BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRỊNH THỊ HẰNG ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA TẬP ĐOÀN HOA HIÊN VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
TRỊNH THỊ HẰNG
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA TẬP ĐOÀN HOA HIÊN VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH CÂY HOA
HIÊN TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRỊNH THỊ HẰNG
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA TẬP ĐOÀN HOA HIÊN VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH CÂY HOA
HIÊN TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHẠM THỊ MINH PHƯỢNG
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ việc hoàn thành luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 25 tháng 06 năm 2015
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Phạm Thị Minh Phượng, là người hướng dẫn trực tiếp, đã hết sức chỉ bảo, hướng dẫn để tôi có thể hoàn thành được luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các Thầy cô giáo tại Bộ môn Quả, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện và giúp
Rau-Hoa-đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Luận văn được hoàn thành có sự động viên của gia đình, bạn bè, các học viên cao học và sinh viên thực tập tốt nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn những
sự giúp đỡ quý báu đó
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 06 năm 2015
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Hằng
Trang 51.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa, cây cảnh trên Thế giới và
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa, cây cảnh trên Thế giới 10 1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa, cây cảnh ở Việt Nam 14 1.3 Tình hình sản xuất kinh doanh một số loài trong chi
1.3.1 Tình hình sản xuất kinh doanh một số loài trong chi
1.3.2 Tình hình sử dụng hoa hiên ở Việt Nam 18 1.4 Một số thành quả nghiên cứu trên hoa cây cảnh 19 1.4.1 Khảo sát tập đoàn, thu thập nguồn gen hoa cây cảnh tại Việt
1.4.2 Một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống hoa cây cảnh 21 1.4.2.1 Tình hình nghiên cứu về giá thể nhân giống tại Việt
Trang 61.4.2.2 Tình hình nghiên cứu về phương pháp nhân giống vô
tính cây có củ trên Thế giới và Việt Nam 22 1.4.2.3 Ứng dụng chế phẩm kích thích ra rễ trên hoa cây cảnh
1.4.3 Tình hình nghiên cứu hoa hiên trên Thế giới và Việt Nam 24 1.4.3.1 Tình hình nghiên cứu hoa hiên trên Thế giới 24 1.4.3.2 Tình hình nghiên cứu hoa hiên ở Việt Nam 28
2.4.1.1.Thí nghiệm 1: Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của
2.4.1.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của phương pháp chẻ thân
đến khả năng ra rễ và sinh trưởng của hom giâm hiên 32 2.4.1.4 Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm
kích thích ra rễ đến sự ra rễ và sinh trưởng của hom
2.4.1.5 Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao hom
giâm đến sự ra rễ và sinh trưởng của hom giâm hoa hiên 33 2.4.1.6 Thí nghiệm 6: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ đến
khả năng ra rễ và sinh trưởng của hom giâm hoa hiên 34
2.4.3.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng phát triển 35
Trang 72.4.3.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu trong thí nghiệm nhân giống 36
3.1 Đặc điểm nông sinh học của một số giống, mẫu giống hoa hiên 37
3.1.2 Một số đặc điểm sinh trưởng của các giống, mẫu giống hoa hiên 41 3.1.3 Đặc điểm ra hoa của một số giống, mẫu giống hoa hiên 48 3.1.3.1 Đặc điểm ngồng hoa và số hoa/ngồng của một số
3.1.3.2 Đặc điểm về màu sắc hoa của một số giống, mẫu giống
3.1.4 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng phát triển của một
3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống hoa hiên 64 3.2.1 Ảnh hưởng của giá thể đến sự ra rễ và sinh trưởng của hom
3.2.2 Ảnh hưởng của phương pháp chẻ thân đến sự ra rễ và sinh
3.2.3 Ảnh hưởng của chế phẩm kích thích ra rễ đến sự ra rễ và
3.2.4 Ảnh hưởng của chiều cao hom giâm đến sự ra rễ và sinh
3.2.5 Ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng ra rễ và sinh trưởng
3.2.6 Quy trình nhân giống vô tính hoa hiên bằng phương pháp
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CS : Cộng sự
CT : Công thức
G : Giống KHKT : Khoa học kỹ thuật
MG : Mẫu giống NST : Nhiễm sắc thể
TN : Thí nghiệm VNĐ : Việt Nam đồng
Trang 9Bảng 3.2 Đặc điểm màu sắc lá, chiều cao cây, số lá, kích thước lá
của một số giống, mẫu giống hoa hiên tại Gia Lâm – Hà Nội 42 Bảng 3.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của một số giống,
mẫu giống hoa hiên trong năm 2014 tại Gia Lâm – Hà Nội 45 Bảng 3.4 Kích thước ngồng hoa và số hoa/ngồng của một số giống,
Bảng 3.5 Đặc điểm màu sắc hoa của một số giống, mẫu giống hoa
Bảng 3.6 Đặc điểm kích thước và dạng hoa của một số giống, mẫu
Bảng 3.7 Kích thước cánh hoa của một số giống, mẫu giống hoa hiên 58 Bảng 3.8 Một số đặc điểm nhị, nhụy, bao phấn 60 Bảng 3.9 Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ hom sống, khả năng ra
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của chế phẩm kích thích ra rễ đến tỷ lệ sống,
thời gian xuất hiện rễ và thời gian xuất hiện lá mới của hom
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của chế phẩm kích thích ra rễ đến chất
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của chiều cao hom giâm đến tỷ lệ hom sống,
khả năng ra lá, khả năng ra rễ và chất lượng hom giâm hoa hiên 69 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của thời vụ đến tỷ lệ hom sống, khả năng ra
lá, khả năng ra rễ và chất lượng hom giống 71 Bảng 3.15 Ảnh hưởng của thời vụ đến chất lượng hom giâm hoa hiên 72
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1a Hình ảnh nhiễm sắc thể trong tế bào chóp rễ của một số
Hình 3.1b Hình ảnh nhiễm sắc thể trong tế bào chóp rễ của một số
Hình 3.1c Hình ảnh nhiễm sắc thể trong tế bào chóp rễ của một số
Hình 3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây hoa hiên trong năm
Hình 3.3a Hình ảnh hoa của một số giống, mẫu giống hoa hiên có
Hình 3.4 Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây hoa hiên
Trang 11MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Đời sống tinh thần ngày càng được coi trọng, sản phẩm hoa và cây cảnh cũng có vai trò quan trọng trong cuộc sống khi thu nhập và nhu cầu thẩm mỹ của người dân ngày càng cao Thị trường tiêu thụ hoa đã tăng lên nhanh chóng, đặc biệt tập trung ở những nước có nền công nghiệp phát triển cao như Đức, Anh, Pháp, Hà Lan, Thụy Điển, Ý, Mỹ, Nhật,… Ngay ở Việt Nam, giờ đây hoa không chỉ gắn liền với các dịp lễ tết, hội hè mà đã thường xuyên có mặt trong đời sống hàng ngày của mỗi người dân, đặc biệt là ở các thành phố lớn
Hoa hiên (Hemerocallis spp) còn có tên gọi khác hoàng hoa, huyên thảo,
rau huyên hay kim châm thái… Loài cây này được biết đến với công dụng làm thuốc, được sử dụng làm dược liệu bào chế tân dược trị một số bệnh như trị tiểu buốt, chảy máu, điều kinh, vàng da, an thai, bổ máu, ngoài ra hoa hiên được sử dụng làm nguyên liệu thực phẩm rất thơm ngon và bổ dưỡng
Ở nhiều nước trên thế giới hoa hiên còn được biết đến với công dụng làm đẹp cảnh quan công viên, công sở, trường học do có thời gian cho hoa dài, đa dạng về màu sắc hoa Như vậy, hoa hiên vừa có thể sử dụng trang trí trong thời gian dài, không gây tốn kém như một số loại hoa thời vụ khác vì phải thay mới thường xuyên, mặt khác có thể xen kẽ các giống với nhau để kéo dài thời gian trang trí cho cảnh quan, giúp cho cảnh quan luôn tươi mới
