1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc huyện văn chấn – yên bái

110 499 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 7,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM LÊ VIỆT DŨNG NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CANH TÁC NGÔ BỀN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÊ VIỆT DŨNG

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CANH TÁC NGÔ BỀN VỮNG TRÊN ĐẤT DỐC HUYỆN VĂN CHẤN –

YÊN BÁI

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

MÃ SỐ: 60 62 01.10

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM TIẾN DŨNG

TS NGUYỄN QUANG TIN

Hà Nội, 2015

Trang 2

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Lê Việt Dũng

Trang 3

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Tiến Dũng, TS.Nguyễn Quang Tin người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện

đề tài cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô Bộ môn phương pháp thí nghiệm và thống kê sinh học - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn TS Phạm Thị Sến, Viện khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã giúp tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn Phòng NN&PTNT huyện Văn Chấn, UBND xã Sơn Thịnh, Cát Thịnh, Suối Giàng và bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ tôi trong cả quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài, hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tác giả

Lê Việt Dũng

Trang 4

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình, sơ đồ vii

Danh mục từ viết tắt viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Một số khái niệm về hệ thống nông nghiệp và phát triển bền vững 4

1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp 6

1.1.3 Các giải pháp canh tác bền vững trên đất dốc 10

1.2 Mốt số đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất ngô trên đất dốc 14

1.2.1 Đặc điểm kinh tế của cây ngô 14

1.2.2 Quy trình canh tác ngô trên đất dốc 16

1.3 Thực trạng sản xuất và nghiên cứu đất dốc trên thế giới 17

1.4 Tình hình nghiên cứu các kỹ thuật canh tác bền vững trong nước 25

1.4.1 Hiện trạng sử dụng đất dốc ở Việt Nam 25

1.4.2 Những nghiên cứu về canh tác đất dốc 27

CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Đối tượng nghiên cứu 32

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 32

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 32

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 32

Trang 5

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv

2.3 Nội dung nghiên cứu 32

2.4 Phương pháp nghiên cứu 32

2.4.1 Khảo sát đặc điểm nơi nghiên cứu 32

2.4.2 Sử dụng bảng hỏi để tính toán hiệu quả kinh tế của một số loại hình canh tác ngô tại địa phương 33

2.4.3 Xác định hiệu quả của các kỹ thuật canh tác đến môi trường 35

2 4.4 Điều tra sâu nông hộ 36

2.5 Xử lý số liệu 36

CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 Đặc điểm tự nhiên, và điều kiện kinh tế xã hội của huyện Văn Chấn – Yên Bái 38

3.1.1 Vị trí địa lý, khí hậu 38

3.1.2 Đặc điểm địa hình và tài nguyên thiên nhiên 40

3.1.3 Đặc điểm dân cư và tình hình sử dụng đất 42

3.1.4 Tình hình sản xuất nông nghiệp huyện Văn Chấn 45

3.1.5 Sản xuất chăn nuôi và thuỷ sản 47

3.1.6 Lâm nghiệp: 47

3.1.7 Các hoạt động dịch vụ phục vụ sản xuất: 48

3.1.8 Đặc điểm sản xuất ngô trên đất dốc huyện Văn Chấn 49

3.2 Đặc điểm các giải pháp canh tác ngô bền vững trên đất dốc tại huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái 53

3.2.1 Một số kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc tại huyện Văn Chấn – Yên Bái 53

3.2.2 Ảnh hưởng của các biện pháp canh tác ngô đến hiệu quả kinh tế – môi trường tại Văn Chấn – Yên Bái 55

3.3 Đánh giá các yếu tố tác động đến khả năng áp dụng của các biện pháp kỹ thuật canh tác bền vững vào sản xuất ngô tại Văn Chấn – Yên Bái 67

3.3.1 Đặc điểm các nông hộ áp dụng kỹ thuật canh tác bền vững 67

Trang 6

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v

3.3.2 Vai trò của các tổ chức tham gia đến việc áp dụng các kỹ thuật canh tác bền

vững 72

3.3.3 Xác định các khó khăn của nông dân khi áp dụng các kỹ thuật canh tác trên đất dốc 76

3.4 Kết quả tổng hợp các yếu tố tác động đến việc áp dụng kỹ thuật canh tác ngô bền vững tại Văn Chấn – Yên Bái 82

3.5 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng áp dụng của các biện pháp kỹ thuật đến canh tác ngô bền vững trên đất dốc tại Văn Chấn –Yên Bái 86

3.5.1 Đề xuất kỹ thuật 86

3.5.2 Đề xuất kinh tế - xã hội 86

3.5.3 Đề xuất cơ chế chính sách 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89

Kết Luận 89

Kiến nghị 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Phụ lục 94

Trang 7

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Cơ cấu các loại đất tự nhiên huyện Văn Chấn 41 3.2 Cơ cấu dân số, lực lượng lao động huyện Văn Chấn - 2012 43 3.3 Tình hình sử dụng đất huyện Văn Chấn (2008 -2012) 44 3.4 Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng 1 số loại cây trồng nông

3.5 Mức độ đầu tư và thời vụ gieo trồng ngô của các xã điều tra huyện

3.6 Thực trạng áp dụng các kỹ thuật canh tác bền vững trên đất dốc huyện

3.12 Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật đến hiệu quả kinh tế của hệ thống

3.13 Điều kiện nhân lực các hộ tham gia và không tham gia thực hiện các

3.14 Diện tích đất canh tác và diện tích canh tác ngô của nông hộ 68 3.15 Khả năng tiếp cận vốn sản xuất của nông hộ tại Văn Chấn 69 3.16 Kết quả xếp hạng các khó khăn cần ưu tiên giải quyết khi áp dụng các

3.17 Mức độ tác động của các yếu tố canh tác ngô bền vững đến việc áp

dụng kỹ thuật canh tác ngô bền vững tại Văn Chấn 83

Trang 8

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii

3.1 Mối liên hệ giữa các tổ chức, thành phần đến việc áp dụng kỹ thuật

3.2 Phân tích điểm mạnh/điểm yếu và Cơ hội/thách thức của các kỹ thuật

3.3 Các yếu tố khó khăn tác động đến việc áp dụng kỹ thuật canh tác bền

Trang 9

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BĐKH : Biến đổi khí hậu

CA : Conservation Agriculture (Nông nghiệp bảo tồn)

CIRAD : Agricutural Reseach for Development

( Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp vì sự phát triển ) FAO : Food and Agriculture Organization of the United Nations

(tổ chức nông lương thế giới) HTNN : Hệ thống nông nghiệp

IBSRAM : International Board for Soil Research and Management

ICRAF : World Agro-forestry Centrer

(trung tâm nghiên cứu nông lâm nghiệp thế giới) NLKH : Nông lâm kết hợp

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

NOMAFSI : Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc PRA : Participatory rural appraisal (Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia) TBT : Tiểu bậc thang

