1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số kế hoạch hóa gia đình tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh

127 2,1K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, công tác Dân số - KHHGĐ ở nước ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Quy mô dân số lớn Việt Nam hiện là nước đứng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất thế g

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

NGUYỄN THỊ THU

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH

TẠI HUYỆN QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ

MÃ SỐ : 60.34.04.10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS TS NGUYỄN VĂN SONG

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng Các đánh giá, kết quả, kết luận khoa học của luận văn chưa từng được

ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đó

Bắc Ninh, ngày tháng năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Thu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô trong Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn - Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian học tập cũng như thực hiện Luận văn Kiến thức mà các thầy cô truyền đạt sẽ là hành trang giúp tôi vững bước hơn trên con đường đời sau này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy GS.TS Nguyễn Văn Song đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp Nhờ có sự hướng dẫn của Thầy mà tôi đã hoàn thành được Luận văn của mình và tích luỹ được nhiều kiến thức quý báu trong môi trường tôi đang công tác

Tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân đã động viên tôi rất nhiều trong thời gian vừa qua

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng xin chúc Quý thầy cô và các bạn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống /

Bắc Ninh, ngày tháng năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Thu

Trang 5

MỤC LỤC

2.1.3 Chất lượng công tác Dân số - KHHGĐ 9 2.1.4 Vai trò của công tác Dân số - KHHGĐ 11 2.1.5 Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý công tác Dân số-KHHGĐ 12 2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác Dân số - KHHGĐ 16

2.2.1 Tổng quan công tác Dân số- KHHGĐ một số nước trên Thế giới 18 2.2.2 Tổng quan công tác Dân số ở Việt Nam 24 2.2.3 Khái quát về hệ thống chính sách công tác dân số Việt Nam 27

Trang 6

2.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra từ tổng quan thực tiễn cho quá trình nghiên

3.1.3 Đặc điểm văn hóa xã hội của huyện 38 3.1.4 Thuận lợi và khó khăn của địa bàn nghiên cứu công tác Dân số 43

3.2.2 Phương pháp chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu 45

3.2.4 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin 48

4.1 Khái quát công tác Dân số - KHHGĐ của huyện Quế Võ 50 4.1.1 Sơ lược về tổ chức bộ máy công tác Dân số - KHHGĐ huyện Quế Võ 50 4.1.2 Khái quát kết quả thực hiện các chỉ tiêu Dân số - KHHGĐ huyện Quế Võ 55 4.2 Thực trạng chất lượng công tác Dân số - KHHGĐ huyện Quế Võ 57 4.2.1 Công tác xây dựng kế hoạch, tham mưu ban hành các văn bản chính

Trang 7

4.2.7 Kiểm tra, giám sát thực hiện công tác Dân số - KHHGĐ 73 4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác Dân số -

4.4.3 Kiện toàn tổ chức, củng cố bộ máy làm công tác Dân số 89 4.4.4 Tăng cường đổi mới công tác thông tin giáo dục tuyên truyền 90 4.4.5 Nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ 93 4.4.6 Tăng cường sự tham gia của các ban ngành đoàn thể và sự tham gia

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Số con trung bình của một phụ nữ (TFR) thời kỳ 1960 - 2012 333.1 Công tác giáo dục- đào tạo năm (2012 – 2014) 393.2 Một số chỉ tiêu về dân số - xã hội huyện Quế Võ (2012-2014) 413.3 Số cán bộ tại Trung tâm Y tế huyện Quế Võ (năm 2012 – 2014) 423.4 Số cán bộ Y tế ở các xã, thị trấn năm 2012 – 2014 43

4.1 Cán bộ tham gia công tác Dân số - KHHGĐ các cấp 514.2 Trình độ và thời gian công tác của cán bộ Dân số - KHHGĐ Huyện

4.3 Số cộng tác viên Dân số - KHHGĐ kiêm nhiệm của Huyện Quế Võ 544.4 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu Dân số-KHHGĐ năm 2012 – 2014 564.5 Tổng hợp kết quả các hình thức truyền thông năm 2012 – 2014 604.6 Kết quả phối hợp với các ban ngành đoàn thể 624.7 Kết quả sử dụng dịch vụ SKSS/KHHGĐ năm 2012- 2014 684.8 Chất lượng cung cấp dịch vụ KHHGĐ cho người Dân Số ý kiến 694.9 Số lớp đào tạo tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ trong năm 2014 714.10 Tần suất tham gia tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ

4.11 Cơ cấu nguồn kinh phí cho công tác Dân số-KHHGĐ huyện Quế Võ

4.12 Sự quan tâm của lãnh đạo chính quyền địa phương 774.13 Bộ máy quản lý, nguồn nhân lực công tác Dân số 784.14 Sự gắn bó, yêu thích với công việc của đội ngũ cán bộ 80

4.16 Mức độ hiểu biết của người dân về chính sách DS-KHHGĐ 83

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý DS-KHHGĐ Việt Nam hiện nay 13

4.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức Dân số -KHHGĐ huyện Quế Võ 504.2 Trình độ chuyên môn được đào tạo theo các lĩnh vực 534.3 Đồ thị mức độ tiếp thu của người dân với các hình thức 614.4 Đánh giá về mức độ phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể trong

4.5 Đồ thị đánh giá về việc thúc đẩy dịch vụ KHHGĐ 704.6 Đánh giá mức hỗ trợ phụ cấp cho cán bộ làm công tác Dân số 804.7 Khó khăn trong công tác Dân số-KHHGĐ huyện Quế Võ(%) 84

Trang 11

Phần I

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Công tác Dân số - kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) luôn được xác định là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là yếu tố

cơ bản để phát huy nguồn lực con người, từng gia đình và của toàn xã hội Chương trình mục tiêu quốc gia về Dân số - kế hoạch hóa gia đình với mục tiêu “Nâng cao chất lượng dân số” và dự thảo chiến lược Dân số và sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2011-2020 đã được xây dựng Chương trình này bao gồm nâng cao chất lượng dân số; cải thiện sức khoẻ sinh sản; duy trì cơ cấu dân số; quy mô, mật độ dân số và mức sinh Một số thành tựu đạt được: dù đã đạt gần 89 triệu dân nhưng dân số nước

ta vẫn thấp hơn nhiều so với dự báo trước đây Số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ 6,3 con xuống 1,99 con Dân số Việt Nam bước vào thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”, tình trạng sức khỏe bà mẹ và trẻ em được cải thiện, tỷ

lệ tử vong trẻ em giảm (Tổng cục Dân số, 2011)

Tuy nhiên, công tác Dân số - KHHGĐ ở nước ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Quy mô dân số lớn (Việt Nam hiện là nước đứng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất thế giới); Tỷ lệ mất cân bằng giới tính của trẻ ở Việt Nam đang ở mức báo động (năm 2014 tỷ số giới tính khi sinh là 112,5 bé trai/100 bé gái, đây

là con số đáng lo ngại gây mất cân bằng giới tính trầm trọng); chất lượng dân số còn thấp; Tốc độ già hóa dân số nhanh, có cấu “dân số vàng” chưa được tận dụng có hiệu quả; Chất lượng dân số chậm được cải thiện, Việt nam nằm trong nhóm các nước có chỉ số phát triển con người ở mức trung bình Năm 2012, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt nam đạt 0,617 điểm, xếp thứ 127/186 quốc gia Tuy tuổi thọ trung bình cao (73 tuổi năm 2009) nhưng số năm trung bình sống chỉ đạt 66 tuổi và xếp thứ 116/182 nước trên thế giới; Nhiều vấn đề về KHHGĐ, chăm sóc SKSS chưa được giải quyết tốt như chăm sóc SKSS cho người chưa thành niên, thanh niên, cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc ít người Chất lượng dịch vụ KHHGĐ còn hạn

Trang 12

chế (Tổng cục Dân số, 2011,2012,2013,2014)

Bắc Ninh, cũng như một vài tỉnh thành khác trong cả nước, có kết quả giảm sinh chưa thực sự vững chắc; tỷ suất sinh thô và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cao, đặc biệt ở một số làng nghề truyền thống (thị xã Từ Sơn, huyện Gia Bình, Quế Võ…); tỷ số giới tính khi sinh tuy giảm trong 2 năm gần đây nhưng vẫn ở mức cao, tình trạng lựa chọn giới tính thai nhi có chiều hướng gia tăng; chất lượng dân số được cải thiện chưa đáng kể, nhận thức của người dân về chính sách Dân số - KHHGĐ, về luật bình đẳng

giới, về lợi ích của CSSKSS/DS - KHHGĐ còn hạn chế (Chi cục Dân số, 2013,2014)

Huyện Quế Võ là một huyện lớn của tỉnh Bắc Ninh, có 21 xã, thị trấn, 38.401 hộ gia đình và có dân số là 157.311 người Theo thống kê của Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện Quế Võ thì tỷ lệ sinh và sinh con thứ 3 hàng năm còn ở mức cao so với mặt bằng chung của tỉnh và cả nước Tỷ số giới tính khi sinh cao ở mức 124,7 bé trai/100 bé gái và ngoài ra Quế Võ lại có nguy cơ tăng dân số trở lại Chất lượng công tác dân số chưa được đảm bảo, cơ sở vật chất còn nghèo nàn lạc hậu, sự đầu tư kinh phí cho công tác Dân số - KHHGĐ còn hạn hẹp Vấn đề đặt ra với địa phương đặc biệt là công tác Dân số của Huyện Quế Võ là những tồn tại nào

có ảnh hưởng đến chất lượng dân số của huyện? và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dân số của huyện trong thời gian tới như thế nào?