Hiện nay trên thế giới có hàng nghìn giống hoa hiên khác nhau đa dạng về màu sắc, hình dáng, chủng loại mà ở Việt Nam chưa có Ở nước ta hoa hiên chủ yếu trồng ở Đà Lạt, Tam Đảo, Sa Pa, tuy nhiên trồng với diện tích nhỏ, giá trị về cảnh quan chưa được quan tâm, chủ yếu được biết đến với công dụng làm thuốc Một nguyên nhân chính là chúng ta chưa có bộ giống tốt để phục vụ cho công tác sản xuất Cho đến nay nguồn gen hoa hiên ở Việt Nam vẫn chưa có những nghiên cứu một cách hệ thống về thu thập, đánh giá và lưu trữ để duy trì, phát triển cũng như để phục vụ cho công tác tuyển chọn và tạo giống mới
Bên cạnh những nghiên cứu về thu thập, đánh giá và lưu trữ nguồn gen hoa hiên thì nhân giống hoa hiên cũng là một đề tài cần được quan tâm Phương
Trang 12pháp nhân giống vô tính hợp lý sẽ cung cấp một lượng lớn cây giống cho nghiên cứu và sản xuất Hoa hiên là cây lâu năm ra hoa vào mùa hè, chủ yếu được nhân giống bằng phương pháp tách thân, tuy nhiên số thân sinh ra trong năm ít vì thế
hệ số nhân giống bằng phương pháp này rất thấp Ngoài ra, để có cây giống chất lượng thì cần có những biện pháp kỹ thuật thích hợp trong nhân giống Do đó việc nghiên cứu các biện pháp nhân giống vô tính có ý nghĩa to lớn góp phần sản xuất cây giống chất lượng cao Xuất phát từ thực tế trên cùng với mục đích thu thập nguồn gen, bước đầu tiếp cận với đề tài nhân giống hoa hiên chúng tôi đã
tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá đặc điểm nông sinh học của tập đoàn hoa hiên và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhân giống vô tính cây hoa hiên tại Gia Lâm – Hà Nội”
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá đặc điểm nông sinh học, lựa chọn ra các giống, mẫu giống triển vọng để giới thiệu cho sản xuất và lai tạo giống mới đồng thời tìm ra các biện pháp kỹ thuật góp phần xây dựng quy trình nhân giống hoa hiên đơn giản, dễ làm, dễ thực hiện trong điều kiện Hà Nội
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học có giá trị
về đặc điểm nông sinh học của một số mẫu giống hoa hiên Việt Nam và giống hoa hiên nhập nội tại Gia Lâm – Hà Nội, cũng như về ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống hoa hiên
Trang 13Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu, sản xuất cây hoa hiên
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Giới thiệu một số mẫu giống, giống hoa hiên có triển vọng cho sản xuất
và nghiên cứu lai tạo giống mới
- Giới thiệu quy trình nhân giống hoa hiên bằng phương pháp giâm cành đạt hiệu quả cao
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về cây hoa hiên
1.1.1 Nguồn gốc, phân bố và phân loại
Hoa hiên là thực vật có hoa thuộc chi hoa hiên (Hemerocallis spp), họ Hemerocallidaceae, là một loài cây trồng lâu năm Chi Hemerocallis có nguồn
gốc từ châu Á, có mặt trên khắp Trung Quốc, bắc Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn
Quốc (Surinder K Gulia et al., 2009) Hoa hiên đã được trồng ở Châu Á trong
hàng thế kỷ, có niên đại ít nhất là 2600 năm trước công nguyên, được đưa vào châu Âu đầu những năm 1500 và đến Mỹ vào năm 1890 (Ted L Petit and Dorothy J Callaway, 2008) Theo truyền miệng của người Trung Quốc, hoa hiên (được biết đến với tên huyên thảo) có niên đại vào 2697 năm trước Công nguyên (Kitchingman, 1985), nhưng biên bản ghi nhận đầu tiên xuất hiện trong các tác phẩm Giáo luật Khổng Tử có niên đại khoảng 551 – 479 trước Công
nguyên (Barnes, 2004) (Surinder K Gulia et al., 2009)
A.B Stout đã công bố phân loại của ông về Hemerocallis vào năm
1934, và nghiên cứu này là cơ sở phân loại được sử dụng cho đến ngày nay (Ted L Petit and Dorothy J Callaway, 2008) Sử dụng bản thảo chuyên đề của Stout, Shiu Ying Hu (1968b) đã công bố chuyên đề đầu tiên để phân loại 23
loài vào ba nhóm Năm 1969, Hu công nhận bổ sung 2 loài: H tazaifu (Hu 1969a) và H darrowiana (Hu 1969b) (Surinder K Gulia et al., 2009) Erhardt
(1992) đã phát triển một hệ thống phân loại hoa hiên phức tạp hơn, được phân thành 5 nhóm gồm fulva, citrina, middendorfii, nana và multiflora Erhardt chỉ công nhận 20 loài trong chi này Từ năm 1992, có thêm 2 loài được công nhận
là H hongdoensis (Chung and Kang, 1994) và H taeanensis (Kang and Chung, 1997) (Surinder K Gulia et al., 2009) (Ted L Petit and Dorothy J
Callaway, 2008)
Theo Phạm Hoàng Hộ (2003) và Nguyễn Thị Đỏ (2007), hoa hiên ở
Việt Nam được biết đến với hai loài Hemerocallis fulva (L.) và Hemerocallis
lilioasphodelus (L.)
Trang 151.1.2 Đặc điểm thực vật học
1.1.2.1 Đặc điểm rễ, thân và lá
Rễ hoa hiên thuộc loại rễ củ, sống lưu niên; có màu vàng xám hoặc xám nâu nhạt (Ted L Petit and Dorothy J Callaway, 2008) Bộ rễ dài, thanh mảnh, dạng sợi hoặc hình thoi Sự khác biệt trong hệ thống rễ là một trong những tiêu chí để tách hoa hiên vào các loài khác nhau Rễ có thể hình thành cấu trúc rễ củ
mọng, như trong trường hợp của H citrine Ở H minor và H nana, rễ dày lên
chỉ ở gần phần cuối của chúng, chỉ ra rằng các loài có liên quan đến nhau Rễ
của H dumortieri có hình trụ; trong khi đó của H fulva là hình thoi Hoa hiên là
cây chịu hạn bởi vì hai đặc điểm của rễ: thân rễ có thể dự trữ lượng nước lớn và
rễ xơ có thể khai thác nước trong đất hoàn toàn (Surinder K Gulia et al., 2009)
Thân hoa hiên là thân giả do các bẹ lá xếp tạo thành Thân rễ là phần gốc của cây, chính là phần lõi màu trắng nằm giữa lá và rễ Thân rễ ngắn chứa các mô phân sinh đỉnh; lá, ngồng hoa và rễ phát sinh từ thân rễ ngắn này (Nguyễn Thị Đỏ, 2007)
Lá hoa hiên không thể chia thành phiến, cuống và những phần cơ bản
(Voth et al., 1968) Lá có thể đứng thẳng, cong ra ngoài, uốn cong gần đỉnh hoặc có xu hướng gấp dọc gân lá (Surinder K Gulia et al., 2009)
Lá hoa hiên có dạng dải dài, thuôn nhọn ở đỉnh, gốc lá dạng bẹ ôm lấy thân Mép lá nguyên hoặc lượn sóng, lá mọc tập trung ở gốc xếp thành hai hàng đối nhau giống như rẻ quạt (Nguyễn Thị Đỏ, 2007)
Màu sắc lá hoa hiên có thể có màu vàng xanh như ở loài H fulva hoặc màu xanh đậm ở loài H Citrina (Juerg Plodeck, 2002)
Hoa hiên có 3 loại hình sinh trưởng là ngủ nghỉ, bán thường xanh và thường xanh Loại hình ngủ nghỉ thường sinh trưởng vào mùa xuân và ngủ nghỉ vào mùa đông Vào mùa đông lá chuyển vàng và chết Hoạt động ngủ nghỉ của hoa hiên có thể xảy ra trong điều kiện ngày ngắn hoặc nhiệt độ thấp Trước khi lá chết, mầm ngủ nhỏ được hình thành trong cổ rễ của cây Trong mầm nhỏ, các lá đã được bảo vệ để tránh khỏi nhiệt độ thấp và sự mất nước trong suốt mùa đông Cây tiếp tục sinh trưởng vào mùa xuân khi nhiệt độ ngày
Trang 16đủ ấm cho sự sinh trưởng Loại hình thường xanh phát triển trong suốt cả năm,
bộ lá vẫn duy trì màu xanh trong suốt mùa đông với điều kiện thời tiết ấm áp Tuy nhiên trong điều kiện nhiệt độ quá thấp (nhiệt độ đóng băng), lá có thể bị chết và cây ngừng sinh trưởng Giống bán thường xanh phụ thuộc nhiều hơn vào thời tiết, hoạt động sinh trưởng thường được quyết định bởi điều kiện môi trường hiện tại Những giống thuộc loại hình sinh trưởng này có thể là thường xanh ở khí hậu ôn hòa nhưng có thể ngủ nghỉ ở những vùng có điều kiện thời tiết khắc nghiệt hơn Nhiều giống lai hiện đại trong lớp này, là kết quả lai giữa
loại hình thường xanh và loại hình ngủ nghỉ.(Surinder K Gulia et al., 2009)
(Ted L Petit and Dorothy J Callaway, 2008)
1.1.2.2 Đặc điểm hoa
- Cấu tạo hoa
Hoa hiên lá hoa lưỡng tính, có mùi thơm hoặc không, cuống hoa ngắn Bao hoa 6 mảnh, phần dưới dính nhau thành hình phễu; phần trên có 6 thùy, xếp 2 lớp: lớp bên trong cánh hoa to hơn lớp cánh đài bên ngoài, khi hoa nở cánh hoa cong ra ngoài Nhị 6, đính ở ống bao hoa, chỉ nhị dài không bằng nhau Bao phấn đính ở lưng hoặc ở gần gốc, 2 ô, mở bằng khe dọc Nhụy hoa dạng sợi, mảnh, dài hơn nhị; đầu nhụy dạng đầu (Nguyễn Thị Đỏ, 2007)
