TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH BÙI THANH PHÚC MSSV: 4104539 GIẢI PHÁP NGĂN NGỪA VÀ XỬ LÍ NỢ QUÁ HẠN TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÙI THANH PHÚC MSSV: 4104539
GIẢI PHÁP NGĂN NGỪA VÀ XỬ LÍ NỢ QUÁ HẠN TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN CHI NHÁNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số ngành: 52340201
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS HUỲNH TRƯỜNG HUY
Cần Thơ Tháng 12/2013
Trang 4I
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện được đề tài này, đầu tiên tôi chân thành cảm ơn tất cả Quý thầy cô của Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh trường Đại Học Cần Thơ nói chung và Quý thầy cô trực tiếp giảng dạy tôi nói riêng đã truyền đạt những bài học, những kinh nghiệm trong suốt thời gian học tập vừa qua làm nền tảng cho Luận văn này
Đặc biệt, với tất cả lòng kính trọng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Huỳnh Trường Huy, Thầy đã nhiệt tình dành nhiều thời gian hướng dẫn, góp ý trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo, các anh chị tại Ngân hàng Sacombank CN Vĩnh Long đã giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực tập tại ngân hàng
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn
bè, những người đã động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tác giả
Bùi Thanh Phúc
Trang 5II
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
Người thực hiện
Bùi Thanh Phúc
Trang 6NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
Ngày …….tháng……năm 2013 Thủ trưởng đơn vị
(ký tên và đóng dấu)
Trang 7NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Ngày …….tháng…… năm 2013
Giáo viên hướng dẫn
TS Huỳnh Trường Huy
Trang 8NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 1
Ngày ……tháng……năm 2013 Giáo viên phản biện 1
(ký và ghi họ tên)
Trang 9NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 2
Ngày ….tháng … năm 2013 Giáo viên phản biện 2
(ký và ghi họ tên)
Trang 10MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN I LỜI CAM ĐOAN II NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP III NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN IV NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 1 V NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 2 VI MỤC LỤC VII DANH MỤC BIỂU BẢNG XI DANH MỤC HÌNH XII DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT XIII
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1ĐẶTVẤNĐỀNGHIÊNCỨU 1
1.1.1 Sự cần thiết của đề tài 1
1.2MỤCTIÊUNGHIÊNCỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3ĐỐITƯỢNGVÀPHẠMVINGHIÊNCỨU 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.3.2.1 Nội dung nghiên cứu 3
1.3.2.2 Phạm vi không gian 3
1.3.2.3 Phạm vi thời gian 3
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1LÝTHUYẾTVỀTÍNDỤNGVÀRỦIROTÍNDỤNG 4
2.1.1 Tín dụng ngân hàng 4
2.1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng 4
2.1.1.2 Bản chất của tín dụng ngân hàng 5
2.1.1.2 Phân loại tín dụng 6
2.1.1.4 Vai trò của tín dụng ngân hàng 8
2.1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 9
2.1.2.1 Khái niệm 9
2.1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng 9
2.1.2.3 Nguyên nhân gây ra RRTD 10
2.1.2.4 Ảnh hưởng của RRTD 11
Trang 112.1.3 Nợ quá hạn 11
2.1.3.1 Khái niệm 11
2.1.3.2 Phân loại nợ quá hạn 12
2.1.3.3 Nguyên nhân dẫn đến các khoản nợ quá hạn 13
2.1.3.4 Tác động của Nợ quá hạn 17
2.1.7 Các giải pháp xử lý nợ quá hạn 18
2.1.7.1 Cơ cấu lại nợ 18
2.1.7.2 Miễn giảm tiền lãi vay 18
2.1.7.3 Bán nợ 18
2.1.7.4 Yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp 18
2.1.7.5 Trích lập và sử dụng quỹ dự phòng ngoài rủi ro 19
2.1.7.6 Biện pháp pháp lý 19
2.1.7.7 Một số biện pháp khác 20
2.2LƯỢCKHẢOTÀILIỆU 20
2.3PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 21
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 21
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 21
2.3.2.1 Phương pháp so sánh tuyệt đối 21
2.3.2.2 Phương pháp so sánh số tương đối 22
2.3.2.3 Phương pháp tỷ số 22
CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN – THƯƠNG TÍN CHI NHÁNH VĨNH LONG 23
3.1QUÁTRÌNHHÌNHTHÀNHVÀPHÁTTRIỂN 23
3.1.1 Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Thương Tín 23
3.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Sacombank – Chi nhánh Vĩnh Long 24
3.1.3 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động 25
3.1.3.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức 25
3.1.3.2 Mạng lưới hoạt động 26
3.1.3 Nguồn vốn của Sacombank chi nhánh Vĩnh Long 27
3.2QUYTRÌNHQUẢNLÍRỦIROTÍNDỤNG 29
3.2.1 Nhận dạng rủi ro tín dụng 29
3.2.2 Đo lường rủi ro tín dụng 29
3.2.2.1 Mô hình định tính (mô hình chất lượng 6C) 29
3.2.2.2 Mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng 30
3.2.3 Kiểm soát và đánh giá rủi ro tín dụng 30
3.2.3.1 Kiểm soát rủi ro tín dụng 30
3.2.3.2 Đánh giá rủi ro tín dụng 31
3.2.3.3 Tài trợ rủi ro tín dụng 31
3.3PHÂNTÍCHKHÁIQUÁTKẾTQUẢHOẠTĐỘNGKINHDOANH CỦASACOMBANKCHINHÁNHVĨNHLONG 32
3.3.1 Đối với các khoản thu nhập 32
3.3.2 Đối với các khoản chi phí 32
3.4THUẬNLỢI,KHÓKHĂNVÀPHƯƠNGHƯỚNGPHÁTTRIỂN 35
3.4.1 Thuận lợi 35
3.4.2 Khó khăn 35
Trang 123.4.3 Phương hướng phát triển 36
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH NỢ QUÁ HẠN CỦA NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN CHI NHÁNH VĨNH LONG GIAI ĐOẠN 2010 ĐẾN SÁU THÁNG ĐẦU NĂM 2013 37
4.1THỰCTRẠNGNỢQUÁHẠNCỦANGÂNHÀNGTMCPSÀIGÒN– THƯƠNGTÍNCHINHÁNHVĨNHLONGGIAIĐOẠN2010ĐẾN THÁNG6NĂM2013 37
4.1.1 Hoạt động tín dụng 37
4.1.1.1 Doanh số cho vay tại Ngân hàng Sacombank chi nhánh Vĩnh Long giai doạn 2010 đến tháng 6/2013 37
4.1.1.2 Dư nợ cho vay tại Ngân hàng Sacombank chi nhánh Vính Long giai đoạn 2010 đến tháng 6/2013 40
4.1.1.3 Doanh số thu nợ tại Ngân hàng Sacombank chi nhánh Vĩnh Long giai đoạn 2010 đến tháng 6/2013 42
4.1.1.4 Nợ xấu tại Ngân hàng Sacombank chi nhánh Vĩnh Long giai đoạn 2010 đến tháng 6/2013 44
4.1.1.5 Đánh giá hoạt động tín dụng tại ngân hàng Sacombank chi nhánh Vĩnh Long 47
4.1.2 Tình hình nợ quá hạn 55
4.1.2.1 Nợ quá hạn theo thời hạn 59
4.2ĐÁNHGIÁCHUNGVỀCÔNGTÁCNGĂNNGỪAVÀXỬLÍNỢ QUÁHẠNTẠICHINHÁNHSACOMBANKCHINHÁNHVĨNHLONG 62 4.2.1 Những mặt mạnh 62
4.2.2 Những hạn chế 62
CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP NGĂN NGỪA VÀ XỬ LÍ NỢ QUÁ HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN CHI NHÁNH VĨNH LONG 64
5.1CÁCGIẢIPHÁPNGĂNNGỪANỢQUÁHẠN 64
5.1.1 Công tác thẩm định bên vay cần được đẩy đủ, chính xác trước cho vay 64
5.1.2 Đào tạo nhân lực có hiệu quả, chất lượng cao 65
