Để đạt được mục tiêu kế hoạch đề ra những năm gần đây được sự quan tâm của Nhà nước đưa những giống có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất đồng thời áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRỊNH THỊ TÚ
KHẢ NĂNG SẢN XUẤT TRỨNG CỦA GÀ ISA BROWN
VÀ AI CẬP NUÔI TẠI XÃ YÊN TRƯỜNG, HUYỆN YÊN ĐỊNH,
TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI , NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRỊNH THỊ TÚ
KHẢ NĂNG SẢN XUẤT TRỨNG CỦA GÀ ISA BROWN
VÀ AI CẬP NUÔI TẠI XÃ YÊN TRƯỜNG, HUYỆN YÊN ĐỊNH,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Tú
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình chu đáo của thầy hướng dẫn GS.TS Đặng Vũ Bình, TS Đỗ Đức Lực trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy GS.TS Đặng Vũ Bình,
TS Đỗ Đức Lực và các thầy cô giáo ở Bộ môn Di truyền – Giống vật nuôi - Khoa Chăn nuôi, TS Đặng Thúy Nhung – Bộ môn Dinh Dưỡng – Thức ăn – Khoa Chăn nuôi – Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Tôi xin chân thành cảm ơn!
UBND huyện, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Yên Định đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học và hoàn thành luận văn
Sự quan tâm của các nhà khoa học, các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ và góp ý cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Bà Nguyễn Thị Vân và cán bộ kỹ thuật trang trại xã Yên Trường huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập
Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành các thầy cô giáo đã giúp chúng tôi nâng cao trình độ trong quá trình học tập
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Tú
Trang 5MỤC LỤC
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia cầm 15 1.2 Một số hiểu biết về gà ISA Brown và gà Ai Cập 17 1.2.1 Nguồn gốc, đặc điểm, tính năng sản xuất của gà ISA Brown 17 1.2.2 Nguồn gốc, đặc điểm, tính năng sản xuất của gà Ai Cập 18 1.3 Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội huyện Yên Định
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
Trang 62.1.3 Thời gian nghiên cứu 26
2.3.1 Đối với gà giai đoạn từ 1 đến 20 tuần tuổi 32
2.3.4 Tính toán giá thành chăn nuôi gà hậu bị, hiệu quả chăn nuôi gà mái đẻ 35
3.1 Tỷ lệ nuôi sống, khối lượng, giá thành nuôi gà hậu bị ISA Brown và gà
3.1.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà hậu bị giai đoạn từ 1- 20 tuần tuổi 37
3.1.3 Tính toán giá thành nuôi gà mái hậu bị ISA Brown và Ai Cập 41 3.2 Khả năng sinh sản của gà ISA Brown, Ai Cập 42 3.2.1 Tuổi thành thục sinh dục của gà ISA Brown, Ai Cập 42 3.2.2 Khối lượng cơ thể gà ISA Brown, Ai Cập ứng với từng tỷ lệ đẻ 44
3.2.4 Tỷ lệ đẻ, năng suất và sản lượng trứng 48
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CS : Cộng sự HQSDTĂ : Hiệu quả sử dụng thức ăn
Hu : Đơn vị Haugh
g : gam
KL : Khối lượng NTM : Nông thôn mới
TA : Thức ăn
TB : Trung bình TTTĂ : Tiêu tốn thức ăn XDNTM : Xây dựng nông thôn mới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà mái hậu bị từ 1-20 tuần tuổi(%) 37
3.5 Khối lượng gà mái tại các thời điểm đẻ trứng (g) 45
3.9 Tiêu tốn thức ăn để sản xuất 10 quả trứng 55 3.10 Chi phí thức ăn cho sản xuất trứng và giá bán trứng 58 3.11 Các chỉ tiêu chất lượng trứng gà ISA Brown, Ai Cập 59
Trang 9DANH MỤC HÌNH
3.2 Khối lượng gà hậu bị ISA Brown và Ai Cập 403.3 Khối lượng gà mái ở các thời điểm đẻ trứng 46
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cùng với chăn nuôi lợn, chăn nuôi gia cầm là nghề truyền thống lâu đời Ở nước ta chăn nuôi gia cầm đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế nông hộ, chiếm 19% tổng thu nhập nông hộ, xếp thứ hai sau chăn nuôi lợn Theo số liệu thống kê 1/10/2013 tổng đàn gia cầm cả nước đạt 314,75 triệu con, tăng 2,04% so với cùng kỳ, trong đó đàn gà đạt 231,76 triệu con, tăng 3,6% so với năm 2012 (Tổng cục thống kê, 2013) Do nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển, nhu cầu đời sống nhân dân ngày càng cao Vì vậy, phát triển chăn nuôi gia cầm không chỉ để thoả mãn về nhu cầu về thực phẩm mà còn phải đáp ứng được nhu cầu về chất lượng sản phẩm
Chăn nuôi gia cầm chiếm vị trí quan trọng trong chương trình cung cấp protein động vật cho con người Các sản phẩm trứng và thịt gia cầm có giá trị dinh dưỡng cao, tương đối đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng Trứng gia cầm có giá trị dinh dưỡng cao nhất trong tất cả các sản phẩm chăn nuôi, trong trứng có tới 12,5% protein, thịt gia cầm có 22,5% protein, trong khi đó ở thịt bò
là 20% protein và ở thịt lợn là 18% protein
Trên thế giới, các nhà khoa học đánh giá rất cao vai trò của trứng trong dinh dưỡng Cùng với sữa, lượng trứng tiêu thụ bình quân trên đầu người là một trong những chỉ số quan trọng đánh giá mức sống của người dân trong một xã hội văn minh Hiện nay, chỉ tiêu này của các nước phát triển là 280 - 300 quả/người/năm, còn ở nước ta, năm 2012 tiêu thụ trứng bình quân đầu người đạt 82,2 quả, năm 2013 tăng lên là 86,3 quả trứng/đầu người (Tổng cục thống kê, 2013) Nhu cầu sử dụng trứng trong nước và trên thế giới không ngừng tăng cao; tuy vậy, sản lượng trứng năm 2012 ở nước ta mới chỉ đạt 7,299 tỷ quả, năm 2013
là 7,75 tỷ quả Theo Nghị quyết số 10/2008/NQ – TTg, ngày 16/01/2008 của Chính phủ, đến năm 2015 nước ta phấn đấu sản lượng trứng đạt 11 tỷ quả và năm
2020 đạt khoảng 14 tỷ quả Mức tiêu thụ trứng trên đầu người đạt 116 quả /năm
2015 và đến năm 2020 đạt 140 quả/người/năm
Trang 11Vì có vai trò to lớn như vậy nên sản xuất trứng chiếm một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi gia cầm nói riêng Sản xuất trứng đang là hoạt động rất sôi động trong ngành chăn nuôi gia cầm nhằm tạo ra
sản phẩm để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của đời sống xã hội
Tiềm năng tiêu thụ trứng còn rất lớn do mức tiêu thụ trứng còn rất thấp chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của nước ta Để đạt được mục tiêu kế hoạch đề ra những năm gần đây được sự quan tâm của Nhà nước đưa những giống có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất đồng thời áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi nên năng suất, chất lượng đàn gia cầm ngày càng được nâng lên, mang lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân Nghề chăn nuôi gà từng bước mở rộng, từ mô hình sản xuất đơn giản với những giống gà ban đầu, tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp đến những trang trại chăn nuôi gà công nghiệp và bán công nghiệp quy mô vừa và lớn Nhà nước ta đã cho nhập một số giống gia cầm có năng suất, chất lượng sản phẩm tốt như: gà Lương Phượng, Leghorn, Goldline, Ai Cập, ISA Brown… nhằm đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người dân Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa chăn nuôi gà ISA Brown và Ai Cập đã được phổ biến khá rộng rãi, tuy nhiên chưa có báo cáo kết quả nghiên cứu nào về khả năng sản xuất của 2 giống gà này nuôi tại trang trại Để góp phần đánh giá đầy đủ khả năng sản xuất của gà ISA Brown, Ai Cập và lựa chọn phương pháp chăn nuôi hiệu quả, an toàn dịch
bệnh trong trang trại, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khả năng sản xuất trứng của gà ISA Brown và Ai Cập nuôi tại xã Yên Trường, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa”
2 Mục đích của đề tài
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, tính toán giá thành của gà mái ISA Brown và Ai Cập hướng trứng thương phẩm giai đoạn gà hậu bị nuôi tại xã Yên Trường huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa
- Đánh giá khả năng sinh sản và hiệu quả chăn nuôi gà mái ISA Brown và
Ai Cập sinh sản lấy trứng thương phẩm nuôi tại xã Yên Trường huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa
Trang 12- Trên cơ sở đó khuyến cáo cho người nông dân cách lựa chọn con giống, hướng nuôi con nào cho hiệu quả kinh tế cao nhất trong điều kiện chăn nuôi trang trại
3 Ý nghĩa của đề tài
- Nghiên cứu đánh giá một cách tương đối có hệ thống về một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển và khả năng sản xuất trứng của gà ISA Brown và Ai Cập nuôi tại xã Yên Trường huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa
- Cung cấp cho cán bộ quản lý và người chăn nuôi ở địa phương Thanh Hóa
và các tỉnh lân cận về khả năng sản xuất trứng của gà ISA Brown và Ai Cập nuôi tại trang trại để làm tài liệu tham khảo
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của các vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Tính trạng số lượng
Các tính trạng sản xuất của vật nuôi phần lớn là tính trạng số lượng Theo Nguyễn Văn Thiện (1995), tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó có sự sai khác nhau giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ cao hơn, là sự sai khác về chủng loại
Tính trạng số lượng còn được gọi là tính trạng đo lường vì sự nghiên cứu chúng sử dụng các phép đo lường, như mức độ tăng khối lượng của con vật, kích thước các chiều đo cơ thể, khối lượng trứng… hay tính trạng số lượng được xác định bằng cách đếm như số trứng đẻ ra trong năm, số trứng có phôi, số gà con nở
ra, số gà con loại I
Giá trị đo lường của tính trạng số lượng trên một cá thể được gọi là giá trị kiểu hình của cá thể đó, các giá trị có liên hệ với kiểu gen là giá trị kiểu gen và giá trị
có liên hệ với môi trường, là sai lệch môi trường
P = G + E
Trong đó:
P: là giá trị kiểu hình
G: là giá trị kiểu gen
E: là sai lệch môi trường
Giá trị kiểu gen được mô tả theo mô hình sau:
Trang 14Giá trị cộng gộp hay giá trị giống là tổng hiệu ứng các gen có trong các locus, giá trị cộng gộp còn gọi là giá trị giống
Sai lệch trội - lặn là sai lệch được sản sinh ra do tác động qua lại giữa các gen cùng alen ở trong cùng một loocus, đặc biệt là các alen dị hợp tử
Sai lệch tương tác giữa các gen (sai lệch át gen) khi kiểu gen là do từ 2 loocus trở lên cấu tạo thành lúc đó giá trị kiểu gen có thêm một sai lệch do tương tác của các gen không cùng một loocus Ngoài kiểu gen, môi trường có ảnh hưởng lớn đến tính trạng số lượng và được chia làm 2 sai lệch do môi trường Eg và Es
Es: Sai lệch môi trường đặc biệt là sai lệch do các nhân tố môi trường có tính chất không thường xuyên và cục bộ tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong cùng một nhóm vật nuôi Tóm lại, khi một kiểu hình của một cá thể được cấu tạo
từ 2 lôcus trở lên thì giá trị kiểu hình được biểu thị bằng:
P= A + D + I + Eg + Es
Qua việc phân tích trên ta thấy muốn nâng cao năng suất vật nuôi ta cần phải:
- Tác động về mặt môi trường (G)
- Tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc
- Tác động hiệu ứng trội (D) và át gen (I) bằng lai giữa các giống hoặc dòng
- Tác động về môi trường E bằng cải tiến điều kiện chăn nuôi như thức
ăn, thú y, chuồng trại, sinh thái xung quanh khu vực nuôi…
1.1.2 Khả năng sinh sản của gia cầm mái
Sinh sản là quá trình duy trì nòi giống tạo ra thế hệ sau Sự phát triển hay hủy diệt của một loài trước tiên phụ thuộc khả năng sinh sản của loài đó
1.1.2.1 Sinh lý sinh sản của gia cầm mái
Gia cầm là động vật đẻ trứng, con mái thoái hóa buồng trứng bên phải, chỉ còn lại buồng trứng và ống dẫn trứng bên trái tồn tại và phát triển Âm hộ gắn liền với tử cung và cùng nằm chung lỗ huyệt đảm bảo 3 chức năng chứa phân, nước tiểu và cơ quan sinh dục Khi giao phối gai giao cấu của con trống áp sát vào lỗ huyệt của con mái và phóng tinh vào âm hộ
Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào loại gia cầm, sự hình thành buồng trứng và tuyến sinh dục xảy ra vào thời kì đầu của phát triển phôi; chức
Trang 15năng chủ yếu của buồng trứng là tạo trứng Quá trình phát triển của tế bào trứng trải qua 3 thời kỳ tăng sinh, sinh trưởng và chín; trong giai đoạn phát triển lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bởi một tầng tế bào, tầng tế bào này phát triển thành nhiều tầng và tiến dần tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo này gọi là follicum, bên trong follicum có một khoang hở chứa đầy dịch, bên ngoài Follicum trống rỗng như một cái túi; trong thời kì đẻ trứng, nhiều Follicum chín dần làm thay đổi hình dạng buồng trứng trông giống như hình chùm nho Sau thời kỳ để trứng, buồng trứng trở lại hình dạng ban đầu, các Follicum trứng vỡ ra quả trứng chín chuyển ra ngoài cùng với dịch của Follicum và rơi vào phễu ống dẫn trứng, sự rụng trứng đầu tiên báo hiệu sự thành thục sinh dục
Buồng trứng nằm ở phía trái của xoang bụng, về phía trước và hơi thấp hơn thận trái, được đỡ bằng các nếp gấp của màng bụng từ trên xuống Nếp gấp khác của màng bụng nối nó với ống dẫn trứng Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào trạng thái chức năng và tuổi gia cầm Buồng trứng có chức năng tạo lòng
đỏ, các ống dẫn trứng có chức năng tiết ra lòng trắng đặc, lòng trắng loãng, màng
vỏ, vỏ và lớp keo mỡ bao ngoài và vỏ trứng Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20 – 24h, tế bào trứng tăng trưởng nhanh, đặc biệt là lòng đỏ
Lòng đỏ được tạo thành trước khi đẻ 9 – 10 ngày, trong thời kỳ sinh trưởng lớn dài 4 -13 ngày lòng đỏ chiếm 90 – 95% khối lượng tế bào trứng, thành phần chính gồm phôt pho lipit, mỡ trung hòa, các chất khoáng và vitamin; tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ không tương quan đến cường độ đẻ trứng Quá trình hình thành trứng và rụng trứng là một quá trình sinh lý phức tạp do sự điều khiển của hocmon, thời gian từ khi đẻ trứng đến khi rụng trứng tiếp theo kéo dài từ 15 – 75 phút
Sự rụng trứng được tính khi tế bào trứng rời khỏi buồng trứng rơi vào loa kèn Sự rụng trứng chỉ xảy ra một lần trong ngày, nếu gà đẻ trứng vào cuối buổi chiều (16h) thì sự rụng trứng thực hiện vào buổi sáng hôm sau Trứng được giữ lại trong ống dẫn trứng làm đình trệ sự rụng trứng tiếp theo Sự rụng trứng của gà thường xảy ra từ 2 giờ đến 14 giờ
Chu kỳ rụng trứng phụ thuộc vào các yếu tố: điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, lứa tuổi và trạng thái sinh lý của gia cầm Nếu thức ăn kém chất lượng, nhiệt độ
Trang 16không khí cao sẽ làm giảm sự rụng trứng và đẻ trứng Ví dụ, ở Xí nghiệp gà giống Lương Mỹ, Tam Dương vào mùa nóng (tháng 5 - 7) với nhiệt độ 35 - 400C thì sức đẻ trứng của gà ISA đã giảm 15 - 20% Gà nhiễm bệnh cũng hạn chế khả năng rụng trứng (Lê Huy Liễu và cs., 2003)
1.1.2.2 Cơ chế điều hoà quá trình phát triển và rụng trứng
Các hormon sinh dục của tuyến yên là FSH và LH kích thích sự sinh trưởng
và chín của trứng Nang trứng tiết ra oestrogen trước khi trứng rụng vừa có tác dụng kích thích hoạt động của ống dẫn trứng hoặc vừa ảnh hưởng lên tuyến yên ức chế tiết FSH và LH Như vậy tế bào trứng phát triển và chín chậm lại làm ngưng rụng trứng khi tế bào còn trong ống dẫn trứng hoặc tử cung (chưa đẻ)
Đàn gà mái mới đẻ trứng thường có tỷ lệ trứng hai lòng nguyên nhân là do FSH và LH hoạt động mạnh, kích thích một lúc hai tế bào trứng chín và rụng LH chỉ tiết vào buổi tối, từ lúc bắt đầu tiết đến khi rụng trứng khoảng 6 - 8 giờ Vì vậy việc chiếu sáng bổ sung vào buổi tối làm chậm tiết LH dẫn đến chậm rụng trứng từ 3 - 4 giờ Việc chiếu sáng bổ sung 3 - 4 giờ buổi tối thực chất là để gà đẻ