- Đặc điểm ra hoa
Mỗi thân hoa hiên cho 1-3 cụm hoa mỗi năm Cụm hoa có thể có xuất
hiện từ đỉnh hoặc từ nách lá (Surinder K Gulia et al., 2009) Mùa hoa của hầu
hết các giống hoa hiên là mùa hè (Juerg Plodeck, 2002) Tùy thuộc vào khu vực và khí hậu, hoa hiên có thể nở rộ từ tháng 5 đến giữa tháng 7 (Ted L Petit and Dorothy J Callaway, 2008) Sự phát triển cụm hoa bị ngừng lại đến mùa sinh trưởng tiếp theo ở cả hai kiểu hình thường xanh và ngủ nghỉ (Surinder K
Gulia et al., 2009)
Một số giống mới có mùa hoa kéo dài và do vậy có thể bắt đầu nở rất sớm và tiếp tục ra hoa trong suốt vụ, sau đó vào vụ tiếp theo lại nở muộn hơn Nhiều nhà tạo giống đã nỗ lực tạo ra các giống ra hoa quanh năm (Ted L Petit and Dorothy J Callaway, 2008)
Trang 17Mỗi bông hoa chỉ nở trong một ngày nên số lượng nụ hoa/ngồng rất quan trọng đối với việc kéo dài thời gian ra hoa của ngồng hoa Hầu hết các
giống hoa hiên nở hoa trong 2-4 tuần (Surinder K Gulia et al., 2009)
- Màu sắc hoa
Trong tự nhiên, hoa Hiên có hoa màu vàng hoặc màu da cam, đôi khi có tông màu đỏ hoặc nâu Ngày nay, nhiều giống lai có màu sắc khác xa màu sắc hoa hiên tự nhiên Gần như mọi màu sắc được thể hiện trên hoa, có thể có cả màu xanh lá cây, màu nâu và màu đen Mặc dù màu trắng đã xuất hiện trong một số giống mới nhưng các nhà chọn tạo giống vẫn không ngừng tìm kiếm bông hoa có màu trắng tinh khiết hơn Những màu khó tạo ra được đánh giá cao sau khi tìm và là trọng tâm của chương trình nhân giống (Ted L Petit and Dorothy J Callaway, 2008)
Phần bên ngoài của cánh hoa được coi là màu sắc cơ bản của hoa Các dải màu của hoa hiên hiện nay bao gồm: màu vàng (từ vàng chanh nhạt, vàng tươi, vàng sậm, đến màu da cam), màu đỏ (từ sắc đỏ tươi, đỏ thắm, đỏ cà chua, màu hạt dẻ, màu vang đỏ, đến đỏ thẫm), màu hồng (từ hồng nhạt đến hồng và hồng đỏ), màu tím (từ màu hoa oải hương và màu hoa cà đến màu nho chín hoặc màu tím), màu hồng cam hay kem hồng (từ màu kem nhạt đến màu hồng cam), màu gần trắng (được tìm thấy ở sắc thái nhạt của các màu vàng, hồng, màu hoa oải hương hoặc màu hồng cam) Họng hoa là khu vực trung tâm của hoa Ở hầu hết các loài hoa hiên màu sắc họng hoa khác với phần còn lại của hoa Thường thì họng hoa có màu xanh lá cây, vàng, vàng sậm, cam, màu quả
mơ, màu hồng cam Nhị hoa thường có màu vàng đến xanh lục Các bao phấn thường có màu sẫm hơn, đôi khi là màu đen
- Hình dạng hoa
Hình dạng hoa hiên có thể được mô tả khi quan sát trực diện hoặc bên cạnh Quan sát trực diện có thể thấy được một trong bốn hình dạng khác nhau Hoa tròn có cánh phẳng, ngắn, rộng chồng lên nhau Hoa hình tam giác có cánh hoa tương đối hẹp, tạo ra một hình tam giác Hoa hình sao có cánh hoa hẹp hơn so với hoa hình tam giác, các cánh hoa dài và hẹp nên không chồng
Trang 18chéo lên nhau, bông hoa giống như một ngôi sao ba cánh hoặc sáu cánh Những bông hoa không theo một trong ba dạng hoặc thiếu tính thống nhất được gọi là dạng hoa không chính thức
Quan sát từ phía bên cạnh có thể mô tả được các dạng hoa như uốn ngược với cánh hoa cong phía họng hoa hoặc hình chiếc ly, hoặc có hình loa kèn, với cánh hoa vượt khỏi họng hoa, giống như một cụm hoa thủy tiên Dạng mặt phẳng với những cánh hoa tạo thành một mặt phẳng (Bodie Pennisi, 2004) (Ted L Petit and Dorothy J Callaway, 2008)
Ngoài ra còn có dạng hoa kép với hơn sáu cánh, có thể lên tới 18 cánh với nhiều cách sắp xếp khác nhau hay hoa xù với cánh hoa bị xù hoặc gấp nếp (Bodie Pennisi, 2004)
Hiện nay, American Hemerocallis Society (AHS), cơ quan đăng ký chính thức của hoa hiên, công nhận các hình dạng hoa sau đây cho mục đích trưng bày: đơn, kép, mạng nhện, không chính thức và polymerous (bông hoa với số lượng các bộ phận nhiều hơn bình thường, tức là số lượng đài hoa và cánh hoa nhiều hơn 3 (thường là 4 hoặc 5)
- Hương thơm
Hầu hết các giống hoa hiên có mùi thơm nhẹ, dễ chịu Các giống mới này không mang mùi đậm như các loài hoa khác như hoa hồng hoặc hoa nhài Các nhà lai tạo giống đang cố gắng để tạo ra giống hoa hiên có mùi hương đậm qua việc lai các cây có hương thơm nhất với hy vọng tăng cường mùi hương (Ted L Petit and Dorothy J Callaway, 2008)
- Kích thước hoa
Kích thước hoa hiên được mô tả theo các giới hạn sau: rất nhỏ (nhỏ hơn 7,5 cm), nhỏ ( 7,5 – 11 cm), hoặc lớn (hơn 11 cm) (Ted L Petit and Dorothy J Callaway, 2008)
Hoa có kích thước nhỏ thường là những bông hoa có hình loa kèn, có
thể được tìm thấy ở các loài H minor, H lilioasphodelus, H darrowiana, H
nana và H multiflora Hoa có kích thước to thường gặp ở các loài H
aurantiaca và H citrina (Juerg Plodeck, 2002)
Trang 191.1.2.3 Đặc điểm ngồng hoa
Ngồng hoa mảnh, mọc thẳng đứng và phát sinh từ thân rễ Ngồng hoa thường cao hơn tán lá (Bodie Pennisi, 2004) Ngồng hoa dạng trụ; có thể thẳng đứng, hơi cong, hoặc cúi xuống mặt đất dưới sức nặng của cụm hoa Các ngồng hoa dài từ 4 đến 200 cm khác nhau tùy từng loài Hoa hiên có thể có 1-3 ngồng hoa mỗi năm Các cụm hoa có nguồn gốc ở đỉnh sinh trưởng hoặc nách
Cụm hoa phân nhánh hoặc mang hoa đơn độc (S.K.Gulia et al, 2009)
Ở hầu hết các loài mỗi ngồng hoa đều có hai hoặc nhiều nhánh, mỗi nhánh mang nhiều nụ hoa Dưới các nhánh, các cuống hoa đều có một vài lá giống như
lá bắc Thỉnh thoảng có một cây con nhỏ mọc ở ngã ba giữa các nhánh, được gọi
là keyki, có thể được sử dụng như một cây giống mới trong trồng trọt
1.1.2.4 Đặc điểm quả và hạt
Quả hoa hiên có dạng quả nang, hình tròn hoặc bầu dục; chia làm 3 ô gồm 6 mảnh vỏ đóng mở theo cặp Hạt nhỏ, bóng, màu đen, có hình tròn hoặc
hình elip (Nguyễn Thị Đỏ, 2007)
1.1.3 Yêu cầu ngoại cảnh
Hoa hiên phát triển tốt nhất trong điều kiện ánh sáng mặt trời đầy đủ Chúng có thể chịu được bóng râm nhưng ra hoa tốt nhất với tối thiểu 6 giờ ánh sáng trực xạ Ánh sáng nhẹ vào thời điểm nóng nhất trong ngày giữ cho hoa tươi lâu Hoa hiên không nên trồng gần cây và bụi cây có khả năng cạnh tranh
độ ẩm và chất dinh dưỡng (Mary H Meyer, 2009)
Hoa hiên có thể phát triển mạnh trong hầu hết mọi điều kiện khí hậu Yêu cầu nhiệt độ của cây hoa hiên tuỳ thuộc vào từng loại hình sinh trưởng Một số giống hoa hiên có thể chịu được nhiệt độ lạnh khoảng -3oC Một số khác có thể chịu được nhiệt độ cao Hoa hiên có thể trồng được vào bất kỳ thời gian nào trong năm Tuy nhiên, thời gian tốt nhất để trồng hoa hiên là vào mùa thu hoặc mùa xuân khi có nhiệt độ đất thích hợp (Karen Russ, 2008)
Mặc dù hoa hiên có khả năng thích ứng với hầu hết các loại đất, nhưng phát tiển tốt nhất trong điều kiện đất hơi chua, đất ẩm có hàm lượng chất hữu
cơ cao và thoát nước tốt (Mary H Meyer, 2009)
Trang 20Hoa hiên có thể chịu được hạn tạm thời nhưng không chịu được úng trong thời gian dài Số hoa, kích thước hoa, sức sống, và thời gian nở hoa được tăng cường khi cung cấp đầy đủ nước cho cây trong thời kỳ khô hạn.Tưới nước hàng tuần trong quá trình sinh trưởng sẽ thúc đẩy tăng trưởng tốt và ra hoa Tùy từng loại đất mà lượng nước tưới là khác nhau Đối với đất sét có thể cần phải tưới nước một lần một tuần, đất cát có thể yêu cầu nước 4-5 ngày 1 lần để duy trì độ ẩm thích hợp Độ ẩm không đầy đủ khi nụ hoa đang hình thành là nguyên nhân làm giảm số lượng và chất lượng hoa (Bodie Pennisi, 2004) Theo Bodie Pennisi (2004) dinh dưỡng thích hợp sẽ giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt Hoa hiên cần nhiều phốtpho và kali hơn đạm Các phân tích cho thấy bón phân N-P-K với tỉ lệ 5-10-15 trong giai đoạn cây sinh trưởng
và tỉ lệ 6-12-12 trong giai đoạn cây phát triển là phù hợp Liều lượng cho mỗi lần bón là 100g/m2
