Phần I MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Quản lý nhà nước về tài chính là quá trình tác động của Nhà nước vào quan hệ tài chính tiền tệ mà các nghiệp vụ cụ thể là thu, chi ngân sách
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ QUÝ THỊNH
XÂY DỰNG KẾ HOẠCH THU, CHI NGÂN SÁCH TRÊN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhân Trước hết, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong Bộ môn Phân tích định lượng, Khoa Kinh tế & PTNT và Ban quản lý đào tạo – Học viện Nông nghiệp Việt Nam; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của thầy PGS TS Phạm Văn Hùng đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn UBND huyện Than Uyên, Phòng Tài chính – Kế hoạch đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn
Tôi cũng ghi nhận những đóng góp quý báu và nhiệt tình của bạn bè đã giúp
đỡ, động viên; cảm ơn sự quan tâm, khuyến khích, thông cảm của gia đình trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC i
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT iii
Phần I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
Phần II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Tổng quan về ngân sách và kế hoạch thu, chi ngân sách nhà nước 4
2.1.2 Các căn cứ, nguyên tắc lập kế hoạch thu, chi ngân sách (Đặc điểm của Kế hoạch thu, chi ngân sách) 12
2.1.3 Nội dung xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách 13
2.1.4 Trình tự xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách 14
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách 15
2.2 Cơ sở thực tiễn 15
2.2.1 Kinh nghiệm xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách của một số nước 15
2.2.2 Kế hoạch thu, chi ngân sách của Việt Nam từ năm 2009-2014 21
2.2.3 Tình hình xây dựng và thực hiện kế hoạch ngân sách tỉnh Lai Châu 25
Trang 5Phần III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34
3.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 53
3.1.4 Đặc điểm đội ngũ cán bộ trong bộ máy xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách trên địa bàn huyện Than Uyên 57
3.2 Phương pháp nghiên cứu 58
3.2.1 Phương pháp tiếp cập và khung lô gíc 58
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, thông tin 62
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu, thông tin 65
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 67
Phần IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 70
4.1 Thực trạng xây dựng và thực hiện kế hoạch thu, chi ngân sách huyện Than Uyên từ năm 2009-2014 70
4.1.1 Kế hoạch ngân sách từ năm 2009-2014 70
4.1.2 Thực hiện kế hoạch ngân sách từ năm 2009-2014 78
4.2 Những hạn chế trong xây dựng và thực hiện kế hoạch thu, chi ngân sách huyện Than Uyên 89
4.2.1 Những hạn chế 89
4.2.2 Nguyên nhân 95
4.3 Giải pháp xây dựng và thực hiện kế hoạch thu, chi ngân sách huyện Than Uyên đến 2020 97
4.3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 97
4.3.2 Các giải pháp và nhóm giải pháp 104
Phần V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122
5.1 Kết luận 122
5.2 Kiến nghị 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
Trang 6CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CPI Chỉ số giá tiêu dùng (consumer price index)
CSHT, CSVC Cơ sở hạ tầng, Cơ sở vật chất
DN, ĐBKK Doanh nghiệp, Đặc biệt khó khăn
ĐVDT, ĐVHCSN Đơn vị dự toán, Đơn vị hành chính sự nghiệp
HĐND, UBND Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
HĐSXKD, HTX Hoạt động sản xuất kinh doanh, Hợp tác xã
KBNN, KTV, KTKB Kho bạc nhà nước, Kế toán viên, Kế toán kho bạc
KCHT, XDKH Kết cấu hạ tầng, Xây dựng kế hoạch
Kế hoạch ngân sách Kế hoạch thu, chi ngân sách
NSNN, MTQG Ngân sách nhà nước, Mục tiêu quốc gia
NST, NSH, NSX Ngân sách tỉnh, Ngân sách huyện, Ngân sách xã
NSTW, NSĐP Ngân sách Trung ương, Ngân sách địa phương
PCTHCS Phổ cập giáo dục trung học cơ sở
SWOT Điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức
TT, Thuế GTGT Thanh toán, Thuế giá trị gia tăng (VAT)
TTGDTX, THPT Trung tâm giáo dục thường xuyên, trung học phổ thông
Vốn DANIDA Vốn hỗ trợ phát triển quốc tế Đan Mạch
Vốn JAICA Vốn hợp tác phát triển Nhật Bản
WTO Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
Trang 7Phần I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý nhà nước về tài chính là quá trình tác động của Nhà nước vào quan hệ tài chính tiền tệ mà các nghiệp vụ cụ thể là thu, chi ngân sách để định hướng các hoạt động trong đời sống kinh tế - xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược, kế hoạch phát triển đất nước nói chung và kinh tế - xã hội địa phương nói riêng do Nhà nước đặt ra trong từng thời kỳ Thu, chi ngân sách là quá trình huy động, sử dụng công cụ tài chính, quản lý và điều hành nền kinh tế, hướng các quan hệ kinh tế thực hiện, phát triển theo mục tiêu của Nhà nước
Để góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thời
kỳ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh
tế quốc tế (WTO) Nhà nước thống nhất quản lý, điều hành ngân sách theo hướng phát triển mở rộng, nuôi dưỡng các nguồn thu ổn định, nâng cao hiệu quả nhiệm
vụ chi ngân sách, phát huy tính chủ động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức,
cá nhân trong việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả ngân sách và tài sản của Nhà nước, tăng tích lũy, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh
Những năm gần đây, công tác quản lý điều hành thu chi ngân sách huyện Than Uyên (Lai Châu) cơ bản ổn định, đảm bảo hoạt động của hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở; đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh trên địa bàn Tuy nhiên, quá trình quản lý, điều hành thu, chi ngân sách của địa phương còn nhiều tồn tại và hạn chế, như: thu ngân sách trên địa bàn rất hạn hẹp, phần lớn là các nguồn thu không ổn định Bên cạnh đó, còn tình trạng sử dụng các mục chi chưa đúng mục đích, không hiệu quả, gây thất thoát, lãng phí cho ngân sách nhà nước Hiện nay, huyện chưa có Kế hoạch thu, chi ngân sách trung hạn và dài hạn
để định hướng mở rộng, nuôi dưỡng các nguồn thu ổn định, cũng như quản lý, sử dụng hiệu quả nhiệm vụ chi ngân sách cho địa phương Nguồn thu ngân sách phụ thuộc rất nhiều vào ngân sách cấp trên bổ sung cân đối, các Chương trình MTQG, hỗ trợ có mục tiêu Việc bố trí, phân bổ vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thiếu tính
Trang 8chủ động Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, chưa tập trung và các lĩnh vực trọng điểm, lợi thế, nên chưa tạo nên sức bứt phá cho huyện trong tăng trưởng kinh tế Do đó, việc xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách trung hạn và dài hạn cho huyện Than Uyên là một nhiệm vụ cần thiết và hết sức cấp bách trong giai đoạn hiện nay
Từ yêu cầu thực tiễn và ý nghĩa quan trọng đó Tôi tập trung nghiên cứu đề
tài “Xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách trên địa bàn huyện Than Uyên, tỉnh
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Thế nào là kế hoạch, kế hoạch thu, chi ngân sách trên địa bàn ?
(2) Quản lý nguồn thu ngân sách thế nào? Các khoản thu đã hoàn thiện chưa? (3) Mở rộng nguồn thu ngân sách ổn định trên địa bàn huyện ở các lĩnh vực nào ? và bằng cách nào ?
(4) Làm thế nào để tránh tình trạng thất thu, thiếu thu ?
(5) Chi những mục gì ? Khoản mục nào nên được ưu tiên ?
(6) Chi như thế nào để đảm bảo hiệu quả, tránh lãng phí, tiêu cực trong hệ thống các đơn vị dự toán cấp 4 và hạn chế thâm hụt ngân sách ?
Trang 9(7) Xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách thế nào ?
