Tham gia xây dựng và phát triển đời sống văn hóa nông thôn, các cấp Hội đã chủ động phối hợp với các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội vận động hội viên, phụ nữ tích cực hưởng ứng cuộc
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
LÊ THỊ MINH
VAI TRÒ CỦA HỘI PHỤ NỮ CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN NGHĨA HƯNG,
TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
LÊ THỊ MINH
VAI TRÒ CỦA HỘI PHỤ NỮ CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN NGHĨA HƯNG,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và hoàn toàn chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Lê Thị Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt luận văn“Vai trò của hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Nghĩa Hưng, Tỉnh Nam Định”, tôi đã nhận được sự
nhiều quan tâm giúp đỡ, chia sẽ nhiệt tình từ các tập thể, các nhân trong và ngoài
trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam, vậy nên:
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt là PGS.TS Quyền Đình Hà, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Chi cục thống kê huyện, cán bộ phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Nghĩa Hưng và ĐU, UBND, các ban ngành tại 3 xã điều tra đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn này
Cuối cùng tôi xin cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên và hỗ trợ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Lê Thị Minh
Trang 5MỤC LỤC
2.1.2 Sự cần thiết tăng cường vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông
2.1.3 Nội dung vai trò của hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới 10 2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng
2.2 Cơ sở thực tiễn về vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn
2.2.1 Kinh nghiệm về vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn
2.2.2 Kinh nghiệm về vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn
Trang 63.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 27
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47 4.1 Thực trạng vai trò của hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới 47 4.1.1 Tình hình xây dựng Nông thôn mới của Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 47 4.1.2 Thực trạng vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới
4.2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn nghiên cứu 66
4.2.3 Một số những thuận lợi, khó khăn hội phụ nữ cơ sở trong việc tham gia
4.3 Định hướng và giải pháp nâng cao vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong xây
4.3.1 Quan điểm về việc nâng cao vai trò của hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng
4.3.2 Giải pháp nâng cao vai trò hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLGT Bạo lực gia đình CAND Công an nhân dân
PTNT Phát triển nông thôn TNXH Tệ nạn xã hội TTCN Tiểu thủ công nghiệp
Trang 8DANH MỤC BẢNG
3.1 Dân số phân theo giới tính và khu vực 27 3.2 Lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và cơ cấu lao động 28 3.3 Tăng trưởng kinh tế huyện giai đoạn 2011 - 2014 29 3.4 Hiện trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế 29 3.5 Một số chỉ tiêu về vận tải của huyện 33 3.6 Bảng phân loại nguồn số liệu thứ cấp 40
4.1 Mức độ hiểu biết của hội viên về đề án xây dựng nông thôn mới 51 4.2 Tình hình tham gia thảo luận của hội viên 51 4.3 Ý kiến đóng góp của hội viên về các hạng mục cơ sở hạ tầng trong
4.4 Mức độ tham gia đóng góp ý kiến của các hội viên tại 3 xã điều tra 53 4.5 Hội viên đóng góp ngày công cho xây dựng nông thôn mới 55 4.6 Hội viên 3 xã điều tra đóng góp tiền mặt cho xây dựng NTM 55 4.7 Hội phụ nữ cơ sở huy động hôi viên hiến đất 56 4.8 Tỷ lệ hội viên tham gia các lớp tập huấn của 3 xã điều tra 58 4.9 Tỷ lệ hội viên được hỗ trợ vốn sản xuất 59 4.10 Tỷ lệ hội viên tham gia lớp dạy nghề trên địa bàn nghiên cứu 59
4.12 Tỷ lệ hội viên hộ điều tra tham gia các CLB 61 4.13 Các chỉ tiêu về văn hóa, môi trường ở 3 xã điểm nghiên cứu 63 4.14 Số chi hội phụ nữ cơ sở được tham gia giám sát các hạng mục 64 4.15 Tỷ lệ hội viên tham gia bình xét khen thưởng cá nhân, tập thể có
thành tích xuất sắc trong xây dựng NTM 65 4.16 Ảnh hưởng của các yếu tố thể chế, chính sách 66 4.17 Kết quả mô hình “Thu gom phế liệu” 68 4.18 Trình độ học vấn của phụ nữ cơ sở trên địa bàn nghiên cứu 69
Trang 9PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng Nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là cuộc vận động đòi hỏi phải có sự nỗ lực, tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội nhằm tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc cải tạo, xây dựng nông thôn theo các tiêu chí mới hướng đến hiện đại, văn minh, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững
Nghị quyết Đại hội, nhiệm kỳ 2011 - 2016 của Hội phụ nữ Việt Nam đã xác định phong trào xây dựng nông thôn mới là một trong ba phong trào thi đua lớn, trọng tâm của Hội Hưởng ứng phong trào này, trong những năm quacác cấp Hội đã vận động cán bộ, hội viên, phụ nữ hăng hái lao động sản xuất, tham gia phát triển kinh tế - xã hội Phụ nữ cả nước đã đóng góp hàng ngàn tỷ đồng, hàng chục triệu ngày công làm mới, sửa chữa hàng trăm ngàn km đường giao thông nông thôn, kênh mương; hàng chục ngàn cầu cống, phòng học, trạm xá, nhà văn hóa thôn, ấp, bản góp phần không nhỏ vào những thành tựu của đất nước trong thời kỳ đổi mới
Tham gia xây dựng và phát triển đời sống văn hóa nông thôn, các cấp Hội
đã chủ động phối hợp với các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội vận động hội viên, phụ nữ tích cực hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, xây dựng gia đình văn hóa, làng, xã văn hoá, xoá bỏ tập quán, hủ tục lạc hậu; tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, thực hiện nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang và lễ hội Hàng năm
có trên chục triệu hộ đăng kí phấn đấu, trong đó có hơn triệu hộ đạt danh hiệu
“Gia đình văn hóa” Hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nông dân về bảo vệ môi trường nông thôn; tham gia xây dựng mô hình điểm về cấp nước sạch, công trình vệ sinh, tổ tự quản thu gom xử lý rác thải nông thôn và mô hình
về sản xuất nông nghiệp sạch ngày càng được các cấp Hội quan tâm triển khai thực hiện Công tác phổ biến, giáo dục, tư vấn pháp luật, thực hiện Quy chế dân
Trang 10chủ ở cơ sở gắn với thực hiện hòa giải mâu thuẫn trong nội bộ phụ nữ đã góp phần nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật, hạn chế khiếu kiện sai, khiếu kiện vượt cấp
Công tác xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, nhất là tổ chức Hội ở cơ sở ngày càng được đẩy mạnh Công tác tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh và khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng được phát huy hiệu quả Công tác tham gia đảm bảo quốc phòng, an ninh ngày càng được tăng cường
Tuy nhiên, phong trào phụ nữ thi đua xây dựng nông thôn mới chưa phát triển đồng đều giữa các địa phương, cơ sở; công tác tuyên truyền vận động nhìn chung chưa phát huy được đầy đủ vai trò chủ thể, sức mạnh, tiềm năng và tính chủ động, sáng tạo của hội viên, phụ nữ trong tham gia, đóng góp xây dựng nông thôn mới Hoạt động dạy nghề, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của hội viên, phụ
nữ Công tác dạy nghề và hỗ trợ việc làm mới chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu của phụ nữ
Nghĩa Hưng là huyện ven biển, với 22 xã và 03 thị trấn nằm ở phía Đông bắc của tỉnh Nam Định, dân số trên 20 vạn người, là huyện có đông đồng bào theo đạo thiên chúa giáo (trên 49%) Toàn huyện có 36000 hộ nông nghiệp; số lao động là nữ trên 40000 lao động Hội phụ nữ huyện Nghĩa Hưng đang quản lý
và chỉ đạo hoạt động 25 Hội phụ nữ cơ sở xã, thị trấn, 100% số thôn có Chi hội phụ
nữ (Báo cáo Hội phụ nữ, 2013) Trong chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 1 có 9 đơn vị đăng ký thực hiện (trong đó làm điểm cho tỉnh 01 đơn vị), Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới các cấp từ tỉnh xuống đến cơ sở đều có các đồng chí lãnh đạo hội phụ nữ tham gia; trong nhiệm vụ của các cấp Hội phụ nữ thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao vai trò trách nhiệm của hội trong các phong trào xây dựng nông thôn mới Để có được cái nhìn toàn diện và đầy đủ về vai trò của Hội phụ nữ trong công cuộc xây dựng nông thôn
mới ở huyện Nghĩa Hưng hiện nay, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Vai trò của hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Nghĩa Hưng, Tỉnh Nam Định”,
Trang 111.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới tại huyện Nghĩa Hưng thời gian quan,
từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của Hội phụ nữ cơ
sở trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò Hội phụ nữ cơ sở
trong xây dựng nông thôn mới
- Đánh giá thực trạng về vai trò Hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông
thôn mới huyện Nghĩa Hưng
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong
xây dựng nông thôn mới
- Đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong xây
dựng nông thôn mới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về sự vai trò của hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạng vai trò của hội phụ
nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, Từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng NTM trên địa bàn nghiên cứu
1.3.2.2 Phạm vi về không gian
Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Trang 121.3.2.3 Phạm vi về thời gian
Thời gian thực hiện đề tài: tù năm 2010-2014
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng
diễn ra như thế nào?