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa, cây cảnh trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa, cây cảnh trên Thế giới
Từ thế kỷ XX ngành trồng hoa cây cảnh thực sự trở thành ngành sản xuất hàng hóa, có sự giao lưu quốc tế và trong những năm gần đây đã trở thành ngành thương mại mang lại giá trị kinh tế cao Ngành sản xuất hoa cây cảnh đã mang lại nhiều lợi nhuận cho nền kinh tế một số nước, đặc biệt là những nước đang phát triển Diện tích trồng hoa, cây cảnh trên thế giới là 1.100.000 ha Trong đó châu Á chiếm khoảng 80% diện tích, châu Âu 8%, châu Mỹ 10%, riêng châu Phi với diện tích còn rất khiêm tốn khoảng 2% Năm nước dẫn đầu
về diện tích trồng hoa là Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Nhật Bản và Hà Lan Các thị trường xuất nhập khẩu hoa lớn bao gồm; Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản,… trong đó thị trường Nhật Bản tăng mạnh nhất, thị trường Tây Âu đang bão hòa, thị trường Châu Á tăng do thu nhập của người dân ngày càng tăng
Theo số liệu thống kê của WTO, sản lượng hoa xuất khẩu năm 2006 chiếm hơn 13,362 tỷ USD, trong đó hoa cắt cành là 6,12 tỷ USD, hoa chậu và hoa trồng thảm là 5,79 tỷ USD, loại dùng lá để trang trí là 893 triệu và các loại hoa khác là 559 triệu USD (Lê Thị Thu Hương, 2009)
Trang 21Ngành trồng hoa thế giới đang có những chuyển biến mạnh mẽ với sự
mở rộng sản xuất hoa trồng chậu và trồng thảm Theo số liệu của Trung tâm thương mại hoa thì tổng lượng hoa tiêu thụ trên thế giới tăng hàng năm là 10%, trong đó tỷ lệ tiêu thụ hoa cắt chiếm 60%, hoa chậu hoa thảm 30% và các loại cây trang trí khác 10% Các nước xuất khẩu hoa thảm, hoa chậu lớn nhất thế giới là Hà Lan, Đan Mạch và Bỉ (Trần Hoài Hương, 2008)
Hà Lan là nước đứng đầu về sản xuất và xuất khẩu hoa với thị trường tiêu thụ rộng lớn khoảng 80 nước trên thế giới, gồm hoa cắt, hoa trồng thảm, trồng chậu và cây trang trí Trung bình một năm, Hà Lan cung cấp cho thị trường 7 tỷ bó hoa tươi và 600 triệu chậu hoa cảnh các loại, tổng kim ngạch xuất khẩu là 2 tỷ USD Hoa thảm chiếm gần 10% diện tích hoa của Hà Lan (Nguyễn Thị Kim Lý, 2009)
Tiếp đến là Mỹ, ngành trồng hoa là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế Mỹ, chiếm khoảng 10 tỷ USD, bao gồm hoa cắt, hoa trồng thảm, trồng chậu và các cây dùng lá để trang trí Ngoài các loại hoa truyền thống là cúc, cẩm chướng và hồng thì các loại hoa khác cũng đang được phát triển (Nguyễn Thị Kim Lý, 2009) Chỉ tính riêng thương mại hoa nội địa của Mỹ, hoa trồng thảm chiếm 13,5% so với tổng số các loại sản phẩm khác như hoa cắt, cây cảnh trong năm 1970 Con số này tăng lên trong năm 1979 (đạt 18,7%)
và năm 1988 đạt con số ấn tượng là 33,7% Số liệu thống kê cho thấy chỉ tính riêng bang Washington (Mỹ) thì cây trồng thảm chiếm tới 26% tổng sản lượng công nghiệp buôn bán cây trồng (bao gồm cây trồng có củ, cây ăn quả, hoa cắt, hạt cỏ …) Tổng doanh thu hàng năm các sản phẩm cây thảm của bang Washington trong giai đoạn 1996 -1997 là $219,132,769 Giá trị tổng sản lượng cây trồng chậu và cây trồng thảm/cây vườn của Mỹ trong năm 1999 lần lượt là $69,763,000, $10,277,000 và $59,174,000 Các con số thống kê trên đây đã cho ta thấy được một cái nhìn tích cực nhất về thị trường hoa trồng thảm (Agricultural Statistics Board, 2000)
Tại châu Á nghề trồng hoa đã có từ lâu đời với diện tích xấp xỉ 900.000
ha, chiếm khoảng 60% diện tích trồng hoa trên thế giới Nhưng diện tích hoa
Trang 22cây cảnh thương mại của châu Á nhỏ, tỷ lệ thị trường hoa của các nước đang phát triển chỉ chiếm khoảng 20% thị trường hoa cây cảnh trên thế giới (Nguyễn Thị Kim Lý, 2009) Những nước có xu hướng phát triển hoa trồng thảm và các loại lá dùng để trang trí là Đài Loan, Thái Lan, Israel, Ấn Độ, Malaysia và Trung Quốc với các giống hoa xôn (Salvia), thu hải đường (Begonia), hoa bướm (Panse), Viola, Primula, Cinneraria, tô liên (Torenia) với diện tích xấp xỉ khoảng 50.000 ha (Trần Hoài Hương, 2008) Diện tích sản xuất hoa cây cảnh ở một số nước năm 2006 là: Trung Quốc 722.000 ha, Ấn Độ 75.327 ha, Nhật Bản 51.000 ha, Việt Nam 13.000 ha, Thái Lan 7.655 ha, Malaysia 2.278 ha, Srilanka 1.012 ha (Nguyễn Thị Kim Lý, 2009)
Nhật Bản là nước dẫn đầu về áp dụng thành tựu khoa học tiên tiến để tạo ra các giống hoa cây cảnh có giá trị kinh tế cao Thế mạnh của đất nước Nhật Bản là cây bonsai, nghệ thuật cắm hoa và lối trang trí độc đáo cho các vườn hoa công viên (Trần Hoài Hương, 2008)
Tại Đài Loan, các giống hoa thảm được tuyển chọn hằng năm phục vụ cho nhu cầu phát triển vườn cảnh, công viên Hạt giống hoa của Đài Loan như Verbena, Vinca, Cinneraria, Salvia, … đang được tiêu thụ mạnh trên thế giới Với nhiều ưu thế về điều kiện kinh tế, xã hội cũng như điều kiện thời tiết địa
lý, Đài Loan đang phấn đấu trở thành Hà Lan thứ 2 ở châu Á (Trần Hoài Hương, 2008)
Sau hai thập kỉ phát triển, ngành công nghiệp hoa Trung Quốc đã trở thành một ngành công nghiệp có nhiều hứa hẹn với số lượng hoa cắt được bán
là 3,22 tỷ cành và hoa chậu hoa thảm được bán là 810 triệu cây (Trần Hoài
Hương, 2008) Từ năm 2001 đến 2006, nghề trồng hoa ở Trung Quốc nhanh
chóng phát triển Trong năm 2006, tổng giá trị thu nhập của hoa và cây cảnh là 5,5 tỉ USD và tổng diện tích là 722.000 ha Trong năm 2008, tổng diện tích đất trồng tăng chậm lại (Hoàng Ngọc Thuận, 2009)
Trang 23Bảng 1.1 Sự tăng trưởng diện tích, số lượng và giá trị trồng hoa
tại Trung Quốc
Chủng loại Diện tích (ha) Số lượng (triệu cây) Giá trị (triệu USD)
2001 2004 2006 2001 2004 2006 2001 2004 2006
Hoa cắt 12.491 35.138 41.603 3.704 8.868 12.568 279 476 605
Hạt giống 3.938 4.149 5.061 951 15.421 9.760 7 18 32 Cây trồng chậu 7.090 10.706 14.807 907 1.334 2.672 63 139 153 Hoa từ củ 33.042 78.529 72.799 1.047 3.237 3.022 622 1.040 1.581 Cây ghép 116.407 356.011 401.639 3.747 13.123 12.372 375 2.222 2.670
(Nguồn: Hoàng Ngọc Thuận, 2009, bài giảng hoa cây cảnh cao học K17)
Như vậy trong vòng năm năm diện tích trồng hoa cây cảnh tại Trung Quốc đã tăng lên xấp xỉ 3 lần tương ứng với tổng thu nhập tăng lên 2 lần từ
2158 triệu USD năm 2001 lên 5562 triệu USD năm 2006 Trong đó, diện tích trồng hoa cắt tuy tăng lên mạnh nhất là 3,3 lần nhưng giá trị chỉ tăng 2,2 lần còn diện tích cây trồng chậu tăng lên 1,51 lần thì giá trị tăng 2,4 lần Điều này cho thấy việc trồng hoa chậu đang là một hướng phát triển đem lại thu nhập cao cho người trồng hoa ở Trung Quốc
Philippin xuất khẩu các loại hoa chính như Lay ơn, Hồng Môn, Lily, Hồng, Lan tới Hàn Quốc, Nhật Bản, Ý, Brunei và nhập các loại hoa như Cúc, Cẩm Chướng, Tuylip… từ một số nước như Hà Lan, Malaysia, Úc, New Zealand, Singapore, Thái Lan, Mỹ (Nguyễn Thị Kim Lý, 2009)
Ở Srilanka, hoa đã được trồng từ lâu đời, nhưng bắt đầu trồng công nghiệp từ năm 1970 Năm 1995, xuất khẩu hoa đạt 430,1 triệu Pupees Cẩm chướng của Srilanka khá nổi tiếng trên thị trường hoa thế giới (Nguyễn Thị Kim Lý, 2009)
Hoa cắt cành thường tập trung vào hồng, cúc, cẩm chướng, đồng tiền, lily, lay ơn Hoa trồng thảm lại rất phong phú về chủng loại và đa dạng về màu
Trang 24sắc Hiện nay có trên 150 nước tham gia vào sản xuất hoa cắt cảnh và hoa trồng thảm mang lại nguồn thu nhập rất lớn (Trần Hoài Hương, 2008)
Như vậy, một điều dễ nhận thấy là hầu hết các nước trên thế giới đều rất quan tâm trong việc sản xuất, phát triển và nghiên cứu các giống hoa, cây cảnh nói chung và hoa trồng thảm nói riêng Phát triển hoa cây cảnh không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc mang lại lợi nhuận to lớn cho nền kinh tế đất nước mà còn góp phần đáng kể trong việc cải tạo môi trường sống phục vụ cho nhu cầu thiết kế, xây dựng trang trí công cộng và làm cho cuộc sống con người trở nên gần gũi với thiên nhiên hơn
