1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện vụ bản, tỉnh nam định

133 716 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1 PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Nguồn nhân lực cán bộ luôn chiếm vị trí trung tâm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là

trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã

được cảm ơn sâu sắc, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi

rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Anh Dũng

Trang 3

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ii

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô Khoa Kinh tế nông

nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp trước đây và nay là Học viện Nông

nghiệp Việt Nam đã hết lòng giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu Thạc sỹ

tại trường giai đoạn 2012 – 2014 và quá trình học Đại học tại trường

Tôi xin trân trọng cảm ơn sâu sắc PGS.TS Ngô Thị Thuận, người đã

trực tiếp giảng dạy tôi giai đoạn Đại học và giờ trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ

tôi về mọi mặt để hoàn thành Luận văn Thạc sỹ Kinh tế nông nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy trong Ban Giám hiệu trường Đại

học Nông nghiệp Hà Nội, Ban Chủ nhiệm Khoa Kinh tế nông nghiệp, tập thể

thầy, cô giáo bộ môn Kinh tế lượng đã giúp đỡ tôi về thời gian cũng như kiến

thức để tôi hoàn thành quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thiện đề tài

Trân trọng cảm ơn Lãnh đạo UBND huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định và

các xã trong huyện đã giúp tôi thu thập tài liệu, số liệu, thông tin cần thiết, tổ

chức xây dựng các cuộc điều tra để thực hiện tốt đề tài Luận văn Thạc sỹ này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến người thân trong gia đình, đã đồng hành

cùng tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn Thạc sỹ khoa học

này

Trân trọng

Tác giả luận văn

Nguyễn Anh Dũng

Trang 4

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii

PHẦN 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN

2.1 Lý luận phát triển nguồn nhân lực cho xây dựng nông thôn mới 6 2.1.1 Lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực 6

2.2 Thực tiễn phát triển nguồn nhân lực trên thế giới và ở Việt Nam 25

2.2.2 Bài học kinh nghiệm cho thực tiễn phát triển NNL ở Việt Nam 37 PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BẢN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

3.2.4 Phương pháp xử lý và tổng hợp dữ liệu 58

4.1 Thực trạng nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới huyện Vụ Bản 61 4.1.1 Tổng quan chung về xây dựng NTM tại huyện Vụ Bản 61

Trang 5

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iv

4.1.2 Thực trạng nguồn nhân lực cho xây dựng NTM huyện Vụ Bản 66 4.1.3 Những yêu cầu đặt ra cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Vụ Bản 80 4.2 Các hoạt động nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ xây dựng NTM của

4.2.1 Thông tin chung về nhóm cán bộ được điều tra 86

4.2.3 Xác định những khó khăn đối với cán bộ các cấp 91 4.2.4 Nhu cầu nâng cao năng lực của cán bộ xây dựng NTM huyện Vụ Bản 93 4.2.5 Điều tra nhu cầu của sinh viên về làm việc tại quê hương sau khi tốt nghiệp 105 4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao năng lực cán bộ cho xây dựng nông

4.3.1 Phân tích SWOT trong phát triển nguồn nhân lực cho xây dựng nông thôn

4.3.2 Những bất cập trong phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng NTM ở

4.4.1 Quy hoạch, phát triển và quản lý cán bộ 115

4.4.3 Hoàn thiện công tác tuyển dụng, bố trí và sử dụng cán bộ trong chương trình

4.4.4 Chế độ chính sách duy trì nguồn nhân lực cán bộ 119

Trang 6

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v

DANH MỤC BẢNG

3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Vụ Bản 47 3.2 Tình hình dân số và sử dụng lao động của huyện Vụ Bản 49 3.3 Tình hình phát triển kinh tế huyện Vụ Bản 53 4.1 Kết quả huy động vốn đầu tư xây dựng NTM (đến 12/2013) 64

4.3 Trình độ của đội ngũ cán bộ cấp xã của huyện Vụ Bản năm 2013 68 4.4 Thực trạng trình độ học vấn và chính trị nhóm chuyên trách 71 4.5 Thực trạng trình độ chuyên môn cán bộ chuyên trách cấp xã 72 4.6 Thực trạng trình độ chuyên môn nhóm cán bộ chuyên môn cấp xã 75 4.7 Tổng hợp trình độ cán bộ thuộc BCĐ xây dựng NTM cấp xã 77 4.8 Chất lượng NNL trong BCĐ NTM của huyện Vụ Bản 79 4.9 Nhu cầu NNL đến năm 2020 tại phòng NN&PTNT 84 4.10 Nhu cầu NNL đến năm 2020 của các xã trong huyện 85 4.11 Thông tin chung về cán bộ được điều tra 87

4.13 Mức độ khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ tại cấp xã 91 4.14 Mức độ khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ cấp huyện 92 4.15 Những kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ được tổ chức đào tạo thường xuyên 94 4.16 Cán bộ cấp xã đánh giá trình độ trong thực hiện nhiệm vụ 96 4.17 Tự đánh giá năng lực thực hiện công việc 97 4.18 Nhu cầu đào tạo trình độ cán bộ cấp xã 98 4.19 Nhu cầu đào tạo dài hạn của cán bộ cấp xã 100 4.20 Về cơ cấu độ tuổi, trình độ, lĩnh vực, hình thức, địa điểm và thời gian đào tạo 101 4.21 Những nội dung cần thiết nhất và muốn tham gia trong thời gian tới 103 4.22 Khảo sát nhu cầu trở về quê làm việc của sinh viên có gia đình trên địa bàn huyện 106 4.23 Quy mô tuyển sinh của các đào tạo trên địa bàn tỉnh Nam Định 112

Trang 7

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vi

DANH MỤC BIỂU

4.1: Thời gian hợp lý cho các khóa đào tạo, bồi dưỡng 104 4.2: Thời điểm hợp lý cho các khóa đào tạo (% cán bộ) 104 4.3: Địa điểm hợp lý cho các khóa đào tạo, bồi dưỡng 105

Trang 8

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Nguồn nhân lực cán bộ luôn chiếm vị trí trung tâm và đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong giai đoạn xây dựng nông thôn mới (NTM) theo Nghị quyết số 26 - NQ/T.Ư về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Trong những năm gần đây, chúng ta đã nhận thấy, những khiếm khuyết

do chất lượng nguồn nhân lực cán bộ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển chung trong đó có chương trình xây dựng NTM

Nghị quyết số 26 - NQ/T.Ư về nông nghiệp, nông dân, nông thôn nêu rõ:

Về quan điểm: Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt Tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân

Mục tiêu tổng quát: Nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ NTM

Mục tiêu đến năm 2020: Lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỉ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn NTM khoảng 50% Phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để hiện đại hoá nông nghiệp, công nghiệp hoá nông thôn Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng

Trang 9

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2

kiến thức khoa học kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tiên tiến, hiện đại cho nông dân; đào tạo nghề cho bộ phận con em nông dân để chuyển nghề, xuất khẩu lao động; đồng thời tập trung đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ quản lý, cán bộ Hình thành chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo hàng năm đào tạo khoảng 1 triệu lao động nông thôn Thực hiện tốt việc xã hội hoá công tác đào tạo nghề

Một thực tế hiện nay, chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM được đặc biệt quan tâm vì mục tiêu phát triển nông thôn, nâng cao mọi mặt của cộng đồng nông thôn Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực cán bộ để thực hiện mục tiêu này chưa thực sự được đặt lên hàng đầu Nhiều địa phương, đội ngũ cán bộ tham gia chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM còn rất yếu và thiếu, chưa được đào tạo chính quy, cơ bản

Vì vậy, xem xét lại chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực cán bộ, hướng vào việc đào tạo và phát triển theo mục tiêu chính là việc làm cần thiết và cấp bách

Huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định là một huyện nghèo thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, kinh tế chậm phát triển so với các địa phương trong khu vực

Chất lượng nguồn nhân lực cán bộ cho chương trình xây dựng NTM của huyện Vụ Bản chưa thực sự rõ nét, chưa có các mô hình ấn tượng để xây dựng và phát triển Đặc biệt, cán bộ trực tiếp chỉ đạo thực hiện các mô hình để nâng cao đời sống của cộng đồng dân cư chưa có, chưa có nhiều ý tưởng sáng tại được tạo ra cho chương trình xây dựng NTM Các chương trình xây dựng NTM theo NQ 26 vẫn chỉ là xây dựng cở sở hạ tầng theo bộ tiêu chí của Chính phủ ban hành Nguồn lực thực hiện vẫn chỉ là bán đất để xây dựng hạ tầng Khả năng phát huy giá trị từ các mô hình đã đầu tư chưa được xác định rõ

Để phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt thực hiện thành công Nghị quyết

26 về phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân, chính quyền huyện Vụ

Trang 10

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 3

Bản cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng NTM tại địa phương

Đến thời điểm này, đã có rất nhiều nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực như phát triển nguồn nhân lực cho khu công nghiệp, nguồn nhân lực cho xây dựng CNH, … Nhưng, để có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM theo NQ 26, đặc biệt cho chương trình xây dựng NTM, tại huyện

Vụ Bản, tỉnh Nam Định là hoàn toàn chưa có

Làm gì để phát huy tối đa các nguồn lực được đầu tư, cũng như lợi thế hiện có của địa phương để xây dựng NTM

Để thực hiện thành công chương trình, chất lượng nguồn nhân lực cán

bộ là yếu tố quan trọng nhất sẽ được lấy từ đâu?

