xét và giải quyết việc phá sản của một DN hay một HTX lâm vào tìnhtrạng phá sản:
- Thứ nhất, đó là các chủ nợ của DN hay HTX bất kể đó là chủ nợ không có bảo
đảm hay chỉ có bảo đảm một phần1 Các chủ nợ này có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủtục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà DN, HTXkhông thực hiện nghĩa vụ thanh toán Các chủ nợ có bảo đảm đương nhiên không đượcquyền nộp đơn xin mở thủ tục phá sản vì khoản nợ của họ đã được bảo đảm bằng tàisản của DN, HTX liên quan hay bảo lãnh của bên thứ ba
1
Trang 6- Thứ hai, những người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp
cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủtục phá sản Các đối tượng này cũng được phép nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sảnkhi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợkhác đến hạn đối với người lao động mà DN, HTX không thực hiện nghĩa vụ thanhtoán
- Thứ ba, người đại diện theo pháp luật của DN, HTX có nghĩa vụ nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản khi DN, HTX mất khả năng thanh toán
- Thứ tư, chủ DN tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ
tịch Hội đồng thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công tyTNHH một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh có nghĩa vụ nộp đơnyêu cầu mở thủ tục phá sản khi DN mất khả năng thanh toán
- Thứ năm, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở
lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phásản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữudưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộpđơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán trongtrường hợp Điều lệ công ty quy định
- Thứ sáu, thành viên HTX hoặc người đại diện theo pháp luật của HTX thành
viên của liên hiệp HTX có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi HTX, liênhiệp HTX mất khả năng thanh toán
Như vậy, với sáu nhóm đối tượng kể trên, Luật phá sản năm 2014 đã mở rộng đốitượng được phép yêu cầu mở thủ tục phá sản, tạo điều kiện để thủ tục phá sản
có thể được mở một cách nhanh gọn và việc xử lý vấn đề phá sản của DNkhông gặp khó khăn
Trang 71.4 Thẩm quyền thụ lý và giải quyết việc phá sản:
Luật phá sản năm 2014 có thêm một bước trong quy định thẩm quyền của tòa ántrong giải quyết vụ việc phá sản của DN, HTX khi phân định rõ TAND cấphuyện có thẩm quyền giải quyết vụ việc phá sản đối với các DN, HTX có trụ sởchính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Chỉ một số trường hợp đặcbiệt thì TAND cấp tỉnh mới có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với DN, HTXđăng ký kinh doanh tại tỉnh đó, bao gồm:
- Các vụ việc phá sản có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản
Nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản bao gồm:
- Xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết yêu cầu mởthủ tục phá sản trong trường hợp cần thiết
- Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản
- Quyết định chỉ định hoặc thay đổi quản tài viên, DN quản lý, thanh lý tài sản
- Giám sát hoạt động của quản tài viên, DN quản lý, thanh lý tài sản
- Quyết định việc thực hiện kiểm toán DN, HTX mất khả năng thanh toán trongtrường hợp cần thiết
Trang 8- Quyết định việc bán tài sản của DN, HTX mất khả năng thanh toán sau khi mởthủ tục phá sản để bảo đảm chi phí phá sản
- Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật
- Áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền dẫn giảiđại diện của DN, HTX mất khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật
- Tổ chức HNCN
- Quyết định công nhận nghị quyết của HNCN về phương án phục hồi hoạt độngkinh doanh
- Quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản
- Quyết định tuyên bố phá sản đối với DN, HTX mất khả năng thanh toán
- Áp dụng biện pháp xử phạt hành chính, đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vềhình sự theo quy định của pháp luật
- Tham khảo quyết định giải quyết phá sản trước đó trong vụ việc phá sản tương tựtheo hướng dẫn của TAND tối cao