ổn định và tập trung vào khoảng 8 - 11 giờ sáng Nếu không đảm bảo đủ thời gian chiếu sáng 15 - 18 giờ/ ngày thì gà sẽ đẻ cách nhật và giảm năng suất trứng
Sự điều hoà sự rụng trứng là do yếu tố thần kinh thể dịch ở tuyến yên và buồng trứng phụ trách Ngoài ra còn có cả thần kinh cấp cao và vỏ bán cầu đại não tham gia quá trình này
1.1.2.3 Cơ chế điều hoà quá trình tạo trứng và đẻ trứng
Kích thích đầu tiên tới sự phát triển hệ thống sinh dục ở gà là các hormon hướng sinh dục từ tuyến yên, tiếp đó FSH kích thích nang trứng sinh trưởng phát triển, LH kích thích trứng chín và rụng Cuối cùng nang trứng tiết oestrogen kích thích sự phát triển và hoạt động của ống dẫn trứng Để điều hoà quá trình chín và rụng, tuyến yên tiết oxytoxin tăng cường co bóp cơ trơn ống dẫn trứng và tử cung, tiết prolactin ức chế hormon FSH và LH Sau khi trứng rụng, bao noãn co lại tiết progesteron duy trì hình thành trứng ở ống dẫn trứng và trạng thái hoạt động của nó Vì vậy, để điều chỉnh nhịp nhàng chức năng bộ máy sinh sản phải nhờ mối liên hệ khăng khít giữa tuyến yên và vùng dưới đồi
Trang 17Khả năng đẻ trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giống, tuổi đẻ, trạng thái sinh
lý, đặc điểm cá thể, điều kiện nuôi dưỡng và ngoại cảnh
Trong các yếu tố môi trường, ánh sáng có ảnh hưởng nhất đến sự phát triển chức năng sinh dục của gia cầm Dùng ánh sáng nhân tạo bổ sung cho gà đẻ sớm Tuy nhiên việc đẻ sớm có điều bất lợi vì gà chưa đạt khối lượng cơ thể, trứng đẻ ra
bé, chu kỳ đẻ sinh học ngắn, kết thúc đẻ sớm dẫn đến năng suất kém
Vì vậy trong chăn nuôi gia cầm đẻ trứng phải hạn chế thức ăn, ánh sáng để kéo dài tuổi thành thục về tính và thể vóc ở mức cho phép Ví dụ gà hướng trứng khi đạt khối lượng khoảng 1260g đối với gà mái, 1450g đối với gà trống ở 133 ngày tuổi Gà đẻ trứng giống thịt như ISA, AA phải nuôi hạn chế thức ăn đến 140 ngày, khối lượng sống đạt 2150g đối với gà mái, 2500g đối với gà trống sau đó mới cho ăn tăng để thúc đẻ
Thực hiện nghiêm ngặt chế độ dinh dưỡng gà hậu bị sẽ nâng cao sức đẻ trứng của gà đẻ, khối lượng trứng to, chất lượng trứng tốt, thời gian đẻ kéo dài Ví
dụ gà Leghorn có thể đẻ được 270 quả/ mái/ năm, gà ISA, AA đạt 180 - 185 quả/ mái/ 10 tháng đẻ
1.1.2.4 Tuổi thành thục sinh dục
Tuổi thành thục sinh dục là tuổi bắt đầu con vật có hoạt động sinh dục và có khả năng tham gia quá trình sinh sản Ở gà mái tuổi thành thục sinh dục là tuổi đẻ quả trứng đầu tiên đối với từng cá thể hoặc lúc tỷ lệ đẻ đạt 5% đối với mỗi đàn
(quần thể) gà (Pingel et al., 1980 dẫn theo Trần Thị Mai Phương 2004) Trong một
đàn gà mái chỉ tiêu này được xác định bằng tuổi đẻ 5% số cá thể trong đàn, tuổi đẻ quả trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm (Khavecman, 1972 dẫn theo Phạm Thị Minh Thu, 1996) Theo Siegel (1962) khối lượng cơ thể và cấu trúc thành phần cơ thể là những nhân tố ảnh hưởng đến tính thành thục ở gà màu
Tuổi thành thục về tính chịu ảnh hưởng của giống và môi trường Các giống
khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Pingel et al (1980) (dẫn theo
Trần Thị Mai Phương, 2004) cho rằng, tuổi thành thục sinh dục của gà khoảng 170 -
180 ngày, biến động trong khoảng 15 - 20 ngày Tuổi đẻ quá trứng đầu của gà Ri
135 - 144 ngày (Nguyễn Văn Thạch, 1996), gà Đông Tảo 157 ngày (Phạm Thị Hoà, 2004), gà Mía là 174 ngày (Nguyễn Văn Thiện và Hoành Phanh, 1999), gà
Trang 18xương đen Thái Hoà Trung Quốc 141 - 144 ngày (Vũ Quang Ninh, 2002) Kết quả nghiên cứu của Vũ Quang Ninh (2002) cho biết tuổi đẻ quả trứng đầu của gà
Ác Thái Hòa 152- 158 ngày; đạt tỷ lệ 50% lúc 195 – 198 ngày Phùng Đức Tiến
và cs (2001) chỉ ra rằng tuổi đẻ đạt tỷ lệ 5% của gà Ai Cập 145 – 160 ngày Nguyễn Thị Khanh và cs (2001), tuổi thành thục sinh dục của gà Tam Hoàng dòng 882 và Jaangcun lúc 154 và 157 ngày
Tuổi đẻ sớm hay muộn liên quan chặt chẽ đến khối lượng cơ thể ở một thời điểm nhất định Các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục sinh dục sớm là ngày, tháng nở của gà con (độ dài của ngày chiếu sáng), khoảng thời gian chiếu sáng tự nhiên hay nhân tạo, cũng như khối lượng cơ thể Sự biến động trong tuổi thành thục sinh dục có thể còn do các yếu tố khác có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển như chăm sóc, quản lý, thú y hay khẩu phần ăn cũng
có ảnh hưởng mạnh đến chỉ tiêu này (Jonhanson, 1972) Khối lượng gà mái thành thục và khối lượng trứng gà tăng dần qua từng thời điểm đẻ 5% và đẻ đỉnh cao
1.1.2.5 Năng suất trứng
Năng suất trứng là số trứng một gia cầm mái sinh ra trong một đơn vị thời gian Đối với gia cầm đẻ trứng, đây là chỉ tiêu năng suất quan trọng nhất, phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào giống, đặc điểm của cá thể, hướng sản xuất, mùa vụ và dinh dưỡng
Năng suất trứng có hệ số di truyền không cao, nhưng lại dao động lớn h2 = 0,12 - 0,3 (Nguyễn Văn Thiện, 1995) Theo Hutt (1946), hệ số di truyền năng suất trứng của gà Leghorn là 0,09 - 0,22, gà Plymouth là 0,25 - 0,41
Năng suất trứng của gà Đông Tảo/36 tuần đẻ đạt 67,71 quả/ mái (Nguyễn Đăng Vang và cs., 1999) Gà Tam Hoàng dòng 882 có năng suất trứng 130,62 - 146,4 quả/ mái/ năm (Trần Công Xuân và cs., 1999) Phùng Đức Tiến và cs (2001) nghiên cứu trên gà Ai Cập, công bố năng suất trứng từ 22 - 64 tuần đạt 158,4 quả/ mái
Gà hướng trứng thường có năng suất trứng rất cao, Nguyễn Huy Đạt
và cs (1996) cho biết gà Moravia và gà Goldline - 54 thương phẩm cho năng suất trứng/ mái/ năm đạt tương ứng 242 và 259 - 265 quả
Trang 19Giữa các dòng trong một giống, dòng trống có năng suất trứng cao hơn dòng mái, Bùi Quang Tiến và cs (1999), nghiên cứu trên gà Ross - 208 cho biết năng suất trứng/ 9 tháng đẻ của dòng trống đạt 106,39 quả dòng mái đạt 151,08 quả
1.1.2.6 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng
- Khối lượng trứng
Khối lượng trứng là một trong những chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng, khối lượng trứng của các loài khác nhau thì khác nhau, trứng gà 55 – 56g, trứng vịt 90 – 110g, trứng gà tây 110g, trứng ngỗng 110 – 180g Khối lượng trứng cũng là một chỉ tiêu để đánh giá về hiệu quả trong chăn nuôi gà lấy trứng, đồng thời khối lượng trứng cũng phản ánh sinh lực, sức sống của gia cầm non Ngoài yếu tố di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc vào các yếu tố như khối lượng
cơ thể mái khi thành thục sinh dục, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Hệ số di truyền
về khối lượng trứng khá cao h2 = 0,52
Theo Brandsch and Bilchel (1978), h2 = 0,48 - 0,8; theo Nguyễn Văn Thiện (1995) h2 = 0,6 - 0,74 Theo Wyatt (1953) h2 = 45 – 75; theo Lerner and Cruden (1951); theo Brandsch and Bilchel (1978) cho biết khối lượng trứng có hệ số di truyền cao hơn sức đẻ trứng, h2 = 0,52 nên dễ chọn giống Kết quả nghiên cứu của
Lê Hồng Mận và cs (1993) cho biết khối lượng trứng có tương quan âm với sản lượng trứng (r = 0,36), tương quan dương với tuổi thành thục sinh dục (r = 0,31)
Do đó, khối lượng trứng phụ thuộc vào mức chọn lọc; ở những dòng đã chọn lọc
kỹ, khối lượng trứng trung bình cao hơn dòng chưa chọn lọc 10 – 15
Khối lượng trứng tăng theo tuổi đẻ của gia cầm và sự thay đổi khối lượng trứng ứng với sự thay đổi khối lượng cơ thể Bùi Quang Tiến và cs (1999) nghiên cứu về gà Ross - 208 cho biết khối lượng trứng ở các tuần tuổi 27; 32; 38
và 42 lần lượt là: 53,96; 54,85; 56,76; 57,10 g/ quả đối với dòng trống và 52,41; 54,20; 56,38; 56,89 g/ quả đối với dòng mái