Một thực tế rõ nhất hiện nay, bức tranh nông thôn cả nước nói chung và bức tranh nông thôn trên địa bàn huyện Vụ Bản nói riêng, đang có nhiều bất cập Tài nguyên nông thôn lãng phí, các nguồn đầu tư của nhà nước hạn chế, không đồng bộ, chủ thể xây dựng NTM không tương xứng với tầm vóc một chương trình mục tiêu quốc gia được xây dựng

Nhằm góp phần làm rõ các bất cập nêu trên, chúng tôi lựa chọn nghiên

cứu đề tài: "Phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định" nhằm tìm giải pháp phát triển nguồn

nhân lực cán bộ cho xây dựng chương trình NTM của huyện Vụ Bản, từ đó tạo đà phát triển nguồn nhân lực, kinh tế xã hội của tỉnh Nam Định, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết 26

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung:

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho chương trình xây dựng NTM của huyện Vụ Bản

Trang 11

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

(1) Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực cán

bộ xây cho dựng nông thôn mới

(2) Đánh giá thực trạng cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện

Vụ Bản tỉnh Nam Định trong những năm gần đây

(3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực cán

bộ cho xây dựng nông thôn mới của huyện

(4) Đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định những năm tới

1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, các câu hỏi nghiên cứu

trong đề tài này là:

1 Thế nào là phát triển nguồn nhân lực cán bộ? Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng NTM có đặc điểm gì khác với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung?

2 Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng NTM huyện Vụ Bản như thế nào, có đáp ứng yêu cầu chương trình xây dựng NTM hay không?

3 Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc phát triển nguồn nhân lực cán

bộ cho xây dựng NTM tại huyện Vụ Bản?

4 Làm thế nào để nâng cao năng lực cán bộ cho chương trình xây dựng NTM tại huyện Vụ Bản?

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các hoạt động phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới thông qua các đối tượng khảo sát sau:

- Cán bộ quản lý, lãnh đạo các cấp trong chương trình xây dựng NTM huyện Vụ Bản và các xã trong huyện (lãnh đạo, cán bộ quản lý, người lao động, của 18 xã thị trấn) về mặt số lượng và chất lượng;

Trang 12

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 5

- Người lao động đang làm việc tại các xã;

- Sinh viên của huyện đang theo học tại các trường Đại học;

- Các đơn vị tham gia đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ nguồn nhân lực trên địa bàn huyện;

- Các tổ chức kinh tế xã hội liên quan đến công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung, đề tài tập trung chủ yếu các vấn đề: Lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới; Thực trạng nguồn nhân lực cán bộ trong những năm vừa qua tại địa phương; Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại địa phương

- Về không gian: Đề tài được thực hiện tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Một số nội dung chuyên sâu sẽ được khảo sát chi tiết tại một số xã, đào tạo cán bộ quản lý các cấp huyện, xã

- Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực những năm trước đây (đến năm 2013), khảo sát năm 2013 - 2014 và khuyến nghị các giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho giai đoạn 2015 - 2030

Trang 13

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6

PHẦN 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÁN BỘ CHO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

2.1 Lý luận phát triển nguồn nhân lực cho xây dựng nông thôn mới

2.1.1 Lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực

2.1.1.1 Các khái niệm cơ bản

Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được

nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh

Trước hết, với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư trong độ tuổi quy định, có khả năng lao động

Nguồn nhân lực là yếu tố của sự phát triển kinh tế- xã hội là khả năng lao động xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong

độ tuổi lao động có khả năng lao động Với cách hiểu này nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động

Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người

cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động Với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những người từ giới hạn dưới độ tuổi lao động trở lên (ở nước ta là tròn 15 tuổi)

Các cách hiểu biết trên chỉ khác nhau về việc xác định quy mô nguồn nhân lực, song đều nhất trí với nhau đó là nguồn nhân lực nói lên khả năng lao động của xã hội

Như vậy, nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, là những người lao động có kỹ năng được chuẩn

bị, sẵn sàng tham gia một công việc lao động, đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo mục tiêu đặt ra

Nguồn nhân lực: Cho đến nay, khái niệm nguồn nhân lực đang được

hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau

Trang 14

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 7

Theo đánh giá của Liên hợp quốc thì nguồn nhân lực bao gồm những người đang làm việc và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động

Theo GS.VS Phạm Minh Hạc cùng các nhà khoa học tham gia chương trình KX - 07 thì: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế -

xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó…”

Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Nguồn lực con người

là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”, đó là “người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại” Ngoài ra, một số tác giả khác khi nghiên cứu các đề tài về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam cũng đã đưa ra những quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực; theo tôi, khái niệm nguồn nhân lực nên được hiểu một cách ngắn gọn là nguồn lực con người Điều đó, cũng có nghĩa là khái niệm nguồn nhân lực cần tập trung phản ánh những vấn đề sau đây: Một là, xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ nguồn lực con người - yếu

tố quyết định sự phát triển của xã hội; hai là, nguồn nhân lực bao gồm số lượng và chất lượng, trong đó mặt chất lượng thể hiện ở trí lực, nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống và sự kết hợp giữa các yếu tố đó; ba là, nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực nhất thiết phải gắn liền với thời gian và không gian mà nó tồn tại

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đã phản ánh tổng quát khái niệm nguồn nhân lực trên cả ba phương diện: trí lực, thể lực, nhân cách, cùng

Trang 15

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8

với khoa học cho sự phát triển các yếu tố đó là nền giáo dục tiên tiến gắn liền nền khoa học hiện đại

Từ sự phân tích trên theo tôi, khái niệm nguồn nhân lực nên được hiểu đầy đủ như sau:

Theo nghĩa rộng thì nguồn nhân lực bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên thực tế đang làm việc (gồm những người trong độ tuổi lao động và những người trên độ tuổi lao động), những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng chưa có việc làm (do thất nghiệp hoặc đang làm nội trợ trong gia đình), cộng với nguồn lao động dự trữ (những người đang được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề…)

Điều đó có nghĩa là, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực được nghiên cứu trên các khía cạnh quy mô, tốc độ tăng nguồn nhân lực, sự phân

bố theo vùng, khu vực và lãnh thổ; trong đó, trí lực thể hiện ở trình độ dân trí, trình độ chuyên môn, là yếu tố trí tuệ, tinh thần, là cái nói lên tiềm lực sáng tạo ra các giá trị vật chất, văn hóa, tinh thần của con người, vì thế nó đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực

Sau trí lực là thể lực hay thể chất, bao gồm không chỉ sức khỏe cơ bắp

mà còn là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, bắp thịt, là sức mạnh của niềm tin và ý trí, là khả năng vận động của trí lực Thể lực là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức vào sức mạnh vật chất Do đó, sức mạnh trí tuệ chỉ có thể phát huy được lợi thế khi thể lực con người được phát triển Ngoài ra, nói đến nguồn nhân lực cần xét đến các yếu tố nhân cách, thẩm mỹ, quan điểm sống Đó là, sự thể hiện nét văn hóa của người lao động, được kết tinh từ một loạt các giá trị: Đạo đức, tác phong, tính tự chủ và năng động, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm trong công việc khả năng hợp tác, làm việc theo nhóm, khả năng hội nhập với môi trường đa văn hóa, đa sắc tộc và các tri thức khác về giá trị của cuộc sống

