1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình hình thành và phát triển của phật giáo và một số ảnh hưởng đến đời sống xã hội, con người tỉnh tiền giang

25 619 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 563,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình hình thành và phát triển của phật giáo và một số ảnh hưởng đến đời sống xã hội, con người tỉnh tiền giang

Trang 1

NGUYỄN QUỐC THÁI

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA

PHẬT GIÁO VÀ MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG XÃ

HỘI, CON NGƯỜI TỈNH TIỀN GIANG

Tiền Giang, tháng 8 năm 2014

Trang 2

2 Những điểm tích cực của Phật giáo 4

IV Một số ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống xã hội và con

2 Ảnh hưởng của Phật giáo về mặt tư tưởng và đạo lý 15

3 Ảnh hưởng của Phật giáo qua phong tục, tập quán 17

4 Ảnh hưởng của Phật giáo qua các loại hình văn hóa, nghệ

5 Đóng góp tích cực vào công tác an sinh xã hội tỉnh Tiền Giang 20

Trang 3

I DẪN LUẬN:

1.1 Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - tôn giáo lớn nhất trên thế

giới, tồn tại rất lâu đời với hệ thống giáo lý đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp Đạo Phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Việt, bên cạnh đạo Nho, đạo Lão và đạo Thiên chúa

Tuy nhiên, tùy ở từng giai đoạn lịch sử của dân tộc mà học thuyết tư tưởng, tôn giáo này hay học thuyết tư tưởng, tôn giáo khác nắm vai trò chủ đạo, có tác động mạnh đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của người Việt, như Phật giáo ở thế kỷ thứ X

- XIV, Nho giáo thế kỷ thứ XV - XIX, học thuyết Mác - Lênin từ giữa thập kỷ 40 của thế kỷ XX Cho đến nay, những học thuyết này không giữ địa vị độc tôn mà song song cùng tồn tại với các học thuyết, tôn giáo khác, tác động vào đời sống xã hội

1.2 Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa

Mác - Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận soi đường cho chúng ta Nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, trong

đó giáo lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng, tình cảm của một số bộ phận lớn dân cư Việt Nam Việc xoá bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nó là không thể, nên chúng ta cần vận dụng một cách phù hợp để góp phần đạt được mục tiêu của thời kỳ quá độ cũng như sau này Do đó, việc tìm hiểu nghiên cứu Phật giáo đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con người là hết sức cần thiết Việc đi sâu nghiên cứu, đánh giá những mặt tiến bộ cũng như hạn chế, Phật giáo giúp ta hiểu rõ tâm lý người dân hơn

và qua đó tìm ra được một phương cách để hướng đạo cho con người một cách chân chính, đúng đắn Theo đạo để làm điều thiện, tránh cái ác

Hơn nữa quá trình Phật giáo phát triển, truyền bá ở Việt Nam gắn liền với quá trình hình thành, phát triển tư tưởng, đạo đức của con người Vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử, tư tưởng, đạo đức Việt Nam không thể không đề cập đến Phật giáo và những mối quan hệ, tác động qua lại giữa chúng

1.3 Ở Đồng bằng sông Cửu Long mà bắt nguồn từ Tiền Giang, từ thế kỷ XVII, các

cư dân nhiều nơi đã hội tụ về đây sinh sống Cũng từ đây Phật giáo hình thành, phát

Trang 4

triển và có vai trò quan trọng đến đời sống tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân nơi đây

Việc nghiên cứu một trường phái triết học, tôn giáo lớn đã có bề dày lịch sử hàng ngàn năm giúp cho ta hiểu được một hệ thống lý luận triết học cổ, đồng thời nhận thức rõ ràng hơn về một tôn giáo đã ảnh hưởng đến văn hoá của Việt Nam nói chung và văn hoá của một cộng đồng người dân Tiền Giang nói riêng

