1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại thị trấn thanh sơn, huyện sơn động, tỉnh bắc giang

85 1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 5,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

76% số dân đang sinh sống ở nông thôn, là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc rửa trôi làm cho tình tr

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THANH HOÀI

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI THỊ TRẤN THANH SƠN,

HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGÔ THẾ ÂN

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu

và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Hoài

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và

sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể, đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Ngô Thế Ân, là thầy giáo trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tận tình cho tôi hoàn thành luận văn Cảm ơn các thầy

cô giáo trong Khoa Môi trường và tập thể các cán bộ trong và ngoài Khoa đã giúp tôi hoàn thành quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang; UBND huyện Sơn Động; Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Sơn Động; Chi cục Thống kê huyện Sơn Động; UBND thị trấn Thanh Sơn, đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, cung cấp những thông tin cần thiết để thực hiện nghiên cứu đề tài này

Cảm ơn gia đình, các anh, chị, bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ và động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu học tập và thực hiện luận văn

Do thời gian có hạn, năng lực còn hạn chế, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóp góp của quý thầy cô và các bạn để luận văn của tôi hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Hoài

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn i

Mục lục i

Danh mục viết tắt i

Danh mục bảng ii

Danh mục biểu đồ và hình ii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình môi trường thế giới và Việt Nam 3

1.1.1.Tình hình môi trường thế giới 3

1.1.2 Tình hình môi trường Việt Nam 7

1.2 Tình hình quản lý môi trường tại Việt Nam và tỉnh Bắc Giang 12

1.2.1 Tình hình quản lý môi trường tại Việt Nam 12

1.2.2 Tình hình quản lý môi trường tại tỉnh Bắc Giang 20

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.2 Phạm vi nghiên cứu 23

2.3 Nội dung nghiên cứu 23

2.4 Phương pháp nghiên cứu 23

2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 23

2.4.2 Phương pháp lấy mẫu và phân tích chất lượng nước 24

2.4.3 Phương pháp lấy mẫu đất và phân tích đất 26

2.4.4 Phương pháp phân tích ô nhiễm không khí 28

2.4.5 Phương pháp xử lý, tổng hợp và so sánh số liệu 29

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thị trấn Thanh Sơn 31

3.1.1 Điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên 31

3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế – xã hội 33

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên kinh tế – xã hội 38

Trang 5

3.2 Thực trạng môi trường thị trấn Thanh Sơn 38

3.2.1 Các nguồn gây ô nhiễm môi trường thị trấn Thanh Sơn 38

3.2.2 Chất lượng môi trường nước Thị trấn Thanh Sơn 40

3.2.3 Chất lượng môi trường đất Thị trấn Thanh Sơn 45

3.2.4 Chất lượng môi trường không khí Thị trấn Thanh Sơn 47

3.3 Thực trạng quản lý môi trường tại thị trấn Thanh Sơn 49

3.3.1 Cơ cấu tổ chức quản lý môi trường 49

3.3.2 Thể chế chính sách quản lý môi trường 53

3.3.3 Cơ chế tài chính của công tác bảo vệ môi trường 54

3.3.4 Hoạt động giám sát, quan trắc, cảnh báo ô nhiễm môi trường 54

3.3.5 Nguồn lực và sự tham gia của cộng đồng 55

3.4 Những tồn tại và cơ sở xây dựng giải pháp quản lý môi trường tại thị trấn Thanh Sơn 55

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62

1 Kết luận 62

2 Đề nghị 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BTNMT Bộ tài nguyên và Môi trường BOD5 Hàm lượng oxy hóa sinh học BVMT Bảo vệ môi trường

COD Hàm lượng oxy hóa hóa học

DO Hàm lượng oxy hòa tan ĐMC Đánh giá môi trường chiến lược ĐTM Đánh giá tác động môi trường QCVN Quy chuẩn Việt Nam

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam TTXVN Thông tấn xã Việt Nam UBND Ủy ban nhân dân UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

STT TÊN BẢNG TRANG

2.1 Phương pháp phân tích chất lượng nước 25 2.2 Phương pháp phân tích không khí 28 2.3 Khung logic nội dung và phương pháp nghiên cứu 30 3.1 : Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại thị trấn Thanh Sơn,

tháng 5 năm 2014 41 3.2: Kết quả phân tích nước ngầm tại thị trấn Thanh Sơn, tháng 5 năm 2014 43 3.3 Kết quả phân tích môi trường đất tại thị trấn Thanh Sơn, tháng 5

năm 2014 46 3.4: Kết quả phân tích không khí xung quanh thị trấn Thanh Sơn, tháng

5 năm 2014 48 3.5 Sơ đồ SWOT phân tích hệ thống quản lý môi trường

tại Thị trấn Thanh Sơn 58

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH

STT TÊN BIỂU ĐỒ, HÌNH TRANG

1.1: Sơ đồ Bộ máy tổ chức công tác quản lý môi trường ở Việt Nam 12 2.1: Sơ đồ vị trí lấy mẫu nước mặt, nước ngầm, đất và quan trắc

không khí 29 3.1: Sơ đồ Venn thể hiện mối liên hệ giữa các thành phần có liên

quan với Hệ thống quản lý môi trường tại Thị Trấn Thanh Sơn 51 3.2 Sơ đồ mô hình DRSIR đánh giá hiện trạng môi trường TT

Thanh Sơn 58

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình phát triển nhân loại, kinh tế - xã hội – môi trường luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau để tạo nên một thể cân bằng, vững chắc, và bền vững cho xã hội Tuy nhiên, khi con người càng phát triển, đời sống càng được nâng cao thì mối quan hệ giữa ba yếu tố này ngày càng bị tách rời, phá vỡ sự cân bằng vốn có của chúng Thực tế cho thấy kinh tế và xã hội phát triển thường kéo theo nhiều hệ lụy, gây nên một sức ép cho môi trường, làm ô nhiễm đất, nước, không khí ảnh hưởng đến nguồn sống trên trái đất Vấn đề ô nhiễm môi trường

đã và đang là vấn đề bức bách, là một bài toán phức tạp không của riêng quốc gia, hay vùng miền nào, mà nó mang tính toàn cầu, cả trong hiện tại và tương lai Thanh Sơn là một thị trấn vùng sâu của huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang,

có cơ sở hạ tầng còn yếu kém, trình độ sản xuất và nghề nghiệp của nông dân chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường, nhất là với các ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Cơ cấu đầu tư cho nông nghiệp ở đây cũng chưa đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của thị trấn Thanh Sơn trong những năm vừa qua có những cải tiến đáng khích lệ Tuy nhiên, trong quá trình phát triển đã có một số vấn đề môi trường nảy sinh Chất lượng đất, nước, không khí ngày càng xấu đi, chất thải rắn thì ngày một gia tăng, gây ảnh hưởng đến môi trường của toàn khu vực Những vấn đề này tạo một áp lực không hề nhỏ đến công tác quản lý môi trường ở địa phương Do đó, cần phải có phương pháp phù hợp để cải thiện chất lượng môi trường, hướng tới phát triển bền vững cho huyện Sơn Động nói riêng và tỉnh Bắc Giang nói chung

Để góp phần giải quyết vấn đề môi trường nói trên, tôi đã tiến hành thực

hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại Thị trấn Thanh Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang”

Trang 10

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này được tiến hành để đánh giá hiện trạng môi trường và đề xuất các giải pháp quản lý môi trường tại Thị trấn Thanh Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang

3 Yêu cầu của đề tài

- Các thông tin, số liệu, tài liệu điều tra trung thực, chính xác, đảm bảo độ tin cậy và phản ánh đúng thực trạng hiện trạng môi trường của địa phương

- Các giải pháp quản lý đưa ra phải mang tính thực tiễn

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình môi trường thế giới và Việt Nam

1.1.1.Tình hình môi trường thế giới

1.1.1.1 Tình hình ô nhiễm môi trường không khí

Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự

toả mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (Lê Văn Khoa và CS, 2011)