Orlov (1974) cho biết, trứng ấp nhận được từ một nhóm gà mái đẻ có khối lượng trứng trung bình sẽ cho kết quả ấp nở tốt
Trang 20- Hình dạng trứng
Trứng gia cầm có hình dạng phổ biến là hình ovan và được thể hiện qua tỷ
số giữa chiều dài và chiều rộng của trứng hay ngược lại Chỉ số này không biến đổi theo mùa (Bransch and Bilchel, 1978) Theo Ixmetnhiev (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994) trứng của cùng một mái đẻ ra, lúc còn non tròn hơn lúc gà mái đã già Trứng gia cầm có thể phân biệt rõ đầu to và đầu nhỏ, những trứng không có hình dạng như trên mà quá tròn, quá dài, thắt ngẫng ở giữa đều không được chọn làm trứng ấp do có ảnh hưởng không chỉ với cấu tạo, chất lượng vỏ trứng mà còn ảnh hưởng đến vị trí đĩa phôi Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, chỉ số hình dạng của trứng là một chỉ tiêu để xem xét chất lượng của trứng ấp, những quả trứng dài hoặc quá tròn đều có tỷ lệ nở thấp Theo Orlov (1974) – dẫn theo Bạch Thị Thanh Dân (1998), chỉ số hình dạng có ý nghĩa nhất định đến sự phát triển của phôi vì nó ảnh hưởng đến vị trí đĩa phôi khi ấp và vị trí này ảnh hưởng đến quá trình nở của gia cầm Theo Lê Hồng Mận và cs (1993) cho biết trứng gà Leghorn có chỉ số hình dạng 1,38; trứng gà Rhode-Island-Red và Leghor là 1,4 Nguyễn Huy Đạt và cs (1996) – trích dẫn theo Lê Thị Nga (2005) cho biết khi nghiên cứu xác định tính năng sản xuất của gà Goldline 54 cho thấy chỉ số hình dạng là 1,32 – 1,36
Nguyễn Quý Khiêm (1996) cho biết, trứng gà Tam Hoàng chỉ số hình dạng trung bình 1,24 – 1,39 cho tỷ lệ nở cao hơn so với nhóm trứng có chỉ số hình dạng nằm ngoài biên độ này
Như vậy, mỗi loài đều có chỉ số hình dạng đặc trưng và những trứng có hình dạng trung bình sẽ cho tỷ lệ nở cao; càng xa giá trị trung bình thì tỷ lệ nở càng thấp
- Độ dày vỏ trứng và mật độ lỗ khí
Vỏ trứng là lớp bảo vệ cho trứng tránh các tác động cơ học, tránh sự xâm nhập của vi khuẩn và còn là kho cung cấp canxi, photpho cho phôi phát triển, trao đổi chất trong quá trình ấp trứng; vỏ trứng được hình thành từ khi trứng nằm trong tử cung từ chất dịch nhầy cacbonatcanxi và cacboprotein Thời gian tạo vỏ nhầy 9 – 12 giờ trong khi đó tạo lòng trắng chỉ mất 3 giờ đó là kết quả công bố của Nguyễn Mạnh Hùng (1993)
Trang 21Theo Perdrix (1969); Card and Nesheim (1970) khi so với tổng khối lượng trứng thì vỏ chiếm 10 – 11,6%, lòng trắng chiếm 57 – 60 % và lòng đỏ chiếm 30 – 32%
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) – trích dẫn theo Lê Thị Nga (2005) trong vỏ theo tỷ lệ so với toàn bộ vỏ thì hơn 98% là vật chất khô, trong đó 95% là chất vô cơ, trong các chất vô cơ có khoảng 98% là canxi và 1% là photpho Chất lượng vỏ trứng được thể hiện qua độ bền vững và độ dày của vỏ trứng Nhiều nhà nghiên cứu cho biết độ dày vỏ trứng gà chịu ảnh hưởng của yếu
tố di truyền Marco (1982) – dẫn theo Bạch Thị Thanh Dân (1998) - cho biết hệ
số di truyền tính được là 0,3 – 0,6 ngoài ra độ dày vỏ trứng còn phụ thuộc vào môi trường, không khí, dinh dưỡng, stress… Tuy vậy, hệ số di truyền của vỏ trứng tương đối cao
Theo Perdrix (1969) – dẫn theo Bạch Thị Thanh Dân (1998) độ dày vỏ trứng gà là 0,229 – 0,373 mm Trên các vị trí của vỏ trứng độ dày không đồng nhất dày nhất vùng đầu nhỏ và mỏng nhất vùng đầu to của trứng Theo Bennett (1992) dẫn theo Lê Thị Nga (2005) độ dày của vỏ trứng có liên quan đến sự sống của phôi và kết quả ấp nở của chúng; trên bề mặt của vỏ trứng được bao phủ một lớp màng mỏng trong suốt gọi là cutin (90% protein là những sợi muxin đan xen
kẽ, một ít hydratcacbon và một ít mỡ Độ dày màng ngoài khoảng 0,005 – 0.01
mm Màng cutin vừa có tác dụng bảo vệ, vừa có tác dụng ngăn cản thoát hơi nước của trứng, khi mất lớp vỏ này nhìn quả trứng nhẵn bóng, đây là đặc điểm để phân biệt trứng mới và trứng cũ Trứng gà Mía ở tuần tuổi 38 có độ dày trung bình 0,33mm và độ chịu lực 2,88kg/cm2 (Trịnh Xuân Cư và cs., 2001)
Theo Nguyễn Huy Đạt và cs (2001) cho biết trứng gà Lương Phượng Hoa
ở 38 tuần tuổi có độ dày vỏ trung bình 0,35mm và độ chịu lực 4,46kg/cm2 Nguyễn Quý Khiêm (1996) cho biết trứng gà Tam Hoàng có độ dày vỏ trứng trung bình 0,34 – 0,37mm, độ chịu lực đạt 3,47kg/cm2
Trên bề mặt vỏ trứng có các lỗ khí có khả năng khuếch tán không khí các lỗ khí này cho phép nước bay hơi đi cũng như oxi từ bên ngoài thẩm thấu vào trong trứng, khí cacbonic từ tronh thoát ra Mặt trong lớp vỏ canxi rất gồ ghề gồm nhiều mỏm nhô ra khỏi bề mặt vỏ các mỏm này mềm hơn mặt ngoài và dễ hòa tan dưới tác dụng hóa học khi phôi phát triển, đây là nguồn cung cấp canxi, photpho cho phôi Vì vậy trong quá trình ấp nở trứng mỏng dần và dễ vỡ
Trang 22Qua nhiều nghiên cứu cho thấy các loài khác nhau có lỗ khí trên bề mặt khắc nhau và phân bố không đều Đầu to có biến động lỗ khí từ 77 – 144 lỗ/cm2, vùng giữa 106 – 131 và đầu nhỏ biến động 16 – 99 lỗ khí/cm2 Schuberth và Ruhland (1978) cho biết kết quả nghiên cứu của Raux trên cơ sở đã chứng minh được kích thước lỗ khí trên bề mặt trứng quá ít dẫn đến phá hoại trao đổi khí, có tới 7600 số lỗ khí trên bề mặt trứng, mật độ lỗ khí cũng phân bố không đều, đầu to
có mật độ lỗ khí nhiều hơn vùng giữa và đầu nhỏ, lỗ khí có kích thước 40 – 50 micromet; độ dày vỏ trứng và số lỗ khí có quan hệ chặt chẽ với nhau trứng mỏng
có số lỗ khí nhiều hơn trứng dày và ngược lại
Lớp tiếp giáp phía trong vỏ trứng là màng vỏ, gồm hai lớp dính sát nhau
và tách nhau ra ở đầu to gọi là buồng khí, lớp này cũng cho không khí đi qua, chất lượng vỏ trứng thể hiện ở độ bền, độ chịu lực, độ xốp Theo Nguyễn Huy Đạt (1991) độ chịu lực của vỏ trứng gà Leghorn nuôi tại Ba Vì là 2,60 – 3,04 kg/cm2 (dòng BVx) và 2,65 – 2,93 kg/cm2 (dòng BVy)
Mặc dù độ dày vỏ trứng có hệ số di truyền rất lớn (yếu tố di truyền), 70% canxi cần cho vỏ trứng lại lấy trực tiếp từ thức ăn, do vậy điều kiện ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng vỏ trứng như dinh dưỡng, nhiệt độ… Khi nhiệt độ tăng từ 20 – 30oc thì độ dày vỏ trứng giảm 6 – 10 %, không vỏ hoặc biến dạng theo Nguyễn Duy Hoan (1999) – dẫn theo Lê Thị Nga (2005)
- Chất lượng lòng trắng trứng
Lòng trắng trứng được tiết ra từ ống dẫn trứng, chứa nhiều chất dinh dưỡng và nước để cung cấp cho nhu cầu phát triển của phôi và bảo vệ phôi khỏi những tác động cơ học Lòng trắng trứng cấu tạo gồm hai lớp lòng trắng đặc và lòng trắng loãng, chất lượng lòng trắng được thể hiện qua chỉ số lòng trắng Chỉ
số này được tính dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa tỷ số chiều cao lòng trắng đặc
và đường kính của chúng Ngô Giản Luyện (1994) cho biết kết quả nghiên cứu của Toscovasev (1968) đã tính được hệ số di truyền của khối lượng lòng trắng là 0,22 – 0,27; tỷ lệ lòng trắng đặc/lòng trắng chiếm 62 – 64,5% Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) cho biết chất lượng lòng trắng cũng là một chỉ tiêu đánh giá
Trang 23chất lượng trứng Bạch Thị Thanh Dân (1998) cho biết kết quả nghiên cứu của Orlov (1974) cho rằng chỉ số lòng trắng càng lớn thì tỷ lệ nở càng cao và trên cơ
sở nghiên cứu được cho biết trứng mùa đông có chất lượng lòng trắng cao hơn mùa hè… Tác giả còn cho biết chỉ số lòng trắng cao quá 0,1 cũng không phải là tốt, trứng của gà mái tơ và gà mái già có chỉ số lòng trắng thấp hơn trứng của gà mái đang độ tuổi sinh sản, trứng để lâu chỉ số lòng trắng thấp hơn trứng mới đẻ