(8) Giải pháp nào cần thiết để hoàn thiện công tác kế hoạch thu, chi ngân sách ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Công tác quản lý ngân sách: Quá trình lập, chấp hành kế hoạch thu, dự toán chi ngân sách huyện Than Uyên
- Các khoản thu, chi trên địa bàn huyện
- Trình tự lập kế hoạch thu, chi
- Ủy ban nhân dân huyện Than Uyên, Phòng Tài chính – Kế hoạch, các đơn
vị dự toán, xã, thị trấn trên địa bàn
+ Nguyên cứu trên địa bàn huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu
+ Nguyên cứu ở các đơn vị dự toán, xã, thị trấn trên địa bàn
- Phạm vi về thời gian
+ Kết quả thu, chi ngân sách từ năm 2009-2014;
+ Kế hoạch thu, chi ngân sách huyện Than Uyên đến năm 2020
Trang 10Phần II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH
THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Tổng quan về ngân sách và kế hoạch thu, chi ngân sách nhà nước
- Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình; Nhà nước là bộ máy do lực lượng nắm quyền thống trị (kinh tế, chính trị, xã hội) thành lập nên, nhằm mục đích điều khiển, chỉ huy toàn bộ hoạt động của xã hội trong một quốc gia
- Kế hoạch: theo nghĩa hẹp là phương án hành động trong tương lai; theo nghĩa rộng là quá trình xây dựng, quán triệt, chấp hành và kiểm tra giám sát, đánh giá việc thực hiện phương án hành động trong tương lai Kế hoạch trong quản lý nhà nước là một công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước và là một hệ thống bao gồm nhiều nội dung hoạt động
- Kế hoạch ngân sách là việc xác định toàn bộ nguồn thu, nhu cầu chi của một quốc gia, địa phương trong một thời kỳ để đạt được mục tiêu nhất định Là dự kiến các công việc, nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu của Nhà nước
Lập kế hoạch NSNN là quá trình xây dựng và quyết định dự toán các khoản thu, chi ngân sách 5 năm (trung hạn), 10 năm (dài hạn) và hàng năm Xây dựng kế hoạch ngân sách trung hạn hoặc dài hạn là một nhiệm vụ quan trọng của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước trong một giai đoạn hay thời kỳ ổn định NSNN; là cơ sở cho việc xây dựng dự toán ngân sách hàng năm; do đó, một bản kế hoạch ngân sách được xây dựng trên cơ sở có đầy đủ căn cứ khoa học và phù hợp với thực tiễn thời kỳ ổn định ngân sách sẽ giúp Nhà nước hoạch định mở rộng nhiều nguồn thu ổn định, chi tiêu hợp lý, hạn chế lãng phí, thất thoát ngân sách, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý, điều hành NSNN
- Tài chính công là những hoạt động thu, chi tiền của Nhà nước, phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử
Trang 11dụng các quỹ tiền tệ nhà nước nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng vốn
có của Nhà nước đối với xã hội
Quản lý tài chính công là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm soát hoạt động thu, chi của Nhà nước nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước một cách hiệu quả nhất
- Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức
và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh và hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
- Chức năng, vai trò của ngân sách nhà nước
+ Vai trò của ngân sách trong nền kinh tế
NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Ngân sách luôn gắn liền với vai trò của Nhà nước theo từng giai đoạn nhất định Đối với nền kinh tế thị trường, NSNN đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế
NSNN là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội Đồng thời, huy động các nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Mức động viên các nguồn tài chính từ các chủ thể trong nền kinh tế đòi hỏi phải hợp lý, nếu mức động viên quá cao hoặc quá thấp thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế; vì vậy, cần phải xác định mức huy động vào NSNN một cách phù hợp với khả năng đóng góp tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế
Vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế: NSNN là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển SXKD và chống độc quyền
Trang 12Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế
đi vào quỹ đạo mà Nhà nước hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững
Thông qua hoạt động chi ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ
sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền
và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo Trong những điều kiện cụ thể, ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn Huy động nguồn tài chính thông qua thuế, NSNN đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh
Về mặt kinh tế: kích thích sự tăng trưởng kinh tế theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội thông qua các công cụ thuế và thuế suất của Nhà nước, góp phần kích thích sản xuất phát triển thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp Ngoài ra, Nhà nước dùng ngân sách đầu tư vào cơ sở hạ tầng tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động
Về mặt xã hội: vai trò điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, việc làm, hỗ trợ thiên tai, giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội
Về mặt thị trường: Nhà nước sử dụng ngân sách như một công cụ để góp phần bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng, mang tính chất chiến lược Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia Thị trường vốn sức lao động, thông qua phát hành trái phiếu và chi tiêu của Chính phủ Kiềm chế lạm phát, Ngân hàng TW
Trang 13cùng với chính sách tiền tệ thích hợp NSNN điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của Chính phủ
+ Chức năng của NSNN bao gồm: chức năng phân phối (phân bổ), chức năng giám đốc
- Đặc điểm các quan hệ ngân sách
+ Các quan hệ ngân sách được thể hiện qua hai sơ đồ minh họa hình 2.1 và hình 2.2 dưới đây:
Hình 2.1: Sơ đồ quan hệ ngân sách với các tổ chức, nhà nước, nguồn vốn khác
Hình 2.2: Sơ đồ quan hệ NS của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp
NHÀ NƯỚC KHÁC DÂN CƯ
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Trang 14+ Nguyên tắc quan hệ ngân sách
+ Hệ thống ngân sách Nhà nước gồm NSTW và NSĐP
NSTW bao gồm các đơn vị dự toán cấp TW (bộ, ngành, cơ quan ngang bộ) Cấp nguồn tài chính cho các nhiệm vụ, mục tiêu của đất nước trên tất cả các ngành, lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…hỗ trợ chuyển giao nguồn tài chính cho ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc TW
NSĐP gồm các cấp ngân sách của Chính quyền địa phương phù hợp với địa giới hành chính các cấp (HĐND và UBND) Các cấp ngân sách bao gồm các đơn vị
dự toán hợp thành (trừ xã, phường, thị trấn) Cung cấp nguồn tài chính ở địa phương và chuyển giao nguồn tài chính cho cấp dưới
- Nguyên tắc quản lý ngân sách: NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm
+ Nguyên tắc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa ngân sách các cấp
NSTW và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể;
NSTW giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi NS;
NSĐP được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong thực hiện những nhiệm vụ được giao; tăng cường nguồn lực cho NSX HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc TW (gọi chung là cấp tỉnh) quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn;
Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng và phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương Số bổ sung từ ngân sách cấp trên là khoản thu của ngân sách cấp dưới;
Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3-5 năm (gọi chung là thời kỳ
Trang 15ổn định ngân sách) Chính phủ trình Quốc hội quyết định thời kỳ ổn định ngân sách giữa NSTW và NSĐP UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định thời kỳ ổn định ngân sách giữa các cấp ở địa phương;
Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; Trường hợp cần ban hành chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách sau khi dự toán đã được cấp có thẩm quyền quyết định thì phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp;
Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương được sử dụng nguồn tăng thu ngân sách hàng năm (phần NSĐP được hưởng) để chi cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển NSĐP, thực hiện giảm dần số bổ sung từ ngân sách cấp trên (đối với địa phương nhận bổ sung từ ngân sách cấp trên) hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết số thu nộp về ngân sách cấp trên (đối với những địa phương có điều tiết về ngân sách cấp trên);
Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản
lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó;