- Sự tham gia của hội phụ nữ cơ sở được thể hiện như thế nào trong quá
trình xây dựng nông thôn mới?
- Những thuận lợi và khó khăn gì trong việc huy động sự tham gia của hội
phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới?
- Cần có giải pháp gì nhằm nâng cao vai trò của hội phu nữ cơ sở trong
xây dựng nông thôn mới?
Trang 13có mật độ dân cư thấp, có cơ sở hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp
Nhưng hiện nay trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, còn nhiều quan điểm khác nhau.Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn
vì cho rằng nông thôn có trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và phát triển hàng hóa
là thấp hơn thành thị, cũng có ý kiến cho rằng dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân cư trong vùng để xác định Có rất nhiều khái niệm về nông thôn nhưng các khái niệm chỉ mang tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian, theo tiến trình phát triển của kinh tế, xã hội của của các quốc gia trên thế giới
Trong điều kiện hiện nay chúng ta có thể hiểu: “Nông thôn là vùng sinh sống của
tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”
2.1.1.2 Phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là một quá trình tất yếu thay đổi một cách bền vững
về kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với nhiều quan điểm khác nhau
Trang 14Phát triển nông thôn thường gắn với phát triển nông thôn bền vững – là sự phát triển kinh tế, xã hội nông thôn với tốc độ cao, là quá trình làm tăng mức sống của người dân nông thôn Phát triển nông thôn phù hợp với nhu cầu của con người, đảm bảo sự tồn tại bền vững và sự tiến bộ lâu dài trong nông thôn Sự phát triển đó dựa trên việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo đảm giữ gìn môi trường sinh thái nông thôn Phát triển nông thôn đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay nhưng không làm cạn kiệt tài nguyên, không để lại hậu quả cho thế hệ tương lai
Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều chiều cạnh khác nhau, mang tính toàn diện và đa phương, bao gồm các hoạt động phát triển nông nghiệp và các hoạt động có tính chất liên kết phục vụ nông nghiệp, công nghiệp quy mô vừa và nhỏ, các ngành nghề truyền thống, cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội Phát triển nông thôn là một quá trình nhằm cải thiện và nâng cao mức sống của người dân
Như vậy có rất nhiều quan điểm phát triển nông thôn Trong điều kiện của Việt Nam, tổng hợp các quan điểm từ các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của
Chính phủ, chúng ta có thể hiểu: “Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện
có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn Quá trình này trước hết là
do chính nỗ lực của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác” (TS Mai Thanh Cúc và CS, 2005)
Vai trò là một tập hợp các mong đợi quyền và nghĩa vụ gắn cho một địa vị
cụ thể của các cá nhân trong xã hội Những mong đợi này xác định các hành vi của con người được xem như là phù hợp hoặc không phù hợp đối với người chiếm giữ một đại vị
Vai trò của cá nhân như là một vai diễn là một hoặc nhiều chức năng mà
cá nhân ấy phải đảm trách trước vã hội Theo Robertsons vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định Khái niệm vai trò xã hội bắt nguồn từ khái niệm vai diễn trên sân khấu Vai diễn trên sân khấu đòi hỏi diễn viên phải nhập tâm, bắt chước và học tập đóng vai của những nhân vật được đạo diễn phân đóng Còn vai trò xã hội
Trang 15không có tính chất tưởng tượng, bắt chước cứng nhắc và nhất thời Những hành
vi thực tế của một người nhờ học hỏi được những kinh nghiệm, lối sống, tác phong từ trước đó trong cuộc sống Vai trò xã hội của một người có nghĩa là người đó phải đảm nhận hay thể hiện đầy đủ các hành vi, nghĩa vụ, hệ thống chuẩn mực trên cơ sở vị thế của người đó Đồng thời họ cũng nhận được những quyền lợi xã hội tương ứng với việc thực hiện vai trò của họ Mỗi cá nhân có vô vàn vai trò, có bao nhiêu mối quan hệ xã hội thì có bấy nhiêu vai trò xã hội Vị thế và vai trò của cá nhân trong xã hội bắt nguồn từ vị trí kinh tế, chính trị, xã hội của họ, từ địa vị của các cá nhân thuộc các giai cấp và các nhóm xã hội khác mà quy định nên Mỗi cá nhân có nhiều vị thế và vai trò khác nhau ở gia đình, ngoài
xã hội…và tuỳ theo vai trò của mình mà cá nhân sẽ có cách ứng xử, hành vi, tác phong, hành động tương ứng với vai trò mà cá nhân đảm trách Vị thế và vai trò luôn gắn bó mật thiết với nhau Không thể nói tới vị thế mà không nói tới vai trò
và ngược lại Vai trò và vị thế là hai mặt của một vấn đề Vị thế của cá nhân được xác định bằng việc trả lời cho câu hỏi: người đó là ai? Và vai trò của các nhân được xác định bằng cách trả lời câu hỏi: người đó phải làm gì? Vai trò phụ thuộc vào vị thế (vị thế nào vai trò ấy) Một vị thế có thể có nhiều vai trò Trong mối quan hệ giữa vị thế và vai trò thì vị thế thường ổn định hơn, ít biến đổi hơn, còn vai trò thì biến động hơn Thông thường thì sự biến đổi của vai trò phụ thuộc vào
sự biến đổi của vị thế Vị thế biến đổi thì vai trò cũng biến đổi
2.1.1.4 Khái niệm về hội phụ nữ
Hội Phụ nữ: là một tổ chức chính trị, xã hội của phụ nữ Việt Nam, mục
đích hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ
Hội có chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước Ngoài ra Hội còn đoàn kết, vận động phụ nữ thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vận động xã hội thực hiện bình đẳng giới (Trương Văn Tuyển, 1998)
Trang 16Hội có các nhiệm vụ sau:
1 Tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, lối sống; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
2 Vận động các tầng lớp phụ nữ chủ động, tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; vận động, hỗ trợ phụ nữ nâng cao năng lực, trình độ, xây dựng gia đình hạnh phúc; chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ;
3 Tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, gia đình
và trẻ em;
4 Xây dựng, phát triển tổ chức Hội vững mạnh;
5 Đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân tiến bộ trong khu vực và thế giới vì bình đẳng, phát triển và hòa bình
2.1.2 Sự cần thiết tăng cường vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới
Hội phụ nữ cơ sở vai trò có tầm đặc biệt quan trọng và không thể thiếu trong quá trình thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới, do:
Hội phụ nữ cơ sở là đơn vị tích cực trong tuyển truyền, phổ biến, giáo dục
tư tưởng chính trị, lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Hội phụ nữ cơ sở tuyên truyền về mục đích, tư tưởng chỉ đạo, chủ trương và hoạt động xây dựng nông thôn mới sâu rộng đến từng hội viên thông qua các buổi họp bàn, tọa đàm, lồng ghép các buổi sinh hoạt tập thể, họp thôn xóm và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, ban hành các ấn phẩm hướng dẫn thực hiện đề án nông thôn mới đưa đến từng cám bộ hội viên cơ sở nhằm để cán bộ hội viên hiểu sâu, rõ hơn về lợi ích được thụ hưởng trực tiếp từ đề án, từ đó nâng cao được tinh thần trách nhiệm tham gia các hoạt động xây dựng nông thôn mới
Trang 17Hội phụ nữ cơ sở là đơn vị tích cực trong vận động tầng lớp cán bộ, hội viên phụ nữ chủ động thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo
vệ Tổ quốc,vận động hỗ trợ phụ nữ cơ sở nâng cao trình độ, phát triển kinh tế và
tổ chức thực hiện CNH – HĐH Hội phụ nữ cơ sở tổ chức huy động mọi nguồn lực của cán bộ, hội viên tham gia đóng góp xây dựng nông mới như hiến đất xây dựng trường, trạm, đường giao thông,… góp tiền mặt, vật tư xây dựng, đóng góp ngày công lao động, bên cạnh đó, hội phụ nữ cơ sở tích cực tổ chức, vận động cán bộ hội viên chủ động hỗ trợ nhau trong phát triển kinh tế như: cho hội viên vay vốn sản xuất, tổ chức các lớp tập huấn, dạy nghề cho chị em phụ nữ,…
Hội phụ nữ cơ sở tích cực tham mưu, xây dựng , phản biện xã hội và giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của phụ nữ, gia đình
và trẻ em Phụ nữ cơ sở là đối tượng thực hiện và hưởng lợi trực tiếp từ các chính sách, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, do đó, hội phụ nữ cơ sở có vai trò rất quan trọng trong tổng hợp các ý kiến đóng góp, nắm bắt tình hình thực tiễn khi triển khai, thực thi đưa chính sách nông thôn mới trong thực tiễn để phản biện và đánh giá hiệu quả của các chính sách, đồng thời thảo luận, xây dựng, sửa đổi sao cho phù hợp với thực tế Bên cạnh đó, hội phụ nữ cơ sở tham gia các tổ giám sát việc tổ chức thực hiện đề án, chủ trương nông thôn mới nhằm đảm bảo thực hiện đúng và nghiêm chỉnh hoạt động đề án
Hội phụ nữ cơ sở là nhân tố quan trọng thúc đẩy tổ chức Hội vững mạnh Hội phụ nữ cơ sở có vai trò và ý nghĩa lớn trong liên kết với các tập thể,
tổ chức đoàn thể, cá nhân vì bình đẳng , phát triển và hòa bình Hội phụ nữ cơ sở liên kết chặt chẽ với chính quyền địa phương, tổ chức đoàn thể, thường xuyên tiến hành các chương trình lồng ghép cùng hoạt động của các tổ chức đoàn thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác dân vận Cùng với các tổ chức đoàn thể khác như Hội nông dân, Hội CCB, Hội người cao tuổi, Đoàn thanh niên,… nỗ lực tham gia xây dựng, huy động nguồn lực, tổ chức thực hiện các hoạt động xây dựng nông thôn mới (Hồ Văn Thông và CS, 2005)
Trang 182.1.3 Nội dung vai trò của hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới
2.1.3.1 Hội phụ nữ cơ sở tổ chức tuyên truyền vận động sâu rộng về xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là nghiệm vụ của toàn hệ thống chính trị và của toàn dân sống trên địa bàn nông thôn Để góp phần cùng toàn Đảng bộ xây dựng nông thôn mới, Hội phụ nữ đã quan tâm chỉ đạo các cơ sở Hội, tổ chức các nhiệm vụ theo chuyên đề, tuyên truyền vận động cán bộ hội viên phụ nữ tích cực hưởng ứng phong trào “ cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” qua đó tạo thêm khí thế thi đua sôi nổi, thu hút đông đủ cán bộ, hội viên, các tầng lướp phụ
nữ tham gia
Trong những năm qua các cấp Hội phụ nữ toàn huyện đã tuyên truyền, vận động hôi viên, phụ nữ tích cực tham gia các hoạt động xây dựng nông thôn mới ở địa phương như: Hiến đất làm đường, đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, ba tiêu chuẩn của phong trào thi đua là :” Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” và thực hiện gia đình không có con
em, người thân vi phạm pháp luật và tệ nạ xã hội Các cấp Hội đã chủ động phối hợp tổ chức tuyên truyền đến cán bộ, hội viên phụ nữ vè các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luạt cảu nhà nước liên quan mật thiết đến phụ nữ gắn với các chuyên đề: Nước sạch-vệ sinh môi trường nông thôn, an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, ma túy, mại dâm, HIV/AIDS…Tổ chức các lớp dạy nghề, tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫn chị
em trong Hội cách làm ăn kinh tế, thục hiện tốt các đề án: “ Tuyên tuyền giáo dục phẩm chất đọa đức phụ nữ Việt nam thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước”
Để phong trào ngày càng lan tỏa rộng ở các cấp Hội phụ nữ, và thực sự đi vào đời sống của chị em phụ nữ, trong thời gian tới thì Hội phải tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở Hội đẩy mạng các công tác tuyền truyền, vận động cán bộ hội viên, phụ nữ thục hiện tốt các tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới gắn với phong trào thi đua góp phần tích cực tạo sự chuyển biến trong thực hiện tiêu chí nông thôn mới ở địa phương, và khẳng định vai trò trách nhiệm của chị em phụ
Trang 19nữ trong việc thục hiện các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế -xã hội của huyện (Hồ Văn Thông và CS, 2005)
2.1.3.2 Hội phụ nữ cơ sở động viên, vận động, tổ chức chi hội thôn, xóm tham gia đóng góp: đất đai, tiền, công lao động, vật tư, để xây dựng cơ sở hạ tầng, trường học, bệnh xá, đường giao thông nội thôn,
Nông thôn mới là một chương trình lớn vì nó hướng đến một bộ phận dân
cư chiếm đa số trong xã hội Vì vậy, ngoài sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, cần có
sự tham gia tích cực của từng người dân, của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội Do đó hội phụ nữ cơ sở phối hợp với các cấp chính quyền địa phương trong việc huy động tổng hợp sức mạnh của toàn dân tham gia đóng góp sức người, sức của để xây dựng nông thôn mới Công khai, minh bạch mọi thông tin hoạt động đến từng hội viên Cụ thể, trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng, hội viên cần biết được chủ trương của Đảng và Nhà nước thực hiện chương trình này là vì muốn tạo điều kiện để hội viên phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của họ Để làm được điều này, thì cần có sự ủng hộ, tự nguyện đóng góp thêm của nhân dân, vì nguồn ngân sách còn hạn hẹp Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần, hỗ trợ kỹ thuật, còn giá trị còn lại của công trình thì người dân cần tự nguyện đóng góp sức lao động, góp đất để giải phóng mặt bằng, đóng góp một phần kinh phí,… Nếu các hội viên hiểu kỹ được vấn đề, thì sẽ xoá được tư tưởng trông chờ, ỷ lại và vui vẻ đóng góp (Hồ Văn Thông và CS, 2005)
2.1.3.3 Hội phụ nữ cơ sở vận động, huy động tổng thể nguồn lực hỗ trợ hội viên phụ nữ phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất CNH – HĐH
Kinh tế nông thôn là một tổng thể những nhân tố cấu thành lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nông – lâm – ngư nghiệp cùng với các ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống, các ngành tiểu thủ công nghiệp chế biến phục vụ nông nghiệp, các ngành thương nghiệp và dịch vụ; tất cả có quan hệ hữu cơ với
nhau trong kinh tế vùng, lãnh
Huy động tổng thể các nguồn lực giúp phụ nữ phát triển kinh tế vươn lên làm giàu chính đáng, xóa đói giảm nghèo hiệu quả là một trong những hoạt động thiết thực, có ý nghĩa, góp phần xây dựng nông thôn mới của các cấp Hội Phụ nữ
Trang 20thời gian qua Để đem lại hiệu quả cao nhất, giúp được nhiều gia đình hội viên thoát nghèo bền vững, hàng năm các cấp Hội Phụ nữ tiến hành khảo sát, lập danh sách số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của từng hộ, từ đó có giải pháp hỗ trợ thích hợp
Thêm một việc làm nữa của các cấp Hội góp phần xóa đói giảm nghèo là vận động chị em mở rộng sản xuất cả bề rộng lẫn chiều sâu Đó là tăng hiệu suất
sử dụng đất trên một đơn vị canh tác, tăng năng suất cây trồng, phòng chống tốt dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi, chủ động áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh các hoạt động cho phụ nữ vay vốn phát triển kinh tế