UBND : Uỷ ban nhân dân

TBKT : Tiến bộ kỹ thuật

BVTV : Bảo vệ thực vật

KHKT–NLN : Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp

TOT : Training of trainer (đào tạo người đào tạo)

Trang 10

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vùng miền núi phía Bắc, trên 80% diện tích đất canh tác là đất dốc Đất có

độ dốc dưới 15o chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất dốc; đa số diện tích này đã được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp hoặc nông lâm nghiệp Diện tích đất có độ dốc từ 15o đến 25o chiếm khoảng 16%, còn lại là đất có độ dốc trên 25o, khoảng 62% Do thiếu đất sản xuất nên nông dân miền núi vẫn phải canh tác cây lương thực ngắn ngày trên đất trên dốc hơn 25o. Với độ dốc như vậy, hiện tượng xói mòn rửa rôi đất rất mạnh, đất nhanh chóng mất khả năng canh tác sau thời gian ngắn

Miền núi phía Bắc là vùng tập trung sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số ít người Thái, Tày, Dao, H’Mong… Sinh kế của người dân phụ thuộc hoàn toàn vào sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là sản xuất các cây lương thực (ngô, lúa nương, sắn…) Đặc biệt, cây ngô trong những năm gần đây đã trở thành cây xoá đói giảm nghèo, nhờ những thành tựu về công tác chọn tạo giống và sử dụng phân bón hoá học Theo Lê Quốc Doanh (2004), ở miền núi phía Bắc có tới 62% hộ nông dân có thu nhập từ sản xuất ngô và bình quân cây ngô chiếm tới 15% thu nhập của các nông hộ Trong những năm gần đây, do những thành tựu trong sản xuất ngô lai mà năng suất ngô đã tăng vọt (từ 22,7 tạ/ha năm 2000 lên 33,3 tạ/ha năm 2010) Cùng với sự ổn định về thị trường, vai trò kinh tế của cây ngô ngày càng trở nên quan trọng hơn Đây là một điều đáng mừng vì thực sự cây ngô đã đóng góp nhiều trong việc cải thiện đời sống nông dân miền núi

Tuy nhiên sản xuất ngô trên đất dốc hiện nay nảy sinh nhiều vấn đề, nguyên nhân chính là do nông dân chỉ quan tâm sử dụng giống mới và tăng hàm lượng phân hoá học nhằm tăng năng suất ngô Các khía cạnh của canh tác bền vững chưa được quan tâm Việc sử dụng phân xanh, phân hữu cơ hoặc tàn dư cây trồng để bảo vệ và cải thiện dinh dưỡng và độ mùn cho đất, các biện pháp hạn chế xói mòn đất chưa được áp dụng Kết quả là đất dốc đã và đang bị xói mòn Ở nhiều nơi đất trồng ngô

Trang 11

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2

đã bị thoái hoá đến mức giống và phân hoá học không còn phát huy tác dụng, năng suất và hiệu quả kinh tế thấp Nguy cơ này ngày càng cao, diện tích đất canh tác vốn

đã rất hạn chế sẽ càng thiếu, nếu không có các biện pháp kịp thời hỗ trợ nôngdân áp dụng các kỹ thuật canh tác bền vững, hạn chế xói mòn đất

Yên Bái là tỉnh có nhiều diện tích canh tác ngô trên đất dốc ở miền núi phía Bắc Phần lớn diện tích đất ở đây là đất dốc Cây trồng trong hệ thống trồng trọt chủ yếu là ngô và lúa nương Kiểu canh tác hiện vẫn được nông dân thực hành phổ biển

ở đây là phát dọn tàn dư thực vật và đốt sạch trước khi gieo trồng, mặt đất không được che phủ Vì thế vào đầu mùa mưa đất bề mặt bị xói mòn và rửa trôi nhiều Nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp bền vững, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện và đã xây dựng được các kỹ thuật canh tác ngô bền vững, như che phủ mặt đất bằng lớp phủ thực vật, làm tiểu bậc thang, gieo thẳng (không làm đất hoặc chỉ làm đất tối thiểu để gieo hạt), trồng xen, trồng gối Các kỹ thuật này đã được chứng minh có hiệu quả cao trong bảo vệ đất, chống xói mòn và dần làm cho đất màu mỡ hơn, giúp kiểm soát cỏ dại, giữ độ ẩm trong đất, tăng năng suất cây trồng, tăng hiệu quả kinh tế và thu nhập cho người dân

Tuy nhiên, việc áp dụng các kỹ thuật này trong sản xuất còn rất hạn chế Hiện mới chỉ rất ít diện tích đất dốc ở Yên Bái được canh tác ngô áp dụng các kỹ thuật bền vững Vậy những nguyên nhân cản trở các nông hộ tiếp nhận các kỹ thuật

đó là gì, và việc giải quyết các vấn đề khó khăn đó như thế nào đang và đang là hướng nghiên cứu cho sự sự phát triển hiện nay Nhằm góp phần cải thiện tình hình, thúc đẩy phát triển bền vững sản xuất nông nghiệp trên đất dốc miền núi phía Bắc

nói chung, tỉnh Yên Bái nói riêng, chúng tôi đề xuất thực hiện đề tài " Nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc tại Văn Chấn - Yên Bái " nhằm góp phần xây dựng các

hệ thống canh tác ngô hiệu quả, ổn định và lâu bền hơn

2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

2.1 Mục tiêu

Trang 12

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3

Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kỹ thuật canh tác ngô bền vững (che phủ đất, trồng xen cây họ đậu, tiểu bậc thang) vào sản xuất của các hộ nông dân Từ đó, làm cơ sở đề xuất giải pháp để hộ nông dân áp dụng kỹ thuật canh tác mới vào sản xuất ở huyện Văn Chấn – Yên Bái

2.2 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá được thực trạng áp dụng kỹ thuật canh tác tác ngô bền vững tại huyện Văn Chấn – Yên Bái

- Xác định được các yếu tố hạn chế, các yếu tố thúc đẩy áp dụng biện pháp

kỹ thuật vào sản xuất

- Đề xuất được các giải pháp thúc đẩy ứng dụng các kỹ thuật

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài chỉ ra được các yếu tố thức đẩy và các yếu tố hạn chế việc áp dụng các

kỹ thuật canh tác ngô bền vững vào sản xuất, làm cơ sở để nghiên cứu phát triển các

kỹ thuật canh tác bền vững trong điều kiện miền núi

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ vai trò của những kỹ thuật canh tác phù hợp

(cho năng suất cây trồng cao, ổn định và duy trì, bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên đất, nước, giảm phát thải) với điều kiện canh tác của huyện Văn Chấn

và xác định được các giải pháp thúc đấy ứng dụng các kỹ thuật này, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, và nâng cao tính bền vững của các hệ thống canh tác ngô đất dốc tại Yên Bái nói riêng, miền núi phía Bắc nói chung

Trang 13

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Một số khái niệm về hệ thống nông nghiệp và phát triển bền vững

