1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích hiệu quả tài chính của mô hình xen canh tôm lúa trên địa bàn huyện u minh thượng, tỉnh kiên giang

67 976 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 865 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo các cán bộ địa phương và người dân ở huyện U Minh Thượng đánh giá mô hình tôm – lúa mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với độ canh cây lúa, góp phần tạo việc làm, xóa đói, g

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH

- -

LÊ CẨM TÚ

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA

MÔ HÌNH XEN CANH TÔM - LÚA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN U MINH THƯỢNG,

TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành Kinh tế nông nghiệp

Mã số ngành: D620115

Tháng 12 - 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH

- -

LÊ CẨM TÚ MSSV: 4105095

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA

MÔ HÌNH XEN CANH TÔM - LÚA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN U MINH THƯỢNG,

TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành Kinh tế nông nghiệp

Mã số ngành: D620115

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PHẠM QUỐC HÙNG

Tháng 12 - 2013

Trang 3

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Sự cần thiết nghiên cứu

Hầu hết các nước đang phát triển đều dựa vào nông nghiệp trong nước để cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng, từ đó tạo nên sự ổn định, đảm bảo an toàn cho phát triển Đặc biệt, ở nước ta, với trên 43,7 triệu tấn lúa và trên 8 triệu tấn gạo đã xuất khẩu trong năm 2012, mức cao nhất từ trước đến nay, đã cho thấy nông nghiệp có vai trò quan trọng, góp phần giúp ta thoát khỏi ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Đồng Bằng Sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất nước với tổng diện tích khoảng 4 triệu hecta, chiểm khoảng 12% tổng diện tích lãnh thổ Việt Nam Đây là vùng đóng góp hơn 50% diện tích lúa, 71% diện tích nuôi trồng thủy sản, 30% giá trị sản xuất nông nghiệp và 54% sản lượng thủy sản của cả nước Diện tích và sản lượng thu hoạch chiếm hơn 50% so với cả nước Bình quân lương thực đầu người gấp 2,3 lần so với lương thực trung bình cả nước Nhờ vậy nên Đồng bằng sông Cửu Long trở thành nơi xuất khẩu gạo chủ lực của cả đất nước

Kiên Giang là một trong những khu vực trọng điểm sản xuất nông nghiệp của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long Với diện tích đứng thứ 18 trên 64 tỉnh thành nhưng đã hai năm liền tỉnh dẫn đầu cả nước về sản lượng lúa, gạo Ước tính tổng sản lượng lương thực năm 2012 của cả tỉnh sẽ đạt trên 4,21 triệu tấn, tăng gần 293.000 tấn so với năm 2011 Đây là năm thứ 2 liên tiếp Kiên Giang dẫn đầu cả nước về sản lượng lương thực sản, và ở mức cao nhất từ trước đến nay (Sở NN&PTNT Kiên Giang, 2012)

Để khai thác và tận dụng có hiệu quả tiềm năng sản xuất tại địa phương, nâng cao hiệu quả sản xuất lúa, mô hình canh tác lúa 3 vụ, 2 vụ truyền thống tại địa bàn tỉnh Kiên Giang đã được thay thế bằng nhiều mô hình luân canh, xen canh lúa kết hợp với các loại rau màu, cây, con khác nhau, tùy vào điều kiện tự nhiên của từng vùng Tiêu biểu như mô hình tôm - lúa được áp dụng tại địa bàn huyện U Minh Thượng, bước đầu cho thấy hiệu quả rất khả quan, thu nhập và đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt

Từ thực tiễn trên, thực hiện đề tài “Phân tích hiệu quả tài chính của

mô hình xen canh tôm - lúa trên địa bàn huyện U Minh Thượng, tỉnh

Trang 4

Kiên Giang” là rất cần thiết nhằm tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn, những

ưu điểm, hạn chế của mô hình canh tác này từ đó đề ra giải pháp khắc phục khó khăn và phát triển mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao hơn

1.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn

Ngành trồng lúa gắn liền với cuộc sống người dân huyện U Minh Thượng từ rất lâu Bên cạnh đó, với điều kiện tự nhiên thuận lợi: có tiềm năng

về đất đai, hệ thống sông ngòi và nguồn lao động dồi dào rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp trồng lúa Vì vậy, cần xác định mô hình sản xuất phù hợp nhằm đảm bảo thu nhập từ cây lúa có thể mang đến cuộc sống ổn định cho người nông dân và góp phần vào sự phát triển kinh tế huyện

Theo các cán bộ địa phương và người dân ở huyện U Minh Thượng đánh giá mô hình tôm – lúa mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với độ canh cây lúa, góp phần tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, làm tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh tác

Để có cái nhìn cụ thể hơn và khoa học hơn về hiệu quả kinh tế của mô hình này mang lại cho người dân tại huyện U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang,

thì đề tài nghiên cứu này là cần thiết

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu chung của đề tài là: Phân tích hiệu quả tài chính mô hình xen canh tôm – lúa tại huyện U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết những khó khăn và phát triển mô hình đạt hiệu quả cao hơn

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Thực trạng canh tác mô hình tôm - lúa của nông hộ ở huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang hiện nay như thế nào?

Trang 5

Hiệu quả tài chính của mô hình tôm - lúa tại địa bàn nghiên cứu hiện nay như thế nào?

Các nhân tố nào ảnh hưởng đến doanh thu của mô hình này?

Cần có những giải pháo nào để khắc phục khó khăn và nâng cao hiệu quả của mô hình tôm - lúa trên địa bàn huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang?

1.4.3 Đối tƣợng nghiên cứu

Các nông hộ tham gia vào mô hình tôm - lúa ở huyện U Minh Thượng,

tỉnh Kiên Giang

Trang 6

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN

2.1.1 Khái niệm về hộ nông dân

Nông hộ định nghĩa “Nông hộ là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm hế sinh nhai trên mãnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động không hoản hảo cao” (Ellis, 1993)

Nông hộ có những đặc trưng riêng, có cơ chế vận hành khá đặc biệt, không giống như các đơn vị kinh tế khác như: ở nông hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất trao đổi, phân phối, sử dụng và tiêu dùng Do đó, nông

hộ có thể cùng lúc thực hiện được nhiều chức năng mà các đơn vị khác không

có được

2.1.2 Khái niệm sản xuất

Là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào và qua quy trình qui đổi (inputs)

để tạo thành các yếu tố đầu ra; một sản phẩm và dịch vụ nào đó (outputs)

(Trần Thụy Ái Đông, 2008)

Yếu tố đầu vào: là các loại hàng hóa và dịch vụ dùng để sản xuất ra hàng hóa dịch vụ khác Trong sản xuất lúa thì các yếu tố đầu vào bao gồm: giống, phân bón, thuốc nông dược, đất đai, nước, lao động, vốn, máy móc thiết bị Yếu tố đầu ra (sản phẩm): hàng hóa và dịch vụ được tạo ra từ quá trình sản xuất, yếu tố đầu ra thường được đo bằng sản lượng

Mối quan hệ giữa số lượng các yếu tố đầu vào và số lượng sản phẩm đầu

ra của quá trình sản xuất được biểu diễn bằng hàm sản xuất

2.1.3 Khái niệm sản xuất lúa vụ mùa

Vụ mùa là vụ lúa gieo trồng vào đầu mùa mưa Đến khoảng tháng bảy, tháng tám âm lịch (tương đương tháng 8, tháng 9 dương lịch) khi mưa xuống nhiều, nước sông bắt đầu hết mặn và ngọt dần thì nông dân tiến hành sản xuất

vụ lúa, gọi là vụ mùa

2.1.5 Khái niệm xen canh

Trang 7

Trên cùng diện tích cây trồng, trồng xen thêm một loại cây khác hoặc nuôi xen thêm một loại thủy sản khác nhằm tận dụng diện tích, chất dinh dưỡng, ánh sáng và tăng thêm thu hoạch Thời gian nuôi trồng xen canh giữa các loại cây con có thể cùng lúc hoặc cách nhau một thời gian không lâu