gia đình Và nhiều việc làm thiết thực
Đào tạo nghề và giải quyết việc làm đang là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết trong phát triển kinh tế, xã hội, được Đảng, nhà nước quan tâm chỉ đạo triển
khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng Toàn quốc khóa XI chỉ rõ: "Phải hết
sức quan tâm tới yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm cho người lao động; tạo điều kiện giải quyết ngày càng nhiều việc làm, đặc biệt là cho nông dân Hoàn thiện pháp luật về dạy nghề; ban hành chính sách ưu đãi về
đất đai, thuế, đào tạo giáo viên, hỗ trợ cơ sở hạ tầng… nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng dạy và học, gắn dạy nghề với nhu cầu thực tế
Tạo điều kiện hơn nữa cho lao động nữ nông thôn có việc làm ổn định,
mở các lớp dạy nghề phù hợp với đặc thù từng địa phương, góp phần tạo điều kiện giúp chị em thoát nghèo làm giàu chính đáng
Tổ chức điều tra, phân tích, đánh giá đúng thực trạng nguồn lao động nông thôn Xác định kịp thời nhu cầu học nghề của LĐNT, nhu cầu sử dụng lao động qua đào tạo nghề của các doanh nghiệp, của thị trường lao động trên địa bàn, trên cơ sở đó xác định danh mục nghề đào nghề cho phù hợp tình hình thực
tế hiện nay Tuyên truyền nâng cao nhận thức về học nghề và việc làm cho phụ
nữ, tăng cường sự tham gia của các cấp hội cơ sở trong việc nắm bắt kịp thời các nhu cầu học nghề và việc làm của chị em; mở rộng đào tạo các ngành nghề mới
Trang 21vừa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động vừa phù hợp thế mạnh riêng của lao động nữ”
2.1.3.4 Hội phụ nữ cơ sở xây dựng và giữ gìn đời sống văn hóa, môi trường nông thôn
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” là phong trào thi đua yêu nước, mang tính rộng lớn Với sự gắn kết cùng chương trình xây dựng nông thôn mới, phong trào càng trở nên thiết thực trong việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững
ổn định chính trị, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nâng cao nhận thức của nhân dân về vai trò của công tác xây dựng nông thôn mới, phát
triển văn hoá nông thôn theo hướng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên về ý nghĩa, tầm quan trọng của CVĐ như: Truyền thông trang bị kiến thức
về phòng, chống bạo lực gia đình (BLGĐ), Luật bình đẳng giới; phổ biến kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, vệ sinh môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội (TNXH) ở 100% cơ sở với nhiều hình thức đa dạng phong phú (Nguyễn Văn Hiệu, 2011)
Ý thức về bảo vệ môi trường vẫn chưa thành thói quen, nếp sống của hội viên, nông dân Thái độ, hành vi, lối sống, thói quen tiêu dùng thiếu thân thiện với môi trường, còn phổ biến ở nhiều nơi Là một tổ chức chính trị xã hội của phụ nữ, Hội phụ nữ cơ sở có vai trò nòng cốt trong việc tổ chức vận động hội viên, tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ tài nguyên môi trường, đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển không ngừng trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội vai trò, vị trí của Hội phụ nữ Nghĩa Hưng ngày càng được khẳng định Với vai trò là trung tâm nòng cốt trong các phong trào phụ nữ, phong trào nông dân và xây dựng nông thôn mới, các cấp Hội phụ nữ tiếp tục tiên phong trong công tác bảo vệ môi trường
Trong cuộc sống hàng ngày nhiều cán bộ phụ nữ làm công tác dân vận ở
cơ sở gương mẫu đi đầu bằng những việc làm cụ thể, thiết thục như hăng hái tham gia giữ gìn vệ sinh môi trường, vệ sinh đường làng ngõ xóm, khắc phục tác
Trang 22hại của ô nhiễm môi trường, tuyên truyền vận động gia đình và mọi người nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường
2.1.3.5 Hội động viên cán bộ ,hội viên , phụ nữ chủ động tham gia vào đề án XDNTM và giám sát, đôn đốc quá trình tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới theo đề án
Sau khi có đề án tổng thể 100% cán bộ, hội viên, phụ nữ đều được tham gia vào đề án, khi đề án được phe duyệt thì cán bộ, hội viên, phụ nữ lại tham gia vào quá trình giám sát thực hiện đề án (Nguyễn Văn Hiệu, 2011)
Chương trình xây dựng nông thôn mới thực hiện chỉ ở cấp xã Vì vậy việc quu hoạch nông thôn mới cấp xã, hiện nay đang đồng loạt làm ở nhiều địa phương, gây ra khan hiếm tư vấn, có nhiều tư vấn kém chất lượng, nhiều tư vấn chỉ chuyên ngành thực hiện trợ giúp các xã mà đôi khi cũng không hiểu rằng qui hoạch xây dựng nông thôn mới, khác với qui hoạch chuyên ngành bởi vì nó bao hàm tính chất tổng thể, thể hiện cả chiến lược phát triển nông thôn của xã đó, mà đôi khi từng nhà tư vấn còn thiếu hụt
2.1.3.6 Hội phụ nữ cơ sở động viên hội viên phụ nữ tham gia quản lý các công trình, dự án sau hoàn thành Tự quản giao thông, quản lý sản suất, hợp tác sản xuất tiêu thụ, bảo vệ duy tu các công trình cơ sở hạ tầng, khai thác sử dụng lâu dài
Ngoài việc huy động hội viên tham gia giám sát công tác tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới, hội phụ nữ cơ sở còn tích cực tuyên truyền, động viên hội viên phụ nữ tham gia công tác quản lý các công trình, dự án, hạng mục sau hoàn thành và đi vào sử dụng, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lâu dài và bền vững cơ sở hạ tầng (Nguyễn Văn Hiệu, 2011)
2.1.3.7 Hội phụ nữ cơ sở tổ chức, động viên hội viên tham gia đánh giá, khen thưởng đơn vị các nhân có thành tích suất sắc và xử lý vi phạm trong xây dựng nông thôn mới
Trong quá trình thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới, ngoài công tác dân vận, hội phụ nữ còn tham gia đánh giá, đề xuất khen thưởng các đơn vị cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động thực hiện đề án nhằm khuyến khích các các nhân, đơn vị này tiếp tục phát huy tinh thần đó Bên canh đó, tồn tại một
Trang 23vài điểm tối trong công tác xây dựng nông thôn mới, cần xử lý kịp thời để tránh ảnh hưởng đến tiến trình phát triển chung của cộng đồng (Nguyễn Văn Hiệu, 2011)
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới
2.1.4.1 Nhóm yếu tố khách quan
a/ Yếu tố cơ chế chính sách
Cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước có ảnh hưởng lớn đến vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới, là định hướng để Hội phụ nữ xác định quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm từ đó xây dựng kế hoạch, tổ chức hoạt động cụ thể để hiện thực hóa nhiệm vụ được giao
Thực tế, sự quan tâm của các cấp Ủy đảng đến hội phụ nữ cơ sở còn nhiều hạn chế Nhiều cấp ủy, chính quyền thiếu quan tâm chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các chủ trương của Đảng về công tác nâng cao vai trò của hội phụ
nữ cơ sở, chưa chủ động nghiên cứu, dự báo và giải quyết kịp thời các vấn đề xã hội phát sinh liên quan tới hội phụ nữ cơ sở Công tác quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, đề bạt cán bộ nữ còn nhiều bất cập, còn có biểu hiện "khoán trắng" công tác phụ nữ cho Hội Phụ nữ cơ sở
Việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về nâng cao vai trò Hội phụ nữ cơ sở, cán bộ và hội viên nữ chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ
b/ Ngân sách duy trì hoạt động Hội phụ nữ cơ sở
Nguồn kinh phí duy trì hoạt động Hội có ảnh hưởng lớn việc Hội phụ nữ