- Phải từ chối giải quyết phá sản trong một số trường hợp nhất định (ví dụ: thẩmphán đồng thời là người tham gia thủ tục phá sản; người đại diện, người thân thích củangười tham gia thủ tục phá sản trong vụ việc phá sản đó)
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
1.5 Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản :
- Việc nghiên cứu, xem xét các căn cứ để ra quyết định mở thủ tục phá sản là rấtquan trọng Vì vậy, trong trường hợp cần thiết, trước khi ra quyết định mở thủ tụcphá sản, thẩm phán có thể triệu tập phiên họp với sự tham gia của người nộp đơnyêu cầu mở thủ tục phá sản, chủ DN hoặc đại diện hợp pháp của DN, HTX bị yêucầu mở thủ tục phá sản, cá nhân, tổ chức có liên quan để xem xét, kiểm tra các
Trang 9căn cứ chứng minh DN, HTX mất khả năng thanh toán Nếu có đầy đủ căn cứ đểchứng minh rằng DN, HTX đã mất khả năng thanh toán, thì thẩm phán ra quyếtđịnh mở thủ tục phá sản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mởthủ tục phá sản
1.6 Các vấn đề tài chính khi doanh nghiệp phá sản:
1.6.1 Hội nghị chủ nợ:
HNCN được tổ chức theo các nguyên tắc: tôn trọng thoả thuận của cácbên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội; cácbên tham gia HNCN đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; HNCN phải đượctiến hành công khai Trong tổ chức, hoạt động của HNCN nổi bật vai trò củaquản tài viên, thay thế tòa án (thẩm phán) thực hiện việc quản lý điều hànhHNCN để đảm bảo HNCN hoạt động một cách khách quan
Những chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ đều được quyền tham gia HNCN Họcũng có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác để đại diện cho mình nếubản thân không thể trực tiếp tham gia HNCN Trong trường hợp DN, HTXmất khả năng thanh toán và nợ lương người lao động thì những người lao độngnày đương nhiên là chủ nợ của DN, HTX Trường hợp đó, đại diện người laođộng, đại diện công đoàn được người lao động ủy quyền sẽ tham gia HNCN.Trong trường hợp DN, HTX được người thứ ba bảo lãnh cho các giao dịch phátsinh nghĩa vụ tài sản, thì những người bảo lãnh, sau khi đã trở nợ thay cho DN,HTX mất khả năng thanh toán , sẽ trở thành chủ nợ không có bảo đảm của các
DN, HTX đó
Nghị quyết của HNCN được thông qua khi có quá nửa tổng số chủ nợ không cóbảo đảm có mặt và đại diện cho từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm trở lênbiểu quyết tán thành Nghị quyết của HNCN có hiệu lực ràng buộc đối với tất cảcác chủ nợ
Trang 101.6.2 Trường hợp doanh nghiệp được thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh:
HNCN là chủ thể thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh vìphương án này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các chủ nợ Nếu việcphục hồi hoạt động kinh doanh đem lại kết quả thành công, cả DN, HTX mấtkhả năng thanh toán và các chủ nợ của họ đều được hưởng lợi Ngược lại, nếuthất bại, cả hai bên sẽ cùng gánh chịu hậu quả
Phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của DN, HTX mất khả năng thanhtoán phải nêu rõ các biện pháp để phục hồi hoạt động kinh doanh; các điều kiện,thời hạn và kế hoạch thanh toán các khoản nợ Các biện pháp để phục hồi hoạtđộng kinh doanh gồm:
- Huy động vốn;
- Giảm nợ, miễn nợ, hoãn nợ;
- Thay đổi mặt hàng sản xuất, kinh doanh;
- Đổi mới công nghệ sản xuất;
- Tổ chức lại bộ máy quản lý, sáp nhập hoặc chia tách bộ phận sản xuất;
- Bán cổ phần cho chủ nợ và những người khác;
- Bán hoặc cho thuê tài sản;
- Các biện pháp khác không trái quy định của pháp luật
Thời hạn để thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của DN, HTXmất khả năng thanh toán được thực hiện theo nghị quyết của HNCN thông quaphương án phục hồi hoạt động kinh doanh Trường hợp HNCN không xác địnhđược thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của DN,
Trang 11HTX mất khả năng thanh toán thì thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạtđộng kinh doanh là không quá 03 năm kể từ ngày HNCN thông qua phương ánphục hồi hoạt động kinh doanh.