Mô hình xen canh tôm - lúa: là hình thức nuôi tôm và trồng lúa cùng thời

điểm hoặc cách nhau một thời gian không lâu trên cùng một diện tích canh tác theo từng chu kỳ xác định, dựa trên cơ sở kỹ thuật, yêu cầu về hiệu quả kinh tế

xã hội, và điều kiện đất đai, khí hậu, đặc thái và yêu cầu kỹ thuật, khả năng sinh lợi từ việc xen canh tôm – lúa

2.1.6 Khái niệm, ƣu và nhƣợc điểm của các hình thức nuôi tôm

Nuôi tôm quảng canh: là hình thức nuôi dựa hoàn toàn vào thức ăn tự nhiên trong ao Mật độ tôm trong ao thường thấp do dựa hoàn toàn vào nguồn giống tự nhiên Diện tích ao nuôi thường lớn để đạt sản lượng cao

Ưu điểm: vốn vận hành thấp vì không tốn chi phí giống và thức ăn, kích

cỡ tôm thu lớn, giá bán cao, cần ít nhân lực cho một đơn vị sản xuất và thời gian nuôi thường không dài do giống đã lớn

Nhược điểm: năng suất và lợi nhuận thấp, thường cần diện tích lớn, để

tăng sản lượng nên khó vận hành và quản lý, nhất là ở các ao đầm tự nhiên có hình dạng không cố định Hiện nay mô hình này đang bị hạn chế do giá đất và giá nhân công tăng

Nuôi quảng canh cải tiến: là hình thức nuôi dựa trên nền tảng của hình thức nuôi quảng canh nhưng có bổ sung hoặc là giống ở mật độ thấp (0,5 - 2 con/m2) hoặc là thức ăn theo tuần, đôi khi bổ sung cả giống và thức ăn

Ưu điểm: chi phí vận hành thấp, có thể bổ sung bằng giống tự nhiên

thu gom hay giống nhân tạo, kích tôm thu hoạch lớn, giá bán cao, tăng năng suất của đầm nuôi

Nhược điểm: phải bổ sung giống lớn để tránh hao hụt do địch hại

trong ao nhiều, hình dạng và kích cỡ ao theo dạng quảng canh nên quản lý khó khăn, năng suất và lợi nhuận vẫn còn thấp

Nuôi bán thâm canh: là hình thức nuôi dùng phân bón để gia tăng thức ăn

tự nhiên trong trong ao và bổ sung thức ăn từ bên ngoài như thức ăn tươi sống, cám gạo giống được thả nuôi ở mật độ tương đối cao (10 - 15 con/m2

) trong diện tích ao nuôi nhỏ (2.000 – 5.000 m2

)

Ưu điểm: ao xây dựng hoàn chỉnh, kích thước nhỏ nên dễ vận hành và

quản lý, kích cỡ tôm thu khá lớn, giá bán cao, chi phí vận hành thấp vì thả ít

Trang 8

giống, thức ăn hỗn hợp dùng chưa nhiều và thức ăn tự nhiên vẫn còn quan trọng

Nhược điểm: năng suất còn thấp so với ao sử dụng

Nuôi thâm canh: là hình thức nuôi dựa hoàn toàn vào thức ăn bên ngoài (thức ăn viên đơn thuần hay kết hợp với thức ăn tươi sống), thức ăn tự nhiên không quan trọng Mật độ thả cao (15 - 30 con/m2

)

Ưu điểm: ao xây dựng rất hoàn chỉnh, cấp và tiêu nước hoàn toàn chủ

động, có trang bị đầy đủ các phương tiện máy móc nên dễ quản lý và vận hành

Nhược điểm: kích cỡ tôm thu hoạch nhỏ (30 - 35 con/kg), giá bán thấp,

chi phí vận hành cao, lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm thấp

Hình thức nuôi tôm của các nông hộ trên địa bàn xã An Minh Bắc, huyện

U Minh Thượng là hình thức nuôi quảng canh cải tiến

2.1.7 Khái niệm hiệu quả

Hiệu quả là việc xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các hoạt động cần thực hiện dựa vào các nguồn lực sao cho đạt kết quả cao nhất Hiệu quả bao gồm ba yếu tố: không sử dụng nguồn lực lãng phí; sản xuất với chi phí thấp nhất; sản xuất đủ để đáp ứng nhu cầu của thị trường

Hiệu quả tài chính là hiệu quả được tính trên góc độ cá nhân, tất cả chi

phí và lợi ích đều tính theo giá thị trường

Hiệu quả tài chính được tính qua các chỉ tiêu cơ bản là tỷ suất lợi nhuận (lợi nhuận/ chi phí), ngoài ra hiệu quả này còn được đo lường qua các chỉ tiêu như thu nhập/chi phí, lợi nhuận/doanh thu, lợi nhuận/lao động gia đình, doanh thu/lao động gia đình, doanh thu/chi phí

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu

Trên địa bàn huyện U Minh Thượng có các con sông lớn, cung cấp nguồn nước để các nông hộ canh tác mô hình tôm – lúa Đặc biệt, vào thời điểm gieo sạ lúa, tại một số địa phương, độ mặn vẫn còn phù hợp để người nông dân tiếp tục nuôi tôm, canh tác mô hình xen canh tôm – lúa Do đó, đề tài nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.2.1 Số liệu thứ cấp

Trang 9

Số liệu thứ cấp của đề tài được thu thập từ Niên giám thống kê của Phòng NN & PTNT huyện U Minh Thượng, các báo cáo tổng kết về nông nghiệp, thủy sản, thủy lợi từ 2010 đến tháng 6 năm 2013; các tài liệu nghiên cứu cũng như nhận định, đánh giá của các nhà chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và tham khảo tài liệu, thông tin có từ sách báo, tạp chí khoa học

để mô tả tình hình kinh tế xã hội, thực trạng sản xuất nông nghiệp nói chung

và lúa, tôm nói riêng trên địa bàn nghiên cứu

Thông tin và số liệu được thu thập chủ yếu là thông tin tổng quan về tình hình sản xuất nông nghiệp, vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, diện tích đất sản xuất nông nghiệp, hạ tầng kinh tế xã hội

2.2.2.2 Số liệu sơ cấp

Sử dụng phương pháp thu chọn mẫu thuận tiện thông qua việc lập phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp 60 hộ ở xã An Minh Bắc đang tham gia sản xuất mô hình xen canh tôm - lúa Lấy ý kiến từ các hộ nông dân để thu thập thông tin chung về vùng nghiên cứu Nội dung phiếu điều tra gồm: thông tin chung về nông hộ, lao động, đất sản xuất, vốn sản xuất, thông tin về kỹ thuật,

về tình hình và chi phí sản xuất, các thông tin về thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu

Đối với mục tiêu 1: Phân tích thực trạng của nông hộ đang canh tác mô

hình tôm - lúa tại huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang

Các chỉ tiêu cần phân tích:

+ Diện tích canh tác mô hình tôm – lúa

+ Sản lượng lúa, tôm của mô hình tôm – lúa

+ Năng suất lúa, tôm của mô hình tôm – lúa

Các phương pháp được sử dụng để phân tích:

* Phương pháp thống kê mô tả

- Thống kê mô tả là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu được ứng dụng vào lĩnh vực kinh tế và thông tin được thu thập trong điều kiện không chắc chắn

- Lập bảng thống kê để trình bày số liệu thu thập được Bảng thống kê là hình thức trình bày số liệu thống kê và thông tin đã thu thập làm cơ sở để phân tích và kết luận, cũng là bảng trình bày kết quả nghiên cứu, biểu đồ, biểu bảng Bảng thống kê bao gồm các yếu tố chính: Số liệu biểu bảng, tên biểu bảng, đơn vị tính, các chỉ tiêu

Trang 10

* Phương pháp so sánh số tuyệt đối và số tương đối

- So sánh số tuyệt đối: Lấy giá trị tuyệt đối của năm sau trừ đi năm trước

để thấy sự chênh lệch Công thức: Δy = y1 – yo

Yo : Chỉ tiêu năm trước

Y1 : Chỉ tiêu năm sau

Δy : Là phần chênh lệch tăng, giảm của các chỉ tiêu kinh tế Phương pháp này để so sánh số liệu năm tính với số liệu năm trước của các chỉ tiêu xem có biến động không và tìm ra nguyên nhân biến động của các chỉ tiêu kinh tế, từ đó đề xuất biện pháp khắc phục