cơ sở thực hiện các vai trò của mình Hiện nay, cấp hội phụ nữ cơ sở gần như chủ động hoàn toàn trong tìm kiếm nguồn kinh phí để duy trì hoạt động và tổ chức các phong trào Hội, sự hỗ trợ từ tuyến trên là không đáng kể Hội phụ nữ cơ sở tổ chức cho các chi, tổ hội phụ nữ thôn làng nhiều mô hình thiết thực như mô hình “thu gom phế liệu” không những tác động trực tiếp đến hội viên phụ nữ, dễ dàng thu hút chị em tham gia Đây còn là mô hình thiết thực tiết kiệm, chống lãng phí, tăng thu ngân sách Hội, đồng thời có tác dụng thu gom rác thải bảo vệ môi trường
Trang 24và Nghị định 121/2003/NĐ – CP ngày 21/10/2003 về chế độ, chính sách đối với cán bộ xã, phường, thị trấn Căn cứ theo nhu cầu, khối lượng, tính chất công việc, khả năng ngân sách của quy định số lượng, mức phụ cấp đối với cán bộ không chuyên trách, cán bộ thôn, tổ dân phố
Việc chuyển từ sinh hoạt phí sang chế độ lương đã tại tâm lý phấn khỏi đối với cán bộ, công chức cơ sở
Chế độ tiền lương: cán bộ chuyên môn được hưởng lương theo ngạch và nâng lương theo quy định Cán bộ bầu cử không được nhận 10% phụ cấp kiêm nhiệm chức lãnh đạo
Chế độ BHXH: theo đúng quy định nhà nước là thời gian công tác có đóng phi BHXH của cán bộ công chức cơ sở là 20 năm, tuy nhiên quy định này bất cập với cán bộ cơ sở ở các vùng đặc biệt khó khăn
2.1.4.2 Nhóm yếu tố chủ quan
a/ Trình độ học vấn, chuyên môn của cán bộ, hội viên chi hội
Cán bộ chi hội phụ nữ cơ sở thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với phụ nữ
cơ sở để triển khai chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cũng như trực tiếp lắng nghe, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của phụ nữ cơ
sở, như vậy, họ là mắt xích chất kep gắn kết phụ nữ cơ sở với Đảng và Nhà nước
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, cán bộ chi hội phụ nữ cần có khả năng lĩnh hội, thẩm thấu sâu rõ về chủ trương, chính sách, pháp luật nhà nước để
tổ chức tuyên truyền, vận động, giải thích cho phụ nữ cơ sở hiểu và huy động họ tham gia hưởng ứng, thực hiện nghiêm túc Do đó đòi hỏi cán bộ cần có trình đô chuyên môn và nghiệp vụ
Trang 25Trình độ chuyên môn của các bô cấp cơ sở ảnh hưởng trực tiếp đến vai trò HPN cơ sở, có câu nói “cán bộ nào thì phong trào đó”, thực tế chứng minh nơi nào có cán bộ phụ nữ năng động, trách nhiệm, nhiệt tình, chuyên môn tốt thì phong trào ở đó sôi nổi, hiệu quả và ngược lại, nới nào cán bộ làm việt thiếu nhiệt huyết, thiếu trách nhiệm, yếu về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ thì phong trào ngày càng yếu đi
c/ Yếu tố điều kiện, hoàn cảnh, sức khỏe của hội viên phụ nữ
Phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng nhọc, vừa phải thực hiện thiên chức của mình là làm mẹ, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém khiến cho sức khỏe bị giảm sút nhanh chóng Điều này ảnh hưởng đến khả năng lao động, khả năng tham gia các hoạt động xã hội và làm giảm tuổi thọ của phụ nữ gia đình
d/ Khả năng tiếp cận thông tin của hội viên phụ nữ
Do đảm nhận khối công việc lớn, gần như chiếm hết thời gian trong ngày nên phụ nữ cơ sở ít có cơ hội giao tiếp rộng rãi, ít có thời gian tham gia đọc sách, báo, xem TV, tham gia các hoạt động xã hội để biết thêm thông tin Do khả năng tiếp cận thông tin nhiều hạn chế gây cản trở phụ nữ biết đến chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương, cản trở phụ nữ cơ sở hưởng quyền lợi và thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của mình
Việc phụ nữ cơ sở ít có cơ hội tiếp xúc với thông tin chính sách, cơ chế, công nghệ kỹ thuật gây sức ép lên hội phụ nữ cơ sở, là cần phải đẩy mạnh các hình thức truyền thông như thông qua các buổi họp Hôi, thông qua phương tiện truyền thông của thôn, xóm, tuyên truyền bằng pano, khẩu hiệu,…tổ chức các buổi tọa đàm, nhằm đưa đến hội viên tiếp cận thông tin mới
2.2 Cơ sở thực tiễn về vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới
2.2.1 Kinh nghiệm về vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới ở một số nước trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân nói chung và phụ nữ nói riêng
để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn
Trang 26Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục vụ
sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa Thông thưởng ở nông thôn Việt Nam thì phụ nữ
là người tham gia hoạt động sản xuất với mức độ cao, phát triển sản xuất tăng thu nhập cho gia đình sẽ nâng cao được vai trò và vị thế của người phụ nữ nông thôn
Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác định
nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào SU là đội ngũ cán bộ cơ sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương Nhà nước đài thọ,
mở các lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết thực như kỹ năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng Tiếp tục mở các lớp đào tạo nghề cho chị em trong Tuyên truyền nâng cao nhận thức về học nghề và việc làm cho phụ nữ, tăng cường sự tham gia của các cấp hội cơ sở trong việc nắm bắt kịp thời các nhu cầu học nghề và việc làm của chị em Hội, Mở rộng đào tạo các ngành nghề mới phù hợp với nhu cầu lao động ở nông thôn
Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Thành lập hội đồng
phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của Nhà nước trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình Đảm bảo công bằng cho các Hội viên, đảm bảo bình đẳng vè giới là yếu tố vô cùng quan trọng
Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng, xây dựng các
HT, Cá câu lạc bộ do chị em phụ nữ phụ trách, tổ chức cuộc vận động, các phong trào thi đua như ;”Phụ nữ sản xuất giỏi”,” phụ nữ tích cực học tập, lao động hăng say, sáng tạo xây dựng hạnh phúc gia đình”, “ Thi đua giảm nghèo- xây dựng gia đình hạnh phúc”…
Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh
toàn dân Tổ chức các ngày gặp mặt của chị em trong Hội để cùng nhau dọn dẹp
Trang 27đường làng ngõ xóm, tích cực tham gia công tác bảo vệ môi trường nông thôn, tuyên truyền vận động chị em tham gia bảo vệ môi trường cơ sở
Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào SU, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có (Nguyễn Văn Hiệu, 2011)
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
“Trung Quốc luôn coi trọng các chính sách dành cho Tam nông Nông
thôn Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng Nguồn kinh phí xây dựng NTM tập trung từ nguồn ngân sách nhà nước và địa phương, một phần của dân và huy động các nguồn lực xã hội khác
Hội liên hiệp phụ nữ Trung Quốc là một đoàn thể quần chúng xã hội gồm phụ nữ các dân tộc các giới trogn toàn quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc liên hợp lại để giành quyền giải phóng hơn nữa, hội có tính đại diện tính quần chúng và xã hội rộng rãi Hội liên hiệp phụ nữ Trung Quốc là nhịp cầu là mối liên hệ giữa quần chúng phụ nữ với Đảng và Chính Phủ Trung Quốc,
là một trong những trụ cột quan trọng của chính quyền nhà nước
Chức năng cơ bản của Hội là: đoàn kết, động viên đông đảo chị em phụ
nữ tham gia vào sự nghiệp kinh tế và phát triển xã hội, đại biểu và bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, xúc tiến nam nữ bình đẳng,… (Tuấn Anh, 2012)
2.2.2 Kinh nghiệm về vai trò của Hội phụ nữ cơ sở trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới ở Việt Nam