Tóm lại, nghiên cứu Phật giáo và nhìn nhận, đánh giá nó là một nội dung quan trọng nhằm tìm hiểu lịch sử cũng như định hướng cho sự phát triển nhân cách, tư duy con người Việt Nam trong tương lai

II SỰ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG QUAN ĐIỂM CHUNG

CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO:

1 Tìm hiểu chung về Phật giáo:

1.1 Sự ra đời của Phật giáo:

Ấn Độ là quê hương của Phật giáo, theo các tài liệu lịch sử thì xã hội Ấn Độ cổ đại chia thành nhiểu đẳng cấp khác nhau Bốn đẳng cấp lớn là tăng lữ, quí tộc, bình dân tự do và tiện nô Mỗi giai cấp giữ một thế sinh hoạt riêng và phân biệt sâu sắc giữa các giai cấp Trong khi những người Bà La Môn có uy tín tuyệt đối trong quần chúng và hưởng rất nhiều đặc quyền thì giai cấp tiện nô lại sống cuộc sống cơ cực lầm than, không có quyền ăn nói cũng như đóng góp ngang hàng với mọi người Xã hội

Ấn Độ cổ đại đầy rẫy những bất công như vậy

Nhìn rõ được cảnh khổ của chúng sinh, Đức Phật Thích Ca vốn là thái tử của nước này đã quyết xuất gia tầm đạo để giải thoát khổ đau cho con người trong xã hội Ngài để lại vương triều và gia đình vì theo Ngài có cách khác để làm cuộc sống nhân dân thoát khỏi lầm than chứ không phải cách cai trị cứng nhắc Ròng rã sáu năm tu hành khổ hạnh trong rừng sâu và 49 ngày nhập định dưới gốc cây Bồ Đề, Đức phật đã giác ngộ được đạo quả vô – thượng, chính – đẳng, chính – giác Bánh xe Phật giáo bắt đầu lăn chuyển lần đầu tiên tại vườn lộc uyển để độ cho năm người bạn đồng tu với Ngài lúc trước và họ đều chứng quả A La Hán Sau khi Phật nhập diệt, giáo pháp của

Trang 5

Ngài được các chúng đệ tử kết tập lại thành giáo điển qua bốn lần diễn ra tại những địa điểm và thời gian khác nhau

Phật giáo từ Ấn Độ du nhập vào Việt Nam đã trên hai ngàn năm Ngay từ rất sớm, Phật giáo đã được tiếp nhận và trở thành một tư tưởng chủ đạo trong nền văn hóa dân tộc, dĩ nhiên là sau khi đã bản địa hóa Phật giáo Suốt hơn hai ngàn năm lịch sử, Phật giáo đã luôn đồng cam cộng khổ với vận mệnh thăng trầm của xứ sở, trong công cuộc chống ngoại xâm cũng như sự nghiệp dựng nước, mở mang bờ cõi, đánh bật âm mưu xâm lăng và nô dịch nền văn hóa của thế lực phương Bắc trong nhiều giai đoạn

1.2 Tìm hiểu chung về tư tưởng của Phật giáo:

1.2.1 Nền tảng của Phật giáo:

Tứ Diệu Đế mà chính Đức Phật đã khám phá và truyền dạy cho thế gian là đặc điểm chánh yếu mà cũng là nền tảng vững chắc của Phật giáo

Bốn Chân Lý Thâm Diệu là “khổ” (lý do tồn tại của Phật giáo), nguồn gốc của

sự khổ (ái dục), chấm dứt sự khổ (Niết Bàn, mục tiêu cứu cánh của Phật giáo), và con đường “Trung Đạo”

Ba chân lý đầu tiên là phần triết lý của Phật giáo Chân lý thứ tư là phần luận lý căn cứ trên lý thuyết ấy Tất cả bốn, gồm trọn vẹn giáo lý của Đức Phật, đều tùy thuộc nơi cơ thể vật chất này Đây là những sự kiện hoàn toàn dính liền với con người và những chúng sanh khác, những sự kiện hiển nhiên, không còn tranh luận gì nữa