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa, cây cảnh ở Việt Nam
Nghề sản xuất hoa cây cảnh Việt Nam đã có từ lâu đời nhưng chỉ được coi là một ngảnh kinh tế hàng hóa có giá trị từ những năm 1980 Với khí hậu và thổ nhưỡng thuận lợi để có thể trồng được nhiều loại hoa và cây cảnh, hiện Việt Nam đang sở hữu một nguồn tài nguyên hoa rất đa dạng, từ các loại hoa xứ nhiệt đới được trồng ở các vùng đồng bằng đến hoa xứ lạnh trồng trên các cao nguyên như Lâm Đồng, Pleiku và vùng núi như Sapa, Hoàng Liên Sơn, Sự phát triển của ngành hoa Việt Nam trong thời gian qua đã mang lại cho các sản phẩm hoa của Việt Nam sự đa dạng và chất lượng vượt bậc so với thời gian trước
Trong những năm qua cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước, nghề trồng hoa ở Việt Nam đã có nhiều khởi sắc và sớm khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế thị trường, góp phần đa dạng hóa cây trồng, nâng cao thu nhập cho người dân ở các địa phương Tuy nhiên, do quá trình đô thị hóa diện tích trồng hoa giảm dần và thu hẹp lại Nhưng nhu cầu về hoa cây cảnh dường như không giảm nên ngoài những vùng có truyền thống về sản xuất hoa cây cảnh như Ngọc Hà, Nghi Tàm, Quảng Bá, Nhật Tân đã xuất hiện các vùng trồng hoa mới như Vĩnh Tuy, Tây Tựu, Phú Hưng, Mê Linh, (Trần Hoài Hương, 2008)
Ở Việt Nam, bên cạnh việc sản xuất hoa cắt cành thì việc trồng và nghiên cứu hoa trồng chậu, trồng thảm đang ngày càng được quan tâm Đặc biệt trong những ngày lễ lớn, trên các trục đường chính, khu trung tâm, công
Trang 25viên, vườn hoa…luôn rực rỡ sắc màu bởi những thảm hoa Ngoài ra hoa trồng chậu, trồng thảm có những thế mạnh riêng, có thể tận dụng những diện tích nhỏ như trên ban công, sân thượng…mà không cần đến diện tích quá lớn Hơn nữa do thời gian sinh trưởng quá ngắn nên yêu cầu chăm sóc đầu tư không lớn, lại dễ vận chuyển phù hợp với người lao động có tuổi, phụ nữ hay trẻ em, hoa trồng chậu, trồng thảm là hướng đi đích thực của ngành trồng hoa nước ta, ngày càng góp phần phát triển nền kinh tế nước nhà cũng như thỏa mãn nhu cầu làm đẹp của con người (Nguyễn Thị Kim Lý, 2006)
Hoa trồng thảm là những cây hoa thân thảo hoặc thân gỗ có chiều cao dưới 1m, sống theo mùa trong năm hoặc 2 đến 3 năm Màu sắc của hoa đa dạng, tạo nên những mảng màu rực rỡ, chúng thường được trồng trong các công viên, mảng vườn trong các biệt thự, phối kết tạo thành cảnh ở tầng thấp, ngoài ra chúng còn có thể trồng được trong bồn, chậu để trang trí Các loại hoa trồng thảm được dùng để bày xếp, phối kết trang trí trong công viên, các loại công trình kiến trúc, đường quốc lộ… thường được áp dụng nhiều trong viện quy hoạch, xây dựng đô thị
Hiện nay ở nước ta có nhiều vùng sản xuất hoa cây cảnh nói chung và hoa trồng chậu, trồng thảm nói riêng nhưng tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông hồng, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt và Sapa (Lê Thị Thu Hương, 2009) Vùng đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích trồng hoa lớn chủ yếu được trồng trên đất phù sa cổ, thành phần dinh dưỡng tốt, pH từ 6,5 -7 Nông dân có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp về nghề trồng hoa, nhưng chủ yếu về hoa cắt cành còn hoa thảm thì rất ít Tại đây, Hà Nội được đánh giá là vùng hoa lớn nhất, trong đó xã Tây Tựu huyện Từ Liêm có diện tích trồng hoa lớn nhất, chủ yếu trồng hoa với mục đích cắt cành như: trồng hoa cúc, hoa hồng, hoa ly, Sản xuất hoa chậu, hoa thảm chưa được phát triển mạnh mà chủ yếu được sản xuất ở một số cơ sở có chức năng trang trí cảnh quan như khu nhân giống hoa Phú Thượng (quận Tây Hồ) cung cấp hoa cho lăng chủ tịch Hồ Chí Minh và quảng trường Ba Đình, công ty công viên cây xanh chuyên cung cấp cây trang trí vườn hoa, công viên, dải phân cách, vườn thú Thủ Lệ và một số
Trang 26vùng sản xuất hoa thảm và cây cảnh như Phụng Công – Văn Giang (Hưng Yên), La Phù – An Khánh (Hà Tây)
Bên cạnh Hà Nội, Sapa cũng là một vùng trồng hoa nổi tiếng cung cấp hoa cho khắp thị trường Miền Bắc và xuất khẩu Sapa là nơi có khí hậu ôn đới tương đối thuận lợi cho việc phát triển hoa cây cảnh, đặc biệt là các loại hoa ôn đới Nhạy bén với thị trường, trung tâm hoa cây cảnh thuộc viện di truyền đã nhập một số giống hoa thảm mới từ nước ngoài để gieo trồng đáp ứng một phần không nhỏ thị trường như: Pansy, Viola, Tuy lip, Geranium…
Thành phố Hồ Chí Minh là vùng trung tâm của các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ, với mật độ dân cư đông đúc và tốc độ đô thị hóa mạnh, nhu cầu về hoa rất lớn Sa đéc, Gò Vấp, Vĩnh Long là những vùng chuyên canh sản xuất hoa trồng chậu và hoa thảm, phục vụ nhu cầu hoa của người dân thành phố và cung cấp cho các công ty, công viên gồm các loại như: vạn thọ lùn, cúc mâm xôi, mào gà, hồng tiểu muội, cúc bách nhật…Ở thành phố Hồ Chí Minh
có khoảng 235 ha công viên tại nội thành, trong đó có khoảng 11 ha (5%) là diện tích các bồn hoa Hàng năm thành phố Hồ Chí Minh cần khoảng 38,5 triệu cây hoa thời vụ các loại (khoảng 14 lần thay hoa/ năm) cho nhu cầu trang trí, chưa kể đến diện tích công viên sinh thái (công viên du lịch suối Tiên, Lâm viên Thủ Đức) và vành đai xanh Thành phố (Đỗ Thị Lai và cs, 2006) Hiện thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 20 loại hoa trồng thảm khác nhau, là sản phẩm của quá trình vừa sản xuất vừa nhập nội và tuyển chọn giống Kết quả đã
có hệ thống giống hoa trồng thảm tương đối đầy đủ, đa dạng về chủng loại, phong phú về màu sắc, phù hợp với thời gian gieo trồng trong năm, có khả năng phối kết tốt trên các bồn hoa thảm cỏ công viên (Lê Thị Thu Hương, 2009)
Đà Lạt thuộc cao nguyên miền trung, có truyền thống và kinh nghiệm lâu đời trong việc trồng và phát triển các loại hoa ôn đới, cây cảnh nghệ thuật, kiến trúc phong cảnh Diện tích trồng hoa của Đà Lạt khoảng 200 – 250 ha với các loại: cúc, hồng, cẩm chướng, lily, đồng tiền, địa lan, … Chất lượng hoa Đà Lạt có thể được xem là tốt nhất trong cả nước, tiêu thụ chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, nhiều tỉnh thành khác và còn xuất khẩu sang thị trường
Trang 27Nhật Bản, Đài Loan Là khu du lịch nổi tiếng ở phía nam, Đà Lạt rất chú trọng đến việc phát triển cảnh quan từ việc xây dựng những mảng xanh, bồn hoa trên các trục đường giao thông, các khu công viên Trong những năm qua rất nhiều giống hoa thảm được nhập nội tuyển chọn và đã sinh trưởng và phát triển tốt ở đây như: Begonia, Cyclamen, Pansy, Viola… (Trần Hoài Hương, 2008)
Các chủng loại hoa trồng thảm ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng chủ yếu là các loại ra hoa vào vụ đông và vụ xuân rất ít các loại ra hoa vào vụ hè Vì vậy vào mùa hè thị trường hoa trồng thảm ở Hà Nội trở nên khan hiếm và phải nhập hoa từ nơi khác về nên giá bán các loại hoa tương đối cao
Như vậy có thể thấy hoa trồng thảm cũng đang phát triển ở Việt Nam, cùng với tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá ở Việt Nam yêu cầu phát triển các khu công viên giải trí là rất lớn Bởi vậy nghiên cứu về các giống hoa trồng thảm, trồng chậu là hướng đi phù hợp với yêu cầu phát triển chung của thế giới
1.3 Tình hình sản xuất kinh doanh một số loài trong chi Hemerocallis trên
Thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình sản xuất kinh doanh một số loài trong chi Hemerocallis trên Thế giới
Trên thế giới hoa hiên đã được sử dụng trong trang trí cảnh quan từ lâu,
