1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ

47 940 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Thúc Đẩy Xuất Khẩu Cà Phê Việt Nam Sang Thị Trường Hoa Kỳ
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại Đề Án
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 481,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cà phê là một mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam,hàng năm xuất khẩu cà phê đem lại doanh thu lớn cho ngành cà phê, tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước,tạo công ăn việc làm cho người dân và đóng góp không nhỏ vào GDP.

Trang 1

Lời mở đầu

Cà phê là một mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam,hàngnăm xuất khẩu cà phê đem lại doanh thu lớn cho ngành cà phê, tạo nguồnthu ngoại tệ cho đất nước,tạo công ăn việc làm cho người dân và đóng gópkhông nhỏ vào GDP.Với nguồn lực sản xuất cà phê của nước ta hiệnnay,nguồn cung xuất khẩu cà phê dồi dào,thị trường xuất khẩu cà phê luônđược mở rộng.Trong đó,Hoa Kỳ là một trong những thị trường nhập khẩu càphê lớn của Việt Nam.Đặc biệt hơn,tháng 7/2000 ký hiệp định thương mạiViệt Nam –Hoa Kỳ có hiệu lực từ ngày 10/12/2001 tạo ra nhiều cơ hội,ưuđãi với Việt Nam nói chung và đối với các doanh nghiệp xuất khẩu cà phênói riêng một thị trường xuất khẩu lớn,nhiều cơ hội,xuất khẩu sang thịtrường Hoa Kỳ không những đem lại rất nhiều lợi ích mà còn tạo điều kiệnthuận lợi cho kinh tế Việt Nam phát triển.Tuy nhiên,qui mô,thị phần xuấtkhẩu của các doanh nghiệp vẫn còn nhỏ,chất lượng kém,khả năng cạnh tranhvới các đối thủ yếu,công nghệ chế biến vẫn còn lạc hậu,xuất khẩu chủ yếu là

cà phê nhân,rất ít sản phẩm cà phê chế biến.Do vậy,em đã chọn đề tài “giải

pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ” làm

nội dung nghiên cứu cho đề án của mình.Mục tiêu nghiên cứu đề tài lànghiên cứu thị trường Hoa Kỳ về mặt hàng cà phê,các chính sách thươngmại áp dụng.Sau đó,đánh giá thực trạng xuất khẩu cà phê Việt Nam trên thịtrường Hoa Kỳ và đề ra giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê Việt Nam sangthị trường Hoa Kỳ.Đối tượng nghiên cứu hoạt động xuất khẩu cà phê củaViệt Nam Nghiên cứu trong phạm vi cơ chế chính sách thương mại,hoạtđộng xuất khẩu cà phê của Việt Nam những năm gần đây

Dựa trên phương pháp nghiên cứu phân tích thống kê,phương pháp sosánh

Trang 2

Chương 1:

Một số vấn đề cơ bản về xuất khẩu cà phê sang thị

trường Hoa Kỳ.

1.1.khái quát về mặt hàng cà phê xuất khẩu của Việt Nam

1.1.1.Vài nét về sản xuất cà phê của Việt Nam

Cây cà phê lần đầu tiên đưa vào Việt Nam từ năm 1897 và được trồngthử từ năm 1888 Giai đoạn đầu, cà phê chủ yếu trồng ở Ninh Bình, QuảngBình… đến đầu thế kỷ 20 mới được trồng ở Nghệ An và một số nơi ở TâyNguyên Từ 1920 trở đi, cây cà phê mới có diện tích đáng kể đặc biệt ởBuôn Ma Thuật, Đăklăk Khi mới bắt đầu, qui mô các đồn điền từ 200-300ha và năng suất chỉ đạt từ 400-600kg/ha Cho đến nay, diện tích cà phêtrên cả nước khoảng 500.000 ha và sản lượng lên đến hơn 1 triệu tấn

Cà phê trồng ở nước ta có bao gồm cà phê vối (Robusta) chiếm 90% diệntích, cà phê chè (Arabica) 10% và cà phê mít (Excelsa) 1%

Cà phê chè là tên gọi theo tiếng Việt của loài cà phê có danh pháp khoahọc là: Coffea arabica, do loài cà phê này có lá nhỏ, cây thường để thấpgiống cây chè, một loài cây công nghiệp phổ biến ở Việt Nam

Đây là loài có giá trị kinh tế nhất trong số các loài cây cà phê Cà phê chèchiếm 61% các sản phẩm cà phê toàn thế giới.Brasil và Colombia là hainước xuất khẩu chính loại cà phê này, chất lượng cà phê của họ cũng đượcđánh giá cao nhất Các nước xuất khẩu khác gồm có Ethiopia, Mexico,Guatemala, Honduras, Peru, Ấn Độ

Trên thị trường, cà phê chè được đánh giá cao hơn cà phê vối (coffeacanephora hay coffea robusta) vì có hương vị thơm ngon và chứa ít hàmlượng caffein hơn Một bao cà phê chè (60 kg) thường có giá cao gấp 2 lầnmột bao cà phê vối Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giớinhưng chủ yếu là cà phê vối.Ở Việt Nam khó phát triển cà phê chè do độ caokhông phù hợp.Nước xuất khẩu cà phê vối lớn nhất thế giới là Việt Nam.Các nước xuất khẩu quan trọng khác gồm Côte d'Ivoire, Uganda, Brasil, ẤnĐộ.Cây cà phê vối có dạng cây gỗ hoặc cây bụi, chiều cao của cây trưởngthành có thể lên tới 10 m Quả cà phê có hình tròn, hạt nhỏ hơn hạt cà phêarabica Hàm lượng caffein trong hạt cà phê robusta khoảng 2-4%, trong khi

ở cà phê arabica chỉ khoảng 1-2%

Trang 3

Một trong nhưng lý do diện tích cà phê vối cao hơn rất nhiều do chúng

có sức sinh trưởng tốt và kháng được bệnh Còn cà phê chè lại rất mẫn cảmvới các bệnh như bệnh gỉ sắt (do nấm Hemileia vastatrix), bệnh khô cành,khô quả (do nấm Colletotrichum coffeanum và vi khuẩn Pseudomonassyringea, P garcae), bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor)…Theo chiếnlược của ngành cà phê Việt Nam sẽ giảm diện tích cà phê vối và tăng diệntích cà phê chè tuy nhiên vấn đề giống là vấn đề quan trọng nhất Trước đâygiống cà phê chè ở Việt Nam là giống Typica, Bourbon, Caturra amarellohoặc một số giống được trồng mang tính thí nghiệm như Mundo Novo,Catuai Hiện nay, các vùng mới trồng cà phê chè đều thuộc giống Catimornhưng giống này có nhược điểm hương vị thiên về cà phê vối nên cần phảinghiên cứu thêm Với nhu cầu cấp bách hiện nay là cần có giống cà phê chèmới có hương vị thơm ngon và kháng được bệnh thì cần phải ứng dụng cáctiến bộ khoa học trong tuyển chọn và nhân giống cà phê từ các nguồn nhậpngoại và sẵn có ở Việt Nam