5.1.3 Xây dựng chính sách tín dụng phù hợp và kiểm tra kiểm soát ngân hàng 65
5.1.4 Kiểm soát các khoản vay để không dẫn tới nợ quá hạn 65
5.1.5 Thực hiện phân tán rủi ro 66
5.2GIẢIPHÁPXỬLÍNỢQUÁHẠN 68
5.2.1 Tăng dư nợ tín dụng mới lên 68
5.2.2 Ghi nhận nợ quá hạn 69
5.2.3 Dùng quỹ dự phòng để xử lý Error! Bookmark not defined 5.2.4 Biện pháp khai thác 69
5.2.5 Các hoạt động thúc tiêu thụ hàng hóa 70
5.2.6 Các chính sách hỗ trợ của nhà nước……… ……….70
Trang 13CHƯƠNG 6:KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
6.1KẾTLUẬN 71
6.2KIẾNNGHỊ 72
6.2.1 Kiến nghị với Chính phủ 72
6.2.1.1 Đảm bảo môi trường kinh tế, chính trị, xã hội ổn định 72
6.2.1.2 Hoàn thiện quy trình xử lý tài sản 72
6.2.1.3 Hạn chế tín dụng chỉ định 73
6.2.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 73
6.2.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật Ngân hàng 73
6.2.2.2 Hoàn thiện và minh bạch hệ thống thông tin 73
6.2.3 Kiến nghị đối với Khách hàng 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 14DANH MỤC BIỂU BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Cơ cấu nguồn vốn của Sacombank chi nhánh Vĩnh Long giai đoạn
2010 đến tháng 6/2013……….28 Bảng 3.2: Kết quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Sacombank - Chi
nhánh Vĩnh Long từ năm 2010 đến tháng 6/2013………34 Bảng 4.1: Doanh số cho vay tại Ngân hàng Sacombank Vĩnh Long giai đoạn
2010 đến tháng 6/2013……….38 Bảng 4.2: Dư nợ cho vay tại Ngân hàng Sacombank Vĩnh Long giai đoạn
2010 đến tháng 6/2013……….41 Bảng 4.3: Doanh số thu nợ cho vay tại Ngân hàng Sacombank Vĩnh Long giai đoạn 2010 đến tháng 6/2013………43 Bảng 4.4: Nợ xấu tại Ngân hàng Sacombank Vĩnh Long giai đoạn 2010 đến tháng 6/2013……….45 Bảng 4.5.: Dư nợ trên tổng vốn huy động tại Sacombank Vĩnh Long 2010 đến tháng 6/2013……….48 Bảng 4.6: Hệ số thu nợ tại Sacombank Vĩnh Long 2010 đến tháng 6/2013…50 Bảng 4.7: Vòng quay vốn tín dụng tại Sacombank chi nhánh Vĩnh Long 2010 đến tháng 6/2013……… 52 Bảng 4.8: Hệ số khả năng mất vốn của Sacombank chi nhánh Vĩnh Long giai đoạn 2010 đến tháng 6/2013………54 Bảng 4.9: Tình hình nợ quá hạn ngân hàng Sacombank Vĩnh Long giai đoạn
2010 đến tháng 6/2013……….56 Bảng 4.10: Nợ quá hạn theo thời hạn ngân hàng Sacombank Vĩnh Long giai đoạn 2010 đến tháng 6/2013………60
Trang 18CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Sự cần thiết của đề tài
Hoạt động tín dụng có vai trò quan trọng đối với các ngân hàng thương mại, thường đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng Tuy nhiên một vấn
đề đặt ra đó là hoạt động tín dụng luôn luôn đi kèm theo nó là rất nhiều rủi ro tiềm tàng (Nguyễn Mạnh Phát, 2012) Chính vì thế, vấn đề tồn tại và đáng quan tâm hiện nay đối với hầu hết các ngân hàng là tình trạng nợ quá hạn và làm thế nào để hạn chế thấp nhất rủi ro tín dụng
Tỷ lệ nợ quá hạn thấp sẽ chứng minh chất lượng tín dụng cao (Nguyễn Bích Ngọc, 2012) Có thể nói, nợ quá hạn là biểu hiện của một hình thức cụ thể của rủi ro tín dụng và đây cũng là nguyên nhân gây thất thoát vốn, đẩy các ngân hàng đến chỗ thua lỗ và phá sản Nợ quá hạn gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế, biểu hiện ở việc gây ra sức ép về lạm phát, đình trệ trong sản xuất kinh doanh, và nặng nề hơn là gây ra khủng hoảng hệ thống tài chính ngân hàng, khủng hoảng kinh tế Vì vậy, việc tìm ra giải pháp để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng, cụ thể là ngăn ngừa và xử lí nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại đã trở thành vấn đề quan tâm đối với nhà quản lý ngành ngân hàng cũng như lãnh đạo các ngân hàng thương mại
Trong thời gian gần đây, vấn đề rủi ro do nợ quá hạn đã thu hút sự quan tâm của nhiều nghiên cứu nhằm tìm hiểu nguyên nhân cũng như giải pháp đối phó với thực trạng này Điển hình, bài viết “Có những điều bất thường trong
hệ thống ngân hàng thương mại?’’ của Phan Văn Tính (2011) đã đề cập đến
việc thiếu vốn của các ngân hàng thương mại, phân tích tình hình nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại hiện nay để từ đó đặt ra câu hỏi: phải chăng chất lượng tín dụng của các ngân hàng kém? Đồng thời tác giả cũng đưa ra một số biện pháp nhằm củng cố, phát triển an toàn và ổn định hệ thống ngân hàng Một số nghiên cứu khác gần đây của Lê Thị Hoài Diễm (2012) về giải pháp phòng ngừa và xử lí nợ xấu ở ngân hàng Công thương chi nhánh Đà Nẵng hoặc Pháp luật về xử lí nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại do Nguyễn Thị Thu Hương (2012) đã đề cập đến vấn đề nâng cao hiệu quả xử lí nợ quá hạn Tác giả đã chỉ rõ những bất cập liên quan đến pháp luật và cũng đưa ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về đảm bảo tiền vay bằng tài sản hình thành trong tương lai trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại
Trang 19Như vậy, có thể thấy các nghiên cứu trên đã có những đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của vấn đề nợ quá hạn Ngoài ra, còn rất nhiều các luận văn, các nghiên cứu khoa học khác đã làm rõ tình hình nợ quá hạn tổng quát chung cho toàn bộ hệ thống Ngân hàng thương mại Xét riêng tại Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh (CN) Vĩnh Long, tình hình nợ quá hạn tại CN luôn được quan tâm kiểm soát nên tình hình nợ ở tầm ổn định trong những năm trước đó, nhưng đến năm 2012 nợ quá hạn tại ngân hàng gia tăng một cách đột biến, ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Cụ thể tại năm 2011 nợ quá hạn của CN ở mức 1.498 triệu đồng, sang năm 2012 do một số khách hàng kinh doanh thua lỗ dẫn đến phá sản đã đẩy nợ quá hạn lên mức 25.691 triệu đồng, chiếm 3,44% trên tổng dư nợ (Phòng kế toán và quỹ)
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn rất ít các công trình nghiên cứu khoa học xem xét tình hình, diễn biến, nguyên nhân gây ra nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng này để đề ra những biện pháp ngăn ngừa cũng như xử
lý những khoản nợ quá hạn Do đó, để đáp ứng cho nhu cầu thực tiễn trên, tôi
quyết định chọn đề tài “Giải pháp ngăn ngừa và xử lí nợ quá hạn trong hoạt
động tín dụng tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Vĩnh Long’’ để làm đề tài nghiên cứu
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích tình hình hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần (TMCP) Sài Gòn Thương Tín – CN Vĩnh Long Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp cụ thể để xử lý và ngăn ngừa nợ quá hạn nhằm lành mạnh hoá tình hình tài chính CN Vĩnh Long
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng và nợ quá hạn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – CN Vĩnh Long