Phật giáo nằm vững trên nền tảng đau khổ, mặc dù nhấn mạnh vào sự hiện hữu của đau khổ Phật giáo không phải là một giáo lý bi quan, Phật giáo không hoàn toàn

bi quan cũng không hoàn toàn lạc quan mà chỉ là thực tiễn Người ta sẽ có lý do để chủ trương rằng Phật giáo là bi quan nếu giáo lý này chỉ đề cập đến trạng thái đau khổ

mà không vạch ra con đường để thoát khổ và tiến đến hạnh phúc trường cửu Đức Phật đã nhận ra tính cách phổ thông của sự khổ và liệt kê ra một phương thuốc trị liệu cho chứng bệnh chung của nhân loại Đức Phật Niết Bàn, sự chấm dứt đau khổ, là hạnh phúc cao thượng nhất mà con người có thể quan niệm

1.2.2 Giáo lý chung của Phật giáo:

Phật giáo gồm một hệ thống giáo lý đa diện, cống hiến cho xã hội loài người về mặt an sinh và tu chứng Mặt an sinh xã hội, Phật giáo chủ trương thế giới đại đồng huynh đệ trong tình tương thân tương ái Còn về mặt tu chứng, với phương pháp tu

Trang 6

hành đạt đến giải thoát khỏi luân hồi, sinh tử để chứng nhập vào cảnh niết bàn tịch diệt an vui

Phật giáo vì thế được quan niệm như một tôn giáo, một triết lý sống thực, một siêu hình học hay một mớ giáo điều mê tín dị đoan như người duy vật nhận xét thì Phật giáo vẫn giữ được cương vị của nó trên bình diện khách quan Vì chân lý không bao giờ thay đổi trước bất kỳ thế lực hay khuynh hướng chính trị nào Điều này chứng

tỏ giáo pháp của đạo Phật suốt 2500 năm lịch sử vẫn giữ được địa vị độc tôn mà không bị chi phối bởi không gian và thời gian Phật giáo đem lại cho con người sự thoải mái trong đời sống nội tâm mà không bị quay cuồng tròn đời sống văn minh vật chất

2 Những điểm tích cực của Phật giáo:

2.1 Điểm tích cực trong Nhân – Sinh – Quan:

Phật giáo như ánh sáng mặt trời mà nhìn ánh sáng ấy chúng ta chỉ có cặp mắt nhỏ hẹp Tuy nhiên một là tất cả, chúng ta có thể căn cứ một vài điều sau đây mà biết tất cả đặc điểm của Phật giáo

- Đặc điểm thứ nhất, đặt điểm của Phật giáo là “In như sự thật”: lý thuyết, phương pháp cùng kết quả đều hợp lý, đều như thật Phật giáo không chen chủ quan của mình vào trước hay trong khi suy nghiệm sự thật, và chân lý của đạo Phật là lời kết luận sau sự suy nghiệm trung thực ấy Đạo Phật chỉ thấy và chỉ nói những sự thật

mà sự vật có, không thêm không bớt Đạo Phật, nhân đó, cấm đoán những tín ngưỡng

và những hành động không phát sinh từ sự hiểu biết như thật, luôn theo, đạo Phật không công nhận những kết quả của tín ngưỡng mê mờ, hành động manh động là hợp

lý Cho nên đạo Phật cũng được gọi là Đạo Như Thật

- Đặc điểm thứ hai là “tôn trọng sự sống” Ăn chay, không sát sanh là những điều tượng trưng cụ thể cho đặc điểm ấy Đạo Phật xem sự sống trên tất cả Hết thảy cái gì gọi là có giá trị là phải bảo vệ sự sống ấy Giết sự sống để nuôi sự sống là mê muội, ham sống nên hại sự sống cũng là vô minh Cho nên tôn trọng sự sống không những bằng cách giúp nhau để sống mà còn phải hy sinh sự sống để bảo vệ sự sống, nghĩa là có khi tiêu cực như ăn chay để cứu muôn loài Đạo Phật đặc biệt chú trọng và nêu cao chủ nghĩa lợi tha, nhưng chữ lợi ấy là phải hướng về mục đích tôn trọng sự sống