Trang 16

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 9

Hồ Chí Minh đã nói: “Có đức mà không có tài, làm việc gì cũng khó; nhưng có tài mà không có đức là người vô dụng”; bởi vậy, sẽ không đầy đủ khi nói đến nguồn nhân lực mà không đề cập đến sự phối hợp hài hòa giữa ba yếu tố trí lực, thể lực và nhân cách thẩm mỹ, vì nó là điều kiện tạo nên sức mạnh trong mỗi con người, trong cộng đồng và cũng là để hướng cho người lao động phát triển toàn diện

Phát triển: Theo từ điển Tiếng Việt phát triển là sự biến đổi hoặc làm cho

biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp lên cao, đơn giản đến phức tạp Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về sự phát triển Theo Gerard Crellet, phát triển là quá trình một xã hội đạt đến thoả mãn các nhu cầu mà xã hội đó coi là cơ bản (Gerard Crellet, 1993) Ở đây, phát triển được xem là một quá trình và một xã hội được coi là phát triển khi xã hội đó thoả mãn các nhu cầu cơ bản Định nghĩa này không chỉ bao hàm nội dung kinh tế mà còn có nội dung xã hội Nếu chỉ tiêu thu nhập bình quân/người thể hiện sức sản xuất của xã hội thì cách xem phát triển ở đây nhấn mạnh tới việc xã hội sử dụng những nguồn của cải đó như thế nào để thoả mãn những nhu cầu mà xã hội ấy coi là cơ bản

Raman Weitz cho rằng: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội” (Raman Weitz, 1995) Ngân hàng thế giới đã đưa ra khái niệm với ý nghĩa rộng hơn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng có liên quan đến hệ thống giá trị con người, phát triển là: “Sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người trong các mối quan hệ với Nhà nước, với cộng đồng…”

Từ các quan điểm khác nhau về phát triển, chúng tôi cho rằng, phát triển là bao hàm ý nghĩa rộng hơn tăng trưởng, nó không chỉ bao gồm những thay đổi về số lượng như tăng trưởng kinh tế mà còn bao gồm cả những thay

Trang 17

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10

đổi về chất lượng cuộc sống Như vậy, phát triển là quá trình tăng tiến, chuyển biến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kì nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lượng, sản phẩm, sự hoàn thiện, tiến bộ

về cơ cấu nền kinh tế Đó là sự nâng cao chất lượng, sự tiến bộ, thịnh vượng làm cho cuộc sống con người trở nên tốt đẹp hơn

Mở rộng khái niệm phát triển ta có “Phát triển bền vững” Theo Ủy ban Quốc tế về phát triển và Môi trường năm 1987 thì phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi mà trong đó, sự khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng phát triển của công nghệ và kỹ thuật và sự thay đổi về tổ chức là thống nhất và làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của con người (Nugent, 1991) Hội nghị thượng đỉnh về trái đất năm 1992 tổ chức tại Rio de Janero đã đưa ra định nghĩa vắn tắt về phát triển bền vững là:

“Phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”

Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển bền vững, nhưng tựu chung lại các ý kiến đều cho rằng, phát triển bền vững là phạm trù về hệ thống giá trị của con người Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân

Như vậy, để đạt được phát triển bền vững cần phải đạt đồng thời 3 mục tiêu:

+ Phát triển có hiệu quả kinh tế;

+ Phát triển hài hoà các mặt của xã hội, trình độ sống của các tầng lớp dân cư;

+ Cải thiện môi trường sinh thái bảo đảm phát triển lâu dài, vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau

“Phát triển bền vững” có nội hàm rất rộng, mỗi thành tố trong đó đều

có một ý nghĩa riêng Một mẫu hình phát triển bền vững là mỗi địa phương,

Trang 18

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11

vùng, quốc gia… không nên thiên về thành tố này và xem nhẹ thành tố kia Vấn đề là áp dụng nó như thế nào ở các cấp độ trên và trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội (Malcom Gillis, 1983 - Đỗ Kim Chung dịch, 2009)

Phát triển nguồn nhân lực cán bộ

- Phát triển con người: Nói đến nâng cao kiến thức, kỹ năng và năng lực vì mục tiêu tăng kết quả thực hiện trong một tổ chức Điều này phản ánh

sự nhấn mạnh đến cá nhân (phát triển cá nhân) cũng như sự cam kết về sự tiến

bộ nghề nghiệp của con người trong tổ chức (phát triển nghề nghiệp)

Tiếp theo sự phát triển của con người trong tổ chức sẽ dẫn đến nâng cao kết quả thực hiện công việc và làm cho lợi ích của doanh nghiệp - hiệu quả của tổ chức tăng lên, khả năng cạnh tranh cao hơn và lợi nhuận lớn hơn (quản lý kết quả thực hiện)

Phát triển cá nhân: Phát triển cá nhân liên quan đến phát triển kiến

thức, kỹ năng và năng lực và nhờ đó thay đổi hành vi phù hợp với công việc hiện tại và nhu cầu của tổ chức cũng như nhu cầu của cá nhân Phát triển cá nhân nhấn mạnh đến sự quan trọng của phát triển cá nhân thông qua các hoạt động học tập chính thức hoặc không chính thức, tức tất cả các loại học tập khác nhau Đào tạo thường dành cho nhân viên mới hoặc người thiếu kiến thức, kỹ năng, nhưng phát triển cá nhân là nhu cầu của tất cả người lao động,

kể cả những người lãnh đạo, quản lý

Phát triển nghề nghiệp: Phát triển nghề nghiệp nhấn mạnh vào cung

cấp sự phân tích cần thiết để phát hiện những mối quan tâm, các giá trị, các năng lực, các hoạt động và các nhiệm vụ cần thiết để phát triển kỹ năng cho những nghề nghiệp trong tương lai Phát triển nghề nghiệp bao gồm các hoạt động cá nhân và tổ chức các hoạt động cá nhân bao gồm lập kế hoạch nghề nghiệp, nhận biết về nghề nghiệp và phát hiện các nhu cầu đào tạo, phát triển

và tận dụng các cơ hội để tham gia đào tạo Các hoạt động của tổ chức bao gồm hệ thống thông báo nghề nghiệp, hệ thống tư vấn, phát triển và duy trì

Trang 19

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 12

trung tâm phát triển nghề nghiệp, sử dụng cán bộ quản lý như những người tư vấn về nghề nghiệp, cung cấp các hội thảo về phát triển nghề nghiệp, lập kế hoạch về nguồn nhân lực, đánh giá kết quả thực hiện và các chương trình hướng nghiệp

Phát triển tổ chức: Phát triển tổ chức là việc hướng tới xây dựng các

giải pháp tổ chức mới và sáng tạo cho các vấn đề về kết quả thực hiện công việc và những vấn đề thiếu hiệu quả của tổ chức bằng việc nâng cao sự tương thích các yếu tố của của tổ chức về văn hóa, cơ cấu, quá trình, sứ mệnh, chính sách và quy trình, thực tiễn quản lý, chiến lược và lãnh đạo Phát triển tổ chức

có mục tiêu nâng cao năng lực thực hiện, phát triển và khả năng cạnh tranh của tổ chức Điều này liên quan đến khả năng của tổ chức trong việc phát hiện những vấn đề, điểm yếu và tìm ra những nguồn lực cần thiết để phát triển Phát triển nguồn nhân lực

- Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu UNDP: Phát triển nguồn nhân lực chịu sự tác động của năm yếu tố: giáo dục và đào tạo, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và sự giải phóng con người Trong quá trình tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực, những nhân tố này luôn gắn

bó, hỗ trợ và phụ thuộc lẫn nhau; trong đó, giáo dục và đào tạo là nhân tố nền tảng, là của tất cả các nhân tố khác Nhân tố sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con người là những nhân tố thiết yếu, nhằm duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững nguồn nhân lực

- Theo quan điểm sử dụng năng lực con người của ILP: Phát triển

nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề, mà bên cạnh phát triển năng lực là làm cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó

để tiến đến có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân

2.1.1.2 Ý nghĩa của phát triển nguồn nhân lực cán bộ

Nguồn nhân lực cán bộ giữ vai trò vô cùng quan trọng trong các hoạt

Trang 20

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13

động của tổ chức Việc tuyển chọn, sắp xếp, đào tạo nguồn nhân lực phải dựa vào các tiêu chuẩn nhất định nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra Quản lý nguồn nhân lực xác định rõ vai trò của từng cá nhân, từng thành viên trong tổ chức, lên kế hoạch phát triển nguồn nhân lực cho phù hợp với quy

mô của tổ chức Do vậy, phát triển nguồn nhân lực sẽ không được coi là toàn diện nếu không quan tâm đến vai trò của nguồn tài sản này

Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực cán bộ được đánh giá bằng mức độ toàn dụng nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng và thời gian được sử dụng; việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực đồng nhất với:

- Nâng cao hệ số sử dụng số lượng nhân lực;

- Nâng cao hiệu suất sử dụng nhân lực, hay giá trị tăng thêm được tạo

ra từ việc sử dụng nhân lực;

- Nâng cao hệ số sử dụng thời gian lao động

Việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực cán bộ là một quá trình chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tình hình cung cầu trên thị trường lao động, chất lượng nguồn nhân lực, chính sách lao động, việc làm và tiền lương của Nhà nước đối với nguồn lao động; theo đó, hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực sẽ đồng biến với tốc độ giải quyết việc làm, nghịch biến với tỷ lệ thất nghiệp và phụ thuộc vào chính sách thu hút, bố trí, sử dụng và chế độ đãi ngộ Nếu những chính sách này hợp lý sẽ kích thích được tinh thần làm việc, phát huy được khả năng sáng tạo của người lao động, là động lực quan trọng để nâng cao hiệu quả

và chất lượng công việc, sẽ thu hút được nhân tài cho tổ chức mình

Do vậy, nguồn nhân lực cán bộ có một vai trò hết sức quan trọng đến

sự thành công hay thất bại của mỗi mỗi địa phương và mỗi một quốc gia Nếu tạo điều kiện cho nguồn nhân lực thể hiện tốt vai trò tiên phong của mình thì hiệu quả kinh tế - xã hội sẽ không ngừng được nâng lên cả về chất và lượng, còn nếu một nguồn nhân lực kém chất lượng thì sẽ làm cho nền kinh tế phát triển chậm hoặc thậm chí kém phát triển và tụt hậu

Trang 21

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 14

Được xác định là một điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ một hoạt động nào trong phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực luôn đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự tồn vong của mỗi quốc gia

2.1.1.3 Các hình thức phát triển nguồn nhân lực cán bộ

Có bốn cách tiếp cận để phát triển nguồn nhân lực gồm: Giáo dục chính thức, đánh giá, kinh nghiệm công việc và các mối quan hệ cá nhân

- Giáo dục chính thức: Các chương trình giáo dục chính thức là chương trình phát triển người lao động, bao gồm cả các khóa đào tạo ngắn hạn do tư vấn hay trường đại học thực hiện, các chương trình của trường đại học Các chương trình học này có thể bao gồm bài giảng của các chuyên gia kinh doanh, các trò chơi kinh doanh, học tập qua kinh nghiệm mạo hiểm, qua gặp

gỡ với khách hàng

- Đánh giá: Là việc thu thập thông tin và cung cấp thông tin phản hồi cho người lao động về hành vi, cách giao tiếp, hay các kỹ năng của họ Việc đánh giá thường được sử dụng để phát hiện người lao động có tiềm năng quản

lý và xác định điểm mạnh, điểm yếu của người quản lý hiện tại Việc đánh giá cũng được sử dụng để phát hiện những người quản lý với tiềm năng phát triển lên vị trí quản lý cao hơn

Có nhiều cách khác nhau để đánh giá phát triển Đánh giá kết quả thực hiện công việc của người lao động cũng là một cách phổ biến để tìm ra những tiềm năng phát triển Thực tế thì đánh giá kết quả thực hiện công việc cũng được sử dụng để đánh giá nhu cầu đào tạo Qua đánh giá kết quả thực hiện công việc của từng cá nhân có thể phát hiện nguyên nhân của việc hoàn thành không tốt công việc và phân tích nguyên nhân để tìm ra biện pháp khắc phục nhằm giúp người lao động đạt được kết quả công việc như mong muốn Nếu nguyên nhân do người người lao động thiếu kiến thức và kỹ năng thì cần tiến hành đào tạo, trong trường hợp này đào tạo sẽ gắn với việc nâng cao kết quả thực hiện công việc

Trang 22

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 15

Để đánh giá người ta có thể dùng nhiều cách kiểm tra tâm lý để đo lường kỹ năng, đặc điểm cá nhân, cách giao tiếp của người lao động Những cách kiểm tra này để xem người lao động có những tính cách cần thiết để có thể thành công trong việc quản lý hay không Thông tin đánh giá có thể thu được từ nhiều nguồn: tự đánh giá, đồng nghiệp đánh giá, người quản lý trực tiếp đánh giá Cách thu thập thông tin có thể từ phỏng vấn hoặc qua phiếu khảo sát về công việc của họ về kinh nghiệm cá nhân, kỹ năng và kế hoạch phát triển nghề nghiệp

- Kinh nghiệm công việc: Là mối liên hệ, các vấn đề, các nhu cầu, nhiệm vụ và đặc điểm khác mà người lao động gặp trong công việc của họ Phần lớn người lao động phát triển thông qua kinh nghiệm công việc, để thành công trong công việc của mình, người lao động cần mở rộng các kỹ năng của họ Phân công công việc mới giúp họ không chỉ sử dụng những kỹ năng, kinh nghiệm và mối liên hệ hiện tại mà còn phát triển thêm những kỹ năng, kinh nghiệm và mối liên hệ mới

Những nhu cầu của công việc như thực hiện các chức trách mới, tạo sự thay đổi, có trách nhiệm cao hơn, thực hiện những công việc liên qua đến nhiều mối quan hệ mà mình không có quyền lực, đương đầu với những khó khăn, giúp người lao động rút được nhiều kinh nghiệm

Có nhiều cách khác nhau mà kinh nghiệm công việc có thể giúp phát triển người lao động, bao gồm: mở rộng công việc, luân chuyển, thuyên chuyển công việc, bổ nhiệm, chuyển xuống vị trí thấp hơn và những vị trí công việc tạm thời

2.1.1.4 Nội dung phát triển nguồn nhân lực cán bộ

Xuất phát từ quan niệm về nguồn lực và phát triển nguồn nhân lực nêu trên, theo chúng tôi, nội dung cơ bản của phát triển nguồn nhân lực bao gồm:

- Phát triển nguồn nhân lực về mặt số lượng;

- Phát triển nguồn nhân lực về mặt chất lượng

Trang 23

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 16

a Phát triển nguồn nhân lực cán bộ về mặt số lượng

Nguồn nhân lực của một quốc gia, vùng lãnh thổ, về mặt số lượng thể hiện ở quy mô dân số, cơ cấu về giới và độ tuổi Theo đó, nguồn nhân lực được gọi là đông về số lượng khi quy mô dân số lớn, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động cao

Dưới góc độ phát triển, chúng ta không thể không xét đến tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm Nghĩa là, về mặt số lượng, nguồn nhân lực chịu ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô dân số tại thời điểm gốc và chính sách phát triển dân số của các quốc gia và vùng lãnh thổ Vấn đề này, hiện nay trên thế giới đang diễn ra hai xu hướng trái ngược nhau

Đối với các quốc gia phát triển, do nhiều yếu tố: khí hậu, di truyền, nhu cầu được tự do phát triển của mỗi cá nhân, điều kiện kinh tế và đặc biệt trợ giúp của khoa học - kỹ thuật trong ngành y…nên tỷ lệ sinh thấp (từ 0,5 % - 0,7%), trong khi đó, tuổi thọ lại cao nên dẫn đến tình trạng già hóa nguồn nhân lực Hệ quả thiếu nguồn nhân lực đến mức báo động

Đối với các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các nước chậm phát triển, thì lại ngược lại hoàn toàn Tỷ lệ sinh ở các nước này thường khá cao (trên 1,5%/năm), điều kiện kinh tế, chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế chậm được cải thiện, dẫn đến dự thừa lao động hệ quả là gia tăng thất nghiệp và gây áp lực cho việc giải quyết việc làm

b Phát triển nguồn nhân lực cán bộ về mặt chất lượng

Hiện nay, có hai quan điểm phổ biến xem xét chất lượng nguồn nhân lực: Theo quan điểm thứ nhất, chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện ở các mặt trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ và yếu tố kết cấu các mặt đó Nghĩa là, yếu tố kết cấu được tách riêng khi xem xét nguồn nhân lực

Theo quan điểm thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trên ba mặt: trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ; nghĩa là, yếu tố đã được bao hàm trong chính nội tại ba yếu tố đó