Trên thế giới, từ Châu Âu, Châu Á đến Châu Phi và các châu lục khác đang phải đối diện với bài toán đẩy lùi ô nhiễm bởi khói bụi đến từ các nhà máy sản xuất, phương tiện giao thông… Ở nước Anh và Trung Quốc đã phải trải qua đợt ô nhiễm không khí nghiêm trọng (Khánh Hiền, 2014) Bụi từ sa mạc Sahara, khí thải từ lục địa châu Âu, gió thấp phía Nam dịp Phục sinh và tình trạng ô

nhiễm không khí trong nước kết hợp với nhau tạo nên mức độ ô nhiễm kỷ lục tại

Anh Theo phóng viên TTXVN tại London (Anh Quốc), mỗi năm có vài đợt

"quốc đảo sương mù" phải hứng chịu lượng bụi cát từ sa mạc Sahara thổi sang

Trong khi đó tại Trung Quốc, tình trạng ô nhiễm không khí đã lên đến mức báo động, các phương tiện truyền thông nhà nước đăng tải hình ảnh người dân thành phố Trịnh Châu, thủ phủ tỉnh Hà Nam đứng xếp hàng để có thể hít thở không khí sạch được niêm phong trong bao bì kín do Công ty du lịch khu vực núi Laojun – tỉnh Hà Nam đưa ra Theo thống kê của Bộ Bảo vệ Môi trường Trung Quốc, Trịnh Châu là thành phố đứng thứ 10 trong danh sách các thành phố có tình trạng ô nhiễm môi trường tồi tệ nhất năm 2013, với chỉ số ô nhiễm AQI đạt mức 157, vượt xa thủ đô Bắc Kinh với AQI ở mức 55

Ở Mỹ, ô nhiễm môi trường làm 200.000 người chết mỗi năm, trong đó California chiếm 21.000 trường hợp Trên toàn châu Âu, số người chết mỗi năm vì ô nhiễm là 100.000 người Riêng ở Anh, Đức, Pháp, con số này là 29.000 người

Tại Châu Á, theo một báo cáo quốc tế mới đây (Minh Khuê, 2014), những chứng bệnh có liên quan đến ô nhiễm đang giết chết 3,2 triệu người mỗi năm

Trang 12

Tạp chí y khoa Lancet cho biết, mỗi năm ở châu Á có khoảng 2,1 triệu người chết sớm vì không khí ô nhiễm

Còn theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), riêng ở khu vực Đông Nam Á mỗi năm có 700.000 người chết sớm vì liên quan đến ô nhiễm không khí WHO gần đây cũng đã đưa ra báo cáo về ô nhiễm không khí năm

2014 dựa trên số liệu về mức độ ô nhiễm của 1.600 thành phố trên khắp 19 quốc gia Tổ chức này đã sử dụng hệ thống đánh giá có tên là PM2.5 và PM10 PM2.5

được coi là hệ thống tốt nhất được dùng để đánh giá tác động của ô nhiễm không khí lên sức khỏe và xác định nồng độ bụi ô nhiễm có đường kính từ 2,5 micromet trở xuống Những hạt bụi ô nhiễm này có thể là khói, bụi bẩn, nấm mốc hoặc phấn hoa, được tổng hợp từ những kim loại nặng và các hợp chất hữu cơ độc hại Đây được coi là những mối nguy hiểm lớn cho cơ thể con người nếu bị “tích lũy” trong hệ thống hô hấp Theo WHO, chỉ số PM2.5 được coi tạm an toàn là 25 microgram/m3 Sau đây là những nước ô nhiễm nhất dựa theo chỉ số PM2.5 mà Tổ chức Y tế thế giới WHO công bố (Kênh 14, 2015)

Tại Pakistan, chỉ số PM2.5 trung bình: 100 microgram/m3 Ô nhiễm không khí ở các khu đô thị của Pakistan khiến hàng ngàn người chết mỗi năm Cụ thể, 80.000 ca nhập viện mỗi năm ở nước này vì các bệnh liên quan đến đường hô hấp, trong đó có tới 8.000 trường hợp viêm phế quản mãn tính và gần 5 triệu trẻ

em dưới 5 tuổi mắc bệnh đường hô hấp Lý do mà các chuyên gia đưa ra đó là nhiều nhà máy cùng ngành công nghiệp chế biến, khai thác khoáng sản đã khiến môi trường ở đất nước này càng thêm trầm trọng Chỉ tính riêng năm 2005, đã có hơn 22.600 người trưởng thành là nạn nhân của ô nhiễm không khí

Tại Qatar, chỉ số PM2.5 trung bình: 92 microgram/m3 Sở hữu số dân hơn 2 triệu người và ngày càng tăng nhanh, Qatar cũng đang phải đối mặt với tình trạng

ô nhiễm nặng nề gây ra bởi số lượng ngày càng tăng của các công trình xây dựng

Trang 13

bụi gây nên ô nhiễm không khí nặng nề Kích thước “khiêm tốn” của những thành phố miền núi đã dẫn đến tệ nạn xây dựng nhà bất hợp pháp, đi kèm với việc sử dụng máy phát điện diesel hoặc tệ hại hơn là nạn đốt lốp xe hoặc túi nilong để làm nhiên liệu Điều này gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng không khí của đất nước này

Tại Bangladesh, chỉ số PM2.5 trung bình: 79 microgram/m3 Bangladesh là ngôi nhà cư trú của gần 155 triệu người, nhưng theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB), chất lượng không khí của Bangladesh đã giảm gần 60% trong vòng

10 năm trở lại đây Trên thực tế, có đến ba thành phố lớn của Bangladesh nằm trong danh sách 25 thành phố với chất lượng không khí kém nhất trên thế giới Theo báo cáo của WB, ô nhiễm không khí giết chết trung bình 15.000 người Bangladesh hàng năm Nguyên nhân của sự ô nhiễm này là do gần 90% trong số

270 nhà máy thuộc da ở Bangladesh luôn "nhả khói" ra không khí, kèm với đó là ngàn lít chất thải độc hại Một số liệu khác cho thấy, gần bảy triệu người ở Bangladesh bị hen suyễn; hơn một nửa trong số đó là trẻ em

Tại Ấn Độ, chỉ số PM2.5 trung bình: 59 microgram/m3 Theo báo cáo của Trung tâm khoa học và môi trường Ấn Độ (CSE), vào mùa đông năm 2013, mức

độ ô nhiễm không khí ở New Delhi cao hơn gấp 60 lần mức an toàn Đây cũng là thành phố có tỉ lệ ô nhiễm không khí cao nhất thế giới theo WHO Với chỉ số AQI trên 300, người dân của thành phố này được khuyến cáo hạn chế ra đường bởi nguy cơ gây hại lớn cho sức khỏe Ô nhiễm gây ra bởi những công trình xây dựng, chất thải công nghiệp, các đám cháy lớn, khí thải xe cộ và lượng dân số đáng kinh ngạc 1,2 tỷ dân

Một số quốc gia như Iran, Ai Cập, Mông Cổ, Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Bahrain được WHO đưa vào danh sách những nước có môi trường không khí ô nhiễm nhất thế giới (Công lý, 2014)

1.1.1.2 Tình hình ô nhiễm môi trường đất

Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn

môi trường đất bởi các chất ô nhiễm (Lê Văn Khoa và CS., 2011)

Hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường đất và suy thoái đất đang được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm Tình trạng đất bị thoái hóa đang xảy ra phổ

Trang 14

biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, như vùng Châu Phi, Địa Trung Hải, Châu Á… do xói mòn, rửa trôi, bạc mầu, nhiễm mặn, nhiễm phèn, ô nhiễm đất, biến đổi khí hậu… Một tỷ hecta đất ở Châu Phi có xu hướng bị hủy hoại một cách oan nghiệt, khoảng 47% đất đai ở Mỹ Latinh đã mất hết độ màu mỡ Tai họa sa mạc hóa đang và sẽ là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự đói khổ cho hàng tỷ người và làm hàng triệu người chết vì đói ăn Ở nước Anh, đã chính thức xác nhận 300 vùng bị ô nhiễm, với diện tích là 10.000 ha, ở Mỹ có khoảng 25.000 vùng, ở Hà Lan là 6.000 vùng ô nhiễm đất cần xử lý