Trang 7

- Đặc điểm thứ ba của đạo Phật là chỉ thừa nhận sự “tương quan sinh tồn” Đạo Phật day cho người ta thấy ở đời phải tự lập chứ không thể biệt lập Phật tử không thấy, không tạo nên một đối tượng Vũ trụ là một lò tương quan; không có gì là trung tâm, không có gì là phụ thuộc, hay là ngược lại Bởi thế cho nên phân ly là tự tạo một ung nhọt, mà chiến đấu (theo nghĩa hẹp) chỉ là tương đối Chiến đấu phải là một hành động vì bảo vệ sự sinh tồn mà bất đắc dĩ phải áp dụng trong trường hợp bất đắc dĩ Nếu biến sự bất đắc dĩ ấy thành sự tuyệt đối cần thiết trong mọi trường hợp, thì chiến đấu sẽ trở thành chiến tranh

- Đặc điểm thứ tư của đạo Phật là xác nhận “người là trung tâm điểm của xã hội loài người” Đạo Phật không nói duy tâm, không nói duy vật, mà tất cả đều do người phát sinh và đều phát sinh vì người Kết luận này thật tế ở đâu cũng rõ rệt cả Trên thế giới loài người này không có gì tự nhiên sinh ra hay từ hư không rơi xuống,

mà đều do năng lực hoạt động của con người tạo thành Năng lực hoạt động của con người tạo tác chi phối tất cả Tất cả khổ hay vui, tiến hóa hay thoái hóa, là đều do con người dã man hay văn minh Người là chúa tể của xã hội loài người, xã hội loài người không thể có chúa trời thứ hai

- Đặc điểm thứ năm là đạo Phật chú trọng “đối trị tâm bệnh con người trước hết” Lý do rất dễ hiểu Con người là trung tâm điểm của xã hội loài người, xã hội

ấy tiến hoá hay thoái hóa là hoàn toàn do hoạt động con người chi phối; mà hoạt động con người lại do tâm trí con người chủ đạo, vậy xã hội là phản ảnh trung thành của tâm trí con người Cho nên muốn cải tạo xã hội, căn bản là phải cải tạo con người, cải tạo tâm bệnh con người Tâm bịnh con người nếu còn độc tài, tham lam, thì xã hội loài người là địa ngục; tâm bnh con người được đối trị rồi thì hoạt động con người rất sáng suốt mà xã hội con người, kết qủa của hoạt động ấy, cũng rất cực lạc

- Đặc điểm thứ sáu, mục đích đạo Phật là “đào luyện con người thành bi, trí, dũng” Bi là tôn trọng quyền sống của người khác Trí là hành động sáng suốt lợi lạc Dũng là quyết tâm qủa cảm hành động Dũng không có bi và trí thì sẽ thành tàn

ác và manh động Trí không có bi và dũng thì sẽ thành gian xảo và mộng tưởng Bi không có trí và dũng sẽ thành tình cảm và nhút nhát Bi là tư cách tiến hóa, trí là trí

Trang 8

thức tiến hoá, dũng là năng lực tiến hoá Con người như thế là con người mới, căn bản của xã hội mới

- Đặc điểm thứ bảy của đạo Phật là “kiến thiết một xã hội mới” mà căn bản

là con người mới Cho nên tranh đấu cho xã hội mới ấy, trở lại vấn đề, là phải chiến thắng chính mình trước hết Con người tự chiến thắng con người, nghĩa là cái