Trứng có chất lượng tốt khi đổ ra một mặt phẳng nhẵn thì lớp lòng trắng đặc gọn và còn giữ nguyên hình ovan bao quanh lòng đỏ Lớp này có màu hơi phớt xanh hoặc màu vàng cam, lớp lòng trắng loãng ở ngoài có giới hạn rõ ràng và cũng giữ hình ovan, tuy loãng nhưng vẫn có độ dày và không chảy thành dòng Dây chằng ở
vị trí giữa theo chiều dọc trục lớn của quả trứng
Trứng có chất lượng kém quan sát thấy lòng trẵng loãng không màu hoặc màu đục, lòng trắng không giữ được hình dạng, chảy loang rộng ra và dây chằng nằm ở vị trí khác nhau Theo Marco (1982), hệ số di truyền của khối lượng lòng trắng h2 = 0,22 – 0,78 Orlov (1974) cho biết chỉ số lòng trắng trứng gà về mùa đông cao hơn mùa xuân và mùa hè, ở giống gà nhẹ cân chỉ số này không dưới 0,09 và giống kiêm dụng khoảng 0,08 Nguyễn Huy Đạt và cs (2001) cho biết trứng gà Lương Phượng Hoa có chỉ số lòng trắng và lòng đỏ ở 38 tuần tuổi tương ứng là 0,14 và 0,53; ở 60 tuần tuổi tương ứng là 0,091 và 0,49
Chất lượng lòng trắng còn được đánh giá bằng đơn vị Haugh là mối quan
hệ giữa chiều cao lòng trắng đặc và khối lượng trứng Đơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt Đơn vị Haugh bị ảnh hưởng bởi thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm mái (gà càng già trứng có đơn vị Haugh càng thấp), bệnh tật, nhiệt độ, thay lông (sau thay lông đơn vị Haugh cao hơn trước thay lông) và giống Ngô Giản Luyện (1994) cho biết kết quả nghiên cứu của Xargava (1977) ở trứng ấp có chất lượng lòng trắng tốt cần có đơn vị Haugh từ 75 – 90
Nguyễn Huy Đạt và cs (2001) cho biết trứng gà Lương Phượng Hoa có chỉ số Haugh ở 38 tuần tuổi đạt 94,4 và 60 tuần tuổi đạt 91,1
Trang 24- Chất lượng lòng đỏ
Lòng đỏ là tế bào trứng của gia cầm có dạng hình cầu, đường kính khoảng
35 – 40mm và được bao bọc lớp màng lòng đỏ rất mỏng Màng có tính đàn hồi vừa giữ cho tế bào trứng ở dạng hình cầu, vừa có tính thẩm thấu chọn lọc để thực hiện việc trao đổi chất giữa lòng trắng trứng và lòng đỏ; chất lượng lòng đỏ được xác định thông qua chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng đỏ là tỷ số chiều cao lòng đỏ và đường kính của nó; trứng có chỉ số lòng đỏ cao sẽ cho kết quả ấp nở cao Chỉ số lòng đỏ biến đổi còn phụ thuộc vào mùa vụ, tuổi gia cầm, sức sản xuất và điều kiện nuôi dưỡng Theo Ngô Giản Luyện (1994),chỉ số lòng đỏ của trứng gà tươi
là 0,40 – 0,42 Theo Nguyễn Quý khiêm (2003) – trích dẫn theo Lê Thị Nga (2005) chỉ số lòng đỏ giảm còn 0,33 chứng tỏ lòng đỏ đã bị biến dạng
Theo Card và Nesheim - dẫn theo Ngô Giản Luyện (1994), chỉ số lòng đỏ của trứng gà khoảng 0,4 – 0,42
Hệ số di truyền chất lượng lòng đỏ là 0,43 (Marco, 1982) – trích theo Bạch Thị Thanh Dân (1998) vì vậy nếu được chọn lọc nó sẽ cho kết quả ấp nở cao Chỉ số lòng đỏ ít biến đổi hơn lòng trắng, nó bị giảm còn 0,25 – 0,29 nếu tăng nhiệt độ môi trường và bảo quản lâu
Chất lượng lòng đỏ còn có một chỉ tiêu cần xác định đó là tỷ lệ lòng trắng/lòng
đỏ, chỉ tiêu này càng hẹp chất lượng trứng càng tốt Tỷ lệ lý tưởng giữa lòng trắng và lòng đỏ từ 1,8 – 2,0 Orlov (1974) – Trích theo Bạch Thị Thanh Dân (1998) cũng cho biết trứng có tỷ lệ lòng trắng/lòng đỏ nhỏ hơn 2 cho kết quả ấp nở tốt
Màu sắc của lòng đỏ phụ thuộc vào lượng sắc tố trong máu, lượng caroten trong thức ăn Nói chung, màu lòng đỏ ổn định trong suốt thời gian đẻ nếu thay đổi thành phần và khẩu phần ăn, đặc biệt là khẩu phần nhiều caroten thì màu lòng đỏ cũng thay đổi đậm hơn Tuy nhiên màu sắc không biểu hiện đầy đủ thành phần dinh dưỡng của lòng đỏ mà chỉ là đặc điểm hấp dẫn người tiêu dùng
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia cầm
Khả năng sinh sản của gia cầm phụ thuộc vào hai yếu tố chủ yếu là yếu tố
di truyền và ngoại cảnh
Trang 251.1.3.1 Yếu tố di truyền
Theo nghiên cứu của nhiều tác giả, việc sản xuất trứng của gia cầm do 5 yếu tố ảnh hưởng mang tính di truyền đó là tuổi thành thục sinh dục, cường độ đẻ trứng, bản năng đòi ấp, thời gian kéo dài của chu kì đẻ
- Tuổi thành thục sinh dục: Tuổi thành thục sinh dục liên quan đến năng suất trứng của gia cầm, thành thục sớm là một tính trạng mong muốn tuy nhiên cần chú ý đến khối lượng cơ thể Tuổi bắt đầu đẻ và kích thước cơ thể có tương quan nghịch, chọn lọc theo hướng tăng khối lượng quả trứng sẽ làm tăng khối lượng
cơ thể gà và tăng tuổi thành thục sinh dục Tuổi thành thục sinh dục xác định qua tuổi đẻ quả trứng đầu tiên Tuổi thành thục sinh dục của một nhóm hoặc một đàn gia cầm được xác định theo tuổi đạt tỷ lệ đẻ là 5% Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục sinh dục của gia cầm loài, giống, dòng, hướng sản xuất, mùa
vụ nở, thời gian chiếu sáng, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc quản lý
- Cường độ đẻ: Do 2 cặp gen R – r và R’ –r’ phối hợp cộng lại để điều hành, cường độ đẻ trứng càng cao thì sản lượng trứng càng cao và ngược lại
- Bản năng đòi ấp: Do 2 gen A và C điều khiển, phối hợp với nhau Nếu phản xạ đòi ấp mạnh thì năng suất trứng ít do thời gian đẻ trứng ngắn Theo King và Hauddersson (trích theo Trần Đình Miên, 1981) hệ số di truyền của bản năng đòi ấp là 31% Tuy nhiên, nó còn phụ thuộc yếu tố ngoại cảnh như thức ăn, nhiệt độ cao, bóng tối, sự có mặt của gia cầm con… đều tạo điều kiện kích thích sự ham ấp và nghỉ đẻ
- Thời gian kéo dài của chu kì đẻ:
Chu kì đẻ trứng sinh học liên quan tới thời vụ nở của gia cầm con Tùy thuộc vào thời gian nở mà bắt đầu và kết thúc của chu kì đẻ trứng sinh học có thể xảy ra trong thời gian khác nhau trong năm Ở gà, chu kì này thường kéo dài một năm; gà tây, vịt và ngỗng chu kì thường ngắn hơn và theo mùa Chu kì đẻ trứng sinh học có mối tương quan thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng
và chu kì đẻ trứng Giữa sự thành thục và thời gian kéo dài chu kì đẻ trứng sinh học có tương quan nghịch rõ rệt Các cá thể có sự khác nhau về bản chất di truyền của thời điểm kết thúc năm sinh học, điều này cho phép tiến hành chọn lọc theo sự đẻ trứng
Trang 26ổn định và do đó nâng cao năng suất trứng của cả năm, giữa thời gian kéo dài đẻ trứng và sức sản xuất trứng có hệ số tương quan dương rất cao Lerner and Taylor (1943) cho rằng thời gian kéo dài chu kì đẻ trứng là yếu tố quyết định năng suất trứng
Sau mỗi chu kì đẻ trứng sinh học gia cầm thường nghỉ đẻ và thay lông Trong điều kiện bình thường thay lông lần đầu tiên là đặc điểm quan trọng để đánh giá gia cầm đẻ tốt hay xấu, những gia cầm thay lông sớm thường đẻ kém và thời gian thay lông kéo dài 4 tháng Ngược lại nhiều gia cầm thay lông muộn và nhanh, thời gian nghỉ đẻ dưới 2 tháng
1.1.3.2 Yếu tố ngoại cảnh
Các chế độ dinh dưỡng, ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ, không khí của chuồng nuôi,
… đều ảnh hưởng đến sản lượng trứng, tỷ lệ phôi, tỷ lệ nở, đến sức khỏe đàn bố mẹ Yếu tố dinh dưỡng quan trọng là protein, vitamin sau đó đến muối khoáng, một số chất có hoạt tính sinh học…
Gia cầm rất mẫn cảm với nhiệt độ và ẩm độ Khi nhiệt độ thấp thì nhu cầu tiêu thụ thức ăn cao để dùng cho việc sưởi ấm, khi nhiệt độ cao thì giảm mức tiêu thụ thức ăn thì không đáp ứng được nhu cầu gia cầm Theo các nghiên cứu khi nhiệt độ môi trường thay đổi thì nhu cầu năng lượng thay đổi 1,4%, độ ẩm quá cao (>80%) làm không thoát được khí độc trong chuồng nuôi dẫn đến chuồng nuôi ngột ngạt nếu kéo dài tình trạng này thì gia cầm sẽ bị ảnh hưởng đường hô hấp Độ
ẩm quá thấp (<30%) làm cho gia cầm mổ lông, cắn đuôi nhau gây ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng sản xuất của gia cầm Chế độ chiếu sáng là yếu tố bên ngoài quan trọng nhất ảnh hưởng đến sản lượng trứng với gà đẻ chế độ chiếu sáng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính, cường độ đẻ trứng Vì chế độ chiếu sáng ảnh hưởng đến hypothalamus