2.2.2.1 Vai trò của Hội phụ nữ cơ sở xã Hải Đường huyện Hải Hậu trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới
Ðể đạt được những tiêu chí NTM, nhiều xã, thị trấn có cách làm sáng tạo
đã phát động được sự ủng hộ của từng người, từng hộ gia đình, từng đoàn thể chính trị, xã hội, các chức sắc tôn giáo, các linh mục và tăng ni phật tử cùng đóng góp tiền ủng hộ
Trang 28Hội phụ nữ xã Đường Hải huyện Hải Hậu không chỉ chú trọng xây dựng
cơ sở hạ tầng mà đã có những đề án phát triển kinh tế – xã hội Một số chị em ngoài trồng lúa còn thêm nhiều nghề phụ, đẩy mạnh phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho hộ gia đình Tích cực chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, xây dựng nhiều cánh đồng mẫu lớn tạo điều kiện cơ gới hóa nông nghiệp, đưa tiến bộ khoa học công nghệ mới vào đồng ruộng, đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất cây trồng, khuyến khích các mô hình các mô hình trang trại chăn nuôi lượn, gà, vịt, cá, thỏ…và cây trồng, cây cảnh kết hợp các mô hình VAC tăng gí trị chất lượng sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu của thị trường
-Nâng cao mức sống cho người dân, đặc biệt nâng cao mức sống cho chị
em trong Hội
- Chuyển đổi cơ cấu sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thay đổi tư duy, tập quán canh tác làm giàu từ chính thửa ruộng gia đình, chất lượng sản phẩm nông sản, cơ cấu lao động theo hướng đáp ứng cho sự phát triển hiện đại trong công nghiệp nông nghiệp… (Tuấn Anh, 2012)
2.2.2.2 Mô hình “5 không, 3 sạch” tại huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
Với gần 20.000 hội viên đang tham gia sinh hoạt trong các tổ chức hội, bằng những cách làm sáng tạo, phù hợp với thực tế của địa phương, Hội phụ nữ huyện Gia Bình trở thành lực lượng nòng cốt trong xây dựng nông thôn mới, góp phần sớm đưa các xã của địa phương hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới
Trong 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới thì các tiêu chí nâng cao thu nhập hộ gia đình, giảm nghèo là những tiêu chí được hội phụ nữ xã quan tâm nhiều nhất và có những giải pháp nỗ lực thực hiện Bằng các phong trào “phụ nữ làm kinh tế giỏi”, xây dựng mô hình “giúp phụ nữ nghèo có địa chỉ”, và phong trào “nuôi lợn nhựa tiết kiệm” Từ những phong trào này, đến nay có 100% cán
bộ hội viên tham gia vào các tổ, nhóm tiết kiệm, 34.662 lượt cán bộ hội viên tham gia nuôi lợn nhựa tiết kiệm, với tổng số tiền đã tiết kiệm được trên 14 tỷ đồng, nhờ đó trong 5 năm qua đã hỗ trợ xây dựng 9 ngôi nhà mái ấm tình thương, giúp đỡ 3.320 lượt phụ nữ nghèo và tặng 256 suất quà với tổng giá trị trên 7 tỷ đồng
Trang 29Hội phụ nữ quan tâm tới hộ nghèo bằng các hình thức thiết thực như: tín chấp vay vốn, hỗ trợ ngày công, dạy nghề, giới thiệu việc làm Đồng thời tích cực vận động hội viên mạnh dạn ứng dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất đưa cây, con giống mới vào nuôi trồng, mở rộng các loại hình kinh doanh dịch vụ, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Thực hiện phong trào xây dựng nông thôn mới, các cấp Hội phụ nữ huyện Gia Bình gắn với phong trào “ 5 không, 3 sạch” và cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” Từ phong trào này, hội viên gương mẫu vận động gia đình thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, tân gia, mừng thọ, tham gia phòng, chống tệ nạn xã hội, cảm hoá người lầm lỗi, thực hiện kế hoạch hoá gia đình, giữ gìn vệ sinh môi trường Đến nay các cấp hội đã thành lập được 14 CLB gia đình hạnh phúc, 29 CLB phụ nữ không có người sinh con thứ 3 và 3 CLB phòng, chống tệ nạn xã hội, thu hút hàng nghìn hội viên tham gia Phụ nữ trở thành lực lượng nòng cốt của các tổ thu gom rác thải và trở thành những tuyên truyền viên tích cực vận động nhân dân tham gia giữ gìn vệ sinh môi trường Mô hình “Hãy đi chợ bằng làn, phụ nữ chung tay bảo vệ môi trường” được triển khai sâu rộng, mang lại hiệu quả tích cực, giảm số túi ni lon trong sinh hoạt của mỗi hộ gia đình từ 30 túi/tháng, xuống còn 5-7 túi Hội phụ
nữ đã xây dựng 78 tuyến đường tự quản, tổ chức cho hội viên quét dọn vào ngày
25 hàng tháng
Với sự vào cuộc tích cực của các cấp hội phụ nữ, sau 4 năm xây dựng nông thôn mới, huyện Gia Bình đã có 13/13 xã đạt trên 10 tiêu chí nông thôn mới, trong đó xã Bình Dương đạt 19/19 tiêu chí, xã Nhân Thắng, đạt 17/19 tiêu chí Từ xây dựng nông thôn mới làm thay đổi căn bản trong hoạt động, công tác hội theo hướng ngày càng được đổi mới, thiết thực và hiệu quả Từng hội viên đã
ý thức tự giác chấp hành đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, nhiệt tình tham gia công tác hội, làm nòng cốt trong phong trào xây dựng nông thôn mới (Hải Hà, 2012)
Trang 302.2.2.3 Nâng cao năng lực của Hội phụ nữ cơ sở tại Quận Hải Châu, Đà Nẵng
Là đơn vị có nhiều nhất số lượng cơ sở Hội trực thuộc và số lượng hội viên đông nhất so với 6 quận/huyện, nằm ở vị trí trung tâm của thành phố cùng với sự đa dạng về tính chất, thành phần hội viên phụ nữ, trong nửa nhiệm kỳ qua, các cấp Hội LHPN quận đã có nhiều nỗ lực trong chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, trong đó tập trung nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ Hội các cấp
Từ đầu nhiệm kỳ, toàn quận có 13 phường và 2 đơn vị trực thuộc, 205 chi hội với 1.700 cán bộ, 33.465 hội viên, đạt 69%/tổng số phụ nữ, đến nay, thành lập thêm 1 đơn vị trực thuộc quận và tổng số chi hội là 346 chi với 930 cán bộ Hội Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội, Quận Hội đã xác định cần tập trung trên 2 phương diện: một mặt đẩy mạnh các hoạt động tập huấn, bồi dưỡng các kiến thức kỹ năng cho cán bộ Hội các cấp, mặt khác phát động, tổ chức một
số mô hình, phong trào nhằm nâng cao năng lực thực tiễn cho cán bộ Hội
Đối với công tác đào tạo bồi dưỡng, Quận Hội đã phân cấp rõ trách nhiệm của quận và phường Cấp quận tập trung mở các lớp bồi dưỡng về mặt kiến thức như chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước có liên quan đến phụ nữ, các kiến thức mới về xây dựng gia đình, về an ninh trật tự…; cấp phường tổ chức các lớp tập huấn về kỹ năng cụ thể cho cán bộ Hội như kỹ năng điều hành sinh hoạt, cách ghi chép sổ sách, kỹ năng nắm bắt tâm tư tình cảm, kỹ năng xử lý khi có tình huống nóng xảy ra… Trong nữa nhiệm kỳ qua, đã tổ chức 65 lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ Hội cho 3.577 lượt CB Hội cơ sở, 16 lớp tập huấn nâng cao công tác chính trị trong tình hình mới và công tác vận động quần chúng cho 695 chị LLNC Với cách làm đó đã từng bước nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng
Ngoài ra, Quận Hội đã tích cực trong việc tham mưu, đề xuất và chọn cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo do cấp uỷ Đảng, Hội cấp trên và ban ngành tổ chức như 01 chị học lớp Cao cấp chính trị, 04 chị học Trung cấp chính trị, 04 học sơ cấp nghiệp vụ Hội, 60 chị học các lớp bồi dưỡng khác Đến nay, trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ Hội đã được nâng lên:
Trang 31- UVBCHPN quận: 07/26 chị CCCT, 14/26 chị TCCT; 02 chị Thạc sĩ, 23/26 chị CĐ,ĐH;
- UVBCHPN phường: 25/197 chị TCCT, 55/197 chị CĐ,ĐH;