So sánh số tương đối: Là giá trị tương đối của năm sau trừ đi giá trị tương đối của năm trước Được tính bằng công thức

Y0 : Chỉ tiêu năm trước

Y1 : Chỉ tiêu năm sau ΔY: Biểu hiện tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế Phương pháp dùng để làm rõ tình hình biến động các mức độ của các chỉ tiêu kinh tế trong thời gian nào đó So sánh tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu giữa các năm và so sánh tốc độ tăng trưởng giữa các chỉ tiêu Từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục

Đối với mục tiêu 2: Phân tích hiệu quả tài chính mô hình xen canh tôm –

lúa tại huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang

Sử dụng các tỷ số tài chính để đánh giá hiệu quả tài chính của mô hình xen canh tôm – lúa tại U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang

Để phân tích hiệu quả tài chính, đề tài sử dụng một số tỷ số tài chính sau:

- Năng suất = Sản lượng / Diện tích

- Doanh thu (DT): là toàn bộ số tiền mà người sản xuất thu được sau khi

Trang 11

- Tổng chi phí (TC): là tổng các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất

trên một đơn vị diện tích

- Lợi nhuận (LN): là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả cuối cùng của

quá trình sản xuất Lợi nhuận chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố chủ quan và khách quan Vì vậy việc tính lợi nhuận trong sản xuất sẽ bằng tất cả các khoản doanh thu của người sản xuất trừ đi tất cả các khoản chi phí mà người sản xuất đã bỏ ra để phục vụ cho việc sản xuất

LN = Tổng doanh thu – Tổng chi phí

- Doanh thu trên chi phí (DT/CP): Tỷ số này phản ánh một đồng chi phí đầu tư thì nông hộ sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu Nếu DT/CP nhỏ hơn

1 thì nông hộ bị lỗ, nếu DT/CP bằng 1 thì hoà vốn, DT/CP lớn hơn 1 nông hộ mới có lời, đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư

- Lợi nhuận trên chi phí (LN/CP): Tỷ số này phản ánh một đồng chi phí

bỏ ra nông hộ sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận

- Thu nhập trên chi phí (TN/CP): Tỷ số này phản ánh một đồng chi phí

bỏ ra nông hộ sẽ thu được bao nhiêu đồng thu nhập (chỉ tiêu này có thể đánh giá được mức hiệu quả của việc sử dụng ngày công nhàn rổi của gia đình) Nếu TN/CP là số dương thì người sản xuất có lời, đồng thời cũng cho thấy nông hộ sử dụng lao động nhàn rỗi có hiệu quả, chỉ số này càng lớn càng tốt

- Lợi nhuận trên doanh thu (LN/DT): Tỷ số này phản ánh trong một đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi nhuận, nghĩa là nông hộ giữ lại được bao nhiêu phần trăm trong giá trị sản xuất tạo ra, đây chính là tỷ suất lợi nhuận

- Đối với mục tiêu 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục khó

khăn và nâng cao hiệu quả của mô hình xen canh tôm – lúa tại huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang

2.3 LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU

Để có thêm thông tin và cơ sở hoàn thiện bài nghiên cứu Tác giả đã tham khảo một số tài liệu về mô hình tôm lúa như: bài nghiên cứu về “hiệu quả kinh tế mô hình luân canh tôm-lúa tại huyện Thới Bình tỉnh Cà Mau” của tác giả Phạm Tài Nguyên, “Nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận nuôi tôm sú của nông hộ ở tỉnh Trà Vinh (2008-2009)” của các tác giả Nguyễn Quốc Nghi, Bùi Văn Trịnh, Huỳnh Minh Truyền, “so sánh hiệu quả kinh tế của hai mô hình canh tác nông nghiệp tại huyện Gò Quao, Kiên Giang” của tác giả Đỗ Văn Xê và Tiêu Thị Diễm Và một số bài nghiên cứu về các mô hình xen canh lúa - cá như: “So sánh hiệu quả hai mô hình sản xuất lúa đơn và lúa cá ở huyện Cờ Đỏ - Cần Thơ”; của tác giả Nguyễn Thị Mai Thanh, “phân

Trang 12

tích đánh giá hiệu quả sản xuất của mô hình lúa - cá và lúa - màu ở xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu” của tác giả Đào Thị Tho

Hầu hết các tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh để tìm hiểu thực trạng áp dụng mô hình, phân tích chi phí và sử dụng các chỉ tiêu tài chính để đánh giá hiệu quả mô hình

Đối với các nghiên cứu về mô hình tôm - lúa thì các tác giả thiết lập hai

mô hình hồi quy riêng biệt để lần lượt phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận, năng suất của từng vụ tôm, lúa Tác giả Phạm Quốc Nghi, Bùi Văn Trịnh, Huỳnh Minh Truyền đưa các biến giá bán, năng suất, chi phí xây dựng

cơ bản, chi phí lao động, chi phí giống, chi phí thức ăn, chi phí thuốc-hóa chất, chi phí xăng dầu, chi phí lãi vay, chi phí khác vào hàm hồi quy lợi nhuận tôm Bài nghiên cứu đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và sau đó đưa biến năng suất vào mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là biến lợi nhuận nên ngoài việc có thể chỉ ra sự tác động của năng suất đến lợi nhuận, còn có thể đề ra giải pháp thiết thực nâng cao lợi nhuận thông qua kết quả ước lượng hàm năng suất, nên đề xuất có cơ sở xác thực

Còn tác giả Phạm Tài Nguyên đưa các biến lợi nhuận vụ tôm, chi phí chuẩn bị ao, chi phí giống, chi phí phân thuốc, chi phí lao động gia đình, chi phí khác, giá bán vào mô hình hồi quy tôm Và các biến lợi nhuận vụ lúa, chi phí chuẩn bị đất chi phí gieo trồng, chi phí phân bón, chi phí thuê lao động, chi phí khác, giá bán vào mô hình hồi quy vụ lúa Kết quả nghiên cứu cho thấy tất

cả các biến đưa vào điều có ảnh hưởng đến biến lợi nhuận của vụ tôm và vụ lúa

Tác giả Đỗ Văn Xê và Tiêu Thị Diễm thì chỉ so sánh hiệu quả tài chính của mô hình hai vụ lúa và lúa tôm Không phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận hay năng suất của hai mô hình Tác giả đã chi tiết trong phần phân tích chi phí và thu nhập trung bình trên một ha vụ tôm, bên cạnh các chi phí thường được phân tích như: chi phí thuốc thủy sản, chi phí giống, chi phí thức ăn Còn có các khoản mục chi phí nhỏ như: chi phí cống đập, chi phí lưới đăng, chi phí nước đá, và liệt kê chi phí thuốc cá, chi phí vôi, chi phí đào ao thay vì tổng hợp lại thành chi phí chuẩn bị ao

Còn đối với mô hình xen canh lúa cá, để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của lúa, cá tác giả Nguyễn Thị Mai Thanh chạy mô hình hồi quy

vụ lúa: đông xuân, thu đông với các biến diện tích, chi phí phân thuốc, chi phí lao động, chi phí giống, năng suất, giá với biến biến phụ thuộc là lợi nhuận

Và vụ cá với các biến: diện tích, chi phí giống, chi phí khác, năng suất, giá Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các biến đưa vào mô hình đều có tác động

Trang 13

đến biến phụ thuộc trừ biến chi phí khác trong mô hình hồi quy vụ cá Còn tác giả Đào Thị Tho đánh giá sự tác động của các yếu tố: Giống, năng suất, giá bán, chi phí lao động nhà, chi phí lao động thuê, chi phí phân bón, chi phí thuốc trừ sâu, chi phí máy móc thiết bị và chi phí chuẩn bị ao nuôi đến lợi nhuận mô hình lúa cá bằng một hàm hồi qui chung

Trang 14

CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

3.1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG

Huyện U Minh Thượng được thành lập theo Nghị định 58/2007/NĐ - CP ngày 06/04/2007 của chính phủ, là huyện nằm trong vùng U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang cách trung tâm Thành phố Rạch Giá về hướng Đông – Nam 65 km, cách thành phố Cà Mau theo quốc lộ 63 về hướng Nam khoảng