- Phân tích các nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn và các công cụ quản lý
nợ quá hạn tại ngân hàng
- Đề xuất các pháp ngăn ngừa và xử lý nợ quá hạn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – CN Vĩnh Long
Trang 201.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng công tác phòng ngừa và xử lí nợ quá hạn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – CN Vĩnh Long, tìm hiểu nguyên nhân gây ra rủi
ro nợ quá hạn, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm phòng ngừa và xử lí nợ quá hạn tại ngân hàng này
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Nội dung nghiên cứu: tập trung vào nội dung ngăn ngừa và xử
lí nợ quá hạn, không bao gồm tất cả các vấn đề về quản trị rủi ro tín dụng
1.3.2.2 Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện tại NHTMCP Sài
Gòn Thương Tín – CN Vĩnh Long
1.3.2.3 Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian
từ 8/2013 đến 12/2013 Số liệu phân tích là số liệu từ năm 2010 đến 2012 và 6 tháng đầu năm 2013
Trang 21CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG
2.1.1 Tín dụng ngân hàng
2.1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên
đi vay, trong đó các ngân hàng, các TCTD vừa là bên đi vay vừa là bên cho vay Bên cho vay chuyển giao tạm thời quyền sử dụng tài sản cho bên đi vay trong thời gian thỏa thuận, bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả lại vô điều kiện đầy
đủ vốn và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
Tín dụng ngân hàng (sau đây gọi tắt là tín dụng) là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một chi phí nhất định (Hồ diệu, 2000)
Theo khoản 14 và 16 Điều 4 Luật các TCTD số 47/2010/QH12:
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác
Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
Nói cách khác, nếu xem xét tín dụng ngân hàng như một quá trình, có thể phát biểu tín dụng ngân hàng là sự vận động của giá trị vốn lần lượt qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn cho vay: chuyển giao cho bên đi vay một lượng giá trị nhất định, biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật
- Giai đoạn sử dụng vốn vay: bên đi vay sử dụng tạm thời tài sản trên trong một thời gian nhất định, hết thời gian thỏa thuận, bên đi vay phải hoàn trả cho bên cho vay
- Giai đoạn hoàn trả: sau thời gian sử dụng vốn vay của bên đi vay phải hoàn trả cho bên cho vay một giá trị vốn lớn hơn giá trị lúc cho vay Phần chênh lệch đó có thể xem là lợi tức của bên cho vay
Tín dụng ngân hàng chứa đựng các đặc điểm như sau:
Trang 22- Về đối tượng dung để cấp tín dụng: được thực hiện chủ yếu dưới hình thái tiền tệ gồm tiền mặt và bút tệ
- Chủ thể trong quan hệ tín dụng ngân hàng: trong quan hệ tín dụng ngân hàng, người đi vay là các tổ chức kinh tế xã hội, các cá nhân; người cho vay là các ngân hàng các TCTD
- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng không hoàn toàn phù hợp với quy mô phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa Vì tín dụng ngân hàng được cấp dưới hình thái tiền tệ, có thể đáp ứng các nhu cầu khác nhau ngoài nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hóa
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, xã hội loài người cũng dần dần xuất hiện chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất (sản phẩm, hàng hóa) và diễn ra quá trình phân hóa giai cấp, kẻ giàu, người nghèo, đẩy lùi
xã hội cộng sản nguyên thủy vào dĩ vãng Nền kinh tế tự cung tự cấp đã được thay thế bởi nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ
Trong nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ, luôn luôn tồn tại một hiện tượng,
đó là trong khi một số chủ thể có trong tay những khoản vốn tiền tệ tạm thời
dư thừa, chưa sử dụng; đồng thời cũng tại thời điểm này, lại có những chủ thể đang ở trạng thái ngược lại – họ đang bị thiếu vốn, đang có nhu cầu bổ sung vốn tiền tệ Đây chính là một mâu thuẫn rất thường xuyên, phổ biến và không thể không được giải quyết
Xét về bản chất kinh tế, ẩn sau mâu thuẫn trên chính là sự phản ánh hiện tượng ách tắc của dòng chu chuyển vốn tiền tệ trong nền kinh tế Giải quyết mâu thuẫn này cũng chính là khơi thông dòng chu chuyển vốn tiền tệ trong nền kinh tế, nhằm tạo điều kiện cần thiết trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
Vậy giải quyết mâu thuẫn giữa tình trạng tạm thời thừa và thiếu vốn bằng cách nào để có thể vừa thỏa mãn nhu cầu lại vừa đáp ứng quyền lợi của mỗi bên? Về nguyên lí chung, có thể giải quyết mâu thuẫn trên bằng hai công
Trang 23cụ chính: Thông qua công cụ tài chính (cấp phát của ngân sách nhà nước) và công cụ tín dụng
Có thể khẳng định rằng, sử dụng công cụ tài chính thông qua việc dung nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp phát là không phù hợp với hai lí do cơ bản sau:
- Thứ nhất, phương pháp ngân sách dựa trên nguyên tắc không hoàn lại Trong khi thực chất những nhu cầu vốn tiền tệ này chỉ là nhu cầu tạm thời Do vậy không thể cấp không hoàn lại khi chỉ tạm thời thiếu vốn
- Thứ hai, nếu các chủ thể này là khu vực ngoài quốc doanh thì hành vi này chính là việc lấy tài sản công để cấp phát cho các đối tượng cá nhân
Như vậy, việc sử dụng phương thức tài chính để xử lí mâu thuẫn là không thích hợp
Công cụ tín dụng dựa trên nguyên lí cơ bản là ứng vốn có hoàn trả Khi một chủ thể lâm vào tình trạng thiếu vốn, họ sẽ được đáp ứng nhu cầu bằng khoản vay của chủ thể có vốn Ngược lại, một chủ thể ở trạng thái tạm thời thừa vốn, họ có thể tìm kiếm được một khoản lợi nhuận nhất định từ hành vi tạm thời chuyển giao tạm thời quyền sử dụng số vốn nhàn rỗi đó cho chủ thể khác
Như vậy, thông qua công cụ này mâu thuẫn giữa tạm thời thừa và thiếu vốn trong nền kinh tế xã hội được giải quyết một cách hợp lý, dòng chảy vốn tiền tệ đã được khơi thông, đáp ứng nhu cầu của các chủ thể có liên quan Sự xuất hiện của các TCTD làm trung gian tài chính trong nền kinh tế đã làm cho dòng chảy vốn ngày càng mạnh mẽ, giải quyết mọi nhu cầu của các chủ thể thừa vốn và thiếu vốn (Võ Đức Toàn, 2012)
2.1.1.2 Phân loại tín dụng
a) Căn cứ vào thời hạn khoản vay
- Tín dụng ngắn hạn: là những khoản vay có thời hạn đến 12 tháng, nhằm giúp các khách hàng là doanh nghiệp và cá nhân tăng cường vốn lưu động tạm thời thiếu hụt trong quá trình sản xuất và tiêu dùng
- Tín dụng trung hạn: là những khoản vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm, được cung cấp nhằm để cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, đầu tư vào những dự án vừa và nhỏ
- Tín dụng dài hạn là những khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm trở lên nhằm giúp các doanh vay vốn đầu tư vào những dự án lớn