Trang 24

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 17

Chúng tôi tiếp cận theo quan điểm thứ hai khi xem xét chất lượng nguồn nhân lực của một quốc gia, vùng lãnh thổ Vì chất lượng nguồn nhân lực được xem xét ở đây là của một tập hợp người, bao gồm các những người trong và trên độ tuổi lao động có khả năng lao động, thực tế đang làm việc, chưa có việc làm hoặc đang được đào tạo Mặt khác, khi xem xét chất lượng nguồn nhân lực, nếu tính riêng yếu tố kết cấu thì sẽ không thể phác họa được một bức tranh đầy đủ về chất lượng nguồn nhân lực

Do vậy, thực chất của phát triển nguồn nhân lực về mặt chất lượng là

sự phát triển trên cả ba mặt: trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ của người lao động

Đây cũng là để Nhà nước Việt Nam xác định: trong khi nguồn lực vật chất và tài chính còn hạn hẹp, thì cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục - đào tạo phải trở thành quốc sách hàng đầu

Phát triển nhân cách, thẩm mỹ là phát triển yếu tố văn hóa, tinh thần và quan điểm sống như: tính tích cực, dám nghĩ, dám làm, đạo đức, tác phong, lối sống … trong mỗi người lao động Đó là quá trình nâng cao trình độ nhận thức các giá trị cuộc sống, tinh thần trách nhiệm, khả năng hòa hợp cộng đồng, đấu tranh với các tệ nạn xã hội để xây dựng lối sống lành mạnh và hình thành tác phong lao động công nghiệp Thực chất là quá trình phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại Đối với các quốc gia, vùng lãnh thổ đang phát triển, quá trình này chịu ảnh hưởng của các nhân tố: Văn hóa và phong cách của người sản xuất nhỏ tiểu nông, hệ quả còn sót lại của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đặc biệt là mặt trái của kinh tế thị trường và quá trình hội nhập

2.1.1.5 Các yếu tố ảnh hướng đến phát triển nguồn nhân lực cán bộ

Toàn cầu hóa kinh tế có những tác động hết sức sâu sắc tới đời sống kinh tế - chính trị - xã hội của từng nước cũng như các mối quan hệ quốc tế Tuy nhiên, sự đánh giá tác động này là rất khác nhau giữa các nước, nhóm

Trang 25

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 18

nước và các nhóm xã hội trong mỗi nước, chủ yếu tùy thuộc vào nhận thức và lợi ích mà họ đã hưởng hoặc mất đi trong quá trình này Có thể đề cập tới một vài tác động của quá trình toàn cầu hóa kinh tế trong lĩnh vực lao động, việc làm, thu nhập và ổn định xã hội Tác động của xu thế toàn cầu hóa kinh tế đối với việc điều chỉnh và lựa chọn chiến lược phát triển của các quốc gia là rất mạnh

mẽ và sâu sắc Chỉ có quốc gia nào thích ứng nhanh nhạy với xu thế này, sớm tìm được mô hình - chiến lược phát triển phù hợp và vận dụng sáng tạo - có hiệu quả vào hoàn cảnh cụ thể của nước mình thì khả năng tăng trưởng và phát triển nhanh, cải thiện được vị thế của mình trong nền kinh tế thế giới

Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, tăng cường nguồn lực cho giáo dục, thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Xu thế Hội nhập kinh tế quốc tế có tác động nhiều mặt và đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo nguồn nhân lực ở mỗi quốc gia Hội nhập kinh tế cùng với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật - công nghệ hiện đại dẫn đến một cuộc cách mạng về đào tạo ngành nghề trong xã hội Do đó, các quốc gia phải chuẩn bị cho mình những tiềm lực lao động đáp ứng yêu cầu của một hệ thống ngành nghề mới đang phát triển phù hợp với xu thế thời đại

Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và Hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia còn phải hướng đến việc đào tạo những con người thích ứng với thời đại cạnh tranh ồ ạt và khốc liệt để phát triển Việc đào tạo một thế hệ mới các doanh nhân - những người lao động có tri thức - khoa học - công nghệ hiện đại, tri thức - năng lực kinh doanh - năng lực cạnh tranh để dẫn dắt doanh nghiệp dành phần thắng trong cuộc cạnh tranh kinh tế trong và ngoài nước, phải là mục tiêu cơ bản trong chính sách giáo dục - đào tạo của các quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa

Việc sử dụng tiếng Anh trong giáo dục và đào tạo, là một yêu cầu thực

tế mà các quốc gia phải hướng tới trong thời đại toàn cầu hóa Tiếng Anh là ngôn ngữ toàn cầu, thứ tiếng của doanh nghiệp, của chính trị, của ngoại giao,

Trang 26

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 19

là tiếng “mẹ đẻ” của ngôn ngữ máy tính và Internet Sự phổ biến của tiếng Anh là sự thật không thể phủ nhận; hiện nay, có khoảng 200 triệu người đang

sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ nhất, 2/3 dân số thế giới dùng như ngôn ngữ thứ hai và 1/6 dân số thế giới đang học tiếng Anh Theo dự báo thì có khoảng 1/2 dân số thế giới sẽ ít nhiều thông thạo tiếng Anh vào trước năm

2050 Muốn hội nhập kinh tế thế giới, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa thì phải biết sử dụng tiếng Anh; dĩ nhiên, việc phổ biến tiếng Anh trong giáo dục

và đào tạo ở các quốc gia không có nghĩa là làm suy giảm vị thế của tiếng mẹ

đẻ Các hiệu quả để chống lại sự lạm dụng tiếng Anh là cổ súy cho việc sử dụng tiếng mẹ đẻ Nhưng ngăn chặn tiếng Anh là điều không bao giờ làm được trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay

Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và dưới tác động của cuộc cách mạnh khoa học - công nghệ, nhu cầu và khả năng thực hiện sự hợp tác quốc tế

về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ngày càng trở nên tất yếu và rõ nét Nhiều nước coi đây là con đường cơ bản để rút ngắn khoảng cách chênh lệch

về trình độ phát triển với khu vực và thế giới Việc cử cán bộ, chuyên gia, học sinh …ra nước ngoài học tập, công tác được nhiều nước quan tâm và trở thành phương thức chủ yếu để phát triển nguồn nhân lực ở mỗi nước

2.1.1.6 Chính sách của Chính phủ Việt Nam trong phát triển nguồn nhân lực

Chính phủ Việt Nam đã xác định, giáo dục và đào tạo, cùng với Khoa học và Công nghệ phải thực sự là quốc sách hàng đầu, phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Đa dạng hoá các loại hình đào tạo, huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản

lý của Nhà nước Xã hội hoá giáo dục là tạo ra và phát triển phong trào toàn dân học tập; toàn xã hội làm giáo dục Thực hiện xã hội hoá không có nghĩa là khoán trắng cho nhà trường và giảm nhẹ trách nhiệm của Chính phủ

Trang 27

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 20

Nhà nước quy định cơ chế cho các doanh nghiệp đầu tư vào giáo dục

và đào tạo Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước giúp đỡ phát triển giáo dục - đào tạo

Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Giáo dục phải vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước, vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại

Dành một tỷ lệ ngân sách thoả đáng để cử những người giỏi và có phẩm chất tốt đi đào tạo và bồi dưỡng về những ngành nghề và lĩnh vực then chốt ở những nước có nền khoa học, công nghệ phát triển; sử dụng một phần vốn vay và viện trợ của nước ngoài để xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục và đào tạo

2.1.2 Lý luận về xây dựng nông thôn mới

2.1.2.1 Các khái niệm

Xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh

tế xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao Theo Nghị quyết 26/NQ của Đảng CSVN khóa 10, nội dung chương trình xây dựng nông thôn mới được thể hiện trên các điểm sau:

- Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn;

- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển các đô thị;

- Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, nhất là vùng khó khăn;

- Đổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ có hiệu

Trang 28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 21

quả ở nông thôn;

- Phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để hiện đại hoá nông nghiệp, công nghiệp hoá nông thôn;

- Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các nguồn lực, phát triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân;

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là hội nông dân

2.1.2.2 Nội dung xây dựng nông thôn mới

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm 11 nội dung sau:

(1) Quy hoạch xây dựng nông thôn mới: Cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn cả nước làm đầu tư xây dựng nông thôn mới với nội dung:

- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ;

- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã (2) Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội: Đạt yêu cầu tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới với nội dung:

- Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã Đến đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hóa);

- Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã Đến năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;

- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn

Trang 29

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 22

hóa thể thao trên địa bàn xã Đến năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;

- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn xã Đến năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;

- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã Đến năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;

- Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ Đến năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn;

- Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã Đến năm 2020 có 77% số xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch)