1.6.3 Các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản:
Luật phá sản năm 2004 và Luật phá sản năm 2014 đều quy định DN, HTX saukhi bị mở thủ tục phá sản có thể tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanhbình thường Tuy nhiên, vào thời điểm này, các DN, HTX liên quan đều phảichịu sự quản lý và giám sát của thẩm phán, quản tài viên, DN quản lý, thanh lýtài sản Lý do là việc quản lý, giám sát hoạt động của các DN, HTX sau khi cóquyết định mở thủ tục phá sản là việc làm cần thiết, để đảm bảo các DN, HTXnày không tiếp tục mắc sai lầm, tạo cơ sở cho việc xây dựng thành công phương
án sản xuất, kinh doanh sau này, phát huy được tối đa tài lực, vật lực, đồng thờikiểm soát rủi ro của DN, HTX Thậm chí trong trường hợp xét thấy người đạidiện theo pháp luật của DN, HTX không có khả năng điều hành, DN, HTX xã
có dấu hiệu vi phạm thì thẩm phán ra quyết định thay đổi người đại diện theopháp luật của DN, HTX đó theo đề nghị của HNCN hoặc quản tài viên, DNquản lý, thanh lý tài sản
1.6.4 Quản lý và xử lý tài sản trong giải quyết phá sản:
1.6.4.1 Xác định giá trị nghĩa vụ về tài sản:
Nghĩa vụ về tài sản của DN, HTX được xác lập trước khi TAND ra quyết định
mở thủ tục phá sản được xác định vào thời điểm ra quyết định mở thủ tục phásản Và, nghĩa vụ về tài sản của DN, HTX được xác lập sau khi TAND ra quyếtđịnh mở thủ tục phá sản được xác định vào thời điểm ra quyết định tuyên bốphá sản Như vậy, DN, HTX bị mở thủ tục phá sản sẽ chốt các khoản nợ của họphát sinh trước thời điểm có quyết định mở thủ tục phá sản vào thời điểm có
Trang 12quyết định mở thủ tục phá sản đó Đối với các nghĩa vụ về tài sản (nghĩa vụ nợ)phát sinh sau ngày mở thủ tục phá sản thì sẽ được chốt ở thời điểm ra quyếtđịnh tuyên bố phá sản
Theo Điều 64 Luật phá sản năm 2014 thì tài sản của DN, HTX mất khả năng thanhtoán gồm:
- Tài sản và quyền tài sản mà DN, HTX có tại thời điểm TAND quyết định mở thủtục phá sản;
- Tài sản và quyền tài sản có được sau ngày TAND ra quyết định mở thủ tục phásản;
- Giá trị của tài sản bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm mà DN, HTX phảithanh toán cho chủ nợ có bảo đảm;
- Giá trị quyền sử dụng đất của DN, HTX được xác định theo quy định của phápluật về đất đai;
- Tài sản thu hồi từ hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản của DN, HTX;
- Tài sản và quyền tài sản có được do thu hồi từ giao dịch vô hiệu;
- Các tài sản khác theo quy định của pháp luật
Riêng đối với DN tư nhân và công ty hợp danh, vốn là những đối tượng chịutrách nhiệm vô hạn bằng tài sản của chủ sở hữu hoặc thành viên hợp danh theoLuật DN, thì luật phá sản có những quy định riêng về xác định tài sản của cácđối tượng này Cụ thể, Tài sản của DN tư nhân, công ty hợp danh mất khả năngthanh toán gồm:
- Các tài sản như tài sản của các DN, HTX thông thường (đã liệt kê ở trên);
- Tài sản của chủ DN tư nhân, thành viên hợp danh không trực tiếp dùng vào hoạtđộng kinh doanh; trường hợp chủ DN tư nhân, thành viên hợp danh có tài sản thuộc sở
Trang 13hữu chung thì phần tài sản của chủ DN tư nhân, thành viên hợp danh đó được chia theoquy định của pháp luật về dân sự và quy định của pháp luật có liên quan.