do sự đa dạng về hình dáng, màu sắc và thời gian nở hoa (Dunwell, 2000) Ngoài ra hoa hiên được trồng để chống xói mòn đất dọc theo đường quốc lộ hoặc đập chắn (Garber, 2004) Hoa hiên có nhiều kích thước khác nhau số lượng hoa/ngồng nhiều (10-60 hoa/ngồng), mỗi thân có thể cho 1-3 ngồng hoa/một mùa Hoa hiên chủ yếu được sử dụng trồng thảm, trồng bồn, trồng viền (Ted L Petit and Dorothy J Callaway, 2008) Giá trị thương mại của hoa hiên năm 2002 trên thị trường Mỹ ước tính 571 triệu đô la (dẫn theo số liệu USDA, 2003) Đây là một trong những lý do hoa hiên là một trong những loại hoa trồng thảm được nghiên cứu nhiều nhất trên thế giới
Cho đến hôm nay đã có gần 75.000 giống được đăng ký tại American Hemerocallis Society - đây là cơ quan đăng ký chính thức của hoa hiên Nhiều giống mới đã được phát triển và giới thiệu hàng năm Do sự khan hiếm nên
Trang 28một số giống mới đã được bán với giá 100$ hoặc cao hơn, tuy nhiên vẫn có một số giống hiện đại có hoa đẹp lại có giá cả khá hợp lý Phần lớn các giống
mới được phát triển ở khu vực phía Nam nước Mỹ (Mary H Meyer, 2009)
Các giống hoa hiên có giá dao động từ 3$ đến 500$/cây Có hàng ngàn giống hoa hiên đẹp có giá cả khá hợp lý, chỉ từ 3$ đến 10$/cây Chỉ những giống hoa hiên mới nhất hay giống có tiến bộ đáng kể trong lai tạo có giá cao, dao động từ 100 $ đến 300$/cây Một số giống tứ bội gần đây với số lượng hạn chế trên thị trường đòi hỏi mức giá cao nhất
Ở Mỹ, việc mua bán các giống hoa hiên khá sôi động Dưới đây là bảng giá của một số giống hoa hiên được ưa chuộng ở Mỹ
Bảng 1.2 Giá bán một số giống hoa hiên được ưa chuộng ở Mỹ
1.3.2 Tình hình sử dụng hoa hiên ở Việt Nam
Ở Việt Nam hoa được biết đến chủ yếu với công dụng làm thuốc Dân gian hay dùng lá và hoa hiên nấu canh, dùng lá, rễ và nụ làm thuốc Hiện nay, người ta thường dùng hoa hiên dưới dạng hoa khô có thể bảo quản và sử dụng
Trang 29trong thời gian dài Giá bán hoa hiên khô Đà Lạt của công ty Thương mại Thảo dược Việt là 400.000 VNĐ/kg
Gần đây việc sử dụng hoa hiên trong trang trí cảnh quan đang dần được quan tâm bởi hoa hiên nở vào mùa hè mà trong thời gian này số lượng và chủng loại hoa trang trí trên thị trường kém phong phú, hoa hiên có nhiều ưu điểm so với các loài hoa khác như: thời gian nở hoa khá dài tập trung chủ yếu vào hè, số lượng hoa/ngồng từ 6-12 hoặc hơn (Nguyễn Thị Đỏ, 2007) (Phạm Hoàng Hộ, 2003) Trong nhiều năm trở lại đây, hoa hiên được trồng làm cảnh ở những nơi
có khí hậu mát, ẩm như Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Sapa (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng) Người ta thường trồng hoa hiên bằng gốc sau khi đã lấy củ Ở Hà Nội, khu đô thị Ciputra - Nam Thăng Long và khu đô thị Đặng Xá - Gia Lâm trong
3 năm trở lại đây đã triển khai sử dụng hoa hiên trong trang trí cảnh quan Hoa hiên được trồng trên các dải phân cách lớn hoặc trồng thành thảm hoa trang trí, kết hợp với các loại cây trồng tạo thành một cảnh quan hài hòa trong tổng thể Chủ yếu sử dụng giống hoa hiên màu vàng của Việt Nam Tuy đã có sử dụng hoa hiên trong trang trí, nhưng diện tích ở cả hai khu đô thị còn khá khiêm tốn Tại khu đô thị Đặng Xá diện tích này chỉ ở vào khoảng 13-15 m2, ở khu đô thị Ciputra diện tích lớn hơn, khoảng 20-25 m2 Một trong những lý do làm cho việc
sử dụng hoa hiên trong trang trí còn hạn chế là vì nguồn giống hoa hiên ở nước
ta còn ít, số loài còn hạn hẹp Mặt khác màu sắc hoa chưa đa dạng, giống phổ biến chỉ có loại màu vàng cơ bản Một vài năm gần đây hoa hiên cũng có mặt nhiều hơn trong các hộ gia đình, nhất là các dịp gần tết (Trần Thị Thơm, 2014)
1.4 Một số thành quả nghiên cứu trên hoa cây cảnh
1.4.1 Khảo sát tập đoàn, thu thập nguồn gen hoa cây cảnh tại Việt Nam
Đặng Văn Đông và Bùi Thị Hồng (2003) đã tuyển chọn ra một số giống hoa hồng có triển vọng như giống hoa hồng VR2, VR4, VR6 Đặc biệt là giống VR2 đã và đang được phát triển rộng rãi ngoài sản xuất
Trần Duy Quý (2004) đã nhập nội tập đoàn giống lily từ Đài Loan và
Hà Lan để khảo nghiệm trên một số vùng sinh thái trong nước Kết quả đã giới thiệu được 10 giống có triển vọng, gồm 6 giống lily thơm Acapulco, Aktiva,
Trang 30Almaata, Seberia, Sorbone, Atlantic và 4 giống lily không thơm Brunello, Amazone, Pollyana, Gironde
Năm 2005, Trung tâm Hoa cây cảnh – Viện Di truyền Nông nghiệp đã tuyển chọn được giống cúc CN19, CN20 trồng trong vụ đông và giống CN01 trồng trong vụ hè từ tập đoàn cúc nhập nội từ Hà Lan và Nhật Bản Hiện nay trong sản xuất các giống cúc này đang được trồng rộng rãi và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất
Theo đánh giá của Hoàng Ngọc Thuận (2006), các giống hoa hồng KS05 (Kiss), VN05 (vàng mới Ðà Lạt), PDD05 (Phấn đỏ), TX05 (Trắng xanh), PH05 (Phấn hồng), CV05 (Cá vàng) là các giống có khả năng sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện đồng bằng sông Hồng
Ðánh giá đặc điểm sinh trưởng của một số giống hoa hồng nhập nội, Mai Thị Ngoan (2009) kết luận: giống hoa hồng VR41 có khả năng sinh trưởng rất tốt: Tỷ lệ bật mầm và tỷ lệ mầm hữu hiệu cao, tốc độ tăng trưởng chiều dài cành và đường kính cành nhanh, có năng suất cao cho sản lượng 78.561 bông/1.000 m2/năm, chất lượng hoa tốt đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, hiệu quả kinh tế mang lại cao cho người sản xuất hoa
Nguyễn Mai Thơm (2009) tiến hành đánh giá tập đoàn hoa hồng nhập nội kết luận: Một số mẫu giống có màu sắc hoa mới lạ như nhung đen (Q6), trắng hồng viền đỏ (Q9), phấn hồng (JP30), vàng viền đỏ (JP31), … là những vật liệu quý phục vụ công tác chọn giống
Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số giống hoa lily nhập nội tại Mộc Châu – Sơn La, Đỗ Đức Hưng (2010) đã xác định 2 giống lyli Yelloween
và Tiber có khả năng sinh trưởng phát triển, chống chịu tốt và sinh trưởng ổn định tại Mộc Châu
Công tác nghiên cứu đánh giá đặc điểm sinh trưởng của các giống hoa cây cảnh rất có ý nghĩa trong thực tiễn cũng như nghiên cứu: Xác định được các giống có triển vọng phục vụ cho công tác lai tạo và sản xuất giống Có thể thấy ở Việt Nam hướng nghiên cứu này đã được tiến hành trên nhiều loài hoa
Trang 31cây cảnh khác nhau, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào thực hiện trên cây hoa hiên được công bố
1.4.2 Một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống hoa cây cảnh
1.4.2.1 Tình hình nghiên cứu về giá thể nhân giống tại Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo (1998) cho biết, việc xác định môi trường dinh dưỡng có ý nghĩa quan trọng Loại giá thể khác nhau có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống khi đưa cây con ra từ ống nghiệm Sử dụng giá thể trấu hun kết hợp phun EM đối với hoa loa kèn đưa ra từ ống nghiệm cho hiệu quả tốt nhất
Năm 2003 Hà Thị Thúy và cs, đã tiến hành thí nghiệm trồng củ lily in
vitro trên các loại giá thể khác nhau, gồm giá thể cát + mùn hòa lạc theo tỷ lệ 1:1 và bọt núi lửa + trấu hun theo tỷ lệ 2:1 Các tác giả đã kết luận giá thể bọt núi lửa cộng trấu hun tỷ lệ 2:1 là tốt nhất Trên giá thể này củ nảy mầm đồng đều, khỏe chất lượng tốt và tỷ lệ sống cao
Đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng của cành giâm cây hoa Trường xuân đỏ, tác giả Trần Hoài Hương (2008) kết luận: Phương pháp giâm cành trên nền đất phù sa + mùn rác + IBA 800 ppm + Champion 0,3% cho giống hoa Trường xuân đỏ đã làm tăng tỷ lệ ra rễ và tỷ lệ xuất vườn
Tiến hành thí nghiệm trên giống hoa lan huệ Hippeastrum apple
bloosom, Phạm Thị Minh Phượng và cộng sự (2014) kết luận: Sử dụng giá thể giâm mảnh củ được phối trộn gồm đất:cát:pectit (tỉ lệ 2:1:1 theo thể tích) rút ngắn thời gian tạo chồi (còn 28 ngày) và làm tăng chất lượng cây lan huệ (sau
4 tháng cây cao 26,2 cm, trung bình 5,2 lá/cây, đường kính củ 1 cm)
