DANH MỤC BẢNG Bảng 1.3 Tình hình quản lý, khai thác vầ vận hành các công trình cấp Bảng 3.1 Thông tin về các công trình cấp nước tập trung nông thôn trên Bảng 3.2 Mô hình quản lý các côn
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HÀ NỘI – 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HOÀNG THÁI ĐẠI
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, các số liệu điều tra và những kết luận nghiên cứu được trình bày trong Luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các số liệu, thông tin được trích dẫn trong Luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, tháng 4 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sỹ với đề tài: “Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng các
công trình cấp nước tập trung tại huyện Bình Lục – tỉnh Hà Nam” được hoàn
thành dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Hoàng Thái Đại, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Tác giả chân thành cám ơn các thầy, cô giáo Khoa Môi trường, Ban giám hiệu Học Viện Nông nghiệp Việt Nam và các thầy, cô đã giảng dạy chương trình Cao học mà tôi được học tập
Bên cạnh Nhà trường, tôi luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ, động viên khuyến khích và góp ý kiến của Ban Lãnh đạo và đồng nghiệp tại Tổng cục Thuỷ lợi, Bộ Nông nghiệp và PTNT và các cơ quan có liên quan; sự giúp đỡ nhiệt tình của Trung tâm Nước sạch và VSMTNT tỉnh Hà Nam
Cảm ơn gia đình đã hỗ trợ và động viên trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn
Một lần nữa Tác giả xin trân trọng cám ơn tất cả sự giúp đỡ quí báu đó
Hà Nội, tháng 4 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Thoa
Trang 51.1 Nhu cầu dùng nước ở vùng nông thôn Việt Nam 3 1.2 Tổng quan tình hình cung cấp nước sạch nông thôn ở Việt Nam 4 1.2.1 Đánh giá điều kiện nguồn nước ảnh hưởng đến việc cấp nước sạch 4 1.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội tác động đến việc cấp nước sạch 8 1.3 Hiện trạng quản lý các công trình cấp nước tập trung 11 1.3.1 Các mô hình phân cấp quản lý công trình cấp nước tập trung 11
Mô hình doanh nghiệp là mô hình có tính chuyên nghiệp cao, phù hợp với chủ trương xã hội hoá hoạt động cấp nước, có phương thức hoạt động mang tính dịch vụ hàng hoá, tạo sự bình đẳng đối với đơn vị dịch
1.3.2 Kết quả thực hiện cấp nước sạch nông thôn ở Việt Nam 13 1.3.3 Tình hình quản lý vận hành các công trình cấp nước tập trung 14 1.3.4 Nguyên nhân ảnh hưởng đến tới tính bền vững của các công trình
1.4 Tình hình cấp nước sinh hoạt nông thôn tại Hà Nam 17
Trang 61.4.1 Tình hình sử dụng nước sinh hoạt tại Hà Nam 17 1.4.2 Kết quả thực hiện chương trình cấp nước sinh hoạt tại Hà Nam đến
1.4.3 Tình hình quản lý vận hành các công trình cấp nước tập trung trên
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý và sử dụng các công trình cấp nước tập trung trên địa
2.3.2 Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng các công trình cấp nước tập
2.3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng các công trình cấp nước tập trung huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam 20
2.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả quản lý và sử dụng các công trình
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội có ảnh hưởng đến công tác quản lý sau đầu
tư các công trình cấp nước tập trung nông thôn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam 26
3.1.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội đến việc cấp
Trang 73.2 Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng các công trình cấp nước tập trung
3.3 Dự báo nhu cầu sử dụng nước của người dân huyện Bình Lục 48 3.4 Nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng các công trình cấp nước 48
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.3 Tình hình quản lý, khai thác vầ vận hành các công trình cấp
Bảng 3.1 Thông tin về các công trình cấp nước tập trung nông thôn trên
Bảng 3.2 Mô hình quản lý các công trình cấp nước tập trung nông thôn 31
Bảng 3.4 Chất lượng nước cấp và chất lượng nước tại các hộ gia đình sử
Bảng 3.5 Chất lượng nước cấp và chất lượng nước tại các hộ gia đình sử
Bảng 3.6 Chất lượng nước cấp và chất lượng nước tại các hộ gia đình sử
Bảng 3.7 Chất lượng nước cấp và chất lượng nước tại các hộ gia đình sử
Bảng 3.8 Chất lượng nước cấp và chất lượng nước tại các hộ gia đình sử
Bảng 3.9 Chất lượng nước cấp và chất lượng nước tại các hộ gia đình sử
Bảng 3.10 Tổng hợp kết quả đánh giá mức độ bền vững của các công trình
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Công nghệ sử dụng tại các công trình cấp nước thị trấn Bình Mỹ 41
Hình 3.3 Sơ đồ công nghệ sử dụng tại công trình cấp nước số 0, số 1 xã
Hình 3.4 Công nghệ sử dụng tại các công trình cấp nước số 1, số 2 huyện
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển nông thôn và bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay Trong những năm qua, cung cấp nước sinh hoạt nông thôn nhận được sự quan tâm lớn của Nhà nước cùng sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và sự đóng góp của người dân Theo báo cáo kết quả thực hiện Chương trình MTQG Nước sạch & VSMTNT đến cuối năm 2013 cả nước có 83% dân số được tiếp cận với nước hợp vệ sinh, trong đó tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước từ các công trình cấp nước tập trung chỉ khoảng 40%, phần còn lại chủ yếu từ các công trình nhỏ lẻ, hộ gia đình Để đạt được mục tiêu Chiến lược Quốc gia Nước sạch & VSMTNT đến 2020 “ Tất cả dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc gia với số lượng tối thiểu 60 lít/người-ngày”, đòi hỏi Việt Nam phải có nhiều nỗ lực hơn nữa
Huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, có địa hình trũng Nước sinh hoạt của người dân được lấy từ 3 nguồn nước là nước mưa, nước ao hồ, sông lạch tự nhiên, nước giếng làng (từ nước ngầm tầng nông) Từ năm
2000 đến nay, nhờ sự hỗ trợ của Chính phủ, các nhà tài trợ và sự ưu tiên trong chính sách đầu tư của địa phương mà nhiều công trình cấp nước tập trung đã và đang được xây dựng nhằm phục vụ tốt hơn cuộc sống của người dân Tuy nhiên, hiện nay, một số công trình được xây dựng đã xuống cấp, hiệu quả hoạt động không cao
Trước thực trạng đó, thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng các công trình cấp nước tập trung tại huyện Bình Lục – tỉnh Hà Nam” là việc cần thiết
nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng nước cấp và bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này
Trang 123 Yêu cầu của đề tài
Các số liệu, tài liệu điều tra, thu thập được phải chính xác, phản ảnh trung thực hiện trạng quản lý và sử dụng các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn nghiên cứu
Các giải pháp đề xuất phải xuất phát từ kết quả nghiên cứu, phù hợp với thực tiễn vùng nghiên cứu, có tính khả thi