70 km U Minh Thượng là huyện căn cứ cách mạng có bề dày lịch sử trong hai cuộc kháng chiến Có quốc lộ 63 đi qua trung tâm huyện, có thế mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản và phát triển du lịch - dịch vụ - thương mại

3.1.1 Vị trí địa lí

Huyện nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Kiên Giang; bắc giáp huyện Gò Quao, ranh giới là sông Cái Lớn; nam giáp huyện Thới Bình của tỉnh Cà Mau; tây giáp huyện An Biên và huyện An Minh; đông giáp huyện Vĩnh Thuận Về hành chính, huyện bao gồm 6 xã là: Thạch Yên, Thạch Yên A, An Minh Bắc, Minh Thuận, Vĩnh Hoà và Hoà Chánh

U Minh Thượng có căn cứ cách mạng của Trung ương cục, của tỉnh ủy Rạch Giá qua 2 thời kỳ kháng chiến Trong thời kỳ này, nhiều nhân vật cao cấp của Đảng cộng sản đã tham gia hoạt động tại đây như: cố Tổng bí thư Lê Duẩn, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh, cố Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Đại tướng Lê Hồng Anh… huyện có Vườn quốc gia U Minh Thượng Đặc sản nổi tiếng của huyện là các loại cá đồng U Minh và mật ong rừng tràm

Diện tích đất tự nhiên của huyện là 43.270,30 ha Trong đó, diện tích đất trồng lúa: 40.549,6 ha, chiếm 93,71 % diện tích toàn huyện

Trang 15

Hình 3.1 Bản đồ hành chánh huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang

3.1.2 Địa hình

Địa hình của vùng đệm nói chung và huyện U Minh Thượng nói riêng thuộc vùng đồng bằng triều thấp ven biển, được hình thành từ quá trình biển lùi và bồi tụ phù sa Chủ yếu là trầm tích ven biển và đầm lầy, hình thành nên một địa hình thấp và khá bằng phẳng Địa hình có hướng thấp dần từ hướng Đông Bắc (độ cao trung bình từ 0,8 – 1,2 m) xuống Tây Nam (độ cao trung bình từ 0,2 đến 0,4 m) Đặc điểm địa hình này cùng với chế độ thủy triều biển Tây chi phối rất lớn khả năng tiêu thoát úng về mùa mưa đồng thời bị ảnh hưởng lớn của mặn nhất là vào tháng cuối mùa khô, gây trở ngại nhiều tới sản xuất và đời sống của nhân dân trong vùng

Trang 16

3.1.3 Đất đai

Đất đai của huyện U Minh Thượng chủ yếu là đất nhiễm phèn, mặn và không chủ động được nguồn nước ngọt để sản xuất lúa, sử dụng nước trời là chính nên thời vụ gieo sạ lệ thuộc lớn vào thời tiết, hệ thống thủy lợi không hoàn chỉnh, mặt bằng đồng ruộng chưa tốt, chịu ảnh hưởng của thủy triều gây ngập úng, nhất là trong thời gian có mưa lớn kéo dài Ngoài ra còn bị nước

mặn xâm nhập vào thời gian cuối năm nên sản xuất lúa gặp rất nhiều bất lợi 3.1.4 Khí hậu

Kiên Giang nói chung hay huyện U Minh Thượng nói riêng là một trong những khí hậu tiêu biểu cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long, khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Mặt khác, Kiên Giang là một tỉnh nằm sát biển nên khí hậu còn mang tính chất hải dương, hàng năm có 2 mùa khí hậu tương phản một cách rõ rệt (mùa khô tháng 11 - tháng 4 và mùa mưa tháng 5 – tháng 10)

Kiên Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ khá cao và ổn định Nhiệt độ trung bình hàng năm 270C biên độ nhiệt hàng năm là 30

C, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (290C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1 (25,60C) Tổng lượng nhiệt hàng năm cao: 9.928 - 10.0740C

Kiên Giang ở vùng vĩ độ thấp, có độ dài của ngày lớn Trong mùa khô,

số giờ nắng trung bình mỗi ngày là 7 - 8 giờ/ngày Vào mùa mưa, số giờ nắng trung bình 4 - 6 giờ/ngày Số giờ nắng nhiều, nhiệt độ cao nên năng lượng bức

xạ nhận được khá lớn, trung bình hàng năm là 130 - 150 kcal/cm2

3.1.5 Thủy văn

Kiên Giang là một tỉnh ở cuối nguồn nước ngọt của nhánh sông Hậu nhưng lại ở đầu nguồn nước mặn của vịnh Thái Lan Chế độ thủy văn của Kiên Giang bị chi phối bởi 3 yếu tố: thủy triều vịnh Thái Lan, chế độ thủy văn của sông Hậu và mưa tại chỗ Các yếu tố này tác động từng thời kỳ, từng vùng khác nhau làm cho chế độ thủy văn Kiên Giang diễn biến phong phú và đa dạng

3.1.6 Hệ thống giao thông thủy lợi

Huyện nằm trong vùng U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang cách trung tâm Thành phố Rạch Giá về hướng Đông – Nam 65 km, cách thành phố

Cà Mau theo quốc lộ 63 về hướng Nam khoảng 70 km, có quốc lộ 63 đi qua trung tâm huyện

Trang 17

Trên địa bàn huyện hiện nay đã hoàn thành nhiều tuyến lộ nông thôn Tổ chức thi công nạo vét hoàn thành nhiều tuyến kênh thủy lợi lớn như: kênh hậu

10 - 11, kênh hậu 11 - 12, kênh hậu 6 - 7, kênh hậu 7 - 8… đã phục vụ tốt nhu cầu đi lại và sản xuất của người dân Hiện nay tại huyện đang triển khai thi công 22 công trình, tổng chiều dài 92.482 m, vốn đầu tư 14.063 triệu đồng Đã hoàn thành 10/22 công trình, chiều dài 37.100 m, vốn đầu tư 4.789 triệu đồng; còn lại 12 công trình khối lượng hoàn thành từ 5 - 90%

Tỉnh đã đầu tư cho xây dựng 2 cống trên đê bao ngoài tại đầu kênh 12 và

13 thuộc địa bàn xã Minh Thuận, huyện U Minh Thượng Ngoài ra, hằng năm huyện và các xã cũng đắp các cống, đập để ngăn mặn giữ ngọt, phục vụ tốt cho sản xuất của người dân

3.2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

3.2.1 Trồng trọt

 Cây lúa

Số liệu từ bảng cho thấy, diện tích trồng lúa năm 2011 tăng 2,75% so với năm 2010 và sang năm 2012 tiếp tục tăng mạnh, cao hơn năm 2011 là 6,96% Đến nửa đầu năm 2013 diện tích gieo cấy đã đạt gần 60% diện tích gieo cấy của cả năm 2012 Diện tích ngày càng được mở rộng chủ yếu là do người dân tích lũy vốn từ vụ trước rồi đầu tư mở rộng diện tích canh tác để tăng nguồn thu nhập Người có vốn nhiều thì sang thêm đất, người có vốn ít thì chỉ cố (thuê) đất một thời gian (có thể là một năm hoặc lâu hơn) để canh tác thêm

 Tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng được phổ biến rộng rãi đến người dân, chủ yếu thông qua hội nông dân Hội nông dân của huyện U Minh Thượng gồm các cấp từ huyện đến chi hội rồi đến tổ hội, đã đóng vai trò kết nối, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và những chỉ đạo từ tỉnh, huyện đến từng xã, ấp, tổ Hoạt động của hội đã hổ trợ người dân rất nhiều trong sản xuất củah tác và cũng giúp các cấp lãnh đạo xã, huyện, tỉnh bám sát tình hình sản xuất của người dân từ quy mô huyện, xã đến ấp, tổ Kết quả của những hoạt động đó là năng suất lúa của người nông dân không ngừng tăng lên Từ 4,56 tấn/ha năm 2010, đã lên đến 5,05 tấn/ha năm 2012 Cụ thể năm 2011 năng suất tăng 0,29 tấn/ha (6,36%) so với năm 2010 Và đến năm 2012 năng suất tăng 0,2 tấn/ha (4,12%) so với năm 2011 Riêng 6 tháng đầu năm 2013 năng suất trung bình là 4,81 tấn/ha Trong đó năng suất lúa mùa là 4,04 tấn/ha