1.2 Một số hiểu biết về gà ISA Brown và gà Ai Cập
1.2.1 Nguồn gốc, đặc điểm, tính năng sản xuất của gà ISA Brown
Theo Võ Bá Thọ (1996), ISA Brown là giống gà chuyên trứng, đẻ trứng màu nâu của Viện Chọn giống vật nuôi (Institut de selection animal) viết tắt là ISA của Pháp Năm 1986 Xí nghiệp liên hợp giống gia cầm I, thuộc liên hiệp xí nghiệp gia
Trang 27cầm có nhận một số trứng gà ISA Brown do Việt kiều ở Pháp gửi về để ấp nuôi thử Đàn gà này được nhận xét tốt do có màu trứng đẹp, vỏ trứng dày, năng suất
đẻ cao, thích nghi với phương thức nuôi đơn giản ở Việt Nam Cuối năm 1990 và giữa năm 1991, Công ty gia cầm thành phố Hồ Chí Minh đã nhập gà bố mẹ ISA Brown Gà bố có màu lông nâu đỏ, gà mẹ có màu lông trắng
Gà con thương phẩm tự phân biệt giới tính qua màu lông: Con mái có màu nâu đỏ giống bố, con trống có màu trắng giống mẹ
ISA Brown là một dòng được phát triển cho chăn nuôi gà theo quy mô công nghiệp Gà có tầm vóc trung bình và lông màu nâu Đây là dòng đẻ trứng rất tốt, tỷ lệ đẻ lúc đạt cao nhất là 96%, và không bị nghỉ đẻ theo mùa Một ưu điểm rất lớn của dòng này là năng suất đẻ trứng của gà cao hơn hẳn so với các giống đẻ trứng khác
Theo tài liệu kỹ thuật của ISA (1993), một số chỉ tiêu của gà đẻ thương phẩm ISA Brown đạt như sau:
Tỉ lệ nuôi sống từ 1 ngày đến 20 tuần tuổi là 98% và từ 20 tuần tuổi đến
78 tuần tuổi là 93,3% Sản lượng trứng thay đổi qua các tuần tuổi từ 20-72 tuần tuổi là 303 quả/ năm và từ 20-76 tuần tuổi là 320,6 quả/ năm Khối lượng trứng cũng thay đổi qua các tuần tuổi, vào tuần tuổi thứ 24 là 56g/quả, tuần tuổi thứ 35
là 62g/quả và 72 tuần tuổi: 65g/quả
Khối lượng gà mái lúc bắt đầu đẻ là 1, 7kg/con Gà bắt đầu đẻ bói vào tuần tuổi thứ 19, tỷ lệ đẻ 50% vào tuần thứ 21, tỷ lệ đẻ đạt đỉnh cao (93%) tuần thứ 26 - 33, và tuần 76 còn lại 73% (Võ Bá Thọ, 1996)
1.2.2 Nguồn gốc, đặc điểm, tính năng sản xuất của gà Ai Cập
Gà Ai Cập có nguồn gốc từ một giống gà cổ đại tại thành phố Fayoumi (Ai Cập) được tạo ra để sản xuất trứng; chúng có khả năng thích ứng rộng rãi và khả năng sản xuất ổn định trong khí hậu nhiệt đới và nuôi thả ở các nước đang phát triển (Negussie, 1999; Yasminetal, 2002) – trích dẫn theo Nguyễn Thị Mười (2006) Trong chuyến viếng thăm và làm việc ở Ai Cập tháng 4/1997, Chính phủ Ai Cập đã tặng nguyên Bộ trưởng Nguyễn Công Tạn trứng gà giống thả vườn (Fayoumi) nuôi ở vùng nông thôn Số lượng trứng giống này đã giao cho Trung tâm
Trang 28nghiên cứu gia cầm Thụy Phương – Viện Chăn nuôi ấp chọn lọc và nhân đàn, gà
Ai Cập ở Việt Nam ra đời từ đó
Gà Ai Cập là giống gà thả vườn hướng kiêm dụng trứng thịt có nguồn gốc
từ nước Ai Cập, đã thuần hóa ở Việt Nam nhiều năm nay, được công nhận dòng thuần năm 2004; gà trưởng thành có bộ lông hoa mơ đen đốm trắng, đầu và cổ lông màu trắng, mào cờ, chân chì Gà Ai Cập có sức đề kháng tốt, tỷ lệ nuôi sống cao 97 – 98%, có khả năng thích nghi ở các vùng sinh thái khác nhau, năng suất trứng khá cao đạt 200 quả/ năm
1.3 Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Yên Định là huyện đồng bằng, nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hoá trên trục Quốc lộ 45, cách thành phố Thanh Hoá 28 km, nằm trong toạ độ địa lý: Từ 19056 đến 20005 vĩ độ bắc và từ 105029 đến 105046 độ kinh đông
Với ranh giới hành chính:
- Phía Bắc giáp các huyện: Cẩm Thuỷ, Vĩnh Lộc
- Phía Nam giác các huyện: Thọ Xuân, Thiệu Hoá
- Phía Tây giáp huyện: Ngọc Lặc
- Phía Đông giáp các huyện: Thiệu Hóa
Toàn huyện có 29 đơn vị hành chính gồm 27 xã và 02 thị trấn
Huyện Yên Định có diện tích tự nhiên 21.647,9 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 13.423,2 ha chiếm 62,01% so với tổng diện tích đất của cả huyện; đất phi nông nghiệp (đất ở, đất chuyên dùng, ) 6.892,08,5 ha; còn lại 1.332,66
ha là đất chưa sử dụng
1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Yên Định có 41.682 hộ với 167.068 nhân khẩu, tổng số lao động là 94.005 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm tới 60.194 người, bằng 36,0% dân
số toàn huyện
Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế - xã hội của huyện đã tiến triển
rõ nét, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức khá, cơ cấu kinh tế đã có những bước
Trang 29chuyển biến tích cực, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện
Trong lộ trình XDNTM, Yên Định là một trong những huyện đi đầu của tỉnh
về thực hiện các tiêu chí, định hướng đến năm 2015 Yên Định cơ bản trở thành huyện đạt chuẩn nông thôn mới Các hoạt động y tế, văn hóa, giáo dục luôn được quan tâm phát triển sâu rộng Các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, từ thiện nhân đạo, xóa đói giảm nghèo được thực hiện kịp thời, hiệu quả Đời sống đại bộ phận gia đình nông dân được cải thiện Các gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng đều có mức sống từ trung bình trở lên so với cộng đồng dân cư
Năm 2013, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Yên Định đạt 16,95%, đời sống của nhân dân tiếp tục được ổn định và nâng cao, các hoạt động văn hóa – xã hội tiếp tục được đẩy mạnh, chất lượng, hiệu quả
Ngành chăn nuôi của huyện có bước phát triển khá, tốc độ tăng trưởng đạt 14,07% Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đạt 46,67% Chất lượng giống, kỹ thuật chăn nuôi đã được cải thiện, nhất là chăn nuôi lợn, bò, gia cầm Phương thức chăn nuôi trang trại được quan tâm, các chính sách của tỉnh và huyện đã và đang kích thích và hỗ trợ người chăn nuôi đầu tư phát triển Tuy nhiên ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm về cơ bản vẫn là quy mô nhỏ, phân tán và tận dụng; tính bền vững chưa cao; chăn nuôi trang trại chưa có sự quy hoạch đồng bộ giữa các đơn vị trên địa bàn huyện
Theo số liệu thống kê 1/10/2013: Toàn huyện có 28.530 con trâu bò, 56.136 con lợn, 1.278.000 con gia cầm, sản lượng trứng đạt 32.900.000 quả/năm, trong đó đàn gà là 1.032.700 con( gà sinh sản là 266.400 con)
1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.4.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Ngành chăn nuôi gà của thế giới trong thời gian qua đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh nhờ có sự tiến bộ vượt bậc về khoa học và công nghệ trong lĩnh vực chọn lọc, lai tạo giống, thức ăn, thú y và chuồng trại và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng
Nếu như trong thập niên 60 – 70 người ta sử dụng các tổ hợp lai 2 giống hoặc 2 dòng và đến thập niên 80 là những tổ hợp lai 3 dòng thì trong những năm gần đây, các tổ hợp lai chéo đã bao gồm nhiều dòng (4, 6 hoặc 8 dòng) và đã tận
Trang 30dụng một cách triệt để ưu thế lai của các dòng bố mẹ, tạo ra những sản phẩm có năng suất cao Hiện nay có nhiều giống gà nổi tiếng của các hãng sản xuất lớn đã được nuôi phổ biến rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới như: Arbor Acres, Avian, Cobb, Hybro, Lohman meat, Ross, ISA những giống gà chuyên thịt lông trắng
mà bố mẹ có thể sản xuất 150 – 160 gà con/ mái Gà thịt thương phẩm 35 – 42 ngày tuổi đã đạt khối lượng 2,0 – 2,3 kg, tiêu tốn thức ăn 1,7 – 1,9 kg thức ăn cho
1 kg tăng khối lượng Những giống gà chuyên trứng vỏ trắng hoặc vỏ nâu với năng suất 310 – 340 quả trứng/ mái/ năm, tiêu tốn 2,0 – 2,2 kg thức ăn cho 1 kg trứng
Ở Pháp, Công ty Sacso đã tiến hành nhân giống, chọn lọc, lai tạo và đã tạo
ra giống gà Sacso có khả năng thích nghi cao, dễ nuôi ở các điều kiện nóng ẩm, sức kháng bệnh tốt, chất lượng thịt thơm ngon