(Thái Văn Đại, 2012)
Trang 24c) Căn cứ vào mức tín nhiệm đối với khách hàng cho vay
- Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát
ra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như: cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh
- Tín dụng không có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp Loại hình này thường được áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài và sòng phẳng với ngân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và
có uy tín đối với ngân hàng như trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự
án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ,
d) Căn cứ vào phương pháp cho vay
- Cho vay từng lần: áp dụng cho các đơn vị tổ chức kinh tế có nhu cầu vay vốn không thường xuyên có tính chất đột xuất, không được ấn định hạn mức tín dụng Cho vay từng lần có đặc điểm sau:
+ Vốn tín dụng chỉ tham gia vào một giai đoạn hay một quy trình nhất định trong chu kỳ sản xuất kinh doanh, chu kỳ luân chuyển vốn của đơn vị + Về phía ngân hàng, việc cho vay và thu hồi nợ được xử lí theo từng món vay
+ Mỗi lần phát sinh nhu cầu vay vốn bắt buộc bên vay phải tiến hành các thủ tục làm đơn xin vay kèm theo các chứng từ hóa đơn xin vay để cán bộ tín dụng (CBTD) kiểm tra đối tượng vay vốn, nếu đối tượng vay vốn phù hợp sẽ giải quyết cho vay
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: là số dư nợ cho vay cao nhất mà ngân hàng cam kết thực hiện cho một khách hàng, có hiệu lực trong một thời gian nhất định, thường là một năm Hạn mức tín dụng được xác định trên cơ sở nhu cầu vay vốn của khách hàng và khả năng đáp ứng của ngân hàng Khi đã được ngân hàng ấn định hạn mức tín dụng thì khách hàng được vay vốn với số dư trong phạm vi của hạn mức tín dụng đó Nếu khách hàng vay trả nhiều đợt trong kỳ thì tổng số tiền cho vay có thể vượt quá hạn mức tín dụng nhiều lần,
Trang 25điều này càng tốt vì vòng quay vốn tín dụng gia tăng Cho vay theo hạn mức tín dụng có những đặc điểm sau:
+ Luân chuyển vốn tín dụng tham gia toàn bộ vào vòng quay vốn của doanh nghiệp, từ khâu dự trữ đến khâu sản xuất và lưu thông
+ Vốn tín dụng phát sinh theo nhu cầu của quá trình tuần hoàn luân chuyển vốn mà không phụ thuộc vào tình hình dự trữ vật tư, hàng hóa của đơn
vị
+ Do vốn tín dụng tham gia vào toàn bộ quá trình luân chuyển vốn của daonh nghiệp nên các thủ tục cho vay được thực hiện đơn giản dần, tạo điều kiện cho đơn vị nhận được vốn kịp thời
e) Căn cứ vào phương pháp hoàn trả nợ vay
- Cho vay trả góp: là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc
và lãi theo định kỳ Loại cho vay này chủ yếu áp dụng cho vay bất động sản nhà ở, cho vay tiêu dùng, cho vay đối với những nhà kinh doanh nhỏ có thu nhập thường xuyên
- Cho vay phi trả góp: là loại cho vay được thanh toán một lần theo kỳ hạn đã thỏa thuận
2.1.1.4 Vai trò của tín dụng ngân hàng
a) Đối với các ngân hàng
- Tín dụng ngân hàng tạo ra lợi nhuận cho NHTM
- Tín dụng ngân hàng tạo ra mối quan hệ gắn bó giữa ngân hàng thương mại và các chủ thể kinh tế
- Tín dụng ngân hàng tạo uy tín, danh tiếng cho ngân hàng thương mại
- Nợ cho vay làm tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng thương mại
b) Đối với nền kinh tế
- Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn nhàn rỗi trong xã hội và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
- Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tải sản xuất mở rộng, đẩy mạnh đầu tư phát triển
- Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc tổ chức điều hòa lưu thông tiền tệ
- Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Trang 262.1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
2.1.2.1 Khái niệm
Rủi ro là một sự không chắc chắn về một tình trạng bất ổn Tuy nhiên, không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro Chỉ có những tình trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro Những tình trạng không chắc chắn nào chưa từng xảy ra và không thể ước đoán được xác suất xảy ra thì được xem là sự bất trắc chứ không phải là rủi ro
Theo Hiệp ước Basel, rủi ro tín dụng (RRTD) ngân hàng là rủi ro do tính không chắc chắn về khả năng trả nợ hay sự không sẵn sàng trả nợ của đối tác trong việc đáp ứng các nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng tín dụng Theo Nguyễn Văn Tiến (2002), RRTD được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn, nó được tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng Có nghĩa là khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ
Theo Lê Văn Tư (2004), RRTD được định nghĩa là khả năng một khách hàng vay hoặc một đối tác không hay không thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận dẫn đến việc các khoản vay hay các khoản phải thu của ngân hàng giảm giá trị hoặc không thu hồi được Theo Nguyễn Thị Mùi (2006), RRTD là rủi ro khi khách hàng vay vốn mất khả năng trả nợ vay
Theo quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 của Thống đốc NHNN Việt Nam, RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết
Như vậy, từ các định nghĩa trên ta có thể thấy rằng RRTD được biểu hiện
cụ thể qua:
- Khách hàng không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ
- Khách hàng trả nợ không đầy đủ
- Khách hàng trả nợ không đúng hạn
2.1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Có nhiều cách phân loại RRTD, việc phân loại RRTD tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, phân tích:
Trang 27- Theo đối tượng sử dụng vốn vay: rủi ro khách hàng cá thể, rủi ro khách hàng công ty, rủi ro quốc gia hay khu vực địa lí
- Theo phạm vi ảnh hưởng: rủi ro giao dịch đơn lẻ, rủi ro hệ thống
- Theo giai đoạn phát sinh rủi ro: rủi ro trong thẩm định, rủi ro khi cho vay, rủi ro trong quản lí thu hồi nợ
- Theo sản phẩm tín dụng: rủi ro sản phẩm tín dụng nội bảng (cho vay, thấu chi, chiết khấu), rủi ro sản phẩm tín dụng ngoại bảng trong tài trợ thương mại (thanh toán L/C, bảo lãnh, )
2.1.2.3 Nguyên nhân gây ra RRTD
a) Từ phía khách hàng
Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng Khách hàng có thể đem lại rủi ro cho các NHTM khi: (i) Vốn tự có tham gia vào sản xuất kinh doanh thấp so với nhu cầu vốn kinh doanh, buộc khách hàng phải đi huy động vốn (ii) Công nghệ sản xuất không đủ khả năng tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao, khiến hoạt động kinh doanh của khách hàng gặp nhiều khó khăn, không thu được tiền bán sản phẩm như dự định (iii) Năng lực quản trị điều hành của bộ máy lãnh đạo các doanh nghiệp bị hạn chế, thiếu thông tin thị trường và các đối tác, bạn hàng, làm ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất kinh doanh