Như vậy do tính chất chịu trách nhiệm vô hạn của mình, tài sản của DN tư nhân
và tài sản của thành viên hợp danh không tách rời khỏi khối tài sản hay số vốn
mà họ đưa vào DN tư nhân hay công ty hợp danh bị mất khả năng thanh toán.Nói cách khác, tài sản riêng của họ, bất kể dùng vào mục đích kinh doanh haykhông, cũng bị coi là tài sản của DN khi phá sản và cũng được dùng để thanhtoán các khoản nợ
1.1.1 Xác định tiền lãi đối với các khoản nợ
Kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, các khoản nợ được tiếp tục tính lãitheo thỏa thuận nhưng được tạm dừng việc trả lãi Trường hợp thẩm phán raquyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạtđộng kinh doanh theo quy định thì việc tạm dừng trả lãi chấm dứt, các bên tiếptục thực hiện việc trả lãi theo thỏa thuận Đối với khoản nợ mới phát sinh saukhi mở thủ tục phá sản đến thời điểm tuyên bố DN, HTX phá sản thì tiền lãi củakhoản nợ đó được xác định theo thỏa thuận nhưng không trái với quy định củapháp luật Kể từ ngày ra quyết định tuyên bố DN, HTX phá sản thì khoản nợkhông được tiếp tục tính lãi
1.6.4.3 Xử lý nghĩa vụ vê tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã:
1.6.4.3.1 Xử lý khoản nợ có bảo đảm
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 41 Luật phá sản năm 2014 thì sau khi thụ lý vụviệc phá sản, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tạm đình chỉ việc xử lý tài sảnbảo đảm của DN, HTX đối với các chủ nợ có bảo đảm Việc tạm đình chỉ này
là cần thiêt vì vào thời điểm đó, quyết định mở thủ tục phá sản vẫn chưa đượcđưa ra Do có khả năng DN, HTX liên quan có thể bị mở thủ tục phá sản và
Trang 14được đặt dưới chế độ giám sát đặc biệt mà qua đó tài sản của họ cũng cầnđược kiểm soát chặt chẽ nên các vấn đề xử lý tài sản của DN, HTX cần ngưnglại tạm thời Sau khi mở thủ tục phá sản, quản tài viên hoặc DN quản lý, thanh
lý tài sản lại đề nghị thẩm phán về việc xử lý các khoản nợ có bảo đảm đã tạmđình chỉ theo quy định
Trường hợp tài sản bảo đảm được sử dụng để thực hiện thủ tục phục hồi kinhdoanh thì việc xử lý đối với tài sản bảo đảm theo nghị quyết của HNCN.Trường hợp không thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh hoặc tài sản bảo đảmkhông cần thiết cho việc thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh thì xử lý theothời hạn quy định trong hợp đồng đối với hợp đồng có bảo đảm đã đến hạn Đốivới hợp đồng có bảo đảm chưa đến hạn thì trước khi tuyên bố DN, HTX phásản, TAND đình chỉ hợp đồng và xử lý các khoản nợ có bảo đảm Việc xử lýkhoản nợ có bảo đảm trong trường hợp này được thực hiện như sau:
- Đối với khoản nợ có bảo đảm được xác lập trước khi TAND thụ lý đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản thì khoản nợ được thanh toán bằng tài sản bảo đảm đó;
- Trường hợp giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại
sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của DN, HTX; nếu giá trị tài sản bảođảm lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản của DN, HTX
Trường hợp tài sản bảo đảm có nguy cơ bị phá hủy hoặc bị giảm đáng kể về giátrị thì quản tài viên, DN quản lý, thanh lý tài sản đề nghị thẩm phán cho xử lýngay tài sản bảo đảm đó theo quy định như trên Việc xử lý ngay tài sản bảođảm trong trường hợp này là để lưu giữ tốt nhất giá trị của tài sản, tránh cho tàisản bị hao hụt hay mất giá trị
1.6.4.3.2 Nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp liên đới hoặc bảo lãnh:
Trường hợp nhiều DN, HTX có nghĩa vụ liên đới về một khoản nợ mà một hoặc
Trang 15tất cả các DN, HTX xã đó mất khả năng thanh toán thì chủ nợ có quyền đòi bất
cứ DN, HTX nào trong số các DN, HTX đó thực hiện việc trả nợ cho mình theoquy định của pháp luật
Đối với trường hợp DN, HTX phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản được bảo lãnh,Luật phá sản năm 2014 quy định: trường hợp người bảo lãnh mất khả năngthanh toán thì việc bảo lãnh được giải quyết như sau:
- Nếu nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảolãnh Trường hợp bên bảo lãnh không thanh toán đầy đủ trong phạm vi bảo lãnh thì bênnhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thanh toán phần còn thiếu;
- Nếu nghĩa vụ bảo lãnh chưa phát sinh thì bên được bảo lãnh phải thay thế biệnpháp bảo đảm khác, trừ trường hợp người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh có thỏathuận khác
Trường hợp người được bảo lãnh hoặc cả người bảo lãnh và người được bảo lãnhđều mất khả năng thanh toán thì người bảo lãnh phải chịu trách nhiệm thay chongười được bảo lãnh theo quy định của pháp luật
1.6.4.3.3 Nghĩa vụ trả lại tài sản thuê, mượn khi DN, HTX bị tuyên bố phá sản
Về nguyên tắc, các tài sản mà DN, HTX bị tuyên bố phá sản thuê hay mượnkhông phải là tài sản thuộc sở hữu của các DN, HTX đó, và do vậy, nó phải trảlại cho các chủ sở hữu trong quá trình giải quyết phá sản Theo quy định, trongthời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố phá sản,chủ sở hữu tài sản cho DN, HTX thuê hoặc mượn để dùng vào hoạt động kinhdoanh phải xuất trình giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, hợp đồng cho thuêhoặc cho mượn với cơ quan thi hành án dân sự để nhận lại tài sản của mình Tuy nhiên, thực tế cho thấy có một số trường hợp DN, HTX thuê tài sản dài hạn
Trang 16mà tiền thuê được trả trước là một khoản tiền có giá trị lớn (thường tươngđương với giá thuê tài sản trong 5, 10 năm, thậm chí 20 năm) mà thời hạn thuêcòn lại vẫn khá dài Trong các trường hợp Luật phá sản quy định người cho thuêchỉ được nhận lại tài sản sau khi đã thanh toán số tiền thuê tương ứng với thờigian thuê còn lại để cơ quan thi hành án dân sự nhập vào khối tài sản của DN,HTX đó Nghĩa là, người cho thuê tài sản chỉ được quyền tính tiền thuê tài sảnđến thời điểm DN, HTX bị tuyên bố phá sản, khoảng thời gian thuê còn lạiđương nhiên không còn giá trị gì đối với DN, HTX vì họ không thể sử dụngđược tài sản thuê và do vậy tiền thuê cho giai đoạn đó phải được trả lại để nhậpvào khối tài sản của DN, HTX bị tuyên phá sản nhằm chi trả cho các khoản nợcủa họ.
Trong thực tế cũng có một trường hợp nữa: đó là DN, HTX khi biết có khả năng
bị tuyên phá sản đã chuyển nhượng trái phép các tài sản đi thuê hoặc mượncho các bên thứ ba để trục lợi Trong trường hợp này, DN, HTX bị tuyên bốphá sản phải có nghĩa vụ đòi lại tài sản đã chuyển nhượng trái phép đó cho bêncho thuê và nếu không thể đòi được thì người cho thuê hoặc cho mượn cóquyền yêu cầu DN, HTX bồi thường đối với tài sản đó như khoản nợ không cóbảo đảm
1.6.4.3.4 Trả lại tài sản nhận bảo đảm và nhận lại hàng hóa đã bán:
DN, HTX mất khả năng thanh toán chỉ trả lại tài sản nhận bảo đảm cho cá nhân,
tổ chức đã giao tài sản cho DN, HTX để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mìnhđối với DN, HTX trước khi TAND mở thủ tục phá sản trong trường hợp cánhân, tổ chức đó đã thực hiện nghĩa vụ đối với DN, HTX
Người bán đã gửi hàng hóa cho người mua là DN, HTX mất khả năng thanh toán
Trang 17nhưng chưa được thanh toán và người mua cũng chưa nhận được hàng hóa thìngười bán được nhận lại hàng hoá đó Nếu DN, HTX mất khả năng thanh toán
đã nhận hàng hóa đó và không thể trả lại được thì người bán trở thành chủ nợkhông có bảo đảm
1.6.4.3.5 Thứ tự ưu tiên thanh toán các khoản nợ
Một trong những vấn đề quan trọng cốt lõi và là quan tâm hàng đầu đối với cácchủ nợ là thứ tự ưu tiên thanh toán các khoản nợ của DN, HTX mất khả năngthanh toán được pháp luật quy định như thế nào và khoản nợ của họ nằm ở đâutrong thứ tự ưu tiên đó
Luật phá sản năm 2014 tách riêng quy định về xử lý các khoản nợ có bảo đảmthành các chế định riêng và được xử lý trước khi DN, HTX bị tuyên bố phá sản(trừ trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để trả nợ cho các khoản nợ có bảođảm) Đối với các khoản nợ không có bảo đảm, việc thanh toán chỉ được thựchiện như những thủ tục cuối cùng khi thẩm phán ra quyết định tuyên bố DN,HTX phá sản Theo quy định tại Điều 54 Luật phá sản năm 2014, trường hợpthẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản của DN, HTX được phânchia theo thứ tự sau đây:
Trang 18Trường hợp giá trị tài sản của DN, HTX sau khi đã thanh toán đủ các khoản quyđịnh nêu trên mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về:
- Thành viên HTX, HTX thành viên;
- Chủ DN tư nhân;
- Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên;
- Thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên, cổ đông của công ty cổphần;
- Thành viên của công ty hợp danh
Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưutiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ
2 Giải thể và các nội dung cơ bản của thủ tục giải thể doanh nghiệp:
2.1 Khái niệm về giải thể:
Doanh nghiệp bị giải thể trong các trường hợp sau đây:
a) Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết địnhgia hạn;
b) Theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân; của tất cảthành viên hợp danh đối với công ty hợp danh; của Hội đồng thành viên, chủ sởhữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn; của Đại hội đồng cổ đông đốivới công ty cổ phần;
c) Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật Doanhnghiệp trong thời hạn sáu tháng liên tục;
Trang 19d) Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụtài sản khác
2.2 Thủ tục giải thể doanh nghiệp:
Việc giải thể doanh nghiệp được thực hiện theo quy định sau đây:
Thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp Quyết định giải thể doanhnghiệp phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
- Tên, địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp;
- Lý do giải thể;
- Thời hạn, thủ tục thanh lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ củadoanh nghiệp; thời hạn thanh toán nợ, thanh lý hợp đồng không được vượt quásáu tháng, kể từ ngày thông qua quyết định giải thể;
- Phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động;
- Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Chủ doanh nghiệp tư nhân, Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty,Hội đồng quản trị trực tiếp tổ chức thanh lý tài sản doanh nghiệp, trừ trườnghợp Điều lệ công ty quy định thành lập tổ chức thanh lý riêng
Trong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ ngày thông qua, quyết định giảithể phải được gửi đến cơ quan đăng ký kinh doanh, tất cả các chủ nợ, người cóquyền, nghĩa vụ và lợi ích liên quan, người lao động trong doanh nghiệp và phải
Trang 20được niêm yết công khai tại trụ sở chính và chi nhánh của doanh nghiệp.
Đối với trường hợp mà pháp luật yêu cầu phải đăng báo thì quyết định giảithể doanh nghiệp phải được đăng ít nhất trên một tờ báo viết hoặc báo điện tửtrong ba số liên tiếp
Quyết định giải thể phải được gửi cho các chủ nợ kèm theo thông báo vềphương án giải quyết nợ Thông báo phải có tên, địa chỉ của chủ nợ; số nợ, thờihạn, địa điểm và phương thức thanh toán số nợ đó; cách thức và thời hạn giảiquyết khiếu nại của chủ nợ
2.3 Vấn đề tài chính khi giải thể doanh nghiệp:
Các khoản nợ của doanh nghiệp được thanh toán theo thứ tự sau đây:a) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy địnhcủa pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao độngtập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;
b) Nợ thuế và các khoản nợ khác
Sau khi đã thanh toán hết các khoản nợ và chi phí giải thể doanh nghiệp,phần còn lại thuộc về chủ doanh nghiệp tư nhân, các thành viên, cổ đông hoặcchủ sở hữu công ty
Trong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ ngày thanh toán hết các khoản nợcủa doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải gửi hồ
sơ giải thể doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh Trong thời hạn bảyngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký kinh doanh xoátên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh
Trang 21Trường hợp doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh, doanh nghiệp phải giải thể trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày bị thuhồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Sau thời hạn sáu tháng quy định tại khoản này mà cơ quan đăng ký kinhdoanh không nhận được hồ sơ giải thể doanh nghiệp thì doanh nghiệp đó coinhư đã được giải thể và cơ quan đăng ký kinh doanh xoá tên doanh nghiệp trong
sổ đăng ký kinh doanh Trong trường hợp này, người đại diện theo pháp luật,các thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu công ty đối vớicông ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, các thành viên Hội đồng quản trịđối với công ty cổ phần, các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh liênđới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác chưa thanhtoán
2.4 Các hoạt động bị cấm kể từ khi có quyết định giải thể :
Kể từ khi có quyết định giải thể doanh nghiệp, nghiêm cấm doanh nghiệp,người quản lý doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sau đây:
- Cất giấu, tẩu tán tài sản;
- Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ;
- Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành các khoản nợ có bảo đảmbằng tài sản của doanh nghiệp;
- Ký kết hợp đồng mới không phải là hợp đồng nhằm thực hiện giải thểdoanh nghiệp;
- Cầm cố, thế chấp, tặng cho, cho thuê tài sản;
Trang 22- Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực;
- Huy động vốn dưới mọi hình thức khác
2.5 Hồ sơ giải thể doanh nghiệp:
Hồ sơ giải thể bao gồm:
- Quyết định giải thể hoặc quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh, quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư hoặc quyết định củaToà án tuyên bố giải thể doanh nghiệp;
- Danh sách chủ nợ và số nợ đã thanh toán, gồm cả thanh toán hết cáckhoản nợ về thuế và nợ tiền đóng bảo hiểm xã hội;
- Danh sách người lao động hiện có và quyền lợi người lao động đã đượcgiải quyết;
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đầu tư;
- Con dấu, Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu, Giấy chứng nhận đăng ký