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Nhu cầu dùng nước ở vùng nông thôn Việt Nam
Theo số liệu thống kê của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường, Việt Nam hiện có khoảng 17,2 triệu người (tương đương 21,5% dân số) đang sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ giếng khoang, chưa được kiểm nghiệm hay qua xử lý Tuy nhiên, chỉ có 70% dân cư đô thị Việt Nam được cấp nước sạch còn người dân nông thôn hay các vùng miền xa xôi vẫn phải đến các vùng sâu vùng xa để tìm nguồn nước sạch Theo điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2010-2011, ở khu nông thôn, tỷ lệ người dân được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt tỷ
lệ 75%, tức là 25% người dân nông thôn vẫn đang phải hàng ngày sống chung với những nguồn nước không an toàn
Theo thống kê của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên - Môi trường, trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém Cũng theo đánh giá tổng hợp của Bộ, hàng năm gần 200.000 người mắc bệnh ung thư mới phát hiện mà một trong những nguyên nhân chính bắt nguồn từ ô nhiễm môi trường nước Mỗi năm có 4 tỷ ca mắc bệnh tiêu chảy trên toàn thế giới,1,5 triệu ca tử vong do bệnh tiêu chảy mỗi năm vì nước không an toàn, vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân kém.10% dân số ở các nước đang phát triển bị ảnh hưởng bởi giun sán; 6 triệu người bị mù do bệnh đau mắt hột, một bệnh phổ biến ở các cộng đồng nông thôn nghèo thiếu phương tiện vệ sinh cá nhân cơ bản, thiếu nước sạch và điều kiện vệ sinh môi trường; 200 triệu người trên thế giới bị ảnh hưởng do bệnh sán máng, một căn bệnh cũng phổ biến do điều kiện vệ sinh thấp kém gây ra Gần 1/10 gánh nặng bệnh tật trên toàn thế giới có thể được ngăn ngừa bằng cách cải thiện cấp nước sạch, vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân và quản lý nguồn nước
Việt Nam hiện thuộc nhóm quốc gia “thiếu nước” do lượng nước mặt bình
quân đầu người mỗi năm chỉ đạt 3.840m3, thấp hơn chỉ tiêu 4.000m3/người/năm của Hội tài nguyên nước quốc tế (IWRA) Những con số thống kê trên cho thấy sự ô
Trang 14nhiễm và khan hiếm nguồn nước đang ở tình trạng báo động và nhu cầu dùng nước sạch của người dân ngày càng cao
1.2 Tổng quan tình hình cung cấp nước sạch nông thôn ở Việt Nam
1.2.1 Đánh giá điều kiện nguồn nước ảnh hưởng đến việc cấp nước sạch
Theo Đánh giá môi trường chiến lược Cấp nước sạch và VSMTNT giai đoạn 2006-2010: Việt Nam có tổng diện tích 331.000 km2 trên đất liền và 1 triệu km2 diện tích lãnh hải nằm ở vĩ độ 23022 đến 8030 Bắc và kinh độ 102010 đến 109021 Đông, nằm ở Đông Nam Á với chiều dài biên giới đất liền hơn 6780km và 3260km
bờ biển cùng hàng nghìn đảo lớn nhỏ thuộc quần đảo Trường sa, Hoàng sa, Bạch Long vĩ với các mạng lưới sông lớn như như sông Hồng, sông Mê Công, sông
Mã, sông Cả
Nhận xét: Với vị trí đặc biệt đó, nguồn nước tương đối phong phú để phục vụ cho cấp nước sạch Nguồn nước chủ yếu được dùng để cấp nước sinh hoạt bao gồm nguồn nước mưa, nước mặt và nước ngầm
1.2.1.1 Nước mưa
- Lượng mưa hàng năm của Việt Nam tương đối lớn, trung bình từ 1.800mm đến 2.000 mm song phân bố không đều cả về không gian và thời gian và tạo nên những vùng có lượng mưa lớn xen kẽ các vùng có lượng mưa nhỏ trong phạm vi toàn lãnh thổ
- Theo các tài liệu khí tượng thì nhìn chung, lượng mưa năm trung bình năm
ở Việt Nam biến đổi trong phạm vi khá lớn, từ 600 ÷ 800mm ở vùng ven biển miền Trung (Bình Thuận, Ninh Thuận) đến trên 4.000 ÷ 5.000mm ở các vùng Bắc Quang, Nam Châu lãnh, Trà Mi - Ba Tơ Phần lớn lãnh thổ Bắc Bộ, Tây Nguyên
và Nam Bộ có lượng mưa năm trong khoảng 1.600mm ÷ 2.400mm, trong đó:
+ Đồng bằng Bắc Bộ: 1.600 ÷ 1.800mm
+ Đồng bằng Nam Bộ: 1.400 ÷ 2.800mm
- Một đặc điểm của mưa là sự phân bố không đều theo thời gian trong năm, chia 2 mùa rõ rệt phụ thuộc vào 2 mùa gió chính, đó là mùa mưa và mùa khô (mùa mưa ít) Hai mùa này khác nhau về lượng mưa, thời gian xuất hiện và kết thúc mưa, thời gian mưa và độ ổn định tương đối của mưa
Trang 15- Mưa trong mùa khô chủ yếu là mưa phùn, lượng mưa không đáng kể vì vậy không có ý nghĩa với cung cấp nước Mưa lớn thường xuyên có khả năng xảy ra trong mùa mưa với cường độ mạnh
Nhận xét: Mùa mưa kéo dài khoảng 4 ÷ 6 tháng ở Bắc Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ Ở phía đông Trường Sơn, mùa mưa rất ngắn, chỉ kéo dài khoảng 3 tháng
Vì vậy, việc sử dụng nguồn nước mưa để cấp nước cho ăn uống là có thể được nhưng để mục đích sinh hoạt khác thì không thể thỏa mãn đặc biệt trong mùa khô
Do vậy cần có các nguồn nước khác sử dụng kết hợp, bổ sung
1.2.1.2 Nước mặt
-Theo Cục bảo vệ môi trường (2005) : Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới
có lượng mưa lớn nên nguồn nước mặt rất phong phú Do cấu trúc địa chất, địa hình
ở 3/4 diện tích toàn lãnh thổ là đồi núi đã tạo nên mạng lưới sông suối dày đặc với mật độ sông suối tính theo những dòng chảy thường xuyên là 0,60km/km2 trung bình trên toàn lãnh thổ Tuy nhiên, mật độ sông suối có sự dao động lớn giữa các vùng, trong đó mật độ sông suối nhỏ nhất là 0,3 km/km2 và lớn nhất là 4 km/km2
- Về chất lượng nước mặt, nhìn chung không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng nước phục vụ cho ăn uống về khía cạnh độ trong, hàm lượng hữu cơ và vi sinh Vì vậy trước khi sử dụng cần có phương pháp xử lý nước Ở vùng cửa sông, nước biển theo thuỷ triều xâm nhập vào sông làm cho nước sông bị nhiễm mặn Vùng này không sử dụng nước mặt cho mục đích ăn uống và sinh hoạt được
Nhận xét: Từ những kết quả trên cho thấy, nguồn tài nguyên nước mặt tương đối phong phú nếu được xử lý tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng nguồn nước tại chỗ cho các mục đích nói chung và ăn uống sinh hoạt nói riêng
- Theo các tác giả của Tiểu ban soạn thảo kế hoạch tổng thể cấp nước sinh
Trang 16hoạt nông thôn đến năm 2000, tổng trữ lượng động thiên nhiên của nước ngầm trên toàn Việt Nam là 1.513,5 m3/s (không kể phần hải đảo) và phân bố trên miền địa chất thủy văn theo (Bảng 1.2 dưới đây)
Bảng 1.1 Trữ lượng động thiên nhiên nước ngầm
Miền địa chất, thủy văn Trữ lượng động
(Nguồn: Cục Quản lý Tài nguyên Nước, 2000)
Với từng loại đất đá có đặc điểm thành tạo và điều kiện cung cấp nên mức độ giàu nước và khả năng khai thác cũng khác nhau Đặc trưng này được thể hiện qua
mô đun dòng chảy ngầm
3.147 2 ÷20
20.753 2 ÷ 20
6.182 Tây Bắc Bộ 2÷7
14.500 Bắc Trung Bộ 2÷20
Nam Bộ 0,05÷0,005
54.000
(Nguồn: Cục quản lý Tài nguyên Nước, 2000)
Trang 17- Về chất lượng nước với những công trình khai thác nước với chiều sâu tương đối lớn có thể sử dụng trực tiếp cho sinh hoạt không cần phải xử lý Trừ những vùng nước ngầm bị nhiễm mặn không đáp ứng nhu cầu cho mục đích ăn uống, còn lại các thành phần hóa học khác phần lớn tương đối phù hợp với cơ thể con người Nhiều nơi trong nước ngầm, hàm lượng sắt thường lớn hơn giới hạn cho phép (Fe > 0,5 mg/1) nên cần xử lý nước trước khi sử dụng