c) Từ bản thân các ngân hàng
(i) không chấp hành nghiêm túc nguyên tắc tín dụng; (ii) chính sách tín
dụng và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, công tác quản trị rủi ro chưa hữu hiệu, chưa chú trọng phân tích khách hàng, xếp loại RRTD để tính toán điều kiện cho vay và khả năng trả nợ; (iii) kỹ thuật cấp tín dụng không phù hợp, chưa đa dạng, việc xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù hợp, chủ yếu là cấp tín dụng trực tiếp, sản phẩm tín dụng chưa phong phú; (iv) trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ tín dụng còn bất cập so với yêu cầu công việc,…
d) Từ phía môi trường kinh doanh
Môi trường kinh tế xã hội ảnh hưởng đến kinh tế vĩ khách hàng và cũng dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng; Các chính sách mô cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các NHTM; Các nguyên nhân bất khả kháng (thiên tai, địch họa, thay đổi nhu cầu của người tiêu dùng hoặc về kỹ thuật công nghệ của một ngành nào đó) cũng có thể làm phá sản cả một hãng kinh doanh; Nguyên nhân thông tin không cân xứng; Môi trường pháp lý
Trang 282.1.2.4 Ảnh hưởng của RRTD
a) Đối với nền kinh tế
Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, các cơ quan ban ngành và cá nhân Vì vậy, một khi ngân hàng lâm vào tình trạng rủi
ro tín dụng cao thì khách hàng gửi tiền tại các ngân hàng sẽ hoang mang, lo lắng dẫn đến việc các khách hàng kéo nhau đi rút tiền một cách ồ ạt làm cho
hệ thống ngân hàng gặp khó khăn, trường hợp xấu nhất sẽ đẩy ngân hàng vào con đường phá sản Khi ngân hàng phá sản sẽ tạo ra hệ lụy đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, sản xuất đình truệ, kém phát triển, thất nghiệp, xã hội mất ổn định,
Tóm lại, nếu tổn thất do rủi ro trong hoạt động tín dụng gây ra ở mức trong tầm kiểm soát thì việc xử lí tương đối dễ dàng trong giới hạn cho phép của quỹ dự phòng bù đắp rủi ro của các NHTM Tuy nhiên, khi tổn thất lớn, vượt quá khả năng xử lý của các NHTM thì vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng, gây hậu quả khó lường không những cho chính ngân hàng mà cho cả những NHTM khác và các doanh nghiệp khác có liên quan, ảnh hưởng đến quyền lợi người gửi tiền, cuối cùng ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế và nguy cơ tiềm
ẩn là khủng hoảng tài chính
b) Đối với các ngân hàng
Khi gặp RRTD các NHTM không những thu hồi được vốn tín dụng đã cấp và lãi từ hoạt động cho vay, mà còn phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, đều này làm các NHTM mất cân đối trong việc thu chi Hay nói cách khác, các NHTM rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, người gửi tiền mát long tin, từ đó ảnh hưởng đến uy tín của cả ngân hàng Khi không thu được nợ, vòng vay vốn tín dụng của các NHTM sẽ giảm từ đó làm giảm các hoạt động kinh doanh của ngân hàng
2.1.3 Nợ quá hạn
2.1.3.1 Khái niệm
Căn cứ theo quyết định 802/2011/QĐ – HĐQT, nợ quá hạn là các khoản
nợ theo quy định của NHNN Việt Nam hoặc theo các hợp đồng thỏa thuận giữa khách hàng và Sacombank trong hợp đồng tín dụng (được hiểu là nợ nhóm 2 đến nhóm 5)
Nợ quá hạn có liên quan chặt chẽ đến rủi ro kinh doanh chính vì vậy ta cần tìm hiểu bản chất của rủi ro kinh doanh:
Trang 29- Rủi ro và kinh doanh là 1 cặp phạm trù, khi xuất hiện một công việc kinh doanh thì cũng bắt đầu xuất hiện rủi ro
- Rủi ro và kinh doanh là hai mặt đối lập nhau trong một thể thống nhất của quá trình kinh doanh Chúng luôn tồn tại và mâu thuẫn với nhau, chỉ khi nào kinh doanh khống chế được rủi ro thì kinh doanh mới tồn tại và phát triển được
- Trong quá trình kinh doanh rủi ro luôn phát sinh luôn phát sinh và tồn tại dưới nhiều hình thức làm ảnh hưởng xấu đến quá trình kinh doanh
- Rủi ro trong kinh doanh có thể nhận thức được, dự đoán trước được và
có thể khống chế được
Như vậy, nợ quá hạn là một hiện tượng khó tránh khỏi trong quá trình kinh doanh của ngân hàng Tuy nhiên với các ngân hàng khác nhau thì nó phụ thuộc vào nhận thức, dự đoán và hành động khống chế rủi ro của mỗi ngân hàng
2.1.3.2 Phân loại nợ quá hạn
a) Phân theo nguyên nhân
- Nợ quá hạn bất khả kháng do thiên tai, do thay đổi cơ chế chính sách,
do khủng hoảng Nguyên nhân không thuộc lỗi của người cho vay và người đi vay
- Nợ quá hạn do lỗi của người đi vay: yếu kém về trình độ quản lý, khả năng cạnh tranh hoặc cố tình không trả nợ,
- Nợ quá hạn do lỗi của người cho vay: thường bao giờ cũng gắn với lỗi của người vay do có sự đồng tình, thông đồng
a) Phân theo định lượng
Theo thông tư 15/2010/TT-NHNN ngày 16/6/2010, căn cứ vào thực trạng tài chính của khách hàng và/hoặc thời hạn thanh toán nợ gốc và lãi vay,
tổ chức tài chính quy mô nhỏ thực hiện phân loại nợ theo năm (05) nhóm như sau:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: nợ được đánh giá là có khả năng
thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng hạn
- Các khoản nợ trong hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: nợ được đánh giá là có khả năng thu
hồi đầy đủ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
Trang 30- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến dưới 90 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: nợ được đánh giá là không có
khả năng thu hồi gốc và lãi khi đến hạn
- Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 30 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ mất vốn) bao gồm: nợ được đánh giá là có khả
năng tổn thất cao
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: nợ được đánh giá là không
còn khả năng thu hồi, mất vốn
- Các khoản nợ từ 360 ngày trở lên;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn trên 180 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn
Như vậy, nợ có rủi ro theo nhận định là nợ mà nguy cơ khách hàng không trả hoặc trả không đủ nợ gốc và lãi cho ngân hàng, theo như cơ cấu nhóm nợ trên thì nợ có rủi ro là nợ nhóm 3, 4, 5
2.1.3.3 Nguyên nhân dẫn đến các khoản nợ quá hạn
a) Nguyên nhân khách quan: đó là những nguyên nhân từ phía môi trường kinh doanh hoặc khách hàng (bao gồm thể nhân và pháp nhân) đã gây
ra tình trạng nợ quá hạn
- Khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, chẳng hạn như vay cho việc tiêu dùng hoặc sản xuất lại đem chơi hụi, cho vay để hưởng chênh
Trang 31lệch lãi suất…; khi vỡ hụi hoặc vỡ nợ thì không có khả năng trả nợ
- Khách hàng bị ốm đau, gặp tai nạn, gia đình có thân nhân bị bệnh nặng, hay gặp thiên tai,