* Hệ thống nông nghiệp (Agricultural systems)

Hệ thống nông nghiệp (Phạm Chí Thành và cs, 1993) là: Một phức hợp của đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, lao động, các nguồn lợi, các đặc trưng khác trong một ngoại cảnh mà nông hộ quản lý tuỳ theo sở thích, khả năng, kỹ thuật

có thể có Hệ thống nông nghiệp thực chất là một hệ sinh thái nông nghiệp được đặt trong một điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, tức là hệ sinh thái nông nghiệp được con người tác động bằng lao động, các tập quán canh tác, hệ thống các chính sách… Nhìn chung hệ thống nông nghiệp là một hệ thống hữu hạn trong đó con người đóng vai trò trung tâm, con người quản lý điều khiển các hệ thống nhỏ trong

đó theo những quy luật nhất định, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho hệ thống nông nghiệp

Hệ thống nông nghiệp = Hệ sinh thái nông nghiệp + Các yếu tố kinh tế, xã hội Theo Đào Thế Tuấn, 1989, HTNN thực chất là sự thống nhất của 2 hệ thống: (1) Hệ sinh thái nông nghiệp là một bộ phận của hệ sinh thái tự nhiên, bao gồm các cơ thể sống (cây trồng, vật nuôi) trao đổi năng lượng, vật chất và thông tin với ngoại cảnh, tạo nên năng suất sơ cấp (trồng trọt) và thứ cấp (chăn nuôi) của hệ sinh thái

(2) Hệ kinh tế - xã hội, chủ yếu là sự hoạt động của con người trong sản xuất tạo ra của cải vật chất cho toàn xã hội Trong lịch sử phát triển nông nghiệp trên thế giới cho thấy quá trình thay đổi cơ bản nhất của HTNN là sự tiến hoá của hộ nông dân từ tình trạng sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá Sự thay đổi theo hướng phát triển đó diễn ra không đồng thời giữa các vùng, các làng, các hộ Do vậy, mỗi nơi phải xây dựng những giải pháp riêng cho phù hợp với đặc điểm thực trạng của hệ thống

Trang 14

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5

* Hệ thống canh tác (Farming systems)

Hệ thống canh tác là sự bố trí một cách thống nhất, ổn định các ngành nghề trong nông trại được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, sinh học, kinh tế xã hội, phù hợp với mục tiêu, sự mong muốn, nguồn lực của nông hộ (Shaner, 1982)

Hệ thống canh tác là sản phẩm của bốn nhóm biến số: Môi trường vật lý, kỹ thuật sản xuất, chi phối của nguồn tài nguyên và điều kiện kinh tế xã hội Trong hệ thống canh tác vai trò của con người đặt ở vị trí trung tâm của hệ thống và quan trọng hơn bất cứ nguồn tài nguyên nào kể cả đất canh tác

Nhà thổ nhưỡng học người Mỹ đã chứng minh cho quan điểm này, ông cho rằng đất không phải là quan trọng nhất mà chính con người sống trên mảnh đất đó Muốn phát triển một vùng nông nghiệp, kỹ năng của nông dân có tác dụng hơn độ phì của đất (Cao Liêm và cs, 1996)

Theo Lê Trọng Cúc, 1996 Hệ sinh thái nông nghiệp (Agro-ecosystems) và hệ kinh tế xã hội (Socio - economic Systems) Trong đó hệ kinh tế- xã hội là hệ tích

cực, sự biến đổi chung của hệ thống nông nghiệp phụ thuộc phần lớn hệ này

Phát triển bền vững là sự phát triển có khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ

hiện nay mà không phương hại đến khả năng của các thế hệ mai sau đáp ứng được những nhu cầu của con người Đối với vùng cao, phát triển bền vững liên quan chặt chẽ đến các biện pháp quản lý đất đất dốc bền vững mà chủ yếu là không gây thoái hoá đất, không gây ô nhiễm môi trường mà vẫn đảm bảo được cuộc sống con người Điều này có nghĩa là phát triển phải đi đôi với quản lý tài nguyên hợp lý

Nông nghiệp bền vững nói về thiết kế những hệ thống định canh lâu bền Đó

là một triết lý và một cách tiếp cận về sử dụng đất đai, liên kết tiểu khí hậu, cây trồng hàng năm và lưu niên, vật nuôi, đất nước và những nhu cầu của con người, xây dựng những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả

Một nền nông nghiệp phát triển nhanh và vững chắc phải sử dụng hợp lý các nguồn lợi tự nhiên như khí hậu, đất đai vv và các nguồn lợi kinh tế, xã hội như: lao

Trang 15

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6

động, vật tư, kỹ thuật vv Một trong những biện pháp kinh tế và kỹ thuật nhằm tận dụng các nguồn lợi tự nhiên và kinh tế xã hội là bố trí hệ thống cây trồng hợp lý trong một vùng hay một đơn vị sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Thị Nương, 1998)

Một hoạt động sản xuất (nông nghiệp, công nghiệp, khai thác hải sản ) là bền vững khi đạt tất cả các mục đích của nó và có thể tiếp tục mãi mãi Nội dung của phát triển bền vững bao gồm:

- Đáp ứng được những nhu cầu cơ bản của con người

- San bằng được khoảng cách giữa giàu – nghèo và hoàn cảnh xã hội

- Bảo tồn được các tài nguyên thiên nhiên

- Tạo ra những điều kiện tốt giúp con người nhận thức rõ giá trị làm người, hiểu rõ được những vấn đề chung của nhân loại và những gì ưu tiên phải thực hiện trước và giúp con người đạt được quyền tự do trong cộng đồng

1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp

* Tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp

Tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp là những kỹ thuật được khẳng định là phù hợp và khả thi về sinh thái, kinh tế - xã hội trên đồng ruộng của nông dân, góp phần nâng cao hơn hiệu quả sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp, tạo điều kiện phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường cho nông nghiệp và nông thôn

“tiến bộ” ở đây thể hiện sự “tốt hơn” và “mới hơn” so với kỹ thuật hiện có (Đỗ Kim Chung, 2005)

TBKT là những kỹ thuật mới hiện chưa có ở địa phương và là một yếu tố động theo thời gian và không gian Yếu tố động theo không gian được hiểu là một TBKT chỉ phù hợp với một không gian nhất định, khái niệm không gian ở đây có thể thu hẹp trong phạm vi một hệ sinh thái nông nghiệp và cũng có thể rộng trong phạm vi một vùng Còn khái niệm về yếu tố động theo thời gian thì một TBKT có thể phù hợp với nền nông nghiệp tự cung tự cấp và không phù hợp nền nông nghiệp hàng hóa (Đào Thế Tuấn, 2000)

Việc áp dụng TBKT là quá trình đưa các TBKT đã được khẳng định là đúng đắn trong thực tiễn vào áp dụng trên diện rộng để đáp ứng nhu cầu của sản xuất và