So sánh với năm 2012 là 4,3 tấn/ha, thì năng suất đã giảm 6,05%, bên cạnh đó diện tích lúa mùa cũng giảm mạnh từ 9.385,5 ha xuống còn 3.250 ha Có thể thấy, do năng suất không cao nên người dân đã chuyển diện tích lúa mùa sang canh tác cây trồng khác Còn năng suất lúa Đông xuân của năm 2013 đạt 5,5

Trang 18

tấn/ha, so sánh với năm 2013 là 5,3 tấn/ha thì năng suất đã tăng 3,77% Xét về diện tích cũng tăng từ 3.512,6 ha lên 13.416 ha Có thể thấy năng suất vụ Đông xuân được nâng cao nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật là nguyên nhân thúc

đẩy người dân mở rộng diện tích canh tác lúa Đông xuân

Cây công nghiệp

Năm 2012 diện tích trồng mía là 1.894 ha, vượt 89,40% so với kế hoạch

và 74,24% so với cùng kỳ, năng suất 73 tấn/ha; sản lượng đạt 138.286 tấn, tăng 92% so với kế hoạch và 76,69% so với cùng kỳ Diện tích mía tăng do giá mía thương phẩm tăn, công ty CP Mía đường Tây nam có dự án đầu tư, bao tiêu sản phẩm trên địa bàn huyện

Năm 2013, diện tích trồng mía của huyện đạt 2.888,7 ha Và ngày càng được mở rộng Năm 2013 diện tích trồng mới là 96,2 ha, đạt 101,4 % kế hoạch, trong 6 tháng đầu năm đã thu hoạch 2.842 ha, năng suất bình quân 77,5 tấn/ha, sản lượng 220.255 tấn, đạt 96,2% sản lượng cả năm, giá bán bình quân 800đ/kg đối với mía ngoài vùng đệm, trong vùng đệm giá 600đ/kg Mía được trồng chủ yếu ở xã Minh Thuận và An Minh Bắc

Cây rau màu

Do nhu cầu thị trường tết tăng cao nên diện tích trồng màu toàn huyện có biến động so với năm 2012, tổng diện tích thu hoạch trong 6 tháng đầu năm là 558,5 ha (trong đó diện tích luân của lúa trồng dưa hấu, dưa hoàng kim là 191

ha ở xã Vĩnh Hòa và Minh Thuận), năng suất 19,5 tấn/ha, sản lượng 10.890 tấn, đạt 57,9 % kế hoạch; giảm 14% so với cùng kỳ năm 2012

Đối với nông sản trong vùng đệm người dân ít vận chuyển ra thị trường, tiêu thụ chủ yếu qua trung gian là thương lái đến tận nhà để thu mua nên thường bị ép giá

Trang 19

Bảng 3.1: Tình hình sản xuất lúa của huyện U Minh Thượng giai đoạn 2010 - 2013

Nguồn: Phòng NN&PTNN huyện U Minh Thượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%) Diện tích

Trang 20

Cây ăn trái

Cây ăn trái chủ yếu của huyện là khóm, chuối và một số loại cây ăn trái khác như cây có múi, mít, xoài, ổi, mận

Cây khóm: tổng diện tích đạt 639,9 ha, đạt 94,8% so với kế hoạch năm Cây chuối: diện tích 519,5 ha, đạt 98,9% kế hoạch, trong đó xã An Min Bắc 437 ha, Minh Thuận 76 ha, còn lại được trồng rải rác tại các xã); Giá bán

từ 3.500 đ – 4.000 đ/nải, trung bình mỗi tháng người dân thu hoạch một lần, mỗi ha người dân thu được từ 3 – 4 triệu đồng/tháng

Diện tích trồng các loại cây ăn trái là 200 ha, đạt 100% so với kế hoạch

đề ra

3.2.2 Chăn nuôi

Qua thống kê, trên địa bàn huyện có tổng đàn đại gia súc 528 con Trong

đó trâu 366 con, bò 162 con, đạt 87,9% so với kế hoạch, giảm 14 con so với năm trước

Đàn dê 31 con, đạt 77,5% so với kế hoạch, tăng 5 con so với cùng kỳ; Đàn heo 31 con, đạt 16.482 con, đạt 90,8% so với kế hoạch, giảm 1.664 con so với cùng kỳ;

Tổng đàn gia cầm của huyện 201.774 con Trong đó, đàn gà có 84.730 con, vịt có 117.744 con, đạt 96,1% so với kế hoạch, giảm 6.519 con so với cùng kỳ

Tổng đàn gia súc, gia cầm không đạt kế hoạch và giảm so với năm trước

do ảnh hưởng giá heo hơi và một số sản phẩm gia cầm sụt giá, đồng thời giá thức ăn chăn nuôi tăng cao nên người dân ít đầu tư cho chăn nuôi

3.2.3 Thủy sản

Diện tích thả nuôi tôm toàn huyện đạt 5.483 ha, vượt 9,7% so với kế hoạch, đã thu hoạch được 3.036 ha, năng suất 141 kg/ha, sản lượng 428 tấn, đạt 33% so với kế hoạch Hiện nay, diện tích tôm còn 2.447 ha, tôm nuôi phát triển bình thường Đầu vụ do môi trường không thuận lợi như ảnh hưởng của những cơn mưa đầu mùa, tiếp theo đó là những đợt nắng nóng kéo dài, nguồn nước không đảm bảo, con giống không rõ nguốn gốc… đã làm thiệt hại 836 ha tôm, diện tích này đã được khắc phục hoàn toàn

Diện tích nuôi cá nước ngọt 2.675 ha đạt 65% kế hoạch năm Chủ yếu là các loại cá như: cá chép, cá mè và một số loại cá đồng, nuôi với mật độ thưa, thả xen trong ruộng lúa

Trang 21

Bảng 3.2: Tình hình sản xuất tôm của huyện U Minh Thượng giai đoạn 2010 - 2013

Nguồn: Phòng NN&PTNN huyện U Minh Thượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%) Diện tích (ha) 5.038,00 5.548,80 5.639,00 3.036,00 510,8 10,14 90,20 1,63 - - Năng suất

(kg/ha) 250,00 217,82 236,00 141,00 -32,18 -12,87 18,18 1,89 -0,28 -5,54 Sản lượng (tấn) 1.259,70 1.226,50 1.331,40 428,00 -33,20 11,88 104,90 8,55 - -

Trang 22

3.3 KHÁI QUÁT VỀ MÔ HÌNH XEN CANH TÔM - LÚA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN U MINH THƢỢNG, TỈNH KIÊN GIANG

Từ năm 2007 đến nay mô hình xen canh tôm lúa trên địa bàn huyện U Minh Thượng khá phát triển Nguyên nhân là do lợi nhuận từ mô hình mang lại cao hơn khá nhiều so với chỉ trồng lúa Tuy nhiên mô hình này phụ thuộc vào khả năng thích ứng của tôm với độ mặn trong ruộng lúa vào mùa nước lợ nên chỉ được áp dụng tại một số địa phương mà độ mặn còn tương đối cao trong thời gian canh tác lúa do ở gần các con sông lớn Người dân ở địa bàn nghiên cứu canh tác hai mô hình chuyên tôm và xen canh tôm lúa trên cùng diện tích trong năm Cụ thể:

Mô hình chuyên tôm: tôm được thả nuôi từ tháng 2 và thu hoạch vào khoảng tháng 5 tháng 6

Mô hình xen canh tôm-lúa: tôm được thả nuôi từ tháng 7, sau khi thu hoạch dứt điểm tôm của vụ trước và đến khoảng tháng 8, khi mà có các đợt mưa lớn, độ mặn trong vuông giảm xuống thì các nông hộ tiến hành cải tạo và gieo sạ lúa