“nhân cũ” (bóc lột, đàn áp, độc tài, xâm lược) không còn nữa, thì kết qủa được cái

“quả mới” là một xã hội mới Trong xã hội ấy, quyền sống tuyệt đối bình đẳng như

sự sống: bình đẳng trong nhiệm vụ, bình đẳng trong hưởng thụ

- Đặc điểm thứ tám của đạo Phật là “tiến lên vô thượng giác” Đào luyện một con người mới, kiến thiết một xã hội mới rồi, không phải mục đích của đạo Phật cứu cánh ở đó Cao xa, đạo Phật còn hướng dẫn con người tiến dần lên chóp đỉnh của sự tiến hoá là địa vị vô thượng giác, địa vị vô minh toàn diệt, trí tuệ toàn giác, địa vị Phật đà

- Đặc điểm thứ chín là đạo Phật dạy phải “tự lực giải thoát” Đấy là một tinh thần tuyệt đối cần thiết Đức Phật chỉ là một đạo sư dẫn đạo con đường sáng cho chúng ta Còn chúng ta phải tự thắp đuốc trí tuệ của mình mà soi đường, phải tự động cặp chân năng lực của mình mà đi Con người mới là phải tự rèn luyện; xã hội mới là phải tự kiến thiết; vô thượng giác là phải tự tu, tự chứng Tự lực giảì thóat là con đường duy nhất của mười phương các đức Phật Bồ-Tát An lạc không phải cầu xin, trí giác không do cầu hồ Phật tử không có đứng vào hàng ngũ thông minh mà phải hướng về lớp người ngu dốt dìu dắt họ

- Đặc điểm thứ mười của đạo Phật là “hiện chứng thể nghiệm” Đức Phật chỉ hướng dẫn chúng ta, chứ chân lý không phải là thứ đem quay phim cho người thấy được Đức Phật là đạo sư, nhưng trí giác không phải là thứ ai dạy khôn cho ai Cho nên đối với chân lý tối cao, ta phải tự lực thể nghiệm Sự tự lực thể nghiệm ấy, không những áp dụng với tinh thần tự lực giải thóat mà thôi, mà còn đặc biệt chú ý đến sự hiện chứng Đức Phật tạo cho ta cái thang, nhưng không kéo dàn hoa xuống hay đẩy thẳng ta lên được Ta phải tự lực mà trèo từng nấc thang lên dàn hoa chân

lý Trèo được nấc nào là tự thể nghiệm chân lý nấc ấy Đối với chân lý chưa hiện chứng, chúng ta chỉ nói học, không nói biết Tinh thần tu chứng đạo Phật là thế

Trang 9

Do tất cả đặ điểm trên đây, chúng ta thấy đạo Phật không phải chỉ là một tôn giáo “Đạo Phật là tất cả”, đó là một đặc điểm vừa cuối cùng vừa trước hết của đạo Phật Phật tử tự nhiên không thể không phủ nhận sự tàn sát, sự manh động và sự nô lệ Cho nên họ phải tự lực hành động để thượng thượng năng tiến Và hành động ấy không có lãnh vực trong không gian, không có giới hạn trên thời gian, không có phạm

vi trong tổ chức, không có khu phân trong trường hợp Ở đâu và lúc nào, với ai và cảnh nào, Phật tử cũng áp dụng căn bản và tinh thần bi, trí dũng của đạo Phật vào để hoàn thiện mình

2.2 Điểm tích cực trong lý luận triết học:

Giới nghiên cứu đều thấy rằng, triết học phương Tây thường gắn với những thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên Còn triết học phương Đông thường gắn với tôn giáo (Ấn Độ), với chính trị, xã hội, đạo đức (Trung Quốc)