Trang 16

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7

đời sống của con người Theo Phạm Chí Thành và cs (1993), hệ thống canh tác tiến

bộ và bền vững được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa các yếu tố bên ngoài (điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội) và nhóm các yếu tố bên trong của nông hộ (đất đai, lao động, vốn, và kỹ năng nghề nghiệp) Hệ thống canh tác tiến bộ là sự kết hợp giữa kiến thức bản địa và tiến bộ kỹ thuật

Phương pháp tiếp cận nghiên cứu phát triển tiến bộ kỹ thuật là lý thuyết hệ thống, trong đó có sự phối hợp giữa nông dân (kiến thức bản địa) với các nhà khoa học (công nghệ mới) cùng nhau phát hiện vấn đề giải quyết và đưa ra kết quả nghiên cứu vào sản xuất Sự kết hợp này tạo ra cái mới (hệ canh tác tiến bộ và bền vững)

* Các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp

Theo kinh nghiệm áp dụng TBKT của các nước Châu Á, Châu Phi và qua thực tiễn của nước ta đã chỉ ra những nhân tố cơ bản sau ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nông nghiệp ( Nguyễn Thu Hồng, 2008):

Nhóm yếu tố bên trong

Trang 17

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8

giới tính, lứa tuổi, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm và tay nghề của nông dân); ii) Tài nguyên đất đai (Đất thổ cư, vị trí,…) Đây là các yếu tố quan trọng để

b) Quỹ đất

Đất đai luôn là vấn đề sống còn của bất kỳ một nông hộ nào dù là lớn hay nhỏ Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, là nguồn lợi tự nhiên cung cấp năng lượng và vật chất cho cây trồng Đất đai và khí hậu hợp thành phức hệ tác động vào cây trồng do vậy cần phải nắm được đặc điểm mối quan hệ giữa cây trồng với đất thì mới xác định được cây trồng hợp lý

c) Thị trường

Thị trường là động lực thúc đẩy cải tiến TBKT Theo cơ chế thị trường thì người nông dân cần điều chỉnh quy mô sản xuất, cải tiến kỹ thuật, thay đổi giống cây trồng, vật nuôi để đạt hiệu quả cao đáp ứng được nhu cầu của thị trường

d) Thu nhập

Thu nhập của hộ nông dân được hình thành từ các nguồn chính là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và từ các hoạt động phi nông nghiệp Chuyển dịch hệ thống canh tác có ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của hộ nông dân do kết quả của chuyển dịch hệ thống canh tác không chỉ làm thay đổi về khối lượng hàng nông sản làm ra mà còn làm thay đổi cả cơ cấu sản phẩm Việc thay đổi về số lượng và cơ cấu nông sản phẩm làm ra dẫn đến thay đổi giá trị tổng sản phẩm sản xuất nông nghiệp Hơn nữa, việc thay đổi trong bố trí nguồn lực đầu vào của sản xuất cũng

Trang 18

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9

làm thay đổi chi phí sản xuất so với các hệ thống canh tác khác nhau không chỉ đối với sản xuất nông nghiệp mà còn đối với cả các hoạt động phi nông nghiệp khác Kết quả tất yếu của quá trình này dẫn đến thay đổi thu nhập của hộ Ảnh hưởng của

áp dụng TBKT trong sản xuất nông nghiệp tới thu nhập của hộ nông dân được thể hiện trên hai khía cạnh: ảnh hưởng tích cực và ảnh hưởng tiêu cực

- Ảnh hưởng tích cực: Kết quả tổng hợp của quá trình chuyển dịch hệ thống

canh tác làm tăng thu nhập cho hộ nông dân so với thu nhập có được ở hệ thống canh tác khác Hay nói cách khác, hệ thống canh tác này đã tạo ra 12 giá trị gia tăng lớn hơn so với hệ thống canh tác khác Đích đến của chuyển dịch hệ thống canh tác không phải là sản phẩm mà là hiệu quả kinh tế, là ổn định và nâng cao thu nhập cho người lao động, nâng cao sản lượng nông sản hàng hóa, giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác, phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng, hiệu quả và bền vững Để đạt được mục tiêu này, chuyển dịch hệ thống canh tác cần tạo ra ảnh hưởng tích cực đối với việc ổn định và nâng cao thu nhập cho hộ nông dân, có nghĩa là tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp bền vững, thể hiện ở cả 3 khía cạnh: Kinh tế, xã hội và môi trường

- Ảnh hưởng tiêu cực: Điều này có nghĩa chuyển dịch hệ thống canh tác làm

giảm thu nhập của hộ nông dân hay giá trị gia tăng do cơ cấu sản xuất mới mang lại thấp hơn giá trị gia tăng được tạo ra bởi cơ cấu sản xuất nông nghiệp trước đó

* Nhóm yếu tố bên ngoài

Nhóm yếu tố bên ngoài nhằm hỗ trợ phát triển và nâng cao tính bền vững của

hệ thống canh tác tiến bộ bao gồm: Điều kiện cơ sở hạ tầng (giao thông, thông tin,

hạ tầng kỹ thuật, v.v ); Điều kiện tự nhiên; Môi trường, (pháp lý, kinh tế và văn hóa - xã hội); Chính sách tài chính thương mại

a) Nhóm nhân tố tự nhiên

Điều kiện môi trường tự nhiên là yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển hệ thống canh tác Môi trường tự nhiên gồm nhiều yếu tố như: khí hậu, thời tiết, đất đai, thuỷ văn, địa hình, vv Đó cũng chính là yếu tố cơ bản làm căn cứ để

bố trí sản xuất cây trồng gì?, Con nuôi nào? Mô hình sản xuất ra sao? để cây trồng,

Trang 19

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10

vật nuôi sinh trưởng và phát triển tốt tạo ra năng suất và hiệu quả kinh tế cao

b) Nhân tố kinh tế - kỹ thuật

Nhân tố kinh tế - kỹ thuật có nhiều như: Cơ sở hạ tầng, sự phát triển lực lượng sản xuất, chất lượng lao động, thị trường và chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước, vv Tất cả những nhân tố đó tác động đến sự lựa chọn và phát triển hệ thống canh tác Trong tất cả các nhân tố kinh tế - kỹ thuật, nhân tố thị trường là nhân tố bao trùm nhất Bởi vì, theo kinh tế học hiện đại chỉ có thị trường mới cho người sản xuất biết được nên sản xuất cái gì, cây gì, con gì, cho đối tượng nào để có được thu nhập cao

Như vậy, nhóm những yếu tố bên trong, trong đó nguồn nhân lực - yếu tố đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của hộ và là điều kiện tiền đề tạo ra những bước phát triển mang tính đột phá nhằm phát triển kinh tế của hộ Còn nhóm các yếu tố bên ngoài chủ yếu là vai trò của Chính phủ, trong việc thiết lập môi trường (pháp lý, kinh tế, văn hóa - xã hội) công bằng, dân chủ, hiệu quả và minh bạch để phát huy khả năng sáng tạo của các chủ thể, các hộ Đồng thời tạo dựng hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, nhất là hệ thống giao thông, hệ thống điện và thông tin liên lạc Đây là các yếu tố không thể thiếu để mở rộng và áp dụng TBKT trong sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân

1.1.3 Các giải pháp canh tác bền vững trên đất dốc

Kiến thiết ruộng bậc thang với bờ đất hoặc bờ đá (nếu có đủ nước thì trồng lúa có tưới, thiếu nước thì trồng lúa cạn và hoa màu) Đây là một cách làm rất hiệu quả và bền vững cần được khuyến khích Tuy nhiên sẽ cần nhiều thời gian để làm

đủ diện tích bậc thang cần để sản xuất đủ lương thực, hơn nữa những nơi chỉ toàn đất dốc cao thì sẽ rât khó làm và bảo vệ bậc thang, vì vậy cần áp dụng các biện pháp mới trong canh tác

Canh tác theo đường đồng mức: Đây cũng là cách làm hay song chưa đủ hiệu quả trong ngăn chặn xói mòn và thoái hoá đất

Xếp tường đá, làm hàng rào bảo vệ đồng ruộng, đào hào dẫn nước tránh khỏi

Trang 20

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11

khu vực canh tác để chống xói mòn Đây là một biện pháp cổ truyền nên học tập, tuy nhiên không phải nơi nào cũng có đá để xếp tường Còn việc đào hào, hố giữ nước trên đỉnh hoặc sườn dốc, có nhiều hộ nông dân còn xây bể dung tích lớn để chứa nước chống hạn Cách làm này rất tốn kém nên không phải ai cũng làm được

• Làm bậc thang vẩy ốc, xếp đá để bảo vệ cây ăn quả, cây lâu năm Cách làm này cũng tốt và cần được phát huy

• Trồng cây che phủ, sử dụng phân xanh, xen canh, gối vụ, luân canh đây

là phương hướng tiếp cận rất hiệu quả, nhưng mới được áp dụng lẻ tẻ, đơn điệu và chưa phong phú về phương pháp, kỹ thuật và thiếu các giống cũng như loài cây thích hợp dẫn nước thì tốn thời gian, tốn đất canh tác và đôi khi không phát huy được tác dụng nếu không kết hợp với các biện pháp bảo vệ rừng

Có 5 hướng đi cơ bản để canh tác bền vững ở vùng cao nhiệt đới:

+ Tăng tối đa lượng chất hữu cơ trong đất Bằng cách này chúng ta dễ dàng đạt năng suất mong muốn với giá thành sản xuất hạ Điều này có thể đạt được qua

áp dụng các kỹ thuật nông lâm kết hợp, xen canh, luân canh, gối vụ và trồng cây che phủ đất để đạt sinh khối tối đa Khi có nhiều chất xanh làm thức ăn gia súc thì chăn nuôi cũng được phát triển và sẽ thúc đẩy trồng trọt cũng như nghề rừng cùng phát triển theo hướng bền vững Việc này cũng tạo điều kiện phát triển nông nghiệp hữu cơ (cũng có thể gọi là nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp bảo tồn)

+ Liên tục che phủ đất bằng lớp phủ thực vật sống hay đã khô Đây là biện pháp quan trọng nhất, đa dụng và là nền tảng cho mọi nỗ lực quản lý và sử dụng đất dốc bền vững Có thể sử dụng nylon để che phủ cho đất dốc nhưng phải che theo luống ngang sườn dốc và các rãnh giữa các luống phải được phủ bằng xác thực vật Phải tái sử dụng tốt nhất lượng chất hữu cơ sẵn có tức là không được đốt tàn dư thực vật như nông dân thường làm, trái lại phải giữ chúng lại làm vật liệu che phủ

để bảo vệ và cải tạo đất

Lợi ích của che phủ đất:

Lợi ích tại chỗ: Giảm xói mòn do mưa và gió; Làm cho đất tơi xốp, tăng độ hấp thu nước của đất, giảm dòng chảy bề mặt Giảm bốc hơi, tăng ẩm độ đất; Dung

Trang 21

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12

hoà nhiệt độ bề mặt đất; Tăng độ ổn định các cấu trúc bền mặt đất, chống kết vón đất và đóng váng bề mặt đất; Giảm cỏ dại, tăng hiệu quả phân bón Giảm đầu tư: giảm công làm đất, làm cỏ, phân bón; Tăng hàm lượng chất hữu cơ và dinh dưỡng cho đất, giảm độc tố trong đất; Tạo điều kiện tốt cho hạt nảy mầm tốt, bộ rễ phát triển khoẻ, cây sinh trưởng tốt Kết quả là làm tăng và ổn định năng suất, chất lượng cây trồng một cách bền vững

Lợi ích về bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên: Hạn chế du canh, cải

thiện nguồn tài nguyên đất, nước và rừng; Chống lắng đọng các lòng sông hồ, đặc biệt là hồ thuỷ điện; Giảm lũ lụt ở miền xuôi; Giảm ô nhiễm hoá học ở các vùng lân cận Giảm hiệu ứng nhà kính thông qua việc giảm lượng khí CO2 thải vào không khí

do đốt phá rừng, tàn dư thực vật và khói từ các nhà máy sản xuất phân bón và thuốc hoá học Tiết kiệm nguồn năng lượng sử dụng cho các nhà máy sản xuất phân bón

và thuốc hoá học và vận hành các loại máy làm đất

Lợi ích về xã hội: Phụ nữ được giải phóng khỏi những công việc nặng nhọc

và tốn nhiều thời gian như làm cỏ và làm đất Họ sẽ có nhiều thời gian chăm sóc sức khoẻ gia đình, nuôi dạy con cái và phát triển nghề phụ; Trẻ em sẽ có nhiều thời gian học hành, nâng cao kiến thức; Do đất và nước ít bị hoặc không bị ô nhiễm, vấn

đề bệnh tật sẽ giảm, sức khoẻ cộng đồng sẽ được cải thiện; Do hiệu quả kinh tế cao nên xã hội sẽ phát triển nhanh và bền vững hơn

Như vậy, khi áp dụng tốt biện pháp che phủ đất, chúng ta có thể đáp ứng được hầu hết các nhu cầu canh tác đất dốc bền vững góp phần xoá đói giảm nghèo cho nông dân miền núi và bảo vệ tài nguyên môi trường

+ Không làm đất hoặc làm đất tối thiểu: Đối với đất dốc, nếu làm đất càng

kỹ mà không che phủ thì xói mòn sẽ xảy ra rất mạnh và nhanh Có thể làm cho đất trở nên tơi xốp mà không cần phải cày bừa đất bằng các biện pháp cơ giới đó là áp dụng các biện pháp thay thế nhờ hoạt động của sinh vật đất và bộ rễ khoẻ của một

số loài cây và có thể gọi là qua cày bừa sinh học)