Đây là vụ tôm có năng suất thấp nhất trong năm, do độ mặn không phù hợp để con tôm phát triển bình thường Thu nhập vụ này chỉ bằng khoảng 1/3 của 2 vụ trước nhưng tính ra thì vẫn cao so với chỉ trồng lúa và không tốn kém nhiều chi phí Khi bón phân cho lúa thì đồng thời trong ruộng cũng sinh ra các sinh vật phù du, có thể quan sát được là trùng chỉ (có hình dạng giống giun, nhưng kích thước rất nhỏ, toàn thân màu đỏ) là thức ăn ưa thích của tôm, trong vuông nào có nhiều trùng chỉ thì tôm lớn rất nhanh

Cấu trúc ao nuôi tôm - lúa:

- Mương dẫn nước: Giữa hai hộ gần kế bên nhau có một mương nhỏ, rộng khoảng gần 2 m, đó là ranh giữa các mảnh ruộng của các hộ Đồng thời

là mương dẫn nước vào hay ra vuông tôm

- Bờ ao: thường rộng khoảng 1,2 – 1,5 m Được nén chặt, để có thể điều

chỉnh được mực nước trong vuông Không phụ thuộc vào mực nước bên ngoài

- Mương bao nuôi tôm: rộng khoảng 2,5 – 3 m (chiếm 20 - 30% diện

tích canh tác) chiều sâu mực nước từ 0,8 –1 m so với bờ ao

- Mặt ruộng: chiếm 70 – 75% diện tích canh tác của nông hộ

- Ao vèo: Trong ruộng có khu ươm tôm khoảng 10% diện tích ao nuôi Khu ươm là một ao nhỏ, người nông dân quen gọi là ao vèo Ao này rất quan

Trang 23

trọng trong việc nuôi dưỡng hay quản lí tốt tôm trước khi nuôi đại trà Tôm

con mới bắt về được thả xuống ao vèo khoảng 15 – 30 ngày tôm lớn hơn, sức

đề kháng cao thì được chuyển dần ra vuông, cách làm này giúp giảm tỉ lệ hao

hụt ở tôm con

Hình 3.2 Cấu trúc ao của mô hình xen canh tôm - lúa

Mương bao nuôi tôm

Ao vèo Ao vèo Ruộng lúa-tôm

Lấy nước

Thoát nước Lấy nước

thoát nước

Trang 24

CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH VÀ XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH TÔM - LÚA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN U MINH

THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG

4.1 TỔNG QUAN VỀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRA

4.1.1 Qui mô nhân khẩu và lao động

Qua bảng 8 ta thấy số nhân khẩu của các hộ gia đình được phỏng vấn ở huyện U Minh Thượng dao động từ 2 – 6 người/hộ Trung bình là 3,92 người/hộ Số hộ có 4 nhân khẩu chiếm tỉ lệ cao nhất: 36,67%

Bảng 4.1: Qui mô nhân khẩu của nông hộ

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra thực tế 10/2013

Lao động chính của các nông hộ trong nghiên cứu này bao gồm các thành viên trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động có tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất nông nghiệp của gia đình mình Theo kết quả điều tra được trình bày ở bảng 9 ta thấy lao động chính của 60 hộ được phỏng vấn dao động từ 1 – 5 người/hộ

Sử dụng nguồn lao động sẵn có tại gia đình sẽ tiết kiệm chi phí thuê mướn, góp phần tăng thu nhập cho nông hộ Nhưng số lao động trung bình trong mỗi nông hộ tại huyện U Minh Thượng chỉ 2,52 người/hộ Trong đó, số hộ có 2 lao động chiếm tỉ lệ cao nhất: 58,33% Do đó, phần lớn các hộ phải thuê lao động trong hầu hết các khâu của quá trình sản xuất từ khâu gieo trồng cho đến thu hoạch Thực tế, vào thời điểm thu hoạch luôn tồn tại tình trạng khan hiếm lao động, làm chi phí thuê lao động tăng cao, làm giảm lợi nhuận thu được của nông hộ

Trang 25

Bảng 4.2: Qui mô lao động của nông hộ

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra thực tế 10/2013

Trong khi trả lời phỏng vấn thì lý do không đủ lao động là lý do được nhiều chủ hộ đưa ra để giải thích vì sao không có ý định mở rộng quy mô canh tác trong thời gian tới Cho thấy, khan hiếm lao động là một vấn đề cần có giải pháp tháo gỡ, nó chẳng những làm giảm lợi nhuận mà còn hạn chế việc mở rộng quy mô sản xuất của nông hộ

Nguồn: Tổng hợp k ết quả điều tra thực tế 10/2013

Tuy ngành sản xuất lúa không đòi hỏi tính chuyên môn cao nhưng dựa vào trình độ học vấn của mình thì người nông dân sẽ dễ tiếp thu những kiến thức về khoa học kỹ thuật trong sản xuất lúa hơn, dễ nắm bắt được các kỹ thuật cơ bản để nhận diện các loại bệnh, tính toán và sử dụng hợp lí lượng phân bón góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất cho mùa

vụ, tăng cao năng suất và lợi nhuận Vì vậy trình độ học vấn của lao động có ảnh hưởng rất sâu sắc đến việc sản xuất lúa của nông hộ Bảng dưới đây cho biết trình độ học vấn của chủ hộ trong mô hình nghiên cứu thể hiện qua số năm đi học

Trang 26

Trình độ học vấn của nông hộ canh tác mô hình tôm - lúa là tương đối thấp, trung bình số năm đi học của hộ là 6,9 năm (tương đương cấp 2) vì điều kiện hoàn cảnh ở nông thôn không thuận lợi như thành thị nên đa phần nông hộ không được đi học nhiều Hộ có trình độ học vấn cao nhất là 12 năm (cấp III) và thấp nhất là 2 năm (cấp 1) Vì trình độ tương đối thấp nên đa phần nông hộ tham gia sản xuất đều dựa vào kinh nghiệm truyền thống là chủ yếu, và kết hợp với việc học hỏi từ các hộ lân cận chứ không được tư vấn, không được tập huấn về kỹ thuật Cũng chính vì trình độ học vấn còn thấp nên cũng có sự hạn chế về việc tiếp thu những kỹ thuật cũng như sự nắm bắt thông tin thị trường về nhu cầu tiêu thụ sản phẩm

Và đặc biệt không có hộ mù chữ Đây là tín hiệu tốt cho chính quyền địa phương trong các hoạt động chuyển giao khoa học kỹ thuật, khuyến nông và đặc biệt là triển khai chủ trương đào tạo nghề hiện nay Hơn nữa trong điều kiện chủ hộ có trình độ học vấn thì khả năng tiếp cận với các nguồn thông tin thị trường và khoa học kỹ thuật cũng dễ dàng hơn

4.1.3 Nguồn lực đất đai của nông hộ

Nguồn lực đất đai được xem là tài sản sinh kế quan trọng ở khu vực nông thôn Do huyện U Minh Thượng là huyện chuyên sản xuất nông nghiệp và diện tích đất tự nhiên khá rộng nên đa phần người dân trên địa bàn huyện sở hữu diện tích đất tương đối lớn Kết quả khảo sát cho thấy diện tích đất trung bình của mỗi hộ là 28.000 m2 Số hộ sở hữu diện tích từ 10.000 – 20.000 m2 chiếm tỉ trọng cao nhất, 40% trong tổng số hộ So với chỉ trồng lúa thì mô hình xen canh tôm lúa có hệ số sử dụng đất cao hơn Do người nông dân tận dụng diện tích mặt ruộng để nuôi tôm Đây là điều kiện rất thuận lợi để người dân sử dụng kết hợp các nguồn lực như vốn, lao động, kinh nghiệm sản xuất để gia tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống Tuy nhiên, diện tích trồng lúa của nông hộ giảm xuống khi chuyến từ độc canh cây lúa sang mô hình xen canh tôm - lúa, do một phần diện tích được

sử dụng để làm mương bao, phần diện tích này chiếm khoảng 20 – 30% tổng diện tích

mô hình tôm lúa Nhưng đây cũng không phải là vấn đề quan tâm của các nông hộ canh tác mô hình xen canh tôm - lúa do thu nhập mang lại từ con tôm cao hơn nhiều so với thu nhập bị mất đi từ 20 - 30% diện tích canh tác lúa nêu trên (thu nhập được trình bày cụ thể ở phần sau)