Đối với các hoạt động nhằm nâng cao năng lực thực tiễn cho cán bộ Hội qua việc triển khai thực hiện các mô hình, phong trào như "Quỹ ước mơ xanh" (được triển khai từ năm 2011 đến nay), "Heo vàng vượt khó" (năm 2012), "Tổ dịch vụ giúp việc gia đình" (năm 2013), "Đồng hành cùng nữ tiểu thương“,"Buổi sinh hoạt được yêu thích nhất" (2014) do Quận Hội phát động, mô hình "1+1”, chi hội PN tại các trường học, chi hội PN tại các chợ, các câu lạc bộ “Hội viên cao niên”, "PN đương chức”, “Nữ công chức trẻ",“Nữ chủ nhà trọ”, “Thanh niên
xa nhà” do các Hội PN cơ sở triển khai, qua đó từng bước nâng cao kỹ năng tuyên truyền, vận động cho cán bộ Hội các cấp, đồng thời đem lại hiệu quả to lớn cho phong trào phụ nữ
Thông qua việc nghiên cứu và triển khai đề tài “Nâng cao chất lượng hoạt động của chi hội”, Quận đã đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của chi hội, trong đó đưa ra những định hướng nội dung hoạt động của chi hội, gợi ý các hình thức sinh hoạt, giúp cán bộ chi hội hiểu rõ hơn vị trí vai trò của mình và những nhiệm vụ cần thực hiện tại chi hội
Qua quá trình tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao nâng lực cán bộ hội
và xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, Quận Hội Hải Châu rút ra được một số kinh nghiệm, đó là:
- Đội ngũ cán bộ phải nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, của Hội, pháp luật của Nhà nước và vận dụng một cách sáng tạo vào từng điều kiện cụ thể của địa phương Triển khai thực hiện phong trào thi đua gắn liền với thực hiện nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và xây dựng Hội vững mạnh
- Luôn đổi mới nội dung, phương thức hoạt động gắn liền với nhiệm vụ chính trị của địa phương, phù hợp với tâm lý của chị em phụ nữ
- Coi trọng việc xây dựng đội ngũ cán bộ Hội gắn với việc củng cố chất lượng hoạt động của tổ chức Hội cơ sở Đa dạng hóa các mô hình tập hợp thu hút các tầng lớp phụ nữ
Trang 32- Xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ chủ chốt có bản lĩnh chính trị, có trình độ năng lực, có phẩm chất đạo đức, tâm huyết với công tác Hội
- Phát huy đúng mức về trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau
- Bản thân cán bộ Hội phải có sự nổ lực phấn đấu trong công tác học tập,
có sự chia sẻ, ủng hộ từ phía gia đình và đồng nghiệp, biết kết hợp hài hòa giữa công tác xã hội và công việc gia đình (Phan Thị Thắng Lợi, 2015)
Trang 33PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Nghĩa Hưng là một huyện ở phía Nam tỉnh Nam Định, phía Đông giáp với huyện Hải Hậu, Trực Ninh, phía tây giáp với Kim Sơn, Yên Khánh (Ninh Bình), phía nam giáp Biển Đông, phía bắc giáp với huyện Nam Trực và Ý Yên
Nghĩa Hưng nằm lọt trong ba con sông là sông Đào, sông Ninh Cơ và sông Đáy.Diện tích: 250,5km2
Huyện lỵ Nghĩa Hưng trước đây đặt tại xã Nghĩa Hiệp Ngày 13/2/1987, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 26-HĐBT thành lập thị trấn Liễu Đề trên
cơ sở diện tích tự nhiên và dân số của xã Nghĩa Hiệp (giải thể xã Nghĩa Hiệp) và 26.8 ha diện tích tự nhiên của xã Nghĩa Trung Huyện lỵ Nghĩa Hưng đặt tại thị trấn Liễu Đề
Huyện có các tỉnh lộ 56, 490 và 481D chạy qua Trong đó tỉnh lộ 490 xuyên suốt chiều dài huyện, nối liền thị trấn Rạng Đông, thị trấn Liễu Đề với thị trấn Nam Giang của huyện Nam Trực (Niên giám thống kê, 2010)
Trang 343.1.1.2 Địa hình – thổ nhưỡng
Điều kiện tự nhiên Địa hình đồng bằng Đất phù sa màu mỡ Sông Ninh
Cơ, sông Đáy chảy qua Có bờ biển ở phía nam huyện Nghĩa Hưng nằm trong vùng bờ biển thuộc vùng Nam đồng bằng sông Hồng Huyện có chiều dài bờ biển 12 km, phía Tây giới hạn bởi sông Đáy, ranh giới phía Đông là sông Ninh
Cơ Vùng tiếp giáp với cửa sông Ninh Cơ là các bãi cát, các đụn cát và đầm nước mặn Phía Đông khu vực là các đầm nuôi trồng thuỷ sản Dọc sông Ninh Cơ có các ruộng muối Phía ngoài con đê chính có các bãi ngập triều với diện tích khoảng 3.500 ha Cách bờ biển 5 km có 2 đảo cát nhỏ có diện tích 25 ha với các đụn cát và một số đầm nước mặn phía nam Rừng phòng hộ ven biển Nghĩa Hưng đã được UNESCO đưa vào danh sách địa danh thuộc khu dự trữ sinh quyển đồng bằng sông Hồng Là một huyện thuần nhất đồng bằng ven biển, Nghĩa Hưng thuận lợi phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng Kinh tế Trồng lúa, khoai, lạc, đay, cói, nuôi vịt, lợn Đánh bắt và chế biến hải sản, sản xuất muối Giao thông Nghĩa Hưng có các đường tỉnh lộ 490, 508, 493 chạy qua Nằm dài bên bờ hai sông lớn và với mạng lưới sông ngòi dày đặc, Nghĩa Hưng thuận lợi phát triển giao thông thuỷ Lịch sử Trước đây thuộc tỉnh Nam Định; từ 1965, thuộc tỉnh Nam Hà (do sáp nhập Hà Nam và Nam Định); từ 1975, thuộc tỉnh Hà Nam Ninh (do sáp nhập thêm với Ninh Bình); từ 1991, thuộc tỉnh Nam Hà (do tách tỉnh Ninh Bình); từ 6.11.1996, trở lại tỉnh Nam Định (do tách tỉnh Hà Nam với Nam Định) (Niêm giám Thống kê, 2013)
3.1.1.3 Khí hậu – thủy văn
Cũng như các huyện khác trong tỉnh Nghĩa Hưng mang khí hậu cận nhiệt đới ẩm Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23 – 24 °C Tháng lạnh nhất là các tháng 12 và 1, với nhiệt độ trung bình từ 16 – 17 °C Tháng 7 nóng nhất, nhiệt độ khoảng trên 29 °C
Lượng mưa trung bình trong năm từ 1,750 – 1,800 mm, chia làm 2 mùa
rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa ít mưa từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau Số giờ nắng trong năm: 1,650 – 1,700 giờ Độ ẩm tương đối trung bình:
80 – 85%
Trang 35Mặt khác, do nằm trong vùng vịnh Bắc Bộ nên hàng năm Nam Định thường chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 4 – 6 cơn/năm Thuỷ triều tại vùng biển Nam Định thuộc loại nhật triều biên độ triều trung bình từ 1,6 – 1,7 m; lớn nhất là 3,31 m và nhỏ nhất là 0,11 m (Niêm giám thống kê, 2013)
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
từ 170,710 người năm 2005 xuống 158,371 người năm 2013, chiếm 88,36% dân
số toàn huyện, dân số thành thị tăng từ 15,546 người năm 2005 lên 20,855 người, chiếm 11,64% dân số toàn huyện Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2013 là 1,05% Một trong những đặc điểm riêng của huyện Nghĩa Hưng là có tỷ lệ dân số theo đạo Thiên Chúa khá cao, trên 49% năm 2013, do vậy cần có chính sách để đồng bào sống “Tốt đời, đẹp đạo”, đoàn kết, phát triển kinh tế - xã hội của huyện
Bảng 3.1 Dân số phân theo giới tính và khu vực
ĐVT: Người
Năm Tổng số Chia theo giới tính Chia theo khu vực
Nam Nữ Thành thị Nông thôn
Trang 36Về chất lượng lao động, tỷ lệ lao động được đào tạo đạt mức xấp xỉ của Tỉnh, năm 2013 khoảng 39,8%
Bảng 3.2 Lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và
cơ cấu lao động Chỉ số Năm 2005 Năm 2010 Năm 2013
Công nghiệp – xây dựng 12,26 12,65 14,33
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2013 và tính toán của luận văn)
Nhìn chung, nguồn nhân lực của huyện là một thế mạnh nổi bật, dân số đông góp phần tạo ra thị trường có nhu cầu to lớn về mọi mặt, nhân dân cần cù lao động, hiếu học và có nhiều lao động lành nghề với tay nghề truyền thống cao, nếu thường xuyên được đào tạo, đào tạo lại và tổ chức bố trí hợp lý sẽ là một trong những yếu tố phát triển quan trọng của huyện
3.1.2.3 Tình hình tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế
Tăng trưởng kinh tế
Tổng giá trị sản xuất của huyện (giá so sánh 2010) năm 2013 đạt 5.593 tỷ đồng, năm 2014 ước đạt 6.195 tỷ đồng Nhịp độ tăng trưởng bình quân giai 2011-
2014 (giá 2010) là 8,7%/năm