- Các doanh nghiệp do không nắm bắt được cơ chế vận hành của kinh tế thị trường cộng với năng lực quản lý điều hành kém cỏi trong lĩnh vực chuyên môn, dẫn đến những sai sót hoặc đưa ra các phương án kém khả thi, làm cho hoạt động của doanh nghiệp bị sa sút đưa đến việc thua lỗ, phá sản gây nợ quá hạn cho ngân hàng
- Mục tiêu phát triển kinh tế được đề ra quá cao tạo sức ép đầu tư ồ ạt Trong khi đó nền kinh tế lại thiếu vốn trầm trọng, đặc biệt là vốn trung và dài hạn Điều này dẫn đến một số tổ chức hoặc doanh nghiệp với số vốn khá khiêm tốn phải đi vay ngắn hạn để sử dụng vào những công trình đầu tư mang tính chất trung và dài hạn như: đầu tư vào cơ sở hạ tầng, tài sản cố định,
- Ngoài ra, môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp không ổn định cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các doanh nghiệp Các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước đang trong quá trình hoàn thiện Do đó, còn nhiều vấn đề bất cập Nhiều doanh nghiệp chưa thể điều chỉnh kế hoạch kinh doanh phù hợp với sự thay đổi chính sách kinh tế Vì thế,
có không ít doanh nghiệp bị thua lỗ mà hậu quả là ngân hàng phải gánh chịu Hơn nữa, trong những năm gần đây, thiên tai xảy ra liên tiếp cũng có tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, có nhiều khách hàng
có ý lừa đảo và thực tế trong thời gian vừa qua đã xảy ra nhiều vụ lừa đảo gây thiệt hại to lớn cho các ngân hàng như vụ án Tamexco, công ty cổ phần thực
phẩm Phương Nam,
b) Nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân từ phía người đi vay
- Do khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích: Nhiều doanh nghiệp sử dụng tiền vay ngân hàng quay vòng không đúng đối tượng kinh doanh, không đúng với phương án, mục đích khi xin vay nên đã không trả được nợ đúng hạn, thậm chí do khách hàng sử dụng vốn vay ngắn hạn để đầu
tư vào tài sản cố định hoặc kinh doanh bất động sản nên dẫn đến nợ quá hạn
- Phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay có doanh nghiệp (DN) tỷ lệ vay lên đến 80 đến 90% tổng tài sản dẫn đến khi lãi suất cho vay biến động tăng ngoài
dự kiến dẫn đến lợi nhuận kinh doanh không đủ trả lãi vay
Trang 32- Đầu tư ngoài ngành, kể cả những ngành không liên quan đến hoạt động chính dẫn đến phân tán nguồn lực đặc biệt là vốn dẫn đến thiếu hụt vốn, sản xuất ngưng trệ dẫn đến phá sản
- Phương án kinh doanh không khả thi
- Khả năng dự báo, lập kế hoạch kém
- Thiếu tính minh bạch
- Quản trị rủi ro kém
Nguyên nhân từ phía ngân hàng
- Thông tin bất cân xứng giữa ngân hàng và khách hàng Một mặt, để có được khoản vay, khách hàng đã cố tình đưa những thông tin tốt về tình hình hoạt động kinh doanh của mình, còn những thông tin bất lợi thường được khách hàng che giấu hoặc cung cấp không đầy đủ, mặt khác, việc kiểm tra thông tin khách hàng vẫn chưa được cán bộ tín dụng (CBTD) thực hiện một cách nghiêm túc Hiện nay phần lớn những thông tin mà CBTD thu thập được chủ yếu từ phía hồ sơ vay vốn, sổ sách kế toán và các báo cáo tài chính của khách hàng vay vốn cung cấp Mà hầu hết các số liệu trên các giấy tờ này đều thiếu chính xác và không phản ảnh đầy đủ và kịp thời tình hình tài chính của khách hàng Như vậy, thiếu thông tin về khách hàng, ngân hàng không thể nắm rõ được đích thực khách hàng của mình về năng lực tài chính cũng như khả năng trả nợ, Do đó, ngân hàng có thể đưa ra những nhận định sai lầm về khách hàng vay vốn, dẫn đến rủi ro tín dụng là điều khó tránh khỏi
- Công tác thẩm định giá (TĐG) TSBĐ của cán bộ TĐG vừa phải đi khảo sát thực tế, vừa thực hiện nghiệp vụ điều chỉnh, vừa ra kết quả đã dẫn đến cán bộ TĐG không còn đủ thời gian để kiểm tra đầy đủ các thông tin về TSBĐ như thông tin quy hoạch, môi trường xung quanh, Dẫn đến con số định giá có phần sai lệch Bên cạnh đó, việc dự báo xu hướng giá của TSBĐ trong ba tháng, sáu tháng tiếp theo cũng không được tuân thủ chặt chẽ Riêng đối với mục đích cho vay, việc định giá TSBĐ rất quan trọng nhưng việc dự báo giá của TSBĐ còn quan trọng hơn rất nhiều Chẳng hạn như từ đầu năm đến cuối năm 2007, không ít bất động sản có giá trị tăng từ hai đến bốn lần Nếu khách hàng đi vay tại thời điểm cuối năm 2007, giá trị định giá sẽ rất cao, nhưng đến giữa năm 2008 thì tài sản đã giảm đi rất nhiều, thậm chí không còn đảm bảo được dư nợ cho vay
Trang 33- Bất cập trong việc định giá lại TSBĐ theo định kỳ khi khoản vay đã được giải ngân Tùy thuộc vào TSBĐ là động sản, bất động sản, hàng hóa mà định kỳ ba tháng, sáu tháng hoặc một năm, ĐVKD phải tiến hành định giá lại TSBĐ của các khoản vay nhằm xem xét giá trị của TSBĐ có còn bảo đảm được dư nợ hay không Tuy nhiên, công tác định giá lại không được các ĐVKD thực hiện nghiêm túc, không đi khảo sát lại, đánh giá lại mà đa phần lấy lại giá trị đã được thẩm định trước đây làm kết quả tái thẩm định, dẫn đến việc quản trị rủi ro không được bảo đảm nếu giá trị TSBĐ có sự giảm sút về giá trị một cách đáng kể
- Bất cập trong việc phân hạn mức cho vay đối với ĐVKD Hiện nay, các ngân hàng đa phần đều phân hạn mức phê duyệt đối với các cấp ĐVKD của mình Có ngân hàng thì trên 1 tỷ, có ngân hàng trên 2 tỷ, 3 tỷ mới phải trình lên hội sở, các trường hợp còn lại ĐVKD có thể tự định giá và tự phê duyệt cho vay Hoạt động này có ưu điểm giảm thiểu áp lực hồ sơ ở tuyến trên nhưng lại xảy ra khá nhiều tiêu cực ở tuyến dưới khi các ĐVKD vừa đá bóng, vừa thổi còi Thực tế cho thấy nhóm khách hàng có tỷ lệ nợ xấu thuộc sự phê duyệt của ĐVKD chiếm một tỷ trọng không nhỏ và khi trình những hồ sơ này lên tuyến trên để cơ cấu nợ thì công tác định giá lại đều cho thấy giá trị TSBĐ đều xấp xỉ thậm chí ít hơn cả dư nợ cho vay Nếu việc giám sát các ĐVKD không chặt chẽ thì việc phân cấp, phân quyền phê duyệt hạn mức vay sẽ không phát huy tác dụng
- Năng lực thanh tra, giám sát, năng lực điều hành và quản trị rủi ro chưa tốt
(Nguyễn Kim Đức, 2012)
Trang 342.1.3.4 Tác động của nợ quá hạn
a) Tác động của nợ quá hạn tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng Một trong những nguyên nhaann cơ bản đưa đến sự thất bại của ngân hàng xuất phát từ những khoản tín dụng gặp khó khăn khi thu hồi Nợ quá hạn làm chon guy cơ mất khả năng thanh toán, đổ vỡ ngân hàng là rất lớn
- Giảm vòng quay vốn của ngân hàng
- Nợ quá hạn phát sinh tức là một phần vốn kinh doanh của ngân hàng bị tồn đọng trong các khoản nợ vay này Ảnh hưởng trước mắt đến hoạt động ngân hàng là sự ứ đọng vốn, làm giảm vòng quay vốn của ngân hàng
- Giảm lợi nhuận: Với tỷ lệ nợ quá hạn, nợ khó đòi, mất vốn cao, ngân hàng sẽ phải trích Quỹ dự phòng ngoài rủi ro từ chi phí hoặc lợi nhuận lớn Do
đó lợi nhuận của ngân hàng bị giảm sút
- Giảm khả năng thanh toán: Ngân hàng thường lập kế hoạch cân đối dòng tiền ra (trả lãi và gốc tiền gửi, cho vay đầu tư mới ) tại các thời điểm trong tương lai Khi món nợ không được thanh toán đúng hạn sẽ tạo ra khoảng trống giữa dòng tiền ra và dòng tiền vào của ngân hàng Lúc này ngân hàng buộc phải đi vay, bán các tài sản của mình để xóa bỏ các khoản trống, trong điều kiện đó ngân hàng bỏ lỡ cơ hội tối đa hóa lợi nhuận Nếu gặp khó khăn trong quá trình đó thì khả năng thanh toán các khoản tiền gửi tại ngân hàng bị suy yếu và hạn chế
- Giảm uy tín: Tỷ lệ nợ quá hạn cao cho thấy hoạt động kinh doanh kém hiệu quả của ngân hàng và uy tín ngân hàng bị đe dọa Hậu quả là khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường sẽ yếu đi, ngân hàng gặp khó khăn trong huy động tiền gửi của dân cư và thiết lập giao dịch với các doanh nghiệp, ngân hàng khác Việc khôi phục uy tín lại là rất khó khăn
- Phá sản ngân hàng: Với các khoản nợ quá hạn lớn, đặc biệt là các khoản mất vốn lớn, quỹ dự phòng ngoài rủi ro của các ngân hàng không đủ bù đắp thì ngân hàng phải lấy vốn chủ sở hữu ra để bù đắp, từ đó rủi ro phá sản là rất lớn
b) Tác động của nợ quá hạn đến nền kinh tế
Hệ thống ngân hàng – tài chính là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm và chứa đựng nhiều rủi ro Chỉ cần một tổn thương nhỏ cũng có thể tạo nên những xáo động lớn trong quá trình điều hành nền kinh tế
Một khi ngân hàng bị thua lỗ, phá sản sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các thành viên trong xã hội Tâm lí hoang mang, mất tin tưởng
Trang 35vào hệ thống ngân hàng sẽ lan truyền nhanh chóng và làm nhiều người gửi tiền kéo đến các ngân hàng khác rút tiền Điều này khiến hàng loạt ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn Trong tình trạng xấu nhất có thể là sự đổ vỡ hàng loạt của các ngân hàng, các tổ chức tín dụng (TCTD) khác Hậu quả của nó là
sự khủng hoảng xã hội, kinh tế chính trị Dân chúng sẽ không còn tin tưởng vào ngân hàng trong nhiều năm Dù sau đó, khi hệ thống ngân hàng hồi phục thì cũng sẽ gặp nhiều khó khăn khi huy động vốn cho sự phát triển kinh tế xã
hội Để khôi phục niềm tin trong dân chúng không phải là một sớm một chiều
2.1.7 Các giải pháp xử lý nợ quá hạn
2.1.7.1 Cơ cấu lại nợ
Cơ cấu lại nợ là một biện pháp được sử dụng khi một khoản nợ đến kỳ hạn trả nợ nhưng ngân hàng đánh giá khách hàng khó có khả năng trả nợ cho ngân hàng theo lịch trả nợ đã ký trước đó, do khách hàng gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, tuy nhiên khi ngân hàng thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả
nợ (gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ) thì khách hàng hoàn toàn có khả
năng trả nợ cho ngân hàng đúng hạn
2.1.7.2 Miễn giảm tiền lãi vay
Biện pháp này được áp dụng nhằm giảm bớt khó khăn về tài chính cho khách hàng, tạo điều kiện cho khách hàng khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh, ổn định cuộc sống, khuyến khích khách hàng trả một phần hoặc toàn
bộ nợ xấu còn lại tại ngân hàng
2.1.7.3 Bán nợ
Bán nợ là một trong những biện pháp mới được NHNN cho phép các NHTM áp dụng bắt đầu từ năm 2007 theo quyết định số 59/2006/QĐ – NHNN ngày 21/12/2006 của NHNN Việt Nam Ban hành quy chế mua bán nợ của các TCTD Việc bán nợ sẽ giúp ngân hàng thu hồi được vốn trong thời gian ngắn mặc dù số nợ thu được sẽ giảm đi Ngoài ra, ngân hàng có thể bán các khoản
nợ khác khi có nhu cầu cần thiết về tiền mặt
2.1.7.4 Yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Trong trường hợp doanh nghiệp có phát sinh các khoản nợ khó đòi, ngân hàng đã tiến hành mọi biện pháp để thu hồi nợ mà doanh nghiệp vẫn không có khả năng thanh toán các khoản nợ đối với ngân hàng thì ngân hàng có quyền yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Trang 36Sau khi bán tài sản thế chấp, cầm cố của doanh nghiệp mà không thu được đủ tiền đã cho vay sẽ trở thành chủ nợ không có đảm bảo và có quyền yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp để thu hồi nốt phần còn lại
2.1.7.5 Trích lập và sử dụng quỹ dự phòng ngoài rủi ro
Hoạt động kinh doanh tiền tệ là lĩnh vực kinh doanh nhiều rủi ro nhất
Do đó việc trích lập và sử dụng Quỹ dự phòng rủi ro nhằm bảo vệ người gửi tiền, giúp ngân hàng bảo toàn vốn kinh doanh, tạo nền tảng vững mạnh cho ngân hàng trong hoạt động của mình
Quy mô của quỹ dự phòng ngoài rủi ro được quyết định bởi mức rủi ro của các khoản nợ và khả năng quản lí rủi ro của Ban Giám Đốc ngân hàng Theo thông lệ, đây là một khoản được tính trong chi phí hoạt động hằng năm của ngân hàng Cơ sở để xác định là tỉ lệ phần trăm các khoản tín dụng bị mất (không thu hồi được) so với tổng các khoản cho vay của năm trước
Tỷ lệ đó dung để trích cho năm hiện tại Nếu cuối năm, số tiền cho vay bị mất nhỏ hơn đã trích thì phần không sử dụng tạo thành nguồn vốn của ngân hàng Nếu khoản tín dụng lớn hơn phần đã trích dự phòng thì phần thiếu hụt sẽ được lấy từ nguồn vốn của ngân hàng Giải pháp này nhằm đảm bảo nguyên tắc: ngân hàng phải chịu những rủi ro trong kinh doanh, ngân hàng không được phép lấy nguồn tiền gửi của khách hàng để bù đắp tổn thất Điều này giúp tình hình tài chính của ngân hàng được lành mạnh hóa đồng thời ngân hàng phải thận trọng trong khi cấp tín dụng Sau khi xác định khoản nợ là mất vốn ngân hàng tiến hành xóa nợ bằng cách đưa khoản nợ đó ra khỏi dư nợ cho vay đồng thời ghi giảm Quỹ dự phòng rủi ro
Như vậy sẽ đưa dư nợ trở về tình trạng thực tế, tài sản và nguồn vốn của ngân hàng bị giảm xuống Sauk hi loại bỏ các khoản mất vốn ra khỏi tài sản, ngân hàng phải tiếp tục theo dõi ở phần ngoại bảng Nếu sau này thu hồi lại được khoản nợ đã mất thì phần thu này được tính là thu nhập bất thường của ngân hàng
Theo luật các TCTD ở Việt Nam, TCTD phải dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng Khoản dự phòng rủi ro này phải được hạch toán vào chi phí hoạt động
Trang 372.1.7.7 Một số biện pháp khác
Ngoài việc áp dụng các biện pháp nêu trên, các ngân hàng còn thực hiện các biện pháp xử lí nợ quá hạn trên cơ sở sự giúp đỡ, hỗ trợ, tạo đều kiện của các Bộ, cơ quan, ban ngành,
2.2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Nguyễn Quốc Bình (2012), Trường Đại học Cần Thơ “Phân tích các yếu
tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long” Đề tài đã sử dụng số liệu sơ cấp và sử dụng mô hình hồi quy logistic