Bảng 4.4: Diện tích canh tác tôm - lúa của nông hộ

Dưới 10.000 m2

Trang 27

Nguồn: Tổng hợp k ết quả điều tra thực tế 10/2013

Đa số đất để sản xuất lúa của nông hộ chủ yếu là đất nhà, cũng có một số ít nông hộ thuê thêm đất để sản xuất Mỗi hộ gia đình được nhà nước giao cho một số diện tích đất ruộng và đất vườn để trồng lúa, cây ăn quả, cây công nghiệp Đất này nằm chủ yếu nằm ở gần nhà của các nông hộ, vì vậy dễ dàng cho việc canh tác Trong những năm qua, nhờ vào tích lũy vốn mà nhiều hộ đã mở rộng diện tích đất của mình

4.1.4 Kinh nghi ệm sản xuất

Trong sản xuất nông nghiệp nhìn chung các chủ hộ thường có trình độ học vấn thấp nhưng rất dồi dào kinh nghiệm trong sản xuất Thường thì số tuổi và số năm kinh nghiệm

đi đôi với nhau, người có độ tuổi càng cao thì só kinh nghiệm càng nhiều

Nguồn: Tổng hợp k ết quả điều tra thực tế 910/2013

Tuổi của chủ hộ ở huyện U Minh thượng dao động lớn từ 31 đến 80 tuổi chủ yếu tập trung ở độ tuổi từ 46 – 60 tuổi (chiếm 41,67%), tuổi trung bình của chủ hộ là 50 tuổi, đây là độ tuổi thích hợp để vừa có kinh nghiệm sản xuất vừa có thể tích lũy thêm các kiến thức, kỹ thuật mới, góp phần nâng cao năng suất và tăng lợi nhuận cho nông hộ

 Số năm kinh nghiệm

Trang 28

Kinh nghiệm sản xuất là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất và sử dụng nguồn lực nông hộ, đồng thời góp phần giảm chi phí đầu tư cho nông

hộ nhờ áp dụng kỹ thuật tiến bộ kết quả điều tra cho thấy số năm kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ khá thấp trung bình nông hộ canh tác mô hình xen canh tôm - lúa được 6,37 năm

Số năm kinh nghiệm là số năm mà nông hộ canh tác mô hình tôm-lúa, nông hộ sản xuất càng lâu năm sẽ tích lũy được càng nhiều kinh nghiệm trong việc né tránh thiên tai,

lũ lụt, cách sử dụng các loại phân thuốc một cách cần thiết với liều lượng phù hợp Kinh nghiệm sản xuất góp phần rất lớn vào hiệu quả sản xuất của nông hộ

Bảng 4.6: Số năm kinh nghiệm

Số năm kinh nghiệm Nông hộ Tỷ lệ (%)

Nguồn: Tổng hợp k ết quả điều tra thực tế 10/2013

Trung bình nông hộ có khoảng 6,37 năm kinh nghiệm sản xuất, cao nhất là 10 năm

và thấp nhất là 3 năm Nhìn chung, kinh nghiệm canh tác mô hình tôm-lúa của nông hộ là chưa nhiều Bên cạnh những hộ đã nuôi tôm 10 năm thì có những hộ chỉ mới tham gia vào mô hình tôm - lúa được 3 năm Do đó, ngoài những hộ có nhiều kinh nghiệm trong việc canh tác mô hình này thì còn có những hộ đúc kết kinh nghiệm từ những vụ trước và học hỏi kinh nghiệm từ những hộ xung quanh

4.1.5 Thông tin về nguồn cung cấp giống của nông hộ

Bảng 4.7: Thông tin về nguồn cung cấp tôm giống của nông hộ

+ Trại giống địa phương và hợp tác xã 5 8,34

Trang 29

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra thực tế 10/2013

Qua bảng cho thấy các nông hộ chỉ mua tôm giống tại các trại giống địa phương hay hợp tác xã tôm giống tỉ lệ hộ chỉ mua tôm giống ở các trại giống địa phương là 68,33%

Có 23,33% số hộ chỉ mua tôm giống ở các hợp tác xã Việc lựa chọn giống đa là lựa chọn theo hàng xóm láng giềng (thông thường, nông dân thấy hàng xóm ai nuôi trúng thì

sẽ mua giống theo họ)

Bảng 4.8: Thông tin về nguồn cung cấp lúa giống của nông hộ

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra thực tế 10/2013

Kết quả khảo sát 60 hộ canh tác mô hình tôm - lúa cho thấy đa phần nông hộ mua lúa giống tại các trung tâm giống cây trồng (70% tổng số hộ), có 10 hộ tự làm lúa giống, được sản xuất từ vụ lúa trước được nông hộ trữ lại, có giá bằng các giá lúa thương phẩm ngoài thị trường Việc tự làm giống có thể gây ra hiện tượng thoái hóa giống, làm giảm năng suất Tỉ lệ hộ tự làm lúa giống khá cao, chiếm 16,67% tổng số hộ Cao hơn tỉ lệ hộ mua giống tại các hợp tác xã lúa giống (13,33%)

Trang 30

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra thực tế 10/2013

Hình 4.1 Cơ cấu giống lúa của nông hộ Theo hình 5 ta thấy, các giống lúa được chọn canh tác trên địa bàn nghiên cứu rất đa dạng Trong đó các giống nông dân trồng phổ biến là: một bụi đỏ, một bụi trắng lùn, BTE1, OM 6976 Trong đó, 25/60 hộ nông dân ưa chuộng giống lúa 1 bụi đỏ vì theo kinh nghiệm sản xuất của họ thì đây là giống lúa dễ chăm sóc, ít sâu bệnh, phù hợp với đất đai

ở địa phương và giống lúa này có năng suất cao hơn so với các giống lúa còn lại Các giống BTE1 và một bụi trắng lùn cũng được trồng phổ biến, tỉ lệ nông hộ chọn hai loại giống này trong 60 hộ khảo sát là như nhau, 15% tổng số hộ (9/60 hộ)

OM 6976BTE1

OM 4900

OM 6162

OM 2517

Trang 31

Do nuôi tôm theo hình thức quảng canh, tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên nên mật

độ thả tôm của các hộ rất thưa, chỉ dưới 4 con/m2

Hộ thả dày nhất là 3,86 con/m2, thưa nhất là 0,77 con/m2 Mật độ thả trung bình của 60 hộ được khảo sát là 2,21 con/m2 Đa phân các nông hộ thả tôm ở mật độ 2 - 3 con/m2

(chiếm tỉ lệ 56,67% tổng số hộ) và 1 - 2 con/m2 (28,33% tổng số hộ) Rất ít hộ thả dưới 1 con/m2

105 ngàn đồng/kg Nhưng bù lại lượng giống cần sử dụng ít hơn nhiều Trung bình khoảng 2,5 kg/1.000 m2, còn các giống lúa còn lại thì cần lượng giống nhiều hơn, trung bình khoảng 8 kg/1.000 m2 Đây là một trong những nguyên nhân làm cho mật độ gieo sạ lúa giống của các nông hộ có sự chênh lệch lớn

4.1.7 Kinh nghiệm canh tác của nông hộ

Theo kết quả khảo sát từ 60 hộ canh tác mô hình tôm - lúa trên địa bàn huyện U Minh Thượng, thì có 56,67% số hộ canh tác dựa vào kinh nghiệm truyền thống Kinh nghiệm về trồng lúa thì các nông hộ đã tích lũy được nhiều qua thời gian dài canh tác Nhưng kinh nghiệm về nuôi tôm thì do thời gian nuôi chưa lâu Trung bình chỉ khoảng 6,37 năm Có những hộ chỉ mới nuôi tôm được 3 năm Dó đó, kinh nghiệm tích lũy được chưa nhiều Trong khi đó có đến 36/60 hộ khảo sát dựa vào nguồn kinh nghiệm này để canh tác Khó tránh những sai lầm trong quá trình chăm sóc, quản lí do thiếu kinh nghiệm, dẫn đến năng suất thấp Cũng có 13,33% số hộ tự nghiên cứu kỹ thuật canh tác thông qua các sách, báo, các chương trình truyền hình như khuyến nông, nhịp cầu nhà nông… và 10% số hộ học hỏi kinh nghiệm từ các hộ lân cận