Theo tổ chức lương nông thế giới FAO, do lượng đất canh tác giảm hẳn vào năm 2020, chỉ riêng châu Á khoảng 55% dân số sẽ sống ở các quốc gia nơi 1/5 nhu cầu ngũ cốc phải nhập từ nước ngoài

1.1.1.3 Tình hình ô nhiễm môi trường nước, tình trạng thiếu nước sạch trầm trọng trên thế giới

Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã

(Lê Văn Khoa và CS., 2011)

Theo thống kê của Viện nước quốc tế (SIWI), trung bình mỗi ngày trên thế giới có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý trực tiếp đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển Thực tế này đã khiến nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người bị ô nhiễm nghiêm trọng Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nước đang phát triển là do không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp vì thiếu nước và các bệnh liên quan đến nước Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm Tổ chức Nông Lương LHQ (FAO) cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống tại các khu vực khan hiếm nước và 2/3 cư dân trên hành tinh có thể bị thiếu

nước (Lê Quốc Tuấn và CS., 2013)

Thống kê của UNICEF tại khu vực Nam và Đông Á cho thấy chất lượng nước ở khu vực này ngày càng trở thành mối đe dọa cho con người, nhất là trẻ

Trang 15

em Tình trạng ô nhiễm As (Thạch tín) và Flo (Fluorie) trong nước ngầm đang đe dọa tình trạng sức khỏe của 50 triệu dân trong khu vực

Tại diễn đàn của trẻ em trên thế giới về nước tại tổ chức tại Mêhicô ngày 21/3/2013, UNICEF cho biết 400 triệu trẻ em trên thế giới đang phải vật lộn với

sự sống vì không có nước sạch Trẻ em là người phải trả giá cao nhất khi không được sử dụng nước sạch

Theo ước tính của Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF) ở Việt Nam có khoảng

17 triệu (52%) trẻ em chưa được sử dụng nước sạch và khoảng 20 triệu (59%) chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh Con số này còn cao hơn đối với vùng sâu vùng xa, các dân tộc ít người (Môi trường ngành xây dựng, 2015)

1.1.2 Tình hình môi trường Việt Nam

1.1.2.1 Ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam

Theo một nghiên cứu được công bố tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Việt Nam nằm trong 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp nhất và ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe Ông Jacques Moussafir, chuyên gia người Pháp chuyên cung cấp giải pháp phần mềm tính toán, mô phỏng ô nhiễm môi trường không khí và hỗ trợ dự báo khí tượng khẳng định tại một cuộc hội thảo về cải tạo chất lượng không khí và giao thông đô thị đã khẳng định: “Tại các đô thị lớn ở Việt Nam, ô nhiễm không khí ảnh hưởng tới hoạt động của người dân mọi lúc, mọi nơi, nhất là ở thủ đô Hà Nội Đây là một trong những thành phố ô nhiễm không chỉ đứng đầu Đông Nam Á mà còn ở châu Á”

Hầu hết các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn về môi trường theo quy định Thực trạng đó làm cho môi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng Cộng đồng dân

cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với các khu công nghiệp, đang phải đối mặt với thảm hoạ về môi trường Họ phải sống chung với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm chất thải công nghiệp Từ đó, gây bất bình, dẫn đến những phản ứng, đấu tranh quyết liệt của người dân đối với những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, có khi bùng phát thành các xung đột xã hội gay gắt

Cùng với sự ra đời ồ ạt các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề thủ công truyền thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ Việc phát

Trang 16

triển các làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc làm ở các địa phương Tuy nhiên, hậu quả về môi trường do các hoạt động sản xuất làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng Tình trạng ô nhiễm không khí, chủ yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 và NOx thải ra trong quá trình sản xuất khá cao Các làng nghề được phân bố rộng khắp cả nước, trong đó các khu vực tập trung phát triển nhất là đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Tây Bắc Bộ, đồng bằng sông Cửu Long Hoạt động gây ô nhiễm môi trường sinh thái tại các làng nghề không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sinh hoạt và sức khoẻ của những người dân làng nghề mà còn ảnh hưởng đến cả những người dân sống ở vùng lân cận, gây phản ứng quyết liệt của bộ phận dân cư này, làm nảy sinh các xung đột

xã hội gay gắt

Tổ chức y tế thế giới WHO vừa cảnh báo về tình trạng ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm không khí đang tồn tại ở nhiều quốc gia trên thế giới Và Việt Nam là một trong những nước nằm trong danh sách báo động đó Trên thế giới theo thông kê mới đây, số ca tử vong vì mắc bệnh liên quan tới vấn đề ô nhiễm không khí ngày một gia tăng Trong đó các loại bệnh ảnh hưởng tới sức khoẻ con người và không thể cứu chữa như ung thư phổi và suy tim…

Ở Việt Nam, vấn đề ô nhiễm thường gặp trong các đô thị lớn thường là khí bụi, hoặc các chất độc hại được thải trực tiếp không thông qua xử lý chiếm tỉ

lệ cao Riêng ở Hà Nội, theo khảo sát của Sở Y tế Hà Nội, 72% hộ gia đình có người mắc bệnh do ô nhiễm không khí Hàm lượng khí thải độc hại như CO,

SO2… trong không khí cao Có nơi gấp 9 lần so với mức độ ô nhiễm thông thường Quả thực đáng kinh ngạc khi gặp những hậu quả khôn lường tới sức khoẻ cộng đồng Đây là tỷ lệ quá cao so với các khu vực khác bởi Hà Nội và TP

Hồ Chí Minh được nhận định là hai thành phố ô nhiễm không khí nặng nhất (Công Lý, 2014) Nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố lớn như Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Đà Nẵng, Biên Hòa (Đồng Nai)…trung bình lớn hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần Đà Nẵng được coi là thành phố khá sạch

ở Việt Nam Mặc dù vậy, 3 năm qua, số ngày có chất lượng không khí kém, không khí xấu tăng lên đáng kể Năm 2011 thành phố này chỉ có 40 ngày không

Trang 17

khí kém Đến năm 2013, con số này tăng lên 128 ngày Lý do khiến chất lượng không khí giảm sút ở Đà Nẵng là do sự tăng mạnh về nồng độ ô-zôn

Theo Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Bùi Cách Tuyến: Lý do khiến nồng độ ô-zôn trong không khí ở các đô thị Việt Nam tăng cao là do ảnh hưởng của giao thông và sản xuất công nghiệp, nhất là sự gia tăng phương tiện giao thông ô tô, xe máy ở các thành phố lớn

1.1.2.2 Ô nhiễm môi trường nước

Tình trạng không khí độc hại còn là nguyên nhân dẫn đến việc ô nhiễm nguồn nước một cách nghiêm trọng Với các hạt nhỏ nhiễm khuẩn, gây ra các loại bệnh hiểm nghèo, các loại tạp chất… nằm lẫn trong không khí theo nước mưa thấm xuống các mạch nước ngầm gây nhiễm bẩn cao Nhất là với tình trạng môi trường đáng báo động như ở Việt Nam hiện nay thì vấn đề đó lại càng có chiều hướng gia tăng Người dân ngày một mất dần nguồn nước sạch trong sinh hoạt Và đang phải đối mặt với vấn đề khan hiếm nguồn nước sạch

Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng, sự gia tăng dân số đã gây áp lực ngày càng lớn đối với tài nguyên nước ở Việt Nam, dẫn đến môi trường nước mặt ở nhiều đô thị, khu công nghiệp, các làng nghề ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi nước thải và chất thải rắn Tại các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nước mặt do xả thẳng ra nguồn tiếp nhận

Trong ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy, công nghiệp mía đường và công nghiệp chế biến thực phẩm nước thải thường có độ pH trung bình cao; chỉ số nhu cầu ô-xy sinh hóa (BOD) ở mức 700mg/l, vượt ngưỡng cho phép đến 14 lần; nhu cầu ô-xy hóa học (COD) có thể lên đến 2.500mg/l, vượt tiêu chuẩn cho phép hơn 16 lần (theo QCVN 40:2011/BTNMT) Hàm lượng nước thải của một số doanh nghiệp có chứa Cyanua (CN-) vượt đến