Vì vậy thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ, hạn chế mức sinh, giảm áp lực gia tăng dân số, nâng cao chất lượng dịch vụ KHHGĐ tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao mức sống cho dân cư trong giai đoạn này đối với huyện là hết sức cần thiết Để góp phần vào sự thành công công tác Dân số -

KHHGĐ ở địa phương, Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao chất

lượng công tác Dân số - KHHGĐ tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh” nhằm sẽ

giúp chúng ta hiểu thêm về toàn cảnh bức tranh công tác Dân số - KHHGĐ của huyện Quế võ và có những biện pháp thiết thực nhất nhằm nâng cao chất lượng dân

số góp phần quan trọng trong việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

và phát triển về mọi mặt

Trang 13

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

1.3.1.1 Chủ thể nghiên cứu

Chất lượng công tác dân số và các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng công tác dân số

1.3.1.2 Khách thể nghiên cứu:

Người dân và cán bộ làm công tác Dân số - KHHGĐ của huyện Quế Võ, trong

đó tập trung nghiên cứu ở 4 xã: Châu Phong, Đức Long, Đại Xuân và Phù Lãng

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn huyện Quế Võ, điểm nghiên cứu lựa chọn tại 4 xã Đức Long, Châu Phong, Đại Xuân, Phù Lãng huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

- Phạm vi về thời gian: Đề tài được thực hiện từ 03/2014 đến 05/2015 Số liệu phân tích được thu thập trong 3 năm 2012-2014

- Phạm vi về nội dung: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu các nội dung sau:

Trang 14

Thứ nhất: Nghiên cứu cơ sở lý luận, tập trung chủ yếu vào quản lý công tác Dân số - KHHGĐ

Thứ hai: Nghiên cứu thực trạng chất lượng công tác Dân số - KHHGĐ tại địa bàn huyện Quế Võ năm 2012 – 2013 và các số liệu điều tra khảo sát về yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác Dân số - KHHGĐ trong năm 2014

Thứ ba: Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng Dân

số - KHHGĐ trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

Trang 15

- Dân số: là vấn đề gắn bó mật thiết với mọi mặt của đời sống kinh tế - xã

hội Nói đến dân số là nói đến mối quan hệ chặt chẽ giữa người với người hay mối quan hệ giữa các cộng đồng người ở cấp độ vĩ mô: vùng, miền, lãnh thổ, dân tộc Dân số của một quốc gia được xác định tại thời điểm tiến hành các cuộc tổng điều tra dân số Dân số toàn cầu được xác định dựa trên số liệu thống kê và báo cáo hàng năm của các quốc gia và các khu vực trên thế giới

Thuật ngữ và ý nghĩa của vấn đề dân số được đề cập từ rất sớm Theo cuốn

“Dân số, sức khỏe sinh sản và phát triển” thì “Dân số là thuật ngữ xuất hiện từ thời

cổ đại, dùng để chỉ số lượng người đang sinh sống trong một cộng đồng lãnh thổ,

chịu sự tác động của môi trường tự nhiên, xã hội và hoàn cảnh lịch sử cụ thể” (Tổng cục Dân số, 2013)

Pháp lệnh Dân số năm 2003: "Dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính

Dân số bao gồm 04 yếu tố cơ bản sau: Quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân

bố dân cư và chất lượng dân số

+ Quy mô dân số là số người sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế, hoặc đơn vị hành chính tại thời điểm nhất đinh

+ Cơ cấu Dân số là sự phân chia tổng số dân thành các bộ phận theo một số tiêu chí nhất định như: Giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, trình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác

+ Phân bố Dân cư là sự phân chia tổng hợp số dân theo khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc đơn vị hành chính

+ Chất lượng dân số: Là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số

- Kế hoạch: là điều đặt ra với các mục tiêu và cách thức thực hiện nhằm đạt được trong thời gian tới

Trang 16

- Như vậy kế hoạch hóa là làm cho việc thực hiện có kế hoạch trên diện rộng, quy mô lớn, ví dụ: kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân, kế hoạch hóa việc phát triển dân số

Như vậy, KHHGĐ có thể hiểu là việc chủ động quyết định số con của các

cặp vợ chồng và khoảng cách giữa các lần sinh thông qua việc áp dụng các biện

pháp tránh thai để có gia đình ít con, khỏe mạnh, giàu có, hạnh phúc

- Kế hoạch hóa gia đình: là nhằm đảm bảo cho việc nuôi dạy con cái tốt hơn và đảm bảo sức khỏe của người phụ nữ Nếu không thực hiện kế hoạch hóa gia đình thì mỗi năm mỗi người phụ nữ có chồng đều phải sinh con và sinh nhiều con thì sức khỏe của người phụ nữ sẽ bị ảnh hưởng, giảm sút, đồng thời trẻ em sẽ không được chăm sóc toàn

diện (Tổng cục Dân số, 2013)

Có nhiều biện pháp để thực hiện kế hoạch hóa gia đình như đặt vòng, uống thuốc tránh thai, thuốc tiêm tránh thai, thuốc cấy tránh thai, đình sản và sử dụng bao cao su Trong đó bao cao su được sử dụng như là một công cụ vừa để ngừa thai, vừa

để ngăn ngừa các bệnh lây qua đường tình dục nhất là HIV/AIDS, gồm có bao cao

su cho người nam và bao cao su cho người nữ

2.1.1.2 Chất lượng Dân số

- Chất lượng: Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam năm 1995, “Chất lượng” là phạm trù triết học biểu thị những bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của nó, phân biệt nó với các sự vật khác

- Chất lượng dân số: hàm chứa một hệ thống các đặc trưng của dân số: Trình độ

học vấn, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu xã hội, tính năng động, tình trạng sức khoẻ và các đặc trưng khác của dân số Mỗi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất sẽ tương ứng với một mức độ chất lượng dân số nhất định Như vậy, nó được phản ánh thông qua các tiêu chí cụ thể liên quan đến tình trạng tầm vóc, thể lực, sức khoẻ sinh sản, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật, cơ cấu và kỹ năng nghề nghiệp, đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản, đời sống tinh thần và các vấn đề văn hoá thông tin, gắn kết cộng đồng và an

ninh xã hội (Tổng cục Dân số, bộ tiêu chí đánh giá)

Trang 17

2.1.1.3 Chất lượng Công tác Dân số - KHHGĐ

- Chất lượng công tác dân số là việc quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động tác động đến quy mô dân số cơ cấu dân số, phân bố dân cư và nâng cao chất lượng dân số

- Công tác kế hoạch hóa gia đình là nỗ lực của Nhà nước, xã hội để mỗi cá

nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình

- Công tác Dân số - KHHGĐ: không phải là công tác nghiệp vụ kỹ thuật đơn thuần, mà là công tác mang tính xã hội cao Nhiệm vụ cơ bản của công tác này là cung cấp thông tin, kiến thức cho người dân, làm chuyển biến thái độ từ tiêu cực đến tích cực và cuối cùng là họ thực hiện KHHGĐ Đây là một quá trình phức tạp, lâu dài bởi vì quá trình này diễn ra ở từng gia đình, từng người sống trong cộng đồng làng xã và chịu ảnh hưởng trực tiếp của cộng đồng ấy về mọi mặt kinh tế, văn hoá, tâm lý truyền thống Mặt khác, thực hiện KHHGĐ là sự tự nguyện của mỗi người dân và do đó phải tiến hành đồng bộ các hoạt động tuyên truyền ở mọi thời gian, mọi địa điểm và trong mọi hoạt động thích hợp một cách liên tục, thường

xuyên (Tổng cục Dân số, 2013,2014)

- Quản lý công tác Dân số - KHHGĐ: là Nhà nước thông qua hệ thống chính sách, luật pháp và cơ chế tổ chức các cơ quan quản lý để điều khiển và tác động vào các đối tượng của quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu về quy mô, cơ cấu, phân bố

và chất lượng dân số nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước

Chủ thể quản lý của Nhà nước về Dân số - KHHGĐ là nhà nước với hệ thống các cơ quan của nhà nước được phân chia thành các cấp và bao gồm cả 3 khu vực là lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong đó, quản lý hành chính (hành pháp) về Dân số - KHHGĐ là cực kỳ quan trọng Trong lĩnh vực Dân số - KHHGĐ Nhà

nước chỉ tác động vào nhận thức và hành vi về Dân số - KHHGĐ (Tổng cục Dân số, 2013,2014).

Trang 18

2.1.2 Nội dung công tác Dân số - KHHGĐ

Pháp lệnh số 03/2003/PL-UBTVQH11 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 9/1/2003 về dân số quy định nội dung quản lý nhà nước về dân số bao gồm các nội dung trọng tâm sau đây (theo Điều 33 của pháp lệnh):

- Xây dựng các chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch và các biện pháp thực hiện công tác dân số Phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng các văn bản, quy định về Dân số-KHHGĐ để ban hành theo thẩm quyền qui định, Thông tư, để hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện các quyết định của Nhà nước, qui chế quản lý của các chương trình dự án Dân số KHHGĐ Tham gia xây dựng các công tác có liên quan đến Dân số -KHHGĐ

- Triển khai thực hiện các nội dung, cung cấp thông tin và dịch vụ KHHGĐ đến tận người dân xây dựng các qui chế thực hiện chính sách Dân số-KHHGĐ của Nhà nước đối với các cơ quan, đơn vị, cá nhân thuộc các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, đoàn thề, nhân dân và tổ chức xã hội Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân thực hiện pháp luật về dân số

- Kiểm tra, giám sát, đôn đốc, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về dân số Quản lý công tác thu thập, xử lý khai thác, lưu trữ thông tin, số liệu về dân số công tác đăng ký dân số và hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; tổng điều tra dân số định kỳ

- Đánh giá tổng kết, rút kinh nghiệm hàng năm, khen thưởng kỷ luật nghỉ hưu và thực hiện các chế độ khác của Nhà nước đối với viên chức do Uỷ ban trực tiếp quản lý

Với giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi lựa chọn những nội dung cụ thể sau:

(1) Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, kỹ thuật và truyền thông giáo dục về dân số kế hoạch hóa gia đình

(2) Triển khai, phối hợp thực hiện các hoạt động truyền thông, giáo dục, vận động, phổ biến các sản phẩm truyền thông về Dân số - KHHGĐ

(3) Triển khai các hoạt động chuyên môn, kỹ thuật, cung cấp dịch vụ KHHGĐ Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các hoạt động chuyên môn

Trang 19

nghiệp vụ của Ban Dân số-KHHGĐ cơ sở:

a - Quản lý và triển khai thực hiện các dự án thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia về Dân số-KHHGĐ

b - Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác Dân số-KHHGĐ

c - Quản lý cán bộ, viên chức, cộng tác viên Dân số-KHHGĐ; quản lý về chế

độ chính sách, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, viên chức và quản lý tài chính, tài sản của Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện

(4) Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện hàng năm

theo quy định hiện hành (Bộ Y tế,2008)

2.1.3 Chất lượng công tác Dân số - KHHGĐ

- Chất lượng công tác tham mưu chỉ đạo: hàng năm đơn vị thường chủ động tham mưu với cấp Ủy đảng, chính quyền về lĩnh vực công tác Dân số - KHHGĐ như các chỉ thị, nghị quyết về tiếp tục đẩy mạnh công tác Dân số Xây dựng các chương trình, đề án dự án, mô hình về chăm sóc SKSS- KHHGĐ, cung cấp dịch vụ, truyền thông giáo dục…