1.2.1.4 Đánh giá về ảnh hưởng của nguồn nước đến việc cấp nước sạch
- Theo Cục bảo vệ môi trường (2005) : Lượng mưa hàng năm của Việt Nam thuộc loại tương đối lớn (1.800mm - 2.000mm) với chất lượng nước tốt để phục vụ cho cấp nước sinh hoạt Song do phân bố không đều theo không gian và thời gian Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 11 chiếm từ 70% đến 80%, mùa kiệt từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau lượng mưa chỉ chiếm khoảng 20% - 30% Do vậy, cần có các giải pháp thu hứng nước mưa, xây dựng các công trình thủy lợi (Hồ chứa, đập dâng )
để kết hợp việc thu giữ nước cấp nước sinh hoạt kết hợp tưới tiêu vào mùa khô
- Lượng mưa cao tạo thuận lợi cho mạng sông suối phát triển với mật độ cao (thay đổi từ 0,15km/km2 đến hơn 2km/km2) với tổng lưu lượng dòng chảy rất lớn Chỉ tính 10 con sông lớn nhất đã có lưu lượng dòng chảy của sông có thể cung cấp khoảng 12m3/người-ngày so với nhu cầu sử dụng nước cho mục đích sinh hoạt trung bình cao là 0,1 m3/người/ngày
- Chất lượng nước mặt nhìn chung biến đổi mạnh, dễ bị ô nhiễm nên sử dụng cho mục đích ăn uống và sinh hoạt cần thiết phải có biện pháp xử lý nước và không kinh tế Ở nhiều vùng nguồn nước mặt bị xâm nhập mặn (khoảng 100 km ở đồng bằng sông Cửu Long và 40 km ở đồng bằng sông Hồng), bị nhiễm hóa chất, chất thải công nghiệp và sinh hoạt nặng nề không sử dụng được để cấp nước Ngoài ra lũ lụt gây nhiều khó khăn cho việc khai thác nước mặt ở vùng trũng đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long và ven biển Bắc trung bộ
- Trên toàn lãnh thổ, khoảng trên 75% là vùng núi và trung du được cấu thành từ các loại đá cứng và 25% là vùng đồng bằng, ven biển được thành tạo từ các loại bồi tích bở rời của sông và biển (Cục bảo vệ môi trường, 2005)
- Nước ngầm tồn tại trong các trầm tích bở rời là nguồn nước chủ yếu, phân bố
Trang 18khá đồng đều và dễ khai thác Nước ngầm trong các loại đá cứng có trữ lượng hạn chế hơn, phân bố rất không đồng đều theo không gian và khó khăn trong khai thác
- Chất lượng nước ngầm tương đối tốt và phù hợp với nhu cầu sinh hoạt của con người trừ một số vấn đề sau đây ở những phạm vi nhất định:
+ Nhiễm mặn chủ yếu ở phần ven biển đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long
+ Hàm lượng sắt và mangan cao nên cần phải xử lý trước khi sử dụng Hiện tượng này phổ biến ở hầu hết 2 đồng bằng (sông Hồng và sông Cửu Long) tuy nhiên các công nghệ xử lý tương đối đơn giản, không quá tốn kém
+ Ảnh hưởng của việc sử dụng ngày càng gia tăng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu
Kết luận chung: Tài nguyên nước của Việt Nam có khả năng thỏa mãn nhu cầu ăn uống và sinh hoạt của người dân nông thôn nói riêng và toàn quốc nói chung nếu được xử lý tốt Tuy nhiên do sự phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian cũng như những vấn đề về chất lượng nước nên cần phải khai thác sử dụng một cách hợp lý để đạt hiệu quả về kinh tế - kỹ thuật và không làm suy kiệt và
ô nhiễm nguồn nước
1.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội tác động đến việc cấp nước sạch
1.2.2.1 Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
- Nước sinh hoạt là một trong những nhu cầu cơ bản thiết yếu trong đời sống hàng ngày của mọi người và được nhiều nước trên thế giới quan tâm Nó được xem
là một trong những chỉ tiêu để đánh giá chất lượng cuộc sống của con người Với ý nghĩa quan trọng đó, ngay từ những năm 1960, Đảng và Chính phủ đã phát động phong trào toàn dân tham gia xây dựng 3 công trình “Giếng nước, nhà tiêu, nhà tắm” do người dân tự bỏ kinh phí để đầu tư với các loại hình công trình đơn giản
- Theo WB (2012): Bắt đầu từ năm 1982, chương trình do UNICEF tài trợ triển khai có tính thử nghiệm về mô hình cấp nước đối với hộ dân ở một số vùng kinh tế mới tại 3 tỉnh Minh Hải (Bạc Liêu và Cà Mau), Kiên Giang và Long An Sau đó, dự án phát triển dần và mở rộng trên phạm vi cả nước vào năm 1987 Từ đó cho đến năm 1994, Chương trình nước sạch nông thôn chủ yếu làm nhiệm vụ tiếp
Trang 19nhận viện trợ của UNICEF để xây dựng các công trình cấp nước với mục tiêu là giúp đỡ người nghèo, phụ nữ và trẻ em ở các vùng sâu, vùng xa và vùng miền núi khó khăn Các loại hình công trình cấp nước giai đoạn này nhìn chung có qui mô nhỏ, kỹ thuật công nghệ đơn giản, giá thành thấp Việc quản lý vận hành bảo dưỡng các công trình cũng đơn giản nhất là đối với các công trình cấp nước tự chảy
- Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế và quá trình đô thị hóa - hiện đại hóa nông thôn Việt Nam, nhiều cụm dân cư tập trung, nhiều thị trấn thị tứ mới được hình thành làm tăng nhanh nhu cầu cung cấp nước sinh hoạt Do đó phương thức cung cấp nước sinh hoạt cũng đòi hỏi phải có sự thay đổi cho phù hợp với thời kỳ CNH - HĐH đất nước
- Để đáp ứng yêu cầu trên Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị 200/TTg ngày 29/4/1994 về đảm bảo nước sạch cho người dân và phê duyệt Chương trình MTQG tại Quyết định số 237/1998/QĐ-TTg ngày 03/12/1998 và Chiến lược Quốc gia Nước sạch Việt Nam đến năm 2020 tại Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg ngày 20/8/2000 Từ đó đến nay, Chương trình thực sự có sự biến đối cả về lượng và chất Việc thực hiện mục tiêu của Chương trình cũng là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện vấn đề xóa đói giảm nghèo đang được Chính phủ coi là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Chính phủ đã xây dựng và phê duyệt Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo tại Quyết định số 2685/VPCP-QHQT ngày 21/5/2000 với mục tiêu đến 2005 có 60% dân nông thôn có nước sạch và đến năm 2010 đảm bảo 80% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh Chương trình MTQG cấp Nước sạch và VSMTNT còn đóng vai trò quan trọng
và góp phần thực hiện công cuộc CNH-HĐH nông thôn Việt Nam
1.2.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội vùng nông thôn ảnh hưởng đến cấp nước sạch
- Trong 15 năm trở lại đây, tình hình kinh tế xã hội Việt Nam mặc dù phải đối mặt với những khó khăn thách thức to lớn nhưng nhờ thực hiện các chính sách
và giải pháp phù hợp, phát huy nội lực kết hợp với sự hỗ trợ có hiệu quả của cộng đồng Quốc tế nên nền kinh tế Việt Nam đã phát triển khá Đối với nông nghiệp được duy trì và phát triển khá cao, tác động có tính quyết định cho công cuộc xóa đói giảm nghèo thông qua an ninh lương thực, tạo việc làm và tăng thu nhập cho