Biểu đồ 1.1 :Sản xuất cà phê Việt Nam

1.1.2.đặc điểm mặt hàng cà phê xuất khẩu của Việt Nam

Cà phê là mặt hàng xuất khẩu quan trọng thứ hai trong số các nông sảncủa Việt Nam, hầu như toàn bộ cà phê dành để xuất khẩu, tiêu thụ trongnước chỉ chiếm 5% lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăngtrưởng trong những năm qua, đưa nước ta đứng thứ hai thế giới trong sốnhững nước xuất khẩu cà phê

Trang 4

Năm 2007,Việt Nam đã xuất khẩu 1,2 triệu tấn cà phê, đạt kim ngạchtrên 1,8 tỷ USD, tăng 22,3% về lượng và tăng 52,3% về kim ngạch so vớinăm 2006.Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt khoảng2,2 tỉ USD với khối lượng xuất khẩu 1 triệu tấn, giảm 18,6% về lượng,nhưng lại được tăng 7,2% về trị giá Khối lượng xuất khẩu cà phê năm 2009lên đến hơn 1 triệu tấn nhưng do giá giảm tới 400-500 USD/tấn so với năm

2008 nên kim ngạch có thể chỉ đạt 1,7 tỷ USD tăng 10,2% về lượng và giảm19% về kim ngạch.Xuất khẩu cà phê 9 tháng đầu năm 2010 đạt 925 nghìntấn xuất khẩu với giá trị kim ngạch 1,32 tỷ USD, tăng 4,2 % về lượng và0,9% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái

Biểu đồ 1.2: Sản lượng xuất khẩu cà phê Việt Nam 2007-2010

Về chủng loại cà phê xuất khẩu của Việt Nam Việt Nam xuất khẩu

chủ yếu cà phê nhân sống gồm các loại Robusta ( cà phê vối),aribica ( cà phêchè),Kopi luwka ( cà phê chồn) Sản xuất và xuất khẩu cà phê robusta lớnnhất thế giới với hơn 95% sản lượng là các loại hạt cà phê giá rẻ và chỉ cókhoảng 2-3% sản lượng là các loại cà phê Arabica.Về mẫu mã cà phê xuấtkhẩu của Việt Nam chưa đa dạng phong phú,xuất khẩu cà phê vẫn chủ yếu ởdạng thô,cà phê nhân sống,sản phẩm cà phê đã qua chế biến thì không

Trang 5

nhiều,cà phê thành phẩm chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong khối lượng xuất khẩu càphê Việt Nam.

Điều này phụ thuộc vào vị giác riêng của từng người Arabica được đánhgiá là có hương vị ngon hơn, ít chát, nhưng lại đắng hơn so với robusta.Nhiều người thích uống loại cà phê hòa tan robusta, nhưng khi chuyển quauống arabica, thì đa số họ lại không muốn dùng robusta nữa

Robusta có thể xem là loại cà phê có phẩm chất kém hơn, tuy nhiên nó

có ưu thế hơn đó là rất hợp thời tiết Thông thường, loại cà phê này sẽ chothu hoạch sau 2-3 năm, trong khi cà phê arabica phải cần 4-5 năm

Cây cà phê arabica cũng là một loại cây khó tính và khá nhạy cảm vớikhí hậu, nó đòi hỏi nhiệt độ và lượng mưa trung bình hàng năm phải đúngtiêu chuẩn mới cho thu hoạch cao Trong khi đó, cây cà phê robusta lại cóthể thích ứng với nhiều loại điều kiện môi trường khác nhau

Về chất lượng mặt hàng cà phê của Việt Nam,tuy Việt Nam là nước

xuất khẩu cà phê hàng đầu nhưng cà phê Việt Nam lại chưa có thương hiệuriêng trên thị trường thế giới, chất lượng cà phê chậm cải thiện,chất lượng càphê của Việt Nam còn thấp do công nghệ chế biến, các thiết bị sấy khô vàcác kỹ thuật sau thu hoạch còn thấp thể hiện ở độ ẩm cao…Chất lượng xuấtkhẩu cà phê chưa được đồng đều,số lượng cà phê xuất khẩu bị thải loạichiếm tỉ lệ cao nhất thế giới

Mặt khác,cà phê Việt Nam được thừa nhận có hương vị đậm đà, thơmngon, có chất lượng cảm quan tốt, nhưng giá bán thấp, thấp nhất so với cà

phê cùng loại của các nước trong khu vực

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến giá cà phê xuất khẩu nước ta thấp, mộttrong những nguyên nhân này là chất lượng ngoại quan do chế biến đã làmgiảm đáng kể giá trị vốn có của nó.cà phê xuất khẩu của Việt Nam tiêuchuẩn về chất lượng chưa được rõ ràng,các doanh nghiệp tự áp dụng tiêuchuẩn riêng.Gần đây nhất, Việt Nam đã chấp nhận tiêu chuẩn quốc tế ISO10470:2004 và soạn thảo thành TCVN 7932: 2007, được Bộ Khoa học vàCông nghệ công bố từ năm 2007 Nhưng tất cả những tiêu chuẩn đó đềukhông được thực hiện, thậm chí chưa được giới thiệu rộng rãi

Trong khi đó, các hợp đồng mua bán cà phê robusta tại thị trườngLIFFE đều xếp hạng cà phê dựa trên các thông số chất lượng đo bằng phầntrăm khối lượng, không phải bằng tỉ lệ phần trăm số lỗi Như vậy, cách xếphạng theo % số lỗi mà ta đang áp dụng không được quốc tế công nhận Rất đông doanh nghiệp Việt Nam không muốn áp dụng TCVN 4193:2005; các doanh nghiệp nước ngoài mua cà phê của Việt Nam cũng khôngmuốn áp dụng tiêu chuẩn này, vì không muốn phải trả giá cao hơn Hệ quả

là cà phê xuất khẩu của Việt Nam luôn bị phàn nàn về chất lượng xấu, có lúc

Trang 6

bị thải loại đến 60%, giá bị giảm 100 USD-200 USD/tấn, có lúc lên đến 600USD/tấn tại London

Lượng cà phê robusta được cấp chứng nhận chất lượng London ngàycàng ít, khiến có lúc cà phê Việt Nam bị tồn kho tại London lên đến 400.000tấn vào cuối năm 2007, đầu 2008

Do việc áp dụng tiêu chuẩn là tự nguyện, nên rốt cuộc cho đến nay rấtnhiều doanh nghiệp vẫn duy trì phân hạng cà phê theo 3 tiêu chí: thủy phần

%, đen vỡ %, tạp chất % khiến cà phê nhân xuất khẩu của Việt Nam luônluôn thăng trầm

Về giá cả cà phê, Do giá cà phê trên thị trường thế giới trong những năm

gần đây giảm nhanh chóng, kim ngạch xuất khẩu đã bắt đầu giảm từ năm

1998, mặc dù khối lượng xuất khẩu tăng đáng kể Theo đó, giá cà phê thịtrường thế giới từ 1.600USD/tấn năm 1998 xuống chỉ còn 500USD/tấn vàocuối năm 2000

Do có điều kiện thời tiết và môi trường thuận lợi, nơi sản xuất lại gầncảng, giá nhân công thấp nên cà phê Việt Nam có tính cạnh tranh cao trên thịtrường thế giới Việt Nam là một trong những nước có lượng cà phê cao nhấtthế giới.năm 1999, giá xuất khẩu của cà phê robusta Việt Nam thấp hơn giáthị trường thế giới khoảng 20%, khoảng 250USD/tấn Cho đến nay, ViệtNam gần như là nhà sản xuất và bán ra duy nhất trên thị trường thế giới loại

cà phê robusta, loại này nhìn có giá thấp hơn nhiều so với cà phê arabica.Hiện nay, sản xuất cà phê của Việt Nam đang trong tình trạng không ổnđịnh do giá cà phê trên thị trường thế giới có sự thay đổi đột ngột

niên vụ cà phê 2007-2008 xuất khẩu cà phê đạt trên 2 tỷ USD, giá xuấtbình quân gần 2.000 USD/tấn Cà phê nhân xuất khẩu sang 75 quốc gia vàvùng lãnh thổ Thị trường lớn nhất là Đức (14%) và Mỹ (13%)… là sự phân

bố hợp lý để không quá lệ thuộc vào một thị trường nào Ngoài ra, ta cònxuất khẩu cà phê rang xay qua 6 thị trường và các loại cà phê khác qua 16thị trường,trong 2 năm 2009 và 2010, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh

tế và tài chính thế giới, ngành cà phê Việt Nam lại đi vào thời kỳ khó khăn

cả về khối lượng và kim ngạch xuất khẩu Trong 4 tháng đầu năm 2009, ViệtNam đã xuất khẩu khoảng 465.000 tấn và đạt kim ngạch 651 triệu USD,giảm trên 16% về lượng và gần 23 % về giá trị Giá xuất khẩu bình quânkhoảng 1.390 USD/tấn, giảm trên 100 USD/tấn so với cùng kỳ nămtrước,nguyên nhân của sự giảm sút về khối lượng và giá trị xuất khẩu trongnăm 2009 và niên vụ 2009 - 2010 là do mưa ảnh hưởng đến chất lượng càphê; hệ thống chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu chưa tốt dẫn đến tình trạng bị épgiá Hiệp hội cà phê - ca cao Việt Nam cho biết sản lượng niên vụ cà phê

2009 - 2010 giảm từ 20 - 30% nhưng chất lượng cà phê tốt hơn vụ trước

Trang 7

Tuy nhiên, do giá cà phê thế giới liên tục giảm, giá cà phê trong nướccũng giảm theo, có lúc xuống còn 22 triệu đồng/tấn, mất 50% so với giáđỉnh cao của năm 2008.Giá cà phê thế giới biến động liên tục nhưng khôngđồng nhất giữa các thị trường trong năm qua Cùng một loại sản phẩm,nhưng giá cà-phê xuất khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn các nước trong khuvực từ 50 đến 70 USD/tấn, nhiều khi sự chênh lệch này còn lên đến 100USD Nguyên nhân bởi từ trước đến nay, cà-phê xuất khẩu của nước ta đượcđánh giá theo tiêu chuẩn cũ của năm 1993 (TCVN: 4193-93)

Theo tiêu chuẩn này, sản phẩm hầu hết được bán ở dạng "thô" Ðây làtiêu chuẩn phổ biến mà nhiều doanh nghiệp áp dụng để xuất khẩu cà-phêRobusta (R2), tức là cà-phê có độ ẩm 13%, tạp chất 1%, hạt đen vỡ 5% vàhạt trên sàn 13 đạt 90% Và như vậy, vô hình trung chúng ta đã xuất khẩu cảmột lượng cà-phê xấu đáng lẽ phải được thải loại Các nhà thu mua cà-phêR2 đã tìm cách ép giá, trừ hao hụt tạp chất, hạt đen vỡ khi ký hợp đồng nênkim ngạch xuất khẩu cà-phê của chúng ta không tăng cao cho dù sản lượngtăng rất cao Vì vậy, cà-phê Việt Nam phải bán với giá thấp hơn rất nhiều sovới thế giới.Năm 2001,giá bình quân cà phê trên thị trường thế giới 509,5USD/tấn trong khi giá cà phê của Việt Nam 459,46 USD/tấn.giá cà phê thếgiới qua các năm 2002,2003,2004 lần lượt là 509,5 USD/tấn ,747,3USD/tấn,706,4 USD/tấn đều cao hơn giá cà phê trên xuất khẩu củaViệt Nam

Tại Luân Đôn, hoạt động đầu cơ làm lũng đoạn thị trường cùng với sảnlượng cà phê robusta cao là nguyên nhân chính khiến giá giảm 24,5% trongnăm 2009, trong đó phiên giao dịch ngày 26/6 giá đứng ở mức thấp nhấttrong năm, chỉ 1.288 USD/tấn Do giá giảm sâu ở thị trường này, giá cà phêxuất khẩu của nước ta cũng giảm trong năm qua, đặc biệt phiên 26/6, giá chỉđạt 1.195 USD/tấn, FOB - mức thấp nhất trong vòng 3 năm trở về trước.Trên thị trường New York, nguồn cung hạn hẹp và các yếu tố kỹ thuậtcùng với sự suy yếu của đồng USD lại khiến giá cà phê arabica tăng 21,3%.Phiên giao dịch cuối cùng của năm 2009, giá cà phê robusta đứng ở1.332 USD/tấn còn giá cà phê arabica đạt 135,95 US cent/lb Cách đó đúngmột năm, giá hai loại cà phê này lần lượt ở 1.765 USD/tấn và 112,05 UScent/lb

Trang 8

Bảng 1.3 : Giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam (USD/tấn).

Đơn giá cà phê xuất khẩu bình quân của Việt Nam

Nguồn: tổng công ty cà phê Việt Nam

Về thị trường xuất khẩu, Việt Nam là nước xuất khẩu thứ nhì trên thế

giới, chỉ sau Braxin với tổng sản lượng xuất khẩu năm 2009 đạt 1.18 triệutấn, tương đương 1,73 tỷ USD Việt Nam chủ yếu xuất khẩu cà phê Robusta,một dạng cà phê có tiêu chuẩn thấp hơn cà phê Arabica mà các nước châu

Âu thường sử dụng

Nước ta là nước có nền văn hóa cà phê, tuy nhiên lượng cà phê sử dụngđầu người chỉ vào khoảng 0.7kg/người /năm, thấp hơn nhiều so với các nướcdẫn đầu là Phần Lan (11kgs/người /năm), và so với nước cao nhất trong khuvực là Nhật Bản (3.3kgs)

Tiêu thụ thị trường nội địa tại Việt Nam chỉ chiếm khoảng 5% trong tổng

cà phê xuất khấu, tương đương 61,000 tấn/năm Trong đó cà phê hòa tanchiếm 9,000 tấn, cà phê rang xay có nhãn hiệu chiếm 35,000 tấn còn lại là càphê không tên tuổi và nhãn hiệu Thị trường cà phê nội địa tăng trưởng hàngnăm khoảng 18% trong đó cà phê hòa tan đang dẫn đầu mức tăng trưởng(+22%) còn cà phê rang xay tăng trưởng chậm hơn thị trường (+13%)

Theo nghiên cứu của IAM về thói quen sử dụng cà phê, 65% người tiêudùng có sử dụng cà phê Việt Nam uống cà phê bảy lần trong tuần, nghiêng

về nam giới (59%) Riêng về cà phê hòa tan thì có 21% người tiêu dùng sửdụng cà phê hòa tan từ 3 đến 4 lần trong tuần và hơi nghiêng về nhóm ngườitiêu dùng là nữ(52%),Tỷ lệ sử dụng cà phê tại nhà (in home) và bên ngoài

Trang 9

(Out of home) là ngang nhau 49%/50% Thời gian uống cà phê phổ biếnnhất là từ 7-8 giờ sáng Quán cà phê tại Việt Nam có thể tìm thấy tại mọingóc ngách, phổ biến đa dạng, đa kiểu tạo sự thuận tiện nhất cho người uống

cà phê.

Xét về giá trị, kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam từ năm 2001 đếnnay tăng liên tục với mức trung bình gần 31%/năm Riêng 2 năm sau khinước ta gia nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu cà phê tăng tới 53% và đạtmức 2,3 tỷ USD trong năm 2008 Như vậy, cà phê là một trong không nhiềumặt hàng xuất khẩu chủ lực, với kim ngạch từ 2 tỷ USD trở lên Việt Namtrở thành một trong những quốc gia xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới, vớinhững đối tác và bạn hàng nhập khẩu ổn định, ở khắp các châu lục, trong đó

có một số thị trường lớn, sức mua cao và ổn định như Tây Ban Nha, NhậtBản, Hàn Quốc, Anh, Hoa Kỳ, Bỉ…

Việt Nam là nước sản xuất cà phê lớn nhưng tiêu thụ cà phê trong nướckhông nhiều,phần lớn cà phê của Việt Nam là giành cho xuất khẩu trongđó,Đức, Hoa Kỳ, Bỉ, Tây Ban Nha, Italia, Nhât Bản là các thị trường chínhcủa xuất khẩu cà phê Việt Nam.năm 2007,cà phê là mặt hàng dẫn đầu xuấtkhẩu về kim ngạch xuất khẩu trong nhóm hàng nông, lâm sản và là mộttrong 10 mặt có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD Năm 2007 cũng lànăm đầu tiên kim ngạch xuất khẩu cà phê vượt kim ngạch xuất khẩu gạo vớimức 13%,mười nước nhập khẩu hàng đầu cà phê của Việt Nam là Đức, Hoa

Kỳ, Tây Ban Nha, Ý, Bỉ, Ba Lan, Pháp, Hàn Quốc, Anh, Nhật Bản, chiếmtới 75% khối lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam; trong đó Đức tiếp tụcgiữ vị trí số 1 về nhập khẩu cà phê của Việt Nam với thị phần khoảng14%.trong năm 2007,Việt Nam còn mở rộng thị trường xuất khẩu cà phêsang một số thị trường khác như vùng Trung Cận Đông, châu Phi, một sốnước ASEAN và vùng Trung Mỹ

Năm 2008,thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam tương đối ổn định,Đứcvẫn là khách hàng tiêu thụ cà phê số một của Việt Nam,sau đó là HoaKỳ,Tây Ban Nha,Italia…

Bước sang năm 2009,dẫn đầu kim ngạch xuất khẩu là thị trường Đức với201,77triệu USD, chiếm 11,66% tổng kim ngạch; thứ 2 là thị trường Hoa Kỳvới 196,67triệu USD,chiếm 11,36%; tiếp đến là thị trường Bỉ 190,5 triệuUSD, chiếm 11%

Trang 10

Trong năm 2009, xuất khẩu cà phê sang các thị trường hầu hết bị giảmkim ngạch so với năm 2008 Dẫn đầu về mức sụt giảm kim ngạch là xuấtkhẩu sang Thái Lan năm 2009 đạt 4,45triệu USD, giảm 85,12% so với năm2008; tiếp theo là xuất khẩu sang Singapore đạt 19,77 triệu USD, giảm57,58%; tiếp theo là thị trường Nga giảm 44,58%; sang Hàn Quốc giảm44,03%

Chỉ có 5 thị trường đạt mức tăng kim ngạch so với năm 2008 Kim ngạchxuất khẩu sang Indonesia tuy chỉ đứng thứ 18 trong bảng xếp hạng kimngạch, đạt 17,19 triệu USD, nhưng đạt mức tăng cao nhất tới 376,57% sovới năm 2008; đứng thứ 2 về mức độ tăng trưởng kim ngạch là kim ngạchxuất sang Ấn Độ đạt 22,51triệu USD, tăng 112,2%; tiếp đến kim ngạch xuấtsang Hà Lan đạt 46,8 triệu USD, tăng 45,41%; Kim ngạch xuất sang Bỉ năm

2009 tuy đạt kim ngạch lớn trên 190,5 triệu USD, nhưng mức tăng kimngạch so với năm 2008 chỉ đạt 13,35%; kim ngạch xuất sang Philippin tăng12,86%

Bảng 1.4 :Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam năm 2009

Thị trường Lượng

(tấn) Trị giá (USD)

Tăng, giảm

so với năm 2008 Tổng cộng 1.183.523 1.730.602.417 -18,03

Trang 11

Nguồn : tổng cục thống kê Việt Nam

8 tháng năm 2010,Thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam làĐức chiếm tỷ trọng 13,5 %, và Hoa Kỳ với tỷ trọng 12,7% Các thị trường

có sự tăng trưởng khá là Philippin tăng xấp xỉ 70% và Nga gấp gần 2 lần sovới cùng kỳ năm trước

Bảng 1.5 : Thống kê thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam 8 tháng 2010

Thứ

tự

Tên nước

Lượng nhập khẩu 8 tháng đầu năm 2010

( tấn)

Kim ngạch nhập khẩu 8 tháng đầu năm 2010 (1000USD)

% 2010/ 2009

Trang 12

xuất khẩu cà phê góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm, giúp giải quyếtvấn đề thất nghiệp cho nền kinh tế

Mặt khác khi xác định cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ lực thì sẽ giúpNhà nước hoạch định các chính sách như đầu tư, quy hoạch vùng một cách

có trọng điểm, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao trong phát triển kinh tế.Xuất khẩu cà phê giúp các doanh nghiệp có thêm lợi nhuận, thu đượcngoại tệ để đầu tư mua máy móc thiết bị mở rộng và nâng cao sản xuất từ đótăng lợi nhuận và hiệu quả trong hoạt động của mình

1.2.Đặc điểm thị trường cà phê ở Hoa Kỳ.

Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ là một thị trường khổng lồ Dân số 288 triệungười

GDP đầu người/ năm > 36.000 USD,Kinh tế Hoa Kỳ có quy mô lớn nhấtthế giới, tới 13.210 tỉ USD trong năm 2006 Đây là một nền kinh tế hỗn hợp,nơi mà các công ty, các tập đoàn lớn và các công ty tư nhân là những thànhphần chính của nền kinh tế vi mô, ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế củaHoa Kỳ Kinh tế Hoa Kỳ cũng duy trì được năng suất lao động cao, GDPbình quân đầu người cao, khoảng 44.000 USD, mặc dù chưa phải cao nhấttrên thế giới Kinh tế Hoa Kỳ có mức độ tăng trưởng kinh tế vừa phải, tỉ lệthất nghiệp thấp, trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ, khả năng nghiêncứu, và đầu tư vốn caoNhu cầu của thị trường về các loại mặt hàng lớn

Nước Mỹ hiện có xấp xỉ 309 triệu người Thị trường Hoa Kỳ được đánhgiá là thị trường hấp dẫn với bất kỳ một quốc gia nào.Hoa Kỳ luôn là nướcxuất siêu về nông thuỷ sản và thực phẩm, song từ năm 2004 Hoa Kỳ đã trởthành nước nhập siêu với tốc độ tăng rất cao Năm 2005, Hoa Kỳ đã nhậpsiêu khoảng 4,3 tỷ USD hàng nông sản và thực phẩm, tăng trên 4.000% sovới mức 104 triệu USD năm 2004

Sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực tháng12/2001, kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã phát triển nhẩy

Trang 13

vọt Năm 2003, Việt Nam đã trở thành bạn hàng lớn thứ 40 của Hoa Kỳ(tính theo kim ngạch hai chiều) Nếu tính riêng xuất khẩu vào Hoa Kỳ thìViệt Nam đứng thứ 35

Nhu cầu tiêu thụ cà phê Hoa Kỳ, vấn đề quan trọng nhất của các doanh

nghiệp khi tham gia vào thị trường Hoa Kỳ là phải nhận diện được nhu cầuthị trường.Theo số liệu nghiên cứu của các nhà làm cà phê Việt Nam, cókhoảng 1/3 dân số Mỹ biết uống cà phê Mỗi năm, người Mỹ đã chi khoảnghơn 20 tỷ USD cho việc tiêu thụ cà phê

Thị trường này có nhu cầu nhập khẩu cà phê lớn,là cường quốc nhậpkhẩu cà phê, thị trường tiêu thụ cà phê số 1 thế giới với khối lượng nhậpkhẩu hằng năm lên tới 20 triệu túi (khoảng 1.200 triệu kg), chiếm gần 1/4tổng lượng cà phê xuất khẩu của thế giới

Mỗi năm thị trường Hoa Kỳ nhập khẩu khoảng 2 triệu tấn cà phê cả ranghoặc chưa qua rang Theo trung tâm xúc tiến thương mại Việt Nam tại Hoa

Kỳ thì năm 2003 nhu cầu cà phê của Hoa Kỳ là 2,064 triệu tấn Trong đónhu cầu về cà phê nhân khoảng 1,1-1,5 triệu tấn chiếm khoảng hơn 65%.Cùng tập quán tiêu dùng nhiều và với sự phục hồi phát triển của nền kinh tếthì nhu cầu tiêu dùng của người dân Mỹ sẽ ngày một tăng lên, trong đó cónhu cầu về tiêu dùng cà phê Năm 2001 tiêu thụ cà phê tại thị trường Hoa Kỳ

là 1.228.000 tấn với giá trị là 1677 triệu USD Năm 2004 là 1240 nghìn tấn.năm 2005 nhu cầu tiêu thụ cà phê của thị trường này là khoảng 1079 nghìntấn

Năm 2010 thị trường Hoa Kỳ sẽ có nhu cầu tiêu thụ khoảng 1315 tấn càphê trong đó nhu cầu về cà phê arbica là 80% còn cà phê robusta là 20%

Về cung cà phê trên thị trường Hoa Kỳ,Hoa Kỳ có trung tâm giao dịch

cà phê lớn của thế giới, đó là trung tâm giao dịch cà phê NewYork Vì vậy

có rất nhiều nước xuất khẩu cà phê vào thị trường Hoa Kỳ.Khoảng 70% càphê nhập khẩu vào Hoa Kỳ là loại cà phê arabica (chủ yếu từ Côlômbia,Brazil, Mêhicô ) và 30% còn lại là cà phê robusta (chủ yếu từ Việt Nam vàInđônêxia).Trong các nước xuất khẩu cà phê vào thị trường Hoa Kỳ thìColombia là nước xuất khẩu nhiều nhất vào thị trường này sau đó là Braxin.Còn các nước xuất khẩu cà phê khác như Việt Nam, Indonesia, và các nướcTrung Mỹ thì xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ chủ yếu là cà phê robusta và

có nhiều nước xuất khẩu cà phê robusta nữa cũng muốn xâm nhập và thâmnhập mạnh vào thị trường này.Các nước xuất khẩu cà phê lớn và thị trườngnày phải kể đến : Brazil.Indonesia,Việt Nam,Ấn Độ,Colombia,Mexico.Trị giá nhập khẩu cà phê vào Hoa Kỳ các năm 2001, 2002, 2003, 2004,

và 2005 lần lượt là 1,515, 1,524, 1,776, 2,064, và 2,775 tỷ USD Năm 2005nhập khẩu cà phê của Hoa kỳ tăng 34,5% so với năm 2004, do giá quốc tếtăng và sản lượng cà phê từ các nhà cung cấp giảm thấp nhất trong 4 năm

Trang 14

qua Năm 2008,Mỹ nhập khẩu 1,35 triệu tấn cà phê các loại với kim ngạchđạt 4,12 tỉ đô la, tăng 17,3% so với năm 2007.

Thị hiếu tiêu dùng cà phê trên thị trường này ,thích đổi mới,quan

tâm nhiều đến chất lượng sản phẩm,mẫu mã.Các yếu tố về an toàn ,đảm bảocho sức khỏe luôn được đề cao,người Mỹ chỉ tin dùng những sản phẩm đượcchứng nhận,đạt tiêu chuẩn hoặc là những sản phẩm của có thương hiệu ,nhãnhiệu nổi tiếng ,uy tín và chất lượng và những loại cà phê có danh tiếng,têntuổi,đặc trưng của vùng xuất thân.Người Mỹ thích uống cà phê pha đặc,rấtchú ý đến hương vị của cà phê.Theo Hiệp hội cà phê quốc gia của Mỹ, cứtrong 5 người Mỹ thì có 4 người uống cà phê, có người uống hàng ngày, cóngười thì thỉnh thoảng Một số người uống cà phê là để kích thích cho tỉnhtáo Lượng tiêu thụ cà phê trung bình hàng ngày ở Mỹ khoảng hơn 400 triệucốc.Cà phê Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ được những người Việt sống bên

Mỹ rất ưa chuộng bởi họ thưởng thức cà phê không chỉ như một loại nướcuống,nước giải khát,mà thưởng thức như một sản phẩm mang đậm chất củaquê hương với hương vị đậm đà rất người Việt.Nhu cầu của thị trường Hoa

Kỳ rất đa dạng Chủng tộc và văn hóa đa dạng dẫn đến nhu cầu và tập quántiêu dùng cũng đa dạng Thu nhập bình quân đầu người cao, song chênh lệchthu nhập rất lớn Số dân nhập cư vào Hoa Kỳ hiện nay mỗi năm tới trên 1triệu người và ngày ngày càng tăng

Yếu tố cạnh tranh xuất khẩu cà phê sang thị trường Hoa Kỳ,Theo

đánh giá thì cà phê vối của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ có chấtlượng không bằng với cà phê vối của Indonesia và một số nước khác,nhưngViệt Nam có trữ lượng xuất khẩu lớn nhất Vì vậy đây chính là các sản phẩmcạnh tranh chính của cà phê xuất khẩu Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ.Ngoài ra cà phê xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ còn bị cạnhtranh bởi cà phê chè vì người dân Mỹ có nhu cầu về cà phê chè khoảng 70%

vì vậy cà phê vối sẽ bị cạnh tranh mạnh và gặp khó khăn trên thị trường Hoa

Kỳ Bên cạnh đó cà phê xuất khẩu của Việt Nam trên thị Hoa Kỳ còn bịcạnh tranh bởi các sản phẩm thay thế khác như chè, nước khoáng, hay các

Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) chịu trách nhiệmquản lý nhà nước về nhập khẩu thực phẩm vào Hoa Kỳ Các quy định của

Trang 15

FDA về nhập khẩu thực phẩm rất nhiều và chặt chẽ Ngoài các qui định củaFDA, có thể có các quy định riêng của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) và/hoặc Cục Nghề cá Hoa Kỳ (NMFS) đối với một số mặt hàng nông thủy sản

cụ thể

Bên cạnh đó, FDA cũng thực thi rất nhiều quy định khác liên quan đếnlưu thông hàng hóa giữa các bang, việc thử nghiệm hàng trước khi đưa vàolưu thông thương mại v.v

Theo luật, thực phẩm nhập khẩu thuộc quyền quản lý của FDA sẽ phảiđược FDA kiểm tra tại cảng đến trước khi được phép nhập khẩu vào thịtrường Nếu hàng đến bị phát hiện không phù hợp với những quy định hiệnhành, thì có thể bị giữ lại tại cửa khẩu FDA có thể cho phép tái chế lô hàngcho phù hợp trước khi có quyết định cuối cùng cho phép nhập lô hàng Tuynhiên, mọi công việc tuyển lựa lại, tái chế, hoặc làm lại nhãn hàng phải đượctiến hành dưới sự giám sát của nhân viên FDA Mọi chi phí liên quan dongười nhập khẩu chịu Nếu hàng đã được tái chế hoặc làm lại nhãn mà vẫnkhông đạt yêu cầu thì FDA sẽ yêu cầu tái xuất hoặc tiêu hủy

Việc cho phép tái chế hàng là ưu đãi mà FDA có thể giành cho ngườinhập khẩu chứ không phải quyền đương nhiên các nhà nhập khẩu đượchưởng Vì vậy, nếu người nhập khẩu tiếp tục có các chuyến hàng tương tựkhông phù hợp, thì sẽ có nguy cơ bị FDA coi là lạm dụng ưu đãi và sẽ khôngtiếp tục cho phép người nhập khẩu tái chế hàng Thay vào đó, FDA sẽ yêucầu người nhập khẩu hủy hoặc tái xuất khẩu lô hàng

Các nhà xuất khẩu nước ngoài nếu nhiều lần vi phạm xuất hàng không

đủ tiêu chuẩn vào Hoa Kỳ cũng dễ bị FDA đưa vào diện Cảnh báo Nhậpkhẩu và hàng của họ sẽ bị FDA tự động giữ lại hoặc kiểm tra chặt chẽ hơn.Hơn nữa, nếu các nhà xuất khẩu nước ngoài giao hàng không đủ tiêu chuẩnvà/hoặc đúng với các qui định của FDA, và hàng bị từ chối nhập khẩu vàothị trường sẽ gây tổn hại kinh tế và phiền toái cho người nhập khẩu Trongtrường hợp này, người xuất khẩu không những phải bồi thường tổn hại chongười nhập khẩu mà còn có nguy cơ mất khách hàng

Giống như EU áp dụng hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập GSP ở một sốnước đang phát triển (Ưu đãi đối tác không cần có đi có lại)

Dư lượng thuốc trừ sâu trong các nông sản thô: "Nông sản thô" là bất kỳthực phẩm nào ở dạng thô và tự nhiên, bao gồm hoa quả, rau, hạt, củ, chưaqua chế biến Các thực phẩm đã được rửa, nhuộm phẩm màu, phủ sáp, hoặc

đã được xử lý như thế nào đó ở dạng tự nhiên, chưa bóc vỏ, cũng được coi là

Trang 16

chưa qua chế biến Giới hạn cho phép (tolerance) các dư lượng thuốc trừ sâuđối với các sản phẩm cụ thể do Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) quy định,huỷ bỏ hoặc thay đổi tuỳ theo khả năng có thể xác định các giới hạn này.Phần 408 của luật FDCA liệt kê các giới hạn đang hiện hành Nông sản thô

có dư lượng thuốc trừ sâu bị coi là vi phạm luật FDCA, trừ khi: (1) các hóachất trừ sâu đã được loại trừ ra khỏi danh mục kiểm tra dư lượng; hoặc (2)

dư lượng không vượt quá giới hạn cho phép đối với thực phẩm đó

Thực phẩm chế biến có chứa bất kỳ dư lượng thuốc trừ sâu nào khôngđược loại trừ hoặc chưa có giới hạn nào được quy định đều bị coi là hàngkém phẩm chất Nếu đã có một giới hạn, dư lượng thuốc trừ sâu không bị coi

là làm ảnh hưởng đến phẩm chất của sản phẩm ăn liền, nếu dư lượng nàykhông vượt quá giới hạn cho phép đối với nông sản thô đó Trong trườnghợp nhập khẩu thực phẩm có thể còn dư lượng thuốc trừ sâu, người nhậpkhẩu cần liên hệ với Division of Regulatory Guidance của FDA về các giớihạn thuốc trừ sâu cho phép.rên danh nghĩa, mục đích của tất cả các luật điềutiết thương mại của Hoa Kỳ là nhằm chống lại sự cạnh tranh không côngbằng của hàng nhập khẩu với hàng sản xuất trong nước Tuy nhiên, trên thực

tế, tất cả những luật này - được soạn thảo và thông qua dưới sức ép của cácdoanh nghiệp trong nước vì lợi ích của họ - đều nhằm hạn chế cạnh tranhcủa nước ngoài tại thị trường Hoa Kỳ để bảo vệ các doanh nghiệp trongnước

Bồi thường thương mại đã trở thành công cụ để các công ty Hoa Kỳ sửdụng thường xuyên phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh của mình ở nhiềunước khác, các công ty thường ít chú ý tới các thủ tục pháp lý Trái lại, ởHoa Kỳ, các công ty thường coi các thủ tục pháp lý là một công cụ cạnhtranh

Ưu đãi tối huệ quốc MFN.Chính sách thương mại NLS dựa trên đạo luật

“Điều chỉnh Nông Nghiệp” cho phép

Mỹ áp dụng hạn ngạch nhập khẩu NLS nếu gây tổn hại tới chương trìnhtrong nước và dùng nó để khống chế 12 mặt hàng Nông sản chủ yếu nhậpvào Hoa Kỳ

Trang 17

Chương 2:

Thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị

trường Hoa Kỳ.

2.1.Tình hình xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa kỳ

Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cà phê, chủ yếu là cà phê vối (robusta) vào

Mỹ từ năm 1994 và ngay năm đầu đã đạt 32 triệu USD Năm sau đó (1995)xuất khẩu tăng vọt lên 145,2 triệu USD và hiện nay Mỹ đang là thị trườngxuất khẩu cà phê lớn của Việt Nam Mỹ đang là nước tiêu thụ và cũng lànước nhập khẩu cà phê lớn nhất trên thế giới với khoảng 1,2 triệu tấn cà phênhập khẩu, trị giá 3 tỷ USD mỗi năm

Hoa kỳ là một nước nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới,đồng thời cũng

là một nước nhập khẩu cà phê của Việt Nam lớn thứ hai

Năm 2009, theo số liệu cập nhật từ Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ(USDA), tiêu thụ cà phê Việt Nam đã tăng 18,2%/năm tương đương 1,06triệu bao, cao hơn so với dự báo trước đó của BMI là 921.300 bao Mặc dùcon số trên khá ấn tượng nhưng tốc độ tăng trưởng tiêu thụ cà phê năm 2008

và 2009 đã chậm lại do nền kinh tế tăng trưởng chậm và lạm phát cao

Hiện Mỹ đứng thứ hai thế giới (chỉ sau Đức) về nhập khẩu cà phêcủa Việt Nam Trong 8 niên vụ cà phê gần đây, trung bình mỗi niên vụ Mỹnhập khẩu của Việt Nam 112.000 tấn (chiếm khoảng 12% tổng lượng cà phêxuất khẩu của Việt Nam đi các nước) Riêng niên vụ 2008-2009, Việt Namxuất khẩu vào Mỹ 138.000 tấn, đạt kim ngạch khoảng 218 triệu USD 4tháng đầu năm 2010, Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ khoảng 1.346.400 bao càphê nhân (tương đương 80.784 tấn, tăng 31,4% so với cùng kỳ 2009); 6.300bao cà phê rang xay (tương đương 378 tấn, tăng 85,2% so với cùng kỳ2009); 17.000 bao cà phê hòa tan (tương đương 1.020 tấn, tăng 17,2% so vớicùng kỳ 2009).Trong 8 niên vụ cà phê gần đây, trung bình mỗi niên vụ Mỹnhập khẩu của Việt Nam 112.000 tấn (chiếm khoảng 12% tổng lượng cà phêxuất khẩu của Việt Nam đi các nước)

Riêng niên vụ 2008-2009, Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ 138.000 tấn, đạtkim ngạch khoảng 218 triệu USD 4 tháng đầu năm 2010, Việt Nam xuấtkhẩu vào Mỹ khoảng 1.346.400 bao cà phê nhân (tương đương 80.784 tấn,tăng 31,4% so với cùng kỳ 2009); 6.300 bao cà phê rang xay (tương đương

Trang 18

378 tấn, tăng 85,2% so với cùng kỳ 2009); 17.000 bao cà phê hòa tan (tươngđương 1.020 tấn, tăng 17,2% so với cùng kỳ 2009).

Việt Nam hiện đứng thứ bảy về giá trị xuất khẩu và thứ năm về số lượngtrong số các nước xuất khẩu cà phê sang Mỹ Kim ngạch xuất khẩu mặt hàngnày của Việt Nam sang Mỹ là 142,5 triệu USD trong năm 1999 (do giá càphê thế giới sụt mạnh trong hai năm qua) Thị trường Mỹ chủ yếu tiêu thụ càphê arabica (70%) Cà phê hạt các loại là mặt hàng được hưởng mức thuếsuất bằng 0 cho dù nước xuất khẩu được hay không được hưởng quy chế Tốihuệ quốc

Chất lượng và tính ổn định của nguồn cung là hai yếu tố quan trọng đảmbảo cho cà phê Việt Nam có chỗ đứng vững và mở rộng thị phần ở thịtrường Mỹ thì đây vẫn là hai khâu còn nhiều bất cập Mặc dù cà phê Robustacủa Việt Nam được đánh giá cao, song khâu thu mua nguyên liệu, bảo quản,

sơ chế… chưa được quan tâm đúng mức nên chất lượng chậm được cải thiện

đã khiến giá cà phê nhân xuất khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn các sảnphẩm cùng loại của các nước khác Nguyên nhân thì rất nhiều, nhưng có mộtnguyên nhân không thể không kể đến là chính sách khuyến khích áp dụngquy trình sản xuất cà phê bền vững và thân thiện môi trường triển khai chưahiệu quả

Trên thị trường Hoa Kỳ,cà phê Việt Nam chưa có được thương hiệu nổitiếng,mới chỉ có một vài thương hiệu Trung Nguyên ,Biên Hòa có mặt trênthị trường Mỹ mà chủ yếu phục vụ bà con Việt Kiều.Việt Nam xuất khẩuchủ yếu ở dạng thô nhưng thương hiệu thì không có,khả năng cạnh trạnh vớicác mặt hàng cà phê thô của các nước khác kém.Trong khi đó,cà phê củaViệt Nam luôn bị phàn nàn,đánh giá thấp về chất lượng

Khi xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ các doanh nghiệp chưa đảm bảođáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng

Các doanh nghiệp xuất khẩu chủ yếu theo hình thức xuất khẩu giántiếp,thông qua trung gian xuất khẩu,các doanh nghiệp xuất khẩu nướcngoài.Doanh nghiệp khó nắm bắt được thị trường,kênh phân phối khônghiệu quả,chịu sự phụ thuộc của các trung gian xuất khẩu

Năm 2002, lượng cà phê xuất khẩu sang thị trường Mỹ là 60 nghìn tấn,chỉ đạt 40 triệu USD kim ngạch xuất khẩu, giảm gần 34% so với năm 2001

và chỉ chiếm 12,5% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Namhiện là nước đứng đầu thế giới về sản xuất cà phê Robusta và là một trongnhững nước xuất khẩu cà phê lớn nhất trên thế giới (cùng với Brazil,Indonesia …) Đồng thời, cà phê cũng là một mặt hàng có khả năng cạnh

Trang 19

tranh tốt của Việt Nam với chi phí sản xuất thấp hơn các nước trồng cà phêkhác

Tuy nhiên, với khả năng như vậy cùng với tiềm năng thị trường Mỹ làmột trong những thị trường tiêu thụ cà phê lớn trên thế giới với dung lượngnhập khẩu hàng năm lên tới 1,2 – 1,4 triệu tấn, trong đó khoảng 1/3 là cà phêRobusta, thì kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam như hiện nay vào thịtrường này là hãy còn quá khiêm tốn và là một xu hướng không mấy tíchcực

Bảng 2.1: Xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ

xuất khẩu cà phê

(đơn vị : tấn)

Kim ngạch xuất khẩu (Đơn

Trang 20

Mỹ chiếm 16% tổng xuất khẩu cà phê của Việt Nam Việt Nam còn xuấtkhẩu một lượng nhỏ cả cà phê rang xay và cà phê trộn 3 trong 1 sang thịtrường Mỹ, với trị giá 193 triệu USD trong thời gian này.

Với cà phê nhân xuất khẩu thì không chịu thuế xuất khẩu tức thuế xuấtkhẩu của cà phê là 0%, mặt khác cũng như các mặt hàng xuất khẩu khác thì

cà phê xuất khẩu cũng không phải chịu thuế giá trị gia tăng, nên khi xuấtkhẩu các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê được hoàn thuế Còn về phía Hoa

Kỳ, thì thuế nhập khẩu đối với cà phê nhân là 0%, hơn Việt Nam và Hoa Kỳ

đã ký hiệp định thương mại song phương nên cũng tạo điều kiện thuận lợinhất định cho xuất khẩu cà phê vào thị trường này

Như vậy cà phê nhân xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ cảtrước và sau khi có hiệp định đều có thuế suất bằng 0% Nguyên nhân là doHoa Kỳ là nước có nhu cầu tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới cả cho nhu cầurang xay và tiêu thụ cuối cùng mà trong nước lại không sản xuất nê việc họ

áp dụng mức thuế xuất bằng 0% cũng như có ít rào cản thương mại khác với

cà phê nhân nhập khẩu là để nhằm khuyến khích nhập khẩu cà phê để khaithác lợi thế từ nhập khẩu cho sản xuất, chế biến cà phê trong nước Đâychính là một điều kiện thuận lợi cho ngành cà phê Việt Nam Cà phê xuấtkhẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ không phải chịu bất cứ mộtkhoản thuế nào liên quan đến xuất nhập khẩu Nhưng theo quy định củaChính phủ thì sẽ có phần phụ thu đối với xuất khẩu cà phê đó là: khí giá xuấtkhẩu cà phê là 3800USD/tấn thì phải nộp phần phụ thu là 20% giá, khi giáxuất khẩu thấp hơn 3000USD/tấn thì phần phụ thu sẽ giảm dần và khi giáxuất khẩu dưới 1000USD/tấn thì Nhà nước sẽ bỏ phần phụ thu Như vậy vớigiá xuất khẩu trong những năm qua của cà phê Việt Nam sang thị trườngHoa Kỳ với mức giá trung bình từ 300 – 750 USD/tấn thì cà phê Việt Namxuât khẩu sang thị trường Hoa Kỳ không phải nộp phần phụ thu và cáckhoản thuế xuẩt nhập khẩu khác Ngoài ra với quyết định số 908/2001/QĐ –TTg của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định 79/2002/NĐ – TTg đã quy địnhchi tiết về thi hành luật thuế Giá trị gia tăng trong đó quy định tỷ lệ khấu trừđầu vào 1% đối với hàng mua có hóa đơn Giá trị gia tăng là nông, lâm, thủyhải sản chưa qua chế biến, trong đó có cà phê nhân

Chính nhờ sự hỗ trợ và chính sách này mà khối lượng xuất khẩu cà phêcủa Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ trong thời gian qua có xu hướng tănglên Tuy nhiên do cà phê xuất khẩu của chúng ta chủ yếu là loại cà phêrobusta (cà phê vối) lại có chất lượng không cao nên giá thấp vì vậy mà kimngạch xuất khẩu còn kiếm tốn và có xu hướng giảm trong những năm qua

Trang 21

Một thực tế bất cập hiện nay,đáng nhẽ ra sự liên kết giữa doanh nghiệpvới người sản xuất phải mang lại lợi ích cho cả hai bên,nhưng mỗi bên chỉchăm chăm kiếm lợi ích cho mình mà không quan tâm đến lợi ích lâu dài ổnđịnh.Ngay thời điểm bắt đầu vào mùa,doanh nghiệp và người sản xuất càphê đã làm hợp đồng thu mua,nhưng khi thị trường có sự biến động,đặc biệt

sự biến động về giá cả.Nếu giá bán cà phê trên thị trường lên cao,người sảnxuất không chịu bán cho doanh nghiệp mang bán cho những nhà thu muakhác kiếm lợi cao hơn,còn khi giá thu mua cà phê trên thị trường có chiềuhướng tăng lên doanh nghiệp phá vỡ cam kết không thu mua như hợpđồng.Những điều này làm cho các nhà đầu cơ trên thị trường có cơ hội nhảyvào dẫn đến thiệt hại cho cả người sản xuất lẫn doanh nghiệp

Trong niên vụ 2005/2006, ngoài cà phê nhân sống, Việt Nam cũng đãxuất khẩu được 869,7 tấn cà phê hòa tan, với trị giá hơn 2,77 triệu USD(bình quân đạt 3.190 USD/tấn)

Số cà phê này được xuất sang 25 thị trường, trong đó Nhật Bản là 232tấn, Hoa Kỳ là 192 tấn, Đài Loan là 141,5 tấn, Đức là 104,6 tấn

Theo xu hướng mới, cà phê chè (Arabica) tuy chưa nhiều nhưng cũng đãgóp phần đáng kể vào việc nâng giá trị và chủng loại sản phẩm của ngànhhàng cà phê Việt Nam, nhờ giá xuất khẩu chênh đáng kể so với cà phê vối(Robusta)

Các đối thủ cạnh tranh với hàng cà phê Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳphải kể đến đầu tiên là Brazil nước này cung cấp cho thị trường Hoa Kỳ sảnphẩm cà phê với chất lượng cao hơn,là nhà xuất khẩu lớn nhất cà phêarabica,cà phê nhân có chất lượng,giá trị cao

Các mặt hàng xuất khẩu khác của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ.Số liệu Thống kê Hải quan ghi nhận từ năm 2003 đến nay, Hoa Kỳ luôn

luôn là thị trường giành vị trí quán quân về tiêu thụ hàng hóa có xuất xứ từViệt Nam với tỷ trọng trung bình giai đoạn 2005 - 2009 chiếm khoảng 20%tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Đồng thời, Hoa Kỳ cũng là mộttrong những thị trường chính (đứng ở vị trí thứ 7) cung cấp hàng hóa cho cácnhà nhập khẩu Việt Nam Tỷ trọng bình quân nhập khẩu từ Hoa Kỳ cả giaiđoạn 2005- 2009 chiếm khoảng 3% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước

từ tất cả các thị trường Như vậy, tính chung cho cả xuất nhập khẩu thì từnăm 2005-2008 Hoa Kỳ là đối tác thương mại lớn thứ ba của các công tyViệt Nam Nhưng sang năm 2009, Hoa Kỳ đã vượt qua Nhật Bản vươn lên

vị trí thứ hai, chỉ sau Trung Quốc.Một số mặt hàng có tốc độ tăng trưởngmạnh trong những mặt hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ năm 2009 là: chè đạt5,7 triệu USD, tăng 89,5%, chiếm 0,05%; đá quý và kim loại quý và sản

Trang 22

phẩm đạt 34,7 triệu USD, tăng 55%, chiếm 0,3%; máy vi tính, sản phẩmđiện tử và linh kiện đạt 433 triệu USD, tăng 42%, chiếm 3,8%…

Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Hoa Kỳ năm 2009giảm do sự giảm mạnh một số mặt hàng: dầu thô đạt 470 triệu USD, giảmhơn một nửa (-53%) so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 4%; cao su đạt 28,5triệu USD, giảm 34,2%, chiếm 0,3%; sản phẩm gốm, sứ đạt 29,3 triệu USD,giảm 28%, chiếm 0,3%…

Bảng 2.2 : Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Hoa

Kỳ tháng 12 và năm 2009

Mặt hàng

Kim ngạch XK tháng 12/2009 (USD)

Kim ngạch XK năm 2009 (USD)

Ngày đăng: 17/04/2013, 15:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.4 :Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam năm 2009 - giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
Bảng 1.4 Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam năm 2009 (Trang 10)
Bảng 1.5 : Thống kê thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam 8 tháng 2010 - giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
Bảng 1.5 Thống kê thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam 8 tháng 2010 (Trang 11)
Bảng 2.1: Xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ - giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
Bảng 2.1 Xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ (Trang 19)
Bảng 2.2 : Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Hoa - giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
Bảng 2.2 Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Hoa (Trang 22)
Bảng 2.3 :Thống kê hàng hoá xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ 8 - giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
Bảng 2.3 Thống kê hàng hoá xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ 8 (Trang 24)
Bảng 2.4:Thống kê kim ngạch, tốc  độ tăng/giảm kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại hàng hóa giữa Việt Nam – Hoa - giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
Bảng 2.4 Thống kê kim ngạch, tốc độ tăng/giảm kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại hàng hóa giữa Việt Nam – Hoa (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w