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sự phát sinh hình thái của vảy củ li ly sau giâm đến khi hình thành callus của Nguyễn Văn Tỉnh và cộng sự (2013) cho thấy: ở CT2 (100% xơ dừa) và CT6 (đất – xơ dừa – đất) là sớm nhất, chỉ sau 15 ngày sau giâm, CT5 (1/3 đất + 1/3 bã nấm +1/3 trấu hun)
là cao nhất 27 ngày, trong khi đó ở CT1 (100% đất) thời gian từ giâm đến hình thành callus là 25 ngày Như vậy, giá thể giâm có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng hình thành callus của vảy giâm, giá thể có độ tơi xốp là 100% xơ dừa và đất + xơ dừa giúp vẩy hình thành callus nhanh hơn
Trang 321.4.2.2 Tình hình nghiên cứu về phương pháp nhân giống vô tính cây có củ trên Thế giới và Việt Nam
- Tình hình nghiên cứu phương pháp nhân giống vô tính cây có củ trên Thế giới
Một số nghiên cứu của Robb (1957), Hackett (1969), Allen (1974), Anderson (1977), Novak and Petru (1981), Takayama and Wasama (1983),
Varshney et al (2000) đã kết luận rằng vảy củ loa kèn là vật liệu tốt nhất cho
quá trình tái sinh chồi trong nuôi cấy mô
Thí nghiệm của Janet et al (1977) đã thu được 10 chồi/mẫu cấy sau 8 tuần nuôi cấy khi sử dụng callus làm vật liệu nhân nhanh loài Hippeastrum spp E.N O’Rourke et al (1979) tiến hành nhân nhanh cây Hippeastrum
“Apple Blossom” bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào và kết quả cho thấy
hệ số nhân cao nhất thu được chỉ là 3,5 chồi/chồi ban đầu Để cải thiện hệ số
nhân, đến năm 1981 tác giả sử dụng củ nhỏ in vitro làm vật liệu nhân nhanh cây Hippeastrum “Apple Blossom” và hệ số nhân thu được đã tăng lên 100 chồi/củ ban đầu sau 26 – 28 tuần nuôi cấy
Năm 1991, O’Rourke et al đã cắt nhỏ củ in vitro tạo ra từ vảy củ đôi trên môi trường tạo củ của giống lan huệ “Apple Blossom” thành 2 hoặc 4
phần và tiếp tục nuôi cấy trong 10 -12 tuần Sau 26 -28 tuần nuôi cấy hệ số
nhân thu được là 100 chồi/mẫu Bằng phương pháp cắt củ này, Slabbert et al
(1993) thu được 700 – 1000 cây từ 1 củ ban đầu sau 12 tháng
Epharath et al (2001) đã sử dụng 7 phương pháp chẻ củ lan huệ, chia củ
mẹ thành 2, 4, 8, 12, 16, 33, 48 lát cắt, mỗi lát cắt đều mang một phần đế củ và giâm vào túi nilon có chứa chất khoáng bón cho cây Các túi này được đặt trong điều kiện nhiệt độ 23oC trong 4 tháng Kết quả cho thấy, khi cắt củ thành
48 phần thì số lượng chồi thu được là cao nhất, đạt 34 chồi/mẫu
Nhờ có sự phát triển của khoa học công nghệ nên việc nhân giống hoa hiên với số lượng lớn cũng được thực hiện dễ dàng qua phương pháp nuôi cấy
mô tế bào (Chu and Kurtz, 1990) Các nghiên cứu ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào nhân nhanh hoa hiên đã được tiến hành từ những năm 70 Năm
Trang 331972, Chen and Holden đã thành công trong việc tạo cây hoa hiên bằng
phương pháp nuôi cấy cánh hoa loài Hemerocallis fulva L Liu et al (2008) nghiên cứu nhân nhanh loài hoa H fulva trên các môi trường có nồng độ 6-BA
và NAA khác nhau Kết quả cho thấy môi trường thích hợp nhất cho sự ra rễ
có ½ MS + NAA 0,5 g/l + 30g đường và 8g agar
- Tình hình nghiên cứu phương pháp nhân giống vô tính cây có củ tại Việt Nam
Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào là phương pháp mới, hiện đại và đã được áp dụng trên nhiều đối tượng khác nhau Ninh Thị Thảo và
cs (2009) nghiên cứu và thực hiện quy trình nhân nhanh in vitro và thu được kết quả sau: Hệ số nhân đạt được cao nhất khi sử dụng chồi in vitro làm vật
liệu nhân nhanh là 1,50 chồi/mẫu trên môi trường bổ sung 0,5 mg/l IBA, trong khi đó sử dụng củ nhỏ để nhân nhanh trên môi trường chứa 5 mg/l BA thì hệ số nhân đạt được là 7,17 chồi/mẫu Đa số các chồi đều ra rễ (83,33%) trên môi trường chứa 1 mg/l IBA
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thu Cúc (2009), thì trên nguồn vật liệu đế củ mang 2 vảy củ cho tỉ lệ tái sinh cao gần như tuyệt đối ở cả 2 giống loa kèn đỏ nhung và lan huệ mạng Trên nguồn vật liệu đế củ không mang vảy củ, môi trường MS + 2mg/lBA và MS + 2mg/l BA + 0,5mg/l IAA là
thích hợp nhất cho sự tái sinh chồi in vitro giống hoa loa kèn đỏ nhung
Cho đến nay việc nhân giống vô tính ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào
phương pháp nuôi cấy mô tế bào in vitro (Ninh Thị Thảo và cs, 2009, 2010)
Phương pháp này có thể tạo hệ số nhân giống cao nhưng để thực hiện đòi hỏi
cơ sở nhân giống có sự đầu tư về tài chính, thời gian, kinh nghiệm và tay nghề người thực hiện do vậy khả năng áp dụng vào thực tế còn hạn chế
Nghiên cứu phương pháp chẻ củ đến khả năng nhân giống và chất lượng
cây lan huệ (Hippeastrum sp.), Phạm Thị Minh Phượng và cộng sự (2014) kết
luận: Phương pháp chẻ củ lan huệ thành 32 mảnh khi nhân giống cho hệ số
nhân cao (trung bình tạo ra 53,3 chồi/củ), chất lượng cây giống đảm bảo
Trang 341.4.2.3 Ứng dụng chế phẩm kích thích ra rễ trên hoa cây cảnh trên Thế giới
và Việt Nam
- Ứng dụng chế phẩm kích thích ra rễ trên hoa cây cảnh trên Thế giới
Năm 1992, Sanjaya khi nghiên cứu ảnh hwongr của 6 công thức xử lý chất điều tiết sinh trưởng là IBA, IAA, NAA, Biorota, Rootonef và đối chứng không xử lý, đã chỉ ra IBA có hiệu quả cao nhất trong việc nâng cao số lượng
rễ cũng như chiều dài rễ
Khi nghiên cứu hiệu quả của IBA đến sự ra rễ của cành giâm, Nong Kran đã nhận thấy rằng nồng độ 1000 ppm khi xử lý ở các kiểu cúc chùm và cúc đơn cho hiệu quả tốt nhất so với các nồng độ 3000 ppm và 8000 ppm
- Ứng dụng chế phẩm kích thích ra rễ trên hoa cây cảnh tại Việt Nam
Phạm Thị Minh Phượng và cs (2014) nghiên cứu về ảnh hưởng của các
chế phẩm kích thích ra rễ trên mảnh củ lan huệ (Hippeastrum sp.) kết luận: xử
lý mảnh củ lan huệ bằng chế phẩm kích thích ra rễ n3m (10g/l) trong 10 giây giúp rễ sớm xuất hiện, rễ nhiều và dài; cây con có chất lượng tốt
Tiến hành thí nghiệm các chất kích thích ra rễ n3m, roots 2, hợp chất ra
rễ 0,1DD và đối chứng không sử dụng chất kích thích ra rễ, Đỗ Trọng Hoàng (2009) kết luận: trong điều kiện tự nhiên không sử dụng thuốc kích thích ra rễ (ĐC) thì cành gấc giâm phát triển chậm hơn khoảng 10 ngày, nên sử dụng thuốc kích thích ra rễ sẽ rút ngắn được thời gian giảm chi phí; cành gấc giâm
có độ đồng đều cao hơn
Theo Nguyễn Mạnh Khải, Nguyễn Quang Thạch và thông tin KHKT rau hoa quả (1997), việc sử dụng các chế phẩm và chất kích thích sinh trưởng như SNG 1%, Atonik 0,5%, GA3 50ppm đều có tác dụng rõ rệt tới sự phát triển của cúc Vàng Đài Loan
1.4.3 Tình hình nghiên cứu hoa hiên trên Thế giới và Việt Nam
1.4.3.1 Tình hình nghiên cứu hoa hiên trên Thế giới
- Những nghiên cứu về nhiễm sắc thể
Hầu hết hoa hiên có bộ nhễm sắc thể lưỡng bội Một số loài phức hợp
loài H fulva (H fulva 'Europa', H fulva 'Kwanso', H fulva var paucijiora
Trang 35Hotta & Matsuoka, và H fulva var maculate Baroni) có bộ nhiễm sắc thể là tam bội (2n = 33) Vì trong tự nhiên không tìm thấy hoa hiên có bộ NST tứ bội
nên hoa hiên tam bội không thể được tạo ra từ tổ hợp lai hoa hiên tứ bội và hoa hiên lưỡng bội Chủ yếu là khả năng hoa hiên tam bội có nguồn gốc từ một tế bào trứng không giảm Theo Arisumi (1973) chỉ thu được 29 cây con tam bội trong 1,607 con lai giữa lưỡng bội và tứ bội Tỷ lệ tạo ra hoa hiên tam bội từ phép lai hoa hiên tứ bội và hoa hiên lưỡng bội là rất thấp, chỉ chiếm 1,8% Vì vậy, các nhà lai tạo quan tâm đến việc tạo ra cây tứ bội hơn cây tam bội bởi cây tứ bội có hoa to hơn, màu sắc đa dạng hơn, số lượng hoa nhiều hơn và thân cây to hơn các cây lưỡng bội và tam bội Biện pháp được sử dụng rộng rãi để
tạo cây tứ bội là xử lý bằng hoa chất colchicines (S.K.Gulia et al; 2009)
- Những nghiên cứu về màu sắc hoa hiên