Ở Israel, Công ty Kabir đã tạo ra giống gà Kabir từ con lai của giống gà địa phương Sinai có sức chịu nóng cao với gà White Leghorn-Plymouth; hiện nay Công ty Kabir tạo ra 28 dòng gà chuyên thịt lông trắng và lông màu
Ở Trung Quốc Công ty Gia cầm Bạch Vân đã sử dụng gà trống Thạch Kỳ gốc Quảng Đông cho phối với mái Kabir tạo ra giống gà Thạch Kỳ tạp, từ Thạch Kỳ tạp tiếp tục cho lai với gà Giang Thôn tạo thành gà Tam Hoàng có sức sinh trưởng
và hiệu quả sử dụng thức ăn cao, chất lượng thịt thơm ngon, gà Tam Hoàng có 2 dòng nổi tiếng là Jangcun và dòng 882 Gà Lương Phượng hay còn gọi là Lương Phượng Hoa có xuất xứ từ ven sông Lương Phượng do xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh tỉnh Quảng Tây Trung Quốc lai tạo ra sau 20 năm nghiên cứu Ngoài ra còn có các giống như gà Lô Hoa, gà Long Phượng, gà Ma Hoàng; các giống gà này hiện được nuôi phổ biến ở các trang trại và các vùng nông thôn Trung Quốc
Rahman et al (2003) cho biết năng sản xuất trứng của gà lai (Rhode -
Islandred) x Fayoumi trong điều kiện chăn nuôi chuyên sâu ở Bangladesh Tác giả cho biết năng suất trứng của gà lai trống Fayoumi x mái RIR được cải thiện đáng kể so với công thức lai ngược nhưng tuổi bắt đầu vào đẻ, tỷ lệ chết và tiêu thụ thức ăn không có sự sai khác
Mehner (1967) cho biết gà da đen, thịt đen, xương đen là giống gà có từ lâu đời do Marco Polo phát hiện từ thế kỷ 13 ở Trung Quốc, giống gà này có sự đột
Trang 31biến ngẫu nhiên giữa các giống gà hoặc có thể từ gà hoang; các nghiên cứu chủ yếu tập trung giới thiệu công dụng của thịt gà đen, xương đen Theo ông giới hạn gen của giống gà này có thể trên cơ sở biểu hiện bên ngoài ở sự suy thoái đồng hợp tử và
từ đó chúng tiếp tục được ghép phối cận huyết, dựa trên cơ sở nguồn gen của chúng
là đồng hợp tử lặn Theo ông các giống gà Opinhtons, Wyand; Minorkas gà da đen, thịt đen, xương đen đều mang gen lặn màu lông trắng kiểu hình biểu hiện bên ngoài của lông gà trưởng thành không có sự khác nhau giữa màu lông trắng trội hay lặn; việc xác định chỉ có thể dựa trên cơ sở lai phân tích Ở gà con nếu mang gen trắng trội có biểu hiện màu lông hơi vàng hơn gà mang gen trắng trội
Triệu Xương Đình và Vương Tuyền (2001) cho biết có một số giống gà da đen, thịt đen, xương đen được gọi tên theo vị trí địa lý như gà Thái Hòa; gà Hắc Phượng (lông đen); gà Dư Can (lông đen); gà Giang Sơn (lông trắng); gà Kim Dương (lông tơ trắng); gà Tuyết Phong (có cả lông đen tuyền, lông trắng và màu lông tạp) Khối lượng cơ thể của các giống gà này có khác nhau đôi chút nhưng nhìn chung đều có khối lượng cơ thể nhỏ (khối lượng lúc trưởng thành gà mái từ
1 – 1,2kg; gà trống từ 1,3 – 1,5kg) Tuổi đẻ quả trứng đầu từ 160 – 180 ngày, năng suất trứng đạt từ 100 – 130 quả/mái/năm, khối lượng trứng nhỏ chỉ đạt 35 – 45g, tỷ lệ trứng có phôi tương đối cao 90 – 95% và tỷ lệ nở đạt khoảng 80 – 85% Bên cạnh những tiến bộ về công tác giống, các tiến bộ về sản xuất thức ăn hỗn hợp, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và sự cải tiến không ngừng về chuồng trại, điều kiện chăm sóc đã làm cho ngành chăn nuôi gà của thế giới có được những tiến bộ nhảy vọt về các chỉ tiêu năng suất Trong thời gian từ 1950 đến
1990 để đạt được khối lượng gà Broiler xuất chuồng 1,82 kg người ta đã giảm một nửa thời gian nuôi, giảm 40% lượng thức ăn tiêu tốn
1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Những năm trước đây nước ta chủ yếu sử dụng các giống địa phương như gà
Ri, gà Mía, gà Đông Tảo, gà Hồ, gà Ác…; các giống gà này có khả năng sinh sản, cho năng suất thịt thấp Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đăng Vang và cs (1999) cho biết khả năng sản xuất của gà Ri: Khối lượng lúc 18 tuần tuổi, gà trống 1675g, gà mái
1247 g, sản lượng trứng 100 quả/ mái/ năm, ở gà Đông Tảo lúc 22 tuần tuổi gà trống
Trang 32nặng 2530g, gà mái 1989 g (Nguyễn Đăng Vang và cs.,1999), sản lượng trứng gà Đông Tảo đạt 67,7 – 68,3 quả (Lê Viết Ly và CTV, 2001) Gà Mía có khối lượng cơ thể lúc 14 – 15 tuần tuổi, gà trống nặng 2175 g, gà mái 1740 g (Nguyễn Văn Thiện
và Hoàng Phanh, 1999) Từ năm 1974, được sự giúp đỡ của nước Cộng hoà Cu
Ba Việt Nam nhập nội hai bộ giống gà thuần chủng: Giống gà chuyên trứng Leghorn với hai dòng X và Y; giống chuyên thịt Plymouth Rock với 3 dòng 799,
488, 433 Từ đây ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam mới chính thức được tổ chức thực hiện theo phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp
Do nhu cầu thị trường về sản lượng và chất lượng thịt – trứng gà ngày càng tăng; từ năm 1980 đến nay các giống gà hướng thịt, hướng trứng cao sản đã được đưa vào nuôi ở nước ta như Hybro (nhập nội 1985), BE (nhập nội 1993)
Từ năm 1994 – 1999 một số giống gà thả vườn kiêm dụng thịt trứng mới cũng đã được nhập vào nước ta đó là gà Tam Hoàng, Lương Phượng, Ai Cập… đã đưa ngành chăn nuôi gà thịt – trứng của nước ta phát triển mạnh
Trong thời gian qua chúng ta đã nhập nội và đưa vào sản xuất một số giống
gà lông màu, gà công nghiệp hướng trứng và hướng thịt có năng suất và chất lượng cao, đã và đang được thị trường chấp nhận
Giống gà Kabir nuôi thịt 8 tuần tuổi có khối lượng 1,99 kg với tiêu tốn thức ăn 2,06 kg/ kg tăng khối lượng (Trần Công Xuân và cs., 2007) Khối lượng trứng khi tỷ lệ đẻ 5% và 50% tương ứng là 48,25g và 56,87g (Phùng Đức Tiến và cs., 2007) Gà Tam Hoàng gần giống gà Ri có sản lượng trứng nuôi tại trại thực nghiệm Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương – Viện Chăn nuôi đạt 146 –
154 quả/ mái, gà thịt 12 tuần tuổi con trống 1,5kg, con mái 1,2kg (Trần Công Xuân và cs., 2007) Gà thịt ISA Vedet có 4 dòng được tạo ra từ Pháp, gà bố mẹ được nhập vào nước ta từ năm 1994, gà thịt 49 ngày tuổi con trống đạt 2570 g, con mái 2270 g, sản lượng trứng 170 quả/ mái/ năm (Lê Hồng Mận, 2007) Gà trứng Brownick là gà cao sản trứng nhập về từ Mỹ, năng suất trứng 280 – 300 quả/ mái/ năm (Lê Hồng Mận và cs., 2007) Gà ISA Brown của Pháp, nhập vào nước ta sau năm 1995, lông màu nâu, thân hình nhỏ nhẹ, sản lượng trứng 280 –
290 trứng/ mái/ năm, trứng nặng 58 – 60g/ quả (Lê Hồng Mận , 2007)
Trang 33Đoàn Xuân Trúc (1994) nghiên cứu về các tổ hợp lai 3 dòng của bộ giống
gà Hybro HV85 đã chỉ rõ khối lượng lúc 56 ngày của con lai AV35, AV53, C135, V153 đạt từ 1,983 – 2,038kg và có mức tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng khối lượng là 2,346 – 2,434kg Phùng Đức Tiến và cs (2001) cho biết kết quả nghiên cứu chọn lọc một số tính trạng sản xuất của gà Ai Cập qua các thế hệ như sau gà Ai Cập ổn định về ngoại hình, màu sắc lông qua các thế hệ, gà có sức sống tôt, tỷ lệ nuôi sống cao, giai đoạn gà con ( 0 – 9) tuần tuổi trung bình đạt 98,06%; giai đoạn dò, hậu bị (10 – 21) tuần tuổi đạt 97,03%; giai đoạn sinh sản (40 tuần đẻ) đạt 90 – 91% Quá trình thích nghi, chọn lọc nâng cao năng suất đã đưa năng suất trứng từ 149,9 quả/40 tuần đẻ ở thế hệ V; tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng giống giảm
từ 2,27kg xuống còn 1,92kg
Trước năm 2000 Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương đã nghiên cứu lai giữa gà Ai Cập với gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng, gà RhodeRi với mục đích cải tạo màu lông và chân chì tuy nhiên kết quả không được như mong muốn Một số nhà khoa học Đức cho biết gen chân chì, chân đen ở gia cầm trội