+ Luân canh, xen canh và đa dạng hoá cây trồng Luân canh, xen canh, gối

vụ không chỉ tăng thu nhập mà còn tăng sinh khối nhờ sử dụng các loài cây ngắn

Trang 22

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13

ngày, mọc nhanh, đa chức năng, có bộ rễ phát triển khoẻ, sâu để khai thác dinh duỡng trong lòng đất “Cây bơm dinh dưỡng”, hoặc tăng dinh dưỡng đất nhờ cây họ đậu cố định đạm Ngoài ra cần xen canh các loài cây có bộ rễ phát triển nông và sâu

để điều hoà dinh dưỡng và giữ độ tơi xốp của đất Luân canh còn có tác dụng chống tích tụ nguồn sâu bệnh gây hại cây trồng

+ Che phủ đất

Trên nhiều loại đất vùng nhiệt đới nóng ẩm do độ pH thấp dưới 5, độc nhôm sắt, đất bị nén chặt nên rễ cây trồng không thể phát triển được Trong điều kiện áp dụng biện pháp che phủ đất, rễ cây có thể khai thác dinh dưỡng dưới và từ lớp che phủ thực vật Trên thực tế, rễ nhiều loại cây trồng có phần lớn miền hút nằm ngay sát lớp che phủ thậm chí trong lớp che phủ nếu ẩm độ được duy trì ở mức thích hợp Trong nhiều trường hợp việc bón phân vào lớp che phủ còn hiệu quả hơn là bón vào đất

* Một số tác động khác

Nếu thực hiện tốt các nguyên tắc nêu trên chúng ta có đủ khả năng sản xuất

đủ lương thực và hoa màu đáp ứng nhu cầu cuộc sống trên những diện tích đất cố định và sẽ không phải chặt đốt rừng để sản xuất Như vậy độ che phủ rừng sẽ tăng lên và rừng sẽ bảo vệ chúng ta khỏi thiên tai như lụt lội, hạn hán Rừng sẽ cung cấp cho ta nhiều sản phẩm có giá trị cao để cải thiện cuộc sống

Nghiên cứu về hệ thống cây trồng vùng Trung du, miền núi đã chỉ rõ: Cần phải

đa dạng hoá cây trồng, sẽ đáp ứng được hướng sản xuất tựcung tựcấp của đồng bào dân tộc, nhưng cần sử dụng các biện pháp đơn giản, dễ làm, phù hợp với điều kiện của vùng và điều kiện dân trí (Đậu Quốc Anh, Lê Quốc Doanh, Bùi Huy Hiền, 1994) Chăn nuôi cũng phát triển và giúp nông dân làm giàu mà không phương hại đến sản xuất nông lâm nghiệp Chúng ta sẽ có những sản phẩm sạch để đảm bảo sức khoẻ mà không cần đầu tư cao, không phụ thuộc vào nguồn phân vô cơ Gánh nặng của người lao động sẽ được tháo gỡ vì không phải đi cắt cỏ chăn nuôi, không mất nhiều công làm cỏ và làm đất Sẽ có nhiều hơn các cơ hội để phát triển các ngành nghề truyền thống và khôi phục các giá trị văn hoá các dân tộc thiểu số Tài nguyên thiên nhiên sẽ được sử dụng hợp lý và môi trường được bảo vệ Với cảnh quan đẹp,

Trang 23

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14

chúng ta có thể mở mang du lịch sinh thái, tăng thu nhập góp phần xoá đói giảm nghèo và tiến tớí làm giàu một cách bền vững

1.2 Mốt số đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất ngô trên đất dốc

Cây ngô có nguồn gốc từ Mêxicô, trải qua 700 năm tiến hoá và phát triển qua quá trình chọn lọc tự nhiên và nhân tạo Cây ngô có sự đa dạng di truyền và khả năng thích ứng ở nhiều vùng, nhiều khu vực khác nhau Ngô có tên khoa học là

Zeamays.L do nhà thực vật học Thụy Điển Linnaeus đặt theo tên kép Hy Lạp – Latinh: Zea – từ Hy Lạp để chỉ cây ngũ cốc và Mays là từ ‘‘Maihs’’ tên gọi cây ngô của người bản địa da đỏ (Đinh Thế Lộc và cs, 1997) Hiện nay, trong nền sản xuất nông nghiệp thì cây ngô được trồng ở hầu hết các nước trên thế giới

1.2.1 Đặc điểm kinh tế của cây ngô

Cây ngô là cây lương thực có giá trị Trong ngô có nhiều chất dinh dưỡng với hàm lượng cao Những bộ phận chính của hạt ngô có thành phần hoá học khác nhau: vỏ hạt có có lượng chất xơ thô cao 87%, phôi nhũ chứa hàm lượng tinh bột khoảng 87.6%, prôtít 26% và phôi có hàm lượng dầu cao thô cao, trung bình khoảng 33% Lượng tinh bột và prôtít của hạt ngô có chủ yếu trong phôi còn chất

xơ thô trong hạt phân bố chủ yếu ở vỏ hạt Sự phân bố trọng lượng trong các bộ phận của hạt ngô, thành phần hoá học đặc biệt của chúng và giá trị dinh dưỡng là rất quan trọng trongviệc chế biến ngô Do đó, ngô là nguồn lương thực quan trọng, đặc biệt nó cung cấp bữa ăn hàng ngày cho những người dân nghèo ở nông thôn và miền núi Ngô là cây lương thực ngắn ngày, có tính thời vụ, hạt ngô có tỷ trọng hàm lượng nước cao Do vậy, cần bố trí mùa vụ thích hợp và phơi sấy chế biến hợp lý để

nâng cao hiệu quả kinh tế trong quá trình sản xuất kinh doanh

Khi xem xét đến giá trị kinh tế thì cây ngô là loại cây có giá trị kinh tế đứng thứ ba sau cây lúa nước và cây lúa mì Sở dĩ cây ngô có vị trí như vậy là do nó có những ưu điểm như năng suất cao, khả năng thích ứng rộng và có nhiều công dụng,

sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, chế biến thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp Ngoài ra, cây ngô còn là loại hạt cốc dễ tiêu hoá, nhiều thành phần trong hạt với hàm lượng chất dinh dưỡng cao Đặc biệt ngô là loại hạt cốc dễ bảo quản, dễ chế

Trang 24

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15

biến Từ ngô người ta đã sản xuất ra khoảng 670 mặt hàng khác nhau của các ngành công nghiệp, lươngthực thực phẩm Ngô là mặt hàng xuất khẩu có giá trị của nhiều quốc gia Quốc gia có lượng ngô xuất khẩu lớn nhất trên thị trường thế giới là Mỹ, chiếm khoảng 60%, sau đó là Trung Quốc 10 % và tiếp theo là Achentina, Pháp, Nam Phi, Thái Lan (Đinh Thế Lộc và cs, 1997) Hiện nay ngô là nguồn tạo thu nhập hiệu quả Ngô đã và đang đóng góp nuôi sống gần 1/3 dân số thế giới và là phương tiện hữu hiệu cho việc đa dạng hoá và nâng cao tính bền vững của mùa vụ gieo trồng Vì vậy, phát triển sản xuất kinh doanh cần chú ý đến giá trị kinh tế và tăng cường công nghiệp chế biến để nâng cao hiệu quả kinh tế của ngô