Trang 32

Bảng 4.11: Kinh nghiệm canh tác của nông hộ

+ Từ các lớp tập huấn và tài liệu tập huấn 5 8,33

+ Từ hàng xóm và kinh nghiệm truyền thống 2 3,33

+ Kinh nghiệm truyền thống và tự nghiên cứu 1 1,67

Nguồn: Tổng hợp k ết quả điều tra thực tế 10/2013

4.1.8 Lý do chọn canh tác mô hình tôm - lúa

Để biết nguyên nhân vì sao những nông hộ ở vùng nghiên cứu chọn canh tác theo

mô hình này ta xem xét bảng dưới đây:

Bảng 4.12: Lý do chọn canh tác theo mô hình xen canh tôm – lúa

+ Theo phong trào và lợi nhuận cao 2 3,33

Nguồn: Tổng hợp k ết quả điều tra thực tế 10/2013

Qua kết quả bảng 4.5 cho thấy có 2 nguyên nhân chủ yếu được đưa ra từ các nông

hộ được điều tra Trong đó đa số các hộ nông dân nhận thấy mô hình xen canh tôm – lúa mang lại lợi nhuận cao, nông dân nhận xét: lợi nhuận từ con tôm, cây lúa mang lại cao hơn các loại nông sản khác Mặc khác, mô hình này không đòi hỏi chi phí quá cao do thức ăn cho tôm từ tự nhiên nên tiết kiệm được chi phí thức ăn, khoản chi phí chiếm tỉ trọng cao nhất trong tổng chi phí nuôi tôm nếu nuôi bằng thức ăn Đây là lý do được 61,67% chủ hộ lựa chọn khi được hỏi tại sao chọn mô hình tôm - lúa Đồng thời, có 35% chủ hộ thả tôm xen canh với lúa vì thấy đa phần các hộ xung quanh ai cũng canh tác mô hình này

Trang 33

4.2 PHÂN TÍCH CHI PHÍ, DOANH THU VÀ THU NHẬP CỦA HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT LÚA - TÔM Ở HUYỆN U MINH THƢỢNG, TỈNH KIÊN GIANG 4.2.1 Phân tích chi phí

4.2.1.1 Các khoản mục chi phí cho tôm tính trên 1.000 m 2

Kết quả tính toán từ số liệu thu thập được của các nông hộ về chi phí canh tác tôm trong vụ xen canh tôm - lúa được trình bày trong bảng sau:

Bảng 4.13: Các khoản mục chi phí của tôm tính trên 1.000 m2

(ngàn đồng)

Nhỏ nhất (ngàn đồng)

Trung bình (ngàn đồng)

Tỉ trọng (%)

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra thực tế 10/2013

a Chi phí chuẩn bị ao nuôi

Là khoản chi chi phí mà người nông dân diệt cá tạp và cải tạo môi trường nước trong ao để chuẩn bị thả tôm, cụ thể bao gồm chi phí vôi và chi phí thuốc cá Trước khi thả tôm con vào ao vèo thì nông hộ thường diệt tạp (thuốc cá) Loại thuốc cá được người nông dân sử dụng chủ yếu là thuốc được xay từ dây thuốc cá tự nhiên Rất ít hộ sử dụng thuốc hóa học Thuốc cá giúp tiêu diệt các loài địch hại tấn công tôm con đồng thời cá chết sẽ là nguồn thức ăn tự nhiên giúp tôm con nhanh lớn Tuy nhiên, nếu lượng cá quá nhiều thì người nông dân sẽ vớt lên để ăn hoặc bán để hạn chế việc ô nhiễm môi trường nước trong ao nuôi Khoản chi phí này chiếm tỉ trọng cao thứ ba trong tổng chi phí (14,96%) Trung bình, chi phí chuẩn bị ao của nông hộ trên 1.000 m2 là 101,91 ngàn đồng

b Chi phí giống

Là chi phí nông hộ mua tôm giống thả nuôi trong vụ xen canh với lúa mùa năm

2012 Được tính bằng giá bán (đồng/con) nhân với số lượng

Ngày đăng: 19/09/2015, 11:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1 Bản đồ hành  chánh  huyện U Minh Thượng,  tỉnh Kiên Giang - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình xen canh tôm lúa trên địa bàn huyện u minh thượng, tỉnh kiên giang
Hình 3.1 Bản đồ hành chánh huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang (Trang 15)
Bảng  3.1:  Tình  hình  sản  xuất  lúa  của huyện  U Minh Thượng  giai đoạn 2010 - 2013 - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình xen canh tôm lúa trên địa bàn huyện u minh thượng, tỉnh kiên giang
ng 3.1: Tình hình sản xuất lúa của huyện U Minh Thượng giai đoạn 2010 - 2013 (Trang 19)
Hình 3.2 Cấu trúc ao của mô hình xen canh tôm - lúa - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình xen canh tôm lúa trên địa bàn huyện u minh thượng, tỉnh kiên giang
Hình 3.2 Cấu trúc ao của mô hình xen canh tôm - lúa (Trang 23)
Bảng  4.2: Qui mô lao động của nông hộ - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình xen canh tôm lúa trên địa bàn huyện u minh thượng, tỉnh kiên giang
ng 4.2: Qui mô lao động của nông hộ (Trang 25)
Bảng  4.5: Tuổi của chủ hộ - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình xen canh tôm lúa trên địa bàn huyện u minh thượng, tỉnh kiên giang
ng 4.5: Tuổi của chủ hộ (Trang 27)
Bảng  4.8: Thông  tin về  nguồn  cung  cấp  lúa giống  của  nông  hộ - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình xen canh tôm lúa trên địa bàn huyện u minh thượng, tỉnh kiên giang
ng 4.8: Thông tin về nguồn cung cấp lúa giống của nông hộ (Trang 29)
Bảng  4.9: Mật độ tôm giống - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình xen canh tôm lúa trên địa bàn huyện u minh thượng, tỉnh kiên giang
ng 4.9: Mật độ tôm giống (Trang 30)
Bảng  4.10: Mật độ lúa giống - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình xen canh tôm lúa trên địa bàn huyện u minh thượng, tỉnh kiên giang
ng 4.10: Mật độ lúa giống (Trang 31)
Bảng  4.13: Các khoản mục chi phí của tôm tính trên 1.000 m 2 - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình xen canh tôm lúa trên địa bàn huyện u minh thượng, tỉnh kiên giang
ng 4.13: Các khoản mục chi phí của tôm tính trên 1.000 m 2 (Trang 33)
Bảng  4.14: Các khoản  mục  chi phí  của lúa  tính trên 1.000 m 2 - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình xen canh tôm lúa trên địa bàn huyện u minh thượng, tỉnh kiên giang
ng 4.14: Các khoản mục chi phí của lúa tính trên 1.000 m 2 (Trang 38)
Bảng  4.15: Các  khoản  chi phí của  mô hình  xen canh  tôm-lúa tính  trên 1.000 m 2 - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình xen canh tôm lúa trên địa bàn huyện u minh thượng, tỉnh kiên giang
ng 4.15: Các khoản chi phí của mô hình xen canh tôm-lúa tính trên 1.000 m 2 (Trang 41)
Hình 4.3 Cơ cấu chi phí sản mô hình  xen canh tôm - lúa - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình xen canh tôm lúa trên địa bàn huyện u minh thượng, tỉnh kiên giang
Hình 4.3 Cơ cấu chi phí sản mô hình xen canh tôm - lúa (Trang 44)
Bảng  4.17: Doanh  thu  và  lợi nhuận  từ trồng lúa - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình xen canh tôm lúa trên địa bàn huyện u minh thượng, tỉnh kiên giang
ng 4.17: Doanh thu và lợi nhuận từ trồng lúa (Trang 46)
Câu 35. Hình thức tiêu thụ lúa đối với phía bên mua? - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình xen canh tôm lúa trên địa bàn huyện u minh thượng, tỉnh kiên giang
u 35. Hình thức tiêu thụ lúa đối với phía bên mua? (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w