3.11 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số gây hại dưa chuột trên ruộng giữ nước ở luống và ruộng đối chứng vụ đông 2014 tại huyện Yên 3.12 Diễn biến mật độ của bọ trĩ ở các công thức thí ngh
Trang 1
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
MÃ SỐ : 60.62.01.12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM OANH
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao động của chính tác giả Các số liệu
và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này ngoài sự cố gắng của bản thân tôi
đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn
bè và người thân
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Kim Oanh – Bộ môn Côn trùng – Khoa Nông học – Học viên nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn Côn trùng
- Khoa Nông học, Ban đào tạo Sau học viện - Học viên nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo, cán bộ, bà con nông dân xã Hoàn Long, Liêu Xá, Ngọc Long huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới tất cả người thân, bạn
bè và những người luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh
Trang 51.2 Tình hình nghiên cứu bọ trĩ trên thế giới 6
1.2.2 Những nghiên cứu về thành phần loài bọ trĩ 7 1.2.3 Vị trí phân loại của bọ trĩ và cấu tạo chung của bọ trĩ 8
1.2.5 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của bọ trĩ 10 1.2.6 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bọ trĩ 13
1.3.1 Những nghiên cứu về thành phần bọ trĩ 19 1.3.2 Vị trí phân loại của bọ trĩ và hình thái chung của bọ trĩ 20 1.3.3 Những nghiên cứu về đặc tính sinh vật học, sinh thái học của bọ trĩ 24 1.3.4 Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bọ trĩ 27
Trang 6CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.2 Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu: 31
2.4.1 Phương pháp điều tra thành phần bọ trĩ hại trên dưa chuột và
3.1 Thành phần bọ trĩ hại dưa chuột vụ đông 2014 tại huyện Yên Mỹ,
3.2 Tỷ lệ số lượng loài bọ trĩ hại dưa chuột theo các giai đoạn sinh
trưởng chính vụ đông năng 2014 tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 43 3.3 Sự phân bố của bọ trĩ trên cây dưa chuột trong vụ Đông 2014
3.4 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên các giống dưa chuột trồng vụ
đông 2014 tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 47 3.5 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên các chất đất trồng dưa chuột
vụ đông 2014 tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 49 3.6 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên các thời vụ trồng dưa chuột
vụ đông 2014 tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 51
Trang 73.7 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên các mật độ trồng dưa chuột vụ
đông 2014 tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 54 3.8 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên các vị trí ruộng trồng dưa
chuột vụ đông 2014 tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 55 3.9 Diễn biến số lượng bọ trĩ hại dưa chuột trên ruộng có treo bẫy
dính (Trắng, vàng, xanh da trời) vụ đông 2014 tại huyện Yên Mỹ,
3.10 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số gây hại dưa chuột trên ruộng có
treo bẫy dính và ruộng không đặt bẫy vụ đông 2014 tại huyện Yên
3.11 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số gây hại dưa chuột trên ruộng giữ
nước ở luống và ruộng đối chứng vụ đông 2014 tại huyện Yên
3.12 Hiệu lực của các loại thuốc trong phòng trừ bọ trĩ trên dưa chuột
trồng vụ đông 2014 tại huyện Yên Mỹ - tỉnh Hưng Yên 64
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
BNNPTNT Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn
Trang 93.2 Tỷ lệ số lượng loài bọ trĩ hại dưa chuột theo các giai đoạn sinh
trưởng vụ đông năng 2014 tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 43 3.3 Sự phân bố của bọ trĩ trên cây dưa chuột trong vụ Đông 2014
3.4 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên các giống dưa chuột trồng vụ
đông 2014 tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 48 3.5 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên các chất đất trồng dưa chuột
vụ đông 2014 tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 50 3.6 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên các thời vụ trồng dưa chuột
vụ đông 2014 tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 52 3.7 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên các mật độ trồng dưa chuột vụ
đông 2014 tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 54 3.8 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên các vị trí ruộng trồng dưa
chuột vụ đông 2014 tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 56 3.9 Diễn biến số lượng bọ trĩ hại dưa chuột trên ruộng có treo bẫy
dính vụ đông 2014 tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 58 3.10 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số hại dưa chuột ở ruộng đặt bẫy màu
sắc và ruộng không đặt bẫy vụ đông 2014 tại Yên Mỹ, Hưng Yên 60
Trang 103.11 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số gây hại dưa chuột trên ruộng giữ
nước ở luống và ruộng đối chứng vụ đông 2014 tại huyện Yên
3.12 Diễn biến mật độ của bọ trĩ ở các công thức thí nghiệm trước và
3.13 Hiệu lực của các loại thuốc trong phòng trừ bọ trĩ trên dưa chuột
trồng vụ đông 2014 tại huyện Yên Mỹ - tỉnh Hưng Yên 65
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm khảo sát các loại thuốc trừ bọ trĩ hại dưa 36 3.1 Sự phân bố (tỷ lệ %) của bọ trĩ trên cây dưa chuột trong vụ
3.9 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên các giống dưa chuột trồng
vụ đông 2014 tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 49
3.10 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên các chân đất trồng dưa
3.11 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên các thời vụ trồng dưa
3.12 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên các mật độ trồng dưa
3.13 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên các vị trí ruộng trồng dưa
3.14 Diễn biến số lượng bọ trĩ tổng số ở các bẫy dính trên ruộng
trồng dưa chuột vụ đông 2014 tại Yên Mỹ, Hưng Yên 59 3.15 Diễn biến mật độ bọ trĩ hại dưa chuột ở ruộng đặt bẫy màu sắc
và ruộng không đặt bẫy vụ đông 2014 tại Yên Mỹ, Hưng Yên 61 3.16 Diễn biến mật độ bọ trĩ hại dưa chuột ở ruộng giữ nước ở luống
và ruộng đối chứng vụ đông 2014 tại Yên Mỹ, Hưng Yên 63
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Yên Mỹ là một huyện sản xuất Nông nghiệp điển hình khu vực phía Bắc của Tỉnh Hưng Yên có dân số khoảng 13 vạn người trong đó gần 80% dân số có nguồn thu nhập phụ thuộc vào nông nghiệp Với diện tích đất nông nghiệp gần 6500 ha, điều kiện tự nhiên về đất đai, khí hậu rất thuận lợi cho thâm canh đa dạng các loại cây trồng, trong đó rau xanh là cây trồng chủ lực với diện tích lớn và đem lại hiệu quả kinh tế cao
Ngày nay khi lương thực và các loại thức ăn giàu đạm được đảm bảo thì rau xanh là thực phẩm có nhiều chất dinh dưỡng không thể thiếu được, như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ Đặc biệt vấn đề đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm thì sản xuất rau đang đứng trước thách thức lớn
Dưa chuột (Curcumis sativus L.) là cây rau phổ biến trong sản xuất,
được trồng ở nhiều vùng và trở thành cây trồng quan trọng đứng thứ hai sau cà chua trong chiến lược xuất khẩu của chính phủ Diện tích trồng dưa chuột trong năm 1999 là 6478 ha, đến năm 2000 tăng lên 6617 ha và đến năm 2001 là 6804 ha: năng suất tương ứng là 16,5: 17,9: 18,2 ha Với mục tiêu năm 2010 tổng sản lượng đạt 11.594.000 tấn trong đó xuất khẩu đạt 1.880.000 tấn (Fao, 2011)
Hiện nay, việc thâm canh, tăng vụ và mở rộng diện tích cây trồng đã tác động mạnh mẽ đến hệ sinh thái vốn mang tính bền vững có số lượng quần thể đa dạng, thay vào đó là hệ sinh thái mới chỉ có một vài loài tồn tại
và tình trạng này luôn luôn thay đổi theo thời gian Một số loài dịch hại có kích thước cơ thể lớn như sâu cắn gié, bọ xít dài…có xu hướng giảm đi, ngược lại tình trạng dịch hại của loài có kích thước cơ thể nhỏ bé như bọ trĩ, bọ phấn, nhện đỏ, nhện trắng, ruồi đục lá … càng ngày càng thể hiện rõ nét (Phạm Bình Quyền, 2009)
Trang 13Trong những năm gần đây, sản xuất dưa chuột huyện Yên Mỹ đang phải đối mặt với nhiều khó khăn như: sâu, bệnh hại ngày một tăng, bộ giống tốt để phục vụ sản xuất hạn chế, trình độ thâm canh của người dân chưa cao, phòng trừ sâu bệnh đều sử dụng thuốc trừ sâu một cách bừa bãi
đã làm phá vỡ cân bằng sinh thái trong tự nhiên Việc áp dụng biện pháp hóa học một cách liên tục dẫn đến hiện tượng bọ trĩ quen thuốc đồng thời tiêu diệt hầu hết các loài thiên địch của chúng dẫn đến sự bùng phát số lượng bọ trĩ gây hại và làm giảm năng suất đáng kể Cả sâu non và trưởng thành tập trung ở mặt dưới lá theo chiều dọc gân chính và gân phụ, gây hại trực tiếp bằng dũa hút dịch của lá, chồi, búp non, hoa, quả Ngoài ra bọ trĩ còn là dịch hại gián tiếp quan trọng ngay cả khi chỉ có một vài cá thể trên đồng ruộng, bởi vì chúng là môi giới truyền bệnh virus cho cây Khi mật độ quần thể tăng lên cao sự gây hại của chúng làm lá cây dưa chuột xuất hiện màu trắng bạc rải rác trên bề mặt, làm mất diệp lục của lá giảm khả năng quang hợp cũng như hô hấp, làm giảm số lượng quả trên cây, giảm năng suất quả toàn bộ Quả bị biến dạng mất giá trị kinh tế thậm chí không thể bán được Tình trạng xử lý thuốc BVTV ở mức độ quá cao ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con người, ô nhiễm môi trường, phá vỡ cân bằng hệ sinh thái, thiên địch, xuất hiện tính kháng thuốc của bọ trĩ, ô nhiễm môi trường đất nước và đồng thời sản phẩm cây dưa chuột xử lý nhiều thuốc bị mất tiêu chuẩn xuất khẩu sang các nước khác trên thế giới Quản lý và phòng trừ bọ trĩ trên dưa chuột tỉnh Hưng Yên nói chung, huyện Yên Mỹ nói riêng đang gặp phải rất nhiều khó khăn Xuất phát từ yêu cầu của thực tế sản xuất dưa chuột ở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, được sự phân công của Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Bọ trĩ bộ cánh tơ Thysanoptera hại dưa chuột và biện pháp phòng trừ năm 2014 tại Yên Mỹ, Hưng Yên”
Trang 142 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Xác định thành phần, tình hình gây hại của loài bọ trĩ trên dưa chuột và thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ tại huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên vụ đông năm 2014, từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ đạt hiệu quả cao
-Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bọ trĩ: sử dụng bẫy dính
màu thu bắt bọ trĩ, giữ nước ở luống, sử dụng thuốc hóa học, sinh học…
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả điều tra nghiên cứu góp phần bổ sung thành phần loài bọ trĩ hại dưa chuột, bổ sung thêm kết quả đánh giá tình hình phát sinh gây hại và một số biện pháp phòng trừ bọ trĩ ở vùng nghiên cứu
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở kết quả điều tra tình hình phát sinh gây hại từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ bọ trĩ hại dưa chuột theo hướng tổng hợp (IPM) một cách có hiệu quả kinh tế, an toàn với vệ sinh môi trường, sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài bọ trĩ hại dưa chuột
Trang 154.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại dưa chuột, diễn biến số
lượng, mức độ gây hại và biện pháp phòng trừ năm 2014 tại Yên Mỹ, Hưng
Yên
5 Những đóng góp mới của đề tài
- Cung cấp dẫn liệu về thành phần, sự phân bố bọ trĩ hại dưa chuột theo các giai đoạn sinh trưởng
- Cung cấp dẫn liệu về mối tương quan mật độ bọ trĩ với các yếu tố sinh thái như giống, chân đất, thời vụ, mật độ, vị trí trồng theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây dưa chuột
- Xác định được 03 biện pháp phòng trừ bọ trĩ đạt hiệu quả là biện pháp dùng các bẫy dính, biện pháp giữ nước ở luống, và 02 loại thuốc bảo
vệ thực vật có hiệu quả cao trong phòng trừ bọ trĩ
Trang 16
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Việt Nam là đất nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều, có điều kiện thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển nhiều loại cây trồng rau, quả như: rau ăn lá, rau ăn quả, rau ăn củ, rau ăn hạt và thân củ …và nhiều cây rau đã trở thành tập quán canh tác từ lâu đời của người nông dân Việt Nam Với việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, người trồng rau ở Việt Nam đã và đang khai thác hiệu quả các sản phẩm của cây rau và ngày càng phát triển, mở rộng diện tích trồng rau để đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của thị trường tiêu thụ Tuy nhiên tăng diện tích trồng rau cũng như việc chuyên canh rau ngày càng cao đã làm cho nhiều loại sâu hại rau như: sâu xanh, sâu khoang, sâu keo da láng, bọ trĩ, nhiện đỏ, nhện trắng…phát triển ngày càng mạnh (Phạm Thị Vượng, 1998)
Bọ trĩ là côn trùng có kích thước nhỏ bé và nhẹ nhờ đó chúng rất dễ không nhận thấy, ngay cả khi xuất hiện với số lượng lớn Trước đây bọ trĩ
là loại dịch hại thứ yếu thì nay đã trở thành dịch hại chủ yếu trên nhiều loại cây trồng khác nhau, trong đó cây ký chủ dưa chuột là một trong những loài cây trồng bị hại nghiêm trọng nhất Để bảo vệ mùa màng nông dân mới chỉ áp dụng biện pháp hóa học mà thôi, trong một vụ dưa chuột số lần phun
từ 6 đến 12 lần Chi phí cho bảo vệ thực vật lên tới 40% Tình trạng xử lý thuốc bảo vệ thực vật như vậy là mối đe dọa nguy hiểm đối với sức khỏe người tiêu dùng, phá vỡ cân bằng sinh thái, tiêu diệt kẻ thù tự nhiên, hình thành tính chống thuốc của bọ trĩ
Xuất phát từ yêu cầu bức xúc của sản xuất, việc nghiên cứu thành phần, phân bố của bọ trĩ theo các giai đoạn sinh trưởng của cây dưa chuột, nghiên cứu mối tương quan giữa các yếu tố tố sinh thái như giống, chân đất, thời vụ, mật độ, vị trí trồng theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây dưa chuột để từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ bọ trĩ đạt hiệu quả cao nhất
Trang 171.2 Tình hình nghiên cứu bọ trĩ trên thế giới
1.2.1 Tình hình sản xuất dưa chuột
Theo số liệu thống kê của tổ chức Nông lương thế giới FAO (2009) diện tích trồng dưa chuột trên thế giới khoảng 1.958 nghìn ha, năng suất đạt 30,9 tấn/ha, sản lượng đạt 60.502,2 nghìn tấn Trong đó, Trung Quốc là nước có diện tích trồng dưa chuột lớn nhất chiếm 52,9% về diện tích (1.037,4 nghìn ha) và 73,2% tổng sản lượng (42.256,2 nghìn tấn) so với thế giới Tiếp đó là Iran với diện tích 82,9 nghìn ha; sản lượng 1.599,9 nghìn tấn chiếm 2,6% của thế giới
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất dưa chuột của một số nước trên thế giới
Trang 18Nhìn chung diện tích, năng suất và sản lượng dưa chuột của các nước trên thế giới biến động không nhiều qua các năm 2008 và 2009, trên 1.930
ha Điều đó cho thấy dưa chuột có vai trò quan trọng trong sản xuất và tiêu dùng ở các nước trên thế giới Đặc biệt là ở các nước phá t triển như Trung Quốc, Nga, Mỹ
1.2.2 Những nghiên cứu về thành phần loài bọ trĩ
Theo Chen and Chang (1987 ) , đã tìm thấy 156 loài bọ trĩ ở Đài Loan trong đó có 70 loài gây hại trên cây trồng, riêng trên cây rau có 27 loài bọ
trĩ Các loài có ý nghĩa quan trọng là Thrips palmi, Franklinella intonsa,
trọng nhưng xuất hiện thường xuyên trên đồng ruộng là Thrips
Hawaiiensis, Scirtothrips dosalis, Thrips colouratus, Thrips flavus,
loài này đã được xác định
Theo Mound and Morris (2007), hầu hết các loài bọ trĩ gây hại trong
bộ cánh tơ tập trung trong họ Thripidae với khoảng 1.700 loài, phân bố khắp thế giới Các loài bọ trĩ là dịch hại trên cây trồng thuộc 2 giống Thrips
và Liothrips là những giống lớn nhất trong bộ cánh tơ Trong đó số loài của mỗi giống là: Thrips khoảng 275 loài, Liothrips khoảng 255 loài, Haplothrips khoảng 230 loài và Franklinella khoảng 175 loài
Theo Bryan (1975) có khoảng 600 loài bọ trĩ đã được tìm thấy ở Bắc
Mỹ, ở Rumani phát hiện có khoảng 203 loài, ở Mongolia có 84 loài, tại Úc
đã phát hiện được 422 loài thuộc bộ cánh tơ Các nhà khoa học đã phát hiện
bọ trĩ Thrips flavus có mặt và gây hại trên 70 loại cây trồng thuộc 26 họ
thực vật khác nhau
Maria and Anna (2011) cho biết ở Phần Lan, trong cuộc điều tra thành phần bọ trĩ trên các loại cây thảo mộc ở Vườn thảo mộc – Khoa Nông học – Trường Nông nghiệp Cracow từ năm 2004 đến năm 2006 và ở Vườn thực
Trang 19vật Cracow từ năm 2006 đến năm 2008 đã thu thập được 16058 cá thể trưởng thành bọ trĩ Thysanoptera thuộc trên 37 loài thảo mộc khác nhau Các
loài chiếm ưu thế gồm có Thrips fuscipennis, Thrips flavus, Frankliniella
trồng một cách nghiêm trọng, một trong số đó là Thrips tabaci, loài này
được phát hiện gây hại trên 27 loài cây thảo mộc
Theo Kalpana et al (2011) cuộc điều tra về thành phần bọ trĩ hại cây
trồng ở Sri Lanka thu được tổng cộng 72 loài thuộc 5 phân họ gồm: Thripinae, Phlaeothripinae, Panchaetothripinae, Dendrothrippnae và Idolpthripinae, trong đó có 25 loài chưa được ghi nhận là đã xuất hiện tại đất
nước này Trong số 324 loại ký chủ điều tra, phát hiện Haplothrips gowdeyi
là loài phổ biến nhất, có mật độ cao được tìm thấy trên 44 loại ký chủ, Thrips
1.2.3 Vị trí phân loại của bọ trĩ và cấu tạo chung của bọ trĩ
1.2.3.1 Vị trí phân loại của bọ trĩ
Bọ trĩ thuộc lớp côn trùng Insecta, bộ cánh tơ Thysanoptera có nghĩa
là cánh tơ (cánh của bọ trĩ trưởng thành ở dạng tua có nhiều lông) khoảng
5000 loài đã được biết, trong đó chỉ có 1% số loài gây hại Đa số bọ trĩ để chích hút nhựa cây Bọ trĩ là côn trùng có cơ thể thon, nhỏ chiều dài cơ thể dao động từ 0,5 đến 2,2 mm Bọ trĩ ít khi bay mặc dù chúng có cánh, nhưng chúng có thể di chuyển được khoảng cách xa nhờ gió và bão Một số loài là bắt mồi, các loài khác ăn phấn hoa, nấm, các tàn dư cây trồng, hoặc là ăn
tạp (Welter et al.,1989)
Cho đến nay, vị trí phân loại của bộ cánh tơ trên thế giới đều dựa theo tài liệu của (Mound, 2007) Ông cho rằng Bộ cánh tơ (Thysanoptera)
có 2 bộ phụ là Tubulifera và Terebrantia
Trang 201.2.3.2 Cấu tạo chung của bọ trĩ
Cấu tạo chung của trứng, bọ trĩ non các tuổi, tiền nhộng và nhộng giả của bọ trĩ, trứng thường cắm một phần vào biểu mô tế bào Bọ trĩ non tuổi
1 và 2 trông giống bọ trĩ trưởng thành nhưng chưa có cánh và bộ phận sinh dục Tiền nhộng có mầm cánh kéo dài đến đốt bụng thứ 3, nhộng giả có mầm cánh kéo dài đến đốt bụng thứ 8, râu đầu quặp ra, phía sau theo chiều dọc cơ thể (Mould, 2007)
1.2.4 Đặc điểm hình thái của bọ trĩ
Trưởng thành của côn trùng thuộc bộ cánh tơ Thysanoptera thường
có thể phân biệt với các côn trùng khác nhờ đặc điểm cánh thon có lông tơ dài ở mép cánh Tuy nhiên, pha trưởng thành của nhiều loài bọ trĩ khác không có cánh khi ở giai đoạn sâu non Trưởng thành bọ trĩ cũng khác với các côn trùng khác ở chỗ, mỗi đốt bàn chân có phiến lột ra ngoài và chỉ có một hàm trên đơn ở đầu Có 2 bộ phụ: bộ phụ thứ nhất gồm các loài mà con cái có máng đẻ trứng dạng cưa; ở bộ phụ thứ 2 các loài mà cả hai giới tính có đốt bụng cuối cùng có dạng ống (Bailey, 1944)
Con cái
Con cái có mầu vàng nhạt, râu đầu có bảy đốt, đốt cuối nhỏ, đốt thứ III của râu đầu có mầu tối ở đỉnh, đốt thứ IV và thứ V thường tối nhưng nhạt ở gốc; cánh trước nhạt Đốt thứ III và IV có tế bào cảm giác phân nhánh Đầu không có lông mọc ở trước mắt đơn, một đôi lông mọc ở mắt đơn và một đôi lông nhỏ hơn mọc ở gần mắt kép; lông sau mắt nhỏ Mảnh lưng ngực trước có 2 đôi lông gốc sau, các lông khác nhỏ, trên bề mặt có vạch ngang không rõ (Moritz, 1988) Mảnh lưng ngực sau có đôi lông giữa không mọc ở mép trước, phần sau phủ bởi các đường vân và có một đôi hố cảm giác Vân thứ nhất của cánh trước chỉ có 2 hoặc 3 lông ở vị trí xa tâm nhưng có khoảng 7 lông ở gốc; vân thứ 2 của cánh trước có một hàng lông khoảng 12 lông Mép sau của lưng bụng đốt thứ VIII có một chùm lông dài
Trang 21và nhỏ xếp thành hình lược Đốt lưng thứ IX có 2 đôi hố cảm giác; đốt thứ
II có 4 lông ở bên; đốt lưng giữa có lông giữa ngắn hơn khoảng cách giữa gốc của chúng, và không có đường vết ở giữa, các đường vết ở bên không mọc lông tơ Các mảnh bụng có 3 đôi lông mép sau, nhưng không có lông discal; mảnh lưng bên không có lông tơ nhỏ và lông discal (Lewis, 1973)
Con đực
Tương tự như con cái, đốt lưng thứ II đôi khi chỉ có 3 đôi lông ở bên, đốt thứ VIII có chùm lông ở mép sau thường không có ở bên; các mảnh bụng đốt thứ III-VII mỗi đốt có vùng tuyến ngang rộng (Nagai, 1990)
Sâu non
Các loài bọ trĩ có 2 giai đoạn tuổi sâu non và 2 tuổi nhộng Sâu non tuổi II có thể phân biệt với sâu non của các loài khác nhờ các đường vết trên mặt lưng, nhưng phân biệt mẫu ở giai đoạn sâu non rất khó so với pha
trưởng thành (Brown et al., 1996)
1.2.5 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của bọ trĩ
Bọ trĩ không chỉ gây hại trên cây dưa chuột mà còn gây hại trên rất nhiều cây trồng khác vì vậy ở các môi trường sinh thái khác nhau thì đặc tính sinh vật học, sinh thái học có biến động khác nhau
Vòng đời của loại dịch hại thuộc bộ phụ Terebrantia (Thripidae) gồm các giai đoạn: trứng, hai tuổi sâu non hoạt động và 2 tuổi nhộng ít hoạt động Tập tính đẻ trứng của 2 bộ phụ có sự khác biệt: bộ phụ Terebrantia trưởng thành cái chọc máng đẻ trứng vào dưới lớp biểu bì lá cây và đẻ từng quả một vào trong đó (Hirose, 1991)
Ở bộ phụ Tululiera, từng nhóm 3 - 4 trứng được đẻ dưới bề mặt lá cây
và được trộn với chất dịch nhầy bao phủ thành lớp màng đệm bảo vệ
Tuỳ theo điều kiện thời tiết khí hậu mà thời gian phát dục của trứng bọ trĩ thay đổi từ vài ngày đến vài tuần Mỗi một trưởng thành cái có thể đẻ từ 30 đến 300 quả trứng tuỳ theo loài, điều kiện nhiệt độ và chất lượng thức ăn Sâu
Trang 22non có 2 tuổi, sâu non tuổi 1 lột xác sang tuổi 2 sau vài ngày (3 - 4 ngày) tuỳ thuộc vào điều kiện thời tiết khí hậu Sau 5 - 12 ngày sâu non hoá nhộng trong kén tại đỉnh sinh trưởng hoặc trong các khe hở trên cây hoặc rơi xuống đất để hoá nhộng trong đất ở độ sâu khoảng 2 - 25 cm tuỳ thuộc loại đất Thời gian
từ tiền nhộng chuyển sang nhộng khoảng 1 - 3 ngày và cũng sau khoảng 1 - 3 ngày nhộng hoá trưởng thành (bộ phụ Terebrantia) hoặc chuyển sang giai đoạn nhộng thứ 2 (bộ phụ Tululifera) Bọ trĩ trưởng thành có thể sống từ 8 -
25 ngày Vòng đời bọ trĩ khoảng 10 - 30 ngày phụ thuộc vào điều kiện nhiệt
độ (Bournier, 1987)
Theo Graham (1998) cho biết một vòng đời của bọ trĩ F Occidentalis có
6 giai đoạn phát dục, trứng, sâu non tuổi 1, tuổi 2, tiền nhộng, nhộng và
trưởng thành Khi nuôi bọ trĩ T palmi ở nhiệt độ 30oC vòng đời là 10 - 12 ngày và ở nhiệt độ 25oC là 14 - 16 ngày Lewis (1973) đã chỉ ra rằng vòng
đời của bọ trĩ T palmi khi nuôi ở nhiệt độ 15oC là 62 ngày, khi nuôi ở 26oC
là 33,5 ngày và khi nuôi ở 30oC vòng đời là 22,3 ngày Một con cái có thể
đẻ tới 200 quả trứng và có thể sống từ 10 ngày đến một tháng Cũng theo Lewis thì nhiệt độ không khí có ảnh hưởng trực tiếp đến tập tính của bọ trĩ
không khí thích hợp vào những nơi có vùng tiểu khí hậu thích hợp hơn như trong hoa, chồi, bẹ lá, mặt dưới của lá sát mặt đất
Theo Amand et al , (2009), thời gian vòng đời một số loài bọ trĩ hại
cây trồng trong đó có cây lạc như sau: Frankliniella schultzei: trứng 2 - 4
ngày, thời gian tuổi 1 từ 1,5 - 3 ngày, thời gian tuổi 2 từ 3 - 5 ngày, thời gian tiền nhộng và nhộng từ 3,5 - 5 ngày, thời gian từ trứng đến trưởng
thành từ 9 - 16 ngày Scirtothrips dorsalis: trứng 4 - 7 ngày, thời gian tuổi 1
từ 2 - 4 ngày, thời gian tuổi 2 từ 3 - 6 ngày, thời gian tiền nhộng và nhộng
từ 3 - 6 ngày, thời gian từ trứng đến trưởng thành từ 12 - 23 ngày
Với những loài bọ trĩ hại lạc khác như: Frankliniella schultzei,
Trang 23Scirtothrips dorsalis và Caliothrips indicu.s, theo Joseph and Mark (2005), cũng đã công bố các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học Giai đoạn
trứng của bọ trĩ Frankliniella schultzei, Frankliniella intonsa.và
và nhộng 2 - 4 ngày Loài Caliothrips indicus có giai đoạn trứng dài hơn từ
7 - 10 ngày và bọ trĩ trưởng thành có khả năng sinh sản cao hơn các loài
Frankliniella schultzei, Frankliniella intonsa và Scirtothrip)s dorsalis
Khi nghiên cứu về sự thay đổi mùa vụ của F occidentalis trong nhà
lưới và ngoài đồng ruộng tại Helyer and Brobyn (1992), nghiên cứu trên cây cà tím ngoài đồng ruộng và trong nhà lưới ở Wakayana prefcture -
Nhật Bản đã xác định đặc điểm sinh học của F occidentalis, sự qua đông
không xuất hiện ngoài đồng ruộng do nhiệt độ thấp, nhưng những quần thể lại duy trì trong nhà lưới Vào cuối tháng 7 những con trưởng thành đã phân tán trên cánh đồng cà tím trong khoảng cách 500m từ nhà kính nơi mà
sự qua đông đã xuất hiện Sau sự phân tán mật độ quần thể thay đổi do việc dùng thuốc trừ dịch hại, bọ trĩ ở rìa ngoài cánh đồng đông hơn ở trung tâm cánh đồng Cánh đồng cà tím có bờ bao quanh có hiệu quả ngăn chặn sự di
cư của loài dịch hại này
Với các chỉ thị khác nhau bằng màu sắc ở trong cùng một điều kiện
nào đó thì T palmi có phản ứng khác nhau được minh chứng qua các tác giả: Joseph and Mark (2005), xác định sự lôi cuốn và giữ lại T palmi bằng
những cái bẫy dính có mầu đã được đánh giá trên mảnh đất thí nghiệm ở Quilor, Larastate, Venezuela Kết quả cho thấy cái bẫy màu trắng thì thu bắt được nhiều bọ trĩ hơn cái bẫy xanh da trời, đỏ, xanh lá cây và bạc
Mối quan hệ giữa mật độ trưởng thành trên cây dưa chuột và cá thể bắt được bởi bẫy tấm dính màu xanh được đặt trong nhà kính được nghiên cứu bởi Kawai ở Nhật Bản, mật độ trưởng thành trên cây và số lượng trưởng thành vào bẫy có quan hệ dương Điều này có thể kết luận rằng bẫy
Trang 24tấm dính có thể sử dụng để theo dõi mật độ tương đối của trưởng thành bọ
trĩ T palmi Kawai and Kitamura (1999), đã quan sát thấy rằng bẫy màu trắng rất có hiệu quả để dẫn dụ bọ trĩ T palmi và chiều cao thích hợp nhất
để đặt bẫy bắt bọ trĩ là 0,5 m tính từ mặt đất
1.2.6 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bọ trĩ
Nghiên cứu ảnh hưởng của quần thể bọ trĩ và thiệt hại do chúng gây
ra, đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng trừ đã có kết luận rằng phương pháp được dùng trong phòng trừ bọ trĩ có hiệu quả là: thuốc trừ sâu, phương pháp vật lý ngăn cản sự lây lan, dùng số lượng bẫy dính để thu hút
1.2.6.1 Biện pháp hóa học
Biện pháp phòng trừ bọ trĩ bằng thuốc trừ sâu thường tỏ ra khó khăn
vì chúng có cơ thể nhỏ và ẩn náu ở những nơi kín đáo Bọ trĩ ăn trên bề mặt
mô lá, vì thế các thuốc tiếp xúc, vị độc tỏ ra có hiệu quả hơn các loại thuốc nội hấp
Biện pháp hoá học trong lĩnh vực bảo vệ thực vật đã được áp dụng ở nhiều nước, ví dụ ở New Caledonia trên cây họ bầu bí và dưa hấu ở Hawaii Chín loại thuốc trừ sâu được thử nghiệm để phòng chống bọ trĩ
quả Một số loại thuốc trừ sâu khác cũng được ghi nhận là có hiệu quả ở Nam Mỹ Ở Braxin, Houten and Lier (1995) thử nghiệm 11 loại thuốc trừ sâu, kết quả cho thấy, bọ trĩ T palmi có tính chịu đựng rất cao với thuốc hoá học Flufenoxuron, Imidacloprid, Chlorfluazuron và Oxamyl là thuốc
có hiệu quả nhất; tuy nhiên cả 11 loại thuốc trên đều không có hiệu quả Hirose (1991) ghi nhận thời điểm xử lý thuốc có hiệu quả nhất là vào buổi
sáng hoặc buổi chiều Bọ trĩ T palmi đã xuất hiện tính chống các loại thuốc nhóm lân hữu và kể cả methomyl Quần thể bọ trĩ T palmi trên
ruộng cà tím xử lý thuốc Diazinon và Profenofos cao hơn hẳn so với trên ruộng không xử lý thuốc; đây có thể một phần do tại ruộng xử lý thuốc quần thể thiên địch bị tiêu diệt hoàn toàn
Trang 251.2.6.2 Biện pháp sinh học
Bọ xít bắt mồi họ Anthocoridae đóng vai trò quan trọng trong sự
điều khiển tự nhiên bọ trĩ T palmi ở nhiều nơi mà chúng là dịch hại cây trồng Bảy loài đã được đề cập tới trong tài liệu Orius sp ở Nhật Bản;
Hawaii, USA; và Bilia sp., O minutus, Wollastoniella parvicuneis và
Nhật, và một số loài chưa định loại và chỉ sử dụng ở mức giống Orius sp Nagai (1990), nghiên cứu đặc tính sinh học của bọ xít bắt mồi Orius sp
ở Nhật Tác giả đã xác định thời gian phát dục của pha trứng và sâu non
trong phòng thí nghiệm Với bọ trĩ T palmi là vật mồi, thời gian phát
dục của các pha giảm khi nhiệt độ tăng Hiệu quả bắt mồi của bọ xít bắt
mồi Orius sp tới mật độ bọ trĩ T palmi được theo dõi trên ruộng cà tím
trong nhà lưới ngoài đồng Kết quả theo dõi cho thấy, việc thả bọ xít
bắt mồi Orius sp đã làm giảm mật độ bọ trĩ T palmi trên cà tím Ngược lại, mật độ quần thể bọ trĩ T palmi, nhện đ ỏ Tetranychus
xít bắt mồi Orius sp bị tiêu diệt bởi thuốc trừ sâu Bọ xít bắt mồi Orius spp
phát sinh từ tháng 5 đến tháng 11, với 2 đỉnh cao quần thể trong tháng 7-8 và trong tháng 9
Ở Nhật Bản, Kawai and Kitamura (1999), đ ánh giá sự phát tán
của bọ xít bắt mồi Orius spp trên cà tím trong nhà lưới bị nhiễm bọ trĩ T
9 cây lân cận Sau đó mật độ bọ trĩ T palmi vẫn thấp cho đến hết thí nghiệm Cho dù về sau các cá thể của bọ xít bắt mồi Orius spp phát tán tới vùng
khác của nhà lưới nhưng chúng không thể điều khiển mật độ quần thể bọ trĩ
xít bắt mồi Orius sp tới vùng lân cận là rất chậm Phải mất khoảng một
Trang 26tháng để cá thể bọ xít bắt mồi Orius spp phát tán tới tất cả vùng khác của
nhà lưới Tác giả kết luận rằng khả năng phát tán của sâu non tuổi nhỏ thấp
so với sâu non tuổi lớn và trưởng thành
Theo Shipp et al., (2000) cho biết bọ xít bắt mồi Anthocoris
antevolens là côn trùng bắt mồi rất phổ biến ở Bắc Mỹ Bọ xít bắt mồi
và các loài động vật có kích thước cơ thể nhỏ khác Những nghiên cứu đầu tiên về loài bọ xít bắt mồi này được tiến hành vào năm 1978 ở Canada Ở
Pháp, loài Anthocoris nemorum là thiên địch của bọ trĩ hại hoa Franklniella
occidentalis hại dưa chuột trong nhà kính Khi mật độ bọ trĩ tăng cao,
người ta bắt đầu thả bọ xít bắt mồi A nemorum vào ruộng dưa chuột trong
nhà kính
Ảnh hưởng của quần thể bọ xít bắt mồi Orius sp tới quần thể dịch
hại chân khớp trên cà tím ngoài đồng được Helyer and Brobyn (1992)
nghiên cứu Quần thể bọ xít bắt mồi Orius sp trên ô xử lý thuốc trừ sâu
thấp hơn ô không xử lý thuốc, và cũng tương tự như vậy quần thể bọ trĩ
không xử lý thuốc Điều này kết luận rằng bọ xít bắt mồi Orius sp có
hiệu quả về việc làm giảm quần thể dịch hại chân khợp trên cà tím
Ở Trung Quốc, Chen and Chang (1987), đ ã nghiên cứu đ ặc tính
sinh học của bọ xít bắt mồi O similis Trong phòng thí nghiệm, một cá thể của bọ xít bắt mồi O similis có thể ăn 440 bọ trĩ T palmi trong một
đời của chúng (cả sâu non và trưởng thành) Ở Nhật Bản trong đ iều kiện phòng thí nghiệm, ở nhiệt đ ộ 25oC một trưởng thành cái của bọ
xít bắt mồi Orius sp trung bình ăn 22 sâu non tuổi II hoặc 26 trưởng thành bọ trĩ T palmi trong 24 giờ Tuy nhiên trưởng thành bọ xít bắt mồi
1.2.6.3 Biện pháp phòng chống tổng hợp IPM đối với bọ trĩ T palmi
Murai (2000) nhấn mạnh tầm quan trọng của biện pháp sinh học
Trang 27phòng chống bọ trĩ T palmi Tác giả cho rằng sự xuất hiện lại của dịch
hại này ở Đông Nam Á trong 10 năm qua là do việc tiêu diệt thiên địch của chúng bằng sử dụng thuốc trừ sâu lặp đi lặp lại Ảnh hưởng của thuốc
trừ sâu tới bọ xít bắt mồi Orius sp được Liu (2003) theo dõi Trung Quốc
Thí nghiệm nhúng trứng bọ xít vào dung dịch thuốc cho thấy các loại thuốc như Chinomethionate, Bromopropylate, Pirimicarb, Phosalone và Dichlorvos tỏ ra ít độc đối với trứng Tuy nhiên, Carbaryl, hỗn hợp giữa Malathion và Fenobucarb, Methidathion, Phenthoate và Fenthion có tính
độc rất cao đối với trứng Rõ ràng, bọ xít bắt mồi giống Orius không mẫn
cảm với Buprofenzin hoặc Bromopropylate khi được phun trên ruộng cà
tím để phòng chống bọ trĩ Thrips tabaci, nhưng Phosalone, Chlorfluazuron
và Flufenoxuron có tính độc rất cao đối với loài bọ xít bắt mồi thuộc giống
bởi vì cần sử dụng chất hoá học nông nghiệp một cách an toàn Vì vậy cần
thiết lập một hệ thống phòng chống tổng hợp Mô hình quần thể bọ trĩ T
palmi được xây dựng để tránh giá hiệu quả của các biện pháp phòng chống
khác nhau và để phát triển một hệ thống phòng chống hiệu quả cho bọ trĩ T
1.2.6.4 Sử dụng hợp chất điều hoà sinh trưởng chống bọ trĩ T palmi
Theo Liu (2003) đánh giá ảnh hưởng Hormone trẻ Pyriproxyfen tới bọ trĩ T palmi Tỷ lệ chết giữa quần thể bọ trĩ Thrips tabaci trên lá có
xử lý thuốc và không xử lý thuốc không có sự sai khác đáng kể Tuy nhiên, tỷ lệ chết ở giai đoạn nhộng trên lá có xử lý thuốc tăng lên tới 70%, so với 30% trên lá không xử lý thuốc Hormone trẻ Pyriproxyfen
cũng không ảnh hưởng đến tỷ lệ nở của bọ xít bắt mồi Orius sp Trong nhà lưới, quần thể bọ xít bắt mồi Orius sp được đưa vào ở mức độ rất
thấp trong vòng 10 ngày sử dụng thuốc carbaryl kết hợp với Pyriproxyfen,
nhưng mật độ quần thể bọ xít Orius sp không khác với công thức không
Trang 28xử lý thuốc Hợp chất Flufenoxuron có khả năng cản trở quá trình lột xác của sâu non tuổi I sang tuổi II và quá trình biến thái sâu non tuổi II sang nhộng, nhưng không ảnh hưởng đ ến tỷ lệ sống và sức sinh sản của con
cái Flufenoxuron ảnh hưởng tới quần thể bọ trĩ Thrips tabaci trên cà tím
ngoài đồng mạnh mẽ hơn Sulprofos Tác động của 5 hợp chất cản trở quá trình tổng hợp chitin Diflubenzuron, Teflubenzuron, Chlorfluazuron,
Flufenozuron và Chiromazine chống bọ trĩ Thrips tabaci hại trên dưa hấu ở
Trung Quốc được đánh giá trong phòng thí nghiệm và trong nhà lưới Số lượng sâu non bỏ rơi lá để hoá nhộng giảm ở mức có ý nghĩa và sâu non được xử lý bằng Chiromazine có thể hoá nhộng
1.2.6.5 Biện pháp xử lý sau thu hoạch
Có một số nghiên cứu về biện pháp xử lý sau thu hoạch để tiêu diệt bọ
trĩ T.palmi Quả cà tím sau thu hoạch đem ngâm vào nước ở các nhiệt độ khác nhau để tiêu diệt bọ trĩ T palmi tồn tại dưới đài hoa Nhúng nước ở nhiệt độ
450C rất tốt cho việc bảo quản sau này nhưng ở nhiệt 500C gây hại đến chất lượng quả Murai (2000) đánh giá biện pháp sử lý sau thu hoạch để phòng
chống bọ trĩ T palmi trên hoa cúc ở Hawaii Các biện pháp được nghiên cứu
gồm nhúng sản phẩm vào dung dịch thuốc, cồn, phun thuốc trừ sâu dạng sương mù và ngâm vào nước nóng Nhân tố hạn chế biện pháp sau thu hoạch
là tính độc đối với cây, tính độc này khác nhau khi dùng trên cây trồng khác nhau Biện pháp như nhúng sản phẩm vào dung dịch thuốc và phun thuốc trừ sâu dạng sương mù tỏ ra ít độc đối với thực vật hơn là xử lý bằng cồn isopropyl, nước nóng Một thí nghiệm khác cho thấy, nhúng hai lần sản phẩm
vào dung dịch thuốc pha loãng làm giảm 90% sự nhiễm bọ trĩ T palmi trên
hoa cúc so với không xử lý (Lane and Steve, 2000)
1.2.6.6 Chất gây ngán ăn
Cho dù các giống cà tím mang tính chống bọ trĩ T palmi được đưa
vào Nhật Bản từ các nước Đông Nam Á, nhưng rất nhiều đề tài nghiên
Trang 29cứu về chất gây ngán ăn trên cà chua Ảnh hưởng của cấu tạo chất hoá học
ở lá cà chua tới sự sống của bọ trĩ T palmi được mô tả bởi Riley and
Pappu (2004) Trưởng thành cái sống trong khoảng thời gian dài khi nuôi trên đĩa có giấy lọc ngâm vào dung dịch đường mía có nước 3%, và ngay
cả khi nuôi trên đĩa có giấy lọc nhúng vào dung dịch đường Methanol chiết xuất từ lá dưa chuột và cà tím chúng vẫn sống lâu dài Tuy nhiên,
khi Methanol chiết từ lá cà chua đ ưa vào đĩa thì tất cả bọ trĩ T palmi
trong đó đều chết hết trong vòng hai hoặc ba ngày Điều này chứng minh
rằng hợp chất có trong lá cà chua có khả năng gây ngán ăn đối với bọ trĩ T
Mặc dù bọ trĩ T palmi là loài đa thực nhưng ở Nhật Bản, chúng
không ăn trên cà chua Hợp chất Chrystalline có hoạt tính gây ngán ăn
mạnh mẽ đối với bọ trĩ T palmi Chrystalline được chiết suất từ lá cà chua
và được xác định là Steroidal glycoalkaloid alpha-tomatine Điều đó
khẳng định rằng chất miễn dịch ở cà chua chống bọ trĩ T palmi được thể hiện duy nhất bởi sự có mặt của alpha tomatine, bởi vì bọ trĩ T palmi
không sử dụng thông tin trên không để tránh né lá cà chua
1.2.6.7 Biện pháp canh tác
Cây thiếu nước thường bị bọ trĩ nặng hơn, do đó tưới nước hợp lý cũng là một biện pháp phòng trừ bọ trĩ Việc tiêu huỷ cỏ dại ở trên đồng ruộng và xung quanh bờ có thể làm giảm mật độ bọ trĩ vì đây là những chỗ qua đông và tái xâm nhiễm của bọ trĩ (Kawai and Kitamura 1999)
Theo Riley and Pappu (2004) việc bố trí thời vụ hợp lý giúp ngăn cản sự di chuyển của bọ trĩ từ cây ký chủ phụ sang cây trồng chính và có thể tránh được thời điểm phát triển mạnh nhất của bọ trĩ, mật đọ bọ trĩ thường cao nhất vào mùa khô Cây thiếu nước thường bị bọ trĩ nặng hơn,
do đó tưới nước hợp lý cũng là một biện pháp phòng trừ bọ trĩ Việc tiêu hủy cỏ dại trên đồng ruộng và xung quanh bờ có thể làm giảm mật độ bọ trĩ
Trang 30vì đây là chỗ qua đông và tái xâm nhiễm của bọ trĩ
Việc sử dụng phân bón cũng ảnh hưởng tới sự xâm nhiễm và gây hại của bọ trĩ Bón phân hợp lý làm tăng khả năng chống chịu của cây Cây trồng bón thừa đạm dễ bị bọ trĩ gây hại Do vậy, sự cân bằng dinh dưỡng là một trong những yếu tố giúp hạn chế sự tấn công của bọ trĩ
Các loại bẫy dính màu trắng, bẫy chậu nước màu trắng, các băng dính màu xanh dương cũng được sử dụng để thu bắt bọ trĩ
1.3 Những nghiên cứu tại Việt Nam
đó T palmi là loài gây hại quan trọng nhất
Theo Phạm Thị Vượng (1998) đã xác định 4 loài bọ trĩ phá hoại trên
cây lạc, đó là Scirtothrips dorsalis, Frankliniella schultzei, T.palmi và
Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Lợi (2001), cho biết: tại vùng Bắc Ninh có 12 loài cây là ký chủ của T palmi, trong đó có đậu cô ve, đậu trạch, dưa chuột, cà tím, khoai tây
Nghiên cứu về thành phần bọ trĩ hại bông của Hoàng Anh Tuấn (2002), cho thấy ở Việt Nam tại vùng Ninh Thuận có 3 loài bọ trĩ
(Scirtothripsdorsalis Hood, T palmi Karny, Ayyarria chaetophora Karny)
gây hại trên cây bông Trong đó T palmi là đối tượng gây hại quan trọng nhất khi cây bông ở giai đoạn cây con và về sau mật độ của chúng giảm dần
Còn trên đậu rau tại vùng Gia Lâm Hà Nội, Try (2003), đã xác định
được 4 loài bọ trĩ gây hại: Frankliniella sp., Caliothrips sp., Scirtothrips
Trang 31yếu trên lá, ngọn cây còn Frankliniella sp bắt đầu có mặt khi cây bước vào
giai đoạn ra hoa
Còn trên dưa chuột tại vùng Gia Lâm, Hà Nội, Try (2008) đã xác
định được 7 loài bọ trĩ gây hại là: Thrips palmi Karny, Thrips parvispinus Karny, Thrips flavus Schrank, Frankliniella occidentalis Pergande,
quanh năm với mức độ phổ biến cao nhất, tấn công lên lá, chồi và hoa
Theo Hà Quang Hùng (2005), có 5 loài bọ trĩ thường gây hại trên
hoa cúc: Thrips tabaci Linderman, Thrips flavus Schrark, Frankliniella
có 3 loài thường xuyên xuất hiện và gây hại chủ yếu là Thrips tabaci,
Theo Hà Thanh Hương và cs (2007), thành phần bọ trĩ trên hoa cúc
có tiềm năng xuất khẩu ở Tây Tựu, Từ Liêm, Hà Nội chủ yếu tập trung ở
họ Thripidae, trong đó loài Thrips hawaiiensis và loài Frankliniella intosa
xuất hiện phổ biến trên cúc trắng và cúc vàng
1.3.2 Vị trí phân loại của bọ trĩ và hình thái chung của bọ trĩ
1.3.2.1 Vị trí phân loại của bọ trĩ
Có hơn 6.000 loài bọ trĩ đã được biết trên thế giới [Hà Quang Hùng
và Cs, 2005] Nhiều khía cạnh về phân loại hệ thống của bộ cánh tơ Thysanoptera vẫn còn tranh luận giữa các nhà côn trùng
Theo Hà Quang Hùng và cs (2005), những năm trước đây vị trí phân loại của bọ trĩ dựa vào hệ thống của Priesner (1968)
1.3.2.2 Đặc điểm hình thái của bọ trĩ trưởng thành
Bọ trĩ là côn trùng có cánh với kích thước cơ thể nhỏ nhất, dao động
từ 0,5-14 mm Phần lớn loài bọ trĩ có kích thước cơ thể lớn sống ở vùng
Trang 32nhiệt đới, những loài bọ trĩ phổ biến ở vùng ôn đới thường không dài quá 1-2 mm Bọ trĩ có dạng thon, có sắc tố rõ và bóng, phần lưng bụng thay đổi
từ trắng đến nâu, nâu đậm hoặc đen
Theo Hà Quang Hùng và cs (2005):
Râu đầu có 4-9 đốt nhưng thường từ 7-8 đốt Đôi mắt kép nằm ở bên trên hoặc bên dưới của đỉnh đầu và má Ở những loài có cánh, 3 mắt đơn nằm ở trên trán giữa mắt kép tạo thành hình tam giác
Kiểu miệng chuyên hoá lồi ra phía dưới đầu và nằm ở gần gốc hoặc giữa gốc chân trước Phần phụ miệng của bọ trĩ là kiểu dũa hút không đối xứng cho nên bọ trĩ gây hại để lại triệu chứng cho cây trồng Phần miệng ở dưới có một hàm trên bên trái phát triển đầy đủ và gần như thẳng còn hàm trên bên phải thoái hoá hoàn toàn, hai hàm dưới rất phát triển, có môi trên
và môi dưới
Ngực trước: do đầu và ngực trước thường có cùng một chức năng cho nên có một khớp đặc biệt nối giữa các đốt ngực với ngực trước Chân trước
Trang 33nối với đốt ngực trước tạo điều kiện cho sự di động lên xưống của một vùng liên hợp đốt ngực trước và đầu khi ăn Đốt ngực giữa và sau: ở loài có cánh đốt ngực giữa và sau rộng mang đôi cánh Nhờ đặc điểm này, đốt ngực giữa
và sau có gai xương và màng ở trên có thể di động được, nhưng các tấm nối ở phần dưới và bên cứng Gốc của cánh có thể di động
Chân của bọ trĩ trưởng thành gồm có đốt háng, đốt chuyển, đốt đùi, đốt ống, một hoặc hai đốt bàn chân Khi bò chỉ bàn chân tiếp xúc với nền nhờ đó mà bọ trĩ có thể bám chặt trên bề mặt mịn và tránh tuột ra khỏi lá cây khi gió thổi
Bụng có 11 đốt Đốt bụng thứ hai đến đốt thứ tám đều có lỗ thở Phần bên của mặt lưng đốt bụng mang cấu trúc đặc biệt, lông xếp thành mảnh lược (Ctenidia) Mép sau của mặt lưng đốt bụng thứ tám thường có lông tơ xếp dạng lược Ở trưởng thành cái các đốt bụng từ 9 đến 10 của mặt bụng mở rộng tạo thành máng đẻ trứng Máng đẻ trứng rộng và rất phát triển, để bọ trĩ đẻ trứng trong mô cây Các đốt sinh dục của trưởng thành đực gồm có: gai giao cấu, bộ phận sinh dục giữa và thuỳ nằm ở bên
1.3.2.3 Vòng đời của bọ trĩ
Trứng bọ trĩ có màu trắng nhạt, vàng nhạt hoặc màu tối, hình trụ hoặc dạng quả đậu và phủ lớp vỏ bên ngoài hoặc lớp màng đệm, ở những loài thuộc bộ phụ Terebrantia, vỏ trứng nhẵn giống như bóng, bởi vì các quả trứng được đẻ đơn độc vào trong mô lá nhờ máng đẻ trứng Trong họ Phlaeothripde, trứng được đẻ trên giá thể, vỏ trứng thường có vân năm cạnh Trong bộ phụ Terebrantia, trứng có nắp ở đầu, nắp này sẽ mở ra khi trứng nở Sau khi đẻ vài giờ trứng cần có sự chống đỡ của mô cây xung quanh Sau đó trao đổi chất xảy ra trong trứng và làm cứng vỏ trứng tạo cấu trúc ổn định
Trang 34Theo Hà Quang Hùng và cs (2005)
Các giai đoạn phát triển của bọ trĩ :
Ấu trùng tuổi I, tuổi II: Cũng giống như ở nhiều côn trùng khác, kích thước cơ thể của ấu trùng bọ trĩ lớn lên một cách nhanh chóng sau khi trứng nở Sâu non tuổi 1, tuổi 2 giống như trưởng thành có cánh và bộ phận sinh dục, có cơ quan thích nghi với kích thước cơ thể nhỏ hơn Lớp cutin của cả 2 tuổi ấu trùng thường màu vàng hoặc vàng nhạt và giống như màng Điều khác thường là cả hai giai đoạn ấu trùng đều sinh trưởng chiều dài và đường vòng ngực khi chúng ăn, vì thế ấu trùng tuổi 1 sắp lột xác và
ấu trùng tuổi 2 mới lột xác có hình dáng và mầu sắc tương tự nhau Cả hai giai đoạn ấu trùng đều có phần phụ miệng giũa và hút với hai mảnh nghiền trong và hàm trên bên trái phát triển Râu đầu giống như trưởng thành; ở cả hai giai đoạn ấu trùng đốt thứ 2 của râu đầu có một cảm giác và các đốt từ
Trang 35thứ 3 đến đốt cuối xuất hiện các lông cứng giống nhau và tế bào cảm giác Cánh và bộ phận sinh dục chỉ xuất hiện ở trưởng thành, nhưng cơ quan bên trong của chúng cùng xuất hiện với sự phát triển mảnh trước và sau ở ấu trùng tuổi 2 giai đoạn đẫy sức
Tiền nhộng và nhộng: Là giai đoạn không ăn và bất động Mắt kép, mắt đơn, các gai hàm, cánh trước và cánh sau đang phát triển và các van của ống đẻ trứng của trưởng thành xuất hiện rõ qua lớp cutin ở giai đoạn nhộng Đốt ngực sau của nhộng nối vững chắc hơn so với đốt ngực liền của trưởng thành Ở giai đoạn nhộng bất động, sự thay đổi cấu trúc phù hợp với côn trùng có cánh bên trong
1.3.3 Những nghiên cứu về đặc tính sinh vật học, sinh thái học của bọ trĩ
Theo Hà Quang Hùng và Nguyễn Đức Thắng (2010) cho biết: trưởng
thành loài bọ trĩ F intonsa ngoài hại lạc còn gây hại trên 11 loài ký chủ khác Mật độ của loài bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom hại lạc trên đất
cát cao hơn lạc trồng trên đất thịt, ruộng trồng lạc có độ ẩm cao không thích hợp cho bọ trĩ sinh trưởng, phát triển, ruộng trồng lạc tưới nước kiểu phun mưa có tác dụng rửa trôi bọ trĩ, giống lạc L14 trồng vụ muộn mật độ
và tỷ lệ hại của F.intonsa cao hơn vụ sớm và chính vụ
Tại Hà Nội, bọ trĩ xuất hiện trên lạc quanh năm Bọ trĩ có 3 cao điểm trong vụ lạc xuân, đỉnh cao nhất vào tháng 4, 5 và 2 cao điểm trong vụ lạc thu, đỉnh cao nhất vào tháng 9,10 khi nhiệt độ ôn hòa trên dưới 250C (Phạm Thị Vượng, 1998)
Nghiên cứu bước đầu về đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của
loài bọ trĩ Frankliniella intonsa gây hại cam, quýt tại Nông trường Cao
Phong tỉnh Hòa Bình trong vụ xuân năm 2004 (Hà Quang Dũng, 2003)
Tác giả này đã công bố, vòng đời của bọ trĩ F intonsa ở điều kiện nhiệt độ
20,5ºC là 19,80 ± 0,388 ngày; ở điều kiện nhiệt độ 25ºC là 16,18 ± 0,288
ngày; mật độ của bọ trĩ F intonsa tăng theo thời gian nở hoa cam, quýt và
Trang 36đạt cao nhất vào cuối tháng 3 Mật độ bọ trĩ trên hoa giống cam Xã Đoài là 2,11 con/hoa cao hơn giống cam Đường Canh 1,52 con/hoa và quýt Chum
Hà Giang 1,28 con/hoa
Ở điều kiện nuôi trong phòng nhiệt độ từ 16,1 - 26,50 0C thời gian
phát dục trung bình các pha của Thrips palmi như sau: trứng: 3,79 ngày;
sâu non tuổi 1: 3,33 ngày; sâu non tuổi 2: 4,18 ngày; nhộng: 4,44 ngày; trưởng thành: 10,7 ngày (Hoàng Anh Tuấn, 2002)
Theo Try (2003), thì ở điều kiện môi trường và thời gian gống nhau
số lượng quả trứng được đẻ trên 6 loại ký chủ khác nhau có sự sai khác có
ý nghĩa ở mức P = 0,01 Trong đó thứ hạng từ không thích hợp đến thích hợp nhất tăng dần như sau: lạc, đậu xanh, khoai tây, đậu trạch, dưa chuột và
cà tím Theo thứ hạng trên chứng minh rằng cà tím là ký chủ thích hợp nhất
của bọ trĩ T palmi, trong khi đó lạc là ký chủ không thích hợp nhất
Quần thể bọ trĩ T palmi có thể sinh sống thích hợp là trong khoảng
dao động nhiệt độ từ 22 - 32oC Với điều kiện này sự phân bố cấu trúc tuổi trong quần thể nghiêng về giai đoạn sâu non tuổi I, số lượng trưởng thành ít được bắt gặp hơn và đồng thời tính phân bố trên cây rất đồng đều (trưởng thành phân bố trên chồi, ngọn và lá non trong khi sâu non phân bố trên lá già
hơn) Khi nhiệt độ ngoài trời tăng lên trên 35oC quần thể bọ trĩ T palmi có xu
hướng giảm đột ngột do lá cây dưa chuột mất quá nhiều nước thậm chí bị héo dẫn đến thiếu thức ăn nghiêm trọng Sự phân bố cấu trúc tuổi trong quần thể
có sự thay đổi, chỉ sâu non tuổi II và trưởng thành được phát hiện Đây là dấu hiệu quần thể có xu hướng giảm sự sinh sản (Try, 2008)
Nghiên cứu về ảnh hưởng của điều kiện khí hậu, thời tiết tới sự phát
sinh và phát triển của bọ trĩ, loài Thrips tabaci thường ít thấy trong điều
kiện nhiệt đới ẩm, nhưng khá phổ biến trong những vùng khô ấm, ngược lại
nhất trong các tháng mùa xuân và mùa hè, giảm vào mùa mưa và mùa
Trang 37đông Biến động số lượng của chúng chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, khí hậu đặc biệt là nhiệt độ và lượng mưa, điều kiện ẩm ướt kéo dài không thuận lợi cho sự phát triển của chúng Các loài bọ trĩ rất mẫn cảm với sự thay đổi của môi trường và chỉ có thể phát sinh, phát triển dưới những điều kiện khí hậu đặc thù Sự phổ biến của chúng có liên quan đến hình dạng cây, đặc biệt là những loài bọ trĩ gây hại trên hoa, các yếu tố như
ẩm độ, nhiệt độ, tốc độ gió, thổ nhưỡng cũng có liên quan đến mức độ phổ biến của từng loài bọ trĩ
Mật độ bọ trĩ trên các cây trồng hàng năm phụ thuộc vào nguồn bọ trĩ trên các cây ký chủ phụ Việc vệ sinh đồng ruộng và phòng trừ cỏ xung quanh ruộng cây trồng không được chú ý thường dẫn tới những thiệt hại nghiêm trọng Trái lại, mật độ bọ trĩ trên các cây trồng ngắn ngày phụ thuộc nhiều vào số lượng con cái trưởng thành qua đông trong từng vụ
Theo Doãn Huy Chiến và cs (2006), mật độ sâu bệnh thường có xu hướng tăng cao, gây hại nặng trong vụ xuân hè khi nhiệt độ, độ ẩm không khí thích hợp Trên hoa hồng có sâu bệnh gây hại chính là nhện đỏ và bệnh phấn trắng Hoa cúc có sâu bệnh hại chính là bọ trĩ và bệnh đốm đen Trong đó, bọ trĩ Thrips tabaci xuất hiện ở tất cả các tháng trong năm nhưng phát sinh và gây hại nặng từ tháng 4 đến tháng 9 Tỷ lệ hại đạt cao điểm trong năm 2005 là 36-40%, năm 2006 là 34-42% Các tháng 1, 2, 3 và tháng 10, 11,
12 bọ trĩ gây hại nhẹ, tỷ lệ hại từ 2-6% Như vậy, bọ trĩ là sâu hại quan trọng trên hoa Tuy nhiên ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào có hệ thống và đầy
đủ về bọ trĩ hại hoa mà chỉ có một số nghiên cứu về bọ trĩ trên cây trồng khác
Ở Việt Nam bọ trĩ là một đối tượng khá quan trọng gây hại trên nhiều loại cây trồng như lúa, lạc, khoai tây, đậu tương, chè, bông Bọ trĩ có khả năng sinh sản và tăng mật độ quần thể một cách nhanh trong khoảng thời gian ngắn, nhờ đó mà chúng có thể gây hại hàng loạt diện tích đậu trạch Cả sâu non cà trưởng thành đều tập trung sinh sống trên lá, thân và
Trang 38quả Những cây bị hại nặng lá trở thành màu vàng trắng hoặc nâu và sau đó toàn bộ lá bị nhăn sau đó chết toàn bộ cây Những chồi bị hại nặng sẽ biến màu trắng toàn bộ, lùn và làm biến dạng của lá Riêng trên hoa sự gây hại
của bọ trĩ T palmi làm ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất quả Nếu hoa bị
hại nặng, sẽ dẫn đến cản trở sự hình thành quả và đồng thời toàn thể các hoa bị rụng, những hao còn sót lại cho dù có thể hình thành quả nhưng bị mất giá trị kinh tế (Try, 2003)
Theo Trần Văn Lợi (2001) tại vùng Hà Nội bọ trĩ gây hại trên lạc quanh năm Quần thể bọ trĩ có 3 đỉnh cao mật độ trên cây lạc trong vụ xuân vào tháng 2, 4, 5
1.3.4 Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bọ trĩ
1.3.4.1 Biện pháp quản lý tổng hợp
Để phòng chống bọ trĩ Franhkliniell intonsa Trybom và Scirtothrips
thực hiện phối hợp các biện pháp canh tác, hóa học, sinh học một cách hợp lý:
+ Từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau phát quang diệt cỏ dại đặc biệt
là hoa đơn buốt và ký chủ phụ khác của bọ trĩ trong và xung quanh vườn cam quýt
+ Sử dụng thuốc Tập kỳ 1,8EC phun 3 lần hoặc thuốc có nguồn gốc sinh học để bảo vệ thiên địch (phun lần 1 khi hoa cam quýt xuất hiên rõ, lần 2 khi 75% cánh hoa cam quýt rụng và lần 3 sau khi hoa rụng khoảng 15 ngày)
+ Chăm sóc bón phân kết hợp phòng chống sâu hại khác
Theo Yorn Try (2008, để phòng chống bọ trĩ Thrips palmi hại trên
dưa chuột có thể:
+ Chọn giống dưa chuột lai Sokhun 701 trồng trong khoảng thời gian
từ giữa tháng 2 đến đầu tháng 3, kết hợp giữ độ ẩm của đất hoặc cho nước vào rãnh giữa luống từ giai đoạn cây được 7 lá
+ Trước giai đoạn dưa chuột ra hoa mật độ bọ trĩ Thrips palmi 15
Trang 39con/lá có thể phun thuốc Marhal 200SC, giai đoạn dưa chuột ra hoa đến trước thu hoạch lứa đầu tiên nếu mật độ bọ trĩ Thrips palmi vượt ngưỡng trên tiến hành phun thuốc có nguồn gốc sinh học Alphatin 1,8EC
+ Từ giai đoạn thu hoạch lứa quả đầu tiên đến cuối vụ có thể thả thêm bọ xít nâu nhỏ bắt mồi Orius sauteri với lượng 1 con/cây, thả 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 ngày
Nguyễn Đức Thắng (2010), bước đầu đề xuất quy trình quản lý tổng
hợp IPM phòng chống bọ trĩ F intonsa hại lạc tại Nghệ An bằng cách phối
hợp các biện pháp: Kỹ thuật làm đất, chọn đất, bón phân theo quy trình, sử dụng nylon làm hàng rào quanh ruộng, trong quá trình trồng lạc có thể dùng biện pháp tưới phun mưa, phun thuốc Admire 200OD hoặc Oshin 100
SL kết hợp thả bọ xít nâu nhỏ bắt mồi O sauteri với tỉ lệ 1/200 (1m2 thả 2
con) Kết quả thực hiện mô hình quản lý tổng hợp trên cho năng suất lạc giống L14 tăng năng suất lạc 800 kg/ha, giảm thiệt hại do bọ trĩ tới 40 %, giảm được 6 lần phun thuốc so với mô hình của nông dân
1.3.4.2 Biện pháp hóa học
Theo Trần Thị Tuyết (2005), khi thử nghiệm một số thuốc: Tập kỳ 1,8
EC, Arrivo 10 EC, Actara 25WG và Spinosad với Thrips palmi trên lá bí
xanh, đã cho rằng Actara có hiệu lực phòng trừ nổi trội so với các loại thuốc kia Thuốc Spinosad cũng có hiệu lực phòng trừ bọ trĩ tương đương Actara (99%) mặc dù thuốc không có tác dụng nhanh nhưng hiệu lực kéo dài
Theo Hà Quang Hùng (2005), các thuốc Tập Kỳ 1,8EC, Sumicidin 20
EC, Decis, Diazinon, Nicotin đều có thể phòng trừ bọ trĩ đạt kết quả tốt Theo Try (2008) chỉ rõ thuốc Marshal 200SC có hiệu lực cao nhất
trong phòng chống bọ trĩ Thrips palmi, sau đó lần lượt là các thuốc Amico
10EC, Conphai 10WP và Regent 800 WP Trong số các loại thuốc có nguồn gốc sinh học thì Alphatin 1,8EC là có hiệu lực cao nhất, tiếp theo là
Trang 40Abatimec 3,6E , Thần tố 78DD
Ngoài ra, nên thực hiện các biện pháp quản lý tổng hợp để có thể phòng trừ bọ trĩ đạt hiệu quả cao nhất Cũng theo Yorn Try (2008), để đề
phòng bọ trĩ Thrips palmi hại trên dưa chuột có thể phối hợp như sau:
+ Chọn giống dưa chuột lai Sokhun 701 trồng trong khoảng thời gian
từ giữa tháng 2 đến đầu tháng 3, kết hợp giữ độ ẩm của đất hoặc cho nước vào rãnh giữa luống từ giai đoạn cây được 7 lá
+ Trước giai đoạn dưa chuột ra hoa, nếu mật độ bọ trĩ Thrips palmi là
15 con/lá có thể phun thuốc Marhal 200SC, giai đoạn dưa chuột ra hoa đến trước thu hoạch lứa đầu tiên nếu mật độ bọ trĩ Thrips palmi vượt ngưỡng trên tiến hành phun thuốc có nguồn gốc sinh học Alphatin 1,8EC
+ Từ giai đoạn thu hoạch lứa quả đầu tiên đến cuối vụ có thể thả thêm
bọ xít nâu nhỏ bắt mồi Orius sauteri với lượng 1 con/cây, thả 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 ngày
1.3.4.3 Biện pháp sinh học
Hoàng Anh Tuấn (2002) đã xác định có một loài bọ xít bắt mồi
bắt mồi Menochilus sexmaculatus, Chrysopa sp1, sp2 và một loài ong ký sinh sâu non Ceranisus sp đang có mặt ở Việt Nam tại ruộng bông vùng
Ninh Thuận
Kết quả nghiên cứu của Hà Quang Hùng và cs (2002) cho biết bọ xít
bắt mồi Orius sauteri là loài côn trùng bắt mồi có ý nghĩa trong điều hoà số lượng bọ trĩ T palmi hại khoai tây ở vùng Hà Nội và phụ cận
Theo Trần Văn Lợi (2001), cho thấy tại vùng Bắc Ninh thiên địch của
bọ trĩ T palmi là bọ rùa đỏ, bọ xít đen, nhện bắt mồi… Còn theo Phạm Thị Vượng (1998), trên cây lạc có 9 loài thiên địch của bọ trĩ T palmi Một số loài trong chúng là: Paederus sp., Cocnelle transversalis sp., Micraspis discolor