Cây ngô ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế còn có ý nghĩa về mặt xã hội Hiện nay nhu cầu về cây lương thực của các nước đang phát triển tăng nhanh do sức ép tăng dân số đã làm cho diện tích trồng ngô tăng mạnh ở khu vực này trong mấy thập kỷ qua Ở nhiều nước, cây ngô góp phần quan trọng vào an ninh lương thực, tạo thu nhập cho cộng đồng dân cư nghèo Sản xuất ngô là một trong các loại hình canh tác chính ở khu vực phía Bắc Việt Nam Từ năm 1990 đến năm 2004, sản lượng ngô của Việt Nam sản xuất ra tăng đến 5 lần từ 671.000 tấn lên đến hơn 3,4 triệu tấn, diện tích tăng từ 432.000 ha lên 990.000 ha trong cùng thời kỳ, chủ yếu ở khu vực vùng núi Sự tăng nhanh chóng này là nhờ việc tăng sử dụng các giống ngô lai, sử dụng phân hoá học và các chính sách hỗ trợ phát triển nông thôn miền núi của chính phủ Việt Nam Năng suất trung bình tăng từ 1,5 lên 3,5 tấn/ha Chính sự thay đổi này đã làm tác động mạnh mẽ vào thu nhập và nguồn lao động của nhiều nông dân

ở khu vực nông thôn Việt Nam Hiện nay, sinh kế của nhiều nông dân miền núi khu vực Tây Bắc chủ yếu dựa vào sản xuất ngô phục vụ cho chăn nuôi và nghành công nghiệp thức ăn chăn nuôi, chiếm đến 70 % tổng nguồn thu nhập của các nông hộ (Oleg Nicetic và cs, 2011)

Nhiệt độ là yếu tố khí tượng quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng

và phát triển của cây ngô Cây ngô là cây trồng khí hậu ấm, nhiệt độ yêu cầu từ khi trồng đến khi phun râu, suốt thời kỳ nảy mầm thích hợp vào khoảng 18,30C Nếu nhiệt độ quá thấp (dưới 120C) dẫn đến giảm năng suất

Trang 25

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16

Bên cạnh nhiệt độ thì chế độ ánh sáng cũng là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và thời gian sinh trưởng của cây ngô Vào thời kỳ mọc đến khi hình thành bắp cây ngô cần ánh sáng dài ngày để tiến hành quang hợp và tích luỹ dinh dưỡng, đồng thời để trỗ cờ và đóng bắp Trong các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây ngô thì yêu cầu về nhiệt độ, ánh sáng, lượng nước, chế độ không khí, dinh dưỡng và quá trình chăm sóc cũng khác nhau

Ngô là cây trồng cạn, bộ rễ phát triển rất mạnh nên có khả năng hút nước khoẻ hơn nhiều cây khác Tuy nhiên, cây ngô sinh trưởng nhanh và tạo ra một lượng sinh khối lớn nên ngô cần một lượng nước lớn Một ha ngô cần khoảng 3.000- 4.000 m3 nước (trong khi đó cây khoai tây chỉ cần 2.470 m3 nước 1 vụ/ha) (Đinh Thế Lộc và cs, 1997)

Do ngô là cây phàm ăn và có thể trồng trên các loại đất có các đặc tính lý hoá học khác nhưng muốn cho ngô đạt năng suất cao phải trồng ngô trên các loại đất giàu dinh dưỡng Do vậy khi tiến hành trồng ngô chúng ta phải hiểu rõ nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô và đặc điểm của từng loại đất để xây dựng chế độ bón phân thích hợp Ngô có tiềm năng cho năng suất cao vì vậy cần bón nhiều phân để duy trì các hoạt động sống và tạo năng suất Nếu ngô cho năng suất 10 tấn/ha thì 1 ha ngô phải lấy từ đất một lượng dinh dưỡng là 269 kg N, 111 kg P2O5, 229 kg K2O (Đinh Thế Lộc và cs, 1997) Do vậy, căn cứ vào lượng dinh dưỡng mà cây ngô lấy để bổ sung lại cho đất một lượng phân tương ứng nhằm đảm bảo độ phì cho đất

1.2.2 Quy trình canh tác ngô trên đất dốc

- Chuẩn bị nương: Dọn sạch cỏ dại và tàn dư cây trồng vụ trước (làm đất, cào sạch cỏ và giữ nguyên không đốt, sử dụng làm vật liệu phủ)

Chuẩn bị vật liệu phủ trước gieo 15 ngày

- Giống ngô: Giống ngô lai LVN 10 là giống ngô do Viện nghiên cứu Ngô chọn tạo ra Giống này được xếp vào nhóm trung bình Thời gian sinh trưởng từ 115 – 120 ngày, tiềm năng năng suất từ 70– 80 tạ/ha

- Thời vụ trồng ở vùng núi Tây Bắc do điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệt nên ngô thường được gieo trồng giữa tháng 3 đầu tháng 4 Mật độ khoảng

Trang 26

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17

cách: 70 cm x 30 cm, lượng giống: 20 kg/ ha, gieo 2 hạt/ hốc

- Kỹ thuật bón phân: Cây ngô có thời gian sinh trưởng dài nên phải bón nhiều lần Lượng phân bón trên một ha là: 250 - 300 kg đạm Urê, 400 - 500 kg supe Lân và 120 – 150 kg Kali

Cách bón:

- Bón lót toàn bộ phân lân + 1/3 Urê, bón ngay trước khi gieo

- Bón thúc làm 2 đợt

+ Đợt 1: Bón lần 1: 1/3 đạm Urê + 1/2 lượng Kali (khi ngô 3- 4 lá)

+ Đợt 2: Bón lần 2: 1/3 đạm Urê + 1/2 lượng Kali (khi ngô 7- 9 lá)

- Chăm sóc và làm cỏ: Cần tỉa dặm cây sớm để đảm bảo mật độ và độ đồng đều Chăm sóc, bón thúc vun cao gốc kết hợp với làm cỏ có tác dụng trống đổ, vùi phân và diệt cỏ dại

- Phòng trừ sâu bệnh: Một số loại sâu thường gặp như sâu sám, sâu đục thân, rệp cờ, sâu cắn lá, bệnh khô vằn…nên dùng cácloại thuốc bảo vệ thực vật như Wofatox với nồng độ 5%, Puradan, Basa, Validacin

- Thu hoạch: Khi lá bi khô, hạt cứng tranh thủ nắng ráo thu hoạch ngay, tránh cho ngô bị ẩm ướt