Dù ra đời rất sớm (2500 năm trước) nhưng trình độ tư duy, phân tích của triết học đã đạt đến mức cao: Phật giáo nhìn nhận thế giới tự nhiên cũng như nhân sinh bằng sự phân tích nhân – quả Theo Phật giáo, nhân – quả là một chuỗi liên tục không gián đoạn và không hỗn độn, có nghĩa là nhân nào quả ấy Mối quan hệ nhân – quả Phật giáo thường gọi là nhân duyên với ý nghĩa là một kết quả của nguyên nhân của một kết quả khác Bằng phân tích nhân quả, Phật giáo cho rằng không thể tìm nguyên nhân đầu tiên cho vũ trụ, có nghĩa là không có một đấng tối cao nào sáng tạo ra vũ trụ Với lý luận như vậy, Phật giáo nghiên hẳn về chủ nghĩa duy vật

Người tu Phật đều có một định hướng duy nhất: giải thoát thân tâm ra khỏi mạng lưới “thực tại” giả lập, nhìn thẳng vào thế giới trùng trùng duyên khởi, thấu hiểu bản chất không tính của vạn hữu, và phát khởi Bồ Đề Tâm đối với tất cả chúng sinh còn đang vướng mắc trong vòng vây của ảo giác Ảo giác lớn nhất của con người là cho rằng có tồn tại một thế giới thực hữu hoàn toàn biệt lập với nhận thức của chủ thể

và thế giới đó hằng hữu, tồn tại như một đối tượng của ham muốn chinh phục hoặc khao khát sở hữu Triết học Phật giáo không phải là một chủ thuyết duy tâm chủ quan giống như toàn bộ hệ thống triết học duy niệm Đức thế kỷ XIX, cũng không phải là một chủ nghĩa duy thực ngây thơ (nave realism) Trọng điểm chính trong thực tại luận Phật giáo xoay quanh lời khẳng định rằng thế giới khách quan (cảnh/sắc) có mối quan

hệ cộng sinh với thể cách nhận thức của chủ thể (tâm/thức) Chính vì vậy về phương

Trang 10

diện triết học Phật giáo cưu mang tinh thần xã hội ở mức cao nhất: sự cải tạo thế giới khách quan là một tiến trình gắn bó chặt chẽ với sự cải tạo bản thân, sự chuyển hóa nhận thức của chủ thể Hai tiến trình này liên lập và bổ sung cho nhau không ngừng

3 Những hạn chế của Phật giáo:

3.1 Hạn chế chủ quan:

Phật giáo thể hiện cách nhìn cuộc đời khá bi quan “Nước mắt chúng sinh nhiều hơn bể cả” Trong kinh phật ta có thể thấy nhiều đoạn nói về cuộc sống khổ đau mà con người phải chịu đựng Vì cuộc sống là bể khổ như vậy nên tư tưởng của Phật giáo

là xuất thế và xa rời hiện thực Những nhà chùa thường lui về những nơi vắng vẻ, ít người qua lại Phật giáo răn dạy con người cố gắng tìm đến cõi niết bàn mà bỏ lại cuộc sống trần gian đầy rẫy bất công, đau khổ Phật giáo răn dạy con người biết chịu đựng mà không biết đấu tranh, phản kháng Điều này đã phần nào thủ tiêu tính chiến đấu của con người

Phật giáo quan niệm về hôn nhân rất khai phóng Phật tử không có lý do gì để hạn chế việc sinh đẻ Quan niệm này không còn phù hợp với thời đại hiện nay khi mà vấn đề dân số đang được nhắc tới nhiều

3.2 Hạn chế khách quan:

Khi xưa, trước khi nhập Niết Bàn, Phật tổ từng dặn dò đệ tử không được bói toán, xem sao, xem tướng làm mê hoặc quần chúng Nhưng một số kẻ lợi dụng chùa làm nơi bói toán, lên đồng, xem sao, xem tướng, giải hạn… để kiếm tiền bất chính Trước cổng chùa bày bán đủ loại tử vi, cúng sao, giải hạn không có nguồn gốc xuất xứ làm mê hoặc quần chúng Lợi dùng lòng tốt của khách đến chùa, một số người trẻ tuổi, lành lặn, khỏe khoắn, lười lao động ngồi dọc lối vào chùa làm nghề ăn xin, níu khéo làm mất lòng khách Biểu hiện móc túi, lừa đảo khách, bán đồ giả có xu hướng gia tăng Trong các ngôi chùa có trang bị thùng rác, nhưng vẫn có nhiều người thiếu ý thức xả rác bừa bãi, gây ô nhiễm môi trường

Những năm gần đây, người đến chùa càng đông, đa số cử chỉ nhã nhặn, ăn mặc trang nhã, thể hiện sự thành kính chốn trang nghiêm Nhưng vẫn có hiện tượng một số người ăn mặc hở hang không phù hợp với cảnh chùa

Vì vậy để xóa bỏ các hiện tượng tiêu cực như đã nêu, khai thác những ảnh hưởng tích cực của Phật giáo tới đạo đức, lối sống nhân dân, chính quyền và các cơ

Trang 11

quan chức năng cần có những biện pháp nhằm loại trừ các tệ nạn trên, ổn định trật tự

an toàn xã hội, giữ gìn sự tinh khiết của Phật giáo

III LỊCH SỬ PHẬT GIÁO TỈNH TIỀN GIANG:

1 Bối cảnh lịch sử, địa lý nhân văn:

Cho đến thế kỷ thứ XXVII, vùng đất Nam Bộ bấy giờ từ Đồng Nai, Gia Định đến vùng đồng bằng sông Cửu Long chí mũi Cà Màu vẫn cón là một vùng đất sơ khai, hoang hóa, nửa biển nửa đất xen lẫn những gò cao gọi là “gò”, hay những nơi đất cao

có điều kiện thổ nhưỡng cho các bộ lạc sinh sống gọi là “sóc”, những đụn cát trãi dài hàng trăm km do phù sa kết hợp nên có chất mầu mỡ được gọi là “giồng” hay “vồng” Chẳng hạn như Gò Quao, Gò Lũy, Gò Công… như Sóc Trăng, Sóc Sải, Sóc Bom Bo… như Giồng Riềng, Giồng Ông Cộ, Giồng Quít, Ba Giồng…

Cũng có những nơi cao ráo, mặt bằng rộng lớn, chan hòa ánh nắng mặt trời thích hợp cho điều kiện trồng trọt chăn nuôi, gọi là “trảng” như Trảng Bàng, Trảng Bom…Ngoài ra có những hồ, ao, vũng… chứa nước ngọt nhờ vậy nơi đây hệ thực vật

và sinh vật có điều kiện sinh sôi nẩy nở, cũng được người dân tìm đến sinh sống gọi là

“vũng” như Vũng Gù, Vũng Luông, Vũng Liêm…

Nam bộ thuở bấy giờ thực sự chưa được xác nhận chủ quyền của một quốc gia nào, tuy nhiên đã từ lâu chịu ảnh hưởng văn minh Phù Nam, bây giờ ở Nam Bộ ngay

cả tại tỉnh Tiền Giang, những di sản thời Phù Nam còn lại rất nhiều Sau đó nền văn minh này sụp đổ một cách bí mật, đến nay sử sách cũng không hề nói đến, thì một dân tộc khác rải rác đến định cư đó là dân tộc Khmer Dân tộc Khmer tức là người Chân Lạp, là người Cao Miên trước đây, mà dân gian thường gọi là người Thổ hay người Đàng Thổ Người Pháp khi đô hộ Cao Miên gọi là Cambodge, sau 1975 khi người Cao Miên làm chủ đất nước, Cao Miên được đổi tên là Căm-pu-chia

Có thể nói người Khmer đến vùng đất này trước ta vì một lẽ dễ hiểu là vì họ ở gần hơn ta, nên kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị… của vương quốc Cao Miên lúc đó gọi là Chân Lạp, mà vùng đất ở về miền nam của họ còn gọi là Thủy Chân Lạp, ảnh hưởng rất mạnh đối với số cư dân này

Trong thời gian này ở Việt Nam, Chúa Nguyễn, lực lượng Đàng Trong, đã có nhu cầu nam tiến rất mạnh, để có thêm thế lực hầu chống đối với Đàng Ngoài do Chúa

Trang 12

Trịnh lãnh đạo Ngoài ra cũng đã có một số người dân Việt từ Thanh Nghệ, xứ Quảng, Thuận Hóa, Ninh Thuận, Bình Thuận bây giờ, đã linh cảm được một vùng đất mới phì nhiêu nên đã dùng đường bộ và đường biển vào đây rồi lập thành cộng đồng sống chúng với số người Khmer hay Thủy Chân Lạp Cuối cùng bước Nam Tiến của Chúa Nguyễn cũng đã kịp thời và đúng lúc đưa số người Việt Nam đông đảo từ vùng đất miền Trung vào đây để khai thác vùng đất mầu mở, hứa hẹn một tương lai xán lạn

Tuy nhiên lúc bấy giờ ở đây không hẳn là chỉ có số người Khmer và người Việt

ở mà thôi, một số người gốc Pô-ly-nê-si-en tận cùng của Đông Nam Á, mà ta gọi là người Miền Dưới, bằng đường bộ qua ngõ Nam Dương (In-đô-nê-si-a), Mã Lai (Ma-

lai-si-a), Xiêm-la (Thái Lan) rồi Chân Lạp (Căm-pu-chia) để đến đây Những người Miền Dưới này - được ông cha ta gọi như vậy rất đúng vì họ là những người, nếu xem

trên bản đồ thế giới thì thực sự họ ở cực Nam của ta, tức là dưới ta –còn để lại ta biết bao di sản Chẳng hạn áo bà ba, áo cổ bà lai, xà rong, khăn rằng, tục ăn trầu, thức ăn với nước cốt dừa, dầu dừa, ớt, nhất là các loại gia vị như đậu khấu, cà ri, ngũ vị hương

Còn phải kể một số người Chăm, gốc Chiêm Thành mà khi vương quốc Chiêm Thành đổ vỡ cũng đã đến đây, mãi đến bây giờ một cộng động người này đang sống

và sống một cách đàng hoàng mạnh mẽ hòa bình với tât cả tập tục, lề thói phong hóa,

lễ nghi tín ngưỡng, tiếng nói, chữ nghĩa… của họ trong một làng, một xã một quần cư gần như tự trị từ bao thời nay Đó là cộng đồng gốc người Chăm, có một ngôi làng riêng biệt, xã Châu Phong, trước kia gọi là làng Châu Giang, thuộc quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc nay là huyện Phú Tân tỉnh An Giang

Niềm tự hào của họ là dù xa xứ hàng bao thế kỷ họ vẫn giữ được nếp sống tinh thần truyền thống của dân tộc: cưới hỏi, ma chay, tín ngưỡng Lẽ tất nhiên họ đều là tín đồ Hồi Giáo Những tín đồ Hồi Giáo này nếu cò điều kiện tài chánh hàng năm họ vẫn không bỏ lệ, về quê cha đất tổ hành hương tại Thánh địa La Méc (La Mecque) thuộc Á-rập Sa-u-đi (Arabie Saoudite) vùng vịnh Á-rập

Nhưng phải kể thêm người Hoa, người Hoa vốn là một dân tộc có máu “thiên cư” vì quá đông, nên đã đến đây cũng rất sớm rải rác, lưa thưa nhưng phải nói là vào năm 1680 khi có hai tướng “Phản Thanh Phục Minh” là Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên đấu tranh thất bại, đem theo mỗi người 3000 tùy tướng vào miền

Ngày đăng: 19/09/2015, 10:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w