nhị phân để phân tích đánh giá thực trạng RRTD của các NHTM trên địa bàn Vĩnh Long đối với cho vay khách hàng cá nhân Đề tài đã cung cấp những khái niệm cơ bản nhất về RRTD cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất xảy ra RRTD của các NHTM trên địa bàn Vĩnh Long, từ đó có thể giúp người đọc hiểu được bản chất của RRTD Bên cạnh đó, đề tài còn cung cấp được những nguyên nhân thường dẫn đến RRTD và giải pháp phòng ngừa RRTD đối với cho vay khách hàng Từ kết quả nghiên cứu của đề tài qua mô hình định tính và định lượng tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế xác suất xảy ra RRTD đối với các NHTM trên địa bàn Vĩnh Long Đề tài đã giúp tôi có được cái nhìn tổng quan về RRTD trên địa bàn Vĩnh Long nói chung để
từ đó có thể nhìn rõ được những nhân tố ảnh hưởng cũng như RRTD tại Ngân hàng Sacombank CN Vĩnh Long nói riêng
Nguyễn Bích Ngọc, 2012 “Ngăn ngừa và xử lí nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng đầu tư và phát triển chi nhánh Vĩnh Phúc”, Đại
học Kinh tế Đề tài đã áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử thường được dùng trong nghiên cứu khoa học, đề tài còn sử dụng các phương pháp so sánh tuyệt đối, tương đối để phân tích, đánh giá tình hình hoạt động tín dụng, xác định những gì đạt được và những mặt tồn tại của Ngân hàng đầu tư và phát triển chi nhánh Vĩnh Phúc
Từ đó tìm ra những nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn và kéo dài tại ngân hàng, đề xuất một số giải pháp cụ thể để ngăn ngừa và xử lí nợ quá hạn nhằm lành mạnh hóa tình hình tài chính tại Ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh Vĩnh Phúc
Nguyễn Thị Ngọc Yến, 2013 “Nợ quá hạn và các biện pháp nâng cao
xử lí nợ quá hạn tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Vĩnh Long giai đoạn 2010 – 2012”, Trường Đại học Cửu Long Đề tài
sử dụng số liệu thứ cấp từ việc thu thập thông tin và số liệu từ Sacombank chi nhánh Vĩnh long để thực hiện việc phân tích, đánh giá tình hình nợ quá hạn tại chi nhánh thông qua các chỉ số tài chính Từ đó tìm ra những nguyên nhân gây
Trang 38ra nợ quá hạn tại CN, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng ngăn ngừa và xử lí nợ quá hạn tại CN Từ đề tài trên, tôi hiểu rõ hơn về ngân hàng Sacombank Vĩnh Long về tình hình nợ quá hạn trong những năm qua, những điểm mạnh, điểm hạn chế cần khắc phục, để phục vụ cho công tác nghiên cứu trong đề tài của mình
Dương Thành Nam, 2013 “Phân tích hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Vĩnh Long”,
Đại học Cần Thơ Tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp từ việc thu thập tại ngân hàng Sacombank CN Vĩnh Long, và áp dụng phương pháp phân tích, so sánh tương đối, tuyệt đối, phương pháp tỷ số để phân tích hiệu quả hoạt động tín dụng bằng các chỉ tiêu doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ cho vay và
nợ xấu theo ba tiêu chí thời hạn cho vay, thành phần kinh tế và ngành nghề kinh doanh thay vì chỉ hai tiêu chí thời hạn cho vay và ngành nghề kinh doanh Qua đó tác giả đã thu được kết quả về tình hình hoạt động tín dụng tại Sacombank Vĩnh Long như sau: nguồn vốn huy động của ngân hàng không ngừng tăng nhờ vào uy tín, cách phục vụ chuyên nghiệp Về công tác thu hồi
nợ được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả, các khoản nợ được xử lí tích cực, tránh việc tồn đọng, qua đó cho thấy ngân hàng đã có công tác dự phòng tốt trong hoạt động cấp tín dụng Về doanh số cho vay và dư nợ cho vay tại ngân hàng trong lĩnh vực thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn, cho thấy nguồn vốn của ngân hàng đang đóng góp nhiều vào quá trình thúc đẩy sự phát triển thị trường hàng hóa trên địa bàn
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu thống kê kế toán và các thông tin thực tế liên quan đến tình hình nợ quá hạn tại Ngân hàng Sacombank CN Vĩnh Long qua 3 năm
2010 – 2012 và 6 tháng đầu năm 2013
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
2.3.2.1 Phương pháp so sánh tuyệt đối
Là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích với trị số của kì trước của chỉ tiêu kinh tế
y y0 y1
Trong đó: y0 là trị số kì trước
y1 là trị số kì phân tích
Trang 39y là phần chênh lệch tăng /giảm của các chỉ tiêu kinh tế Phương pháp này sử dụng để so sánh số liệu của kì phân tích với số liệu
kì trước nhằm tìm hiểu biến động của các chỉ tiêu phân tích, trên cơ sở đó đề
ra biện pháp khắc phục
2.3.2.2 Phương pháp so sánh số tương đối
Là thương số giữa chênh lệch số liệu của kỳ phân tích và kỳ trước với trị
số của kì trước của chỉ tiêu kinh tế
0
0 1
%
y
y y
y : chỉ tiêu năm trước
Phương pháp này sử dụng để làm rõ mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích trong một thời gian nhất định nhằm so sánh tốc độ tăng trưởng của mỗi chỉ tiêu giữa các năm và so sánh tốc độ tăng trưởng giữa các chỉ tiêu, từ đó tìm ra nguyên nhân biến động, đề ra biện pháp khắc phục
2.3.2.3 Phương pháp tỷ số
Sử dụng các tỷ số tài chính để đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng
Trang 40CHƯƠNG 3
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN SÀI GÒN – THƯƠNG TÍN CHI NHÁNH VĨNH LONG
3.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
3.1.1 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thương Tín
Tên gọi tắt: Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín
Tên giao dịch: Sacombank
Trụ sở chính: 266 – 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Được thành lập thoe quyết định số 005/GP-UP ngày 03/01/1992 và hoạt động theo quyết định số 006/NH-GP ngày 05/12/1991 của NHNN Việt
Nam
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín được thành lập ngày 21/12/1991 trên cơ sở hợp nhất bốn TCTD là: Ngân hàng Phát triển Kinh tế Gò Vấp, HTX Tín dụng Lữ Gia, Tân Bình và Thành Công với nhiệm vụ chính là huy động vốn, cấp tín dụng và thực hiện các dịch vụ ngân hàng Trụ sở chính của Sacombank những ngày đầu mới thành lập tọa lạc số 94 – 96 – 98 Nguyễn Oan, Quận Gò Vấp Đến ngày 19/06/1992 dời về 920 Nguyễn Chí Thanh, Quận 5 Ngày 03/05/2000, Sacombank khai trương Hội sở bề thế tại 278 Nam
Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3 Và trong năm 2008, tòa nhà 266 Nam Kỳ Khởi Ngĩa vừa xây dựng xong đã được đưa vào sử dụng làm Hội sở chính của Ngân hàng
Những năm đầu mới thành lập, Sacombank chỉ có một Hội sở và ba CN, nhưng với tốc độ tăng trưởng hiện nay của mình thì mạng lưới hoạt động của Ngân hàng đã tăng lên hơn 450 CN và Phòng giao dịch, phủ kín 48 tỉnh và thành phố trong cả nước
Sacombank ra đời trong giai đoạn khó khăn của đất nước với số vốn điều
lệ là 3 tỷ đồng đã trở thành Ngân hàng có số vốn điều lệ lên đến trên 10.000 tỷ đồng, và có hệ thống mạng lưới rộng lớn nhất trong khối Ngân hàng thương mại
Sacombank đã thành lập một Chi nhánh tại Lào (12/2008) và một CN tại Campuchia (06/2009), hoàn thành cơ bản chiến lược phát triển trong khu vực Đông Dương