80 lần tiêu chuẩn cho phép, nhiều chỉ số môi trường khác trong nước cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép

Những năm gần đây, dân số ở các đô thị tăng nhanh khiến hệ thống cấp thoát nước không đáp ứng nổi và xuống cấp nhanh chóng Nước thải, rác thải sinh hoạt (vô cơ và hữu cơ) ở đô thị hầu hết đều trực tiếp xả ra môi trường mà

Trang 18

không có bất kỳ một biện pháp xử lí môi trường nào nào ngoài việc vận chuyển

đến bãi chôn lấp Theo thống kê của cơ quan chức năng, mỗi ngày người dân ở các thành phố lớn thải ra hàng nghìn tấn rác; các cơ sở sản xuất thải ra hàng trăm nghìn mét khối nước thải độc hại Điển hình là ở thành phố Hà Nội và thành phố

Hồ Chí Minh, người dân của hai thành phố lớn này phải sống trong cảnh thiếu nước sạch Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn (SAWACO) cho biết, hơn 328.000

hộ dân ở TP HCM chưa được dùng nước sạch Trong đó, hơn 200.000 dân ngoại thành phải dùng nước không hợp vệ sinh từ kênh, rạch Người dân ngoại thành

Hà Nội cũng sinh hoạt bằng nước không đạt chuẩn, có lượng hoá chất vượt ngưỡng cho phép Xếp theo thứ hạng về ô nhiễm đất, nước, không khí, thành phố

Hồ Chí Minh và Hà Nội là những địa bàn ô nhiễm đất nặng nhất Tình trạng ô nhiễm nước mặt đô thị ở hai thành phố này đang ở mức báo động rất cao Nước thải sinh hoạt trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương) Rất nhiều

cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, nhiều bệnh viện và cơ sở y tế chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng lớn chất thải rắn trong thành phố không được thu gom triệt để

Nhiều mẫu nước từ các địa phương đều cho thấy lượng hoá chất độc hại vượt ngưỡng quy định Ủy ban Nhân dân tỉnh Hải Dương cho biết, nồng độ chất thải rắn lơ lửng trong các con sông chảy qua địa phương như sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình, đều quá mức cho phép Kết quả cũng cho thấy sự ô nhiễm N-NH4+, N-NO2- tại các con sông này

Tình trạng ô nhiễm nước mặt ở nông thôn, khu vực sản xuất nông nghiệp không ngừng gia tăng 76% số dân đang sinh sống ở nông thôn, là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc rửa trôi làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao, nhất là việc lạm dụng các chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp dẫn đến các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm và ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và sức khỏe

Tại một số địa phương, khi quan sát các trường hợp ung thư, viêm nhiễm phụ khoa chiếm từ 40 đến 50% là do từng sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm Theo đánh giá của các Bộ Y tế và Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trung bình mỗi

Trang 19

năm ở Việt Nam có khoảng chín nghìn người chết vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém; hằng năm có khoảng hơn 100 nghìn trường hợp mắc ung thư mới phát hiện mà một trong những nguyên nhân chính là do sử dụng nguồn nước ô nhiễm Tác hại của ô nhiễm nguồn nước mặt đối với sức khỏe con người, chủ yếu do môi trường nước bị ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh, ô nhiễm các hợp chất hữu cơ,

các hóa chất độc hại và ô nhiễm kim loại nặng (Dương Danh Mạnh, 2014)

1.1.2.3 Ô nhiễm môi trường đất

Kết quả của một số khảo sát cho thấy hàm lượng kim loại nặng trong đất gần các khu công nghiệp ở Việt Nam đã tăng lên trong những năm gần đây Như tại cụm công nghiệp Phước Long (Bình Phước) hàm lượng các chất độc hại như

Cr cao gấp 15 lần so với tiêu chuẩn, Cd cao từ 1,5 đến 5 lần, As cao hơn tiêu chuẩn 1,3 lần Thuốc bảo vệ thực vật cũng gây ảnh hưởng đến đất Mặc dù khối lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở Việt nam còn ít, trung bình từ 0,5-1,0 kg/ha/năm, tuy nhiên, ở nhiều nơi đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất

Theo khảo sát mới đây của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) với khoảng 70% dân số ở khu vực nông thôn, mỗi năm phát sinh 13 triệu tấn rác thải sinh hoạt, khoảng 1.300 triệu mét khối nước thải sinh hoạt và khoảng 7.500 tấn vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật Trong đó, khoảng 80% khối lượng rác thải, nước thải sinh hoạt và hầu hết lượng vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật chưa được thu gom xử lý hợp vệ sinh, xả trực tiếp ra môi trường

Còn tại các vùng phía Nam, đặc biệt vùng đồng bằng sông Cửu Long, phân tươi được sử dụng làm nguồn thức ăn cho cá, gây ô nhiễm sinh học nghiêm trọng môi trường đất Ô nhiễm đất làm mất khả năng tự điều chỉnh của hệ sinh thái đất, đất trở nên cằn cỗi Sự tích tụ của các hóa chất độc hại, kim loại nặng trong đất làm tăng khả năng hấp thụ các nguyên tố có hại cho cây trồng, vật nuôi

và gián tiếp gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người (Tổng cục MT, 2010)

Tình trạng xâm nhập PCB (Polyclobiphenyl – chất hữu cơ khó phân hủy) vào môi trường đất ở các khu vực như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Thừa Thiên Huế trong thời gian dài, từ năm 1992 đến nay gây ảnh hưởng đặc biệt nguy hại đến con người và môi trường

Trang 20

1.2 Tình hình quản lý môi trường tại Việt Nam và tỉnh Bắc Giang

1.2.1 Tình hình quản lý môi trường tại Việt Nam

Hình 1.1: Sơ đồ Bộ máy tổ chức công tác quản lý môi trường ở Việt Nam

Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh

tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia Theo Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam, nội dung công tác quản lý nhà nước về môi trường gồm (Hồ Lam Trà và Lương Đức Anh, 2009):

Chính phủ

Các bộ khác

Bộ TN và MT UDND Tỉnh

Bộ TN&

MT

Các vụ thuộc

Bộ TN

&MT

Các đơn vị

sự nghiệp

Các doanh nghiệp

Vụ KH

Trang 21

- Ban hành và tổ chức việc thực hiện các văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường

- Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường,

kế hoạch phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự

- Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường

- Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường

- Ðào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường

- Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Thiết lập quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Ngoài ra, Việt Nam còn xây dựng các công cụ để quản lý môi trường, bao gồm (Hồ Lam Trà và Lương Đức Anh, 2009):

- Công cụ luật pháp chính sách;

- Công cụ kinh tế;

- Công cụ kỹ thuật quản lý;

- Công cụ giáo dục nâng cao nhận thức

Các công cụ trong quản lý môi trường tại Việt Nam đã được xây dựng một cách khá hoàn chỉnh và toàn diện

Giai đoạn sau những năm 1990, cùng với việc tham gia ký kết một số Công ước quốc tế, Việt Nam cũng bắt đầu xây dựng hệ thống chính sách, pháp

Trang 22

luật và thành lập các cơ quan chuyên môn nhằm phục vụ công tác quản lý, bảo vệ môi trường

Năm 1993, Luật Bảo vệ môi trường đầu tiên của Việt Nam đã được ban hành với những nội dung về phòng chống và khắc phục suy thoái môi trường Năm 2002, Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập dựa trên cơ sở hợp nhất một số đơn vị trực thuộc Bộ Khoa học - Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Bộ Công nghiệp (cũ)

Năm 2005, Luật bảo vệ môi trường được sửa đổi lần thứ nhất với những nội dung mang tính toàn diện và tổng thể hơn Quá trình thực hiện, Luật Bảo vệ môi trường 2005 bộc lộ một số khiếm khuyết, bất cập không phù hợp với tình hình thực tiễn Chính vì vậy, Luật Bảo vệ môi trường 2014 được ban hành cùng với hàng loạt các văn bản pháp luật cũng được ban hành theo nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ môi trường ở Việt Nam và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2015