(3) Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập: Đạt yêu cầu tiêu chí số 10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm

(4) Giảm nghèo và an sinh xã hội: Đạt yêu cầu tiêu chí số 11 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới với nội dung:

- Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30a của Chính phủ) theo Bộ

Trang 30

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 23

tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;

- Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo;

- Thực hiện các chương trình an sinh xã hội

(5) Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn: Đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn Nội dung:

- Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;

- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn;

- Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn

(6) Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn: Đạt yêu cầu tiêu chí số 5

và 14 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm 2020 có 80% số xã đạt chuẩn; Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; (7) Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn: Đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2020 có 75%

số xã đạt chuẩn; Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực về y tế, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới (8) Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn: Đạt yêu cầu tiêu chí số 6 và 16 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến

2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 45% số xã có bưu điện và điểm internet đạt chuẩn Đến 2020 có 75% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 70%

có điểm bưu điện và điểm internet đạt chuẩn; Nội dung:

- Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;

- Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới

(9) Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: Đạt yêu cầu tiêu

Trang 31

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 24

chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở

và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã Đến năm 2020 có 80% số xã đạt chuẩn; Nội dung:

- Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;

- Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng, …

(10) Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị

- xã hội trên địa bàn: Đạt yêu cầu tiêu chí số 18 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn; Nội dung:

- Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới;

Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo,

đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở các vùng này;

- Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới

(11) Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn: Đạt yêu cầu tiêu chí số

19 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn; Nội dung:

- Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng, chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu;

- Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều

Trang 32

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 25

kiện cho lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới

2.1.2.3 Những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới

Là chương trình mục tiêu quốc gia chiến lược, được thực hiện trên toàn quốc với nhiều mục tiêu mũi nhọn, thực hiện trong nhiều giai đoạn dài nên vấn đề đặt ra tương đối nặng nề, khối lượng công việc lớn

Để thực hiện thành công đầy đủ 19 tiêu chí trong bộ tiêu chí NTM và các chỉ tiêu được xác định, vấn đề nguồn nhân lực cán bộ để thực hiện thành công là cốt lõi của vấn đề

Nguồn nhân lực cho xây dựng NTM sẽ là yếu tố quyết định thành công của chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM

Tuy nhiên, chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cán bộ như thế nào, quy mô cơ cấu, … sẽ là vấn đề cần được nghiên cứu kỹ để đáp ứng

đủ cho chương mục tiêu quốc gia xây dựng NTM

2.2 Thực tiễn phát triển nguồn nhân lực trên thế giới và ở Việt Nam

2.2.1 Kinh nghiệm quốc tế

2.2.1.1 Hàn Quốc

Nhờ thực hiện tốt chiến lược đầu tư cho nguồn nhân lực, sau hơn 30 năm cải cách, Hàn Quốc đã trở thành nước công nghiệp hiện đại - con rồng châu Á Chính vì vậy, những kinh nghiệm của Hàn Quốc sẽ giúp Việt Nam tránh được những sai lầm, đồng thời đưa ra được những chính sách và giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,HĐH) nông nghiệp, nông thôn

Một là, xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực nông thôn phải

rõ ràng và nhất quán

Chính phủ Hàn Quốc đã tiến hành song song việc tăng đầu tư ngân sách vào đào tạo người dân nông thôn với mục tiêu cao nhất là làm thay đổi suy

Trang 33

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 26

nghĩ thụ động, trông chờ ỷ lại của người dân vào nhà nước, đã ăn sâu trong tư duy của phần lớn nông dân nước này qua nhiều thế hệ Mục tiêu của chính sách là giúp họ tự tin trước những khó khăn về vật chất và tinh thần để họ trở nên tích cực, năng động, sáng tạo trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn của đất nước

Phong trào xây dựng NTM được triển khai thành công là một kinh nghiệm tốt của Hàn Quốc trong việc định hướng cho chiến lược phát triển nông thôn nói chung và phát triển nguồn nhân lực nông thôn nói riêng Theo

đó, Chính phủ Hàn Quốc đã đề cao và nhấn mạnh yếu tố “phát triển tinh thần của nông dân”, lấy kích thích vật chất nhỏ kết hợp với đào tạo và sự cởi mở, thông thoáng của chính sách để tạo động lực mạnh mẽ về tinh thần cho người dân nông thôn Qua đó, phát huy nguồn vốn nội lực to lớn tiềm tàng của người dân nông thôn

Hai là, đào tạo chuyên môn, chuyển giao kiến thức nghề nghiệp, kỹ năng làm việc cho người lao động nông thôn theo nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế

Chuyển giao kiến thức, đào tạo nghề, kỹ năng chuyên môn cho người lao động nông thôn để tạo ra năng lực làm việc có năng suất lao động cao là công việc chung của cả Nhà nước, các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế trong

xã hội Quan điểm của Chính phủ Hàn Quốc về vấn đề này là rất rõ ràng Chính phủ phải là nhà đầu tư lớn nhất và toàn diện nhất vào xây dựng các đào tạo nghề, nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng cho người lao động Các doanh nghiệp và kinh tế có trách nhiệm trong việc đưa ra nhu cầu, kế hoạch về sử dụng lao động và tham gia cùng Chính phủ dưới nhiều hình thức khác nhau trong triển khai các chương trình đạo tạo nghề cho người lao động mà mình đang sử dụng hoặc sẽ sử dụng

Để có nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu phát triển của kinh tế nông thôn, Chính phủ đã chủ động xây dựng và công bố các định hướng phát

Trang 34

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 27

triển kinh tế trong dài hạn, trung hạn, cũng như ngắn hạn trên quy mô cả nước

và từng vùng Trên đó, hình thành kế hoạch phát triển nguồn nhân lực đáp ứng các nhu cầu của từng ngành và lĩnh vực kinh tế, nhất là khi nền kinh tế đang trong quá trình đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, lĩnh vực để thực hiện CNH, HĐH Trong qua trình này, Chính phủ phải thường xuyên theo dõi sự biến chuyển của cơ cấu kinh tế để điều chỉnh kịp thời công tác đào tạo nguồn nhân lực mới cho các ngành đang và sẽ hình thành, đồng thời đào tạo lại người lao động ở những ngành bị mất đi để giúp họ có đủ năng lực chuyển sang hoạt động ở các ngành kinh tế mới

Chính phủ đã triển khai chính sách tín dụng hỗ trợ cho lực lượng lao động nông nghiệp trẻ để họ học nghề mới, đặc biệt là lao động mới bước vào nghề Chương trình này được triển khai sâu rộng ở các khu vực nông thôn, giúp kết nối các chuyên gia với các nhà nông có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp Sau đó, bổ nhiệm những người này vào các vị trí tư vấn và giám hộ cho các đối tượng lao động trẻ còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong các hoạt động liên quan tới nông nghiệp Nhà nước đứng ra chi trả các khoản chi phí về tư vấn, đào tạo và giám hộ cho những người thực hiện hoạt động này

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng chủ động định hướng cho các trường

trung học, bổ sung ngay vào chương trình giảng dạy một số môn học nghề,

mà nền kinh tế đang cần Từ đó, tạo ra lực lượng lao động trẻ có hiểu biết và

có kỹ năng làm việc tối thiểu ở các ngành nghề đang phát triển mở rộng, đáp ứng đúng nhu cầu của nền kinh tế và toàn dụng được số học sinh trung học sau tốt nghiệp Kinh nghiệm này rất đáng để Việt Nam tham khảo, học tập

Ba là, phát triển nguồn nhân lực nông thôn phải được đặt trong tổng thể chính sách phát triển nguồn nhân lực do yêu cầu CNH,HĐH nền kinh tế

Đây chính là sự gắn kết giữa phát triển nguồn nhân lực cho toàn nền kinh tế với phát triển nguồn nhân lực cho khu vực nông thôn Theo đó, nguồn nhân lực nông thôn phải được định hướng theo sự phát triển và chuyển dịch

Trang 35

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 28

cơ cấu toàn nền kinh tế, chứ không thể chỉ riêng cho khu vực nông thôn Sự định hướng đúng sẽ có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ tới kết quả phát triển nguồn nhân lực nông thôn; đồng thời làm cho các chính sách và giải pháp phát triển nguồn nhân lực nông thôn phù hợp với quy luật và ngược lại

Bốn là, chính sách phát triển nguồn nhân lực nông thôn có những đặc thù riêng so với chính sách phát triển nguồn nhân lực chung