- Chất lượng tổ chức thực hiện: hiện nay đơn vị thực hiện quản lý, điều hành công tác Dân số - KHHGĐ theo chương trình mục tiêu quốc gia, tiếp tục áp dụng cơ chế phân cấp và phối hợp liên ngành đã khẳng định được hiệu quả cao trong thời gian qua, đồng thời nghiên cứu và áp dụng các cơ chế mới phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội, tăng cường kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện

Thông tư 05 hướng dẫn về mô hình tổ chức làm công tác Dân số -KHHGĐ ở địa phương đã được xây dựng theo tinh thần cải cách hành chính và những văn bản quy phạm pháp luật Tổ chức bộ máy làm công tác Dân số -KHHGĐ đã từng bước được hình thành và củng cố để triển khai công việc một cách hiệu quả Tuy nhiên,

mô hình tổ chức bộ máy làm công tác Dân số - KHHGĐ theo hướng dẫn của Thông

tư 05 là Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện trực thuộc Chi cục Dân số - KHHGĐ

và cán bộ Dân số - KHHGĐ là cán bộ của Trạm Y tế xã đã bộc lộ nhiều bất cập, khó khăn Không những thay đổi về tổ chức bộ máy, cán bộ ở cơ sở cũng có sự biến động Cán bộ Dân số - KHHGĐ ở tuyến huyện phải tuyển mới đến 45% và ở tuyến

Trang 20

xã là 80% Nhưng việc thay đổi chưa phải đã kết thúc, để thực hiện chủ trương đưa cán bộ Dân số - KHHGĐ thành viên chức ở xã còn phải tuyển mới 100%

Mô hình tổ chức bộ máy làm công tác Dân số - KHHGĐ ở thời kỳ nào cũng

là một yếu tố quan trọng góp phần làm nên thành công của công tác dân số Việc tìm ra mô hình tổ chức bộ máy phù hợp, tập trung được sức mạnh của cả cộng đồng

có ý nghĩa quan trọng đối với kết quả của công tác Dân số - KHHGĐ

- Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát: Công tác kiểm tra giám sát là yếu

tố quyết định chất lượng hiệu quả của công việc, tuy nhiên công tác này chưa được quan tâm chú trọng Cần tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo về công tác kiểm tra giám sát, nắm bắt những vùng trọng tâm, trọng điểm để hỗ trợ địa phương khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong công tác Dân số - KHHGĐ

- Chất lượng quản lý nguồn nhân lưc: Đáp ứng và huy động nguồn nhân lực theo đúng nghị quyết và chương trình mục tiêu giai đoạn 2011 – 2020 đảm bảo các đơn vị thực hiên có hiệu quả không lãng phí

- Chất lượng phối hợp với các ban ngành; Huy động sự tham, đồng thuận của các ban ngành đoàn thể nhằm nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư Ban chỉ đạo công

tác Dân số được thành lập với sự tham gia của 11 ban ngành đoàn thể (Bộ Y tế, 2008)

* Một số tiêu thức đánh giá chất lượng công tác Dân số - KHHGĐ

- Tiêu thức: Công tác Dân số - KHHGĐ là lĩnh vực hết sức rộng lớn, các tiêu thức đánh giá thường là tiêu thức mang tính tổng hợp, do vậy việc thu thập thông tin, dữ liệu tính toán gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là với tuyến huyện Để có căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hàng năm, Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh giao bốn chỉ tiêu cơ bản sau:

+ Giảm tỷ suất sinh thô;

+ Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên;

+ Giảm tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên;

+ Chỉ tiêu về số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các biện pháp

tránh thai (Tổng cục Dân số, 2013)

Ngoài ra đánh giá chất lượng công tác Dân số còn được thể hiện qua công tác tuyên truyền, vận động và sự phối kết hợp của các ban ngành đoàn thể trong tổ chức triển khai công tác Dân số - KHHGĐ

Trang 21

2.1.4 Vai trò của công tác Dân số - KHHGĐ

Vai trò chủ yếu và quan trọng của công tác Dân số - KHHGĐ là thực hiện công tác quản lý dân số và thực chất là điều tiết mức sinh thông qua các hoạt động chương trình KHHGĐ để tạo ra quy mô, cơ cấu dân số ổn định phù hợp với điều kiện điạ lý, kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ; Là cở sở quan trọng nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ nhu cầu phát triển của đất nước Đồng thời thực hiện tốt công tác Dân số - KHHGĐ còn là cơ sở thực hiện các chính sách xã hội như thực hiện công bằng xã hội, giải quyết các tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, giảm được chi phí do hạn chế được mức sinh, tăng tích lũy cho xã hội, là nguồn lực đáng kể để đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế, tăng

thu nhập cho dân cư

Dân số vừa là lực lượng sản xuất, chủ thể của xã hội vừa là lực lượng tiêu thụ các sản phẩm dịch vụ xã hội Dân số có quan hệ chặt chẽ cùng với sự phát triển

và tương tác qua lại với kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng Do vậy ngày càng đặt ra cho Nhà nước nhiều vấn đề trong lĩnh vực dân số, nội dung quản lý

về công tác Dân số - KHHGĐ ngày càng mở rộng

Những giai đoạn trước đây chỉ chú trọng nhiều đến lĩnh vực quy mô dân số

do sự bùng nổ dân số tạo ra áp lực mạnh mẽ đối với sự phát triển KT-XH và môi trường thì hiện nay các lĩnh vực toàn diện của dân số được chú trọng đặc biệt là chất lượng dân số Các vấn đề của dân số như: mất cân bằng giới tính khi sinh, già hóa dân số, cơ cấu dân số vàng, di cư và đô thị hóa, chất lượng dân số về trí tuệ và tinh thần… Do vậy, quản lý công tác Dân số-KHHGĐ là một nội dung tất yếu của QLNN

và có vai trò hết sức quan trọng

Vấn đề có tính then chốt trong quản lý công tác Dân số-KHHGĐ là xây dựng được cơ chế quản lý để thực hiện có hiệu quả Trong điều kiện đổi mới để tăng cường hiệu lực quản lý công tác Dân số-KHHGĐ cần xác định rõ vai trò QLNN, muốn vậy phải xây dựng và đưa được hệ thống chính sách pháp luật về Dân số-

KHHGĐ vào cuộc sống (Nguyễn Quốc Anh, 2007)

Chính phủ luôn quán triệt quan điểm của Đảng “Công tác dân số là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển của đất nước, là một trong những vấn

Trang 22

đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta” Vì vậy, Nghị quyết số 31/NQ-CP ngày 18/8/2010 của Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Kết luận

số 44-KL/TƯ ngày 01/4/2009 của Bộ Chính trị trong đó đã xác định cần phải xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) Dân số - KHHGĐ giai đoạn 2011-2015 Theo nhận định của các chuyên gia trong lĩnh vực dân số, nếu không có những chính sách Dân số - KHHGĐ đúng đắn, kịp thời và quyết liệt thì tại thời điểm hiện nay, dân số của Việt Nam sẽ có hơn 100 triệu dân, chứ không phải là gần

90 triệu như hiện tại

Công tác Dân số-KHHGĐ hoàn toàn không chỉ là vấn đề y tế đơn thuần Kinh nghiệm này đã được đúc kết qua mấy chục năm làm công tác Dân số-KHHGĐ

và đây cũng là bài học xương máu của nước ta Trong suốt 30 năm, từ đầu những năm 1960 đến đầu những năm 1990, các chỉ tiêu về công tác Dân số-KHHGĐ được Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng đề ra đều không đạt Một trong những nguyên nhân, đó là do khi đó chúng ta mới chỉ hiểu công tác Dân số-KHHGĐ là những biện pháp đặt vòng, tránh thai…giao cho ngành y tế thực hiện cải cách hành chính, các

Bộ quản lý đa ngành đa lĩnh vực, đưa dân số về nằm trong Bộ Y tế nhưng không có nghĩa coi công tác dân số chỉ là vấn đề kỹ thuật đơn thuần Nếu như Dân số-KHHGĐ không còn là chương trình mục tiêu quốc gia mà chỉ còn là một dự án nằm trong chương trình mục tiêu quốc gia thuộc ngành y tế thì chúng ta rất dễ mắc phải những sai lầm trong quá khứ và những thành quả phấn đấu trong suốt những năm qua sẽ bị đổ vỡ

2.1.5 Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý công tác Dân số-KHHGĐ

Ngày 12/03/2013 Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định 17/2013/QĐ-TTg quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dân số-KHHGĐ thuộc Bộ Y tế Theo đó, Tổng cục Dân số-KHHGĐ có vai trò to lớn đảm nhiệm các nhiệm vụ quan trọng với trách nhiệm ngày càng cao, góp phần vào sự phát triển kinh tế-xã hội bền vững của đất nước

Trang 23

(Nguồn: Tổng cục Dân số, 2014)

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý DS-KHHGĐ Việt Nam hiện nay

2.1.5.1 Tổng cục Dân số - KHHGĐ

Về cơ cấu tổ chức: Tổng cục Dân số-KHHGĐ được kiện toàn với 11 đơn vị

trực thuộc gồm: Vụ Quy mô dân số và Kế hoạch hóa gia đình; Vụ Cơ cấu và Chất lượng dân số; Vụ Truyền thông – Giáo dục; Vụ Kế hoạch – Tài chính; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Pháp chế - Thanh tra; Văn phòng; Trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng; Trung tâm Tư vấn và Cung ứng dịch vụ; Trung tâm Nghiên cứu, Thông tin và Dữ liệu; Báo Gia đình & Xã hội

Vị trí, chức năng: Tổng cục Dân số - KHHGĐ là tổ chức thuộc Bộ Y tế thực

hiện chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Y tế quản lý nhà nước và thực thi pháp luật về Dân số - KHHGĐ trong phạm vi cả nước, bao gồm các lĩnh vực: Quy

mô dân số, cơ cấu dân số và chất lượng dân số; tổ chức thực hiện các dịch vụ công

về Dân số-KHHGĐ theo quy định của pháp luật

Trang 24

Nhiệm vụ và quyền hạn: Tổng cục Dân số - KHHGĐ thực hiện các nhiệm vụ

và quyền hạn gồm 19 nội dung Xây dựng trình Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành theo thẩm quyền hoặc để Bộ trưởng Bộ Y tế trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội; dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định, nghị quyết của Chính phủ; dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; dự thảo thông tư, quyết định, chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Y tế và các văn bản khác về Dân số-KHHGĐ Xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển dài hạn, 5 năm, hàng năm, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hành động, dự án, đề án và công trình quan trọng quốc gia về Dân số-KHHGĐ Ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp

vụ về Dân số-KHHGĐ Giúp Bộ trưởng Bộ Y tế chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia, đề án, dự án về lĩnh vực Dân số-KHHGĐ Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về Dân số-KHHGĐ; hướng dẫn, tổ chức, kiểm tra các hoạt động truyền thông, vận động, giáo dục và tư vấn về các lĩnh vực Dân số-