Trang 20dân cư nông thôn Năm 2014, tốc độ tăng tổng giá trị sản lượng toàn ngành đạt 3,6% , tốc độ tăng GDP toàn ngành ước đạt 3,3% Lương thực có hạt bình quân đầu người từ 513 kg năm 2010 lên 546 kg năm 2012 Kinh tế nông thôn phát triển đa dạng hơn, nhiều vùng sản xuất nông sản hàng hóa qui mô lớn gắn với công nghiệp chế biến; các làng nghề dần được khôi phục và phát triển; sản xuất trang trại phát triển nhanh Đời sống của người dân nông thôn đã được cải thiện do kết quả của một số Chương trình dự án lớn được triển khai Trong đó có Chương trình MTQG cấp Nước sạch và VSMTNT
- Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam phát triển chưa vững chắc Năm 2001, tăng 6,8% chưa đạt được mức tăng trưởng của những năm giữa thập kỷ 90 vì những yếu tố không thuận lợi do thiên tai gây ra Trong nông nghiệp chuyển đổi cơ cấu kinh tế còn chậm, lao động thiếu việc làm và không có tay nghề cao, năng suất lao động thấp, một số sản phẩm tiêu thụ còn khó khăn Môi trường bị xuống cấp, tài nguyên bị khai thác quá mức và cạn kiệt; điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn, vùng miền núi còn thấp kém Phần lớn thu nhập của người dân vùng nông thôn thấp
do điều kiện nguồn lực hạn chế (đất đai, lao động, vốn ) nhất là vùng thường xuyên bị thiên tai, vùng miền núi vùng sâu vùng xa còn nhiều khó khăn Tỷ lệ đói nghèo còn cao (năm 2012 là 9,6% số hộ trên toàn quốc)
- Thiếu các cơ chế chính sách nhằm thu hút được sự đầu tư từ các thành phần kinh tế đặc biệt là khu vực tư nhân
1.2.2.3 Đánh giá điều kiện kinh tế xã hội vùng nông thôn ảnh hưởng đến nhiệm vụ giải quyết nước sạch
Theo Báo cáo đánh giá hiện trạng quản lý, khai thác, vận hành và bảo dưỡng
các công trình CNTTNT của Trung tâm Quốc gia Nước sạch & VSMTNT:
- Giải quyết nước sạch và ở vùng nông thôn Việt Nam có vị trí đặc biệt quan trọng vì đây là nhu cầu cơ bản thiết yếu của mọi người của tất cả các quốc gia trên thế giới Đặc biệt đối với Việt Nam nó trở thành công cụ quan trọng để thực hiện Chiến lược về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo đồng thời góp phần quan trọng vào công cuộc CNH- HĐH nông thôn Việt Nam Điều này đã được thể hiện tại các quyết định của Chính phủ và chính sách ưu tiên đầu tư
- Mặc dù là nhu cầu thiết yếu cơ bản của cuộc sống song do hạn chế về
Trang 21nguồn lực (vốn, lao động, đất đai ) cũng như nhận thức của người dân nông thôn nên để đẩy nhanh tốc độ cung cấp nước sinh hoạt cho người dân nông thôn bên cạnh việc hình thành một hệ thống chính sách nhất là chính sách đầu tư để tạo hành lang pháp lý nhằm thu hút sự đầu tư của mọi thành phần kinh tế còn cần phải thực hiện tốt việc nâng cao hiệu quả đầu tư Trong đó bao gồm cả quan tâm đến vấn đề phát triển bền vững của các công trình đã được xây dựng, kết hợp với tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng để họ từ chỗ thụ động trông chờ vào nhà nước trở nên tự giác tham gia tích cực vào Chương trình cấp nước
1.3 Hiện trạng quản lý các công trình cấp nước tập trung
1.3.1 Các mô hình phân cấp quản lý công trình cấp nước tập trung
Theo tài liệu Mô hình quản lý công trình cấp nước tập trung nông thôn của Trung tâm Quốc gia Nước sạch & VSMTNT 2008:
- Mô hình quản lý công trình cấp nước tập trung: Là các tổ chức, cá nhân được giao quản lý, khai thác, sử dụng công trình cấp nước tập trung nông thôn và
thực hiện việc bán nước sinh hoạt trực tiếp đến khách hàng sử dụng nước
- Theo phân cấp quản lý, công trình CNTTNT đang được quản lý, vận hành theo nhiều mô hình tổ chức, ngay một tỉnh cũng có những mô hình tổ chức quản lý khác nhau Những mô hình hiện hành: (i) Cá nhân; (ii) Hợp tác xã, (iii) Uỷ ban nhân dân xã, (iv) Cộng đồng; (v) Đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm: Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Ban quản lý công trình hạ tầng huyện, (vi) Doanh nghiệp, bao gồm: Công ty cổ phần, trách nhiệm hữu hạn, trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, quản lý khai thác công trình thủy lợi…
- Theo số liệu thu thập và điều tra phân tích các công trình cấp nước tập trung, tỷ lệ các loại mô hình quản lý như sau: Cộng đồng chiếm 40%, HTX chiếm 4% , UBND xã chiếm 22%, cá nhân chiếm 7%, đơn vị sự nghiệp 21% và doanh
nghiệp 6%
1.3.1.1 Cá nhân quản lý, vận hành
Mô hình cá nhân quản lý là mô hình công trình cấp nước tập trung được cá nhân đầu tư và quản lý vận hành hoặc do nhà nước đầu tư sau đó giao cá nhân quản lý vận hành theo phương thức đấu thầu, đặt hàng hoặc giao trực tiếp nhưng
Trang 22không (hoặc chưa) thành lập doanh nghiệp Mô hình cá nhân quản lý thích hợp với các hệ thống CNTT có quy mô nhỏ, công nghệ đơn giản Công suất khai thác khá triệt để, tiền nước thu theo quy định cũng ít thất thoát, công tác vận hành bảo dưỡng được quan tâm, thái độ phục vụ và quan hệ khách hàng tốt Hiện mô hình này bị hạn chế do cơ chế tài chính chưa đảm bảo, cụ thể là giá nước chưa được tính đúng tính đủ các chi phí hợp lý, trong khi chính sách cấp bù theo quy định lại không được thực hiện
1.3.1.2 Hợp tác xã quản lý, vận hành
Mô hình Hợp tác xã quản lý vận hành công trình cấp nước tập trung là mô hình của những người cùng có nhiệm vụ và lợi ích trong hệ thống cấp nước thành lập với sự hỗ trợ của chính quyền xã, hoạt động theo Luật Hợp tác xã Mô hình này khá phổ biến ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, miền Trung, các khu vực khác không nhiều Mô hình HTX phù hợp với công trình cấp nước quy mô nhỏ, HTX có thể thực hiện nhiều hoạt động kinh tế khác nhau như điện, thủy lợi, nước sinh hoạt, thu gom rác thải, vệ sinh, kinh doanh vật tư, nông sản, hàng hóa để có thể hỗ trợ nhau trong các hoạt động
1.3.1.3 Uỷ ban nhân dân xã quản lý, vận hành
Mô hình này được hình thành trên cơ sở quyết định của UBND tỉnh giao công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn đã đầu tư cho địa phương quản lý, vận hành Theo đó, UBND xã thành lập ban quản lý công trình CNTT giúp UBND xã quản lý trực tiếp các CTCNTT trong xã Mô hình UBND xã quản lý đang tồn tại ở khắp các vùng trên cả nước Các công trình do mô hình UBND xã quản lý trực tiếp khảo sát đều rơi vào tình trạng yếu kém cần phải củng cố, có nguy cơ không hoạt động trong khi nhu cầu dùng nước của người dân rất cao
1.3.1.4 Cộng đồng quản lý, vận hành
Mô hình này được hình thành trên cơ sở quyết định của UBND tỉnh giao công trình cấp nước nông thôn đã hoàn thành đầu tư cho cộng đồng địa phương tự quản lý, vận hành Theo quyết định của tỉnh, các thôn, bản họp bàn và bầu ra tổ, ban quản lý Trưởng ban quản lý thường được gắn với trưởng hoặc phó thôn, bản Một vài cán bộ không chuyên trách cũng được hội nghị thôn bản cử ra để quản lý Mô hình cộng đồng quản lý đang được áp dụng ở các công trình cấp nước sinh hoạt
Trang 23nông thôn quy mô nhỏ phục vụ hộ, nhóm hộ với công nghệ hết sức đơn giản, chi phí quản lý vận hành không lớn Hầu hết các công trình CNTTNT tự chảy khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền núi ở các tỉnh miền Trung đang áp dụng mô hình cộng đồng quản lý
1.3.1.5 Đơn vị sự nghiệp có thu quản lý, vận hành
Mô hình đơn vị sự nghiệp có thu quản lý vận hành công trình CNTTNT đang được áp dụng ở nhiều tỉnh với 2 kiểu tổ chức chính: Trung tâm Nước sạch và VSMTNT tỉnh và Ban quản lý công trình hạ tầng huyện, hoạt động theo Nghị định
số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ
Mô hình đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động có hiêu quả khi quản lý các công trình CNTT quy mô vừa và lớn, có kỹ thuật phức tạp trong phạm vi cả tỉnh hoặc trong nhiều huyện thuộc tỉnh Nhờ có bộ máy quản lý đồng bộ nên tính chuyên nghiệp cao, có điều kiện áp dụng những tiến bộ khoa học, công nghệ vào quản lý,
có cơ chế tài chính được quản lý chặt chẽ theo quy định của pháp luật, có sự hỗ trợ nhất định từ ngân sách nhà nước với mức độ khác nhau Mô hình này nhìn chung được sự quan tâm của chính quyền địa phương trong các hoạt động Chất lượng nước được kiểm tra từ khâu sản xuất và bởi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền Quan hệ với khách hàng bắt đầu chuyển sang phương thức dịch vụ và nhờ
đó chất lượng dịch vụ như thời gian cấp nước, áp lực nước, chất lượng nước, công tác duy tu sửa chữa…đều được nâng lên
1.3.1.6 Doanh nghiệp quản lý, vận hành
Mô hình doanh nghiệp quản lý công trình CNTTNT hiện nay khá phong phú
về chủng loại, quy mô và cơ chế quản lý Đó là công ty tư nhân (bao gồm công ty tư nhân bỏ vốn đầu tư và quản lý vận hành, công ty tư nhân nhận quản lý vận hành công trình có vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước), công ty TNHH một thành viên, công ty nhà nước, công ty cổ phần
Mô hình doanh nghiệp là mô hình có tính chuyên nghiệp cao, phù hợp với chủ trương xã hội hoá hoạt động cấp nước, có phương thức hoạt động mang tính
dịch vụ hàng hoá, tạo sự bình đẳng đối với đơn vị dịch vụ và khách hàng
1.3.2 Kết quả thực hiện cấp nước sạch nông thôn ở Việt Nam
- Chiến lược Quốc gia về cấp nước và vệ sinh nông thôn Việt Nam đến năm
Trang 242020 được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 104/2000/TTg ngày 20/8/2000 với các mục tiêu:
+ Đến năm 2010 đảm bảo 80% dân nông thôn được cấp nước sạch sinh họat với tiêu chuẩn 60l/người/ngày
+ Đến năm 2020 đảm bảo hầu hết người dân nông thôn được đảm bảo việc cung cấp nước sạch đạt Quy chuẩn Quốc gia
- Chương trình Mục tiêu Quốc gia Nước sạch & vệ sinh môi trường nông thôn đã đạt được một số kết quả đáng kể, góp phần cải thiện điều kiện sống của người dân và làm thay đổi bộ mặt của vùng nông thôn Việt Nam
Theo báo cáo kết quả thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia Nước sạch & vệ sinh môi trường nông thôn năm 2014 có: 84% dân số nông thôn được sử dung nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó có khoảng 32% từ các công trình cấp nước tập trung, còn lại là các công trình nhỏ lẻ; 43% dân số nông thôn sử dụng nước đạt QC 02/2009/BYT
1.3.3 Tình hình quản lý vận hành các công trình cấp nước tập trung
Theo báo cáo tình hình quản lý vận hành các công trình cấp nước tập trung của Trung tâm Quốc gia Nước sạch & VSMTNT 2014 tổng hợp báo cáo, toàn quốc hiện có 16.220 công trình cấp nước tập trung, tình hình quản lý, khai thác và vận hành các công trình cấp nước tập trung nông thôn như sau:
Bảng 1.3 Tình hình quản lý, khai thác vầ vận hành các công trình cấp nước
tập trung nông thôn
Số lượng %
Số lượng %
Số lượng %
Số lượng %
Trang 25- Tỷ lệ công trình hoạt động bền vững: 33,3%, trong đó:
+ Vùng cao nhất: Đông Nam Bộ (63,3%); tỉnh cao nhất: Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương và Cần Thơ (100%);
+ Vùng thấp nhất: Bắc Trung Bộ (11,7%); tỉnh thấp nhất: Lạng Sơn (2%)
- Tỷ lệ công trình hoạt động bình thường: 40,6%, trong đó:
+ Vùng cao nhất: Bắc Trung Bộ (47,4%); tỉnh cao nhất: Đà Nẵng (81,3%); + Vùng thấp nhất Đồng bằn sông Hồng: (27,1%); tỉnh thấp nhất: An Giang (2,3%)
- Tỷ lệ công trình hoạt động kém hiệu quả: 15,4%, trong đó:
+ Vùng cao nhất: Bắc Trung bộ (34,8%); tỉnh cao nhất: Bình Định (71,3%); + Vùng thấp nhất: Đồng bằng sông Cửu Long (4,4%); 12 tỉnh/thành phố: Bắc Ninh, Hà Nội, Nam Định, Đà Nẵng, Bình Thuận, Bình Dương, Bà rịa Vũng Tàu, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh, Sóc Trăng, Vĩnh Long không có công trình nào hoạt động kém hiệu quả
- Tỷ lệ công trình không hoạt động: 10,7%, trong đó:
+ Vùng cao nhất: Tây Nguyên (28,7%); tỉnh cao nhất: Đắc Lắc (52,4%) + Vùng thấp nhất: Đồng bằng sông Cửu Long (1,6%); 20 tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Nam Định, Hải Dương, Thanh Hóa, Đà Nẵng, Bình Thuận, Bình Phước, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cà Mau không có công trình nào không hoạt động
1.3.4 Nguyên nhân ảnh hưởng đến tới tính bền vững của các công trình cấp nước
Theo báo cáo tình hình quản lý vận hành các công trình cấp nước tập trung của Trung tâm Quốc gia Nước sạch & VSMTNT 2014, một số nguyên nhân chính ảnh hưởng đến tới tính bền vững của các công trình cấp nước đó là:
1.3.4.1 Về công tác chuẩn bị đầu tư
- Các công trình cấp nước tập trung bị phân cấp trong quản lý đầu tư nhưng chưa chú trọng đến năng lực, chuyên môn của chủ đầu tư, cán bộ, đặc biệt là ở cấp huyện, xã
Trang 26- Công tác chuẩn bị đầu tư chưa kỹ, việc tham vấn cộng đồng còn hạn chế, chưa có sự tham gia thực sự của cộng đồng; đặc biệt công tác khảo sát còn sơ sài dẫn đến sai sót trong quá trình thiết kế, xây dựng, chưa dự báo được ảnh hưởng của suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
- Công tác thẩm tra, thẩm định chưa chặt chẽ, chưa chú trọng đến hiệu quả đầu tư, công tác quản lý, vận hành công trình sau đầu tư
1.3.4.2 Về xây dựng công trình
- Chính quyền địa phương chưa quan tâm và tham gia tích cực vào việc quản
lý đầu tư xây dựng công trình, quản lý công trình sau đầu tư
- Nhiều công trình xây dựng không đồng bộ và hoàn chỉnh, chỉ có công trình đầu mối và tuyến ống truyền tải, truyền dẫn, chưa có đầy đủ mạng lưới đường ống phân phối và nối tới các hộ gia đình (phần vốn do dân đóng góp) dẫn đến công trình hoạt động một phần công suất, thậm chí không hoạt động được
- Công trình bị hư hại do nằm trong vùng địa hình địa chất phức tạp, thường xuyên chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu: thiên tai, lũ quét, sạt lở đất
1.3.4.4 Về quản lý công trình
- Năng lực kỹ thuật chuyên môn của cán bộ quản lý, vận hành được đào tạo
cơ bản còn thấp nên công tác bảo dưỡng không đúng quy định Công tác đào tạo tăng cường năng lực chưa được quan tâm đầy đủ
- Nhiều địa phương chỉ chú trọng đến xây dựng công trình mới chưa quan tâm đến việc nâng cấp, sửa chữa các công trình thường xuyên
Trang 27- Một số nơi chính quyền địa phương chưa có trách nhiệm cao trong quản lý, bảo dưỡng công trình; ý thức bảo vệ công trình cấp nước của người dân chưa cao,
tư tưởng ỷ lại sự hỗ trợ của nhà nước còn khá phổ biến
1.4 Tình hình cấp nước sinh hoạt nông thôn tại Hà Nam
1.4.1 Tình hình sử dụng nước sinh hoạt tại Hà Nam
Khi chưa có bất kỳ hệ thống cung cấp nước sạch nào cho nhân dân trong khu vực, chưa có một dự án hay công trình xử lý nước sạch nào được xây dựng từ trước cho đến nay, các hộ dân trong khu vực đều sử dụng các loại nguồn nước chưa qua
xử lý như sau:
Nước mưa: Hầu hết các hộ gia đình đều có bể chứa nước mưa để sử dụng làm nguồn nước ăn uống trong cả năm Mỗi hộ dân đều xây dựng bể chứa nước mưa có dung tích từ 1 - 5m3, xây dựng ở phía trước sân nhà Việc thu nước mưa thông qua hệ thống máng đón nước mưa từ mái nhà Theo số liệu điều tra khảo sát, 90% số hộ dân sử dụng nước mưa làm nguồn nước chính trong gia đình
Nước giếng đào: một số hộ ở đây có giếng đào với chiều sâu khoảng 3m Nước ngầm mạch nông thường bị ô nhiễm Do đó chất lượng nước rất xấu Hàm lượng sắt và mangan ở mức cao
Nước giếng khơi chiều sâu khoảng 3- 5m Hầu hết giếng khơi chất lượng nước không đảm bảo
Nước giếng khoan đa số khoan sâu từ 30m Chất lượng và trữ lượng nước không đảm bảo vì nguồn nước ngầm bị nhiễm sắt, nitơ, asen ở mức cao
Nhân dân các xã hiện nay đang sử dụng nước không đảm bảo vệ sinh cho ăn uống và sinh hoạt Do đó cần phải đầu tư xây dựng cho xã một hệ thống cấp nước sạch hoàn chỉnh
1.4.2 Kết quả thực hiện chương trình cấp nước sinh hoạt tại Hà Nam đến năm
2014
Theo báo cáo kết quả thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia Nước sạch
& vệ sinh môi trường nông thôn năm 2014 tại Hà Nam có: 84% dân số nông thôn được sử dung nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 40% dân số nông thôn sử dụng nước đạt
QC 02/2009/BYT
Trang 28- Nguồn cung cấp nước cho các công trình được lấy từ sông Sắt, sông Châu Giang Với lợi thế nguồn nước dồi dào đáp ứng nhu cầu cấp nước quanh năm cho người dân
Đánh giá chung: Trước khi không có công trình cấp nước tập trung, người dân không được tiếp cận nguồn nước sạch, sử dụng nguồn nước tự nhiên, không qua xử lý, không đảm bảo vệ sinh và sức khoẻ Tuy nhiên, nhờ có sự đầu tư từ Chính phủ, các tổ chức quốc tế, sự ưu tiên trong chính sách đầu tư của tỉnh, và ý thức sử dụng nước sạch của người dân nhờ đó các công trình cấp nước tập trung được xây dựng và mở rộng đáp ứng tốt hơn nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt hàng ngày và đảm bảo nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Nguồn nước cấp cho các công trình từ hệ thống các sông lớn của tỉnh và các hệ thống sông này đang bị
đe doạ về mức độ ô nhiễm và lưu lượng không ổn định giữa các mùa Vì vậy, cần
có một chiến lược ngắn hạn và dài hạn cho việc xây dựng, vận hành và quản lý công trình nhằm phát huy hiệu quả phát triển bền vững trong cấp nước nông thôn
1.4.3 Tình hình quản lý vận hành các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Theo phân cấp quản lý, các công trình CNTTNT đang được quản lý, vận hành trên địa bàn tỉnh Hà Nam theo các mô hình tổ chức: (i) Cá nhân; (ii) Hợp tác xã, (iii)
Uỷ ban nhân dân xã, (iv) Cộng đồng; (v) Đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm: Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Ban quản lý công trình hạ tầng huyện, (vi) Doanh nghiệp, bao gồm: Công ty cổ phần, trách nhiệm hữu hạn, trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, quản lý khai thác công trình thủy lợi…
Theo Báo cáo tổng hợp Bộ chỉ số Giám sát, đánh giá Nước sạch & vệ sinh môi trường nông thôn năm 2013 Trên địa bàn nông thôn tỉnh Hà Nam hiện nay đã có 52 công trình cấp nước tập trung lớn nhỏ được xây dựng và đang hoạt động, hầu hết được xây dựng từ năm 1997 trở lại đây, quy mô từ 20 đến 3.000m3/ng.đêm (trong
đó 30 công trình khai thác nguồn nước mặt, 2 công trình khai thác tự chảy, 20 công trình khai thác nước ngầm) Tổng số người được cấp nước hợp vệ sinh từ các công trình này đạt 25% dân số nông thôn
Trung tâm Nước sạch & VSMTNT (2010): Các công trình hoạt động tốt có
15 công trình chiếm 29%, trung bình 26 công trình chiếm 50% và hoạt động kém 11 công trình chiếm 21%
Trang 29Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
- Các cán bộ, nhân viên quản lý vận hành các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
- Các hộ gia đình sử dụng nước cấp từ các hệ thống cấp nước tập trung
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: địa bàn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
Thời gian:
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý và sử dụng các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
- Điều kiện tự nhiên huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
- Điều kiện kinh tế – xã hội huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
- Các yếu tố tự nhiên, kinh tế – xã hội ảnh hưởng đến công tác quản lý và sử dụng các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
2.3.2 Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng các công trình cấp nước tập trung huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
Để đánh giá được hiện trạng quản lý, sử dụng các công trình cấp nước tập trung ta phải đánh giá được các yếu tố sau:
- Giới thiệu về các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (thu thập tài liệu về các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn huyện: tên công trình, vị trí, năm xây dựng, công suất,…)
- Các mô hình quản lý các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn huyện
- Đánh giá chất lượng nguồn nước mặt của các công trình cấp nước tập trung Các thông tin về lượng và chất lượng nước: vị trí nguồn nước, lưu lượng, mực nước sông; chất lượng nước mặt
Trang 30- Đánh giá chất lượng nước đầu ra sau xử lý tại công trình và chất lượng nước tại các hộ gia đình sử dụng
Từ đó, đánh giá, chỉ ra những ưu điểm, tồn tại của công tác quản lý và sử dụng các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Các nguyên nhân của những tồn tại trong quản lý và sử dụng các công trình cấp
nước tập trung trên địa bàn huyện
2.3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng các công trình cấp nước tập trung huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
Trên cơ sở những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài, dự kiến sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Các tài liệu cần thu thập: điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, các công trình cấp nước tập trung; nguồn nước của các công trình cấp nước tập trung; chất lượng nước cấp; các văn bản pháp quy trong lĩnh vực nước sạch (luật, quyết định, nghị định, qui chuẩn, tiêu chuẩn liên quan, hướng dẫn kỹ thuật, công nghệ và quản lý)
Các tài liệu được thu thập ở: các phòng ban có liên quan trong huyện; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Trung tâm quốc gia nước sạch và vệ sinh nông thôn; các tổ chức quản lý các công trình cấp nước tập trung, cơ quan thống kê
2.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp
- Tại mỗi địa điểm được lựa chọn sẽ tiến hành phỏng vấn trực tiếp các cán
bộ, nhân viên quản lý vận hành của trạm cấp nước Các nội dung được khảo sát tập trung vào đánh giá trình độ của các cán bộ, nhân viên và công tác quản lý vận hành các công trình cấp nước tập trung
- Trên địa bàn nghiên cứu tác giả sẽ tiến hành lấy mẫu và phân tích chất lượng nước của nguồn nước, nước cấp cho người dân và nước tại hộ gia đình sử dụng:
a Nguồn nước mặt đầu vào
Tại 6 công trình tác giả sẽ tiến hành lấy 6 mẫu nước mặt Chất lượng mẫu nước mặt được áp dụng theo QC 08:2008/BTNMT về quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước mặt
Trang 31Phương pháp lấy mẫu: Được thực hiện theo hướng dẫn của các tiêu chuẩn
Phương pháp phân tích: Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước mặt: PH, Ôxy
hoà tan (DO), BOD5 (20 0C), COD, Tổng chất rắn lơ lửng (TSS), Amoni (NH+4) (tính theo N), Đồng (Cu), Florua (F-), Nitrit (NO-2) (tính theo N), Nitrat (NO-3) (tính theo N), Asen (As), Cadimi (Cd), Ch (Pb), Crom VI (Cr6+), Clorua (Cl-), Coliform, Sắt (Fe), Thuỷ ngân (Hg), E Coli, Kẽm (Zn) Các chỉ tiêu phân tích theo các tiêu chuẩn quốc gia:- TCVN 6492-
1999 (ISO 10523-1994) - Chất lượng nước - Xác định pH
- TCVN 5499-1995 Chất lượng nước - Xác định oxy hòa tan - Phương pháp Winkler
- TCVN 6625-2000 (ISO 11923-1997) - Chất lượng nước - Xác định chất rắn
lơ lửng bằng cách lọc qua cái lọc sợi thủy tinh
- TCVN 6001-1995 (ISO 5815-1989) - Chất lượng nước - Xác định nhu cầu oxi sinh hóa sau 5 ngày (BOD5) - Phương pháp cấy và pha loãng
- TCVN 6491-1999 (ISO 6060-1989) - Chất lượng nước - Xác định nhu cầu oxy hóa học
- TCVN 6494-1999 - Chất lượng nước - Xác định các ion Florua, Clorua, Nitrit, Orthophotphat, Bromua, Nitrat và Sunfat hòa tan bằng sắc ký lỏng ion
- TCVN 6194-1996 (ISO 9297-1989) - Chất lượng nước - Xác định Clorua Phương pháp chuẩn độ bạc nitrat với chỉ thị cromat (phương pháp MO)
- TCVN 6195-1996 (ISO 10359-1-1992) - Chất lượng nước - Xác định florua Phương pháp dò điện hóa đối với nước sinh hoạt và nước bị ô nhiễm nhẹ
- TCVN 6178-1996 (ISO 6777-1984) - Chất lượng nước - Xác định nitrit Phương pháp trắc phổ hấp thụ phân tử
- TCVN 6180-1996 (ISO 7890-3-1988) - Chất lượng nước - Xác định nitrat Phương pháp trắc phổ dùng axit sunfosalixylic
- TCVN 5988-1995 (ISO 5664-1984) - Chất lượng nước - Xác định amoni - Phương pháp chưng cất và chuẩn độ
Trang 32- TCVN 6181-1996 (ISO 6703-1-1984) - Chất lượng nước - Xác định xyanua tổng
- TCVN 6336-1998 (ASTM D 2330-1988) - Phương pháp thử chất hoạt động
bề mặt bằng metylen xanh
- TCVN 5991-1995 (ISO 5666-3-1984) - Chất lượng nước - Xác định thủy ngân tổng số bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử không ngọn lửa - Phương pháp sau khi vô cơ hóa với brom
- TCVN 6177-1996 (ISO 6332-1988) - Chất lượng nước - Xác định sắt bằng phương pháp trắc phổ dùng thuốc thử 1,10 - phenantrolin
- TCVN 6193-1996 (ISO 8288-1986) - Chất lượng nước - Xác định coban, niken, đồng, kẽm, cadimi và chì Phương pháp trắc phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa
- TCVN 6197-1996 (ISO 5961-1994) - Chất lượng nước - Xác định cadimi bằng phương pháp trắc phổ hấp thụ nguyên tử
- TCVN 6222-1996 (ISO 9174-1990) - Chất lượng nước - Xác định crom tổng
- Phương pháp trắc phổ hấp thụ nguyên tử
- TCVN 6626-2000 (ISO 11969-1996) - Chất lượng nước - Xác định asen Phương pháp đo hấp thụ nguyên tử (kỹ thuật hydrua)
- TCVN 6187-1-1996 (ISO 9308-1-1990) Chất lượng nước - Phát hiện và đếm
vi khuẩn coliform, vi khuẩn coliform chịu nhiệt và Escherichia coli giả định
.b Nước cấp cho người dân từ các công trình cấp nước tập trung
Phương pháp lấy mẫu và phân tích mẫu nguồn nước cấp cho người dân tại các công trình cấp nước tập trung được áp dụng theo QC 02:2009/BYT về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia chất lượng nước sinh hoạt
Tại 6 công trình tác giả sẽ tiến hành lấy 6 mẫu nước cấp tại các bể chứa của các công trình cấp nước tập trung
Phương pháp lấy mẫu: Hệ thống phân phối là toàn bộ mạng lưới bể chứa,
bồn chứa, tháp nước, trạm bơm, bơm, van, đồng hồ nước và các đường ống dịch vụ cấp nước đến đối tượng người tiêu dung Vị trí lấy mẫu phải là những điểm cách nơi nước đã được xử lý Những vị trí này cần đại diện và bao phủ hệ thống phân phối, đặc biệt là những vị trí có thể suy giảm chất lượng nước, lượng clo dư và những nơi
có khả năng tạo thành các sản phẩm phụ của hóa chất khử trùng Các vị trí lấy mẫu cần thiết như các bể nước trên cao của hệ thống mạng lưới phân phối, các điểm chết, các đường ống chính lâu năm, các vòng tròn phân phối, các điểm có khả năng
Trang 33xảy ra hiện tượng nước bên ngoài chảy ngược vào hệ thống (thẩm lậu) và những điểm đặc biệt khác trong hệ thống phân phối Trong một số trường hợp khử trùng thứ cấp được tiến hành trong hệ thống (trạm bơm thêm clo) Thì cần lấy mẫu ngay sau khi khử trùng thứ cấp được tiến hành
Phương pháp phân tích mẫu theo Bảng 2.1
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu giám sát cấp độ A theo QCVN 02:2009/BYT
TT Tên chỉ tiêu Đơn vị tính
Giới hạn tối đa cho phép Phương pháp thử giám sát Mức độ
TCVN 6185 - 1996 (ISO 7887 - 1985) hoặc SMEWW 2120
B
12 Hàm lượng Asen tổng số mg/l 0,01 0,05 TCVN SMEWW 3500 - As B 6626:2000 hoặc B
13 Coliform tổng số 100ml VK/ 50 150 TCVN 6187 - 1,2:1996 (ISO 9308 - 1,2 - 1990) hoặc
A
Trang 34c Nước từ các hộ gia đình
Mẫu nước tại các hộ gia đình sử dụng được lấy trực tiếp từ các vòi nước tại các hộ gia đình Chất lượng nước và phương pháp phân tích cũng được áp dụng theo QC 02/2009/BYT về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia chất lượng nước sinh hoạt (Bảng 2.1)
Số mẫu được lấy: Từ mỗi công trình cấp nước tập trung tác giả sẽ lấy ngẫu nhiên 03 hộ gia đình sử dụng Tổng số mẫu nước được lấy từ các hộ là :18 mẫu
- Tác giả tiến hành điều tra, phỏng vấn tất cả các cán bộ, nhân viên vận hành các CTCNTT Tổng số phiếu điều tra: 17 phiếu
2.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả quản lý và sử dụng các công trình cấp nước tập trung
Để đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng công trình cấp nước tập trung nông thôn tác giả sử dụng phương pháp cho điểm theo trọng số, dựa vào các tiêu chí cho điểm như sau:
+ Bộ máy tổ chức quản lý, vận hành, bảo dưỡng công trình: Nếu có và đã được đào tạo hướng dẫn, được phân công cụ thể cho 2 điểm; nếu có nhưng chưa được đào tạo hướng dẫn, được phân công cụ thể cho 1 điểm; nếu không cho 0 điểm
+ Hiệu suất hoạt động (hiệu suất bằng công suất hiện tại /công suất thiết kế)
%: Nếu lớn hơn 70% cho 2 điểm; Từ 50 - 60% cho 1 điểm; dưới 50% cho 0 điểm
+ Nguồn nước cấp và chất lượng nước đầu ra ổn định: Luôn luôn ổn định cho 2 điểm; không cấp nước dưới 1 tháng/ năm cho 1 điểm; không cấp nước từ 1 tháng/ năm trở lên cho 0 điểm
+ Công trình còn hoạt động hay không: Công trình không hoạt động là công trình không cấp nước liên tục 3 tháng tính đến ngày khảo sát và ngược lại (Công trình hoạt động cho 1 điểm, công trình không hoạt động cho 0 điểm)
+ Tổng hợp:
a) Bằng 7 trở lên: Bền vững
b) Bằng 5 đến 6: Bình thường
c) Dưới 5 điểm trở xuống: hoạt động kém hiệu quả
(Nguồn: Bộ chỉ số và tài liệu hướng dẫn triển khai công tác theo dõi và đánh giá
Nước sạch & VSMTNT )
Trang 352.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Trên cơ sở các số liệu, dữ liệu thu được sử dụng phương pháp thống kê để xử
lý các số liệu điều tra, thu thập được Sử dụng các phần mềm văn phòng để thể hiện các kết quả nghiên cứu dưới dạng bảng
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội có ảnh hưởng đến công tác quản lý sau đầu
tư các công trình cấp nước tập trung nông thôn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Bình Lục là huyện đồng bằng Bắc Bộ, Phía Đông Bắc và phía Bắc giáp huyện Lý Nhân với ranh giới là nhánh nhỏ của sông Châu Giang, phía Tây Bắc giáp huyện Duy Tiên ranh giới là dòng chính sông Châu Giang, phía Tây giáp huyện Thanh Liêm, các huyện này đều thuộc tỉnh Hà Nam Riêng phía Nam và Đông Nam huyện giáp tỉnh Nam Định, ranh giới là sông Lý Nhân, tính từ tây sang đông giáp các huyện: Ý Yên, Vụ Bản và Mỹ Lộc
Bình Lục tổng cộng 19 đơn vị hành chính cấp xã, gồm huyện lỵ là thị trấn Bình Mỹ, nằm cạnh quốc lộ 21A và Đường sắt Thống Nhất và 18 xã
20oC (trong đó có 5 tháng có nhiệt độ trung bình trên 25oC) và chỉ có 3 tháng nhiệt
độ trung bình dưói 20oC, nhưng không có tháng nào nhiệt độ dưới 16oC
Hai mùa chính trong năm (mùa hạ, mùa đông) với các hướng gió thịnh hành:
về mùa hạ gió nam, tây nam và đông nam, mùa đông gió bắc, đông và đông bắc
Lượng mưa: Lượng mưa trung bình khoảng 1600-1900mm, năm có lượng mưa cao nhất tới 3176mm (năm 1994), năm có lượng mưa thấp nhất cũng là 1265,3mm (năm 1998)
Độ ẩm: Trung bình hàng năm là 85%, không có tháng nào có độ ẩm trung bình dưới 77% Tháng có độ ẩm trung bình cao nhất trong năm là tháng 3 (95,5%), tháng có độ ẩm trung bình thấp nhất trong năm là tháng 11 (82,5%)
Trang 37Khí hậu có sự phân hóa theo chế độ nhiệt với hai mùa tương phản nhau là mùa
hạ và mùa đông cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp tương đối là mùa xuân và mùa thu Mùa hạ thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, mùa đông thường kéo dài từ giữa tháng
11 đến giữa tháng 3; mùa xuân thường kéo dài từ giữa tháng 3 đến hết tháng 4
3.1.1.3 Địa hình, địa chất, thủy văn
Địa hình, địa chất: Khu vực dự án là vùng đồng bằng do phù sa bồi tụ từ các dòng sông lớn, đất đai màu mỡ, thích hợp cho canh tác lúa nước, rau màu và các loại cây công nghiệp ngắn ngày như mía, dâu, đỗ tương, lạc và một số loại cây ăn quả Phần lớn đất đai ở vùng này bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi khá dày đặc Vì vậy ở đây có diện tích mặt nước ao, hồ, đầm, phá, ruộng trũng và sông ngòi khá lớn thuận lợi cho việc nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và chăn nuôi gia cầm dưới nước Địa hình khu vực dự án là vùng đồng bằng cao độ tự nhiên từ 7m đến 13m
Huyện Bình Lục ảnh hưởng trực tiếp chế độ thủy văn sông Sắt, sông Châu Giang Sông Châu Giang khởi nguồn trong lãnh thổ Hà Nam Tại Tiên Phong (Duy Tiên) sông chia thành hai nhánh, một nhánh làm ranh giới giữa huyện Lý Nhân và Bình Lục và một nhánh làm ranh giới giữa huyện Duy Tiên và Bình Lục Sông Sắt
là chi lưu của sông Châu Giang trên lãnh thổ huyện Bình Lục Sông Châu Giang chảy qua địa phận Hà Nam Sông được tách ra từ Sông Hồng theo hướng tây bắc, đến địa phận xã Hợp Lý, Huyện Lý Nhân, sông tiếp tục đổi hướng chảy theo hướng đông hợp với sông Châu Giang tại vị trí cách cầu Yên Lệnh khoảng 3km về phía nam Tổng chiều dài của sông khoảng 30km Sông Châu Giang chảy qua địa phận
dự án có chiều dài 5.4km Sông Châu Giang có vai trò tưới tiêu quan trọng trọng trong sản xuất nông nhiệp
Sông Châu Giang rộng khoảng 100m với lưu lượng dòng chảy là 8m3/giây trong mùa mưa và 5m3/giây vào mùa khô
Nguồn nước mặt của sông Châu Giang có hàm lượng sắt và măng gan thấp nhưng có độ đục cao trong mùa mưa và có khả năng bị ô nhiễm bởi các chất thải hữu cơ từ nguồn thải sinh hoạt và nông nghiệp
Mực nước sông Châu Giang cao nhất tại vị trí khu vực dư án Hmax = +2.00m và thấp nhất Hmin= -2.61m vào năm 2007 (Theo trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Hà Nam thống kê từ năm 1998-2007)
Trang 383.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Theo Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam năm 2013, dân số trong huyện Bình
Lục là 133.180 người
Cơ cấu sản xuất: Sản xuất nông nghiệp là chính Cơ cấu giá trị sản xuất các ngành trong năm 2011; nông nghiệp chiếm 41%; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng vận tải chiếm 24%; dịch vụ, thương mại chiếm 35%; tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 12,5%; thu nhập bình quân trên đầu người đạt: 12,0 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo còn 16,8 %
Nông nghiệp: Nhìn chung nền nông nghiệp lúa nước đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển nông nghiệp Ngoài ra, còn trồng các loại rau xanh, cây công nghiệp và cây ăn quả
Chăn nuôi: Toàn huyện có 46 trang trại chăn nuôi, đa canh Trong các hộ dân còn phát triển chăn nuôi nhỏ lẻ, số đàn gia cầm nhưng chưa quy hoạch gọn vùng và chưa có hệ thống xử lý nước thải chăn nuôi Vùng nuôi trồng thủy sản của xã hiện vẫn chưa tập trung, còn nằm nhỏ lẻ trên các cánh đồng và trong khu dân cư
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp dịch vụ thương mại: Trên địa bàn xã có
03 doanh nghiệp, 02 HTX nông nghiệp Tiểu thủ công nghiệp của xã có các cơ sở: thêu ren, mộc dân dụng, xay sát, chế biến lương thực thực phẩm, may công nghiệp
3.1.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội đến việc cấp nước sạch cho huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
Với vị trí địa lý cũng như các đặc thù về điều kiện tự nhiên như địa hình, khí hậu khí tượng, tài nguyên thiên nhiên khá thuận lợi tạo điều kiện tốt cho sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Hà Nam
Địa hình huyện Bình Lục có đồi núi và cả vùng đồng bằng nên các công trình
hạ tầng cơ sở như cầu đường, kênh mương, đường ống cấp thoát nước…cũng tương đối thuận lợi, do vậy việc bố trí xây dựng các đường ống, hệ thống cấp nước cho các cụm dân cư, làng xã cũng trở lên dễ dàng hơn
Bên cạnh đó thời tiết khốc liệt khô và nóng của khí hậu, nguồn nước mặt, nước ngầm bị ô nhiễm nặng, lượng mưa trên địa bàn tỉnh phân bố theo mùa, lượng dòng chảy hàng năm ít so với nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng của các ngành kinh tế cũng như nhu cầu nước sạch cho sinh hoạt và vệ sinh môi trường của người