Ngoài việc bổ sung nguồn thu và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác, trừ các trường hợp: thiên tai, các trường hợp cấp thiết khác mà địa phương cần khẩn trương huy động lực lượng để bảo đảm ổn định tình hình kinh tế - xã hội; Các đơn vị do cấp trên quản lý khi thực hiện chức năng của mình, kết hợp thực hiện một số nhiệm vụ theo yêu cầu của cấp dưới;
UBND các cấp được sử dụng ngân sách để hỗ trợ cho các đơn vị do cấp trên quản lý đóng trên địa bàn trong các trường hợp đặc biệt theo quy định của chính phủ: Thiên tai và các trường hợp cấp thiết khác mà địa phương cần khẩn trương huy động lực lượng để bảo đảm ổn định tình hình kinh tế - xã hội
+ Nguyên tắc cân đối ngân sách
NSNN được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng chi thường xuyên và góp phần tích luỹ ngày càng cao vào chi đầu tư phát
Trang 16triển; trường hợp còn bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách
Về nguyên tắc NSĐP được cân đối với tổng số chi không vượt quá tổng số thu; trường hợp tỉnh, thành phố trực thuộc TW có nhu cầu đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh bảo đảm, thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm đã được HĐND tỉnh quyết định, nhưng vượt quá khả năng cân đối của ngân sách tỉnh năm kế hoạch, thì được phép huy động vốn trong nước và phải cân đối ngân sách hàng năm để chủ động trả hết nợ khi đến hạn Mức
dư nợ từ nguồn vốn huy động không vượt quá 30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong nước hàng năm của ngân sách cấp tỉnh
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở TW, UBND các cấp, các tổ chức và đơn vị chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện dự toán ngân sách trong phạm vi được giao; nghiêm cấm các trường hợp vay, cho vay và sử dụng NSNN trái với quy định của pháp luật
- Nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị dự toán ngân sách
+ Tổ chức lập kế hoạch thu, chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý, thực hiện phân bổ dự toán ngân sách được cấp có thẩm quyền giao cho các đơn vị trực thuộc
và điều chỉnh phân bổ dự toán theo thẩm quyền;
+ Tổ chức thực hiện dự toán thu, chi ngân sách được giao; nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thu ngân sách theo quy định của pháp luật; chi đúng chế độ, đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm; quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước đối với các đơn vị trực theo đúng quy định;
+ Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện thu, chi ngân sách đối với các đơn vị trực thuộc;
+ Chấp hành đúng quy định của pháp luật về kế toán, thống kê; báo cáo, quyết toán ngân sách và công khai ngân sách theo quy định của pháp luật; duyệt quyết toán đối với các đơn vị dự toán cấp dưới;
+ Đối với các đơn vị dự toán là đơn vị sự nghiệp, ngoài nhiệm vụ, quyền hạn quy định trên, được chủ động sử dụng nguồn thu sự nghiệp để phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động theo quy định của Chính phủ
Trang 17- Kết dư ngân sách TW, ngân sách cấp tỉnh được trích 50% chuyển vào quỹ
dự trữ tài chính, 50% chuyển vào ngân sách năm sau, nếu quỹ dự trữ tài chính đã đủ mức giới hạn thì chuyển số còn lại vào thu ngân sách năm sau Kết dư ngân sách các cấp ở địa phương chuyển vào thu ngân sách năm sau
- Chuyển nguồn ngân sách
+ Chi chuyển nguồn là việc chuyển nguồn kinh phí năm trước sang năm sau
để thực hiện các khoản chi đã được bố trí trong kế hoạch năm trước hoặc dự toán bổ sung nhưng đến hết thời gian chỉnh lý chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa xong được cơ quan có thẩm quyền cho tiếp tục chi vào ngân sách năm sau
+ Thẩm quyền quyết định chi chuyển nguồn: Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định chi chuyển nguồn của NSTW; Chủ tịch UBND (hoặc uỷ quyền cho Thủ trưởng
cơ quan tài chính đồng cấp) quyết định chi chuyển nguồn của NSĐP Số chi chuyển nguồn của từng cấp ngân sách được thực hiện trong phạm vi nguồn cho phép, bảo đảm số quyết toán chi ngân sách (gồm số thực chi ngân sách và số chi chuyển nguồn sang năm sau) không lớn hơn số quyết toán thu ngân sách của từng cấp
- Thâm hụt ngân sách (bội chi ngân sách Nhà nước)
Thâm hụt ngân sách là tình trạng khi tổng chi tiêu của NSNN vượt quá các
khoản thu “không mang tính hoàn trả” của NSNN
Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách, Nhà nước sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ thâm hụt so với GDP hoặc so với tổng số thu NSNN Thâm hụt NSNN có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế tùy theo tỷ lệ thâm hụt và thời gian thâm hụt Nói chung nếu tình trạng thâm hụt NSNN với tỷ lệ cao và trong thời gian dài sẽ gây ra lạm phát, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Bội chi NSNN được bù đắp bằng nguồn vay trong và ngoài nước Vay bù đắp bội chi NSNN phải bảo đảm nguyên tắc không sử dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử dụng cho mục đích phát triển
và bảo đảm bố trí ngân sách để chủ động trả hết nợ khi đến hạn
Trang 182.1.2 Các căn cứ, nguyên tắc lập kế hoạch thu, chi ngân sách (Đặc điểm của Kế hoạch thu, chi ngân sách)
Kế hoạch NSNN được lập trên cơ sở nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh Dựa trên khả năng các nguồn thu và nhu cầu chi tiêu để cân đối thu, chi xác định cán cân ngân sách kỳ kế hoạch
Các khoản thu trong kế hoạch ngân sách phải được xác định trên cơ sở tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu có liên quan và các quy định của pháp luật về thu ngân sách Căn cứ vào thu nhập của nền kinh tế xác định tổng nguồn và cơ cấu thu ngân sách cho kỳ kế hoạch
Các khoản chi trong kế hoạch ngân sách phải được xác định trên cơ sở mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh xác định nhu cầu chi tiêu và cơ cấu chi Kế hoạch chi đầu tư phát triển căn cứ vào quy hoạch, chương trình, dự án đầu tư đã có quyết định của cấp có thẩm quyền, ưu tiên bố trí đủ vốn phù hợp với tiến độ triển khai thực hiện các chương trình, dự án Kế hoạch chi thường xuyên căn cứ vào nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và tuân theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Chi trả nợ căn
cứ vào các nghĩa vụ trả nợ của năm kế hoạch
Việc quyết định chính sách, chế độ, nhiệm vụ quan trọng, phê duyệt chương trình, dự án do NSNN bảo đảm phải phù hợp với khả năng ngân sách hàng năm và kế hoạch tài chính 5 năm Kế hoạch NSNN được tổng hợp, xây dựng từ các cơ quan thu, đơn vị sử dụng ngân sách, bảo đảm thời gian, biểu mẫu quy định của Bộ Tài chính Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trong việc thu, chi ngân sách phải tổ chức lập dự toán thu, chi ngân sách trong phạm vi nhiệm vụ được giao, báo cáo cơ quan quản lý cấp trên; cơ quan quản lý cấp trên xem xét, tổng hợp báo cáo cơ quan tài chính cùng cấp
Cơ quan tài chính các cấp ở địa phương có trách nhiệm xem xét kế hoạch ngân sách của các cơ quan, đơn vị cùng cấp, kế hoạch NSĐP cấp dưới; chủ động phối hợp với cơ quan liên quan trong việc tổng hợp, lập kế hoạch ngân sách địa phương, phương án phân bổ ngân sách theo quy định của Luật ngân sách để báo cáo UBND trình HĐND cùng cấp
Trang 19Trong quá trình tổng hợp, lập kế hoạch ngân sách, cơ quan tài chính các cấp
có trách nhiệm: Làm việc với cơ quan, đơn vị dự toán ngân sách cùng cấp, điều chỉnh các điểm xét thấy cần thiết trong kế hoạch ngân sách; Làm việc với UBND cấp dưới trực tiếp điều chỉnh các điểm xét thấy cần thiết trong dự toán NSĐP đối với năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách; đối với các năm tiếp theo của thời kỳ
ổn định ngân sách, cơ quan tài chính tổ chức làm việc với UBND cấp dưới trực tiếp khi có đề nghị; Trong kế hoạch NSNN xây dựng phương án phân bổ ngân sách nếu
có ý kiến khác nhau giữa đơn vị dự toán, xã, thị trấn và sở, ngành thì Cơ quan tài chính trình UBND cùng cấp để quyết định theo thẩm quyền
Căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao, UBND các cấp
có trách nhiệm xây dựng kế hoạch NSĐP, phương án phân bổ ngân sách trình HĐND cùng cấp quyết định và báo cáo cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp
HĐND tỉnh quyết định kế hoạch NSĐP, phân bổ ngân sách cấp tỉnh trước ngày 10/12 HĐND huyện phải quyết định kế hoạch NSĐP, phân bổ ngân sách năm sau chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày HĐND tỉnh quyết định HĐND xã quyết định
dự toán ngân sách trước 31/12 năm trước năm kế hoạch sau khi có quyết định của UBND huyện
Trường hợp kế hoạch NSĐP phương án phân bổ chưa được HĐND quyết định, UBND lập lại dự toán, phương án phân bổ, trình HĐND vào thời gian do HĐND quyết định, song không được chậm hơn thời hạn Chính phủ quy định
Trong quá trình thảo luận, quyết định kế hoạch và phân bổ ngân sách, HĐND xem xét và quyết định các giải pháp để bảo đảm cân đối ngân sách Chủ tịch UBND
có quyền yêu cầu HĐND cấp dưới điều chỉnh lại kế hoạch ngân sách, nếu việc bố trí NSĐP không phù hợp với quyết định của HĐND cấp trên
2.1.3 Nội dung xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách
a) Vai trò, tác dụng của xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách
- Định hướng chiến lược phát triển mở rộng và nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách ổn định trên địa bàn
- Là cơ sở cho việc lập dự toán thu, chi ngân sách địa phương hàng năm
Trang 20b) Nội dung xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách
Căn cứ Chỉ thị của UBND tỉnh, hướng dẫn của Sở Tài chính, UBND huyện xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách nhà nước như sau:
- Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch NSĐP từ năm 2009-2014
+ Đánh giá tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch thu ngân sách nhà nước + Đánh giá tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch chi ngân sách nhà nước: Đầu tư phát triển; Chi thường xuyên; Các chương trình mục tiêu quốc gia
- Dự báo khả năng thu và nhu cầu chi để xác lập chỉ tiêu thu, chi, dự trữ ngân sách cho cả giai đoạn và phân kỳ từng năm
- Xây dựng kế hoạch ngân sách nhà nước đến năm 2020 gồm:
+ Kế hoạch thu ngân sách
+ Kế hoạch chi ngân sách: Kế hoạch chi đầu tư phát triển; Kế hoạch chi thường xuyên; Các Chương trình mục tiêu quốc gia; Các Chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
+ NSTW và NSĐP: bố trí dự phòng ngân sách theo đúng quy định của Luật NSNN để chủ động đối phó với thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh và thực hiện những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách phát sinh ngoài dự toán
+ Các giải pháp để thực hiện kế hoạch thu, chi ngân sách
2.1.4 Trình tự xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách
Bước 1: Thu thập tài liệu;
Bước 2: Đánh giá thực trạng thực hiện kế hoạch thu, chi ngân sách giai đoạn trước, tìm ra các ưu điểm, nhược điểm để phát huy và khắc phục;
Bước 3: Dự báo về tình hình quốc tế, trong nước và địa phương (tỉnh, huyện) trong giai đoạn sắp tới ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách địa bàn nghiên cứu;
Bước 4: Trên cơ sở đánh giá thực trạng và dự báo, xây dựng dự thảo Kế hoạch thu, chi ngân sách cho giai đoạn tới;
Bước 5: Lấy ý kiến tham gia dự thảo kế hoạch thu, chi ngân sách của các xã, thị trấn, các cơ quan đơn vị dự toán cấp huyện;
Trang 21Thông qua xin ý kiến của Lãnh đạo UBND huyện, Ban Thường vụ Huyện ủy
và Ban Chấp hành Huyện ủy;
Bước 6: Chỉnh sửa hoàn thiện kế hoạch thu, chi ngân sách trên địa bàn; Bước 7: Trình ký UBND huyện và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch thu, chi ngân sách;
Bước 8: Giám sát, đánh giá việc thực hiện Kế hoạch ngân sách trên địa bàn
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách
- Nguồn thu ngân sách trên địa bàn ảnh hưởng bởi thu nhập GDP và GRDP bình quân đầu người là nhân tố quyết định đến mức động viên của NSNN;
- Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế (đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển kinh tế, tỷ suất này càng lớn thì nguồn tài chính càng lớn, do đó thu NSNN phụ thuộc vào mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước);
- Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên là yếu tố làm tăng thu NSNN, ảnh hưởng đến việc năng cao tỷ suất thu;
- Đội ngũ cán bộ cơ quan tài chính địa phương quyết định chất lượng kế hoạch thu, chi ngân sách Tổ chức bộ máy thu, chi ngân sách là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thu và nhiệm vụ chi ngân sách
- Nhiệm vụ chính trị, địa phương trong từng thời kỳ; Chế độ xã hội là nhân tố
cơ bản; Sự phát triển của lực lượng sản xuất; Khả năng tích lũy của nền kinh tế; Các nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu, Chương trình MTQG từ NSTW; Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ
Ngoài ra, ngân sách còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như: biến động của kinh tế, chính trị, xã hội, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái và chính sách tài khóa của Chính phủ
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách của một số nước
NSNN đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Vào đầu niên độ ngân sách Chính phủ mỗi nước đều tổ chức một cuộc họp thường niên nhằm tổng kết tài chính đã phân bổ - chi tiêu trong năm ngân sách; đồng thời, báo cáo về tình hình ngân sách và phân bổ ngân sách cho
Trang 22các bộ, ngành trong năm kế hoạch Tại cuộc họp thường niên này, cũng đề cập việc tăng nguồn thu cho NSNN (chủ yếu từ các chính sách thuế và xuất khẩu) Dựa vào báo cáo đầu tư - phân bổ - tài chính có thể hoạch định chiến lược phát triển kinh tế trong những năm tới Trên thực tế, các cường quốc kinh tế trên thế giới đều có một chính sách thu ổn định, đồng thời chi tiêu ngân sách hợp lý Điều này thể hiện trong
kế hoạch thu, chi ngân sách tầm quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước từ TW đến địa phương
Kế hoạch ngân sách trung hạn của Hoa Kỳ
Bang Nebraska: Để xây dựng kế hoạch ngân sách trung hạn địa phương tự quản, các thành phố, thị trấn phải thực hiện các bước như sau:
Bước 1: Dự thảo kế hoạch ngân sách trung hạn trên cơ sở chiến lược phát triển chung của thành phố;
Bước 2: Chuẩn bị kế hoạch đề xuất;
Bước 3: Lên kế hoạch và tổ chức lấy ý kiến cộng đồng;
Bước 4: Phê duyệt kế hoạch thông qua nghị quyết và gửi kế hoạch cho thư
ký thành phố để phổ biến cho cộng đồng;
Bước 5: Gửi nghị quyết cho ủy viên ban bầu cử và thư ký hạt;
Bước 6: Tổ chức biểu quyết;
Bước 7: Thành lập chương trình phát triển tài chính ngân sách thông qua các sắc lệnh;
Bước 8: Chỉ định một ủy ban nhân dân tư vấn đánh giá;
Bước 9: Thường xuyên tổ chức các buổi họp, những buổi tham vấn cộng đồng và kiểm toán hàng năm đối với kế hoạch thu, chi ngân sách trung hạn
Trong bước 3 và bước 5 của quá trình xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách
có các nội dung quan trọng thể hiện tính công khai, minh bạch đó là: trưng cầu dân
ý và các bước tiến hành biểu quyết Các câu hỏi trong trưng cầu dân ý sẽ cơ bản tạo
ra các điều khoản và mục tiêu của kế hoạch, bao gồm thời hạn thực hiện, các khoản thu ngân sách đạt được, các mục chi ngân sách và điều khoản cam kết Nếu đa số phiếu tán thành vấn đề được nêu ra thì kế hoạch thu, chi ngân sách sẽ được thực
Trang 23hiện dựa trên các điều khoản thu, mục chi ngân sách qua các năm Những khoản thu theo kế hoạch NSĐP tự quản là các khoản thuế (thuế tài sản, thuế kinh doanh )
Sau khi kế hoạch thu, chi ngân sách địa phương trung hạn được thiết lập, số thu, chi phải tăng cố định theo tỷ lệ phần trăm của thời kỳ kế hoạch nhưng phải đảm bảo tăng tích lũy cho nền kinh tế và đóng góp vào ngân sách quốc gia
Bang New Mexico: Kế hoạch thu, chi ngân sách trung hạn và dài hạn xét về tổng thể được xây dựng theo trình tự như Nebraska; nhưng về nội dung được thể hiện chi tiết hơn đến từng dự án trong kế hoạch chi ngân sách và còn thể hiện tính công khai minh bạch hơn nữa là kế hoạch thu, chi ngân sách được in và phổ biến cho người dân trong vùng, địa phương
Quan nghiên cứu cho thấy kế hoạch ngân sách của bang Nebraska và New Mexico nói riêng và Hoa kỳ nói chung được giao tự quản bằng các đạo luật phù hợp với từng địa bàn, rất chú trọng đến việc trưng cầu dân ý, thể hiện mặt tích cực về dân chủ, tính công khai minh bạch trong xây dựng kế hoạch thu, chi NSĐP Phương pháp, trình tự xây dựng kế hoạch ngân sách đơn giản, dễ làm nhưng rất khoa học và mang tính phân cấp, tự chủ cao về ngân sách Song bên cạnh đó, còn một số hạn chế1 làm chậm sự tăng trưởng kinh tế địa phương đó là: Không thành phố nào được
tự phân bổ quá 0,4% tổng nguồn thu trong năm ngân sách và không được vượt mức phân bổ đã được cử tri thông quan; Không thành phố lớn2 nào được phép phân bổ vượt quá 3.000.000 USD mỗi năm; Không đô thị loại I3 nào được phép phân bổ số tiền vượt quá 2.000.000 USD năm (2000 – LB1258); Không một đô thị loại II4 nào được phép phân bổ số tiền vượt quá 1.000.000 USD mỗi năm
Việt Nam là nước đang phát triển, các địa phương cần học hỏi kinh nghiệm, vận dụng sáng tạo các ưu điểm mang tính khoa học, có sự kết nối với thực tiến và
Trang 24khắc phục những tồn tại trong công tác xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách của Bang Nebraska và New Mexico
Kế hoạch thu, chi ngân sách 5 năm của thành phố Thâm Quyến tỉnh Quảng Đồng (Trung Quốc)
Kế hoạch ngân sách 5 năm do HĐND thành phố dự thảo và UBND thành phố chịu trách nhiệm hoàn thiện dự thảo trước khi bắt đầu một thời kỳ ngân sách
Ủy ban thường trực HĐND chịu trách nhiệm thẩm tra, phê duyệt và điều chỉnh cục
bộ cần thiết hàng năm HĐND thành phố và Ủy ban thường trực HĐND phải tuân theo nguyên tắc khoa học, xác thực, hợp pháp, lợi ích, dự báo và phản ánh của tài chính công khi kiểm tra kế hoạch ngân sách
Bước 1: Dự thảo nội dung kế hoạch thu, chi ngân sách
(1) Tư tưởng định hướng của dự thảo kế hoạch phải phù hợp đường lối, chính sách và nguyên tắc của Đảng và Nhà nước, dữ liệu dự thảo kế hoạch phản ánh được yêu cầu thực tế của đời sống kinh tế và phát triển xã hội của thành phố;
(2) Phải phù hợp với Luật ngân sách và yêu cầu của các bộ luật, quy định liên quan và hợp lý về cơ cấu ngân sách;
(3) Đảm bảo các nguyên tắc chi trong giới hạn thu và sự cân bằng thu, chi; (4) Kế hoạch thu nhập ngân sách minh bạch, phản ánh đầy đủ các nguồn thu của thành phố;
(5) Kế hoạch chi tiêu ngân sách phải hợp lý; tuân theo nguyên tắc định hướng vận hành nền kinh tế khắt khe và xây dựng đất nước thông qua tiết kiệm, lao động cần cù, các nguyên tắc xem xét tổng thể, mức độ quan trọng khẩn cấp và đảm bảo các vấn đề trọng điểm; phân bổ hợp lý cho các vấn đề thời sự được người dân quan tâm
(6) Các dự án đầu tư TSCĐ có tầm ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, môi trường địa phương và khu vực hoặc cần số tiền đầu tư lớn hơn
Kế hoạch chi đầu tư công đảm bảo đủ các nội dung của kế hoạch ngân sách; đồng thời, yêu cầu một số nội dung sau:
- Phù hợp với quy tắc hành chính về đầu tư nhà nước của UBND thành phố Thâm Quyến và các bộ luật, quy định liên quan;
Trang 25- Cơ cấu đầu tư hợp lý với từng năm và thời kỳ; trọng tâm đầu tư vào các dự
án phúc lợi công cơ bản;
- Phân bổ vốn phù hợp với nguồn cân đối NSĐP
Bước 2: Thẩm tra kế hoạch ngân sách
Kế hoạch ngân sách trước khi phê duyệt phải được tiến hành thẩm tra qua hai bước (thẩm tra ban đầu và thẩm tra phê duyệt) Trong quá trình thực hiện sẽ tiến hành thẩm tra điều chỉnh kế hoạch
- Thẩm tra sơ bộ kế hoạch ngân sách trước kỳ đại hội đại biểu HĐND thành phố do Ủy ban kế hoạch và ngân sách HĐND thành phố thực hiện Phòng Tài chính
và Kế hoạch của UBND thành phố có trách nhiệm báo cáo kịp thời với Ủy ban kế hoạch và ngân sách tình hình dự thảo kế hoạch thu, chi ngân sách; đồng thời, nộp các tài liệu sau để kiểm tra 1 tháng rưỡi trước kỳ đại hội đại biểu HĐND:
(1) Dự thảo kế hoạch thu ngân sách trung hạn 5 năm (chi tiết đến từng năm
và các khoản thu);
(2) Dự toán chi ngân sách 5 năm (chi tiết đến từng năm và các mục chi);
Dự thảo kế hoạch đầu tư công cả giai đoạn (có các danh mục dự án cụ thể và phân kỳ đầu tư các năm);
(3) Dự thảo kế hoạch dự phòng ngân sách, các quỹ, thu chi của các phòng ban, kinh phí khen thưởng từ cấp cao hơn và trợ cấp tài chính cho các cấp dưới theo hạng mục
- Thẩm tra phê duyệt kế hoạch ngân sách do Ủy ban thường trực HĐND thành phố thực hiện UBND thành phố trình các tài liệu sau đây lên Ủy ban thường trực HĐND 20 ngày trước kỳ đại hội đại biểu HĐND thành phố:
(1) Các thông tin về việc thực hiện kế hoạch ngân sách của nhiệm kỳ trước
và báo cáo dự thảo kế hoạch thu, chi ngân sách của nhiệm kỳ này;
(2) Dự thảo kế hoạch thu, chi ngân sách;
(3) Thông tin về thực hiện kế hoạch các dự án đầu tư nhà nước nhiệm kỳ trước và báo cáo dự thảo kế hoạch đầu tư công nhiệm kỳ này;
(4) Dự thảo kế hoạch đầu tư công trung hạn
Trang 26Ủy ban thường trực HĐND gửi các tài liệu trên cho tất cả các đại biểu tham
dự 10 ngày trước kỳ đại hội Riêng dự thảo kế hoạch thu, chi ngân sách phải được gửi cho tất cả các đại biểu HĐND thành phố 15 ngày trước kỳ đại hội
Ủy ban kế hoạch và NS sẽ tổ chức một cuộc họp tổng thể, trình Đoàn chủ tịch báo cáo kết quả thẩm tra dự thảo kế hoạch ngân sách phù hợp với ý kiến thảo luận Đại hội đại biểu nhân dân Báo cáo kết quả thẩm tra được in và chuyển đến các đại biểu tham dự cuộc họp để thảo luận, Đoàn chủ tịch thông qua và trình dự thảo nghị quyết kế hoạch ngân sách lên cuộc họp tổng thể để lấy ý kiến biểu quyết Trong cuộc họp toàn thể HĐND sẽ nghe và thảo luận báo cáo của UBND thành phố về dự thảo kế hoạch thu, chi ngân sách Thảo luận có thể tiến hành dưới hình thức thảo luận nhóm, thảo luận đặc biệt, thảo luận đại biểu và thảo luận họp Đại biểu đưa ra các câu hỏi về những vấn đề liên quan, lãnh đạo UBND thành phố
và những người có trách nhiệm hoặc nhân viên các phòng, ban liên quan sẽ lắng nghe ý kiến, trả lời các chất vấn của đại biểu và điều chỉnh dự thảo Ít nhất 10 đại biểu đến dự Đại hội có thể cùng đưa ra các chất vấn, yêu cầu UBND và Phòng Tài chính và Kế hoạch chỉnh sửa dưới hình thức văn bản về các vấn đề liên quan đến kế hoạch thu, chi NSĐP
Sau khi kế hoạch thu, chi ngân sách được phê duyệt, Phòng Tài chính và Kế hoạch sẽ trình Ủy ban kế hoạch và ngân sách ghi lại hồ sơ trong vòng 1 tháng Kế hoạch ngân sách 5 năm sẽ có hiệu lực pháp luật kể từ khi phê duyệt và không được thay đổi, trừ khi có thủ tục pháp lý quy định
- Thẩm tra phê duyệt điều chỉnh kế hoạch ngân sách: UBND thành phố lập
đề án điều chỉnh trình Ủy ban thường trực HĐND thẩm tra và phê duyệt Với các nội dung cần điều chỉnh như sau:
(1) Các điều chỉnh cục bộ hàng năm;
(2) Các dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước;
(3) Các chỉ tiêu thu, chi ngân sách thay đổi do điều chỉnh thu nhập;
(4) Điều chỉnh các khoản chi tiêu lớn cho nông nghiệp, giáo dục, khoa học nghệ và bảo vệ môi trường
Bước 3: Kiểm toán và thẩm tra phê duyệt quyết toán ngân sách
Trang 27Trong quá trình thực hiện kế hoạch thu, chi ngân sách trung hạn và dài hạn, sau khi kết thúc một năm ngân sách, Phòng Kiểm toán của UBND thành phố báo cáo kết quả kiểm toán ngân sách và các tài liệu liên quan trình Ủy ban kế hoạch và ngân sách 30 ngày trước khi Ủy ban thường trực HĐND tổ chức họp Đồng thời, Phòng Tài chính lập dự thảo quyết toán lên UBND thành phố để trình Ủy ban thường trực HĐND trước 30 ngày để thẩm tra phê duyệt
Quan nghiên cứu phân tích có thể khẳng định rằng: Kế hoạch thu, chi ngân sách địa bàn của thành phố Thâm Quyến (Trung Quốc) được xây dựng rất chặt chẽ, chú trọng công tác thẩm tra kế hoạch và kiểm toán trong suốt quá trình thực hiện
Từ đó, phát huy vai trò của HĐND và giảm thiểu thất thoát, lãng phí NSNN ngay từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và quyết toán ngân sách Đó là những mặt tích cực trong công tác xây dựng kế hoạch NSĐP của Trung Quốc có thể làm kinh nghiệm vận dụng trong xây dựng kế hoạch NSĐP ở Việt Nam (do có nhiều điểm tương đồng về chính trị và chính sách, pháp luật) Tuy nhiên, công tác xây dựng kế hoạch của Thâm Quyến còn có hạn chế cần khắc phục và tránh vận dụng trong công tác xây dựng kế hoạch ngân sách, đó là: thủ tục rườm rà, mất quá nhiều thời gian, kinh phí cho việc thẩm tra và tổ chức hội họp
2.2.2 Kế hoạch thu, chi ngân sách của Việt Nam từ năm 2009-2014
a) Kế hoạch thu ngân sách nhà nước
Kế hoạch thu NSNN trung hạn và dài hạn do Bộ Tài chính xây dựng trên cơ
sở đánh giá khả năng thực hiện thu ngân sách giai đoạn trước, dự báo tình hình đầu
tư, phát triển sản xuất kinh doanh và hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu của năm kế hoạch; tính toán cụ thể các yếu tố tăng, giảm thu do thực hiện các Luật thuế mới sửa đổi, bổ sung (Luật Quản lý thuế, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và GTGT sửa đổi), các khoản thu được miễn, giảm, gia hạn theo các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ Tăng cường theo dõi, kiểm tra, kiểm soát việc
kê khai thuế của các tổ chức, cá nhân nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp kê khai không đúng, không đủ số thuế phải nộp; chỉ đạo chống thất thu, thu số thuế nợ đọng từ các năm trước, các khoản thu từ các dự án đầu tư đã hết thời gian
ưu đãi, khoản thu được phát hiện qua công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán…Trên
Trang 28cơ sở đó, huy động vào NSNN từ thuế, phí tăng từ 16-23%/năm; Kế hoạch thu nội địa (không kể thu từ dầu thô, thu tiền sử dụng đất) tăng từ 12-18%/năm; Kế hoạch thu từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng 7%/năm
b) Kế hoạch chi ngân sách nhà nước: Triệt để tiết kiệm, chống lãng phí ngay
từ khâu xác định nhiệm vụ quan trọng, trọng tâm cần thực hiện trong thời kỳ kế hoạch, lập kế hoạch chi NSNN theo đúng các quy định pháp luật về chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách Việc xây dựng kế hoạch chi NSNN đối với một số lĩnh vực, nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Chi đầu tư phát triển: kế hoạch ngân sách năm 2009-2014 phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010 và 5 năm 2011-2015; bảo đảm chi đầu tư phát triển trên tổng chi NSNN ở mức hợp lý Việc bố trí phân bổ vốn đầu
tư từ NSNN được thực hiện đúng các nguyên tắc cụ thể như sau:
Thứ nhất, đúng quy định tại Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của
Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn NSNN và vốn TPCP, Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 về những giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại các địa phương Tập trung bố trí vốn đầu tư từ NSNN để hoàn thành và đẩy nhanh tiến độ các dự án quan trọng quốc gia, các chương trình MTQG, các dự án trọng điểm có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước, các ngành, địa phương
Thứ hai, ưu tiên bố trí vốn cho các công trình đã hoàn thành và bàn giao đưa
vào sử dụng nhưng chưa bố trí đủ vốn; thanh toán nợ xây dựng cơ bản; các dự án dự kiến hoàn thành (theo tiến độ trong quyết định đầu tư, khả năng cân đối vốn và khả năng thực hiện từ 2009-2014); vốn đối ứng cho các dự án ODA theo tiến độ thực hiện dự án; các dự án sử dụng vốn TPCP giai đoạn 2012-2015 nhưng chưa được bố trí đủ vốn để hoàn thành
Thứ ba, bố trí hoàn trả các khoản vốn ứng trước theo đúng quyết định của
Thủ tướng Chính phủ
Thứ tư, số vốn còn lại bố trí cho các dự án chuyển tiếp thực hiện theo tiến độ
được phê duyệt trên cơ sở rà soát phạm vi, quy mô đầu tư phù hợp với mục tiêu và khả năng cân đối nguồn vốn
Trang 29Thứ năm, đối với các dự án khởi công mới chỉ bố trí vốn cho các dự án thật
sự cấp bách khi xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn ở từng cấp ngân sách và có đủ thủ tục đầu tư theo quy định trước ngày 31/10 của năm trước năm kế hoạch; chỉ được bố trí vốn cho các dự án khởi công mới sau khi đã bố trí đủ vốn để
xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản Các dự án đầu tư sử dụng vốn NSNN thực hiện kế hoạch các năm được thẩm định nguồn và quyết định đầu tư đúng quy định
- Chi thường xuyên: tập trung phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa - thông tin, môi trường theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội; chi bảo đảm an sinh xã hội; quốc phòng - an ninh trong tình hình mới; chi quản lý hành chính nhà nước chặt chẽ, tiết kiệm Kế hoạch chi thường xuyên được xây dựng trên cơ sở chính sách, chế độ, định mức của Nhà nước
Lồng ghép, giảm bớt sự trùng lắp, chồng chéo, lãng phí, sắp xếp, cơ cấu lại nhiệm vụ chi phù hợp với khả năng cân đối của NSNN để thực hiện các chương trình, đề án Tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập về cả tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân lực, tài chính để đa dạng hóa, nâng cao chất lượng dịch vụ công và nguồn lực phát triển sự nghiệp công Các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là các bộ quản lý ngành, lĩnh vực và các địa phương đã phân định rõ loại dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công thực hiện, loại dịch vụ do các đơn vị ngoài công lập thực hiện; xây dựng được khung giá, phí dịch vụ các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng có phân loại để điều chỉnh: loại đơn vị có thể điều chỉnh giá, phí để tính đủ tiền lương; loại đơn vị có thể điều chỉnh giá, phí tính đủ tiền lương, một phần hoặc toàn bộ chi phí quản lý và khấu hao TSCĐ Trên cơ sở đó, phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo các mức giá, phí để xác định mức hỗ trợ từ ngân sách cho phù hợp
Bổ sung có mục tiêu kinh phí sự nghiệp từ NSTW cho các địa phương để thực hiện các chương trình MTQG, các chương trình cấp có thẩm quyền quyết định
Trong điều kiện cân đối ngân sách khó khăn các bộ, ngành, địa phương, các
cơ quan, đơn vị có sử dụng ngân sách lập kế hoạch chi thường xuyên đúng tính chất nguồn kinh phí, triệt để tiết kiệm, đặc biệt là chi mua sắm phương tiện, trang thiết bị đắt tiền, hạn chế tối đa về số lượng và quy mô tổ chức lễ hội, hội nghị, hội thảo,
Trang 30tổng kết, lễ ký kết, khởi công, phong tặng danh hiệu, tiếp khách, đi công tác trong, ngoài nước và các nhiệm vụ không cần thiết khác
Chủ động thực hiện cơ chế tạo nguồn cải cách tiền lương từ nguồn tiết kiệm 10% chi thường xuyên (không kể tiền lương và các khoản có tính chất lượng); một phần nguồn thu được để lại theo chế độ của các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp; 50% tăng thu NSĐP (không kể tăng thu tiền sử dụng đất); các nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm trước chưa sử dụng hết để thực hiện tiền lương cơ sở (thay cho mức lương tối thiểu chung)
- Các chương trình MTQG: Đổi mới cơ chế quản lý, điều hành thực hiện theo hướng lồng ghép và tăng quyền chủ động đối với địa phương trong việc sử dụng nguồn vốn và tính tự chịu trách nhiệm của Bộ quản lý chương trình, cơ quan thực hiện mục tiêu của chương trình Xây dựng phương án phân bổ trung hạn trên
cơ sở nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ của từng chương trình Nguồn vốn NSNN được tập trung phân bổ để thực hiện tại các địa phương, ưu tiên những địa phương có điều kiện khó khăn, những nơi cần tập trung nguồn lực để giải quyết các vấn đề cấp bách, bức xúc và các các dự án, công trình đã hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng nhưng chưa bố trí đủ vốn, các dự án dự kiến hoàn thành, các dự án chuyển tiếp
- Đối với nguồn TPCP: Kế hoạch vốn ưu tiên bố trí cho các dự án hoàn thành, dự kiến hoàn thành (theo tiến độ trong quyết định đầu tư) trong thời gian từ 2009-2014 Năm 2014, đã bố trí vốn TPCP hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã xây dựng nông thôn mới
- Các chương trình, dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): lập kế hoạch ngân sách theo đúng trình tự, quy định của Luật NSNN, Luật Quản lý
nợ công và các văn bản hướng dẫn, các Nghị định của Chính phủ về quản lý đầu tư xây dựng, quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), quy trình giải ngân trong các văn kiện chương trình, dự án và hiệp định tài trợ đã ký kết, trong đó chi tiết nguồn vốn ODA, vốn đối ứng theo các chương trình, dự án và theo tính chất nguồn vốn đầu tư, kinh phí sự nghiệp phù hợp với tiến độ giải ngân
Trang 31Toàn bộ nguồn vốn vay, viện trợ cho mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu được cân đối chung trong kế hoạch NSNN và bố trí để thực hiện chương trình và đầu tư các dự án ứng phó với biến đổi khí hậu
- Ngân sách TW và NSĐP các cấp đã bố trí dự phòng ngân sách theo quy định của Luật NSNN để chủ động đối phó với thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh và thực hiện những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách phát sinh ngoài dự toán
Hoạt động tài chính – ngân sách của Việt Nam những năm gần đây có nhiều tiến chuyển biến tích cực từ khâu xây dựng kế hoạch đến quản lý điều hành thực hiện; từng bước hiện đại hóa bằng việc áp dụng công nghệ mới trong kế hoạch, phân bổ, điều hành trên phân hệ Tabmis đồng bộ từ TW đến địa phương, đã phát huy hiệu quả góp phần thực hiện cải cách nền tài chính quốc gia Mặc dù trong điều kiện khó khăn (suy thoái kinh tế toàn cầu và suy giảm kinh tế, lạm phát trong nước) việc tổ chức điều hành thực hiện kế hoạch ngân sách đạt nhiều kết quả quan trọng, thu cân đối NSNN từ 2009-2014 bình quân tăng 14,96% Kế hoạch ngân sách đã bố trí nguồn vượt thu, tăng bội chi NSNN để tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển nhằm kích thích nền kinh tế, tăng kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh Đã khắc phục được tình trạng kết dư, chuyển nguồn trong 2 năm gần đây Việc xây dựng kế hoạch NSNN đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành TW, địa phương; công khai, minh bạch, công bằng trong xây dựng kế hoạch và phân bổ nguồn lực NSNN Kế hoạch ngân sách từ 2009-2014 được thể hiện bảng 2.1
Tuy nhiên, những năm gần đây do ảnh hưởng nặng nề của suy thoái kinh tế nên bội chi ngân sách còn khá lớn chiếm 4,8-5,3% GDP và có thời điểm lên đến 6,2% GDP; Chính phủ vay trong nước thông qua phát hành trái phiếu và vay nước ngoài để bù đắp thâm hụt ngân sách
2.2.3 Tình hình xây dựng và thực hiện kế hoạch ngân sách tỉnh Lai Châu
Tỉnh Lai Châu được thành lập ngày 26/11/2003, chính thức đi vào hoạt động ngày 01/01/2004 Tổng diện tích tự nhiên 9.112,32 km2; có 8 huyện, thành phố gồm 108 xã, phường, thị trấn; dân số 425.047 người (năm 2014) với 20 nhóm dân tộc; là tỉnh miền núi cao tận cùng phía Tây Bắc lãnh thổ Việt Nam, biên giới
Trang 32với Trung Quốc dài 273 km, 4 huyện, 21 xã biên giới; do đó, có vị trí quan trọng
về an ninh, quốc phòng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia Lai Châu có nhiều tiềm năng, lợi thế cho phát triển: Tài nguyên đất với diện tích tự nhiên rộng (đất chưa sử dụng chiếm 50,18%), tài nguyên nước với lượng mưa trong năm lớn, lưu vực Sông Đà, modun dòng chảy lớn nhất Việt Nam, mật độ khe suối chảy vào Sông Đà 5,5 - 6km/km2, độ dốc dòng chảy có tiềm năng thủy năng rất lớn Tài nguyên rừng với tỷ lệ che phủ 44,3% (năm 2014) nếu được tập trung khoanh nuôi, tái sinh, trồng và bảo vệ, nâng cao độ che phủ sẽ duy trì nguồn nước cho thủy điện, đảm bảo nguồn nước sinh hoạt, sản xuất và hạn chế lũ lụt phá hoại châu thổ Sông Hồng Giữa ba tài nguyên đất, rừng, nước có mối quan hệ chặt chẽ, trong đó việc bảo vệ và phát triển rừng có ý nghĩa quyết định tới bảo tồn, phát triển nguồn thủy sinh và bảo vệ đất đai của Lai Châu nói riêng và vùng Tây Bắc, Bắc Bộ nói chung Khoáng sản có trên 120 điểm (vàng, đồng, chì, kẽm, đá đen và đặc biệt là đất hiếm) Tiềm năng về du lịch rất lớn (du lịch trên hồ, các hang động, điểm suối nước nóng tự nhiên, nghỉ dưỡng sinh thái Sìn Hồ) Là điểm trung chuyển giữa Sa