KHHGĐ (Bộ Y tế, 2008;Tổng cục Dân số, 2014)

2.1.5.2 Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh

Thực hiện Nghị định số 13/2008/NĐ-CP của Chính phủ về quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh/TP và Thông tư số 03/2008/TTLN-BYT-BNV ngày 25/4/2008 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế, Phòng Y tế thuộc UBND cấp tỉnh, huyện Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh là tổ chức thuộc Sở Y tế thực hiện chức năng tham mưu giúp Giám đốc Sở Y tế QLNN về Dân số-KHHGĐ, bao gồm các lĩnh vực: quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng dân số; chỉ đạo và tổ chức thực hiện

các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ về Dân số - KHHGĐ trên địa bàn tỉnh.(Bộ Y

tế, 2008)

2.1.5.3 Trung tâm dân số - KHHGĐ huyện

Thông tư số 05/2008/TT-BYT hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu tổ chức bộ máy làm công tác Dân số-KHHGĐ ở địa phương Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện là đơn vị sự nghiệp thuộc chi cục Dân số-KHHGĐ đặt tại huyện,

Trang 25

cán bộ Dân KHHGĐ xã là viên chức của trạm Y tế xã và cộng tác viên Dân KHHGĐ thôn bản Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện chịu sự quản lý toàn diện của Chi cục Dân số-KHHGĐ, đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, kỹ thuật về dịch

số-vụ KHHGĐ, truyền thông giáo dục của các Trung tâm liên quan ở cấp tỉnh và chịu sự

quản lý nhà nước theo địa bàn của Uỷ ban nhân dân huyện (Bộ Y tế, 2008)

2.1.5.4 Đội ngũ cán bộ làm công tác Dân số-KHHGĐ ở cấp xã

Cán bộ chuyên trách Dân số - KHHGĐ cấp xã: Là viên chức của Trạm y tế xã,

có trách nhiệm giúp việc cho trưởng trạm y tế xã xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện CTMT Quốc gia Dân số - KHHGĐ trên địa bàn xã Cán bộ chuyên trách Dân số - KHHGĐ xã chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Trạm trưởng trạm y tế xã và chịu sự quản

lý, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện (Bộ Y

tế, 2008)

2.1.5.5 Cộng tác viên (CTV) dân số

CTV Dân số - KHHGĐ thôn bản hoạt động theo chế độ tự nguyện có thù lao hàng tháng có trách nhiêm cũng cán bộ y tế thôn tuyên truyền vận động về Dân số-KHHGĐ, vệ sinh phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu; chịu sự hướng dẫn chuyên

môn nghiệp vụ của trạm y tế xã (Bộ Y tế, 2008)

- Thực hiện chế độ ghi chép ban đầu, thu thập số liệu, lập bảng báo cáo tháng

về Dân số-KHHGĐ theo quy định hiện hành, lập các hồ sơ và biểu đồ, quản lý số

hộ gia đình về Dân số-KHHGĐ tại địa bàn quản lý

- Bảo quản và sử dụng các tài liệu (sổ sách, mẫu báo cáo…) liên quan đến nhiệm vụ được giao

Trang 26

- Dự giao ban cộng tác viên Dân số-KHHGĐ hàng tháng để phản ánh tình hình và báo cáo kết quả thực hiện hoạt động Dân số-KHHGĐ trên địa bàn được giao Phát hiện và đề xuất với cán bộ chuyên trách các vấn đề phát sinh

- Tham gia đầy đủ các khóa tập huấn do cơ quan cấp trên tổ chức (Bộ Y tế, 2008)

2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác Dân số - KHHGĐ

Công tác Dân số-KHHGĐ thực chất là quản lý các quá trình dân số, như sinh, chết, di cư, do vậy các nhân tố tác động tới mức sinh, chết, di cư đều ảnh hưởng sâu sắc tới công tác Dân số-KHHGĐ Để công tác Dân số-KHHGĐ đạt hiệu qủa mong muốn, ta cần hiểu đúng và đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng để có biện pháp tác động phù hợp

2.1.6.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về Dân KHHGĐ

số-Xác định công tác Dân số - KHHGĐ là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi con người, của từng gia đình và toàn xã hội Ngay từ những ngày đầu đất nước mới giành độc lập Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản Luật, Nghị quyết quan trọng về công tác Dân số - KHHGĐ

Chính phủ đã luôn quán triệt quan điểm của Đảng “công tác dân số là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển của đất nước, là một trong những vấn

đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta” Vì vậy, Nghị quyết số 31/NQ-CP ngày 18/8/2010 của Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Kết luận

số 44 - KL/TƯ ngày 01/4/2009 của Bộ Chính trị trong đó đã xác định cần phải xây dựng Chương trình MTQG về Dân số-KHHGĐ giai đoạn 2011-2015

2.1.6.2 Công tác lãnh chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền

Sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng chính quyền địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công tác Dân số - KHHGĐ Qua thực tế cho thấy địa phương nào có được sự quân của cấp ủy đảng, chính quyền thì địa phương đó có được kết quả công tác Dân số tốt và ngược lại

2.1.6.3 Tổ chức bộ máy quản lý và đội ngũ cán bộ làm công tác Dân số-KHHGĐ

Bộ máy cán bộ làm công tác dân số là nguồn lực đặc biệt quan trọng góp phần không nhỏ vào thành công của công tác Dân số - KHHGĐ Đây là lực lượng

Trang 27

trực tiếp tuyên truyền, truyền thông, phổ biến và hướng dẫn người dân thực hiện, chấp hành chính sách Dân số - KHHGĐ Do tính đặc thù của ngành nên những cán

bộ làm công tác Dân số phải là năng động, nhiệt tình, yêu nghề không ngại khó, thường xuyên quan tâm, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của nhân dân để có những giải pháp, tư vấn kịp thời Có như vậy, các nội dung của chính sách Dân số - KHHGĐ mới thực sự đạt hiệu quả

2.1.6.4 Trình độ, nhận thức và ý thức của người dân trong việc thực hiện công tác Dân số-KHHGĐ

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội của đất nước trình độ văn hóa, nhận thức của người dân cũng ngày càng được nâng cao Đặc biệt, nhận thức của toàn xã hội về vai trò, vị trí của công tác Dân số - KHHGĐ cũng được nâng lên

Ở những khu vực điều kiện kinh tế còn khó khăn, nhận thức của người dân còn lạc hậu như vùng núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số thì tỷ lệ sinh còn cao, số con trong gia đình nhiều, trẻ em và phụ nữ ít được tiếp cận với các dịch vụ Dân số - KHHGĐ Chính những phong tục tập quán ở một số địa phương, quan niệm “trọng nam khinh nữ” còn tồn tại nhiều trong một bộ phận không nhỏ nhân dân là những nguyên nhân làm tăng dân số Như vậy, nhận thức của người dân

là một trong những nguyên nhân cơ bản cản trở trực tiếp sự tiến bộ của công tác Dân số - KHHGĐ

2.1.6.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác Dân số-KHHGĐ

Đầu tư cho công tác dân số nhằm duy trì vững chắc mức sinh thay thế, từng bước nâng cao chất lượng dân số, kiểm soát tốt các biến động dân số và cơ cấu dân

số là yêu cầu bức thiết, nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Với sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước với công tác Dân số - KHHGĐ những năm qua nguồn ngân sách đầu tư cho công tác này ngày càng tăng Hệ thống

cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ y tế phục vụ cho công tác Chăm sóc sức khoẻ sinh sản và KHHGĐ đã được cải thiện đáng kể cơ bản đáp ứng nhu cầu của nhân dân Các dịch vụ Dân số - KHHGĐ hầu hết được cung cấp miễn phí hoặc hỗ trợ giá Điều này, góp phần đáng kể vào sự thành công của công tác Dân số - KHHGĐ

Trang 28

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Tổng quan công tác Dân số- KHHGĐ một số nước trên Thế giới

Thế kỷ XX được gọi là thế kỷ của "Bùng nổ dân số" Dân số thế giới tăng trưởng ngày một nhanh, nhân loại đã chứng kiến dân số tăng phi mã từ 1,65 tỷ người vào đầu thế kỷ lên 6,06 tỷ người vào năm 2000, tăng 3,7 lần trong vòng 100 năm Trong khi đó, vào thế kỷ XIX, dân số thế giới chỉ tăng 1,7 lần, từ gần 1 tỷ người lên 1,65 tỷ người cũng trong cùng khoảng thời gian 100 năm Tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm ngày một tăng lên: khoảng 1,78% vào giai đoạn 1950-1955, khoảng 2,04% vào giai đoạn từ 1965 - 1970, khoảng 1,57% vào giai đoạn 1990 -

1995 và hiện nay là 1,3% (Nguyễn Đình Cử,2011)

Thực tế, trên thế giới đã có sự bùng nổ dân số Năm 1950 đã lên tới 3 tỷ người

và vào ngày 11/7/1987, em bé người Nam Tư là công dân thứ 5 tỷ của Trái đất Liên hợp quốc cũng như các quốc gia khác trên thế giới đã tiến hành các cuộc vận động TTGD để hạn chế sinh đẻ, bởi vì cần phải xuất phát từ chính sách dân số thì cuộc vận động KHHGĐ mới hiệu quả Năm 2000, dân số thế giới là 6 tỷ người Năm 2011, dân số thế giới đã là 7 tỷ người và dự kiến năm 2050 dân số sẽ là 9 tỷ

300 triệu người (Nguyễn Đình Cử,2011)

Cho đến nay thế giới đã trải qua 5 kỳ Hội nghị quốc tế về vấn đề dân số, trong đó có hai kỳ họp vào năm 1954 tại Roma (Italia) và năm 1965 tại Bêôgrát (Nam tư cũ), mang tính chất trao đổi khoa học chuyên ngành Ba kỳ họp tiếp theo được Liên hợp quốc tổ chức vào các năm 1974 tại Bucarét (Rumani), 1984 tại Mêhicô City (Mêhicô) và năm 1994 tại Cairô (Ai cập) Các hội nghị này đã chuyển hướng từ việc trao đổi thông tin khoa học sang thiết lập các chính sách và chương

trình đáp ứng với sự gia tăng dân số như một hiện tượng toàn cầu (Nguyễn Đình Cử,2011; Bộ Y tế, 2011)

Các nguyên tắc của chương trình khẳng định: Con người là trung tâm của những mối quan tâm đối với phát triển bền vững, vì con người là nguồn lực quan trọng nhất, có giá trị nhất của mọi dân tộc Quyền phát triển phải được thực hiện để đáp ứng nhu cầu về môi trường và phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai Để đạt được phát triển bền vững loại trừ những hình mẫu sản xuất, tiêu dùng thiếu bền

Trang 29

vững, đồng thời tăng cường các chính sách thích hợp, kể cả các chính sách liên quan đến dân số

* Hàn Quốc: Từ những năm đầu của thập niên 60, Hàn Quốc đã thực hiện

chương trình KHHGĐ và được đánh giá là một trong những chương trình mạnh nhất thế giới, chỉ sau 25 năm đã đạt mức sinh thay thế Bất chấp cố gắng của Chính phủ chuyển từ kiểm soát dân số sang nâng cao chất lượng và phúc lợi dân số, mức sinh vẫn tiếp tục giảm nhanh, ngoài những biện pháp hiện có Chính phủ chưa có một chính sách can thiệp trực tiếp nào được ban hành, song có thể nói rằng, một số chính sách gián tiếp đã được thực hiện nhằm ngăn cản xu hướng giảm nhanh mức sinh, chủ yếu bằng những hỗ trợ phù hợp cho phụ nữ giữa nuôi con và công việc Những chương trình này bao gồm mở rộng đối tượng nuôi con cho những người đang làm việc, bao gồm kéo dài thời gian nghỉ phép nuôi con cho mẹ, quy định chế độ nghỉ phép cho người bố làm việc trong cơ quan nhà nước để chăm con, ban hành chế độ trợ cấp cho gia đình Mục tiêu của các chương trình là khuyến khích phụ nữ kết hôn

và được sinh số con theo mong muốn

Luật nhập cư hiện hành của Hàn Quốc cũng quy định không cho phép những công nhân không có tay nghề nhập cư và bất kỳ một chính sách nào được ban hành đều phải xem xét để cản trở dòng di dân tràn (hầu hết là bất hợp pháp từ những năm đầu thập kỷ 90) vào nhằm bù đắp sự thiếu hụt dân số trong độ tuổi lao động đã được

dự báo trước Hiện nay, Chính phủ đã ban hành Điều luật cho phép một số lượng nhất định lao động nước ngoài nhập cư vào làm việc dưới 3 năm nhằm ngăn cản số lao động nhập cư bất hợp pháp vào Hàn Quốc Theo Luật định nhập cư hợp pháp bao gồm: chuyển giao công nghệ, kinh doanh, vào đầu tư vốn, giáo dục và nghiên cứu, dịch vụ giải trí hay những công việc theo đề nghị của các Bộ trưởng Công nhân không tay nghề không được phép nhưng thực tập sinh thì được nhập cư

Sự tăng nhanh dân số cao tuổi dẫn đến tăng nhanh nhu cầu phúc lợi của người cao tuổi Trong bối cảnh đó, Hàn Quốc từng bước đề ra chính sách pháp luật ứng phó với xã hội đang già hóa Chính phủ đã đề ra nhiều giải pháp với hy vọng giữ gìn người cao tuổi khỏe mạnh và hoạt động tích cực khi về già Một số giải pháp quan trọng là: các chương trình duy trì thu nhập, bảo trì sức khỏe và các chương

Trang 30

trình nhà ở Các chương trình hưu trí công cộng, trợ cấp công dựa trên Luật bảo vệ việc làm và không phải đóng góp đối với người người hưu trí cao tuổi là 3 thành tố quan trọng của chính sách công nhằm nâng cao sự an toàn về kinh tế đối với người cao tuổi Những biện pháp chính sách an toàn thu nhập cho người cao tuổi: tăng cường lương hưu khu vực công, loại trừ những kẽ hở trong hệ thống bảo vệ thu nhập của người cao tuổi, cải thiện an toàn thu nhập khu vực tư nhân Chính sách và các biện pháp cho cuộc sống an toàn và khỏe mạnh lúc tuổi cao: nhà ở an toàn, cơ sở hạ tầng giao thông thân thiện với người cao tuổi, môi trường đối với sự tham gia các hoạt động xã hội của người cao tuổi, phát huy tiềm năng của người cao tuổi Chính sách và các biện pháp chăm sóc sức khỏe, quản lý sức khỏe người cao tuổi Luật khuyến khích việc làm cho người cao tuổi Hàn Quốc được sửa đổi năm 2007 và thực hiện năm 2008, khuyến khích các ngành sản xuất hàng hóa thân thiện với người cao tuổi, xây dựng cộng đồng thân thiện với người cao tuổi

Hàn Quốc đã áp dụng các biện pháp chế tài nghiêm khắc để ngăn chặn tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh: Luật y tế năm 1992 đã nghiêm cấm các hình thức chẩn đoán giới tính thai nhi, đến năm 1994 còn quy định cụ thể: phạt tiền đến mức 10.000 USD và tù giam tới 3 năm đối với những cán bộ y tế cung cấp thông tin

về chẩn đoán giới tính thai nhi (Nguyễn Đình Cử,2011)

*Singapore: Trước năm 1965, Singapore chưa có chính sách về KHHGĐ hay chính sách kiểm soát sinh, công tác KHHGĐ do Hội KHHGĐ cung cấp các dịch vụ KHHGĐ với thời gian đầu chỉ có 3 phòng khám, do thầy thuốc là hội viên của Hội đảm nhiệm và được Nhà nước thừa nhận từ 1966 với sự ra đời của Ủy ban Dân số - KHHGĐ Tháng 1/1966 thành lập Ủy ban Dân số - KHHGĐ thuộc Bộ Y tế, đề ra chính sách về giảm sinh qua 3 kế hoạch 5 năm (1966-1970; 1971-1975; 1976-1980) Đến năm 1970 mới cho phép nạo thai (vì lý do sức khỏe) năm 1975 mới thực hiện đình sản rộng rãi đối với những cặp vợ chồng đã có 2 con Từ khi phát hiện quan trọng qua tổng điều tra dân số năm 1980 ở Singapore là những phụ nữ có học vấn cao không đẻ đủ số con gái thay thế mình và thường sống độc thân, trong khi phụ nữ có học vấn thấp hơn lại sinh nhiều, đẻ ra nhiều con gái thay thế Thủ tướng Lý Quang Diệu lúc đó lo lắng cho chất lượng dân số, đã khởi xướng chính sách khuyến khích

Trang 31

những phụ nữ có học vấn cao kết hôn và sinh ít nhất 3 con

Một trong những đặc trưng trong chương trình của Singapore là gói các chính sách pháp luật xã hội toàn diện, hay gọi là gói khuyến khích và không khuyến khích nhằm tăng cường sự chấp nhận biện pháp triệt sản và chấp nhận gia đình quy mô nhỏ Mục đích cơ bản của chính sách pháp luật xã hội là: những ai sử dụng các dịch

vụ từ nguồn thuế cần phải chấp nhận với trách nhiệm cao hơn đối với hành vi sinh sản của mình

Từ năm 1987, Nhà nước bắt đầu có chính sách dân số mới tập trung khuyến khích sinh (thay thế giảm sinh trước đây) và chú trọng đến chất lượng dân số Thành lập thêm Ủy ban Dân số Quốc gia và Ban Thứ ký Dân số trực thuộc Thủ tướng Chính sách hai con có hiệu lực từ năm 1972 sẽ thay thế bằng chính sách mới

cổ vũ người dân thực hiện quy mô gia đình lớn hay sinh nhiều con, đẩy mạnh kết hôn với thông điệp “3 hoặc nhiều hơn nếu anh/chị có đủ điều kiện” kèm theo là gói chính sách kích thích sinh

Trái ngược với chính sách giảm sinh quyết liệt trước đây, Chính phủ hoạch định chính sách dân số mới hiện tại hợp lý và cấp thiết đối với sự phát triển lâu dài của đất nước Ngay từ khi xây dựng chính sách pháp luật dân số, những quan tâm của Chính phủ Singapore không chỉ là quy mô dân số hay tỷ suất tăng dân số mà còn quan tâm đến chất lượng dân số Cả hai chính sách sinh và di dân đều là những nội dung quan trọng của chiến lược phát triển Hiện nay, Chính phủ đang thực hiện Chiến lược 3 mũi nhọn: khuyến khích kết hôn và sinh đẻ; tăng nhập cư và thu hút

người Singapore gốc Do Thái(Nguyễn Đình Cử,2011)

* Thái Lan: là nước nhận thức được và bắt đầu chương trình công tác Dân số- KHHGĐ của Chính phủ vào năm 1970, chậm hơn nước ta khoảng 10 năm Vào năm 1960, dân số Thái Lan là 26 triệu người ít hơn nước ta 4 tiệu người Vậy mà chỉ sau 20 năm triển khai chương trình Dân số - KHHGĐ, đến năm 1990 số con trung bình của một phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ của Thái Lan đã giảm xuống còn 2,2 con và hiện nay là dưới 2 con Nhờ vậy, dân số Thái Lan hiện nay mới chỉ có gần

khoảng 70 triệu người ít hợn Việt Nam 20 triệu người (Bộ Y tế, 2011)

Trang 32

Chính sách giảm sinh: Mục tiêu chính sách dân số trong kế hoạch 5 năm

+ Phải làm cho các dịch vụ KHHGĐ luôn có sẵn trong cả nước;

+ Phối hợp các hoạt động KHHGĐ với dịch vụ y tế về chăm sóc sức khỏe bà

mẹ, trẻ em

- Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ 4 (1977-1981), trong kế hoạch 5 năm lần thứ 4, Chính phủ Thái Lan chủ trương mở rộng chính sách dân số bao gồm những cải cách có tính pháp lý như khuyến khích kết hôn muộn, tăng cường giáo dục dân số cho phụ nữ Mục tiêu đề ra trong kế hoạch 5 năm lần thứ 4 là giảm tỷ lệ phát triển dân số từ 2,5 xuống 2,1% vào cuối kỳ kế hoạch