so với màu xanh và màu vàng Do vậy, không dễ gì cải thiện được chân chì ở con lai Từ năm 2000 trở lại đây do nhiều ưu điểm của gà Ai Cập như dễ nuôi, có khả năng thích nghi ở các vùng sinh thái khác nhau, tỷ lệ nuôi sống cao, trứng đặc biệt thơm ngon, giá bán gấp rưỡi trứng gà công nghiệp, sản lượng trứng khá cao đạt 200 quả/mái/năm, cao gấp hơn 1,5 lần so với gà Ri và quan niệm về gà “gà đen chân chì” đã mờ dần đi, do đó mục đích nghiên cứu lai chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng của con lai Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu lai giữa
gà Ai Cập với các giống gà khác như gà Goldline, gà Ri, gà H’ Mông Con lai được phát triển nuôi rộng rãi ngoài sản xuất cho kết quả tốt
Lương Thị Hồng (2005) – dẫn theo Nguyễn Thị Mười (2006) nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà H’ Mông x gà Ai Cập Tác giả cho biết gà lai F1(trống H’ Mông x mái Ai Cập) mang đặc điểm di truyền về tính trạng da đen, thịt đen của gà H’ Mông là 62,19% và cải thiện được các tính trạng năng suất trứng, tỷ lệ phôi, tỷ lệ nở, tỷ lệ hao hụt đàn và tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng so với gà H’ Mông
Ưu thế lai năng suất trứng là +5,17%, tỷ lệ phôi +2,8%, tỷ lệ nở +5,72%, tỷ lệ hao
Trang 34hụt đàn +10%; tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng 2,48kg (thấp hơn gà H’ Mông 27,91%) Đào Lệ Hằng (2001) nghiên cứu trên giống gà H’Mông tại Viện Chăn nuôi cho biết gà H’Mông có ngoại hình cao to, mào cờ, chân có nhiều lông, màu sắc lông đa dạng, tỷ lệ nuôi sống đến 7 tuần tuổi 94,64 – 98,31% Khối lượng sơ sinh 31,96g, lúc trưởng thành (16 tuần tuổi) gà trống nặng 1232,55g và gà mái nặng 1071,90g; tuổi thành thục sinh dục lúc 21 tuần; năng suất trứng đạt 74,6 quả/36 tuần đẻ; tỷ lệ trứng có phôi 81,23%, tỷ lệ nở 44,37%; năng suất trứng đạt 66,2 – 74,6 quả/mái/năm
Vũ Ngọc Sơn và cs (1999) – dẫn theo Nguyễn Thị Mười (2006) - cho biết năng suất trứng gà Lương Phượng Hoa/48 tuần đẻ đạt trung bình 158,63quả/mái
Nguyễn Tất Thắng (2008) nghiên cứu khả năng sinh trưởng, sức sản xuất
và hiệu quả chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm giống ISA Brown nuôi theo phương thức công nghiệp tại trại Tám Lợi – Nam Sách – Hải Dương cho biết tỷ
lệ nuôi sống gà mái giai đoạn hậu bị đạt được 97,32 – 98,3%, khối lượng co thể
gà hậu bị ở 18 tuần tuổi đạt 1573 – 1596g, tỷ lệ đẻ trung bình của gà mái đẻ đạt 83,6 – 83,9%
Giáp Thị Thu Huyền (2011) nghiên cứu về khả năng sản xuất trứng của gà
Ai Cập nuôi tại HTX chăn nuôi gà giống Cường Thịnh xã Đông Thọ - Yên Phong – Bắc Ninh cho biết gà Ai Cập có tuổi thành thục sinh dục sớm, tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là 132 ngày, tuổi đẻ 5% là 148 ngày, tuổi đẻ đỉnh cao là 217 ngày Tỷ lệ đẻ bình quân từ tuần tuổi 21 đến tuần 46 là 61,24%, tỷ lệ đẻ đạt đỉnh cao là 76,88%
Nhìn chung tình hình phát triển và nghiên cứu gia cầm ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả to lớn, thể hiện ở sự đa dạng về giống, năng suất, chất lượng được đẩy lên cao
Trang 35CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu
- Gà ISA Brown: Số lượng 530 con mái nuôi ở giai đoạn từ 1 đến 49 tuần tuổi
- Gà Ai Cập: Số lượng 530 con mái nuôi ở giai đoạn từ 1 đến 49 tuần tuổi
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Trang trại bà Nguyễn Thị Vân xã Yên Trường huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa
- Phòng nghiên cứu Bộ môn Dinh Dưỡng – Thức ăn – Khoa Chăn nuôi - Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
- Từ tháng 4/2014 đến tháng 3/2015
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Các giai đoạn nuôi
2.2.1.1 Giai đoạn gà nuôi hậu bị từ 1 – 20 tuần tuổi
- Theo dõi khối lượng của gà ISA Brown
- Theo dõi khối lượng của gà Ai Cập
- Theo dõi lượng thức ăn sử dụng cho gà ISA Brown, Ai Cập qua các tuần tuổi
- Theo dõi số con gà bị chết, loại thải
- Chí phí chăn nuôi gà mái hậu bị
2.2.1.2 Giai đoạn gà sinh sản
- Tiêu tốn thức ăn (kg)/10 quả trứng
- Hiệu quả chăn nuôi gà mái đẻ
Trang 362.2.2 Các điều kiện nghiên cứu
2.2.2.1 Điều kiện chuồng trại
- Chuồng nuôi gà hậu bị: Là chuồng thông thoáng tự nhiên Chiều rộng 6m, dài 50m, chuồng có tường bao quanh cao khoảng 80cm, bên trên quây rào bằng lưới thép mắt cáo to, cao trên 2m, quanh phần lưới có bạt quây có thể kéo lên hạ xuống để thông thoáng hoặc chống rét, nền chuồng bê tông được lót trấu Trong chuồng có đầy đủ quây bạt, chụp sưởi, máng ăn, máng uống Có khay ăn cho gà con với số lượng 10 cái/ 1 chụp nón và dần thay thế bằng máng ăn Chuồng trại
và đồ dùng dụng cụ chăn nuôi được vệ sinh sát trùng sạch sẽ trước khi nhập gà ít nhất 36 giờ Hệ thống thông gió được lắp đặt hệ thống quạt công nghiệp phía cuối dãy, xung quanh chuồng được bảo vệ bằng vôi bột
- Chuồng nuôi gà mái đẻ: Là chuồng kín, hệ thống thông gió được lắp đặt 4 quạt công nghiệp ở cuối dãy, đầu dãy có đặt các tấm lọc không khí, làm mát bằng phun hơi nước Hệ thống máng ăn, máng uống chạy dọc theo dãy lồng Chuồng: Rộng 8m, dài 50m, trần cao 2.2m, có 3 dãy lồng kép, 3 tầng lồng với 3 lối đi
2.2.2.2 Mật độ nuôi
- Đối với gà hậu bị:
Gà 1 ngày tuổi được quây úm có đường kính 3m, với số lượng 500 – 600 con/1 quây úm, sau đó nới rộng vòng quây úm dần đến hết thời gian úm
Gà hậu bị nuôi với mật độ không quá 7,5 con/ m2 lúc trước khi đưa lên chuồng đẻ
- Đối với gà đẻ: Đảm bảo 12 con/ m2 nền chuồng, mỗi lồng nhốt 4 con
2.2.2.3 Nhiệt độ chuồng nuôi
- Giai đoạn úm gà con
Ngày tuổi Nhiệt độ dưới chụp
Trang 37- Đối với gà đẻ: Hệ thống làm mát luôn giữ cho nhiệt độ trong chuồng nuôi thấp hơn 6 - 70C so với nhiệt độ ngoài chuồng
2.2.2.4 Thức ăn và chế độ ăn
Thức ăn sử dụng là của công ty TNHH Lạc Hồng, Công ty cổ phần Việt Pháp
- Gà con sử dụng thức ăn Seven H20 của công ty TNHH Lạc Hồng
- Gà hậu bị sử dụng thức ăn FRANCE FEED của Công ty cổ phần Việt Pháp
- Gà đẻ sử dụng thức ăn SuMo của Công ty cổ phần Việt Pháp (Pronconco)
- Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn do công ty công bố:
+ Thức ăn cho gà con: Loại thức ăn Seven H20
TT Thành phần dinh dưỡng
4 Năng lượng trao đổi (tối thiểu) Kcal/ kg 3.000
9 Không có kháng sinh, hooc mon, kháng hooc mon
+ Thức ăn cho gà hậu bị: Loại cám FRANCE FEED
4 Năng lượng trao đổi (tối thiểu) Kcal/ kg 2.800
Trang 38- Định mức thức ăn cho đàn gà mái hậu bị ISA Brown và Ai Cập:
Bảng 1: Lượng thức ăn sử dụng cho gà hậu bị ISA Brown và Ai Cập
Tuần tuổi
Lượng thức ăn sử dụng cho gà ISA Brown(g/con/ngày)
Lượng thức ăn sử dụng cho gà Ai Cập (g/con/ngày)
Lượng thức ăn theo khuyến cáo của hãng TĂ (g/con/ngày)
2 Proten thô (tối thiểu) % 17,5
4 Năng lượng trao đổi (tối thiểu) Kcal/ kg 2.700
Trang 39- Định mức thức ăn cho đàn gà mái đẻ ISA Brown và Ai Cập:
Bảng 2: Lượng thức ăn sử dụng cho gà mái đẻ ISA Brown và Ai Cập Tuần
tuổi Lượng thức ăn sử dụng cho gà ISA
Brown (g/con/ngày)
Lượng thức ăn sử dụng cho gà Ai Cập (g/con/ngày)
Lượng thức ăn theo khuyến cáo của hãng
Trang 402.2.2.5 Quy trình phòng bệnh cho đàn gà nuôi tại trang trại
Trang trại chăn nuôi gà của bà Nguyễn Thị Vân xã Yên Trường huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa luôn thực hiện đúng quy trình tiêm phòng vắc xin, bổ sung thuốc phòng bệnh và định kỳ phun thuốc tiêu độc khử trùng chuồng trại nên
đã hạn chế được mầm bệnh xâm nhập, dịch bệnh đã không xảy ra
+ Lịch tiêm phòng vắc xin phòng bệnh cho đàn gà:
+ Lịch bổ sung thuốc phòng bệnh cho đàn gà:
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Gà ISA Brown và Ai Cập hậu bị được nuôi trong chuồng hở còn gà mái đẻ được nuôi bằng phương thức công nghiệp với hình thức nuôi trên lồng, trong chuồng