Pa, Điện Biên; giữa Hà Khẩu, Ma Lù Thàng; điểm đến của các tour du lịch “Tình
Ca Tây Bắc”, “Về lại Điện Biên”
Tuy nhiên, Lai Châu vẫn là địa phương ĐBKK do nhiều yếu tố khách quan, điều kiện chủ quan như núi cao hiểm trở (trên 60% có độ dốc cao >1.000m), độ dốc lớn (trên 90% diện tích dốc >25%) Đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp 8,51% diện tích tự nhiên, đất trồng lúa 3,2% Khí hậu khắc nhiệt diễn biến bất thường Dân cư thưa với mật độ dân số 38 người/km2, có nơi (Mường Tè) chỉ có 13 người/km2 Trong nhóm 20 dân tộc có 5 dân tộc nhân khẩu dưới 10.000 người, đặc biệt người Si La chỉ có 594 người Đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao có tập quán canh tác lạc hậu (78% nghèo đói vì không biết làm ăn)
Qua 10 năm phấn đấu, Lai Châu có những thành tựu lớn trong phát triển kinh tế - xã hội Kinh tế có mức tăng trưởng khá, tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt 8,61%; bình quân GRDP/đầu người/năm đạt 16,3 triệu đồng (năm 2014) Các chính sách có tác dụng tốt, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Sản xuất nông nghiệp ổn định và có bước phát triển, diện tích
Trang 33nương giảm, đã hình thành một số vùng chuyên canh tập trung Giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng (giá cố định 2010) 1.141.500 triệu đồng Các ngành dịch
vụ phát triển nhanh, phục vụ tốt cho phát triển sản xuất và đời sống Hoạt động của khẩu Ma Lù Thàng được quan tâm Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được gia tăng số lượng và nâng cao chất lượng Thu ngân sách bàn tăng qua các năm và nguồn thu ngân sách từng bước mở rộng và ổn định bằng việc đổi mới phương pháp lập, điều hành kế hoạch thu, chi ngân sách trên địa bàn
Về Kế hoạch thu ngân sách: Tổng thu NSĐP tăng khá nhanh từ 3.406.421 triệu đồng năm 2009, đạt 7.394.160 triệu đồng năm 2013 Thực chất khi loại trừ các khoản thu kết dư, chuyển nguồn, vay đầu tư thì tổng thu NSĐP là 2.571.620 triệu đồng (thu nội địa 207.000 triệu đồng) năm 2009, đạt 5.699.957 triệu đồng (thu nội địa 545.908 triệu đồng) năm 2013; bình quân tăng 22,02%/năm Số thu vượt dự toán giao giảm từ 21% năm 2009, xuống còn 3,9% năm 2013
Về Kế hoạch chi ngân sách: Tổng chi NSĐP 3.406.421 triệu đồng năm
2009, đến năm 2013 là 7.394.160 triệu đồng, bình quân tăng 21,38%/năm Khoản chi ngoài dự toán năm 2009 phát sinh tăng 21%, năm 2013 còn 10,5%; chủ yếu do tăng lương, nguồn vốn TW bổ sung và chi từ tăng thu ngân sách
Chi cân đối ngân sách địa phương 1.742.410 triệu đồng năm 2009 và đến năm 2013 là 4.208.563 triệu đồng Số phát sinh ngoài dự toán giảm qua các năm,
từ 30% năm 2009 đến 2013 chỉ ở mức 8% so với kế hoạch giao
Đầu tư phát triển tăng mạnh năm 2009 là 339.960 triệu đồng (kết dư 25.536 triệu đồng, phát sinh ngoài dự toán đến 73%), đạt 355.917 triệu đồng năm 2013 (tăng 21% so với dự toán) Chi đầu tư XDCB từ nguồn vốn trong nước 148.270 triệu đồng (kết dư 18.646 triệu đồng, tăng 14% so với dự toán) và 241.800 triệu đồng năm 2013 đạt 100% kế hoạch Chi từ nguồn thu tiền sử dụng đất, năm 2009
là 67.085 triệu đồng tăng 32% so với dự toán và 53.600 triệu đồng năm 2013 đạt 100% kế hoạch Chi hỗ trợ doanh nghiệp thành lập 7.100 triệu đồng đạt 100% kế hoạch Chi từ nguồn vốn vay Ngân hàng Phát triển 92.645 triệu đồng năm 2009 (kết dư năm 2008: 2.645 triệu đồng), đến năm 2013 là 180.000 triệu đồng Chi từ
Trang 34nguồn ủng hộ đóng góp 26.620 triệu đồng năm 2011 Chi đầu tư từ nguồn tăng thu ngân sách 59.017 triệu đồng năm 2013
Chi thường xuyên 1.353.882 triệu đồng (phát sinh ngoài kế hoạch 23%) năm 2009, đạt 3.759.746 triệu đồng (phát sinh ngoài kế hoạch còn 5%) năm 2013 Chi đảm bảo an sinh xã hội 46.495 triệu đồng năm 2009 và đạt 68.359 triệu đồng năm 2013, phát sinh ngoài dự toán giảm từ 77% năm 2009 xuống còn 18% năm
2013 Chi sự nghiệp kinh tế 118.197 triệu đồng năm 2009 và đạt 358.913 triệu đồng năm 2013, phát sinh ngoài kế hoạch 12% Sự nghiệp giáo dục - đào tạo 585.287 triệu đồng năm 2009 và đạt 1.735.100 triệu đồng năm 2013, phát sinh ngoài kế hoạch giảm từ 19% năm 2009 còn 4% năm 2013 Sự nghiệp y tế 156.425 triệu đồng năm 2009 và đạt 497.403 triệu đồng năm 2013, phát sinh ngoài dự toán giảm từ 15% năm 2009 còn 8% năm 2013 Chi sự nghiệp khoa học công nghệ 6.636 triệu đồng năm 2011 đạt 7.776 triệu đồng năm 2013 để triển khai một số đề tài khoa học Chi sự nghiệp văn hoá thông tin, thể dục thể thao, phát thanh truyền hình 37.356 triệu đồng năm 2009 và đạt 79.883 triệu đồng năm 2013, phát sinh ngoài kế hoạch giảm từ 8% năm 2009 còn 2% năm 2013 Chi Quản lý hành chính 245.018 triệu đồng (phát sinh ngoài dự toán 35%) năm 2009 và đạt 897.694 triệu đồng (phát sinh ngoài dự toán 6%) năm 2013
Chi thực hiện các dự án, Chương trình MTQG 306.164 triệu đồng (phát sinh ngoài kế hoạch chiếm 14%) năm 2009 và đạt 424.267 triệu đồng (phát sinh ngoài dự toán 6%) năm 2013
Dự phòng ngân sách 41.268 triệu đồng năm 2009 và tăng lên 60.900 triệu đồng năm 2013 (chiếm 1,1% tính trên tổng chi ngân sách) để thực hiện các nhiệm
vụ cấp bách phát sinh ngoài dự toán: phòng chống dịch bệnh, khắc phục hậu quả thiên tai (lũ lụt, sạt nở đất, rét đậm rét hại ), thực hiện các dự án quan trọng cấp bách và đảm bảo an sinh xã hội Bên cạnh đó, thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội tỉnh Lai Châu đã tiết kiệm 10% dự toán giao dành để cải cách tiền lương và đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn
Trang 35Năm 2014, thực hiện Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 25/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và NSNN năm 2014; Thông tư số 90/2013/TT-BTC ngày 28/6/2013 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn xây dựng dự toán NSNN năm 2014; tỉnh Lai Châu xác định mục tiêu tài chính - NSNN là đặc biệt quan trọng phải có giải pháp thực hiện chính sách thu nhằm tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và thu hút đầu tư; Xây dựng kế hoạch thu ngân sách phản ánh sát với hoạt động của nền kinh tế và tình hình tài chính các doanh nghiệp; cơ cấu lại NSNN, quản lý chặt chẽ, tiết kiệm
có hiệu quả các nguồn lực tài chính, đảm bảo an ninh tài chính; bố trí dự toán chi chặt chẽ, triệt để tiết kiệm, nâng cao hiệu quả chi tiêu công; ưu tiên nguồn lực thực hiện chính sách cải cách tiền lương và các chế độ chính sách mới, đầu tư cho nông nghiệp nông thôn, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, chính sách an sinh xã hội cho người nghèo, bảo trợ xã hội; phân bổ chương trình, dự án theo hướng lồng ghép, đồng bộ Đảm bảo các nhiệm vụ chi cần thiết, quan trọng nhằm duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ổn định tăng trưởng, đảm bảo quốc phòng,
an ninh và công tác đối ngoại trong tình hình mới Tổng hợp kế hoạch thu, chi NSNN của Lai Châu năm 2014 thể hiện ở bảng 2.4 và 2.5
Trong 5 năm (2009-2013) và năm 2014, công tác xây dựng kế hoạch thu, chi ngân sách trên địa bàn tỉnh Lai Châu có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước được cải thiện, nâng cao về chất lượng, đảm bảo tiến độ, ngày càng khoa học hơn
và sát với điều kiện thực tế của địa phương Kết quả thực hiện kế hoạch ngân sách,
số thu ngân sách vượt cao so với kế hoạch giao hàng năm; chi ngân sách ổn định với các khoản chi phát sinh ngoài dự toán giảm Cán cân ngân sách từng bước được cải thiện, hình thành tích lũy cho nền kinh tế; tỷ lệ thu, chi cân đối ngân sách
từ TW giảm qua các năm (bình quân từ năm 2009-2014 thu ngân sách tăng 28,43% và chi ngân sách tăng 21,38%) Kế hoạch thu, chi ngân sách ngày càng phát huy vai trò là công cụ điều tiết nền kinh tế, ổn định chính trị, xã hội và đảm bảo quốc phòng – an ninh tỉnh Lai Châu
Mặc dù có nhiều cố gắng, lĩnh vực tài chính - ngân sách tỉnh Lai Châu còn một số tồn tại, yếu kém: công tác xây dựng kế hoạch chưa khai thác hết các nguồn
Trang 36thu nên còn tình trạng thất thu ngân sách Kế hoạch chi ngân sách xác định thiếu một số nhiệm vụ chi nên phát sinh ngoài dự toán khá lớn; chi đầu tư chưa bố trí cho các Chương trình, dự án có hiệu quả kinh tế để thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Chi sự nghiệp khoa học công nghệ mới chỉ thực hiện từ năm 2011 và chiếm tỷ lệ thấp từ 0,1-0,2% tổng chi NSĐP Dự phòng ngân sách thấp chưa đảm bảo theo định mức quy định của Bộ Tài chính (2-5% tính trên tổng chi NSĐP) nên còn nhiều nhiệm vụ quan trọng phát sinh chưa được xử lý kịp thời trong năm kế hoạch Kết quả thực hiện kế hoạch chi ngân sách có nhiều hạn chế, số kết dư, chuyển nguồn ngân sách hàng năm còn khá lớn chiếm từ 19-25% tổng chi ngân sách Lai Châu là tỉnh nghèo so với mặt bằng chung của cả nước, nguồn thu ngân sách nhỏ hẹp chỉ đáp ứng được 10-30% yêu cầu chi ngân sách Kế hoạch tài chính chưa tự cân đối được thu, chi phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách TW; khoản thu, chi cân đối từ ngân sách TW chiếm tỷ lệ cao (từ 63-74% tổng thu NSĐP) Theo