Trang 37Tổng giá trị sản xuất (giá hiện hành) năm 2013 đạt 6.978 tỷ đồng, năm
- Nông, thủy sản,lâm nghiệp 2.413 2.377 2.434 2.516 2.611 2,0
- Công nghiệp, xây dựng 989 1.102 1.269 1.518 1.796 16,1
- Dịch vụ 1.036 1.192 1.366 1.559 1.788 14,6
(Nguồn: Phòng tài chính huyện Nghĩa Hưng, 2014)
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu kinh tế theo ngành:
Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng dần tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp và giảm tương đối các ngành nông nghiệp
Bảng 3.4 Hiện trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Nông, lâm nghiệp, thủy sản 54,37 53,72 50,89 46,70 43,34
- Công nghiệp, xây dựng 22,28 23,19 25,25 27,87 30,14
- Dịch vụ 23,34 23,09 23,86 25,43 26,52
(Nguồn: Phòng tài chính huyện Nghĩa Hưng, 2014)
Năm 2010 tỷ trọng ngành nông - lâm - thủy sản chiếm 54,37%, công nghiệp - xây dựng chiếm 22,28%, dịch vụ chiếm 23,34%, đến năm 2013 cơ cấu ngành thay đổi: Ngành nông - lâm - thủy sản chiếm 46,70%, ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 27,87% và ngành dịch vụ chiếm 25,43% Đến năm 2014, tỷ trọng các ngành nông – lâm – thuỷ sản, công nghiệp – xây dựng, dịch vụ trong tổng GTSX tương ứng là: 43,34%, 30,14%, 26,52%
Trang 38Tuy nhiên tốc độ chuyển dịch của các ngành công nghiệp, dịch vụ còn chậm, chưa tạo ra sự đột phá trong phát triển, tỷ trọng của các ngành nông - lâm-
thủy sản trong GTSX của Huyện hiện tại cao hơn so với tỷ lệ của Tỉnh
Sản xuất nông nghiệp
Tổng giá trị trồng trọt đạt 296 tỷ đồng/năm Diện tích sản xuất lúa 21.390
ha, năng suất đạt 125 tạ/ha/năm; tổng sản lượng lương thực bình quân đạt 137.500 tấn Sản xuất vụ đông trên đất 2 lúa đạt 11%, vượt mục tiêu đại hội đề ra (mục tiêu đại hội 10%) Toàn huyện đã chuyển đổi 384,03 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản và trồng màu (chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản 326,21 ha, trồng màu 57,82 ha); có 900 gia trại, trang trại (trong đó có 13 trang trại chăn nuôi tập trung theo tiêu chí mới của Bộ NN- PTNT).Chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng và đẩy mạnh sản xuất vụ đông trên đất 2 lúa được quan tâm chỉ đạo tạo nhiều chuyển biến tiến bộ Về cơ cấu mùa vụ: vụ xuân đã đẩy sớm hơn từ 12-15 ngày, vụ mùa sớm hơn 8-10 ngày so với nhiều năm trước đó
Cơ cấu giống cây trồng tập trung chuyển đổi theo hướng những giống cây có sức kháng chịu sâu bệnh cao, có giá trị hàng hoá lớn Có nhiều mô hình với phương thức sản xuất mới theo hướng giảm chi phí, tăng lợi nhuận cho lao động, như sản xuất theo mô hình cánh đồng mẫu lớn, gieo sạ…
Giá trị thu được bình quân trên một đơn vị diện tích canh tác đạt trên 110 triệu đồng/ha/năm, vượt mục tiêu Đại hội (mục tiêu ĐH 100-109 triệu đồng/ha/năm) Hàng năm trồng mới trên 45 ha rừng phòng hộ
Chăn nuôi, thực hiện tốt công tác tuyển chọn giống và phòng trừ dịch bệnh Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 19.100 tấn; trong đó thịt lợn hơi đạt 16.100 tấn, tăng 28,41% so với nhiệm kỳ trước và tăng 3,87 % so với mục tiêu Đại hội (mục tiêu đại hội 15.500 tấn) Giá trị sản xuất đạt 193 tỷ đồng, đạt
tốc độ tăng trưởng 6,04% (UBND huyện Nghĩa Hưng, 2013)
Các HTX nông nghiệp thực hiện tốt hoạt động dịch vụ nông nghiệp Đa số các hợp tác xã đều bảo toàn được nguồn vốn, nhiều HTX có tăng trưởng vốn hoạt động khá Ban nông nghiệp xã thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý Nhà nước về nông nghiệp
Trang 39Thuỷ sản
Tổng giá trị sản xuất đến năm 2014 đạt 308 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng
bình quân 6,57% Giữ vững ổn định diện tích nuôi các vùng nuôi truyền thống,
mở rộng diện tích nuôi tại vùng Cồn Xanh; tổng diện tích nuôi thuỷ sản 3.020 ha, sản lượng đạt 16.520 tấn Phương tiện khai thác đánh bắt 425 tàu, thuyền các
loại; sản lượng đạt 11.600 tấn (UBND huyện Nghĩa Hưng, 2013)
Diêm nghiệp
Tổng sản lượng muối hàng năm đạt 4.600 tấn, vượt mục tiêu đại hội đề ra (mục tiêu ĐH 4000 tấn) Thu nhập của diêm dân tăng, đời sống được cải thiện
Sản xuất công nghiệp- xây dựng
Sản xuất công nghiệp đạt giá trị tổng sản lượng 636 tỷ đồng, tăng 18,86
%, toàn huyện có 35 doanh nghiệp công nghiệp, 12.500 lao động; các doanh nghiệp có nhiều cố gắng vượt qua khó khăn duy trì sản xuất, bảo đảm lương cho người lao động Cụm công nghiệp Nghĩa Sơn thường xuyên thu hút bảo đảm việc làm cho trên 2500 công nhân, với thu nhập bình quân 3,5 triệu đồng/người/tháng;
đã và đang thu hút đầu tư vào cụm công nghiệp Nghĩa Thái, Quỹ Nhất, khu công nghiệp dệt may Rạng Đông (giai đoạn I- 600ha) Một số làng nghề, ngành nghề truyền thống: Khâu nón lá, dệt chiếu, đan bao manh, …tiếp tục được duy trì
Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội đạt nhiều thành tựu lớn, tạo ra động lực quyết định thúc đẩy kinh tế- xã hội của huyện phát triển Nhiều công trình giao thông, thuỷ lợi, giao thông kết hợp với thuỷ lợi quan trọng đã được xây dựng Tổng vốn huy động từ ngân sách Nhà nước đầu tư xây dựng cơ bản 5 năm
(2011-2015) đạt 3.314 tỷ đồng (UBND huyện Nghĩa Hưng, 2013)
Các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội đều đạt và vượt so với mục tiêu Đại hội và mục tiêu Nghị quyết số 13-NQ/HU của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (khóa XXIII) về xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của huyện giai đoạn 2010-2015
Trang 403.1.2.4 Cơ sở hạ tầng
a/ Mạng lưới giao thông
Qua nhiều thời kỳ, thực hiện chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm đến nay Huyện đã có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật khá hoàn thiện Từ những năm 60, hệ thống giao thông Nghĩa Hưng đã được định hình, quy hoạch và phát triển đảm bảo nhu cầu lưu thông cho huyện, các huyện lân cận trong cả nước
Hệ thống giao thông đường bộ có Quốc lộ 37B là tuyến giao thông quan trọng chạy qua phía Bắc huyện đóng vai trò kết nối huyện với các huyện Vụ Bản,
Ý Yên, Trực Ninh, Hải Hậu, Giao Thủy Đoạn qua huyện có chiều dài gần 12,75
km (từ bến đò Đống Cao xã Nghĩa Minh đến Cầu phao Ninh Cường - Thị trấn Liễu Đề) Đoạn từ bến đò Đống Cao đến đê tả Đáy đã được nâng cấp đường bê tông nhựa cấp IV đồng bằng, đoạn từ đê tả Đáy xã đến dốc đê Tam Toà được rải láng nhựa cấp VI đồng bằng, đoạn từ dốc đê Tam Toà đến cầu phao Ninh Cường đường bê tông nhựa cấp IV đồng bằng (Niên giám thống kê, 2013) Tuyến tỉnh lộ
có đường 490C là tuyến giao thông chính của huyện và chạy xuyên suốt theo hướng Bắc Nam với chiều dài 35,6km Đoạn từ TT Liễu Đề đến km41 quy mô đường cấp III đồng bằng, đoạn từ km41 đến km55+500 quy mô đường cấp IV đồng bằng Ngoài ra có các tuyến liên tỉnh như 487, 481B Tuyến liên huyện: đường Thái Thịnh, đường Thái Châu, đường Thống Nhất, đường Giây nhất, Chợ Gạo,
Huyện Nghĩa Hưng có 3 sông lớn đi qua địa bàn bao gồm sông Đào, sông Ninh Cơ, sông Đáy dài trên 74 Km và kênh Quần Liêu dài 3,5 Km đảm bảo cho tàu thuyền có tải trọng từ 50 đến 1.000 tấn đi lại Các hệ thống sông cấp I dài 208,35 Km, gồm 60 sông đảm bảo cho tàu thuyền từ 50 tấn đến 100 tấn đi lại, Ngoài ra còn hệ thống sông cấp II dài 553 Km gồm 450 sông đảm bảo cho thuyền vận tải nhỏ dưới 10 tấn qua lại thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá, vật tư nông nghiệp, vật liệu xây dựng phục vụ thiết thực cho phát triển kinh tế xã hội của huyện