Bởi, hai nguyên nhân sau: (1)Trong khi chính sách chung phải xem xét các mục tiêu phát triển nhân lực cho sự phát triển của các ngành kinh tế trong dài hạn, trung hạn và ngắn hạn, thì chính sách phát triển nguồn nhân lực nông thôn còn phải xem xét mục tiêu chuyển dịch một bộ phận nhân lực từ nông thôn ra thành thị, các khu công nghiệp, cũng như chuyển dịch trong nội bộ khu vực nông thôn; (2) Phát triển nguồn nhân lực nông thôn phải tính đến quy hoạch phát triển nông thôn dài hạn, gắn với công nghiệp hóa nền kinh tế Chính sách này phải được xem xét cẩn trọng trong các mối liên hệ với tăng trưởng, an ninh lương thực và việc làm của người lao động để hoạch định chính sách về nhân lực cho phù hợp với khu vực này trong các giai đoạn của quá trình CNH,HĐH

Năm là, chính sách chi tiêu cho phát triển nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực nông thôn nói riêng, phải được coi là một bộ phận quan trọng của chính sách đầu tư công

Kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy, sự thành công trong phát triển nguồn nhân lực nông thôn phụ thuộc rất lớn vào quan điểm và mức độ chi tiêu của nhà nước vào giáo dục, đào tạo nghề cho người lao động chuẩn bị bước vào nghề cũng như đang làm việc Bên cạnh đó, Chính phủ đóng vai trò là người định hướng các chi tiêu này, sao cho nguồn nhân lực được tạo ra đáp ứng đầy đủ các yêu cầu ngày càng đa dạng và tăng lên về chất lượng lao động của các ngành, lĩnh vực kinh tế

Sáu là, lực lượng lao động nông thôn chính là nguồn cung cấp nhân

Trang 36

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 29

lực cho các khu vực công nghiệp và dịch vụ trong quá trình CNH, HĐH nền kinh tế Nhưng họ thường không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của các

chủ thể sử dụng, vì vậy cần có sự quan tâm lớn hơn của Nhà nước trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực này.Điều này đòi hỏi, Chính phủ phải chủ động xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực nông thôn theo các yêu cầu của CNH, HĐH Trong quá trình xây dựng và triển khai chiến lược phát triển nguồn nhân lực, Chính phủ phải hợp tác, liên kết với các khu vực doanh nghiệp, các chủ thể sử dụng lao động để đảm bảo thành công trong thực hiện chính sách nhân lực của mình

Bảy là, vận dụng các kinh nghiệm thành công, nhưng phải phù hợp với điều kiện của Việt Nam

Theo đó,Chính phủ phải chủ động xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành của nền kinh tế Cho đến nay, mặc dù mục tiêu đến 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, nhưng chúng ta vẫn chưa có được một chiến lược tốt về phát triển nguồn nhân lực chung và nông thôn nói riêng Huy động rộng rãi các ngành cùng tham gia xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực Đối với từng ngành, yêu cầu lớn nhất, quan trọng nhất là phải hình dung nhu cầu về nhân lực của ngành trong thập kỷ tới để tham gia vào chiến lược chung Tuy nhiên, các chương trình giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực nông thôn cần được triển khai phù hợp với điều kiện từng nơi Sự thành công của các chương trình phát triển nhân lực nông thôn phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp và cách thức triển khai Đồng thời, cần đưa ra được các chế tài ràng buộc nhân lực làm việc lâu dài ở lĩnh vực được đào tạo, tránh lãng phí công sức và chi phí xã hội đã đầu tư đào tạo

Tám là, những kinh nghiệm chưa thành công cần lưu ý để tránh lặp lại, gồm:

(1) Đào tạo không đúng yêu cầu phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế

Trang 37

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 30

trong quá trình CNH,HĐH nền kinh tế

(2) Đào tạo bất cập giữa lực lượng nhân lực tham gia sản xuất vật chất

và nhân lực tham gia các hoạt động quản lý, phi sản xuất vật chất

(3) Tách rời nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp và tổ chức kinh tế với các giáo dục, đào tạo

(4) Đầu tư không đầy đủ và đồng bộ vào các chương trình giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực nông thôn, coi nhẹ các chương trình này, kể cả các chương trình đào tạo nghề cho lao động làm nông nghiệp đã tạo ra sự thiếu hụt về kỹ năng chuyên môn và tay nghề của người lao động

(5) Sự toàn dụng lao động, trong đó có lao động nông nghiệp, nông thôn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thu dụng lao động phi nông nghiệp hàng năm, để chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp, đáp ứng đúng yêu cầu CNH,HĐH nền kinh tế

(6) Cần phân biệt sự khác nhau giữa số lượng dân số với sức mạnh của nguồn nhân lực Dân số đông mới chỉ là điều kiện cần để phát triển nguồn nhân lực, nhưng đồng thời là nguy cơ tạo ra sự yếu kém của nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trong nông nghiệp, nông thôn Vì vậy, Việt Nam cần

có chính sách dân số đi đôi với chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nói cách khác là gắn chính sách dân số vào chính sách đào tạo nguồn nhân lực cho toàn nền kinh tế nói chung và cho kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng

2.2.1.2 Nhật Bản

Phong trào “Một làng, một sản phẩm” (OVOP) hình thành và phát triển đầu tiên tại Nhật Bản Qua gần 25 năm, sự thành công và kinh nghiệm của phong trào đã lôi cuốn không chỉ các địa phương trên khắp Nhật Bản mà còn lôi cuốn rất nhiều các quốc gia khác quan tâm tìm hiểu và áp dụng

Thái Lan, Campuchia đã thu được những kết quả to lớn trong công cuộc phát triển nông thôn nhờ áp dụng kinh nghiệm của phong trào OVOP Việt Nam đã và triển khai áp dụng OVOP ở một số địa phương, bước đầu đã

Trang 38

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 31

đạt được kết quả đáng khích lệ

Ba nguyên tắc phát triển OVOP

Có 3 nguyên tắc cơ bản để phát triển phong trào OVOP: hành động địa phương nhưng suy nghĩ toàn cầu; tự tin sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực Mỗi địa phương, tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình, lựa chọn ra những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển Yếu tố thành công chủ yếu của phong trào OVOP là việc nhận biết những nguồn lực chưa được sử dụng tại địa phương trước khi vận dụng nguồn lực một cách sáng tạo để cung cấp trên thị trường

Ông Fumihiro Kabuta, Chuyên gia phát triển cộng đồng APO, cho biết, phong trào OVOP được một nhóm nông dân ở thị trấn Oyama, quận Oita, Nhật Bản khởi xướng từ những năm 60 thế kỷ trước “Hãy trồng mận và hạt

để đi nghỉ ở Hawaii” là khẩu hiệu thôi thúc người dân Oita hành động Sau mấy năm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thay đổi sản phẩm đã tạo nên sự thành công lớn của Hợp tác xã Oyama

Năm 1979, phong trào OVOP được quận Oyama coi là chính sách phát triển nông thôn chủ yếu của quận Chính quyền quận Oita đã có những hỗ trợ

về kỹ thuật, xúc tiến bán hàng và hệ thống giải thưởng cho những thực hành tốt nhất Quận đã thành lập viện nghiên cứu và thử nghiệm quận phục vụ OVOP; hỗ trợ cho việc cải tiến và phát triển các sản phẩm; tổ chức triển lãm, hội chợ Oita; phát động cuộc vận động sản xuất và tiêu dùng địa phương; thành lập công ty “Một làng, một sản phẩm” Oita; xây dựng trạm nghỉ dọc đường (Michi -no - Eki)

2.2.1.3 Trung Quốc

Tăng cường tố chất giáo dục của nông dân, nâng cao toàn diện tố chất của nông dân là thực thi chiến lược khoa giáo chấn hưng nông thôn, tăng thu nhập cho người nông dân, thực hiện hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Giải quyết tận gốc vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân, là để thực

Trang 39

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 32

hiện mục tiêu xây dựng xã hội khá giả toàn diện Để nâng cao tố chất giáo dục cho nông dân, Trung Quốc đã bắt tay vào thực hiện những giải pháp như sau:

Xúc tiến việc hòa hợp giữa kinh tế thanh thị và kinh tế nông thôn, thông qua sự giao lưu giữa thành thị và nông thôn để nâng cao tố chất của nông dân Kinh tế thành thị được mở rộng đến các vùng nông thôn đã có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao tố chất của người nông dân Một khi người nông dân được tiếp xúc với các tổ chức kinh tế thành phố, thì tư tưởng, quan niệm, trình độ đạo đức, kỹ năng sản xuất đều có sự biến đổi, tố chất của người nông dân cũng được nâng cao rõ rệt Sự giao lưu tài chính, tiền tệ, kỹ thuật, nhân tài thông tin và những yếu tố sản xuất khác giữa thành thị và nông thôn cũng đã thúc đẩy việc cải thiện môi trường sản xuất, môi trường làm việc, môi trường sống ở nông thôn Chính những yếu tố trên đã làm cho diện mạo nông thôn Trung Quốc thay đổi, giúp cho việc nâng cao tố chất của người nông dân

Tăng cường giáo dục nông thôn: Giáo dục là giáo dục tiểu học và giáo dục trung học có quan hệ trực tiếp đến tình trạng tố chất của thanh niên nông thôn sau này Tình trạng tố chất giáo dục của họ quyết định trực tiếp đến tố chất của đội ngũ nông dân sau này Từ năm 2006, Trung Quốc bắt đầu thực hiện miễn phí đối với giáo dục nghĩa vụ 9 năm ở nông thôn

Đẩy mạnh việc dậy nghề ở nông thôn và giáo dục trưởng thành Vấn đề này không những giải quyết được những khó khăn về thiếu kỹ thuật trước mắt

ở nông thôn mà nó còn có tác rất lớn trong tương lai

Đẩy mạnh sự phát triển sự nghiệp văn hóa ở nông thôn, thông qua hoạt động văn hóa nghệ thuật phong phú đa dạng ở nông thôn Làm cho nông dân trong các khu vui chơi giải trí tiếp nhận được những tri thức, kỹ năng mới, Trong quá trình vui chơi, nông dân tiếp cận được những cách xử lý mâu thuận hàng ngày, tăng trưởng được tài cán phát triển kinh tế

Tăng cường xây dựng văn minh tinh thần thúc đẩy nâng cao tố chất văn hóa, xác lập được quan niệm tư tưởng thích ứng với văn minh, hiện đại

Trang 40

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 33

Tăng cường xây dựng pháp chế, nâng cao tố chất pháp chế cho nông thôn

2.2.1.4 Kinh nghiệm của Malaisia

Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, Chính phủ Malaisia đã triển khai các chính sách đào tạo thông qua khuyến khích người lao động học nghề, với học bổng do nhà nước cấp ở các trường đại học để nhận bằng thạc sỹ và tiến sỹ cả trong và ngoài nước Chính sách này được triển khai bằng việc lập Quỹ “phát triển nguồn nhân lực” được thành lập năm 1997 với mục đích tạo

ra nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là tạo ra đội ngũ lao động có trình

độ cao trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học - Công nghệ sản xuất hiện đại Quỹ này tài trợ cho việc cấp học bổng cho những thanh niên trẻ có đủ điều kiện tham gia đào tạo và sử dụng trong việc hợp tác quốc tế về phát triển nguồn nhân lực

Chính phủ Malaisia có chính sách rõ ràng về khai thác tài năng toàn cầu

để tăng cường cho nguồn nhân lực của đất nước trong quá trình công nghiệp hoá đất nước, khắc phục tình trạng thiếu nhân lực chất lượng cao để cung cấp cho các ngành lĩnh vực kinh tế tri thức đang ngày càng đặt ra cấp bách

Để khai thác các nguồn tài năng toàn cầu về đất nước, Chính phủ đã đưa ra chính sách thu dụng nhân tài không phân biệt quốc tịch, miễn là có những kỹ năng đạt yêu cầu Chính phủ chủ động tính toán cả nhu cầu thu nhập những chuyên gia giỏi của các cơ quan Chính phủ và khu vực tư nhân Các chương trình cụ thể thu hút nhân tài toàn cầu, bao gồm:

- Chương trình thu nhập người lao động chất lượng cao người Malaisia

và ngoại quốc được triển khai năm 1995 do Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường chủ trì với mục tiêu thu hút các nhà khoa học, người lao động có kỹ năng gốc Malaisia và ngoại quốc đến làm việc tại Malaisia làm việc thoe yêu cầu và chế độ đãi ngộ của Chính phủ Những người đến làm việc tại Malaisia, nếu làm tốt sẽ được nhận tiền thưởng sau thời gian làm việc, cấp vé máy bay khứ hồi cho gia đình, được hưởng 30 ngày nghỉ phép hàng năm, các khoản

Ngày đăng: 19/09/2015, 17:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2: Tình hình dân số và sử dụng lao động của huyện Vụ Bản - phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện vụ bản, tỉnh nam định
Bảng 3.2 Tình hình dân số và sử dụng lao động của huyện Vụ Bản (Trang 56)
Bảng 4.1 Kết quả huy động vốn đầu tư xây dựng NTM (đến 12/2013) - phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện vụ bản, tỉnh nam định
Bảng 4.1 Kết quả huy động vốn đầu tư xây dựng NTM (đến 12/2013) (Trang 71)
Bảng 4.3: Trình độ của đội ngũ cán bộ cấp xã của huyện Vụ Bản năm 2013 - phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện vụ bản, tỉnh nam định
Bảng 4.3 Trình độ của đội ngũ cán bộ cấp xã của huyện Vụ Bản năm 2013 (Trang 75)
Bảng 4.4 Thực trạng trình độ học vấn và chính trị nhóm chuyên trách - phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện vụ bản, tỉnh nam định
Bảng 4.4 Thực trạng trình độ học vấn và chính trị nhóm chuyên trách (Trang 78)
Bảng 4.5 Thực trạng trình độ chuyên môn cán bộ chuyên trách cấp xã - phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện vụ bản, tỉnh nam định
Bảng 4.5 Thực trạng trình độ chuyên môn cán bộ chuyên trách cấp xã (Trang 79)
Bảng 4.7. Tổng hợp trình độ cán bộ thuộc BCĐ xây dựng NTM cấp xã - phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện vụ bản, tỉnh nam định
Bảng 4.7. Tổng hợp trình độ cán bộ thuộc BCĐ xây dựng NTM cấp xã (Trang 84)
Bảng 4.8 Chất lượng NNL trong BCĐ NTM của huyện Vụ Bản - phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện vụ bản, tỉnh nam định
Bảng 4.8 Chất lượng NNL trong BCĐ NTM của huyện Vụ Bản (Trang 86)
Bảng 4.9: Nhu cầu NNL đến năm 2020 tại phòng NN&PTNT - phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện vụ bản, tỉnh nam định
Bảng 4.9 Nhu cầu NNL đến năm 2020 tại phòng NN&PTNT (Trang 91)
Bảng 4.11: Thông tin chung về cán bộ được điều tra - phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện vụ bản, tỉnh nam định
Bảng 4.11 Thông tin chung về cán bộ được điều tra (Trang 94)
3  Hình thức đào tạo, bồi dưỡng  100  55.56   17  9.44   63  35.00 - phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện vụ bản, tỉnh nam định
3 Hình thức đào tạo, bồi dưỡng 100 55.56 17 9.44 63 35.00 (Trang 96)
Bảng 4.16: Cán bộ cấp xã đánh giá trình độ trong thực hiện nhiệm vụ - phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện vụ bản, tỉnh nam định
Bảng 4.16 Cán bộ cấp xã đánh giá trình độ trong thực hiện nhiệm vụ (Trang 103)
Bảng  4.18 Nhu cầu đào tạo trình độ cán bộ cấp xã - phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện vụ bản, tỉnh nam định
ng 4.18 Nhu cầu đào tạo trình độ cán bộ cấp xã (Trang 105)
Bảng 4.20: Về cơ cấu độ tuổi, trình độ, lĩnh vực, hình thức, địa điểm và - phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện vụ bản, tỉnh nam định
Bảng 4.20 Về cơ cấu độ tuổi, trình độ, lĩnh vực, hình thức, địa điểm và (Trang 108)
Bảng 4.21: Những nội dung cần thiết nhất và muốn tham gia trong thời - phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện vụ bản, tỉnh nam định
Bảng 4.21 Những nội dung cần thiết nhất và muốn tham gia trong thời (Trang 110)
Bảng 4.22 Khảo sát nhu cầu trở về quê làm việc của sinh viên có gia đình trên địa bàn huyện - phát triển nguồn nhân lực cán bộ cho xây dựng nông thôn mới tại huyện vụ bản, tỉnh nam định
Bảng 4.22 Khảo sát nhu cầu trở về quê làm việc của sinh viên có gia đình trên địa bàn huyện (Trang 113)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w