Bên cạnh đó, ngày 21 tháng 6 năm 2012, Quốc hội đã thông qua Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13, có hiệu lực thi hành bắt đầu từ ngày 01/01/2013 Theo Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2014 và

kế hoạch công tác năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 27/12/2014, trong lĩnh vực quản lý môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đạt được những kết quả sau:

- Chú trọng hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi

trường Bộ đã xây dựng, trình Quốc hội thông qua Luật bảo vệ môi trường số

55/2014/QH13 ngày 23/6/2014 tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII, Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 gồm 20 chương, 170 điều, so với Luật bảo vệ môi trường năm 2005, Luật bảo vệ môi trường lần này đã quy định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các cấp, đặc biệt là làm rõ trách nhiệm đầu mối xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; trách nhiệm thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường; luật hóa những chủ trương, chính sách mới về bảo vệ môi trường; mở rộng và cụ thể hóa một số nội dung về

Trang 23

bảo vệ môi trường; giải quyết các trùng lặp, mâu thuẫn với các luật khác để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật Bộ đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 25/8/2014 về triển khai thi hành Luật; hoàn thiện các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật, trình Chính phủ xem xét ban hành, bảo đảm các quy định của Luật có thể triển khai ngay sau khi Luật có hiệu lực thi hành Triển khai hiệu quả các chiến lược, chương trình, kế hoạch, về bảo vệ môi trường

- Công tác xây dựng, thực thi chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường tại các địa phương đã được triển khai đồng bộ, hiệu quả Trong năm 2014, 100% các tỉnh, thành phố đều đã lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường vào các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 của địa phương; ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh; ban hành định mức phí bảo vệ môi trường của địa phương đối với nước thải và chất thải rắn

- Chỉ đạo xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, sau 10 năm thực hiện Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, công tác xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã đạt được những kết quả nhất định, đặc biệt có chuyển biến ở các cơ

sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ Tính đến nay, đã có 384/439 cơ sở đã hoàn thành biện pháp xử lý ô nhiễm triệt để, không còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đạt 87,5%; còn 55 cơ sở chưa hoàn thành, chiếm 12,5% Đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương thực hiện Quyết định số 1788/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đến nay đã có 101/435 cơ sở cơ bản đã hoàn thành xử

lý triệt để, không còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đạt 23,2%; 87

cơ sở đã quá thời hạn xử lý ô nhiễm triệt để theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ (thời hạn xử lý trong năm 2013)

- Phát huy vai trò của hoạt động đánh giá môi trường chiến lược

(ĐMC), đánh giá tác động môi trường (ĐTM), Bộ đã trình Chính phủ ban

hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường; ban hành

Trang 24

Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định; tổ chức thành công Hội nghị quốc gia về công tác đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường Trong năm 2014, Bộ đã thẩm định 14 báo cáo ĐMC, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thẩm định 12 báo cáo; phê duyệt

187 báo cáo, không thông qua 05 báo cáo ĐTM; phê duyệt 37 hồ sơ đề án bảo

vệ môi trường chi tiết trong tổng số 235 báo cáo ĐTM được thẩm định; tổ chức kiểm tra thực tế việc thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của 70 dự án, cấp giấy xác nhận cho 57 dự

án Các địa phương đã tổ chức thẩm định hơn 240 báo cáo ĐTM theo thẩm quyền, 48 đề án BVMT và hàng nghìn bản cam kết BVMT

- Thực hiện tốt vai trò là cơ quan đầu mối mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia, Bộ đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về kiểm soát ô nhiễm môi trường khu công nghiệp; hoàn thiện 12 tiêu chuẩn, 08 quy chuẩn quốc gia về môi trường; hướng dẫn địa phương triển khai thực hiện các quy định về quy chuẩn môi trường quốc gia; về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; 100% các tỉnh, thành phố đã thực hiện việc thu phí bảo

vệ môi trường đối với nước thải, đã thu được hơn 50 tỷ đồng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp Theo dõi, có các giải pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, quản lý phế liệu, quản lý phát thải hóa chất, kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới đối với các hệ thống sông Hồng

và sông Mê Kông; kiểm soát ô nhiễm do sử dụng bao bì ni lông khó phân hủy; quản lý hóa chất độc hại và khắc phục sự cố về môi trường Hiện nay, trong cả nước có 148/194 khu công nghiệp (tăng 7 khu công nghiệp so với năm 2013) đã

có hệ thống xử lý nước thải theo quy định; tuy nhiên, các hệ thống này không vận hành hết công suất mà chỉ xử lý khoảng 60% lượng nước thải phát sinh, lượng còn lại một phần do các cơ sở đã được miễn trừ đấu nối tự xử lý, một phần các cơ sở xử lý chưa đạt quy chuẩn và xả trực tiếp ra môi trường

- Nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải và cải thiện môi trường,

đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường; triển khai thực

Trang 25

hiện 13 dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2012-2015 Tổ chức thực hiện Kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu trên phạm vi cả

nước; tiến hành xử lý 58/240 khu vực môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng và

đặc biệt nghiêm trọng do hoá chất bảo vệ thực vật tồn lưu tại 15 tỉnh, thành phố:

Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Hải Dương, Nam Định, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị; phê duyệt 03/7 Đề án cải tạo, phục hồi môi trường đã được thẩm định, tổng số tiền ký quỹ phê duyệt trên 197 tỷ đồng; tiếp nhận 62 hồ

sơ, cấp phép cho 30 doanh nghiệp hành nghề quản lý chất thải nguy hại

- Tăng cường hoạt động bảo vệ môi trường các lưu vực sông, Bộ đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - Đáy đến năm 2020; đã thành lập Chi cục Bảo vệ môi trường tại các lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy, sông Đồng Nai; tổ chức thành công 03 hội nghị đánh giá tiến độ, kết quả triển khai Đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhìn chung, việc triển khai thực hiện các Đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông năm 2014 đã có những chuyển biến tích cực; chất lượng môi trường nước tại các sông, kênh, rạch tại một số đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai), thành phố Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương) đã được cải thiện Hệ thống cơ chế, chính sách về bảo vệ môi trường lưu vực sông đã được bổ sung và dần hoàn thiện từ Trung ương xuống địa phương; các văn bản quy phạm pháp luật về công tác bảo vệ môi trường nước lưu vực sông cũng được các tỉnh, thành phố quan tâm xây dựng

- Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đa dạng sinh học, Bộ

đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Đôn đốc các địa phương triển khai, thực hiện Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học và Quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học; hoàn thiện hồ sơ, trình Chính phủ ban hành 02 Nghị quyết về việc gia nhập Nghị định thư bổ sung Nagoya Kualar Lumpur về nghĩa vụ pháp lý và bồi thường trong khuôn khổ Nghị định thư

Trang 26

Cartagena về an toàn sinh học; gia nhập Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen trong khuôn khổ Công ước Đa dạng sinh học; nghiên cứu khả năng gia nhập Công ước về các loài hoang dã di cư (CMS), hợp tác đối tác về đường di cư của các loài chim (Flyway Partnership) Trình Ban thư ký Công ước Ramsar công nhận Khu Ramsar Côn Đảo và phối hợp với Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức thành công Lễ trao bằng; xây dựng các hồ sơ đề cử công nhận khu Ramsar Láng Sen và U Minh Thượng

- Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ

môi trường, đã tổ chức thanh tra, kiểm tra và phát hiện nhiều vụ vi phạm nghiêm

trọng pháp luật về bảo vệ môi trường; triển khai các đoàn thanh tra công tác bảo vệ môi trường tại 606 cơ sở; 02 đoàn kiểm tra về bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn 26 tỉnh, thành phố; xử phạt 184 cơ sở với tổng số tiền hơn 37 tỷ đồng, đồng thời tạm đình chỉ hoạt động đối với 37 cơ sở, bộ phận gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Tại các địa phương, công tác thanh tra, kiểm tra cũng được triển khai mạnh mẽ, qua đó nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cơ sở trong việc chấp hành quy định pháp luật về bảo vệ môi trường

Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về môi trường tại Việt Nam đã có nhiều chuyển biến, các địa phương đã quan tâm chỉ đạo, đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước Công tác thẩm định báo cáo ĐTM đã dần trở thành công cụ quản lý có hiệu quả, hầu hết các quy hoạch đều phải điều chỉnh để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, các dự án đầu tư đều phải tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường Phần lớn các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã triển khai các biện pháp xử lý ô nhiễm tạm thời, qua đó góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm, giảm các tác động xấu tới môi trường, giảm những bức xúc trong dư luận Bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn một số tồn tại bất cập như:

Hệ thống các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính ổn định không cao, tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá phổ biến, từ đó

Trang 27

làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế trong việc bảo vệ môi trường Chất lượng báo cáo ĐMC, ĐTM

và cam kết bảo vệ môi trường chưa cao; việc theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện báo cáo ĐTM và các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu; tỷ lệ kiểm tra xác nhận việc thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của

cả nước còn thấp Việc xử lý triệt để một số cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chưa đạt được tiến độ đề ra; một số địa phương thiếu quan tâm, đôn đốc việc xử lý các cơ sở thuộc phạm vi quản lý, tình trạng vi phạm về môi trường vẫn thường xuyên diễn ra xuyên suốt trên tất cả các địa phương Công tác quy hoạch phát triển bền vững đa dạng sinh học ở các cấp còn yếu; nhân lực cho công tác quản lý đa dạng sinh học ở hầu hết các địa phương còn thiếu;

cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học chưa cập nhật; việc du nhập các giống mới chưa được kiểm soát chặt chẽ,

- Quyền hạn pháp lí của các tổ chức bảo vệ môi trường, nhất là của lực lượng Cảnh sát môi trường chưa thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế hiệu quả hoạt động nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật

về bảo vệ môi trường Các cở sở pháp lí, chế tài xử phạt đối với các loại hành vi gây ô nhiễm môi trường và các loại tội phạm về môi trường vừa thiếu, vừa chưa đủ mạnh, dẫn đến hạn chế tác dụng giáo dục, phòng ngừa, răn đe đối với những hành

vi xâm hại môi trường Rất ít trường hợp gây ô nhiễm môi trường bị xử lí hình sự; còn các biện pháp xử lí khác như buộc phải di dời ra khỏi khu vực gây ô nhiễm, đóng cửa và đình chỉnh hoạt động của các cơ sở gây ô nhiễm môi trường cũng không được áp dụng nhiều, hoặc có áp dụng nhưng các cơ quan chức năng thiếu kiên quyết, doanh nghiệp trây ỳ nên cũng không có hiệu quả

- Các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đối với công tác bảo vệ môi trường, dẫn đến buông lỏng quản lí, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường Công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường của các cơ quan chức năng đối với các cơ sở sản xuất dường như vẫn mang tính hình thức, hiện tượng “phạt để tồn tại” còn phổ biến Công tác thẩm

Trang 28

định và đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư còn tồn tại nhiều bất cập và chưa được coi trọng đúng mức, thậm chí chỉ được tiến hành một cách hình thức, qua loa đại khái cho đủ thủ tục, dẫn đến chất lượng thẩm định và phê duyệt không cao

- Công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường trong xã hội còn hạn chế, dẫn đến chưa phát huy được ý thức tự giác, trách nhiệm của các tổ chức,

cá nhân, cộng đồng trong việc tham gia gìn giữ và bảo vệ môi trường Thứ năm, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế; phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác kiểm tra chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn Do đó, trong nhiều trường hợp, đoàn kiểm tra không thể phát hiện được những thủ đoạn tinh vi của doanh nghiệp thải các chất gây ô nhiễm ra môi trường

1.2.2 Tình hình quản lý môi trường tại tỉnh Bắc Giang

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tổ chức thực hiện tốt công tác quản lý môi trường trên địa bàn tỉnh, ban hành các văn bản pháp luật, các chủ trương chính sách, chế tài về lĩnh vực môi trường, củng cố và phát huy vai trò quản lý của mình trong công cuộc bảo vệ môi trường đất nước

Năm 2014, tỉnh Bắc Giang tăng cường kiểm tra, ngăn chặn, xử lý các hành vi gây ô nhiễm môi trường, không để xảy ra các sự cố về môi trường; tập trung kiểm tra, giám sát các đơn vị đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường chi tiết

Tỉnh đã xây dựng và tiến hành triển khai ngay Chương hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã triển khai thực hiện Nghị quyết 35/2013/NQ-CP của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong công tác bảo vệ môi trường; chuẩn bị các điều kiện tổ chức hội nghị bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu

Trang 29

Ngành Tài nguyên và Môi trường tỉnh phối hợp với các cơ quan có liên quan để tiến hành xem xét thực trạng công việc quản lý và xử lý phế thải khu vực nông thôn để đề xuất Chủ tịch UBND tỉnh những biện pháp quản lý trong thời gian tới Tỉnh đã triển khai xây dựng mô hình điểm xử lý rác thải phát sinh tại khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh xây dựng và tổ chức thực hiện Quy chế phối hợp công tác quản lý môi trường khu công nghiệp trên địa bàn; xây dựng báo cáo hiện trạng đa dạng sinh học của tỉnh Tỉnh đang rất nỗ lực thực hiện công tác thu gom và xử lý rác thải trong khu vực thành thị và nông thôn; đôn đốc chủ đầu tư các khu, cụm công nghiệp để đẩy nhanh tiến độ xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung…, từng bước để giảm thiểu ô nhiễm môi trường do các chất thải phát sinh từ các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ trong địa bàn thành phố, trong các khu cụm khu công nghiệp, làng nghề và khu dân cư tập trung lớn và các khu

đô thị (Sở TN&MT Bắc Giang, 2010)

Tuy nhiên, theo Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Giang: Hiện nay phần lớn các doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh còn chưa đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải, chất thải đạt tiêu chuẩn Nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh chưa thực hiện đúng và đủ các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, trong cam kết bảo vệ môi trường của đơn vị; thực hiện quan trắc về môi trường để báo cáo định kỳ cho

cơ quan thẩm quyền còn chưa đầy đủ; chưa thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền về tình hình phát sinh chất thải, nguồn thải của đơn vị Nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng nhiều lao động trên địa bàn tỉnh như may mặc, điện tử còn thiếu hệ thống xử lý nước thải tập trung nên đã xả thải trực tiếp ra môi trường, làm ô nhiễm môi trường sống của dân cư

Một số cơ sở sản xuất giấy, thực phẩm chế biến, các trang trại chăn nuôi tập trung trên địa bàn có nguồn nước thải sản xuất lớn ra môi trường nhưng chưa được xử lý triệt để Một số làng nghề như làng nghề giết mổ trâu bò Phúc Lâm (xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên), làng nghề nấu rượu xã Vân Hà (huyện Việt Yên) đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhưng chưa có đủ kinh phí để

Trang 30

triển khai hiệu quả các dự án khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường đã được tỉnh phê duyệt Một số điểm, mỏ khai thác khoáng sản và vật liệu xây dựng (than,

đá, vàng, cát, sỏi ) trên địa bàn tỉnh do khai thác tràn lan, không theo quy hoạch nên cũng đã gây ô nhiễm nặng nề đối với tài nguyên đất, nước và môi trường sống xung quanh (Sở TN&MT Bắc Giang, 2013)

Từ năm 2013 đến nay, Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Giang phối hợp với Đoàn thanh tra của Tổng cục Môi trường đã tiến hành thanh tra lĩnh vực bảo

vệ môi trường đối với 33 cơ sở trên địa bàn thành phố Qua đánh giá đã xử phạt hành chính đối với 26 cơ sở với tổng số tiền xử phạt trên 2,5 tỷ đồng Trong đó

đã xử phạt Công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang ở Khu công nghiệp Đình Trám tại huyện Việt Yên, TP Bắc Giang với số tiền trên 270 triệu đồng; xử phạt các Công ty TNHH Yoojin Vina và Công ty TNHH Italisa Việt Nam ở Khu công nghiệp Song Khê – Nội Hoàng, thành phố Bắc Giang với

số tiền trên 180 triệu đồng (Sở TN&MT Bắc Giang, 2014)

Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố đã thực hiện công tác kiểm tra về lĩnh vực bảo vệ môi trường theo kế hoạch đối với 47 cơ sở trên địa bàn, kiến nghị

xử lý vi phạm hành chính đối với 8 cơ sở với tổng số tiền phạt trên 510 triệu đồng; kiểm tra đột xuất đối với 55 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn tỉnh, kiến nghị xử lý vi phạm hành chính 4 cơ sở với tổng số tiền phạt trên

2012 - 2016

Trang 31

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống môi trường đất, nước, không khí và quản lý môi trường tại thị trấn Thanh Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2014 đến tháng 3/2015

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến hệ thống

quản lý môi trường tại thị trấn Thanh Sơn

- Đánh giá thực trạng môi trường thị trấn Thanh Sơn

- Đánh giá hệ thống quản lý môi trường (bao gồm hệ thống quản lý hành chính nhà nước, hệ thống chính sách, các biện pháp kỹ thuật của hệ thống quản

lý môi trường)

- Đề xuất giải pháp trong quản lý môi trường tại địa phương

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp

Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, môi trường và việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường từ các cơ quan chức năng tại địa bàn nghiên cứu

Số liệu thứ cấp được khai thác từ Báo cáo phát triển kinh tế của các bộ phận quản lý như Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND huyện, phòng Tài nguyên

và môi trường, UBND các xã Ngoài ra, số liệu còn được khai thác từ thư viện các cấp, các phương tiện thông tin khác như báo chí, mạng internet

Trang 32

2.4.2 Phương pháp lấy mẫu và phân tích chất lượng nước

● Phương pháp lấy mẫu nước mặt

Mẫu nước mặt được lấy tuân thủ theo TCVN 6663-6:2008 Chất lượng nước

Các mẫu nước được lấy ở các điểm lấy mẫu trong trạng thái tự nhiên, không khuấy trộn Lấy mẫu đơn và lấy ở độ sâu cách mặt nước 30 – 50 cm Các mẫu nước sau khi lấy được bảo quản tức thời trong thùng đá (nhiệt độ khoảng 4oC) trong suốt thời gian vận chuyển về phòng thí nghiệm (PTN) Tại PTN, các dụng cụ chứa mẫu được lưu trong tủ lạnh cho đến khi phân tích Bảo quản mẫu và vận chuyển mẫu về phòng thí nghiệm được thực hiện nghiêm ngặt theo đúng TCVN 6663-3:2008 Chất lượng nước

Thời gian lấy mẫu: Ngày 21/5/2014

Do đặc điểm điều kiện địa hình của thị trấn Thanh Sơn nên chúng tôi chỉ lựa chọn hai nguồn nước mặt quan trọng nhất là suối Đồng Rì và Đồng Thanh để lấy mẫu nước mặt Hai con suối này có vai trò cung cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp và cũng là nơi tiếp nhận nước thải từ cá nguồn khác nhau trên địa bàn nghiên cứu Tổng số có 3 điểm lấy mẫu với chi tiết như sau:

1. SĐ-NM01: suối Đồng Rì, thôn Nòn, thị trấn Thanh Sơn

2. SĐ-NM02: suối Đồng Thanh, thôn Đồng Thanh, thị trấn Thanh Sơn

3. SĐ-NM03: suối Đồng Rì, thôn Đồng Rì, thị trấn Thanh Sơn (khu vực gần với nhà máy Nhiệt điện Đồng Rì nhất)

Vị trí cụ thể của các điểm này được thể hiện trong Hình 2.1

● Phương pháp lấy mẫu nước ngầm

Thời gian lấy mẫu: Ngày 21/5/2014

Mẫu nước ngầm được lấy tuân thủ theo TCVN 6663-11:2011 Chất lượng nước

Thị trấn Thanh Sơn đã có nước sạch từ nguồn cung cấp nước máy, tuy nhiên chủ yếu các hộ gia đình vẫn sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ giếng khoan của mình Do đó, lựa chọn 3 điểm lấy mẫu tại 3 hộ gia đình sử dụng nước giếng

Trang 33

khoan để phân tích mẫu nước ngầm

1. SĐ-NN01: Lấy tại giếng khơi hộ gia đình ông Hà Văn Giang, thôn Đồng Rì, thị trấn Thanh Sơn - giáp điểm cuối nguồn thải Trạm Y tế thị trấn Thanh Sơn (nơi tập trung khám chữa bệnh cho 6 xã khu vực lân cận)

2. SĐ-NN02: Lấy tại giếng khơi hộ gia đình ông Đỗ Xuân Ái, thôn Đồng Thanh, thị trấn Thanh Sơn

3. SĐ-NN03: Lấy tại giếng khơi hộ gia đình ông Ngô Văn Ngà, thôn Nòn, thị trấn Thanh Sơn

(Vị trí cụ thể của các điểm này được thể hiện trong Hình 2.1)

Bảng 2.1 Phương pháp phân tích chất lượng nước

Trang 34

STT Thông số Phương pháp phân

2.4.3 Phương pháp lấy mẫu đất và phân tích đất

Mẫu đất được lấy tuân thủ theo TCVN 5297-1995, TCVN 7538-2:2005 Chất lượng đất

Thời gian lấy mẫu: Ngày 21/5/2014

Mẫu đất được lấy tại 2 vị trí đất sản xuất nông nghiệp:

1. SĐ-Đ01: Lấy tại cánh đồng Tám Sào, thôn Nòn, thị trấn Thanh Sơn

Trang 35

2. SĐ-Đ02: Lấy tại cánh đồng Làng Chẽ, thôn Đồng Thanh, thị trấn Thanh Sơn

Ví trí lấy mẫu đất xem Hình 2.1

Bảng 2.2 Phương pháp phân tích đất

1 Dư lượng thuốc BVTV

nhóm Clo hữu cơ QCVN 15: 2008/BTNMT

Phương pháp sắc ký với Detector bẫy Electron Aldrin (C12H8Cl6) QCVN 15: 2008/BTNMT

Trang 36

2.4.4 Phương pháp phân tích ô nhiễm không khí

Mẫu không khí được lấy tuân thủ theo TCVN 5971-1995, TCVN

5972-1995, TCVN 6137-2009, TCVN 6152:1996

Thời gian lấy mẫu: Ngày 21/5/2014

Mẫu không khí được lấy tại 3 vị trí:

1. SĐ-KK01: Lấy ngoài cổng của Nhà máy Nhiệt điện Sơn Động

2. SĐ-KK02: Lấy tại ngã ba thị trấn Thanh Sơn, đường đi xã Tuấn Mậu

3. SĐ-KK03: Lấy tại vị trí trung tâm thị trấn Thanh Sơn

(Vị trí cụ thể của các điểm này được thể hiện trong Hình 2.1)

Bảng 2.3 Phương pháp phân tích không khí

1 Nhiệt độ Đo nhanh

3 Tốc độ gió Đo nhanh

4 SO2 TCVN 5971:1995 Phương pháp trắc quan dùng thorin

Trang 37

Hình 2.1: Sơ đồ vị trí lấy mẫu nước mặt, nước ngầm, đất

- Các thông số chất lượng nước mặt được so sánh với QCVN 08:2008;

- Các thông số chất lượng nước ngầm được so sánh với QCVN 09:2008;

- Các thông số dư lượng thuốc BVTV trong đất được so sánh với QCVN 15:2008;

- Kim loại nặng trong đất được so sánh với QCVN 03:2008;

- Bụi trong không khí được so sánh với QCVN 05:2013;

- Tiến ồn được so sánh với QCVN 26:2010;

Trang 38

Những công cụ và phương pháp cụ thể theo các nội dung nghiên cứu được trình bày ở bảng sau:

Bảng 2.4 Khung logic nội dung và phương pháp nghiên cứu

TT Nội dung Phương pháp Số liệu Kết quả dự

- Báo cáo phát triển kinh tế xã hội hàng năm của huyện, tỉnh

- Báo cáo thống kê

- Bản đồ của thị trấn Thanh Sơn

Điều kiện tự nhiên, kinh tế

xã hội của thị trấn Thanh Sơn

- Báo cáo môi trường của Sở

- Lấy mẫu phân tích mẫu nước, đất, không khí năm 2014

Thực trạng môi trường đất, nước, không khí

hiệu quả của các

công cụ quản lý môi

trường

- Phỏng vấn người cấp tin chính

- Phân tích hệ thống

- Sơ đồ VENN

- Rà soát chính sách, đánh giá hiệu quả thực thi

- Báo cáo của Sở, Phòng TNMT

- Thông tin cung cấp từ cán bộ

Sở, Phòng TNMT và các đối tượng có liên quan trong hệ thống quản lý môi trường

- Cơ cấu tổ chức

- Thể chế chính sách

- Cơ chế tài chính

- Hoạt động giám sát, quan trắc

trong quản lý môi

trường tại địa

phương

- Matrận SWOT -DPSIR

framework (EEA)

Phỏng vấn nhóm cán bộ và đại diện người dân địa phương

Thách thức và giải pháp quản

lý môi trường

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thị trấn Thanh Sơn

3.1.1 Điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Thanh Sơn là thị trấn miền núi cách thị trấn An Châu 24 km về phía Tây Nam, có đường tỉnh lộ 293 và tỉnh lộ 291 chạy qua, là trung tâm của 07 xã khu vực Đông Nam của huyện Sơn Động, có điều kiện giao thông đường bộ thuận tiện, nơi trung chuyển, hàng hoá đi các vùng lân cận trong huyện và tỉnh Diện tích tự nhiên của thị trấn là 2066,26 ha Thị trấn có địa giới hành chính tiếp giáp với:

Phía Đông giáp: Xã Thanh Luận, huyện Sơn Động

Phía Nam giáp: Xã Thanh Luận, huyện Sơn Động

Phía Tây, Tây Bắc giáp: Xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động

Phía Bắc giáp: Xã Tuấn Đạo, huyện Sơn Động

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Thanh Sơn có địa hình đặc trưng của miền núi bị chia cắt mạnh, hướng dốc từ Bắc xuống Nam cao hơn các khu vực xung quanh, độ cao thấp theo địa hình nhiều biến đổi lớn mang đặc thù của khu vực miền núi Bắc Bộ Địa hình không đồng đều, đồi núi phân bố rộng khắp trong phạm vi toàn thị trấn Do đặc điểm của địa hình chia cắt phức tạp, diện tích đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu là ruộng bậc thang manh mún nhỏ hẹp nằm ven tuyến trục đường tỉnh

lộ 293 và 291 và nằm xen kẽ ở các thung lũng núi, việc bố trí các cây trồng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt cây trồng không đủ nước vào mùa khô, năng suất cây trồng chưa cao, cơ cấu cây trồng đơn điệu chủ yếu là : cấy lúa vụ, sắn, đậu tương, cây ăn quả

Căn cứ vào tính chất của đất, thị trấn Thanh Sơn có các loại đất chính sau: + Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét phân bổ trên các vùng đồi núi, độ dốc tương đối lớn

+ Đất vàng nhạt trên đá cát và đá dăm cuội kết phân bố ở các đồi núi cao,

độ dốc lớn

+ Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước

Trang 40

+ Đất phù sa ngòi, suối nằm dọc theo các triền suối

+ Đất bạc màu trên đất phù sa cổ

3.1.1.3 Khí hậu

Nằm trong khu vực miền núi Đông Bắc, do đó Thị trấn Thanh Sơn mang đặc trưng của khí hậu vùng lục địa miền núi có hai mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,5° Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng

7, nhiêt độ trung bình mùa hè 25-33° ngày có nhiệt độ cao nhất 34-35,5° Nhiệt

độ thấp nhất vào tháng 12 và tháng 1, nhiệt độ trung bình là 23°

Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 Vào mùa mưa, lượng mưa chiếm khoảng 85% lượng mưa cả năm và tập trung chủ yếu vào các tháng 7 và 8 Lượng mưa hàng năm trung bình 1700 mm -1800 mm, tháng có lượng mưa lớn nhất lên tới

900 ram, tháng có lượng mưa thấp nhất 17-24 mm Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau

- Tổng giờ nắng trung bình hàng năm là 1.626 giờ, số giờ nắng tập trung chủ yếu vào mùa hè 6 - 7 giờ/ngày, trung bình số ngày nắng trong 1 tháng là 2 ngày

- Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.655 mm - 2.100 mm, tháng có lượng mưa lớn nhất lên tới 900 mm, tháng có lượng mưa nhỏ nhất chỉ đạt 17 mm - 24 mm

- Có hai hướng chính là gió mùa đông Bắc và gió mùa đông Nam Gió mùa đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, gió mùa đông Nam thổi từ tháng

4 đến tháng 10 mang theo hơi nước và không khí ẩm Ngoài ra thị trấn còn chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô, nóng và thổi vào các tháng 5,6,7

- Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 64,5% vào các tháng 1,2 độ ẩm có thể đạt tới 85% - 90%, độ ẩm thấp nhất vào các tháng có thể xuống tới 56% - 57%

- Lượng nước bốc hơi trung bình hàng năm là 960 mm, cao nhất vào tháng

Ngày đăng: 19/09/2015, 13:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ Bộ máy tổ chức công tác quản lý môi trường ở Việt Nam - đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại thị trấn thanh sơn, huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Hình 1.1 Sơ đồ Bộ máy tổ chức công tác quản lý môi trường ở Việt Nam (Trang 20)
Bảng 2.2. Phương pháp phân tích đất - đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại thị trấn thanh sơn, huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Bảng 2.2. Phương pháp phân tích đất (Trang 35)
Bảng 2.3. Phương pháp phân tích không khí - đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại thị trấn thanh sơn, huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Bảng 2.3. Phương pháp phân tích không khí (Trang 36)
Hình 2.1: Sơ đồ vị trí lấy mẫu nước mặt, nước ngầm, đất - đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại thị trấn thanh sơn, huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí lấy mẫu nước mặt, nước ngầm, đất (Trang 37)
Bảng 2.4. Khung logic nội dung và phương pháp nghiên cứu - đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại thị trấn thanh sơn, huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Bảng 2.4. Khung logic nội dung và phương pháp nghiên cứu (Trang 38)
Bảng 3.1 : Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại thị trấn Thanh Sơn, - đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại thị trấn thanh sơn, huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Bảng 3.1 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại thị trấn Thanh Sơn, (Trang 49)
Bảng 3.2: Kết quả phân tích nước ngầm tại thị trấn Thanh Sơn, - đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại thị trấn thanh sơn, huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Bảng 3.2 Kết quả phân tích nước ngầm tại thị trấn Thanh Sơn, (Trang 51)
Bảng 3.3. Kết quả phân tích môi trường đất tại thị trấn Thanh Sơn, - đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại thị trấn thanh sơn, huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Bảng 3.3. Kết quả phân tích môi trường đất tại thị trấn Thanh Sơn, (Trang 54)
Bảng 3.4: Kết quả phân tích không khí xung quanh thị trấn Thanh Sơn, - đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại thị trấn thanh sơn, huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Bảng 3.4 Kết quả phân tích không khí xung quanh thị trấn Thanh Sơn, (Trang 56)
Sơ đồ VENN được xây dựng từ họp nhóm tại địa phương với sự tham gia  của 5 thành viên, đại diện cho cán bộ và người dân sống trên địa bàn nghiên cứu - đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại thị trấn thanh sơn, huyện sơn động, tỉnh bắc giang
c xây dựng từ họp nhóm tại địa phương với sự tham gia của 5 thành viên, đại diện cho cán bộ và người dân sống trên địa bàn nghiên cứu (Trang 59)
Bảng 3.5. Sơ đồ SWOT phân tích hệ thống quản lý môi trường - đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại thị trấn thanh sơn, huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Bảng 3.5. Sơ đồ SWOT phân tích hệ thống quản lý môi trường (Trang 64)
Hình 3.2. Sơ đồ mô hình DRSIR đánh giá hiện trạng môi trường - đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại thị trấn thanh sơn, huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Hình 3.2. Sơ đồ mô hình DRSIR đánh giá hiện trạng môi trường (Trang 66)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm