BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM --- --- NGUYỄN THỊ THƯ ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHIỀU CAO THU HÁI ĐẾN SINH TRƯỞNG,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN THỊ THƯ
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHIỀU CAO THU HÁI ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG DƯỢC LIỆU CỦA MỘT SỐ MẪU GIỐNG NGẢI CỨU TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THƯ
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHIỀU CAO THU HÁI ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG DƯỢC LIỆU CỦA MỘT SỐ MẪU GIỐNG NGẢI CỨU TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NINH THỊ PHÍP
HÀ NỘI, 2015
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi
sự giúp đỡ cho việc thực hiện hoàn thành luận văn đều đã được tác giả cảm ơn Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thư
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Ninh Thị Phíp, người đã hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo cùng các cô chú kỹ thuật viên thuộc Bộ môn Cây công nghiệp và Cây thuốc đã giúp đỡ, chia sẻ nhiều kinh nghiệm quý báu và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, những người đã luôn quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thư
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
1.1.2 Đặc điểm thực vật học của loài Artemisia vulgaris L 4 1.1.3 Thành phần hóa học của loài Artemisia vulgaris L 6 1.1.4 Yêu cầu sinh thái của loài Artemisia vulgaris L 6 1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng trong năm của loài Artemisia vulgaris L 7
1.3 Một số nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới 11
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv
2.3.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá đặc điểm hình thái, sinh trưởng, phát triển và chất lượng dược liệu của một số mẫu giống ngải cứu trồng tại Gia Lâm – Hà Nội trong điều kiện không thu hái 22 2.3.2 Thí nghiệm 2: Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số mẫu giống ngải cứu trồng tại Gia Lâm – Hà
2.3.3 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao thu hái đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số mẫu giống ngải
2.3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi 24
3.1 Đánh giá đặc điểm hình thái, sinh trưởng, phát triển và chất lượng dược liệu của một số mẫu giống ngải cứu trồng tại Gia Lâm – Hà Nội 30 3.1.1 Đặc điểm thực vật học của các mẫu giống ngải cứu 30
3.1.4 Khả năng sinh trưởng, phát triển của các mẫu giống ngải cứu 39
3.2 Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số mẫu giống ngải cứu trồng tại Gia Lâm – Hà Nội trong điều kiện có thu hái 44 3.2.1 Thời gian thu hái và số lứa hái của các mẫu giống ngải cứu 44 3.2.2 Số lá/cây, đường kính thân khí sinh và tỷ lệ lá/thân của các
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
3.2.3 Số mầm tái sinh, chỉ số diện tích lá (LAI) và chỉ số SPAD của
3.2.4 Khả năng tích lũy chất khô, tỷ lệ tươi/khô và tỷ lệ chất xơ của
3.2.5 Năng suất cá thể và năng suất lý thuyết của các mẫu giống
3.2.6 Số lứa hái, năng suất tươi và tỷ lệ ngọn non của các mẫu giống
3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao thu hái tới sinh trưởng, phát triển
và năng suất của một số mẫu giống ngải cứu thí nghiệm 57 3.3.1 Ảnh hưởng của chiều cao thu hái tới thời gian thu hái và số lứa
3.3.2 Ảnh hưởng của chiều cao thu hái tới số lá/cây, đường kính thân khí sinh và tỷ lệ lá/thân của các mẫu giống ngải cứu 61 3.3.3 Ảnh hưởng của chiều cao thu hái tới số mầm tái sinh, chỉ số diện tích lá (LAI) và chỉ số SPAD của các mẫu giống ngải cứu 64 3.3.4 Ảnh hưởng của chiều cao thu hái tới khả năng tích lũy chất khô, tỷ lệ tươi/khô và tỷ lệ chất xơ của các mẫu giống ngải cứu 67 3.3.5 Ảnh hưởng của chiều cao thu hái tới năng suất cá thể và năng
3.3.6 Ảnh hưởng của chiều cao thu hái tới số lứa hái, năng suất tươi
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm hình thái thân của các mẫu giống ngải cứu 31 Bảng 3.2 Đặc điểm hình thái lá của các mẫu giống ngải cứu 32 Bảng 3.3 Đặc điểm ra hoa, hình thành quả của các mẫu giống ngải cứu 35
Bảng 3.6 Chất lượng dược liệu của các mẫu giống ngải cứu 38 Bảng 3.7 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển thân và cành của các mẫu
Bảng 3.8 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển lá của các mẫu giống ngải cứu 42 Bảng 3.9 Mức độ sâu, bệnh hại trên các mẫu giống ngải cứu 43 Bảng 3.10 Thời gian thu hái và số lứa hái của các mẫu giống ngải cứu 45 Bảng 3.11 Số lá/cây, đường kính thân khí sinh và tỷ lệ lá/thân của các
Bảng 3.12 Số mầm tái sinh, chỉ số diện tích lá (LAI) và chỉ số SPAD
Bảng 3.13 Khả năng tích lũy chất khô, tỷ lệ tươi/khô và tỷ lệ chất xơ
Bảng 3.15 Số lứa hái, năng suất tươi và tỷ lệ ngọn non của các mẫu
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của chiều cao thu hái tới thời gian thu hái và số lứa
Bảng 3.17 Ảnh hưởng của chiều cao thu hái tới số lá/cây, đường kính
thân khí sinh và tỷ lệ lá/thân của các mẫu giống ngải cứu 62 Bảng 3.18 Ảnh hưởng của chiều cao thu hái tới số mầm tái sinh, chỉ số
diện tích lá (LAI) và chỉ số SPAD của các mẫu giống ngải cứu 65 Bảng 3.19 Ảnh hưởng của chiều cao thu hái tới khả năng tích lũy chất khô,
tỷ lệ tươi/khô và tỷ lệ chất xơ của các mẫu giống ngải cứu 68 Bảng 3.20 Ảnh hưởng của chiều cao thu hái tới năng suất cá thể và
năng suất lý thuyết của các mẫu giống ngải cứu 72 Bảng 3.21 Ảnh hưởng của chiều cao thu hái tới số lứa hái, năng suất
tươi và tỷ lệ ngọn non của các mẫu giống ngải cứu 74
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.4 Kích thước quả ngải cứu và đánh giá khả năng nảy mầm của
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BNNPTNT : Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
NSCT : Năng suất cá thể NSLT : Năng suất lý thuyết NSTT : Năng suất thực thu
Trang 11
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Ngải cứu có tên khoa học là Artemisia vulgaris L là một loài thực vật
thuộc họ Cúc (Asteraceae) Ngải cứu còn có tên gọi khác là thuốc cứu, ngải diệp, nhả ngải (tiếng Tày), quá sú (tiếng H'mông), cỏ linh li (tiếng Thái) Cây có nguồn gốc ôn đới ở châu Âu, châu Á, Bắc Phi, Alaska và Bắc Mỹ và phân bố rộng khắp trên thế giới Tại Việt Nam, từ lâu đời, ngải cứu là cây trồng phổ biến trong vườn nhà hoặc có thể mọc hoang dại bên lề đường hay trong rừng Ngải cứu có đặc tính sinh trưởng rất mạnh, thích hợp với nhiều loại đất, địa hình và các vùng khí hậu khác nhau
Từ xưa đến nay, ngải cứu là vị thuốc được sử dụng phổ biến trong Đông
y Đông y coi ngải cứu là một vị thuốc có tính ôn, vị cay, dùng làm thuốc ôn khí huyết, trục hàn thấp, điều kinh, an thai, dùng chữa đau bụng do hàn, kinh nguyệt không đều, thai động không yên, thổ huyết, máu cam Ngoài công dụng chữa bệnh thông qua các bài thuốc Đông y, dược tính của ngải cứu còn được người dân Việt Nam sử dụng thông qua các món ăn hàng ngày (gà tần ngải cứu, trứng
gà tráng ngải cứu, canh ngải cứu nấu thịt nạc ) Trong thân lá của ngải cứu có chứa estrogenic flavonoid và ankaloid Tinh dầu của ngải cứu còn được dùng để làm thuốc trừ sâu, vi khuẩn và các vi sinh vật kí sinh
Do lợi ích quan trọng của cây ngải cứu với con người mà nhu cầu của xã hội đối với loài cây này ngày càng lớn Tuy nhiên, trong công tác nghiên cứu phát triển loài cây này còn bỏ ngỏ Hiện nay ở nước ta chưa có nhiều nghiên cứu về đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh trưởng, chất lượng dược liệu và các biện pháp kỹ thuật tác động đối với các giống ngải cứu cho từng vùng sinh thái cụ thể Trong thực tế sản xuất ngải cứu thường mang tính tự phát, làm theo kinh nghiệm của người dân
Để nâng cao giá trị chữa bệnh và phát triển hơn nữa loài cây này, chúng
tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá đặc điểm nông sinh học và ảnh hưởng
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2
của chiều cao thu hái đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng dược liệu của một số mẫu giống ngải cứu tại Gia Lâm – Hà Nội”
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
Thông qua việc đánh giá đặc điểm nông sinh học và ảnh hưởng của chiều cao thu hái đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng dược liệu là cơ sở góp phần chọn tạo giống ngải cứu và chiều cao thu hái thích hợp, góp phần xây dựng quy trình trồng ngải cứu năng suất cao tại Gia Lâm – Hà Nội
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá đặc điểm hình thái của các mẫu giống ngải cứu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng dược
liệu của các mẫu giống ngải cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của chiều cao thu hái đến sinh trưởng, phát triển và
năng suất của các mẫu giống ngải cứu
2.3 Ý nghĩa của đề tài
2.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học nghiên cứu phân loại và tuyển chọn các giống ngải cứu Góp phần xây dựng quy trình sản xuất giống ngải cứu
có năng suất cao phục vụ nhu cầu sử tiêu thụ rau ăn và chữa bệnh của người dân
- Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung thêm tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học, tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo cho các cán bộ kỹ thuật nông nghiệp
2.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Về xã hội: Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, tiếp tục tiến hành chọn tạo
ra giống ngải cứu phù hợp với mục đích sử dụng, kết hợp với việc thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật là cơ hội để người dân sản xuất ngải cứu theo hướng hàng hóa, góp phần làm tăng năng suất và chất lượng ngải cứu, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội
- Về môi trường: Đề tài góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển nguồn gen cây ngải cứu trong điều kiện biến đổi khí hậu xảy ra
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Ấn Độ, Pakistan, Srilanca, Bangladesh, Lào, Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc…
Ở Việt Nam, cây được trồng từ lâu đời trong nhân dân từ nam đến bắc Ở độ cao
từ khoảng 800 m trở lên, có cây ngải dại mọc tự nhiên rất nhiều ở tỉnh Lào Cai (SaPa, Bắc Hà, Bát Xát, Mường Khương, Than Uyên); Lai Châu (Phong Thổ, Sìn Hồ, Tuần Giáo, Tủa Chùa); Yên Bái (Mù Cang Chải); Cao Bằng (Trùng Khánh, Bảo Lạc); Lạng Sơn (vùng Mẫu Sơn); Hòa Bình (Mai Châu) và Hà Giang… chính ngải dại là nguồn dược liệu được khai thác thường xuyên, mỗi năm đến 1000 tấn để sản xuất thuốc Còn ngải cứu trồng chỉ được sử dụng tại chỗ, trong phạm vi nhân dân (Đỗ Huy Bích và cs., 2004)
1.1.1.2 Phân loại
Ngải cứu (Artemisia vulgaris L.) thuộc: Chi Artemisia, Họ Cúc (Asteraceae),
Bộ Cúc (Asterales), Lớp hai lá mầm (Magnoliopsida), Ngành hạt kín (Magnoliophyta)
(Võ Văn Chi, 2004)
Trên thế giới, chi Artemisia có khoảng 300 loài phân bố ở ôn đới Bắc Mỹ, Tây Nam Mỹ, Nam Phi, châu Á Ở nước ta chi Artemisia có 14 loài, trong đó có
3 loài vừa được sử dụng làm thuốc dùng trong (thuốc uống) vừa được sử dụng
làm thuốc dùng ngoài (bôi, xoa bóp): Artemisia vulgaris L., Artemisia apiacea Hance, Artemisia capilaris Thunb; 2 loài được sử dụng làm thuốc dùng trong:
(1) Artemisia vulgaris L (Ngải cứu, Thuốc cứu)
Cỏ, đa niên, cao 0,5 – 2 m, có mùi thơm đặc sắc Lá có lông trắng nằm mặt dưới, có thùy và khía sâu; cuống có cánh Hoa chùm – tụ tán như gié, dài 2 –
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
10 cm, đứng ở nách, mang hoa đầu 1 – 3, nhỏ, trắng xanh, to 3 – 4 mm; toàn hoa ống Quả bế không lông mào
(2) Artemisia annua L (Thanh cao, Thảo cao)
Cỏ nhất niên, thơm, cao đến 1 m, thân có rãnh, gần như không lông Là có phiến xoan, 2 – 3 lần kép thành đoạn hẹp nhọn, không lông Chùm-tụ tán cao ở ngọn, mang chùm dài, hẹp; hoa đầu cao 1,8 – 2 mm; lá hoa ngoài hẹp, có lông xanh, lá hoa giữa trong, xoan rộng; hoa toàn hình ống, hoa ngoài cái, hoa trong lưỡng phái Bế quả láng, cao 0,5 mm, không lông mào
(3) Artemisia apiacea Hance (Thanh cao ngò, Hương cao)
Cỏ nhất niên, thân không lông Lá thơm, có phiến bầu dục, dài đến 7 – 9
cm, 2 – 3 lần kép, thành đoạn hẹp nhọn, không lông Phát hoa ở ngọn và nách lá, nhánh dài 5 – 7 cm; hoa đầu cao 3 mm; lá hoa xoan, có bìa trong trong, gần như không lông; hoa nhiề, toàn hình ống, hoa ngoài cái, hoa trong lưỡng phái
(4) Artemisia capilaris Thunb (Thanh cao chỉ, ngải lá kim)
Cỏ cao 0,5 – 1 m, nhánh không lông Lá ở thân xẻ 1 lần, dài 10 – 25 cm, đoạn hẹp nhọn, không lông Lá ở nhánh nhỏ hơn, lần lần chỉ còn là một đoạn hẹp Hoa đầu thành chùm ngắn ở nách lá và ngọn nhánh Hoa đầu cao 1,5 – 2
mm, lá hoa không lông, nâu ở gân giữa; hoa toàn hình ống, cao bằng tổng bao; hoa ngoài cái, hoa trong lưỡng phái Bế quả trụi
(5) Artemisia maritima L (Thanh cao biển)
Cỏ thơm, nhánh, lá, lá hoa dầy lông nhung trắng Lá có phiến tròn dài, 2 lần xẻ thành đoạn hẹp đều, cuống dài Hoa đầu cao 4 mm, lá hoa nhiều hàng, tròn dài, có bìa mỏng mỏng; toàn hoa ống, hoa ngoài cái, hoa trong lưỡng phái Bế quả nhô, không lông mào (Phạm Hoàng Hộ, 2000)
1.1.2 Đặc điểm thực vật học của loài Artemisia vulgaris L
Cây thảo sống dai, cao khoảng 1m; thân có rãnh dọc Lá mọc so le, xẻ nhiều kiểu, từ xẻ lông chim đến xẻ thùy theo đường gân, mặt trên xanh đậm, mặt dưới trắng xanh, có lông Hoa đầu màu lục nhạt, xếp thành chùy như bông, dài 2 – 10 cm, đứng ở nách lá Mỗi hoa đầu rộng 3 – 4 mm, gồm hai loại hoa hình ống:
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5
hoa cái và hoa lưỡng tính Quả bế không có mào lông (Võ Văn Chi, 2004)
Toàn cây có mùi thơm hắc Mùa hoa quả: tháng 10 – 12 (Đỗ Huy Bích và cs., 2004)
Quả màu nâu, dạng ôvan dài, kích thước 1 – 2 mm, có một vài lông ở đỉnh
Lá mầm nhỏ, có hình trứng, không có cuống lá
Lá trưởng thành có màu xanh đậm, dài 1 – 10 cm, rộng 3 – 7,5 cm Mặt trên lá có ít lông, mặt dưới lá có phủ lớp lông màu trắng bạc, những sợi lông có kích thước 1mm
Loài A.vulgaris được tìm thấy có đặc điểm hình thái thay đổi nhiều Một
số quần thể A.vulgaris ở phía đông Mỹ, đó là những cây cao khoảng 2 m và
không phân cành Trong khi đó một số quần thể khác cây lại phân nhánh nhiều (Phạm Hoàng Hộ, 2000)
Cấu tạo hoa ngải cứu (vi.wikipedia.org)
1 Cành mang hoa; 2 Lá; 3 Cụm hoa đầu; 4 Cụm hoa đầu cắt dọc; 5 Hoa cái; 6 Hoa lưỡng tính; 7 Hoa lưỡng tính cắt dọc; 8 Bao phấn; 9 Hạt phấn;
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6
10 Quả ngải cứu 11 Quả ngải cứu cắt dọc
Sự thay đổi về đặc điểm hình thái còn thể hiện ở hệ thống thân ngầm dưới đất Một số quần thể có thân ngầm với đường kính 0,5 – 1 cm, phân nhánh ít Trong khi đó những quần thể khác lại có thân ngầm với đường kính nhỏ hơn 0,5
cm và thân ngầm phân nhánh nhiều
Có những tài liệu nói về sự khác biệt về hình dạng trong loài ở vùng núi phía Bắc Hymalaya (có độ cao 3700 m), một phần của Siberia và Liên Xô cũ Sự thay đổi nhiều về đặc điểm hình thái của loài cần có sự so sánh Những nghiên cứu ở Bắc Mỹ đã đưa ra được các chỉ tiêu để so sánh:
1 Đặc điểm phân cành, nhánh
2 Mức độ phân cành
3 Đặc điểm hình thái của lá
4 Đường kính thân ngầm
Mặc dù đặc điểm hình thái học của loài A.vulgaris là khá lớn, nhưng
chúng vẫn được mô tả là các cây bụi nhỏ (Phạm Hoàng Hộ, 2000)
1.1.3 Thành phần hóa học của loài Artemisia vulgaris L
Trong cây ngải cứu chứa tinh dầu với hàm lượng 0,20 – 0,34% Thành phần chủ yếu của tinh dầu là các monoterpen và sesquiterpen Gồm 1,8 cineol, camphor, terpinem 4.ol, β.pinen, borneol, myrcen và vulgrin (là những thành phần ít thay đổi) còn thuyon thường có mặt với hàm lượng thấp hoặc đôi khi không có (PROSEA – 1999) Trong ngải cứu Việt Nam, có những chất màu indigo – base, gần 50 hợp chất đã phân tích và xác định có trong lá, chủ yếu là β caryophylen 24%
và β cubedene 12 % (PROSEA – 1999) (Đỗ Huy Bích và cs., 2004)
Người ta dùng ngọn, cành mang hoa và lá để làm thuốc Có thể dùng tươi hay phơi khô tán bột, hãm hoặc sắc uống (Lê Đình Bích, 2005)
Ngoài các thành phần chủ yếu ở trên, trong cây ngải cứu còn có các hợp chất α-thuyon, dehydro matricaria este, tetradecatrilin, tricosanol, arachyl alcol, adenin, cholin (Lê Trần Đức, 1997)
1.1.4 Yêu cầu sinh thái của loài Artemisia vulgaris L
* Yêu cầu về độ cao
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
Loài A.vulgaris chịu được biên độ dao động độ cao rất lớn, chúng có thể
sống được ở những vùng lạnh có độ cao trên 3700 m ở Bắc Hymalaya, cho đến những vùng ấm hơn ở Nam Mỹ Chỉ có hai nơi trên thế giới không có sự xuất
hiện của A.vulgaris là Châu Phi và Antarica Điều đó cho thấy rằng loài
* Yêu cầu đất đai
Loài A.vulgaris có thể sinh trưởng phát triển trên các loại đất thịt pha cát,
đất sét pha cát có pH 5,5 – 6,8; cho đến đất cát, đất thịt, đất sét…
* Yêu cầu khí hậu
Ngải cứu là cây ưa khí hậu ôn hòa, có nắng ấm và mưa nhiều Trong điều kiện ánh sáng yếu (cây sống dưới tán cây rừng hoặc mọc lẫn với các cây bụi khác) hoặc trong điều kiện khô hạn cây vẫn sinh trưởng phát triển được
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng trong năm của loài Artemisia vulgaris L
hè Vào cuối hè, đầu thu cây bắt đầu ra hoa và hình thành hạt và phát tán hạt Mùa đông, phần thân trên mặt đất thường lụi đi, trong khi đó phần thân ngầm trong đất vẫn tồn tại Đến đầu vụ xuân năm sau, các thân ngầm trong đất sẽ mọc trồi lên khỏi mặt đất và hình thành nên cây con mới Đồng thời hạt cũng bắt đầu nảy mầm (Lê Kim Biên, 2007)
1.2 Giá trị sử dụng của cây ngải cứu
1.2.1 Ngải cứu được sử dụng trong trị liệu
* Làm điếu ngải
Lá ngải khô vò nát, loại bỏ cành cuống, phần còn lại gọi là ngải nhung Đem ngải nhung cuốn thành điếu như điếu thuốc lá Điếu ngải được đốt mang tính ấm nóng cao (thuần dương) nên khi dùng để làm nóng (cứu) các huyệt đạo sẽ làm khí huyết lưu thông, gây ấm nóng cơ thể, giảm đau, sưng, mỏi, làm tan máu tụ
Có nhiều phương pháp cứu nóng: Cách cứu bổ , cách cứu tả , cách xoay tròn, cách
rà trên vùng da Cứu nóng dùng để trị các chứng bệnh hàn, bệnh lâu ngày gây hư suy
Nên cẩn thận không để bị bỏng khi cứu, không để rơi tàn nóng làm bỏng da hay tàn tro bay vào mắt Thời gian cứu tối đa mỗi huyệt 3 – 5 phút, không nên lạm dụng đốt
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8
cứu quá nhiều ở một huyệt Cẩn thận với những phụ nữ đang mang thai hay hành kinh, người có làn da mẫn cảm (dị ứng), bệnh nhân tiểu đường, huyết áp cao, người già và trẻ em Cứu nóng sau bữa ăn là thích hợp nhất (caythuoc.vn)
* Sử dụng trong châm cứu
Hiểu biết của phương tây về “thuật châm cứu” thực chất liên quan tới
“Zhen Jiu” của người Trung Quốc (“Zhen Jiu” có nghĩa đen là phép cứu bằng ngải và thuật châm cứu) Trải qua hàng ngàn năm thực hành, ngải cứu được cho
là vật liệu cứu ngải tốt nhất So sánh với các vật liệu khác cho thấy ngải cứu dễ cháy và thơm hơn, lửa phát sinh vừa phải và dịu, phù hợp cho trị liệu Khi đốt ngải cứu, nhiệt tỏa ra có thể thâm nhập sâu vào trong cơ bắp và mang lại cảm
giác thoải mái (Zhao et al., 2011) Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng cứu ngải có thể gia tăng chức năng miễn dịch của cơ thể (Zhao et al., 2010)
* Chữa đau lưng do gai cột sống
Ngải cứu tươi 250g, dấm gạo 150ml, miếng vải mỏng, mềm Ngải cứu rửa sạch, giã nát Dấm đun cho nóng Dùng mảnh vải gói ngải cứu giã nát trộn với dấm đã đun nóng đem xoa dọc theo xương sống chừng 15 phút, trong quá trình xoa, nên hâm nóng thuốc thường xuyên Nên thực hiện vào buổi tối trước khi đi ngủ Mỗi liệu trình điều trị trong 15 ngày Và thực hiện liên tục từ 3 – 5 tháng
1.2.2 Một số món ăn, bài thuốc có ngải cứu
Món ăn
* Trị đau đầu: Lá ngải cứu non, tươi 150g, trứng gà 2 quả Cách làm: Lá
ngải cứu rửa sạch để ráo thái nhỏ Cho trứng vào đánh tan cùng với lá ngải cứu
đã thái nhỏ, thêm gia vị đem rán với dầu ăn Ngày làm 1 lần vào buổi sáng hoặc tối Ăn khi còn nóng Dùng liên tục trong 7 – 10 ngày Hoặc mỗi tháng nên ăn trong 10 ngày có công hiệu giúp lưu thông máu lên não Bài thuốc này dễ làm và
có hiệu quả tốt để trị chứng đau đầu
* Món ăn cho phụ nữ sau sinh: Dùng món gà tần ngải cứu, món ăn này có
công dụng bồi bổ sức khỏe
Gà ri hoặc gà đen 1 con, ngải cứu, táo đỏ, ý dĩ, hạt sen, tam thất, gia vị Gà
mổ sạch, sau đó nhồi các loại gia vị vào bụng rồi khâu lại, hầm thật nhừ
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
Bài thuốc trong đó có ngải diệp và 7 dược liệu khác đã được điều trị cho
31 thai phụ sẩy thai liên tiếp, trong đó 26 người chưa có con và 5 người đã có con Thời gian điều trị trung bình 45 ngày Kết quả là 31 người đã giữ được thai,
tỷ lệ 93,7% Nếu có triệu chứng dọa sẩy ra huyết hay động thai nhiều lần, kết quả điều trị không được tốt (Đỗ Huy Bích và cs., 2004)
* Làm thuốc điều kinh: Một tuần trước ngày kinh dự kiến, mỗi ngày lấy 6
– 12g (tối đa 20g) sắc với nước hoặc hãm với nước sôi như trà, chia làm 3 lần uống trong ngày Có thể uống dưới dạng bột (5 – 10g) hay dạng cao đặc (1 – 4g) Nếu kinh nguyệt không đều thì hàng tháng đến ngày bắt đầu kỳ kinh và cả những ngày đang có kinh, lấy ngải cứu khô 10g, thêm 200 ml nước, sắc còn 100 ml, thêm chút đường để uống, chia 2 lần/ngày Có thể uống liều gấp đôi, cũng 2 lần/ngày Sau 1 – 2 ngày sẽ thấy hiệu quả, người đỡ mệt, máu kinh đỏ và ít hơn
* Canh ngải cứu thịt nạc: Có công dụng trị bệnh đau bụng lạnh, mệt mỏi
Thịt nạc băm nhỏ, xào chín, thêm nước đun sôi rồi cho ngải cứu thái nhỏ vào Canh ăn nóng
* Chữa đau khớp: Dùng cháo ngải cứu, ngải cứu tươi một nắm, gạo tẻ,
đường vừa đủ Nấu nhừ ngải cứu để lấy nước hầm cháo, ăn nóng
* Kinh nghiệm dân gian: dùng ngải cứu tươi nấu thành cao để ăn có tác
dụng tốt cho sức khỏe của người già Dùng thân lá ngải cứu phơi khô làm chăn, đệm, gối có tác dụng tốt cho giấc ngủ, chữa đau đầu, mất ngủ Dùng thân, lá cây ngải cứu tươi giã nát đắp vào chỗ bị bong gân cốt có tác dụng giảm đau và hỗ trợ điều trị
Ngải cứu được coi là tốt cho sức khỏe nhưng nếu dùng quá nhiều cũng có thể gây ra ngộ độc Độc tính của ngải cứu khi dùng quá liều là làm cho thần kinh trung ương bị hưng phấn quá mức, dẫn tới chân tay run giật, sau đó cục bộ hoặc toàn thân co giật; Sau vài lần có thể dẫn đến kinh quyết (co cứng), nói nhảm,
thậm chí tê liệt… (caythuocquy.com)
Một số nghiên cứu mới đây cho thấy bà bầu ăn quá nhiều ngải cứu trong
ba tháng đầu mang thai sẽ làm tăng nguy cơ bị ra máu, co bóp cổ tử cung nên dễ
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
dẫn đến sảy thai hoặc sinh non Chính vì thế, bà bầu nên chú ý khi ăn ngải cứu để tránh xảy ra những trường hợp đáng tiếc
Tinh dầu trong ngải cứu là thành phần có tác dụng chữa bệnh, nhưng cũng
là một thành phần có độc tính Những người bị viêm gan nên tránh xa món này
Người bình thường, không có bệnh, không nên sử dụng nước sắc ngải cứu, như một thứ nước uống thường xuyên, giống như nước trà
Khi sử dụng lá ngải cứu sắc uống thay trà, chỉ nên sử dụng khoảng 3 – 5g khô (9
- 15g tươi) Chỉ nên sử dụng theo từng đợt, khỏi bệnh thì nghỉ (suckhoedoisong.vn)
Bài thuốc
* Chữa ho: Lá ngải cứu, lá nguyệt bạch, cây bọ mắm, mỗi thứ một nắm;
trà ngon, đủ pha một ấm, gừng 3 lát Sắc uống ngày một thang
* Chữa sỏi đường tiết niệu không có cơn đau, không tiểu tiện ra máu, không đái buốt, đái dắt: Ngải cứu 16 g, kim tiền thảo 40 g, kê nội kim 8 g Sắc
uống ngày một thang
* Chữa trúng phong cấm khẩu: Dùng lá ngải cứu, đốt cứu ở huyệt dưới
môi và bên gốc hàm (phối hợp với một số bài thuốc khác dùng uống)
* Thuốc xoa bóp chữa phong thấp: Ngải cứu và phèn chua 2 vị cùng sao
lẫn rồi đắp và bóp vào chỗ đau
* Chữa đầu phong, mặt lở ngứa chảy nước vàng: Ngải cứu 80 g, giấm
thanh 600 g sắc lấy nước, lấy giấy mỏng dấp nước thuốc rồi đắp, mỗi ngày 2 lần
1.2.3 Trong lĩnh vực phòng trừ sâu bệnh
Trong thân lá của loài A.vulgaris có chứa estrogenic flavonoid và ankaloid Tinh dầu của A.vulgaris còn được sử dụng làm thuốc trừ sâu, trừ vi khuẩn và các sinh vật kí sinh Ngoài ra, tinh dầu của A.vulgaris còn có tác dụng đặc biệt như xông hơi và xua đuổi côn trùng (loài Musca domestica) (Viện Dược Liệu, 2006)
Trong thành phần của tinh dầu A.vulgaris còn thu được một chất ức chế
sinh trưởng có tác dụng kìm hãm sự nảy mầm của hạt, sự sinh trưởng của loài cỏ
Linh Lăng Chiết xuất từ lá của loài A.vulgaris còn được sử dụng để xua đuổi
muỗi (Phạm Hoàng Hộ, 2000)
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
Cao nước ngải cứu có tác dụng ức chế rõ rệt sự phát triển của vi khuẩn
gram – dương và gram – âm in vitro Nó ức chế đáng kể sự phát triển của vi khuẩn gây sâu răng Streptococcus mutans Tinh dầu từ lá ngải cứu tươi thử ở
5000 ppm đối với nấm Aspergillus flavus ức chế phát triển nấm 67% Ngải cứu
có thể gây viêm da tiếp xúc (Phạm Hoàng Hộ, 2000)
Tác động của dịch chiết xuất từ thân rễ ngải cứu lên sự nở trứng, tỷ lệ tử
vong, sự lây nhiễm cây chủ của tuyến trùng Meloidogyne megadora đã được
nghiên cứu Các tác giả đã kết luận dịch chiết ức chế quá trình nở trứng (ức chế 50% ở liều lượng 2,35 mg/ml) và gây chết cho con non ở giai đoạn 2 (gây chết 50% ở liều lượng 55,67 mg/ml trong 12 giờ) Sự lây nhiễm tuyến trùng trên
nhiễm 50% trong vòng 6,28 giờ) Khi dùng trực tiếp vào đất, dịch chiết đã làm giảm u rễ trên cây chủ mẫn cảm (ức chế 50% ở liều lượng 32,36 mg/ml) Sau khi pha loãng với nước cất, dịch chiết không bị mất tác dụng khi được bảo quản trong bóng tối ở 25 0 C và trong vòng 15 ngày (Costa et al., 2003)
Polyacetylenes được chiết xuất từ A vulgaris có tác dụng gây chết 100% con trưởng thành ở loài Caenorhabditis elegans ở nồng độ 0,5 mg/ml, nhưng
hoạt động của nó phụ thuộc vào sự hoạt hóa polyacetylen bởi sự phát xạ UV
(Wat et al., 1981)
1.3 Một số nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới
1.3.1 Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Thành quả chọn tạo giống cây trồng trên phạm vi thế giới đã nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của loài người Điển hình là “Cách mạng xanh” từ thập kỷ 60 của thế kỷ 20 đã làm tăng vọt năng suất cây trồng, chủ yếu là lúa mì, lúa nước, ngô do cải tiến kiểu gen kết hợp với cải tiến kỹ thuật (phân đạm, tưới tiêu, cơ giới hoá) Ở Việt Nam, công tác giống cây trồng không chỉ góp phần vào việc tăng năng suất, chất lượng mà làm thay đổi cả cơ cấu mùa vụ, tính đa dạng của sản phẩm, bảo đảm an ninh lương thực, v.v…Năng suất lúa, ngô, lạc, đậu tương và nhiều cây trồng khác
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12
không ngừng tăng trong nhiều thập kỷ qua (Vũ Đình Hòa và cs., 2005)
Các thành tựu về giống cây trồng, vật nuôi đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, sản lượng lương thực, thực phẩm, đưa sản xuất nông nghiệp từng bước trở thành sản xuất hàng hoá, không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn dư thừa để xuất khẩu Trong giai đoạn 2008-2013 các đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ đã giới thiệu ra ngoài sản xuất 340 giống cây trồng mới trong đó có 119 giống lúa, 31 giống ngô, 28 giống đậu đỗ, 17 giống rau, 18 giống cây có củ, 10 giống nấm, 28 giống hóa 23 giống cây ăn quả, 48 giống cây công nghiệp, 10 giống thuộc các loại cây khác và 8 cây ăn quả đầu dòng Các giống cây trồng mới đã góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp của nhiều địa phương (pgrvietnam.org.vn)
Về nguồn dược liệu thiên nhiên, Việt Nam hiện có 4.000 loài cây thuốc, hơn 50 loài tảo biển, 75 loài khoáng vật và gần 410 loài động vật làm thuốc, trong đó có nhiều loại dược liệu quý được thế giới công nhận như cây hồi, quế, atisô, sâm Ngọc Linh Tổng sản lượng dược liệu trồng ở Việt Nam ước tính đạt khoảng 100.000 tấn/năm Với sự đa dạng về khí hậu và thổ nhưỡng - đất đai, ngay từ cuối những năm của thập kỷ 60-80 ở Việt Nam đã hình thành những vùng trồng, sản xuất cây dược liệu có tính chuyên canh Điều này đã cho thấy nguồn dược liệu ở nước ta rất phong phú Tuy nhiên, cho đến nay, nguồn dược liệu nước ta vẫn phải phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu mà chưa phát huy được hết những tiềm năng thảo dược tự nhiên (moh.gov.vn)
Để tăng năng suất phải cải tiến cả môi trường sinh trưởng cho cây lẫn cải
tiến đặc điểm di truyền Năng suất tối đa không thể đạt được chỉ bằng biện pháp canh tác tốt hay chỉ bằng giống được cải tiến Không có biện pháp canh tác tốt phù hợp thì tiềm năng năng suất của giống sẽ bị lãng phí; không có giống tốt thì lợi ích và hiệu quả của các biện pháp canh tác không đạt tối đa (Vũ Đình Hòa và cs., 2005)
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học trong nước đã có nhiều đề tài
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật liên quan tới cây dược liệu nói chung và cây ngải cứu nói riêng
Theo Đỗ Huy Bích và cs (2004) ngải cứu là cây ưa ẩm, có thể hơi chịu bóng thường được trồng phân tán trong các vườn gia đình, hay các vườn thuốc của các cơ sở y học dân tộc Cây mọc thành từng khóm, nếu không bị thu hái, tỉa thưa sẽ nhanh chóng bò lan tạo thành đám lớn khó phân biệt giữa các cá thể Cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân – hè; về mùa đông, phần thân, cành trên mặt đất có hiện tượng tàn lụi một phần Ngải cứu ra hoa quả nhiều hàng năm, song hạt không được sử dụng để gieo trồng
Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Thanh Hà (2010) về khả năng sinh trưởng, phát triển của cây ngải cứu trồng tại Thuận Châu - Sơn La cho thấy: Chiều cao thu hái khác nhau có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây ngải cứu Thu hái cách mặt đất 5 cm đã để lại phần gốc thân mang các mầm ngủ với số lượng vừa phải, số mầm tái sinh/m 2 hợp lý, tạo điều kiện cho cây mầm sinh trưởng phát triển tốt nên năng suất tươi thu được đạt cao nhất Kéo dài thời gian giữa các lần thu hái từ 21 đến 35 ngày làm tăng khả năng tăng trưởng về chiều cao cây, đường kính thân, cũng như số lá, số mầm tái sinh và năng suất tươi của mỗi lứa càng cao, nhưng làm giảm số lứa hái/vụ
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng (2011) đã xác định thành phần và cấu tạo một số hợp chất hóa học trong tinh dầu từ cây ngải cứu ở Quảng Nam Kết quả nghiên cứu đã xác định được độ ẩm (lá ngải cứu non là 84,33%, lá ngải cứu già là 80,89%), hàm lượng tro vô cơ (lá ngải cứu non là 13,92%, lá ngải cứu già
là 15,24%), hàm lượng tinh dầu (lá ngải cứu non là 1,27%, lá ngải cứu già là 1,57%), hàm lượng kim loại nặng trong lá ngải cứu nằm trong giới hạn cho phép
sử dụng của Bộ y tế Nghiên cứu đã kết luận dung môi tối ưu để chiết tách các cấu tử trong lá ngải cứu là metanol Đồng thời nghiên cứu đã định danh được các chất có trong tinh dầu ngải cứu, trong đó các cấu tử chủ yếu thuộc các nhóm monoterpen, secquiterpen, diterpen bao gồm dẫn xuất của phenol, ancol, xeton
Về ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
của ngải cứu, Nguyễn Tiến Cường (2012) đã kết luận: Mật độ trồng khác nhau có ảnh hưởng rõ đến sinh trưởng phát triển cây ngải cứu Mật độ trồng tăng dần từ
15 cây/m 2 đến 40 cây/m 2 làm tăng khả năng tăng trưởng về chiều cao cây, số mầm tái sinh, chỉ số diện tích lá cũng như tỷ lệ thân/lá Mặt khác lại làm giảm số lá/cây, đường kính thân, tỷ lệ tươi/khô
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
1.3.2 Một số nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về đặc điểm thực vật học, thành phần hóa học và tác dụng dược lý của cây ngải cứu
Thống kê toàn bộ lượng vật chất của cây ngải cứu ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng cho thấy hàm lượng protein trung bình chiếm 31,5% (giai đoạn trước
ra hoa protein chiếm 31%, giai đoạn trưởng thành chiếm 32%) Hàm lượng protein có trong cây ngải cứu thu hoạch vào tháng 11 là 12% Hàm lượng photpho trong suốt quá trình sinh trưởng của cây ngải cứu trung bình là 0,54% (Schuman and Howard, 1978)
Nghiên cứu của Judžentienė and Buzelytė (2006) trên cây ngải cứu trồng tại Bắc Lithuania đã xác định trong cây có chứa tinh dầu với hàm lượng 0,33% Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy trong tinh dầu ngải cứu có rất nhiều yếu tố hợp thành với lượng đáng lưu ý là sabinene, β-pinene, 1,8-cineole, artemisia ketone, cis and trans- thujone, chrysanthenyl acetate, germacrene D và caryophyllene
Một nghiên cứu khác tại Iran (Tajadod et al., 2012) đã xác định được thành phần tinh dầu có trong các bộ phận trên mặt đất của Artemisia vulgaris L
Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng tinh dầu tổng số đạt 0,56%, trong đó có
14 phức hợp tiêu biểu Các phức hợp chính bao gồm Isobornyl isobutyrate (38,06%), β-pinene (30,13 %), dl-Limonene (6,23%), δ-3-Carene (4,80%), α- pinene (4%), δ-Terpinene (2,76%) and trans-Rose oxide (2,00%)
Flavonoid có mặt trong tất cả các bộ phận của các loài thực vật bậc cao, đặc biệt là ở hoa, tạo màu sắc cho sắc rực rỡ để quyến rũ các loại côn trùng giúp cho sự thụ phấn của cây Trong cây, flavonoid giữ vai trò là chất bảo vệ, chống oxy hoá, bảo tồn acid ascorbic trong tế bào, ngăn cản một số tác nhân gây hại cho cây (vi khuẩn, virus, côn trùng…), một số còn có tác dụng điều hoà sự sinh trưởng của cây cối (hoahocngaynay.com) Trong cơ thể sinh vật, các gốc tự do sinh ra nhiều là nguyên nhân làm cho tế bào hoạt động khác thường, gây ra biến
dị, huỷ hoại tế bào, ung thư, tăng nhanh sự lão hoá… flavonoid có tác dụng ngăn chặn quá trình oxy hóa do các gốc tự do này Flavonoid còn thể hiện tác dụng
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16
chống co thắt những tổ chức cơ nhẵn (túi mật, ống dẫn mật, phế quản…) Trên hệ tim mạch, nhiều flavonoid như quercetin, rutin, myricetin… có tác dụng làm tăng biên độ co bóp tim, tăng thể tích phút của tim Những nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra những tác động của thực phẩm giàu flavonoid với những nguy cơ về tim mạch như huyết áp cao Flavonoid làm bền thành mạch, được dùng trong các trường hợp rối loạn chức năng tĩnh mạch, giãn hay suy yếu tĩnh mạch, trĩ, rối loạn tuần hoàn võng mạc… Ngoài ra, flavonoid còn có tác dụng chống độc, làm giảm thương tổn gan, bảo vệ chức năng gan (duoclieu.org) Nghiên cứu về các hợp chất hóa học đã xác định có hơn 20 loại flavonoid có trong dịch chiết cây ngải cứu (Lee, 1998) Một vài flavonoid được tìm thấy trong dịch chiết ngải cứu như acetylenes, counmarins, sesquiterpene lactones (Macro and Barbera, 1990) Theo y học cổ truyền Trung Hoa, ngải cứu được sử dụng như một nhân tố
giúp giảm đau, kết hợp với phép chữa bệnh bằng thuật châm cứu (Yoshikawa et
al , 1996), chữa trị bệnh viêm bao tử (Repetto and Llesuy, 2002), bệnh viêm gan (Tan et al., 1999), chống lại chứng tăng huyết áp (Tigno et al., 2001), chống lại quá trình oxy hóa (Luo et al., 2007) Nghiên cứu của Zhao et al (2011) tiến hành
trên 24 tình nguyện viên tại Đại học Y Bắc Kinh Trung Quốc đã kết luận khói của điếu ngải có thể làm gia tăng hoạt động của hệ thần kinh tự trị Sử dụng điếu ngải
có thể tạo ra hiệu quả giảm đau đối với cơ thể người Cũng theo y học cổ truyền, các phần trên mặt đất của ngải cứu được sử dụng để kháng khuẩn, chống lại các cơn co
thắt và là một chất bổ cho các bộ phận trong cơ thể (Duke et al., 2002)
Lá ngải cứu được dùng như một thảo dược Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra thành phần chính của naphtha ngải cứu là eudesmol, thujone, camphor, borneo camphor, 4-terpene alcohol, caryophyllene, axit oleanolic, juniper camphor…
Những thành phần này có thể tồn tại trong khói của bông để cứu ngải (Jin et al.,
2010) Axit artemisic và artemisinin B chiết xuất từ ngải cứu có khả năng chống lại
khối u (Sun et al., 1992) Hoạt động kháng côn trùng cũng đã được tìm thấy ở tinh dầu ngải cứu (Wang et al., 2006)
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17
Cho dù ảnh hưởng có lợi đã được mô tả bởi những người dùng, tuy nhiên việc sử dụng ngải cứu và các chế phẩm của nó mà không có sự hướng dẫn của dược sĩ có thể gây nguy hiểm Một vài trường hợp ảnh hưởng đã được báo cáo, tương tác thuốc và ảnh hưởng biên của những sản phẩm này vẫn chưa được hiểu biết một cách đầy đủ (Rorblatt and Ziment, 2002)
Trong những năm trở lại đây, nhiều thành phần kháng oxy hóa tổng hợp
đã thể hiện độc tính hoặc gây ra đột biến gen Chính điều này đã hướng sự chú ý của các nhà khoa học về phía các chất chống oxy hóa có trong tự nhiên Xu hướng chung của thế giới hiện nay là sử dụng những dưỡng chất từ thực vật có lợi cho sức khỏe có trong các loại quả mọng, các loại trà, thảo dược, các loại hạt
có dầu, đậu nành và các loại rau (Deiana et al., 1999).
Nghiên cứu của Temraz và El-Tantawy (2008), Đại học Al-Azhar, Cairo,
Ai Cập cho thấy dịch chiết xuất ngải cứu có chứa chất chống lại quá trình oxy hóa, có tác dụng trong việc bảo vệ hoặc làm chậm quá trình oxy hóa – nguyên nhân gây ra nhiều loại bệnh ở người Cụ thể, giá trị IC 50 (nồng độ của mẫu mà tại
đó có thể ức chế 50% gốc tự do) đối với DPPH là 11,4 µg/ml, IC 50 đối với Nitric
oxide là 125 mg/ml Xử lý dịch chiết của Artemisia vulgaris trên chuột đã cho kết
quả là sự gia tăng có ý nghĩa lượng glutathione máu, phản ứng phân tách peroxit và lượng axit ascorbic huyết thanh Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra rằng dịch chiết
Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và ánh sáng tới sự nảy mầm của hạt ngải cứu đã được thực hiện tại Thổ Nhĩ Kỳ (Önen, 2006) Thí nghiệm tiến hành trên hạt của 5 mẫu giống ngải cứu thu thập từ 5 vùng khác nhau trên Thổ Nhĩ Kỳ: Rize, Giresun, Tokat, Antalya và Denizli Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ tiến hành trên 9 mức nhiệt độ: 5, 10, 15, 20, 25, 30, 35, 40 và 45 0 C, với nhiệt độ ổn định, trong điều kiện tối hoàn toàn Tác giả đã kết luận: Tỷ lệ nảy mầm và tốc độ nảy mầm của hạt ngải cứu chịu ảnh hưởng của nhiệt độ Tỷ lệ nảy mầm cao nhất trong dãy nhiệt độ 15 – 30 0 C, mức nhiệt độ cao nhất và thấp nhất trong thí nghiệm làm giảm tỷ lệ nảy mầm của hạt Tỷ lệ nảy mầm cao nhất ở 25 0
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18
ở cả 5 mẫu hạt giống Nhiệt độ 45 0 C đã làm chết tất cả các hạt giống Ở 5 0 C, sự nảy mầm chỉ diễn ra ở 2 loại hạt được thu thập từ vùng ven biển Đen (Rize và Giresun) Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng được tiến hành với 2 mẫu hạt ngải cứu thu thập từ Antalya và Tokat Hạt được đặt trong các khoang sinh trưởng trong 3 điều kiện chiếu sáng (tối hoàn toàn, 12 giờ tối/ngày và 24 giờ sáng/ngày) ở 3 mức nhiệt khác nhau (20, 25, và 30 0 C) Kết quả thí nghiệm cho thấy tỷ lệ nảy mầm của 2 mẫu giống ở tất cả các công thức khác nhau không có ý nghĩa Tác giả đã kết luận tốc độ nảy mầm của hạt không chịu ảnh hưởng của điều kiện chiếu sáng
Ảnh hưởng của chiều cao thu hái và một số yếu tố khác tới năng suất, chất lượng cây trồng đã được tiến hành tại nhiều nơi trên thế giới, trên nhiều đối tượng cây trồng
Một thí nghiệm đồng ruộng đã được tiến hành tại Thái Lan trong điều kiện nước tưới dựa hoàn toàn vào nước trời để xác định ảnh hưởng của các mức chiều cao thu hái khác nhau (cắt cách mặt đất 0, 10, 20 và 30 cm) và ngày thu hái trong mùa khô (tháng 11 và tháng 1) đối với năng suất chất khô và chất lượng cỏ khô
của 5 giống cỏ voi (Pennisetum purpureum) Nghiên cứu đã kết luận năng suất
chất khô của 5 giống cỏ voi tăng khi tăng chiều cao thu hái so với mặt đất một cách có ý nghĩa ở năm thứ hai Hàm lượng N, P, K trong lá và chồi không bị ảnh hưởng bởi chiều cao thu hái NDF% (chất xơ không hòa tan trong dung dịch trung tính) có hàm lượng thấp hơn ở công thức thu hái cách mặt đất 0 cm so với công thức 30 cm Kết quả của thí nghiệm gợi ý rằng chiều cao thu hái tốt nhất cho tất cả các loài cỏ voi không nên thấp hơn 20 cm để cây có thể tái sinh trưởng một cách nhanh và hiệu quả nhất, khi so sánh với việc cắt sát mặt đất hoặc cắt
cách đất 10 cm như nông dân Thái Lan vẫn thường làm (Tudsri et al., 2002)
Kéo dài khoảng thời gian thu hái cũng có nghĩa là cây trồng có thời gian sinh trưởng, phát triển trên đồng ruộng dài hơn Do đó với cùng một độ cao cắt cách mặt đất, khi kéo dài khoảng thời gian thu hái sẽ cho phần thu hoạch của cây dài hơn
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19
Wadi et al (2004) đã tiến hành thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của
khoảng thời gian thu hái (60 và 90 ngày) và chiều cao thu hái (0 và 30 cm so với mặt đất) đối với năng suất chất khô và khả năng qua đông trong năm đầu tiên của một số loài Pennisetum (napiergrass, kinggrass, hybrid napiergrass và pearl millet) Kết quả cho thấy năng suất chất khô ở cả 4 loài cỏ thu hái ở 90 ngày kết hợp chiều cao thu hái 0 cm đều cao hơn so với công thức thu hái ở 60 ngày kết hợp chiều cao thu hái 30 cm Tỷ lệ cây qua đông và số mầm tái sinh ở công thức thu hái cách đất 30 cm cao hơn so với công thức thu hái cách đất 0 cm Điều này
có liên quan tới số lượng mầm và tỷ lệ carbohyrate không cấu trúc tổng số (TNC) còn lại trong gốc rạ ở công thức thu hái cách đất 30 cm nhiều hơn so với công thức thu hái cách đất 0 cm
Ảnh hưởng của thời điểm thu hái và mật độ trồng đối với năng suất lá,
tinh dầu và artemisinin của một loài cây cùng họ với cây ngải cứu là Artemisia
được tiến hành trên 5 mức mật độ (6.944, 10.000, 15.625, 27.777 và 49.383 cây/ha) và 4 thời điểm thu hái (4, 5, 6 và 7 tháng sau trồng) Kết quả cho thấy năng suất lá khô cao nhất (3,15 tấn/ha), năng suất tinh dầu cao nhất (19,2 kg/ha) và năng suất artemisinin cao nhất (10,9 kg/ha) thu được ở công thức mật độ 27.777 cây/ha
và thu hoạch vào thời điểm 5 tháng sau trồng
Ảnh hưởng của chiều cao thu hái đối với cỏ làm thức ăn chăn nuôi đã được
nghiên cứu Thí nghiệm của Mayne et al (1992) đã kết luận khi tăng chiều cao bãi
cỏ với bốn mức chiều cao 75, 100, 125, 150 cm đã làm tăng hàm lượng protein thô trong cỏ lần lượt đạt: 138, 153, 164 và 184 (g/kg chất khô) trong năm đầu tiên
Nghiên cứu của Fonseca et al (2013) trên các mức chiều cao bãi cỏ 30, 40, 50, 60,
70 và 80 cm đã kết luận khi tăng chiều cao bãi cỏ đã làm tăng khối lượng chất khô
và tăng tỷ trọng khối của đống cỏ Nghiên cứu của Heering (1995) trên cây điên điển với hai mức chiều cao cây khi thu hoạch (75 và 150 cm) đã kết luận: Tăng chiều cao thu hái đã làm tăng khả năng tích lũy chất khô trong lá
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20
Có thể thấy, tại Việt Nam và trên thế giới đã có những nghiên cứu về cây ngải cứu, tuy nhiên các nghiên cứu mới chủ yếu tập trung vào thành phần hóa học, tác dụng dược lý…Chưa có những nghiên cứu về giống, các biện pháp kỹ thuật tác động đối với cây ngải cứu (phân bón, thời vụ, kỹ thuật thu hái…) Do vậy đề tài thực hiện nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chất lượng dược liệu của các mẫu giống ngải cứu và ảnh hưởng của chiều cao thu hái đối với các mẫu giống ngải cứu
là hoàn toàn phù hợp, đáp ứng nhu cầu thực tế sản xuất hiện nay
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Vật liệu
Các mẫu giống ngải cứu thu thập tại các tỉnh, thành phố khác nhau
Tên mẫu Nơi thu thập
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá đặc điểm hình thái, sinh trưởng, phát triển và chất lượng dược liệu của các mẫu giống ngải cứu được thu thập
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của các mẫu giống ngải cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao thu hái đến sinh trưởng, phát triển
và năng suất của một số mẫu giống ngải cứu
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá đặc điểm hình thái, sinh trưởng, phát triển và chất lượng dược liệu của một số mẫu giống ngải cứu trồng tại Gia Lâm – Hà Nội trong điều kiện không thu hái
- Thí nghiệm tiến hành trên 10 mẫu giống ngải cứu: G1, G2, G5, G6, G7, G9, G10, G12, G13, G14
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu tuần tự không nhắc lại, diện tích mỗi ô thí nghiệm là 10m 2
2.3.2 Thí nghiệm 2: Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số mẫu giống ngải cứu trồng tại Gia Lâm – Hà Nội trong điều kiện có thu hái
- Thí nghiệm tiến hành trên 10 mẫu giống ngải cứu: G1, G2, G5, G6, G7, G9, G10, G12, G13, G14
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu Khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) với 3 lần nhắc lại, diện tích mỗi ô thí nghiệm là 10m 2
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23
Thí nghiệm tiến hành trên 3 mẫu giống ngải cứu G1, G6, G7 với 3 mức chiều cao thu hái H1, H2, H3:
+ H1: Khi cây cao 20 – 25 cm
+ H2: Khi cây cao 30 – 35 cm
+ H3: Khi cây cao 40 – 45 cm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô lớn – ô nhỏ (Split – plot), 9 công thức,
3 lần nhắc lại, trong đó nhân tố phụ (ô lớn) là các mẫu giống ngải cứu, nhân tố chính (ô nhỏ) là chiều cao thu hái, diện tích mỗi ô nhỏ là 10 m 2
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25
-) Mức độ lông trên thân: Đánh giá mức độ lông trên thân ở 4 mức độ: Ít, trung bình, nhiều, rất nhiều
-) Số cạnh trên thân: Đếm số cạnh trên thân
+ Cành: Số lượng cành cấp 1, góc phân cành
- Lá cây:
+ Số lá trên thân chính: Đếm toàn bộ số lá trên thân chính
+ Kích thước lá (cm): Đo kích thước của các lá bánh tẻ ở giữa thân Chiều dài lá: Đo từ gốc cuống lá đến chóp lá (cm) Chiều rộng lá: Đo ở chỗ rộng nhất của lá (cm)
+ Màu sắc phiến lá, gân lá
+ Khối lượng 1000 quả
+ Thời gian nảy mầm, tỷ lệ nảy mầm
• Thời gian sinh trưởng
- Thời gian từ trồng đến ra hoa (ngày): Xác định khi có 50% số cây ra hoa
- Thời gian từ ra hoa đến làm quả (ngày): Xác định khi có 50% số cây làm quả
- Thời gian quả chín (ngày): Xác định khi có 50% số cây quả chín
• Chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển
Trước mỗi lứa cắt, trên mỗi ô thí nghiệm chọn ngẫu nhiên 5 cây, tiến hành
đo đếm các chỉ tiêu:
- Chiều cao cây (cm): Đo từ cổ rễ đến đỉnh sinh trưởng
- Đường kính thân (cm): Đo cách mặt đất 2 cm
- Số lá trên cây: Đếm toàn bộ số lá trên cây
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26
- Chỉ số hàm lượng diệp lục (SPAD) trong lá: Đo bằng máy SPAD 502 Minota (Japan), đo tại lá thứ ba từ trên xuống, mỗi lá đo 3 lần ở 3 vị trí rồi lấy giá trị trung bình
- Chỉ số diện tích lá (LAI – m 2 lá/m 2 đất): Trên 1 cây, cân khối lượng 1
dm 2 lá tươi (M1), cân khối lượng của toàn bộ lá tươi (M2), sau đó tính chỉ số diện tích lá (LAI)
LAI = M2/M1 x 25/100 (m 2 lá/m 2 đất)
- Số mầm tái sinh (mầm/m 2 ): Sau mỗi lứa cắt, từ các mầm ngủ sẽ phát triển thành cây con Số mầm tái sinh chính là số nhánh/cây
Số mầm tái sinh (mầm/m 2 ) = Số nhánh/cây x mật độ (cây/m 2 )
- Khả năng tích lũy chất khô (g/cây): Sau mỗi lần thu hái, trên mỗi ô cân 1
kg ngải cứu tươi, sau đó đem sấy khô ở 80 0 C đến khối lượng không đổi và cân để lấy khối lượng ngải cứu khô
- Tỷ lệ tươi/khô
- Tỷ lệ lá/thân
• Chỉ tiêu tỷ lệ ngọn non
Tỷ lệ ngọn non (%) = Khối lượng ngọn non/Khối lượng toàn cây x 100
• Chỉ tiêu năng suất
- Năng suất cá thể (g/cây): Cân toàn bộ khối lượng thân, lá tươi của 5 cây ngẫu nhiên, sau đó tính trung bình
- Năng suất lý thuyết (tạ/ha) = Năng suất cá thể x Mật độ
- Năng suất thực thu (tạ/ha) = Năng suất ô x 10 3
• Chỉ tiêu tỷ lệ chất xơ
Tỷ lệ chất xơ (%) = khối lượng toàn bộ thân lá x 100 khối lượng chất xơ
Các mẫu giống ngải cứu trong thí nghiệm 2 được thu hái khi cây đạt chiều cao 30 – 35 cm Tiến hành thu hái 4 lứa và lấy mẫu xác định các chỉ tiêu ngay trước khi thu hái, sau đó tính giá trị trung bình lứa
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27
Các mẫu giống ngải cứu trong thí nghiệm 3 được thu hái khi cây đạt chiều cao theo các công thức thu hái Tiến hành thu hái 4 lứa và lấy mẫu xác định các chỉ tiêu ngay trước khi thu hái, sau đó tính giá trị trung bình lứa
Các mẫu giống ngải cứu được thu hái cách mặt đất 5cm
• Mùi vị
Thành lập hội đồng 5 người, đánh giá theo tiêu chí sau:
STT Chỉ tiêu đánh giá Tiêu chí đánh giá Mẫu giống
1 Mùi thơm tinh dầu
Không thơm
Ít thơm Thơm Rất thơm
Đắng Không đắng Rất đắng Xác định mùi, vị trên lá ngải cứu tươi, sử dụng những lá ở giữa thân Mùi: Lá ngải cứu tươi được vò nát để xác định mùi
Vị: Nhai lá ngải cứu tươi để xác định vị
• Chỉ tiêu chất lượng dược liệu
Chỉ tiêu hàm lượng tinh dầu
Các mẫu giống ngải cứu thu thập được trồng, thu hoạch và phân tích hàm lượng hoạt chất tại Viện Kiểm Nghiệm Thuốc Trung Ương theo phương pháp cất kéo hơi nước để xác định hàm lượng tinh dầu của các mẫu giống
Tiến hành phân tích hàm lượng tinh dầu trên 10 mẫu giống ngải cứu: G1, G2, G5, G6, G7, G9, G10, G12, G13, G14 ở 3 lứa hái 2/6, 28/8, 2/12 sau đó tính giá trị trung bình
Chỉ tiêu hàm lượng flavonoid
Tiến hành phân tích trên 10 mẫu giống ngải cứu: G1, G2, G5, G6, G7, G9, G10, G12, G13, G14 Các mẫu giống được trồng, thu hoạch 4 lứa (31/3, 2/6,
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28
28/2, 2/12), sau đó trộn đều 4 lứa rồi đưa đi phân tích hàm lượng flavonoid tại Viện Dinh Dưỡng theo phương pháp PPN.2H013a
• Mức độ nhiễm sâu bệnh hại
Theo dõi theo quy chuẩn QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT
+ Mức độ bị hại bởi các loại sâu hại chính (sâu xanh, sâu khoang):
Số cây bị sâu hại
Tỷ lệ hại (%) = x 100
Tổng số cây/ô + Tỷ lệ bệnh và mức độ nhiễm bệnh (sùi cành, lá):
Số cây bị bệnh
Tỷ lệ bệnh (%) = x 100
Tổng số cây/ô Đánh giá mức độ nhiễm sâu, bệnh theo 5 cấp từ cấp 1 đến cấp 5:
Cấp 1: Không có triệu chứng
Cấp 2: Nhẹ - dưới 20% số cây bị sâu/bệnh gây hại
Cấp 3: Trung bình – từ 21% đến 50% số cây bị sâu/bệnh gây hại
Cấp 4: Nặng – từ 51% đến 75% số cây bị sâu/bệnh gây hại
Cấp 5: Rất nặng – trên 75% số cây bị sâu/bệnh gây hại
Phân vi sinh Sông Gianh: 2 tấn/ha
N:P:K = 90:90:60 (Kg/ha), quy ra lượng thương phẩm:
Ure (46% N) = 195,65 Kg/ha
Supe lân (16,5% P2O5) = 545,45 Kg/ha
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29
KCl (59% K2O) = 101,69 Kg/ha
+ Cách bón:
Bón lót toàn bộ phân vi sinh vào lần cày bừa đất cuối cùng
Bón 1/3 lượng NPK vào lúc rạch hàng trước khi trồng
- Chăm sóc: Giai đoạn đầu khi mới trồng tiến hành tưới ẩm thường
xuyên cho ngải cứu nhanh bén rễ hồi xanh Thường xuyên làm sạch cỏ trên
ruộng thí nghiệm
2.5 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu được tổng hợp và xử lý thống kê theo phần mềm phân tích phương sai (ANOVA) theo chương trình IRRISTAT 5.0 và phần mềm EXCEL
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 30
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá đặc điểm hình thái, sinh trưởng, phát triển và chất lượng dược liệu của một số mẫu giống ngải cứu trồng tại Gia Lâm – Hà Nội trong điều kiện không thu hái
3.1.1 Đặc điểm thực vật học của các mẫu giống ngải cứu
3.1.1.1 Đặc điểm hình thái rễ cây
Quan sát rễ các mẫu giống ngải cứu cho thấy: cây ngải cứu mọc từ hạt có kiểu rễ trụ điển hình; gồm các phần như chóp rễ, miền sinh trưởng, miền hấp thụ, miền trưởng thành
Tuy nhiên, khi cây mọc từ đốt thân ngầm hoặc từ các đốt thân thì bộ rễ được phát sinh từ các nốt rễ nên các rễ bên sinh trưởng khá đồng đều, rễ chính không còn biểu hiện rõ, các rễ được phân bố tập trung ở phần gốc cây
3.1.1.2 Đặc điểm hình thái thân
* Đặc điểm hình thái thân ngầm
Thân ngầm là bộ phận được phát sinh từ các mắt đốt của gốc thân nằm trong đất; mang các bộ phận của một cơ quan sinh dưỡng như lóng, đốt, lá, đỉnh sinh trưởng… Thân ngầm hình thành và phát triển trong đất, sau đó trồi lên khỏi mặt đất để phát triển thành một cây hoàn chỉnh
Thân ngầm của ngải cứu đều có dạng hình tròn, sau khi phát triển thành thục ở trong đất thì thân có màu trắng đục, phân chia thành các lóng đốt Tại các đốt thân mang vảy mỏng màu nâu để bảo vệ các mắt mầm Trong đất đỉnh sinh trưởng thân ngầm có màu trắng, khi trồi lên mặt đất thì đỉnh thân ngầm có màu xanh, mang chức năng quang hợp để chuẩn bị phát triển thành một cá thể mới