Đề tài “Đánh giá tác động của bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của các hộ trồng lúa ở hai huyện Thoại Sơn và Châu Phú tỉnh An Giang” được chọn nghiên cứu nhằm tìm ra những tác động của mô
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LA HỮU PHƯỚC
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BẢO HIỂM CÂY LÚA ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ TRỒNG
LÚA TẠI TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Mã số ngành: 52340201
11/2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LA HỮU PHƯỚC MSSV: 4104541
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BẢO HIỂM CÂY LÚA ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ TRỒNG
LÚA TẠI TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Mã số ngành: 52340201
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PHAN ĐÌNH KHÔI
11/2013
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Em xin chân thành cảm ơn Thầy Phan Đình Khôi, Thầy đã tin tưởng và tạo cơ hội để cho em hoàn thành bài nghiên cứu này Nhờ sự hướng dẫn và quan tâm nhiệt tình của Thầy đã giúp em hoàn thành tốt bài của mình Em chân thành cảm ơn Thầy
Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô trong khoa Kinh tế - Quản trị Kinh doanh đã tận tình truyền thụ kiến thức cho em trong bốn năm học vừa qua để em có
cơ sở lý luận, có kiến thức để thực hiện luận văn của mình
Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị ở địa bàn 2 huyện Thoại Sơn và Châu Phú, tỉnh An Giang đã trả lời thật và nhiệt tình cung cấp thông tin để thuận tiện cho con trong việc lấy số liệu làm luận văn
Em xin chân thành cảm ơn các anh, chị tại Sở Nông Nghiệp và phát triển nông thôn, Cục thống kê tỉnh An Giang đã cung cấp, hỗ trợ về mặt số liệu để em có đủ cơ
sở trình bày các nội dung nghiên cứu
Em xin chân thành cảm ơn các anh, chị kỹ thuật viên tại Phòng Nông Nghiệp
và phát triển nông thôn 2 huyện Thoại Sơn và Châu Phú, tỉnh An Giang, các chú chủ tịch, phó chủ tịch hội nông dân tại các xã Vĩnh Khánh, Định Thành, Bình Thành, Thạnh Mỹ Tây đã tạo điều kiện thuận tiện cho em trong việc lấy số liệu điều tra
Em xin chân thành cảm ơn các anh, chị tại Công ty cổ phần Bảo Hiểm Bảo Minh đã nhiệt tình cung cấp, hỗ trợ về mặt số liệu để em có đủ cơ sở trình bày các nội dung nghiên cứu
Cảm ơn sự quan tâm và giúp đỡ của các anh, chị và bạn bè khoa Kinh Tế - QTKD đã hỗ trợ và động viên trong quá trình làm luận văn
Cuối cùng, tôi xin kính chúc tất cả mọi người luôn dồi dào sức khỏe, gặt hái được nhiều thành công trong công việc và cuộc sống
Ngày … tháng … năm … Sinh viên thực hiện
La Hữu Phước
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng khớp với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Ngày … tháng … năm … Sinh viên thực hiện
La Hữu Phước
Trang 5MỤC LỤC
Trang
DANH SÁCH BẢNG i
DANH SÁCH HÌNH ii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT iii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Không gian 2
1.3.2 Thời gian 2
1.3.3 Phạm vi về nội dung 3
1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.5 GIỚI HẠN VỀ ĐỐI TƯỢNG VÀ NÔI DUNG NGHIÊN CỨU 3
1.6 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI 3
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU5 2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 5
2.1.1 Khái niệm hộ 5
2.1.2 Hộ nông dân 6
2.1.3 Khái niệm, vai trò và nguyên tắc của bảo hiểm 7
2.1.3.1 Khái niệm 7
2.1.3.2 Vai trò của bảo hiểm 7
2.1.3.3 Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm 8
2.1.4 Bảo hiểm nông nghiệp 8
2.1.4.1 Các rủi ro thường gặp trong sản xuất nông nghiệp 8
2.1.4.2 Vai trò của bảo hiểm nông nghiệp 9
Trang 62.1.4.3 Bảo hiểm cây lúa 9
2.1.4.4 Chương trình thí điểm BHNN giai đoạn 2011-2013 11
2.1.5 Thu nhập 13
2.1.5.1 Khái niệm về thu nhập 13
2.1.5.2 Thước đo thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp 13
2.2 MỘT SỐ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 14
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.3.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 16
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 16
2.3.2.1 Số liệu thứ cấp 16
2.3.2.2 Số liệu sơ cấp 16
2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 16
2.3.4 Mô hình phân tích tác động của bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa 18
2.3.5Giải thích những biến sử dụng trong mô hình (Probit) xác định những yếu tố ảnh hưởng quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa và kiểm soát biến thu nhập 19
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 23
3.1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH AN GIANG 23
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 23
3.1.1.1 Vị trí địa lý 23
3.1.1.2 Khí hậu 23
3.1.1.3 Đặc điểm địa hình 24
3.1.1.4 Dân số 25
3.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên 25
3.1.2 Tình hình kinh tế 25
3.1.2.1 Về nông nghiệp 26
3.1.2.2 Về công nghiệp 27
3.1.2.3 Về dich vụ 27
3.1.3 Văn hóa – xã hội 28
Trang 73.1.4 Thiệt hại thiên tai 28
3.2 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI THÍ ĐIỂM BẢO HIỂM CÂY LÚA CỦA TỈNH AN GIANG 29
3.2.1 Tình hình tham gia bảo hiểm cây lúa tỉnh An Giang 29
3.2.1.1 Kết quả thực hiện bảo hiểm nông nghiệp năm 2012 Huyện Thoại Sơn 30
3.2.1.2 Kết quả thực hiện bảo hiểm nông nghiệp năm 2012 Huyện Châu Phú 31
3.2.2 Những thuận lợi và khó khăn trong triển khai thực hiện thí điểm bảo hiểm cây lúa tại tỉnh An Giang 33
3.2.2.1 Thuận lợi 33
3.2.2.1 Khó khăn 34
3.2.3 Đánh giá tính nhân rộng 35
CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BẢO HIỂM CÂY LÚA ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ TRỒNG LÚA VÀ ĐỀ RA GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỰ ỔN ĐINH THU NHẬP CỦA HỘ 36
4.1 MÔ TẢ MẪU KHẢO SÁT 36
4.1.1 Thông tin chung về chủ hộ 36
4.1.2 Thông tin chung về nông hộ 37
4.1.3 Một số lý do tham gia bảo hiểm cây lúa của hộ trồng lúa huyện Thoại Sơn và Châu Phú tỉnh An Giang 38
4.1.4 Những khó khăn thường gặp của hộ trồng lúa trong mẫu khảo sát 40
4.2 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ SẢN XUẤT LÚA NÔNG HỘ TẠI HUYỆN THOẠI SƠN VÀ CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG 42
4.2.1 Phân tích chi phí 42
4.2.2 Phân tích kết quả hoạt động sản xuất lúa 46
4.2.2.1 Năng suất 46
4.2.2.2 Giá bán 47
4.2.2.3 Doanh thu 47
4.2.3 Phân tích thu nhập của hộ trồng lúa 47 4.3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG BẢO HIỂM CÂY LÚA ĐẾN THU NHẬP CỦA
Trang 8HỘ TRỒNG LÚA TẠI TỈNH AN GIANG 48
4.3.1 Kết quả xử lý mô hình Probit 48
4.3.2 Đánh giá tác động bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa tại huyện Thoại Sơn và Châu Phú 50
4.4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỰ ĐÓNG GÓP BẢO HIỂM CÂY LÚA ĐẾN ỔN ĐỊNH THU NHẬP CỦA HỘ TRỒNG LÚA TẠI TỈNH AN GIANG 52
4.4.1 Những mặt hạn chế chung tại địa bàn nghiên cứu 52
4.3.3 Một số giải pháp 53
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
5.1 KẾT LUẬN 55
5.2 KIẾN NGHỊ 56
5.2.1 Đối với Nhà nước và các Sở, Ban ngành 56
5.2.2 Đối với chính quyền địa phương 57
5.2.3 Đối với đơn vị cung cấp bảo hiểm cây lúa 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC iv
BẢNG PHỎNG VẤN NÔNG HỘ v
Trang 9CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Việt Nam là nước nông nghiệp thế nhưng thành quả lao động của người nông dân thường xuyên bị thiên tai, dịch bệnh trên gia súc, cây trồng đe dọa và cướp đi khối tài sản ước tính 1,5% GDP (giá trị tương đương khoảng 10 tỉ đô la) Mỗi lần như vậy, người nông dân lại chịu thiệt hại nặng nề Vấn đề bảo hiểm nông nghiệp
càng ngày càng được nhìn thấy như một lỗ hổng lớn Người dân cần một sự đảm bảo
cho thành quả và công sức lao động của họ, bảo hiểm nông nghiệp chính là tia hi
vọng và cứu cánh chuẩn xác nhất Ðề án bảo hiểm nông nghiệp hiện mới phác thảo
một số hướng lớn, đáp ứng sự mong đợi của nhiều địa phương, nhưng cũng còn không ít băn khoăn, nhất là còn nhiều điểm chưa phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp của từng vùng
Về phía doanh nghiệp, để phát triển được loại hình này, bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm cũng phải vượt qua rất nhiều khó khăn Do những nhược điểm của một nền nông nghiệp sản xuất nhỏ lẻ, phân tán và đa số nông dân đã quen với tâm lý bao cấp Làm gì, sản xuất ra sao, thu hoạch thế nào cũng như mỗi khi bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh họ chỉ biết trông chờ vào Nhà nước Việc truyền tải các dịch vụ tài chính ngân hàng nói chung và bảo hiểm nông nghiệp nói riêng đến người nông dân cũng là điều không dễ dàng Bên cạnh đó, việc thống kê và xử lí bồi hoàn thiệt hại cũng là vấn đề cần tính toán và cân chỉnh sao cho hợp lí
Để người nông dân hiểu được tầm quan trọng của bảo hiểm nông nghiệp và yên tâm sản xuất Quyết định 315/QĐ-TTg, với việc hỗ trợ 100% phí bảo hiểm cho nông dân nghèo, hỗ trợ 90% cho nông dân cận nghèo và hỗ trợ 60% cho nông dân không thuộc diện nghèo, cận nghèo tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp Tức là tất cả các đối tượng tham gia bảo hiểm nông nghiệp đều được hỗ trợ Đây là cơ hội
và điều kiện tiên quyết cho lối đi giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người nông dân để triển khai bảo hiểm nông nghiệp thuận lợi
An Giang là tỉnh thuộc diện thí điểm chương trình bảo hiểm nông nghiệp trên cây lúa với diện tích sản xuất lúa nổi bật ở hai huyện Thoại Sơn và Châu Phú Đây vẫn là những huyện thuần nông và đặc trưng của tỉnh về cây lúa nên việc chọn vùng
để đánh giá tác động của bảo hiểm nông nghiệp trên cây lúa là phù hợp và rất cần thiết Thời gian qua bảo hiểm nông nghiệp trên cây lúa đã được phổ biến vào sản
Trang 10xuất của nông hộ và có những đóng góp đáng kể Tuy nhiên, cũng còn tồn tại những khó khăn cho người dân khi tham gia chương trình bảo hiểm này Vì thế làm sao để bảo hiểm nông nghiệp đến đúng đối tượng và phát huy hiệu quả của nó vẫn còn là vấn đề cần được giải quyết
Đề tài “Đánh giá tác động của bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của các hộ
trồng lúa ở hai huyện Thoại Sơn và Châu Phú tỉnh An Giang” được chọn nghiên
cứu nhằm tìm ra những tác động của mô hình đến nông hộ từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp nhất để nâng cao sự đóng góp của bảo hiểm cây lúa đến ổn định thu nhập của hộ trồng lúa tại địa bàn
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá tác động của bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của các hộ trồng lúa ở hai huyện Thoại Sơn và Châu Phú tỉnh An Giang
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung như trên, đề tài có các mục tiêu cụ thể như sau:
Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng tham gia bảo hiểm cây lúa hộ trồng lúa ở hai
huyện Thoại Sơn và Châu Phú
Mục tiêu 2: Đánh giá tác động của bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của các hộ
trồng lúa ở hai huyện Thoại Sơn và Châu Phú
Mục tiêu 3: Đưa ra giải pháp nâng cao sự đóng góp của bảo hiểm cây lúa đến
ổn định thu nhập của hộ trồng lúa tại địa bàn
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Không gian
Đề tài được thực hiện và nghiên cứu về tác động của bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của các hộ trồng lúa tại địa bàn hai huyện Thoại Sơn và Châu Phú tỉnh An Giang
1.3.2 Thời gian
Thông tin thứ cấp để phân tích những vấn đề có liên quan trong đề tài nghiên cứu được tác giả thu thập từ năm 2011 đến năm 2012
Thông tin sơ cấp được thu thập trực tiếp từ bảng câu hỏi phỏng vấn 120 nông
hộ thuộc huyện Thoại Sơn và Châu Phú từ tháng 09/9/2013 đến tháng 20/9/2013
Trang 111.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Câu hỏi 1: Thực trạng triển khai thí điểm bảo hiểm cây lúa tại huyện Thoại Sơn và Châu Phú tỉnh An Giang?
Câu hỏi 2: Đánh giá tác động của bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa tại tỉnh An Giang? Có sự khác biệt về thu nhập giữa hộ trồng lúa có tham gia bảo hiểm và hộ trồng lúa không tham gia bảo hiểm hay không?
Câu hỏi 3: Nâng cao sự đóng góp của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đối với việc ổn định thu nhập của hộ trồng lúa tại tỉnh An Giang như thế nào?
1.5 GIỚI HẠN VỀ ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những hộ trồng lúa gồm nhóm hộ có tham gia bảo hiểm cây lúa và nhóm hộ không tham gia bảo hiểm cây lúa Đề tài tập trung đánh giá tác động bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao sự đóng góp của chương trình bảo hiểm đối với sự ổn định thu nhập của hộ trồng lúa tại tỉnh An Giang
1.6 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài được chia thành 5 chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Đối với chương này, tác giả đặt vấn đề, nêu lý do và tầm quan trọng của đề tài, đồng thời nêu lên mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài Ngoài ra, chương này còn trình bày cấu trúc cũng như khung nghiên cứu của đề tài nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết các mục tiểu đề ra
Trang 12Chương 2: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Mục tiêu chính của chương này là trình bày các khái niệm có liên quan đến hộ nông dân, bảo hiểm, bảo hiểm nông nghiệp, chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp và thu nhập, lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa, cũng như các phương pháp sử dụng phân tích trong đề tài Đồng thời, trong chương này, tác giả cũng nêu lên một số nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Đây là cơ sở lý thuyết cho việc phân tích và kiểm tra mô hình thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa của hộ nông dân trong các chương tiếp theo
Chương 3: Giới thiệu tổng quan địa bàn nghiên cứu
Trên cơ sở số liệu thứ cấp thu được, tác giả trình bày khái quát các điểm đặc trưng về địa bàn nghiên cứu Đồng thời phân tích thực trạng triển khai, tham gia bảo hiểm cây lúa tại địa bàn, cùng với những thuận lợi và khó khăn Ngoài ra, còn đánh giá tính nhân rộng của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa tại địa bàn
Chương 4: Đánh giá tác động của bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa tại địa bàn nghiên cứu và đề ra giải pháp nâng cao sự đóng góp của bảo hiểm cây lúa đến ổn định thu nhập của hộ trồng lúa tại tỉnh An Giang
Dựa trên cơ sở lý luận của chương 2, trên cơ sở số liệu thứ cấp và sơ cấp thu thập được, tác giả đã mô tả, phân tích thực trạng sản xuất, nguồn thu nhập của các nhóm đối tượng nghiên cứu Đồng thời sử dụng phương pháp PSM để đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúc Và từ kết quả phân tích được đề ra giải pháp nâng cao sự đóng góp của bảo hiểm cây lúa đến
ổn định thu nhập của hộ trồng lúa tại địa bàn
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trong chương này, tác giả sẽ kết luận lại những nội dung đã được đặt ra và phân tích trong chương 3, chương 4 Dựa trên kết quả phân tích, tác giả đưa ra các kiến nghị để nâng cao sự đóng góp của bảo hiểm cây lúa đến ổn định thu nhập của
hộ trồng lúa tại địa bàn nghiên cứu
Trang 13CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Khái niệm hộ
Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển Trải qua mỗi thời
kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau song vẫn có bản chất chung đó là sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống
và tăng thêm tích luỹ cho gia đình và xã hội
Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công
Theo Liên hợp quốc hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ
Theo Harris (1981) cho rằng hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động và trên góc độ này, nhóm các đại biểu thuộc trường phái "Hệ thống Thế Giới" (Mỹ) là Smith (1985) - Martin và Beiltell (1987) có bổ sung thêm hộ là một đơn vị đảm bảo
quá trình tái sản xuất nguồn lao động thông qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung
Đây mới chủ yếu nêu lên những khía cạnh về khái niệm hộ tiêu biểu nhất, từ khía cạnh này hay khía cạnh khác hoặc tổng hợp khái quát chung nhưng vẫn còn có chỗ chưa đồng nhất Tuy nhiên từ các quan niệm trên cho thấy hộ được hiểu như sau:
Trước hết, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống, tuy vậy cũng có cá biệt trường hợp thành viên của hộ không phải cùng chung huyết thống (con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài )
Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế, có nguồn lao động và phân công lao động chung, có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình Hộ không phải là một thành phần kinh tế đồng nhất, mà
hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể, Nhà nước
Trang 14Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống bởi vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế, như một gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một mái nhà nhưng nguồn sinh sống và ngân quỹ lại độc lập với nhau
2.1.2 Hộ nông dân
Frank Ellis (1988) định nghĩa hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp,
tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức
kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng hộ
nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (2001), phân tích điều tra nông thôn cho rằng hộ nông nghiệp
là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp
Nghiên cứu những khái niệm trên đây về hộ nông dân của các nhà khoa học và theo nhận thức cá nhân của tác giả, thì tác giả cho rằng:
Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ) ở các mức độ khác nhau
Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thị trường, xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm
vi một vùng, một nước Điều này càng có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay
Trang 152.1.3 Khái niệm, vai trò và nguyên tắc của bảo hiểm
2.1.3.1 Khái niệm
Theo Monique Gaullier, bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt
hại theo các phương pháp của thống kê
Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000), kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ định nghĩa, bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ
chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm
Theo Dennis Kessler, bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh
của số ít
Bản chất của bảo hiểm, là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người
cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu Bảo hiểm hoạt động dựa trên quy luật số đông (the law of large numbers)
Nghiên cứu những khái niệm trên về bảo hiểm của các nhà khoa học và theo nhận thức cá nhân của tác giả, thì tác giả cho rằng:
Bảo hiểm là một hoạt động kinh doanh rủi ro, trong đó một bên nhận một khoản phí để nhận về mình rủi ro của bên chi trả có thể xảy ra, một bên sẵn lòng chi trả một khoản phí để hạn chế rủi ro cho một nghiệp vụ hay một hoạt động
Bảo hiểm mang tính chất số đông, hoạt động theo tính chất lấy số đông bù rủi
ro hay phân chia rủi ro đều cho tất cả những người tham gia
2.1.3.2 Vai trò của bảo hiểm
Vai trò của bảo hiểm là nhằm đề phòng và hạn chế tổn thất, bảo vệ sự ổn định
và duy trì sự phát triển của nền kinh tế- xã hội, nâng dần tỷ lệ tiết kiệm quốc dân
Trang 16Ngoài ra, bảo hiểm còn là một công cụ tín dụng, giúp tạo lập thêm nguồn vốn trong nước đáp ứng nhu cầu huy động vốn đầu tư dài hạn cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước thông qua hoạt động tái bảo hiểm
2.1.3.3 Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm
Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (Fortuity not certainty) có thể hiểu rằng, chỉ bảo hiểm một rủi ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người, không bảo hiểm một điều chắc chắn xảy ra
Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (utmost good faith) cho rằng, tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực tuyệt đối
Cả người được bảo hiểm và người bảo hiểm đều phải trung thực trong tất cả các vấn
đề
Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm (insurable interest) là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm Nguyên tắc này chỉ ra rằng người được bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm Quyền lợi có thể được bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm
Nguyên tắc bồi thường (indemnity), theo nguyên tắc này khi có tổn thất xảy ra,
người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi
Nguyên tắc thế quyền (subrobgation), theo nguyên tắc này người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm
để đòi người thứ ba trách nhiệm bồi thường cho mình
2.1.4 Bảo hiểm nông nghiệp
2.1.4.1 Các rủi ro thường gặp trong sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một lĩnh vực sản xuất mang nhiều rủi ro, các rủi ro xuất phát từ các khía cạnh khác nhau:
Nhóm rủi ro liên quan đến thời tiết: là những rủi ro liên quan tới các hiện tượng thời tiết không được dự đoán, không thể dự đoán hay các hiện tượng thời tiết không thể tránh khỏi mưa bão, áp thấp nhiệt đới, nắng nóng kéo dài và các tác động của thời tiết và khí tượng học vào sản xuất nông nghiệp khác Một rủi ro không thể không nhắc đến, rủi ro liên quan đến sản xuất nông nghiệp, đây là những rủi ro liên quan đến các nhân tố như là sâu bệnh, dịch bệnh ở cây trồng và vật nuôi và ảnh
Trang 17hưởng của dây chuyền chế biến trong sản xuất nông nghiệp Thêm vào đó, trong suốt quá trình sản xuất rủi ro mang tính chất kinh tế, luôn là những rủi ro liên quan tới sự biến động của giá nông phẩm và các nguyên liệu đầu vào do sự biến động khó
dự đoán của thị trường Qui định, chính sách của nhà nước ban hành cũng là một trong số các rủi ro thường gặp đó là những rủi ro liên quan đến thể chế là những rủi
ro xuất phát từ các chính sách nông nghiệp của nhà nước Rủi ro về môi trường: xuất phát từ những tác động tiêu cực của các hoạt động ngoại ứng ảnh hưởng đến môi tường sản xuất nông nghiệp như ảnh hưởng từ nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp hay khói bụi từ các nhà máy, phương tiện giao thông và các tác nhân liên quan khác Ngoài ra, những rủi ro tài chính và hoạt động thương mại: những rủi ro này do sự tác động của các lĩnh vực sản xuất khác tới sản xuất nông nghiệp
2.1.4.2 Vai trò của bảo hiểm nông nghiệp
Rủi ro là nhân tố không thể tránh khỏi nhưng lại là một yếu tố có khả năng quản lý được trong sản xuất và kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp Đối với ngành nông nghiệp, việc phòng ngừa và quản lí rủi ro vẫn chưa được bám sát và thường một khi rủi ro xảy ra sẽ làm giảm đáng kể thu nhập của hộ nông dân Điều này có thể sẽ tác động nghiêm trọng làm cho người nông dân không có điều kiện tái đầu tư sản xuất và nếu có thì khả năng phục hồi tổn thất cần rất nhiều thời gian, đặc biệt khi những biến động này tác động tới toàn bộ nền nông nghiệp
Chính vì vậy BHNN có vai trò vô cùng quan trọng, hỗ trợ cho người nông dân giảm bớt những thiệt hại mà họ gặp phải khi đối mặt với những rủi ro BHNN thực hiện những chức năng sau:
- Chức năng thứ nhất BHNN đem lại lợi ích cho xã hội, hỗ trợ làm giảm những rủi ro liên quan đến sản xuất mà thu nhập của người nông dân được đảm bảo ổn định Sản xuất nông nghiệp chủ yếu ở các vùng nông thôn có thu nhập thấp nên mức thu nhập ổn định sẽ giúp đảm bảo ổn định xã hội từ đó tác động tích cực đến nền kinh tế đặc biệt ở các nước nông nghiệp
- Chức năng thứ hai đảm bảo ổn định xã hội ở khu vực nông thôn, nhờ có bảo hiểm nông dân yên tâm duy trì sản xuất mà không phải lo về nợ vay ngày càng tăng
2.1.4.3 Bảo hiểm cây lúa
Theo quyết định số 2114/QĐ-BTC của Bộ Tài Chính ban hành ngày 24 tháng
08 năm 2012, ban hành kèm theo Quyết định số 3035/QĐ-BTC ngày 16/12/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy tắc, biểu phí
và mức trách nhiệm bảo hiểm nông nghiệp
Trang 18- Đối tượng bảo hiểm: Thân cây lúa (lúa nước) trong suốt quá trình sinh trưởng
và phát triển
- Người được bảo hiểm: Là các hộ nông dân/tổ chức trồng lúa tại địa bàn xã đã đăng ký tham gia bảo hiểm và có quyền lợi hợp pháp đối với cây lúa trên diện tích lúa được bảo hiểm
- Đơn vị được bảo hiểm: Là các xã được các tỉnh lựa chọn tham gia thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp theo Quyết định 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 Trong trường hợp địa phương có số liệu thống kê về năng suất thực tế theo địa bàn thôn hoặc hợp tác xã được công bố bởi cơ quan cung cấp số liệu về năng suất thực
tế, đơn vị bảo hiểm là thôn hoặc hợp tác xã
- Chủ hợp đồng bảo hiểm: Là người được bảo hiểm và/hoặc là đại diện do người được bảo hiểm ủy quyền được sự chấp thuận của ủy ban nhân dân xã Đại diện cho người được bảo hiểm có thể là cán bộ chính quyền xã, người đứng đầu các
tổ chức xã hội, nghề nghiệp trong xã
- Cơ quan cung cấp số liệu về năng suất thực tế: Tổng cục Thống kê, các Cục thống kê (cấp tỉnh) và Chi cục thống kê (cấp huyện)
- Diện tích lúa được bảo hiểm: Là diện tích trồng lúa thực tế của người được bảo hiểm Đơn vị tính là ha theo từng vụ
- Năng suất bình quân xã: Là năng suất bình quân của 3 vụ tương ứng trong 3 năm trước đó tại xã được bảo hiểm theo số liệu thống kê của cơ quan chức năng có thẩm quyền Đơn vị tính là tạ/ha
- Năng suất thực tế xã: Là năng suất đạt được của từng vụ, tính chung cho cả
xã, theo số liệu thống kê của cơ quan chức năng có thẩm quyền Đơn vị tính là tạ/ha
- Đơn giá lúa: Là giá trị bằng tiền (Đồng Việt Nam) của một kilogram (kg) lúa tính cho từng vụ trên địa bàn được bảo hiểm Đơn giá lúa được xác định theo nguyên tắc lấy giá lúa vụ gần nhất do Cục Thống kê tỉnh công bố và được ghi trong hợp đồng bảo hiểm/giấy chứng nhận bảo hiểm
- Năng suất được bảo hiểm: Được tính bằng 90% năng suất bình quân xã hoặc của đơn vị được bảo hiểm Bồi thường bảo hiểm chỉ được chi trả trong trường hợp năng suất thực tế thấp hơn năng suất được bảo hiểm tại đơn vị được bảo hiểm Đơn
Trang 19- Mức sụt giảm năng suất: Là mức chênh lệch giữa năng suất thực tế xã và năng suất được bảo hiểm trong trường hợp năng suất thực tế thấp hơn năng suất được bảo hiểm
- Phí bảo hiểm: Là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm thu được từ người được bảo hiểm và/hoặc kinh phí hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước Phí bảo hiểm được tính theo từng vụ
- Tỷ lệ phí bảo hiểm: Là tỷ lệ (tính bằng phần trăm) giữa phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm Theo biểu phí của quyết định thì tỷ lệ phí bảo hiểm lúa ở An Giang là 2.19%
2.1.4.4 Chương trình thí điểm BHNN giai đoạn 2011-2013
Theo quyết định 315/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2011 và quyết định số 358/QĐ-TTg ngày 27 tháng 02 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011- 2013 với một số nội dung chính sau:
a) Mục đích
Thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp nhằm hỗ trợ cho người sản xuất nông nghiệp chủ động khắc phục và bù đắp thiệt hại tài chính do hậu quả của thiên tai, dịch bệnh gây ra, góp phần bảo đảm ổn định an sinh xã hội nông thôn, thúc đẩy
sản xuất nông nghiệp
b) Mức hỗ trợ của Nhà nước và đối tượng được hỗ trợ
Hỗ trợ 100% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân nghèo sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp
Hỗ trợ 90% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân cận nghèo sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp
Hỗ trợ 60% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân không thuộc diện nghèo, cận nghèo sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp
Hỗ trợ 20% phí bảo hiểm cho tổ chức sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp
c) Nguồn kinh phí và cơ chế hỗ trợ
Ngân sách trung ương hỗ trợ 100% cho các tỉnh nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương
Trang 20Ngân sách trung ương hỗ trợ 50% cho các tỉnh, thành phố có tỷ lệ điều tiết về ngân sách trung ương dưới 50%, ngân sách địa phương đảm bảo 50% còn lại
Ngân sách địa phương tự đảm bảo đối với các địa phương còn lại
d) Đối tượng được bảo hiểm và khu vực thực hiện thí điểm
Thực hiện bảo hiểm đối với cây lúa tại Nam Định, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Thuận, An Giang, Đồng Tháp
Thực hiện bảo hiểm đối với trâu, bò, lợn, gia cầm tại Bắc Ninh, Nghệ An, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Thanh Hóa, Bình Định, Bình Dương và Hà Nội Thực hiện bảo hiểm đối với nuôi trồng thủy sản cá tra, cá ba sa, tôm sú, tôm chân trắng tại Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau
e) Cách triển khai:
Mỗi tỉnh, thành phố có thể triển khai thí điểm toàn bộ địa bàn hoặc trên một số
huyện, xã tiêu biểu, theo nguyên tắc lựa chọn sau:
Các địa phương sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn, mang tính đại diện trên địa bàn tỉnh, thành phố
Đảm bảo cân đối giữa các địa phương trên địa bàn tỉnh, thành phố để tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm giai đoạn thực hiện thí điểm
Đảm bảo nguyên tắc số đông bù số ít
Phù hợp với chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của Nhà nước
f) Rủi ro được bảo hiểm và bồi thường bảo hiểm
Thiên tai, như: bão lũ, lụt, hạn hán, rét đậm, rét hại, sương giá và các loại rủi ro thiên tai khác
Dịch bệnh, như: dịch cúm, dịch tai xanh, bệnh lở mồm, long móng, bệnh thủy sản, dịch rầy nâu, vàng lùn, xoắn lá và các loại dịch bệnh khác
Căn cứ bồi thường: thực hiện bồi thường bảo hiểm theo quy định hiện hành hoặc bồi thường dựa trên chỉ số thời tiết, dịch bệnh, sản lượng có liên quan với thiệt hại
2.1.5 Thu nhập
2.1.5.1 Khái niệm về thu nhập
Trang 21Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền hoặc sản phẩm mà mỗi gia đình nhận được trong một thời gian nhất định để chi dùng trong cuộc sống hàng ngày Thu nhập có thể từ tiền lương, tiền thưởng, tiền lãi bán hàng, tiền tiết kiệm, các khoản trợ cấp xã hội, tiền công khi người đó là người làm công ăn lương Thu nhập
đó cũng có thể thu được do người đó bán trực tiếp sản phẩm nào đó có giá trị như người nông dân bán lúa hay rau quả của mình trồng ra, người thợ thủ công bán ra những công cụ phục vụ đời sống
Thu nhập của một hộ nông dân được hiểu là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà
hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động của gia đình, cho tích lũy và tái sản xuất mở rộng nếu có Thu nhập của hộ phụ thuộc vào kết quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh mà hộ thực hiện Có thể phân thu nhập của hộ nông dân thành ba loại:
- Thu nhập nông nghiệp: Bao gồm thu nhập từ các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp như: Trồng trọt (lúa, màu, rau, quả…); từ chăn nuôi (gia súc, gia cầm…) và nuôi trồng thủy hải sản (tôm, cua, cá…)
- Thu nhập phi nông nghiệp: Là thu nhập được tạo ra từ các hoạt động ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, bao gồm các ngành nghề chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, gia công cơ khí,… Ngoài ra, thu nhập phi nông nghiệp còn được tạo ra từ các hoạt động thương mại dịch vụ như buôn bán, thu gom…
- Thu nhập khác: Đó là các nguồn thu từ các hoạt động làm thêm, làm thuê, làm công ăn lương; từ nguồn trợ cấp xã hội và sản xuất hoặc các nguồn thu nhập bất thường khác
2.1.5.2 Thước đo thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp
Thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp là giá trị bằng tiền biểu hiện cho kết quả của quá trình sản xuất và được xác định thông qua các thước đo sau:
Thu nhập gộp là giá trị tổng sản phẩm hay tổng doanh thu là số tiền mà người
sản xuất thu được sau khi bán sản phẩm
Giá thực tế sản phẩm: giá bán thực tế của một đơn vị sản phẩm thu hoạch là giá bán mà người sản xuất thu hoạch được ngay tại cơ sở sản xuất của mình
Thu nhập ròng: lợi nhuận là của doanh thu sau khi trừ đi các khoản chi phí
(chưa tính chi phí ngày công lao động gia đình), thu nhập ròng phản ánh hiệu quả kinh tế của sản xuất
Tổng doanh thu = Sản lượng x Đơn giá
Trang 22Tổng chi phí (TCP) là tất cả các khoản đầu tư mà hộ nông dân bỏ ra trong quá
trình sản xuất và thu hoạch bao gồm: chi phí giống, phân bón, thuốc hóa học, chi phí thuê lao động, chi phí vận chuyển, chi phí nhiên liệu, chi phí thu hoạch…
Chi phí lao động bao gồm chi phí thuê mướn lao động và chi phí lao động gia
đình
Lao động gia đình (LĐGĐ) là số ngày công lao động mà người trực tiếp sản
xuất bỏ ra để chăm sóc cây trồng hay vật nuôi Lao động gia đình được tính bằng đơn vị ngày công (mỗi ngày công được tính là 8 giờ lao động)
Thu nhập lao động gia đình là tổng của lợi nhuận và chi phí cơ hội của lao
động gia đình tham gia vào quá trình sản xuất
Như vậy cùng với giá bán, sản lượng đầu ra và chi phí là những nhân tố quyết định trực tiếp đến thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp
2.2 MỘT SỐ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Các bài nghiên cứu về BHNN được nhiều tác giả trong nước và thế giới thực hiện về nhu cầu tham gia bảo hiểm nông nghiệp và thực trạng bảo hiểm nông nghiệp, vận dụng phương pháp bảo hiểm chỉ số trong nông nghiệp.Tuy nhiên, Việc đánh giá tác động BHNN chưa có nghiên cứu đánh giá trên diện rộng và đánh giá tác động của bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của nông hộ vì chương trình thí điểm bảo hiểm đang thực hiện tại một số tỉnh trong cả nước
Ở Việt Nam, Nguyễn Quốc Nghi (2012) nghiên cứu về nhu cầu tham gia bảo hiểm sản lượng của hộ nuôi tôm sú ở huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu Đề tài tập trung nghiên cứu xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia bảo hiểm sản lượng của hộ nuôi tôm sú Sử dụng phương pháp thống kê mô tả về đặc điểm sản xuất của hộ nuôi tôm sú và để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia bảo hiểm, tác giả sử dụng mô hình probit để kiểm định mô hình đã xây dựng Từ kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học triển khai các chương trình hành động nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình bảo hiểm nông nghiệp đối với hộ nuôi tôm sú ở nước ta Mặc dù các hộ nuôi tôm sú nhận thức được tác hại của các loại rủi ro đối với sản xuất, nhưng tỷ lệ không sẵn lòng tham gia bảo hiểm sản lượng
Thu nhập gia đình = Tổng doanh thu – TCP không bao gồm chi phí LĐGĐ = Lợi nhuận + Chi phí LĐGĐ
Thu nhập ròng = Tổng thu nhập – Tổng chi phí sản xuất
TCP = chi phí vật chất + chi phí lao động + chi phí khác
Trang 23còn rất cao cho thấy các chương trình bảo hiểm chưa tạo được niềm tin cho người nông dân Qua kết quả kiểm định cho thấy trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích nuôi tôm, chi phí đầu tư, tập huấn kĩ thuật và tổng số rủi ro là những nhân tố chính ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia bảo hiểm sản lượng của hộ nuôi tôm sú ở huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu
Nguyễn Tấn Sơn (2008) đề tài nghiên cứu vận dụng phương pháp chỉ số trong BHNN Nghiên cứu này tập trung phân tích những kinh nghiệm thành công và thất bại của BHNN trên thế giới và Việt Nam Sử dụng phương pháp so sánh và phương pháp đối chiếu để phân tích so sánh những ưu nhược điểm của các phương pháp bảo hiểm từ đó đề xuất phương pháp ứng dụng bảo hiểm theo chỉ số vào bảo hiểm nông ngiệp nước ta Qua so sánh ưu và nhược điểm của phương pháp bảo hiểm truyền thống (bảo hiểm bồi thường) và bảo hiểm theo chỉ số cho thấy mỗi loại bảo hiểm có
ưu và nhược điểm riêng Tuy nhiên, bảo hiểm theo chỉ số có nhiều ưu thế hơn nó vừa khách quan, vừa giảm chi phí quản lý đến mức thấp nhất có thể, đồng thời dễ xác định mức bồi thường khi xảy ra thiên tai Ngoài ra, bảo hiểm chỉ số còn khắc phục được nhược điểm bảo hiểm truyền thống như: phát sinh rủi ro đạo đức thấp hạn chế được tình trạng trục lợi bảo hiểm và phát huy được tính cộng đồng
Nghiên cứu về thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp ở nước ta, nghiên cứu của Huỳnh Thị Đan Xuân và Mai Văn Nam (2011) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm ở ĐBSCL Đề tài trung nghiên cứu thực trạng thu nhập, cơ cấu thu nhập và đa dạng hóa thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm ở ĐBSCL, đồng thời xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ Sử dụng phương pháp phân tích lợi ích chi phí và phương pháp thống kê mô tả để phân tích cơ cấu thu nhập của hộ chăn nuôi gia cầm bao gồm các chi phí và doanh thu từ các hoạt động tạo thu nhập cho hộ như chăn nuôi, trồng trọt, nuôi thủy sản, kinh doanh Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy tương quan để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm ở ĐBSCL Qua kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập của hộ chủ yếu dựa vào hoạt động nông nghiệp, nông hộ quan tâm đến đa dạng hóa thu nhập nhưng chưa mang lại hiệu quả Thu nhập của hộ chăn nuôi gia cầm chịu ảnh hưởng của các yếu tố như: tổng diện tích đất của hộ, vay vốn, kiểm dịch, thu nhập từ chăn nuôi gia cầm, thu nhập từ phi nông nghiệp
Qua lược khảo tài liệu trên đề tài nghiên cứu “Đánh giá tác động bảo hiểm cây
lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa tỉnh An Giang” là đề tài mới so với các đề tài
nghiên cứu trước Những đề tài nghiên cứu lược khảo trên thấy được thực trạng triển
Trang 24khai thí điểm bảo hiểm cây lúa và những ưu, nhược điềm bảo hiểm chỉ số và bảo hiểm truyền thống, đây chính là cơ sở để phân tích thực trạng bảo hiểm cây lúa tại tỉnh Đồng Tháp Ngoài ra, các bài nghiên cứu trước về quyết định và đánh giá tác động thu nhập đây là nền tảng xác định các nhân tố đánh giá tác động của bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa và xây dựng mô hình nghiên cứu Tuy nhiên, bài nghiên cứu này đánh giá tác động bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa được thực hiện trên diện rộng, tại địa bàn triển khai thí điểm bảo hiểm cây lúa
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của hai địa phương, huyện Thoại Sơn
và Châu Phú là những huyện có nông hộ sản xuất lúa với diện tích nhiều nhất trong tỉnh Và cũng là những huyện được tiến hành thí điểm bảo hiểm nông nghiệp trên cây lúa theo quyết định 315/QĐ-TTg
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.2.1 Số liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp được thu thập, xử lý và phân tích tổng hợp từ các văn kiện báo cáo tổng kết của địa phương, số liệu của sở, cơ quan ban ngành, các thông tin từ báo, tạp chí và sử dụng số liệu các đề tài có liên quan
2.3.2.2 Số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập trên cơ sở bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp 120 nông hộ ở 2 huyện Thoại Sơn và Châu Phú
2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu
Các phương pháp được sử dụng để phân tích số liệu gồm có:
Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được vận dụng để mô tả bức
tranh tổng quát về tình hình cơ bản các địa bàn nghiên cứu, thực trạng sản xuất, cũng như xu hướng tham gia bảo hiểm cây lúa của nông hộ Bằng phương pháp này, chúng ta có thể mô tả được những nhân tố tích cực và nhân tố ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận của nông hộ khi tham gia bảo hiểm nông nghiệp
Phương pháp phân tích hồi quy tương quan: Mục đích của việc thiết lập
phương trình hồi quy để kiểm định tác động của các yếu tố có liên quan đến nguồn thu nhập của nông hộ trên địa bàn Từ đó, chọn những yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa, phát huy yếu tố có ảnh hưởng tốt, khắc phục yếu tố có ảnh hưởng xấu
Trang 25Phương pháp PSM (propensity score matching): Phương pháp này được dùng
để đánh giá tác động của dự án Phương pháp này giúp xác định và so sánh những đối tượng có nét tương đồng, nhận diện những nhân tố có thể tác động đến khả năng tham gia và không tham gia vào dự án của các đối tượng nghiên cứu, làm cơ sở cho
mô hình probit
Các bước cơ bản để thực hiện so sánh bằng PSM được tóm tắt như sau :
Bước 1: Tiến hành điều tra chọn mẫu hai nhóm bao gồm nhóm người tham gia
và nhóm người không tham gia Cuộc điều tra này phải đảm bảo được tính tương đồng, chẳng hạn như cùng phiếu điều tra, cùng thời điểm, cùng địa bàn,…
Bước 2: Từ số liệu của cuộc điều tra, xây dựng mô hình logic trong đó biến phụ thuộc là 0 cho người không tham gia và 1 cho người tham gia, còn biến độc lập
là những nhân tố có thể ảnh hưởng đến khả năng tham gia vào dự án của hai nhóm Bước 3: Tiến hành hồi quy cho mô hình probit rồi tính giá trị dự đoán hay xác suất dự đoán (predicted propability) cho từng cá thể trong hai nhóm Giá trị xác suất
dự đoán được gọi là Propesity score, giá trị này sẽ nằm trong khoảng từ 0 đến 1 Bước 4: Loại bớt những cá thể có xác suất dự đoán quá thấp hoặc quá cao so với cả mẫu
Bước 5: Tương ứng với mỗi cá thể trong nhóm người tham gia, chúng ta tìm một số cá thể trong nhóm người không tham gia mà có xác suất dự đoán gần giống nhau nhất rồi so sánh với nhau Chẳng hạn, so sánh thu nhập của cá thể trong nhóm người tham gia với thu nhập bình quân của các cá thể trong nhóm người không tham gia mà có xác suất dự đoán gần giống nhau nhất Kết quả của những so sánh này là tác động của dự án đối với mỗi cá thể tham gia dự án, gọi là “individual gains” Bước 6: Cuối cùng tính trung bình của tất cả “individual gains” để được giá trị trung bình chung, giá trị trung bình chung này chính là tác động của dự án đối với những người tham gia
2.3.4 Mô hình phân tích tác động của bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của
hộ trồng lúa
Để đánh giá tác động của bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa, tác giả sử dụng phương pháp phân tích điểm xu hướng Một mức thay đổi thu nhập bình quân (theo vụ) của hộ trồng lúa do có tham gia bảo hiểm cây lúa được coi là đóng góp của chương trình bảo hiểm cây lúa đối với việc ổn định thu nhập của hộ Để đánh giá tác động trên, nghiên cứu này sử dụng khung đánh giá tác động dựa theo
Trang 26Heckman & George (1980) và Ahn & Schmidt (1995) Cụ thể, các hộ gia đình được phân thành hai nhóm, có tham gia hoặc không tham gia trong mua bảo hiểm cho cây lúa Gọi D là tình trạng mua bảo hiểm, D = 1nếu hộ có mua bảo hiểm và D = 0 cho trường hợp còn lại Gọi Y1i là thu nhập bình quân của hộ có tham gia mua bảo hiểm
và Y0i là kết quả của hộ không tham gia Vì hai khả năng tham gia và không tham gia mua bảo hiểm là loại trừ nhau, chỉ có hộ tham gia mua bảo hiểm nhận được giá trị quan sát, kết quả không được quan sát nếu hộ đó không tham gia vào chương trình gọi là “kết quả đối chứng” Tác động của chương trình dự trên kết quả của các
hộ gia đình thứ i trong một mẫu có thể được định nghĩa như sau:
δ = Y1i - Y0i (1)
Các kết quả tác động của quan sát thứ i tùy thuộc vào tính chất loại trừ lẫn nhau của kết quả đối chứng và giả định phân phối độc lập (Heckman & Vytlacil, 2005; Rubin, 1990) Cụ thể như sau:
Yi = Y0i + (Y1i - Y0i) Di = Y0i + δDi (2)
Ước lượng tác động thu nhập, ở phương trình (2) sử dụng phương pháp OLS cho kết quả chệch do sai số chọn mẫu (Heckman, 1978) Để cải thiện kết quả ước lượng, nghiên cứu này sử dụng phương pháp so sánh điểm xu hướng (Propensity Score Matching), trong đó sử dụng các số liệu trước và sau khi tham gia chương trình để so sánh những người tham gia mua bảo hiểm cho cây lúa và những người không tham gia mua bảo hiểm dựa trên những đặc điểm quan sát của họ Gọi X là tập hợp các đặc điểm quan sát của hộ trong mô hình (2) được viết lại như sau:
Yi = Yi0 + (Yi1 - Yi0) Di = Yi0 + δDi + Xi βj + εi (3)
Việc lựa chọn các nhóm tham gia mua bảo hiểm và nhóm không tham gia, tuy vậy, không cung cấp cơ sở đảm bảo rằng việc so sánh không bị chệch Nguồn sai lệch có thể phát sinh từ các yếu tố như tuổi tác hay sự khác biệt trong kỹ năng quan sát thu nhập thông tin Ngoài ra, sai lệch trong đánh giá còn phát sinh khi các yếu tố không quan sát được, chẳng hạn như là động cơ sản xuất của hộ hoặc thiên hướng kinh doanh của cá nhân cũng có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định quyết định mua bảo hiểm Nếu một cá nhân có động cơ cao sẽ có nhiều khả năng cá nhân đó tham gia vào chương trình bảo hiểm; và có nhiều khả năng cá nhân đó có được một kết quả cao hơn mà không cần tham gia bảo hiểm Trong nghiên cứu này, phương pháp so sánh điểm xu hướng (PSM) sử dụng các số liệu của hộ tham gia và không tham gia mua bảo hiểm để đánh giá tác động của việc tham gia bảo hiểm đến thu nhập của hộ Các yếu tố độc lập sử dụng trong mô hình đánh giá tác động(các
Trang 27yếu tố kiểm soát) (Xi) trong mô hình bao gồm tập hợp các đặc điểm của chủ hộ, đặc điểm tài chính của hộ và đặc điểm của hoạt động sản xuất
Bảng 2.1: Diễn giải các biến độc lập và kỳ vọng trong phân tích hồi quy
Tên biến Giải thích Biến số Đơn vị tính Kỳ vọng
TrinhDo (X 2) Trình độ học vấn chủ
SoThanhVien (X 3) Thành viên gia đình Người -
QHDiaPhuong (X 5) Quan hệ địa Phương Có =1
NangSuat (X 8) Năng suất trung bình Tấn/ha -
DienTichDat (X 10) Diện tích đất canh tác 1.000 m2 +
ChiPhi (X 11)Chi phí sản xuất trung
Ghi chú :
Dấu “+” thể hiện mối quan hệ tỷ lệ thuận với biến phụ thuộc
Dấu “-” thể hiện mối quan hệ tỷ lệ nghịch với biến phụ thuộc
2.3.5 Giải thích những biến sử dụng trong mô hình (Probit) xác định
những yếu tố ảnh hưởng quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa và kiểm soát biến thu nhập
Nguyễn Thanh Tâm (2002) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nông
hộ tại địa bàn Nông Trường Sông Hậu Huyện Ô Môn Tỉnh Cần Thơ Kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập nông hộ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: trình độ văn hóa chủ hộ, kinh nghiệm sản xuất, số thành viên trong gia đình, lao động ngoài nông nghiệp và khả năng tiếp cận với vốn vay Ngoài ra, thu nhập nông hộ còn bị tác động bởi các yêu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa và chính sách đa canh đa dạng hóa sản xuất của nông trường thông qua các mô hình canh tác
Tác giả Trần Xuân Long (2009) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ tại địa bàn huyện Tri Tôn, An Giang Kết quả nghiên cứu đã chứng minh trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích đất ruộng, giá lúa có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân Các biến như tuổi của chủ hộ, số lao động, số làn tham dự
Trang 28khuyến nông, số nguồn thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp không có ý nghĩa thống kê
Tác giả Trần Trọng Tín (2010) đã nghiên cứu các yếu tố tác động thu nhập hộ nghèo tỉnh VĨnh Long, dựa trên số liệu thu thập được từ 200 hộ nghèo của tỉnh Vĩnh Long Tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy theo phương pháp ước lượng bình phương bé nhất để phân tích các yếu tố tác độngt thu nhập hộ nghèo Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, diện tích đất canh tác, tuổi của chủ hộ và số tiền vay nợ của hộ có tác động đến thu nhập của hộ
Tham khảo các nghiên cứu trên và một số tài liệu liên quan Tác giả đưa ra mô hình probit Trong đề tài mô hình probit được sử dụng nhằm xác định các yếu tố kiểm soát quyết định đến mua bảo hiểm cây lúa và thu nhập của hộ trồng lúa Các biến độc lập được giải thích như sau:
Biến phụ thuộc của mô hình probit: Biến Y nhận giá trị 1 nếu hộ có tham gia bảo hiểm cây lúa và ngược lại nhận giá trị 0 nếu hộ không tham gia bảo hiểm cây lúa
Tuổi của chủ hộ (Tuoi): là số tuổi tính từ năm sinh cuả chủ hộ Các hộ thường lớn tuổi có nhiều kinh nghiệm trồng lúa và quản lý rủi ro dịch bệnh xảy ra, năng suất lúa cao nên rất ít hộ quyết định mua bảo hiểm Biến này kỳ vọng có mang hệ số âm Trình độ học vấn chủ hộ (TrinhDo): là trình độ học vấn của chủ hộ Học vấn được tính bằng số lớp học của chủ hộ Chủ hộ có học vấn càng cao thì khả năng tính toán để trồng lúa giảm chi phí đầu vào, giảm rủi ro nâng cao năng suất làm thu nhập tăng và những hộ này tiếp cận với các chính sách của Nhà nước một cách thuận lợi Biến này kỳ vọng tương quan dương với quyết định mua bảo hiểm cây lúa
Thành viên gia đình (SothanhVien): được kỳ vọng sẽ có tương quan nghịch với quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa Đây là tổng số người trong gia đình, không tính người làm thuê Số thành viên trong hộ càng đông thì chi tiêu của hộ càng cao dẫn đến nhu cầu mua bảo hiểm giảm do cần nhiều chi phí đối với họ Mặt khác, những hộ có nhiều thành viên cuộc sống thường khó khăn hơn so với những hộ ít thành viên, do đó tuy họ có nhu cầu tham nhưng do cuộc sống khó khăn nên họ có thể khó có khả năng tiếp cận được với chương trình bảo hiểm
Số lao động (SoLD): là tổng số lao động trong gia đình tham gia sản xuất lúa, không tính người làm thuê Gia đình có nhiều lao động thì sẽ tiết kiệm được chi phí lao động làm tăng thu nhập, nên có khả năng tham gia bảo hiểm cây lúa hơn
Trang 29Quan hệ địa phương (QHDiaPhuong): được kỳ vọng sẽ có tương quan thuận với khả năng tham gia bảo hiểm cây lúa Nếu gia đình có người thân làm ở cơ quan nhà nước các cấp (xã, huyện, tỉnh hay trung ương) hay ở các TCTD thì chủ hộ sẽ có
uy tính trong xã hội, có xu hướng tham gia bảo hiểm do cán bộ sẽ làm gương cho dân noi theo và sẽ tiếp cận chương trình bảo hiểm dễ dàng hơn Từ đó đề tài giả định rằng những hộ có người thân làm ở địa phương sẽ có thể tham gia chương trình bảo hiểm cây lúa cao hơn những hộ khác
Vay vốn (VayVon): được kỳ vọng sẽ có tương quan nghịch với khả năng tham gia bảo hiểm cây lúa Những hộ vay vốn thường do thiếu vốn đầu tư sản xuất, nên khi bắt họ phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để mua bảo hiểm thì họ cần phải cân
đo với phần lọi ích đạt được, nên khả năng tham gia kém
Tích lũy (TichLuy): là biến phản ánh tiết kiệm của nông hộ trong quá trình sản xuất, người dân thường để dành một khoản thu nhập để đề phòng rủi ro, nên khi có khoản tích lũy như một công cụ phòng ngừa thì họ không có nhu cầu tham gia bảo hiểm
Diện tích đất canh tác (DienTich): là tổng diện tích đất để canh tác lúa tính bằng ha Diện tích càng lớn thì chi phí đầu tư cho trồng lúa càng cao, xác suất xảy ra rủi ro thiên tai và dịch bệnh cao nên nhu cầu tham gia bảo hiểm cây lúa sẽ càng nhiều Biến này kỳ vọng tương quan dương với quyết định mua bảo hiểm cây lúa Năng suất trung bình (NangSuat): là năng suất lúa thu được trên 1 ha diện tích đất canh tác và được tính bình quân cho ba vụ gần nhất Năng suất lúa càng tăng có nghĩa là hộ có kinh nghiệm sản xuất tốt, am hiểu về địa bàn và tự khắc phục được rủi ro xảy nên không có nhu cầu tham gia bảo hiểm cây lúa và ngược lại Biến này
kỳ vọng tương quan nghịch với quyết định mua bảo hiểm cây lúa
Giá bán trung bình (GiaBan): là giá mà hộ trồng lúa bán cho thương lái hoặc công ty được tính bình quân cho cả ba gần nhất Giá bán càng cao có nghĩa hộ sản xuất đạt, chất lượng lúa tốt bán được giá cao Đạt được điều này là do có kinh nghiệm sản xuất, có khả năng phòng trừ sâu bệnh nên thường không có nhu cầu tham gia bảo hiểm
Chi phí sản xuất trung bình (ChiPhi): là số tiền mà hộ đầu tư cho trồng lúa bao gồm cả chi phí lao động gia đình Chi phí sản xuất tăng lên trong khi các yếu tố khác không thay đổi làm cho thu nhập ròng của hộ giảm và ngược lại Chi phí đầu tư càng cao thì càng có nguy cơ thiếu vốn, thiếu nguồn đầu tư sản xuất nên quyết định mua
Trang 30bảo hiểm càng khó khăn đối với hộ Biến này kỳ vọng tương quan dương với quyết định mua bảo hiểm cây lúa
Tóm lại, Đây là các yếu tố được kỳ vọng sẽ có ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa, cũng như các yếu tố kiểm soát thu nhập của hộ Các yếu tố này sẽ được sử dụng để mô tả mẫu và phân tích đối tượng nghiên cứu
Trang 31CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH AN GIANG
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
An Giang là tỉnh nằm phía Tây Nam của Việt Nam, là vùng đất đầu nguồn sông Cửu Long Phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp, Đông Nam giáp TP Cần Thơ, phía Tây giáp Kiên Giang và Tây Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài gần
12 khoảng 240C Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm thấp Vào mùa khô, biên
độ nhiệt từ 1,5 - 30; vào mùa mưa, biên độ nhiệt giữa các tháng chỉ vào khoảng trên dưới 10 Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.130 mm Độ ẩm trung bình 75 – 80% Khí hậu phân hóa thành hai mùa rõ rệt Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng
4 năm sau, có gió mùa Đông Bắc, thời tiết trong sáng, ít mưa, mưa vào mùa này chỉ chiếm khoảng 10% lượng mưa cả năm, gây ra tình trạng thiếu nước trầm trọng cho cây trồng và sinh hoạt Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, có gió mùa Tây Nam thổi vào, nóng ẩm, mưa nhiều, lượng mưa chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm, tập trung cao nhất từ tháng 8 - tháng 10, gây nên cảnh ngập lụt trên diện rộng, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh tế và đời sống xã hội
Nhìn chung, chế độ khí hậu của tỉnh tương đối ôn hoà, nắng nhiều, mưa vừa, ít thiên tai, thời tiết khá ổn định, hầu như không xảy ra bão và sương muối Đây là những thuận lợi để phát triển trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản và các ngành kinh tế khác như du lịch, giao thông Khó khăn nhất mà khí hậu gây ra cho tỉnh An
Trang 32Giang cũng như các tỉnh khác ở khu vực đồng bằng sông cửu long là thiếu nước vào mùa khô và ngập lụt vào mùa mưa Vấn đề đặt ra là cần phải có những giải pháp đồng bộ để khắc phục, tìm nguồn cung cấp nước vào mùa khô, tận dụng các nguồn lợi của lũ như: bồi đắp phù sa, khai thác thủy sản Giúp người dân yên tâm sống chung với lũ
Ngoài các yếu tố khí tượng nói trên, An Giang còn có các hiện tượng thời tiết cần lưu ý như: lốc xoáy-vòi rồng-mưa đá, hạn Bà Chằn, ảnh hưởng của Elnino và Lanina
3.1.1.3 Đặc điểm địa hình
a) Địa hình đồng bằng
Đồng bằng chiếm khoảng 87% diện tích tự nhiên của tỉnh, là nơi sinh sống của khoảng 89% dân cư toàn tỉnh Đồng bằng cũng được phân thành hai loại là đồng bằng phù sa và đồng bằng ven núi
- Đồng bằng phù sa do phù sa của sông Cửu Long bồi đắp, gồm 2 khu vực: + Khu vực 1: Là dãy đất nằm kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu, bao gồm một phần huyện An Phú và các huyện Tân Châu, Phú Tân và Chợ Mới Địa hình có dạng lòng chảo, cao ở hai bờ sông và thấp dần ở giữa Độ cao trung bình ở ven sông là 3 -
4 m, ở khu lòng chảo là 1,5 - 3 m Đất chủ yếu là loại cát pha, thích hợp với việc trồng lúa, ngô, cây ăn quả
+ Khu vực 2: là dãy đất nằm ở hữu ngạn sông Hậu, bao gồm một phần huyện
An Phú, các huyện Châu Phú, Châu Thành,Thoại Sơn, thị xã Châu Đốc và thành phố Long Xuyên Địa hình hơi nghiêng, thấp dần về phía Tây - Tây Nam Nơi thấp nhất chỉ cao khoảng 0,7 - 1,0 m so với mực nước biển Đất chuyển từ thịt nhẹ đến đất sét, thích hợp cho cây lúa, cây công nghiệp ngắn ngày và cây ăn quả
- Đồng bằng ven núi thuộc kiểu sườn tích (Deluvi) và phù sa cổ Kiểu sườn tích hình thành trong quá trình phong hóa và xâm thực từ các núi đá, độ cao trung bình từ 5 - 10 m, hẹp, độ dốc nhỏ
b) Địa hình đồi núi
Vùng đồi núi chiếm khoảng 13% diện tích tự nhiên và 11% dân cư toàn tỉnh Các dãy núi phân bố thành hình vòng cung kéo dài gần 100 km, khởi đầu từ xã Phú Hữu, huyện An Phú, qua xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc, bao trùm lên gần hết diện tích huyện Tịnh Biên và huyện Tri Tôn, về tận xã Vọng Thê và Vọng Đông rồi
Trang 33dừng lại ở thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, gồm các cụm núi chính: núi Sập, Ba Thê, núi Phú Cường, núi Cấm, núi Dài, núi Tô, núi Nổi, núi Sam
Đất đai vùng núi chủ yếu là đất xám, nghèo dinh dưỡng, giữ nước kém, dễ bị khô hạn và xói mòn Sản xuất nông nghiệp chỉ được một vụ vào mùa mưa, chủ yếu
là trồng cây ăn quả và trồng rừng
3.1.1.4 Dân số
Dân số trung bình An Giang ước tính năm 2012 đạt 2.152.342 người Trong tổng dân số, giới tính nam có 1.070.155 người, chiếm 49,72%; thành thị có 643,380 người, chiếm 29,89% so với tống dân số
3.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên
a) Tài nguyên đất
An Giang có 37 loại đất khác nhau, hình thành 6 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất phù sa trên 151.600 ha, chiếm 44,5% Đất đai của An Giang phần lớn màu mỡ vì 72% diện tích là đất phù sa hoặc có phù sa, địa hình bằng phẳng, thích nghi đối với nhiều loại cây trồng
b) Tài nguyên rừng
Trên địa bàng toàn tỉnh An Giang có trên 583 ha rừng tự nhiên thuộc loại rừng
ẩm nhiệt đới, đa số là cây lá rộng, với 154 loài cây quý hiếm thuộc 54 họ, ngoài ra còn có 3.800 ha rừng tràm Sau một thời gian diện tích rừng bị thu hẹp, những năm gần đây tỉnh đã chú ý nhiều tới việc gây lại vốn rừng Động vật rừng An Giang cũng khá phong phú và có nhiều loại quí hiếm
c)Tài nguyên khoáng sản
So với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, An Giang có tài nguyên khoáng sản khá phong phú, với trữ lượng khá; đá granít trên 7 tỷ m3; đá cát kết 400 triệu m3; cao lanh 2,5 triệu tấn; than bùn 16,4 triệu tấn; vỏ sò 30 – 40 triệu m3
Trang 34Nhìn chung mức tăng trưởng kinh tế năm nay là một cố gắng lớn trong điều kiện cả nước tập trung thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội
Nguồn: Niên giám thông kê 2012 tỉnh An Giang
Hình 3.1 Cơ cấu các khu vực kinh kế tỉnh An Giang năm 2012
GDP bình quân đầu người đạt 32,5 triệu đồng, tăng 17,3 % so với cùng kỳ
2011 (năm 2011 là 27,7 triệu đồng)
3.1.2.1 Về nông nghiệp
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản năm 2012 theo giá so sanh 1994 ước tính đạt 10,337 tỷ đồng, tăng 1,5% so với năm 2011; bao gồm: nông nghiệp 8,1794 tỷ đồng, tăng 2,3%; lâm nghiệp 80,4 tỷ đồng, tăng 0,9% thủy sản 2.077,2 tỷ đồng, bằng 98,4%
Toàn tỉnh đã thu hoạch dứt điểm diện tích gieo trồng của 3 vụ sản xuất (Đông Xuân, Hè Thu, vụ Mùa 2011-2012) trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi, dàn chăn nuôi tiếp tục phát triển ổn định khi tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh được khống chế tốt, riêng sản xuất thủy sản còn bấp bênh khi việc sản xuất và tiêu thụ cá tra không ổn định, diện tích nuôi vẫn còn thấp so cùng kỳ
Các tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng ngày càng sâu rộng, có hơn 522,6 ngàn ha lúa (chiếm hơn 83% diện tích lúa) áp dụng sản xuất theo Chương trình “3 giảm 3 tăng” và “1 phải 5 giảm”, tăng 6.617 ha so với cùng kỳ Cơ cấu giống lúa tiếp tục được chuyển đổi mạnh, trong năm có gần 80% diệc tích đều sử dụng các loại giống xác nhận, có chất lượng cao (chủ yếu là các loại giống OM)
Công nghiệp - Xây dựng
Trang 35
Về thủy sản
Nuôi trồng: Do giá cá tra nguyên liêu tăng giảm bất thường, giá thức ăn lại liên tục tăng cùng với lãi suất cho vay của các ngân hàng vẫn còn ở mức cao, trong khi đó các doanh nghiệp chế biến thủy sản thiếu vốn thu mua nguyên liệu nên giá cả không thể tăng cao, người nuôi vẫn còn bị lỗ Diện tích nuôi thủy sản trong năm
2012 là 2.136 ha (90,1% so với năm 2011), sản lượng thủy sản thu hoạch cả năm là 298,3 ngàn tấn
Đánh bắt: do năm 2012 lũ thấp, lượng khai thác không nhiều; ước toàn tỉnh đánh bắt khoảng 38,3 ngàn tấn thủy sản các loại, bằng 95,67%, trong đó sản lượng
cá 28,7 nghìn tấn, giảm 4,5% so năm 2011
3.1.2.2 Về công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp cả năm 2012 tăng 5,65% so với năm 2011 Giá trị sản xuất ước cả năm 2012: Theo giá hiện hành đạt 32.056,2 tỷ đồng và theo giá so sánh 2010 đạt 27.062,4 tỷ đồng
Các ngành công nghiệp chủ yếu của tỉnh như ngành công nghiệp khai khoáng với nguồn tài nguyên sẵn có cùng với sự đầu tư thiết bị kỹ thuật ước tính cả năm
2012 tăng 5,89% so năm 2011 Giá trị sản xuất ước cả năm 2012: đạt 443 tỷ đồng theo giá hiện hành và theo giá so sánh 2010 đạt 280,3 tỷ đồng Công nghiệp chế biến, chế tạo đây là ngành chiếm vai trò quan trọng tại địa phương, với nguồn thủy sản dồi dào sẵn có, cũng với tay nghề, trình độ kỹ thuật được nâng cao năm 2012 ước tính tăng 4,98% so năm 2011 Giá trị sản xuất ước cả năm 2012 theo giá thực tế đạt 30.165 tỷ đồng Ngành công nghiệp xay xát là một trong các ngành chủ lực và lợi thế của tỉnh, thuận lợi về nguồn nguyên liệu dồi dào và nhu cầu ngày càng tăng của thị trường trong nước và thế giới
Ngoài ra còn có tiểu thủ công nghiệp bao gồm đan lát, dệt chiếu, rèn, dệt may, chế biến đường, các loại thực phẩm và gia vị thường dùng…Hoạt động xen kẽ trong các khu dân cư với quy mô nhỏ
3.1.2.3 Về dịch vụ
Ước tính tổng mức chung lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
xã hội ước cả năm 2012 đạt 93.358,9 tỷ dồng tăng 9,83% so với cùng kỳ
Trang 36Phân loại theo loại hình kinh tế, năm 2012 so với cùng kỳ năm 2011 : kinh tế nhà nước đạt 3.302,9 tỷ đồng, kinh tế tư nhân đạt 13.690,7 tỷ đồng, còn lại là kinh tế tập thể đạt tương đương cùng kỳ
Về ngành hàng hoạt động năm 2012 so với năm 2011 :Ngành thương nghiệp đạt 50.318,4 tỷ đồng, ngành lưu trú và ăn uống đạt 6.641 tỷ đồng, du lịch lữ hành đạt 90,54 tỷ đồng và ngành dịch vụ khác đạt 3.902,97 tỷ đồng
3.1.3 Văn hóa - xã hội
Về lĩnh vực y tế, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được tăng cường thực hiện, kết hợp với hoạt động truyền thông, giáo dục sức khỏe, nâng cao kiến thức cho người dân về dinh dưỡng Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, trong năm 2012 toàn tỉnh có 5.798 ca mắc bệnh sốt xuất huyết và 5.469 ca mắc bệnh tay – chân – miệng, đã có 12 ca tử vong Ngoài ra, ngành y tê đã kết hợp với các ngành chức năng tiến hành kiểm tra ANVSTP của các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, đạt tỉ lệ 85% Công tác kế hoạch hóa gia đình không ngừng được tuyên truyền vận động
Lĩnh vực giáo dục chuyển biến tích cực Ngành giáo dục đã hoàn thành nhiệm
vụ năm 2011-2012 với kết quả giảng dạy học tập được nâng cao Đồng thời triển khai thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm học 2012-2013 theo đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ Giáo Dục và Ủy ban nhân dân tỉnh công tác phổ cập giáo dục năm 2012.Trường lớp đáp ứng được nhu cầu dạy và học Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
và nhà giáo được tăng cường đào tạo, bồi dưỡng theo chuẩn quy định Công tác phổ cập giáo dục tiểu học được trường quan tâm củng cố và duy trì với nhiều biện pháp linh hoạt
3.1.4 Thiệt hại thiên tai
Thiệt hại thiên tai chủ yêu là do sạt lỡ đá ở các vùng núi, đặc biệt là khu vực Núi Cấm làm 6 người chết ảnh hưởng đến khá sâu vào tâm trí khách du lịch, hành hương tại địa điểm du lịch này Ngoài ra còn có sạt lỡ đất ven sông, làm thiệt hại về nhà cửa, tài sản ước tính lên đến 3,5 tỷ đồng
Khó khăn trong sản xuất nông nghiệp là các trận mưa bão và giông lốc kèm theo lốc xoáy gây thiệt hại về tài sản, hoa màu, đất canh tác ước tính 5,6 tỷ đồng Tuy thiên tai là các hoạt động không thường xuyên, nhưng một khi đã xảy ra sẽ làm tổn thất nặng nề về tài sản và con người Các ngành chức năng đã và đang tăng cường các công tác dự báo, kiểm tra định kỳ nhằm hạn chế cái rủi ro bất ngờ, góp phần an sinh xã hội
Trang 373.2 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI THÍ ĐIỂM BẢO HIỂM CÂY LÚA CỦA
TỈNH AN GIANG
Theo quyết định 315/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ, An Giang là tỉnh được chọn thực hiện chương trình thí điểm BHNN tại ba huyện Thoại Sơn, Châu Phú và An Phú, các huyện thực hiện thí điểm bảo hiểm cây lúa ở 100% các xã Ngay khi có văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình thí điểm BHNN, UBND tỉnh An Giang chỉ đạo thành lập ban chỉ đạo BHNN Tỉnh, do một Phó Chủ tịch UBND Tỉnh làm trưởng ban, thường trực ban chỉ đạo là SNN & PTNN và thành lập ban chỉ đạo tại ba huyện, 100% các xã đều thành lập ban vận động các xã Các cơ quan Đảng và các sở, ban ngành, đoàn thể trong tỉnh An Giang tăng cường tuyên truyền, phổ biến nội dung, mục đích, ý nghĩa của việc thực hiện thí điểm bảo hiểm trong cán bộ, công chức, viên chức và đảng viên Đề ra giải pháp vận động người dân tham gia thí điểm bảo hiểm cây lúa vừa đạt mục tiêu đề ra, vừa đảm bảo tính tự nguyên tham gia là chính Trong điều kiện còn khó khăn của giai đoạn thí điểm, diện tích lúa có bảo hiểm ngày càng tăng là một kết quả khá tốt
Bên cạnh đó, Tổ công tác Ban chỉ đạo Tỉnh đã phối hợp với Công ty Bảo Minh
An Giang tổ chức tuyên truyền, tập huấn cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật của SNN & PTNN, Phòng nông nghiệp các huyện, xã để các thông tin tuyên truyền được nhân rộng, nhiều đảng viên gương mẫu, cán bộ địa phương có sản xuất lúa ở các địa phương tham gia bảo hiểm để làm gương cũng là cơ sở tuyên truyền nhân rộng trong dân
3.2.1 Tình hình tham gia bảo hiểm cây lúa tỉnh An Giang
a) Các vụ năm 2012
Bảo hiểm nông nghiệp là chương trình mới của nhà nước, tỉnh đã tiếp thu và triển khai bước đầu, trước những thông tin, cũng như chính sách chưa phù hợp tỉnh đạt được kết quả còn hạn chế.Vụ Động Xuân 2011-2012 kết quả đạt khá thấp 20,528 ha/34.616 ha đạt 0,059% diện tích xuống giống với 26 hộ (01 hộ nghèo) nông dân ở Châu Phú tham gia bảo hiểm nông nghiệp, do đây là vụ đầu tiên áp dụng thí điểm Trước sự vận động được tăng cường từ các đơn vị vụ Hè Thu 2012 có phần khả quan hơn tổng số ở 3 huyện có 227/83.740 ha chiếm 0,27% diện tích với 306 hộ (160 hộ nghèo) ký hợp đồng và đóng phí bảo hiểm nông nghiệp cây lúa Vụ Thu Đông 2012: diện tích tham gia bảo hiểm nông nghiệp có phần tăng 1.258,28/63.500
ha với 855 hộ tham gia chiếm 1,98% diện tích xuống giống, đạt được như vậy do vụ
Trang 38hè thu trước phát sinh dịch bệnh, đổ ngã lúa, tổn thất trên diện rộng, người dân mua bảo hiểm để đảm bảo an toàn cho vụ Thu đông
* Số hộ dân nghèo và cận nghèo tham gia bảo hiểm nông nghiệp trong năm 2012:
- Hộ nghèo: 227 hộ, diện tích tham gia 75 ha chiếm 5% trên tổng diện tích tham gia năm 2012 (75/1.506 ha)
- Hộ cận nghèo: 10 hộ, diện tích tham gia 3,8 ha chiếm 0,25% trên tổng diện tích tham năm 2012 (3,8/1.506 ha)
b) Các vụ năm 2013
- Đông Xuân 2012-2013: Tổng diện tích tham gia (03 Huyện) là 233,44 ha/86.283 ha diện tích xuống giống, chiếm 0,27% Trong đó có 122 hộ nghèo với diện tích tham gia là 46,14 ha và 04 hộ cận nghèo với diện tích tham gia là 1,7 ha
- Vụ hè thu 2013: tổng số ở 3 Huyện có 168 hộ ký hợp đồng với diện tích 133
ha chiếm 0,057% diện tích xuống giống vụ Hè Thu, trong đó có 95 hộ nghèo với diện tích tham gia là 38,72 ha tham gia hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp
3.2.1.1 Kết quả thực hiện bảo hiểm nông nghiệp năm 2012 Huyện Thoại Sơn
Tổng diện tích đất tham gia bảo hiểm nông nghiệp năm 2012 là 246,09 ha với
156 hộ (trong đó: 6 hộ nghèo với diện tích 2,5 ha), cụ thể:
- Vụ đông xuân 2011-2012: khi vận động trực tiếp nông dân thì người nông dân chưa hiểu biết nhiều về chính sách bảo hiểm nông nghiệp cộng thời vụ đã xuống giống 20 ngày và tình hình diễn biến thiên tai, dịch bệnh thuận lợi nên nông dân không có ý định tham gia bảo hiểm nông nghiệp trong vụ đông xuân 2011-2012, kết quả bước đầu chưa có diện tích nào tham gia ký hợp đồng bảo hiểm
- Vụ hè thu 2012: diện tích tham gia 114,3 ha với 85 hộ (trong đó: có 02 hộ nghèo với diện tích 01 ha)
+ Diện tích lúa bị thiệt hại do bệnh đạo ôn gây ra trong vụ hè thu đã được công
ty Bảo Minh, các ngành chuyên môn và UBND các xã xác minh để được hỗ trợ chi phí đề phòng hạn chế tổn thất với diện tích 104,73 ha với 76 hộ, chi phí hỗ trợ cho nông dân với giá 22.500 đồng/công
- Vụ thu đông năm 2012: diện tích tham gia 131,79 ha với 71 hộ (trong đó: có
04 hộ nghèo với diện tích 1,5 ha)
Trang 39+ Diện tích lúa bị thiệt hại do bệnh cháy bìa lá gây ra trong vụ thu đông đã được ngành chuyên môn và UBND xã Vĩnh Khánh xác minh để được hỗ trợ chi phí
đề phòng hạn chế tổn thất với diện tích 8,3 ha với 7 hộ
Và đến năm 2013, tình hình tham gia vẫn chưa đạt được kế hoạch đề ra:
Bảng 3.1 Tình hình tham gia bảo hiểm nông nghiệp vụ Đông xuân 2012-2013
STT Tên xã
Diện tích xuống giống (ha)
Vụ Đông xuân 2012- 2013
Kế hoạch (15%) (ha)
Thực hiện Diện tích (ha)
Số hộ (hộ)
Nguồn: Báo cáo kết quả triển khai bảo hiểm nông nghiệp vụ Đông xuân 2011-2012
huyện Thoại Sơn
Qua công tác tuyên truyền vận động, triển khai kết quả đạt được không khả quan, chỉ đạt một tỉ lệ khá thấp 1,26%, cho thấy người dân chưa mặn mà với chương trình bảo hiểm Mặt khác, việc vận đông chưa được triển khai rộng ở hầu hết các xã tại thời điểm này, làm cho một bộ phận người dân muốn tham gia chưa tiếp cận được
3.2.1.2 Kết quả thực hiện bảo hiểm nông nghiệp năm 2012 Huyện Châu Phú