mã số thuế của doanh nghiệp (hiện tại nộp cho cơ quan công an nơi doanhnghiệp đăng ký con dấu);
- Số hoá đơn giá trị gia tăng chưa sử dụng (hiện tại nộp cho cơ quan thuếnơi doanh nghiệp đăng ký thuế);
- Báo cáo tóm tắt về việc thực hiện thủ tục giải thể, trong đó có cam kết đãthanh toán hết các khoản nợ, gồm cả nợ thuế, giải quyết các quyền lợi hợp phápcủa người lao động
Trang 232.6 Các quy định khác:
a) Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên công tytrách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu công ty, chủ doanh nghiệp tư nhân, Giám đốchoặc Tổng giám đốc, thành viên hợp danh chịu trách nhiệm về tính trung thực,chính xác của hồ sơ giải thể doanh nghiệp
b) Trường hợp hồ sơ giải thể không chính xác, giả mạo, thì những người quyđịnh tại điểm a khoản 2.6 này phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán số nợ chưathanh toán, số thuế chưa nộp và quyền lợi của người lao động chưa được giảiquyết; và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trongthời hạn 03 năm, kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến cơ quan đăng kýkinh doanh có thẩm quyền
c) Trong thời hạn 7 ngày làm việc, cơ quan nhận hồ sơ giải thể doanhnghiệp thông báo với cơ quan thuế, cơ quan công an về việc giải thể doanhnghiệp và xóa tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh, nếu cơ quan thuế
và cơ quan công an có liên quan không có yêu cầu khác
3 So sánh sự khác biệt giữa phá sản và giải thể doanh nghiệp
Xét về mặt hiện tượng, thì phá sản và giải thể DN có thể đều đưa đến một hậuquả pháp lý là chấm dứt sự tồn tại của DN và phân chia tài sản còn lại cho cácchủ nợ, giải quyết các nghĩa vụ tài chính với của DN với nhà nước và nhữngngười có liên quan Tuy nhiên, xét về mặt bản chất, phá sản và giải thể có sựkhác biệt rất rõ rệt
- Nguyên nhân hay lý do dẫn đến phá sản, giải thể doanh nghiệp:
Phá sản DN chỉ do mất khả năng thanh toán nợ đến hạn
Trang 24 Nhiều nguyên nhân dẫn đến giải thể: Mục tiêu kinh doanh đã đạt được hoặckhông muốn kéo dài hay không muốn tiếp tục hoạt động kinh doanh; hết thởi hạnhoạt động đầu tư, kinh doanh theo giấy phép; bị thu hồi giấy phép thành lập vàhoạt động do vi phạm pháp luật
- Cơ quan ra quyết định:
Phá sản DN: tòa án ra quyế định
Giải thể DN: Quyết định có thể được đưa ra bởi: Chủ DN;Cơ quan nhà nước cóthẩm quyền (chẳng hạn: cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập)
- Thủ tục giải quyết:
Thủ tục giải quyết vụ việc phá sản là một thủ tục tư pháp đặc biệt Tức là người
có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản phải đi theo một quy trình, thủ tục luậtđịnh để tòa án xem xét, giải quyết vụ việc phá sản của DN, HTX liên quan Nókhác với thủ tục hành chính, khi người có liên quan có thể chấm dứt số phậncủa DN, HTX bằng ý chí chủ quan của chính mình và chỉ cần thực hiện thủ tụchành chính tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứ không phải tại tòa án (vídụ: việc giải thể DN có thể thực hiện theo ý chí chủ quan của chủ DN và tại cơquan đăng ký kinh doanh)
- Hậu quả pháp lý:
Phá sản DN: Có nhiều khả năng xảy ra: DN có thể bị tuyên bố phá sản, chấm dứthoạt động, xóa tên khỏi sổ đăng ký kinh doanh; hoặc DN có thể tái cơ cấu, thayđổi chủ sở hữu và vẫn tiếp tục hoạt động
Giải thể DN: DN chấm dứt hoạt động và bị xóa tên khỏi sổ đăng ký kinh doanh
- Thanh lý tài sản:
Phá sản DN: Việc thanh toán tài sản, phân chia giá trị tài sản còn lại của DN,