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lai Châu thời kỳ 2006-2020 thì nhu cầu vốn đầu tư từ NSNN khá lớn, bình quân 2.700 tỷ đồng/năm (giai đoạn 2006-2010), giai đoạn 2011-2015 là 3.500 tỷ đồng/năm, giai đoạn 2016-2020 khoảng 3.000 tỷ đồng/năm Nếu không có biện pháp tăng nhanh nguồn thu nội địa thì độ phụ thuộc vào trợ cấp NSTW ngày càng lớn
Trang 37Phần III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Than Uyên là một huyện miền núi nằm trong thung lũng lòng chảo của dãy núi Hoàng Liên Sơn và Pu Sam Cáp, được hình thành từ 3 khu vực rõ rệt:
Khu vực phía Đông là sườn Tây của dải Fansipan, núi cao địa hình hiểm trở,
độ dốc lớn
Khu vực giữa: Chạy dọc Quốc lộ 32 từ Phúc Than đến Mường Kim và theo sông Nậm Mu tới Khoen On, là một thung lũng có cấu tạo gồm những dải đồng bằng và đồi núi xen lẫn có độ cao từ 500-650m so với mặt biển; phía Nam có dãy núi Púng Luông
Khu vực phía Tây là đồi núi thấp thuộc dãy Pu Sam Cáp độ cao 600-1.800m;
Vị trí địa lý cách tỉnh lỵ 100km về phí Nam; địa hình chia làm 3 dạng: dạng núi cao (>150m) chiếm 12%, dạng địa hình thấp (<900m) chiếm 60%, dạng cao (từ 900-1.300m) chiếm 28% Địa giới hành chính của huyện: phía Đông giáp huyện Sa
Pa, huyện Văn Bàn (Lào Cai) và huyện Mù Cang Chải (Yên Bái); phía Tây giáp huyện Quỳnh Nhai (Sơn La); phía Nam giáp huyện Mù Cang Chải và huyện Mường
La (Sơn La); phía Bắc giáp huyện Tân Uyên (Lai Châu); phía Đông Bắc giáp huyện Văn Bàn; phía Đông Nam giáp huyện Mù Cang Chải; phía Tây Nam giáp huyện Mường La Than Uyên có 12 đơn vị hành chính (11 xã, 1 thị trấn); 166 bản, khu phố Dân số toàn huyện có 61.874 người, 12.868 hộ (bình quân 5 người/hộ), với 5 nhóm dân tộc chính (Thái 73,2%; Kinh 13,1%; Mông 10,5%; Khơ Mú 2,3%; Dao 0,6%) và một số dân tộc khác sống xem lẫn chiếm 0,3%; mật độ dân số 76 người/1km2 Khí hậu nhiệt đới được phân thành hai mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình từ 22-23oC, ẩm độ 76 – 80%; lượng mưa từ 1.800-2.200mm/năm
Tài nguyên đất: tổng diện tích tự nhiên 79.687,5 ha; trong đó: đất nông nghiệp 31.890,2 ha (đất sản xuất nông nghiệp 6.216,4 ha; đất lâm nghiệp 25.673,8 ha); đất phi nông nghiệp 3.813,3 ha; đất chưa sử dụng 43.984 ha chiếm 55,2% trong tổng diện tích
tự nhiên Đất được chia ra các loại như sau: đất đỏ vàng có tầng Feralít dày 70cm
Trang 38chiếm khoảng 35% phân bố ở độ cao 900–1200 m%; Feralít vàng đỏ chiếm khoảng 65% phân bố ở độ cao < 900 m phù hợp với sinh trưởng các loại cây công nghiệp (chè,
cà phê, cao su, lúa, ngô, đậu tương…); đất mùn pha cát, đá tầng mặt vùng thấp dọc quốc lộ 32 chiếm 30% thích hợp cho sự sinh trưởng của các loại cây lương thực; đá và các loại đất khác 15% Qua phân tích sơ bộ đặc điểm thổ nhưỡng của các loại đất, cho thấy điều kiện tự nhiên của huyện có nhiều lợi thế phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp Đặc biệt, Than Uyên có cánh đồng Mường Than lớn thứ 3 vùng Tây bắc là thế mạnh triển khai quy hoạch dự án phát triển cánh đồng mẫu lớn, sản xuất nông nghiệp hàng hóa, nguyên liệu tập trung
Tài nguyên nước: Với hệ thống sông suối thuộc loại dày (mật độ sông suối từ 1,5-1,7km/km2), diện tích lưu vực sông Nậm Mu (phụ lưu cấp 1 của Sông Đà) khoảng 170km2; hàng năm tiếp nhận khoảng 3,4 tỷ m3 nước và có nhiều hồ chứa nước khu vực thượng huyện; sông Nậm Mu chạy dọc theo chiều dài của huyện từ phía Bắc xuống phía Nam (160km) với lưu lượng dòng chảy, độ dốc lớn là nguồn năng lượng vô tận cho phát triển thuỷ điện; năm 2011, đưa vào vận hành thủy điện Bản Chát công suất 220 MW; dự kiến hoàn thành thủy điện Huội Quảng công suất
520 MW vào năm 2015; trên các nhánh sông cũng đã xây dựng các công trình thủy điện khác: thủy điện Mường Kim 1+2, Nậm Mở 3 công suất 10 MW, Nậm Mở 2 và
hệ thống thuỷ lợi phục vụ sản xuất, cấp nước sinh hoạt cho nhân dân Diện tích mặt nước khá lớn chiếm khoảng 5.000 ha với hệ thủy sinh phong phú là thế mạnh cho phát triển ngành thuỷ sản và dịch vụ gắn với du lịch ở khu vực các hồ thủy điện Nguồn nước ngầm, nước nóng tự nhiên sạch, không ô nhiễm là tiềm năng cho phát triển lĩnh vực dịch vụ, nghỉ dưỡng phục vụ khách du lịch và nâng cao điều kiện sống cho nhân dân
Tài nguyên khoáng sản: Theo số liệu thống kê, khảo sát của Phòng Tài nguyên
và Môi trường trữ lượng khoáng sản trên địa bàn ít, chưa đủ điều kiện khai thác, nằm rải rác ở các vùng khác nhau (Quặng vàng, vàng sa khoáng ở Phúc Than; Đồng ở Tà Hừa; mỏ Than ở Mường Than…)
Tài nguyên rừng: Diện tích đất lâm nghiệp và đất chưa sử dụng chiếm tỉ lệ cao
là điều kiện, lợi thế để phát triển kinh tế rừng, nâng cao thu nhập cho người dân từ nghề
Trang 39rừng Tổng diện tích rừng hiện có 23.253 ha, trong đó: rừng tự nhiên 20.790 ha (rừng sản xuất 11.186 ha, phòng hộ 9.604 ha), rừng trồng 2.463 ha
Nguồn nguyên liệu: Đa dạng, phong phú, nhiều loài cây có giá trị kinh tế cao như: Vối thuốc là cây bản địa thích hợp với điều kiện tự nhiên của vùng, chất lượng gỗ tốt là nguồn cung cấp cho sản xuất công nghiệp tập trung Các loại tre các loại, nứa, hóp, vầu… có thể phát triển với trữ lượng khá lớn là nguồn cung cấp nguyên liệu cho sản xuất giấy và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác Bên cạnh đó, các loại nguyên liệu khác: lương thực, sắn, mía, thảo quả, đậu tương, lạc, ngô, mủ cao su, chè, quế, sơn tra…có khả năng đầu tư tập trung; đảm bảo chữ lượng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm
Thương mại, dịch vụ: Than Uyên là huyện của ngõ, vùng kinh tế động lực của tỉnh Lai Châu, có quốc lộ 32 và 279 chạy qua, cùng với hệ thống giao thông nội huyện (bộ, thủy) được quan tâm đầu tư và thông suốt trong cả mùa mưa lũ Thương mại miền núi đã hình thành (2 chợ liên xã, 1 chợ trung tâm thị trấn); dịch vụ vận tải, nhà hàng, khách sạn phát triển dọc quốc lộ 32 cơ bản đáp ứng hàng tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân cũng là những điều kiện quan trọng định hướng phát triển lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch trên địa bàn
Du lịch và các thế mạnh khác: Khu vực nước ngập thủy điện đã tạo vùng hồ lớn với những hòn Đảo sơn phong cảnh đẹp, đã có những tour du khách theo dọc bờ sông để ngắm cảnh, với những bông hoa ban đặc thù vùng Tây Bắc, thưởng thức món ăn địa phương (Cá cơm nướng ống nứa), cùng người dân nơi đây đánh bắt thủy sản là nguồn tài nguyên phục vụ cho khách du lịch đến Than Uyên Trên địa bàn có nhiều điểm du lịch hấp dẫn như: Di tích lịch sử đèo Khau Co (Phúc Than); Bản Nà Khoang, hang đá Thẩm Đán Chể (Mường Kim); Hang Che Bó (Phúc Than); Bản Lướt xã Mường Kim là một địa danh lịch sử của huyện, của cả tỉnh Lai Châu và tỉnh Điện Biên; Quần thể thắng cảnh Ta Gia có nhiều hang động đẹp; dãy núi đá vôi bạt ngàn với thảm thực vật phong phú
Một tài nguyên quan trọng trong tương lai ở khu vực thượng huyện (Phúc Than) cái nôi của gió, Gió theo hướng Bắc - Nam quanh năm là nơi lý tưởng cho
Trang 40việc xây dựng nhà máy điện bằng năng lương sạch và tạo cảnh quan thu hút du khách đến địa bàn
Nguồn nhân lực: Dân số huyện Than Uyên có đặc điểm trẻ (độ tuổi trung bình 35), cần cù, chịu khó; ở các xã dọc quốc lộ 32 và thị trấn Than Uyên người dân sớm được tiếp cận thông tin và vận dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất và đời sống Dân cư phân bố không đồng đều, dân tộc Thái, Kinh chủ yếu ở khu vực thấp, dân tộc Mông và dân tộc thiểu số khác sống tập trung thành các bản trên vùng núi cao Lực lượng lao động đông đảo với tổng số người trong độ tuổi lao động 36.571 người (trong đó: số lao động được đào tạo bình quân một năm 1.000 người); 80% số người lao động sản xuất nông nghiệp phổ thông, chưa qua đào tạo; thời gian sử dụng lao động ở nông thôn chỉ đạt trên 70%
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Về phát triển kinh tế:
Từ năm 2009 - 2014, nền kinh tế tăng trưởng khá cao và ổn định trên tất cả các ngành, lĩnh vực
Hình 3.1: Biểu đồ tăng trưởng kinh tế huyện Than Uyên
a) Nông, lâm, ngư nghiệp
Nông nghiệp có bước phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa và gắn với xây dựng nông thôn mới Tăng cường thâm canh, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị và hiệu quả kinh tế Giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân tăng 6,7%/năm;