Để tăng cường và thúc đẩy các hoạt động KHHGĐ, các biện pháp đề ra chủ yếu là tăng cường sự hỗ trợ về nhân lực, tài chính và phúc lợi như: giảm trợ cấp cho trẻ em của các viên chức nhà nước có 4 con, hủy bỏ chế độ trợ cấp và nghỉ đẻ của người sinh con thứ 5 Nhà nước bắt đầu huy động các tổ chức công và tư nhân tham gia vào các họat động của chương trình KHHGĐ

- Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ 5 (1982-1986): Mục tiêu chính sách dân số trong kế hoạch 5 năm lần thứ 5 là giảm tỷ lệ phát triển dân số từ 2,1% năm 1981 xuống 1,5% vào năm 1986 Đồng thời, phấn đấu vận động được 4,6 triệu người thực hiện các biện pháp tránh thai Chương trình KHHGĐ đặc biệt nhằm

vào các nhóm dân cư có mức sinh cao ở các vùng chậm phát triển, hẻo lánh vùng

Đông Bắc, các bộ tộc miền núi, dân theo đạo Muslim ở miền nam, dân nghèo nông thôn, khu ổ chuột

- Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ 6 (1987-1991): Mục tiêu chính sách dân số trong kế hoạch 5 năm lần thứ 6 là giảm tỷ lệ phát triển dân số từ 1,7% năm 1986 xuống còn 1,5% vào năm 1991 (1,3% vào năm 1992), phấn đấu có được 5,7 triệu người chấp nhận sử dụng biện pháp tránh thai Để thực hiện mục tiêu trên, Chính phủ Thái Lan đã áp dụng các biện pháp:

Trang 33

Kết quả thực hiện chính sách giảm sinh

Hiệu quả của chương trình KHHGĐ của Thái Lan đã làm cho ngân sách Chính phủ tiết kiệm được 840 triệu USD trong kế hoạch 5 năm 1982-1986 và tiết kiệm xấp xỉ 2 tỷ USD trong kế hoạch 5 năm 1987-1991 Như vậy, cứ mỗi bạt chi cho chương trình KHHGĐ thì tiết kiệm được 40 bạt chi cho y tế, giáo dục, an sinh

xã hội nhờ số sinh tránh được bình quân hàng năm khoảng 400.000 trẻ

Ở Thái Lan, trong vòng 20 năm (1971-1990) TFR đã giảm từ 6 con xuống 2,2 con/ phụ nữ, đã đạt sớm hơn 40 năm so với dự báo khi không có việc thực hiện các chương trình Dân số-KHHGĐ TFR giai đoạn này giảm trung bình 0,19 con/năm

* Trung Quốc: Với quy mô 1,34 tỷ người năm 2011, Trung Quốc vẫn là nước có quy mô dân số lớn nhất thế giới (chiếm 21% dân số toàn cầu), so với năm

1953 tăng gần 800 triệu người Trung Quốc đã đạt mức sinh thấp, mức chết thấp nhưng dân số vẫn tiếp tục gia tăng Trung Quốc luôn xác định công tác Dân số - KHHGĐ là nền tảng của sự nghiệp tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước, bảo đảm chất lượng cuộc sống và phát triển hài hòa với môi trường và tài nguyên thiên nhiên Chính sách dân số của Trung Quốc trong hơn 30 năm qua đã góp phần làm cân bằng với sự phát triển Công tác dân số đã chuyển từ chỗ chỉ tập trung cho vấn

đề quy mô, kiểm soát gia tăng nhanh dân số sang hướng giải quyết đồng bộ, toàn diện hơn, bao gồm cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bổ dân cư, đưa các chỉ báo dân số vào quy trình lập kế hoạch, lập kế hoạch tăng trưởng kinh tế - xã hội ở tất cả các cấp từ trung ương đến cơ sở Theo phân tích của các chuyên gia, nếu không có sự can thiệp của Chính phủ với các chính sách dân số thì hiện nay dân số Trung Quốc đã có thể vượt quá 1,5 tỷ người

Dân số Trung Quốc đã tăng mạnh trong giai đoạn những năm 1960 và 1970

Từ năm 1964 đến năm 1974 số công dân của nước này đã tăng với một con số sửng sốt 300 triệu người Điều này gây ra những khó khăn nghiêm trọng bởi sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước không thể đáp ứng nổi sự gia tăng của dân số Chính vì vậy

Trung Quốc đã đưa ra nhiều chính sách về dân số:

- Chính sách một con: Giữa thập niên 70 của thế kỷ XX, quy định quy mô gia đình tối đa ở thành phố là 2 con, ở nông thôn là 3-4 con nhưng lo ngại trước

Trang 34

“làn sóng” sinh đẻ này Trung Quốc đưa ra chính sách “một cặp vợ chồng chỉ sinh một con” Năm 1984 Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc ra chỉ thị nêu rõ quan điểm “mở cửa nhỏ, đóng cửa lớn” Các cặp vợ chồng ở nông thôn nếu sinh con gái đầu lòng thì được sinh con thứ 2 Còn ở thành thị mỗi cặp vợ chồng chỉ được sinh duy nhất một con Các dân tộc ít người được sinh thêm con thứ 2, thứ 3 theo quy định cụ thể

- Chính sách đổi hướng và đầu tư cho công tác dân số: Có thể chia làm 3 tầng nấc trong dịch vụ KHHGĐ:

Mức 1: Cung cấp dịch vụ KHHGĐ đơn thuần như đơn thuốc, phẫu thuật, nạo phá thai, cấp phát thuốc tránh thai, bao cao su…

Mức 2: Tổ chức tuyên truyền, giáo dục và đào tạo cán bộ; thông tin tư vấn

bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em; chữa trị vô sinh và các bệnh lây nhiễm qua đường

tình dục; nâng cao sức khỏe sinh sản cho toàn dân

Mức 3 (áp dụng từ năm 2006): thử nghiệm bước đầu tại 2 tỉnh dịch vụ KHHGĐ tổng hợp Lấy gia đình làm đơn vị cơ bản Ngoài các dịch vụ như mức 2, bổ sung thêm

dịch vụ chăm sóc người già, đặc biệt quan tâm những người thực hiện chính sách một

con nay đã bắt đầu vào tuổi già Đến năm 2010, được áp dụng trong toàn quốc

Mô hình dịch vụ Dân số-KHHGĐ đi từ hình thức đơn giản như phòng tránh thai đến mức cao hơn như khống chế mức sinh, nâng cao chất lượng dân số, chăm sóc sức khỏe toàn dân, tiến tới tổ chức các dịch vụ tổng hợp chăm sóc sức khỏe gia đình Với những nỗ lực trong công tác Dân số-KHHGĐ Trung Quốc đã thành công trong việc giảm tỷ lệ sinh và tỷ lệ tăng trưởng dân số tự nhiên từ 1,4% và 0,8% năm

2000 xuống còn 1,2%và 0,6% năm 2004

Nếu năm 1950 bình quân mỗi phụ nữ trung bình sinh 6,08 con thì đến năm

2002 giảm xuống chỉ còn 1,8 con Hàng năm, tổng suất sinh giảm bình quân 0,17

con Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên trong toàn đất nước chỉ có 19,3% (năm 2000) Mức

độ sử dụng các BPTT năm 2001 là 86%, trong đó 94% sử dụng BPTT hiện đại Đây

là mức phấn đấu ước mơ của nhiều quốc gia đang phát triển (Nguyễn Đình Cử,2011)

2.2.2 Tổng quan công tác Dân số ở Việt Nam

Tại Việt Nam vào đầu thế kỷ I dân số nước ta khoảng 1 triệu người (tài liệu

Trang 35

của nhà Đông Hán) Từ thế kỷ II đến thế kỷ III không có nguồn tài liệu ghi chép đáng tin cậy nào vì quá ít lại nhiều mâu thuẫn Dân số Việt Nam từ thế kỷ IX đến thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV được ghi chép thông qua đăng ký của các triều đại Lê,

Lý, Trần Theo tài liệu của cuộc kiểm tra nhân khẩu toàn Đông Dương ngày 14/02/1921 thì dân số Việt Nam là 15.584 triệu người, trong đó Bắc Kỳ là

6.854.000 người, Trung Kỳ là 4.933.000 người, Nam Kỳ là 3.797.000 người (Bộ môn Dân số, 2002)

Sau khi thống nhất đất nước chúng ta mới có điều kiện để thực hiện tổng điều tra dân số trong cả nước (năm 1979, 1989, 1999, 2009) Theo tài liệu của Tổng Cục Thống kê, sự thay đổi dân số bất thường diễn ra trong vòng 30 năm từ năm 1921 đến 1951, tỷ lệ tăng bình quân hàng năm 1,9% trong thời kỳ 1921 - 1926 đã giảm xuống chỉ còn 0,7% thời kỳ 1926 - 1931 Trong 30 năm này có 3 sự kiện lớn ảnh hưởng đến sự phát triển dân số; Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1925 - 1929; thời kỳ Pháp bắt lính Việt Nam đưa sang Pháp nhiều nhất; thời kỳ có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân bị Pháp đàn áp Thời kỳ 1943 - 1951 cũng có tốc độ tăng dân số thấp, do tình hình kinh tế chính trị phức tạp đã dẫn đến nạn đói năm 1945 chết 2 triệu

người (Bộ môn Dân số, 2002)

Từ thế kỷ XX, dân số Việt Nam phát triển nhanh Thời kỳ 1954 - 1960 nền kinh tế được phục hồi và phát triển, quy luật dân số tăng bù sau chiến tranh đã làm cho dân số tăng với tốc độ kỷ lục, tới 3,9% một năm Từ năm 1976 - 1979, tốc độ phát triển dân số giảm nhanh do tác động của giảm tỷ suất sinh Trong 10 năm từ năm 1979 đến 1989, tỷ lệ tăng dân số bình quân cả nước ở mức 2,1% Từ năm 1989

- 1992 tỷ lệ sinh có giảm nhưng chậm (từ 3,1 xuống 3% năm 1992), sau đó giảm nhanh, đạt 2,5% năm 1994 Trong khi tỷ lệ sinh cao, tỷ lệ chết giảm đáng kể (từ 0,8% năm 1989 xuống 0,7% năm 1993) nên tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số sau những năm tổng điều tra 1989 vẫn còn ở mức cao Theo tổng điều tra dân số sau những năm tổng điều tra 1989 vẫn còn ở mức cao Theo tổng điều tra dân số và nhà