Khi nghiên cứu về màu sắc hoa hiên, các nhà nghiên cứu thấy rằng màu sắc hoa là kết quả của ba sắc tố: chlorophyll, carotenoids và flavonoids Flavonoids có thể được chia thành copigments (không màu) và anthocyanins (màu) Chlorophyll là nằm trong chioroplasts trong tế bào chất của tế bào, carotenoids được chứa trong chromoplasts, trong khi flavonoid và betalains nằm trong không bào của tế bào Màu vàng và màu cam thường là do các sắc
tố carotenoid, trong khi màu xanh thường được cho là do anthocyanins, chlorophyll là quy định màu xanh lá cây Mỗi loại sắc tố là kết quả của một trình tự khác nhau của các phản ứng sinh hóa Việc sản xuất của mỗi sắc tố độc lập với các sắc tố khác Hầu hết màu sắc hoa hiên được quy định từ nhiều nguồn sắc tố (Griesbach and Batdorf, 1995)
Năm 1934, Vườn Bách thảo New York công bố ba giống hoa với màu hoa đỏ không giống với các loài hoang dã (Stout, 1942) Giống 'Theron' với
hoa màu đỏ sẫm được bắt nguồn từ H xaurantiaca, H fulva, và H flava
Giống ‘Red Bird’ với hoa đỏ tươi được tạo ra từ việc giao phối nhiều dạng độc
đáo của H fulva từ Chengtu và Kuling, Trung Quốc, với những bông hoa màu
cam-đỏ thay vì màu cam đặc trưng Giống 'Rosalind' có hoa màu đỏ hoa hồng
Trang 36được bắt nguồn từ giao phối ba dòng H fulva fm.rosea khác nhau (S.K.Gulia
et al, 2009)
- Những nghiên cứu về nhân giống hoa hiên
Nhân giống vô tính hoa hiên bằng phương pháp tách nhánh (thân) là phương pháp nhân giống đơn giản, dễ thực hiện, ít tốn kém và không cần sử dụng trang thiết bị đắt tiền (Dunwell, 1998) Tuy nhiên phương pháp tách nhánh cho hệ số nhân giống thấp Thông thường trong một năm số nhánh mới tạo ra từ một thân dao động từ 3 - 10 tùy thuộc từng giống/loài (Apps, 1995) thì người sản xuất cần thời gian khoảng 10 năm hoặc hơn thế nữa (Dunwell, 1998) Phương pháp phổ biến hiện nay là sử dụng một số loại hóa chất như benzyladenine (BA), benylamino purine (BAP), indolacetic axit (IAA) tưới và phun cho cây ở những thời điểm nhất định nhằm tăng số chồi và nâng cao hệ
số nhân
Ngoài phương pháp tách thân hay sử dụng hóa chất ra hoa hiên còn có thể nhân giống bằng một số phương pháp khác như chẻ thân (Erhardt, 1992) và keiki (chồi được tạo ra trên ngồng hoa) Ưu điểm của phương pháp này là cho
hệ số nhân giống cao, thời gian nở hoa sớm hơn so với phương pháp nhân giống khác (chỉ 12 tháng) (Dunwell, 1998)
Để nhân giống hoa hiên với hệ số nhân giống lớn, đáp ứng nhu cầu sử dụng hoa hiên trong trang trí cảnh quan ngày càng tăng người ta tiến hành nuôi cấy mô tế bào (Chu and Kurtz, 1990) Vật liệu khởi đầu cho nuôi cấy mô hoa hiên có thể là mầm hoa (Pounders và Garton, 1996), cánh hoa (Heuster and Apps, 1976), bầu nhụy (Krikorian and Kan, 1980, 2002, 2003) hoặc chỉ nhị (Gulia and Carter, 2007) Năm 1972, Chen and Holden đã thành công trong việc nhân giống cây hoa hiên bằng phương pháp nuôi cấy cánh hoa loài
Hemerocallis fulva L Tùy từng loài, từng vật liệu khởi đầu mà chọn các loại
môi trường nuôi cấy khác nhau Lemanska et al (2000) đã nghiên cứu ảnh
hưởng của auxin trong môi trường ra rễ cho cây hoa hiên giống H Stella d’Oro, chồi (cao khoảng 3 cm) được đưa vào môi trường MS với sự có mặt của NAA, IAA, IBA Kết quả trong 4 tuần, số lượng rễ ra cao và dài nhất trong
Trang 37môi trường có chứa IBA (0,5 -2,5 mg/l) Năm 2008, Liu và cộng sự đã nghiên
cứu nhân nhanh loài hoa hiên H fulva trên các môi trường có nồng độ 6-BA và
NAA khác nhau, kết quả cho thấy môi trường MS + 6-BA (1,0mg/l) + NAA (0,05 mg/l) + 30g đường và 8g agar thích hợp nhất cho sự hình thành mô sẹo Ngoài ra hoa hiên có thể nhân giống hữu tính từ hạt đây là phương pháp tạo vật liệu khởi đầu và cũng rất được quan tâm Các giống khác nhau thì số
lượng hạt/quả khác nhau, cá biệt có thể lên tới vài trăm hạt/quả như giống H
Lemon (Ted L Petit and Dorothy J Callaway, 2008)
- Những nghiên cứu về lai tạo hoa hiên
Từ đầu thế kỷ XX, lai tạo hoa hiên ngày càng trở nên phổ biến và hầu hết được thực hiện bởi những người không phải là nhà nhân giống cây trồng chuyên nghiệp Arlow Burdette Stout được coi là cha đẻ của hoa hiên hiện đại Năm 1929, giống lai đầu tiên của ông, “Mikado”, được công bố Ông còn là
người đầu tiên tiến hành nghiên cứu phân loại các loài trong chi Hemerocallis,
tuy nhiên kết quả của công trình nghiên cứu chưa được công bố thì ông đã qua đời Cho đến hôm nay đã có gần 75.000 giống được đăng ký tại American Hemerocallis Society- đây là cơ quan đăng ký chính thức của hoa hiên
Colchicine được phát hiện có khả năng gây đột biến đa bội vào năm
1937 Trong suốt những năm 1940 nó được sử dụng rộng rãi trong đột biến tạo cây hoa hiên tứ bội Năm 1947, "Brilliant Glow" là giống tứ bội đầu tiên được sản xuất bởi Robert Schreiner, một sinh viên tại Đại học Minnesota, bằng cách
xử lý lưỡng bội 'Cressida’ với colchicine
Chương trình nhân giống tứ bội lớn đầu tiên được bắt đầu vào năm 1955 bởi Robert A Griesbach tại Đại học DePaul ở Chicago, Illinois, và Orville Fay, một nhà hóa học đã nghỉ hưu Họ đã phát triển một phương pháp mới, ngâm hạt mới nảy mầm trong dung dịch colchicine trước khi trồng Phương pháp này thực hiện dễ hơn và hiệu quả hơn so với phương pháp xử lý toàn bộ
cây con của Schreiner, Buck, và Traub Theo Griesbach et al (1963): xử lý hạt
giống thì tần số xuất hiện thể tứ bội sẽ cao hơn Năm 1961, Fay và Griesbach
Trang 38đưa ra thị trường bốn giống tứ bội: Crestwood Ann , Crestwood Bicolor, Crestwod Evening , và Crestwood Lucy
1.4.3.2 Tình hình nghiên cứu hoa hiên ở Việt Nam
Ở Việt Nam các nghiên cứu về hoa hiên còn rất hạn chế và chủ yếu là các nghiên cứu về dược tính của cây hoa hiên sử dụng trong y học Từ năm
2012, bộ môn Rau Hoa Quả, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
đã tiến hành thu thập và nghiên cứu tập đoàn hoa hiên trong điều kiện Hà Nội
Trang 39Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện trên tập đoàn hoa hiên gồm các giống, mẫu giống được nhập nội từ Mỹ và thu thập từ 6 tỉnh thành ở Việt Nam:
Trang 40Các giống, mẫu giống này đã được thu thập và trồng trong điều kiện Gia Lâm, Hà Nội
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Giá thể: cát, trấu hun, đất, xơ dừa dạng bột
- Các chế phẩm kích thích ra rễ:
+ n3m: Sản phẩm của CTY TNHH Sinh Hóa Nông Phú Lâm Thành phần:
N 11%; P2O5 3%; K2O 2,5%; B 0,02% Cu; Zn; Mn; Fe mỗi loại 0,2% Phụ gia đặc biệt vừa đủ….100%
+ Nep: Sản phẩm của CTY TNHH SX-TM TOBA Thành phần: Trong 1gam N 5,98%; P2O5 2,10%; K2O 4,40%; Vitamin C 340mg; Vitamin B 530mg; phụ gia vừa đủ 1g
+ Atonik: Sản phẩm của ASAHI CHEMICAL MFG (Nhật Bản) Đóng gói
và phân phối: Công ty TNHH ADC Thành phần: Sodium – S – Nitrogualacolate 0,03 + Sodium – O – Nitrophenolate 0,06 % + Sodium – P – Nitrophenolate 0,09%
- Phân bón lá pomior 298, sản phẩm của Công ty Cổ phần Giống – Vật tư nông nghiệp Công nghệ cao Việt Nam
- Phân NPK đầu trâu 13-13-13+TE, sản phẩm của Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền Thành phần: đạm (N): 13%, lân (P2O5hh): 13%, kali (K2O): 13%, canxi (CaO): 1%, magiê (MgO): 0,6%, lưu huỳnh (S): 6%, sắt (Fe): 90ppm, kẽm (Zn):15ppm, đồng (Cu): 10ppm, Bo (B): 90ppm
- Thùng xốp đục lỗ, nilong đen, thước thẳng thước palme, kính hiển vi, một số hóa chất trong phòng thí nghiệm, một số vật tư nông nghiệp khác…
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Các thí nghiệm được thực hiện tại phòng thí nghiệm và nhà lưới số 1 Bộ môn Rau hoa quả, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam trong thời gian từ tháng 1/2014 đến tháng 3/2015
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá đặc điểm nông sinh học của tập đoàn hoa hiên: xác định số lượng nhiễm sắc thể trong tế bào chóp rễ và khả năng sinh trưởng, phát triển