ở ngày 01/04/2009, Việt Nam có 85,3 triệu người (Tổng điều tra và nhà ở,2009),

tăng gần 10 triệu so với tổng điều tra 01/14/1999 và đứng thứ 13 trên thế giới Dân

số Việt nam đã đạt 90 triệu người vào ngày 01 tháng 11 năm 2013 (Tổng cục Dân

Trang 36

số, 2013), đứng thứ 13 thế giới và thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ dân số nữ

trong dân số còn cao hơn nam 50,9% so với 49,1%, đặc biệt là tỷ lệ giới tính khi sinh mất cân bằng giới tính 112,6/100 Kết quả tổng điều tra dân số 1/4/2009 đã chứng minh cho những thành tựu của công tác Dân số - KHHGĐ đã đạt được một số kết qủa khả quan

Tuy nhiên, với cấu trúc dân số trẻ (dân số 0 - 14 tuổi chiếm 33% năm 1999), mỗi năm có thêm từ 500.000 đến 600.000 phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ, tiềm năng sinh vẫn đang và sẽ còn rất lớn trong những năm tới Dự báo nếu chương trình KHHGĐ được thực hiện có hiệu quả thì quy mô dân số Việt Nam đến giữa thế kỳ

XXI có thể bước vào ổn định ở mức khoảng 115 - 120 triệu người.(Tổng cục Dân

số 2011-2013)

(Nguồn: Tổng cục Dân số, 2013)

Hình 2.2: Đồ thị kết quả Dân số qua các năm

Với quy mô dân số lớn và sự gia tăng dân số nhanh và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cũng tăng nhanh như vậy đã ảnh hưởng rất nhiều đến tăng trưởng kinh tế, môi trường, giáo dục, y tế Việc giảm sự gia tăng dân số tự nhiên cũng sẽ đóng góp đáng

kể vào quá trình tăng trưởng của nền kinh tế, làm tăng thu nhập bình quân đầu người Có rất nhiều khó khăn mà Việt Nam đang phải đương đầu như tạo việc làm

và giảm thất nghiệp, giảm chệch lệch giàu nghèo Sự tăng dân số đột biến trong thời gian gần đây là một vấn đề đáng báo động cho công tác Dân số - KHHGĐ Mặc dù

Trang 37

chúng ta đã đạt được mức sinh thay thế nhưng dân số nước ta vẫn đang trong giai đoạn nhạy cảm với các yếu tố kinh tế- xã hội tác động, chưa loại trừ được khả năng mức sinh tăng trở lại Trên thực tế, chúng ta đã đạt được mức sinh thay thế từ năm

2009, số con trung bình ở phụ nữ là 2,03 con Tuy nhiên, sự xuất hiện sinh từ con thứ ba trở lên tăng nhanh và thay đổi chỉ số giới tính khi sinh làm cho công tác Dân

số - KHHGĐ sẽ phải thay đổi theo hướng mới là làm thế nào để giảm sinh con thứ

ba và tránh mất cân bằng giới tính khi sinh Nếu không sẽ có rất nhiều các vấn đề trọng đại về phát triển kinh tế - xã hội cũng như văn hóa, an ninh, an toàn xã hội

như tăng gánh nặng cho giáo dục, Y tế, tệ nạn buôn bán phụ nữ trẻ em v.v…(Tổng cục Dân số, 2011-2012)

2.2.3 Khái quát về hệ thống chính sách công tác dân số Việt Nam

2.2.3.1 Sơ lược các chủ trương chính sách ở Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia có chính sách dân số rất sớm, Công

tác Dân số- KHHGĐ, được phát động từ những năm 1960

Hệ thống tổ chức chuyên trách làm công tác Dân số - KHHGĐ được hình thành từ trung ương đến cơ sở, cả hệ thống chính trị vào cuộc, kinh phí dành cho công tác Dân số - KHHGĐ tăng một cách đột biến, nhiều hoạt động đã được triển khai Chính quyền và tổ chức, đoàn thể tất cả các tỉnh/thành đã cụ thể hoá chính sách chung thành nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định, nội qui riêng của địa phương

- Giai đoạn 1961-1970: Ban vận động sinh đẻ có kế hoạch do Thủ tướng

Chính phủ làm Trưởng ban, cơ quan trường trực được giao là Bộ Y tế với chức năng nhiệm vụ hướng dẫn sinh đẻ kế hoạch Đã ban hành các văn bản như: QĐ 216/CP ngày 26/12/1961 của Hội Đồng chính phủ về việc sinh đẻ có hướng dẫn; Chỉ thị số 99/TTg ngày 16 /10/1963 của Thủ tướng chính phủ về công tác hướng dẫn sinh đẻ

- Giai đoạn 1970-1974: Ngày 13/5/1970, Hội đồng Chính phủ đã có quyết

định 94/CP chuyển giao công tác này cho Ủy ban Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ em (UB BVBMTE) Uỷ ban được thành lập từ Trung ương đến cấp huyện, là một cơ quan độc lập, trực thuộc chính phủ, với nhiệm vụ chủ yếu là quản lý hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo

đã được hình thành đến các xã/phường trong cả nước và quản lý dịch vụ KHHGĐ

Trang 38

- Giai đoạn 1975-1984: Ủy ban BVBMTE giải thể vào năm 1974 Hệ thống

quản lý công tác sinh đẻ có kế hoạch lại được nhập vào Bộ Y tế Việc nuôi dạy trẻ giao cho Bộ Giáo dục Ngày 19/10/1978, Hội đồng Bộ trưởng đã có chỉ thị 265/CP

về đẩy mạnh “cuộc vận động Sinh đẻ có kế hoạch” Ngày 28/8/1981, Hội đồng Bộ trưởng lại có Chỉ thị 29/HĐBT về việc thành lập các Ban Vận động Sinh đẻ có kế hoạch

- Giai đoạn 1984 -1992: Do nhận thức được tầm quan trọng của việc huy

động các lực lượng xã hội tham gia chương trình Dân số – KHHGĐ nên ngày 11/04/1984, Hội đồng bộ trưởng có QĐ 58/HĐBT về thành lập Uỷ ban Dân số và sinh đẻ có kế hoạch Ở Trung ương với sự tham gia của nhiều ngành, cơ quan, đoàn thể Ngày 29/01/1988 Hội đồng Bộ trưởng ban hành QĐ 162/HĐBT về một số chính sách Dân số - KHHGĐ Năm 1991, Uỷ ban này được đổi tên là Uỷ ban quốc gia Dân số và Kế hoạch hoá gia đình Mô hình Ủy ban được triển khai xuống đến cấp tỉnh và thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương Ở cấp huyện có Ban Dân số

- KHHGĐ, còn ở cấp xã/phường thì chỉ có một lãnh đạo chủ chốt phụ trách và cơ quan chuyên môn giúp việc Có thể nói rằng, cho đến năm 1993, bộ máy tổ chức làm công tác Dân số - KHHGĐ luôn luôn có sự thay đổi nhằm tìm kiếm một bộ máy có hiệu lực trong việc điều phối và đáp ứng được yêu cầu xã hội hoá công tác Dân số - KHHGĐ

- Giai đoạn 1993 - 2002: Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương

Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ tư (khoá VII) yêu cầu: “Kiện toàn Uỷ ban Dân số

- KHHGĐ các cấp từ Trung ương đến cơ sở Cơ quan thường trực của uỷ ban Dân

số - KHHGĐ các cấp được bố trí đủ cán bộ chuyên trách có năng lực, gắn chặt với các ngành, các cấp trong việc quản lí và điều phối việc thực hiện chương trình Dân

số - KHHGĐ” Nghị quyết nhấn mạnh: “Hệ thống làm công tác Dân số - KHHGĐ phải được bố trí đến tận thôn, xóm, bản làng, phố phường để đưa công tác truyền thông Dân số -KHHGĐ và việc cung cấp các dịch vụ KHHGĐ đến tận người dân” Nghị định 42/CP ngày 21/6/1993 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và lề lối làm việc của Uỷ ban quốc gia Dân số - KHHGĐ quy định rõ hai chức năng của Uỷ ban này là quản lý Nhà nước về Dân số - KHHGĐ và điều phối chương trình Dân số - KHHGĐ Do không chỉ là cơ quan quản lý Nhà

Trang 39

nước về Dân số KHHGĐ mà còn là cơ quan điều phối chương trình Dân số KHHGĐ nên mô hình tổ chức Uỷ ban cũng không chỉ là “liên ngành” mà còn “liên đoàn thể, tổ chức xã hội” Thật vậy, ngoài bộ phận thường trực, Ủy ban quốc gia Dân số - KHHGĐ còn có đại diện của 19 Bộ và các đoàn thể, tổ chức xã hội tham gia lãnh đạo hoặc là thành viên

Giai đoạn 2002 - 2008: Thực hiện Nghị quyết số 02/2002/QH11 ngày

05/8/2002 của Quốc hội quy định danh sách các Bộ và cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đã được thành lập trên cơ sở hợp nhất Ủy ban Dân số-KHHGĐ và Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Nghị định 94/2002/NĐ-

CP của Chính phủ ngày 11/11/2002 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Theo đó, Ủy ban có chức năng quản lý nhà nước về dân số, gia đình và trẻ em; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc các lĩnh vực này Nhiệm vụ quản lý công tác kế hoạch hoá gia đình được nhấn mạnh Mô hình tổ chức của hệ thống tương tự như mô hình của bộ máy tổ chức Dân số - KHHGĐ giai đoạn 1993-2002 Tiếp đà giảm sinh của giai đoạn trước, cộng với Chiến lược Dân số (2001-2010), Chương trình mục tiêu quốc gia về Dân số - KHHGĐ được triển khai trong hoàn cảnh đất nước phát triển mạnh nên xu hướng giảm sinh tiếp tục được giữ vững, tuy có tăng đôi chút vào năm 2004

- Giai đoạn từ 2008 đến nay: Căn cứ Nghị quyết số 01/2007/QH12 ngày 31

tháng 7 năm 2007 của Quốc hội về cơ cấu tổ chức Chính phủ và số Phó thủ tướng Chính phủ khoá XII, ngày 8/8/2007, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định

số 1001/QĐ-TTg về việc giải thể Ủy ban DS-GĐ và TE, chuyển các chức năng của

Ủy ban này sang các bộ có liên quan thực hiện Theo đó, chức năng, nhiệm vụ quản

lý nhà nước về dân số được giao cho Bộ Y tế Nghị định số 188/2007/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 27/12/2007 quy định rõ Tổng cục Dân số - KHHGĐ thuộc cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế Ngày 29/1/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 18/2008/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dân số - KHHGĐ Theo đó, Tổng cục này có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Y tế quản lý nhà nước về Dân số - KHHGĐ, bao gồm lĩnh vực: quy mô dân số, cơ cấu dân số và chất lượng dân số; chỉ đạo các

Trang 40

hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ về Dân số - KHHGĐ trong phạm vi cả nước theo quy định của pháp luật Như vậy, phạm vi quản lý đã rộng hơn, không chỉ là KHHGĐ mà còn quản lý nhà nước về cơ cấu dân số và chất lượng dân số, tức là quản lý đầy đủ hơn, toàn diện hơn vấn đề dân số Theo Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 23/02/2005 Bộ Chính

trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình thì chất

lượng dân số không chỉ là thể chất mà còn là “trí tuệ, tinh thần và cơ cấu” Bởi vậy, cũng cần nghiên cứu nhằm hoàn thiện mô hình bộ máy tổ chức để thực hiện tốt chức năng

quản lý rộng lớn nói trên (Tổng cục Dân số, 2011)

2.2.3.2 Chương trình mục tiêu quốc gia Dân số - KHHGĐ

Cùng với các chương trình mục tiêu quốc gia khác, Chương trình mục tiêu Quốc gia Dân số-KHHGĐ đã đóng góp hết sức quan trọng vào sự phát triển kinh tế,

xã hội của đất nước Trong 20 năm qua, từ các nguồn ngân sách Việt Nam đã đầu tư cho chương trình Dân số-KHHGĐ 8.400 tỷ đồng Hai mươi năm trước đây, dân số Philippines ít hơn Việt Nam 4 triệu người, hiện nay dân số Philippines hơn Việt Nam 7 triệu người Như vậy nếu so sánh với nước bạn, chúng ta đã “tránh sinh” được 11 triệu người trong 20 năm Cũng khoảng thời gian ấy, GDP tăng liên tục, với tốc độ bình quân năm là 7,5% giai đoạn 1991-2000 và 7,2% giai đoạn 2001-

2010 Kết quả CTMTQG trong 20 năm qua đã trực tiếp làm tăng 0,4 lần GDP bình quân đầu người, bình quân tăng khoảng 2% mỗi năm

CTMTQG đã góp phần nâng cao sức khỏe bà mẹ và giảm tử vong ở trẻ em Bình quân hàng năm hiện nay cả nước chỉ có khoảng 1,4-1,5 triệu phụ nữ mang thai

và sinh đẻ, so với 2,2-2,3 triệu phụ nữ mang thai và sinh đẻ hàng năm nếu không có CTMTQG, có nghĩa là hàng năm giảm khoảng 90 vạn phụ nữ không tham gia vào sinh đẻ, không có có nguy cơ tử vong do thai sản

CTMTQG còn góp phần giảm tình trạng đói nghèo Hàng năm giảm khoảng

90 vạn phụ nữ không tham gia vào sinh đẻ, do vậy sẽ tăng thêm 108 triệu ngày công lao động của phụ nữ do nghỉ thai sản (theo quy định của pháp luật 4 tháng) và 163 triệu ngày công của người mẹ do trẻ em dưới 15 tuổi ốm mẹ nghỉ (theo Điều tra mức sống dân cư 2008, số ngày trẻ em từ 0-4 tuổi phải nghỉ do bị ốm/chấn thương

là 7,7 ngày/năm, trẻ từ 5-14 tuổi phải nghỉ do bị ốm/chấn thương là 5,5 ngày/năm)

Ngày đăng: 19/09/2015, 17:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
22. Nguyễn Thị Thiềng, Lưu Bích Ngọc & Đỗ Thị Hương (2009). Cơ sở lý luận về cơ dân số, Tổng quan kết quả nghiên cứu, điều tra về cơ dân số theo tuổi và giới tính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận về cơ dân số, Tổng quan kết quả nghiên cứu, điều tra về cơ dân số theo tuổi và giới tính
Tác giả: Nguyễn Thị Thiềng, Lưu Bích Ngọc, Đỗ Thị Hương
Năm: 2009
26. Nguyễn Bá Thủy (2007). Chất lượng dân số Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, truy cập ngày 7/8/2014 từ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng dân số Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Tác giả: Nguyễn Bá Thủy
Năm: 2007
34. Tổng cục dân số - KHHGĐ (2011). Một số văn bản của Đảng, Nhà Nước về công tác dân số - KHHGĐ hiện nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn bản của Đảng, Nhà Nước về công tác dân số - KHHGĐ hiện nay
Tác giả: Tổng cục dân số - KHHGĐ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
35. Tổng cục Dân số - KHHGĐ (2013). Nghiệp vụ Dân số - KHHGĐ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ Dân số - KHHGĐ
Tác giả: Tổng cục Dân số - KHHGĐ
Năm: 2013
37. Tổng cục DS-KHHGĐ (2011). Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước
Tác giả: Tổng cục DS-KHHGĐ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
42. Ủy ban quốc gia Dân số - KHHGĐ, UNFPA (1996). Kỷ yếu chính sách Dân số và KHHGĐ, NXB Thống kê. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu chính sách Dân số và KHHGĐ
Tác giả: Ủy ban quốc gia Dân số - KHHGĐ, UNFPA
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1996
20. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2003). Pháp lệnh dân số số 06/2003/PL- UBTVQH11 ngày 09/01/2003 Khác
21. Quốc Hội (2003). Pháp lệnh Dân số 2003 - của UBTV Quốc hội, ngày 09/01/2003 Khác
25. Thủ tướng Chính phủ (2008). Chỉ thị số 23/2008/CT-TTg ngày 04/8/2008 về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác Dân số - KHHGĐ Khác
30. Tổng cục Dân số - KHHGĐ (2013,2014). Dân số và phát triển - một số vấn đề cơ bản Khác
31. Tổng cục Dân số - KHHGĐ (2011). Công tác Dân số - KHHGĐ Việt Nam - 50 năm xây dựng và phát triển (1961-2011), NXB Giao thông vận tải Hà Nội Khác
36. Tổng cục Dân số - KHHGĐ (2001-2012). Niên giám thống kê Dân số - KHHGĐ 2001 Khác
38. Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện Quế Võ (2012,2013,2014). Báo cáo tổng kết năm công tác Dân số - KHHGĐ huyện Quế Võ và báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện pháp lệnh dân số Khác
39. Trung tâm Y tế huyện Quế Võ (2012,2013,2014). Báo cáo tình hình công tác săm sóc SKSS của Trung tâm Y tế huyện Quế Võ Khác
40. UBND Huyện Quế Võ (2012,2013,2014). Báo cáo tổng kết công tác Y tế của UBND huyện Quễ Võ Khác
41. UBND huyện Quế Võ (2012,2013,2014). Báo cáo tổng kết tình hình phát triển KT - XH và sự điều hành Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý DS-KHHGĐ Việt Nam hiện nay - giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số   kế hoạch hóa gia đình tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý DS-KHHGĐ Việt Nam hiện nay (Trang 23)
Hình 2.2: Đồ thị kết quả Dân số qua các năm - giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số   kế hoạch hóa gia đình tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Hình 2.2 Đồ thị kết quả Dân số qua các năm (Trang 36)
Bảng 3.1 Công tác giáo dục- đào tạo năm (2012 – 2014) - giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số   kế hoạch hóa gia đình tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 3.1 Công tác giáo dục- đào tạo năm (2012 – 2014) (Trang 49)
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu về dân số - xã hội huyện Quế Võ (2012-2014) - giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số   kế hoạch hóa gia đình tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu về dân số - xã hội huyện Quế Võ (2012-2014) (Trang 51)
Bảng 3.3: Số cán bộ tại Trung tâm Y tế huyện Quế Võ (năm 2012 – 2014) - giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số   kế hoạch hóa gia đình tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 3.3 Số cán bộ tại Trung tâm Y tế huyện Quế Võ (năm 2012 – 2014) (Trang 52)
Hình 4.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức Dân số -KHHGĐ huyện Quế Võ - giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số   kế hoạch hóa gia đình tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Hình 4.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức Dân số -KHHGĐ huyện Quế Võ (Trang 60)
Hình 4.2: Trình độ chuyên môn được đào tạo theo các lĩnh vực - giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số   kế hoạch hóa gia đình tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Hình 4.2 Trình độ chuyên môn được đào tạo theo các lĩnh vực (Trang 63)
Bảng 4.4: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu Dân số-KHHGĐ năm 2012 – 2014 - giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số   kế hoạch hóa gia đình tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu Dân số-KHHGĐ năm 2012 – 2014 (Trang 66)
Bảng 4.5:  Tổng hợp kết quả các hình thức truyền thông năm 2012 – 2014 - giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số   kế hoạch hóa gia đình tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 4.5 Tổng hợp kết quả các hình thức truyền thông năm 2012 – 2014 (Trang 70)
Hình 4.4: Đánh giá về mức độ phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể trong - giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số   kế hoạch hóa gia đình tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Hình 4.4 Đánh giá về mức độ phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể trong (Trang 76)
Bảng 4.7: Kết quả sử dụng dịch vụ SKSS/KHHGĐ năm 2012- 2014 - giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số   kế hoạch hóa gia đình tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 4.7 Kết quả sử dụng dịch vụ SKSS/KHHGĐ năm 2012- 2014 (Trang 78)
Bảng 4.8 : Chất lượng cung cấp dịch vụ KHHGĐ cho người Dân - giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số   kế hoạch hóa gia đình tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 4.8 Chất lượng cung cấp dịch vụ KHHGĐ cho người Dân (Trang 79)
Hình 4.5: Đồ thị đánh giá về việc thúc đẩy dịch vụ KHHGĐ - giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số   kế hoạch hóa gia đình tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Hình 4.5 Đồ thị đánh giá về việc thúc đẩy dịch vụ KHHGĐ (Trang 80)
Hình 4.6: Đánh giá mức hỗ trợ phụ cấp cho cán bộ làm công tác Dân số - giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số   kế hoạch hóa gia đình tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Hình 4.6 Đánh giá mức hỗ trợ phụ cấp cho cán bộ làm công tác Dân số (Trang 90)
Hình 4.7 Khó khăn trong công tác Dân số-KHHGĐ huyện Quế Võ(%) - giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số   kế hoạch hóa gia đình tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Hình 4.7 Khó khăn trong công tác Dân số-KHHGĐ huyện Quế Võ(%) (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w