1.3 Thực trạng sản xuất và nghiên cứu đất dốc trên thế giới

Tài nguyên đất trên thế giới có 13.530 triệu ha Đất dốc là một phần quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, chiếm 973 triệu ha (66%) trong tổng số 1.500 triệu ha diện tích đất nông nghiệp Thế giới Trong đó đất đồi núi có độ dốc từ100 trở lên vào khoảng 377 triệu ha Vùng châu Á Thái Bình Dương, đất nông nghiệp có

453 triệu ha đất nông nghiệp Trong đó đất dốc là có 351 triệu ha (Hudson, N.W, 1999) Riêng vùng Đông Nam Á, đất nông nghiệp có khoảng 91 triệu ha, chiếm 21% diện tích tự nhiên, trong đó đất dốc là có 58 triệu ha (Thomas Dierolf et al, 2001) Diện tích đất đồi núi ở khu vực Đông Nam Á được phân bố ở tất cả các nước trong khu vực, nhiều nhất là ở Việt Nam (chiếm 75% diện tích toàn quốc) Phần lớn diện tích đất đồi núi được sử dụng cho lâm nghiệp, cũng như được khai thác trồng các loại cây trồng công nghiệp, cây ăn quả dài ngày

Trang 27

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18

Dân số châu Á chiếm 58% dân số trên thế giới nhưng đất nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 20% đất nông nghiệp toàn cầu Đất dốc ở châu Á chiếm khoảng 35% tổng diện tích của các nước Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha hiện nay đang trồng trọt và có khoảng 100 triệu ha nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam Á Khoảng 40 –

60 triệu ha đất này trước đây được rừng che phủ nhưng do hoạt động của con người nên rừng đã bị phá và thay thế vào đấy là thảm thực vật cây bụi, cỏ

Trước khi con người khai phá đất để làm nương rẫy thì phần lớn đất dốc đều được rừng bao phủ bởi thảm thực vật Do ẩm và nóng, thảm thực vật phát triển nhanh và tạo thành lớp đất mặt của thảm rừng có độ phì tự nhiên cao cho cả vùng đất bằng và cả vùng đất dốc Nhưng đất dốc là hệ sinh thái kém bền vững, dễ bị hủy hoại khi bị mất lớp rừng bao phủ (Robert M, 1992) Trong nhiều thập kỷ qua sự gia tăng nhanh dân số của các nước đang phát triển đã tạo lên nhiều sức ép lớn trên nhiều phương diện đối với đất đai và tài nguyên môi trường ở cả vùng đồng bằng và vùng núi (Garrity et al, 1993)

Diện tích rừng bị chặt phá vào năm 1978 là 7,6 triệu ha thì đến năm 1989 đã lên tới 13,9 triệu ha (Meyer, 1989) Thảm thực vật rừng bị mất đã dẫn đến đất dốc

bị suy thoái mạnh mẽ

* Xói mòn và rửa trôi

Tiềm năng sản xuất nông lâm nghiệp trên đất dốc ở thế giới là rất lớn, song hiệu quả sản xuất trên đất dốc thì còn rất thấp, một trong những khó khăn chính mà con người gặp phải khi canh tác trên đó là vấn đề xói mòn và rửa trôi

Xói mòn và rửa trôi là nguyên nhân chính thu hẹp diện tích đất canh tác ở một số nơi trên thế giới, và gây ra hiện tượng thoái hoá đất làm giảm năng suất cây trồng, làm thiệt hại đến kinh tế nhiều nước trên thế giới

Theo đánh giá của tổ chức FAO (FAO, 1995) khu vực Đông Nam Á là khu vực bị xói mòn mạnh nhất trên thế giới Trong 17 nước ở Đông Nam Á thì Việt Nam

là một trong 5 nước có xói mòn do nước ở mức trung bình đến rất nghiêm trọng Xói mòn và rửa trôi là mối đe doạ thường xuyên đối với đất dốc vùng nhiệt đới ẩm làm

Trang 28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19

mất đi tầng đất mặt, suy kiệt hay nghèo đi dinh dưỡng gây ra hiện tượng thoái hoá đất Hiện tượng này xảy ra mạnh mẽ nhất vào mùa mưa, ngoài ra nó còn phụ thuộc vào hệ thống cây trồng trên đó Đất bị xói mòn thường kéo theo sự suy giảm chất lượng đất thông qua việc giảm pH, giảm hàm lượng chất hữu cơ, giảm dung tích hấp thu, giảm tính đệm, giảm kết cấu, tăng dung trọng, tăng khả năng cố định lân là một trong các nguyên nhân làm giảm năng suất và sản lượng cây trồng trên đất dốc

Độ phì nhiêu kém, đất bị thoái hoá Do chế độ canh tác không hợp lý trên đất dốc nhiều vùng bị thoái hoá nghiêm trọng Có nhiều nguyên nhân làm cho sản xuất trên đất dốc bị hạn chế và kém ổn định nhưng nguyên nhân cơ bản nhất là sự thoái hoá nhanh của đất Sự thoái hoá nhanh Sự thoái hoá bao gồm nhiều mặt: lý tính, hoá tính, sinh học … (Garrity et al, 1993)

Ngoài ra do quá trình xói mòn trên đất dốc, đặc biệt là tầng mặt đã làm nghèo kiệt về dinh dưỡng và một số tính chất của nó bị biến đổi mạnh so với nguồn gốc phát sinh Đất thường có phản ứng chua đến rất chua, thiếu Lân, thiếu Can xi, thiếu Magie, thiếu Kali, bị độc Nhôm, độc Sắt, độc Mangan Dinh dưỡng của đất phụ thuộc vào độ phì của đất, đặc tính lý hóa của đất Mỗi loại đất có hàm lượng dinh dưỡng khác nhau, vì vậy phải dựa vào đặc điểm này để bố trí loại cây trồng và công thức luân canh thích hợp Nói chung đất nhẹ thoáng khí, dễ thoát nước, dữ nước kém, chứa ít chất dinh dưỡng và dễ làm đất Đất nặng giữ nước và chất dinh dưỡng tốt hơn nhưng thoát nước chậm, hay bị úng, ít không khí và làm đất khó Uexkull H R., 1982 đã tóm tắt chính hạn chế chính của thoái hoá như sau:

- pH thấp ( đất chua)

- Dung tích hấp thu (CEC) thấp

- Nghèo các chất dinh dưỡng, dạng tổng số cũng như dạng dễ tiêu

- Độ no bazơ thấp

- Độc tố nhôm nhiều

- Hoạt động vi sinh vật thấp, đặc biệt là tầng dưới

- Thành phần sét chứa nhiều các khoáng kém hoạt động bề mặt (kaolin, quartz, oxid nhôm …)

Trang 29

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20

- Chai đất

- Giữ nước kém

Dinh dưỡng của đất phụ thuộc vào độ phì của đất, đặc tính lý hóa của đất Mỗi loại đất có hàm lượng dinh dưỡng khác nhau, vì vậy phải dựa vào đặc điểm này

để bốtrí loại cây trồng và công thức luân canh thích hợp

• Bị hạn trong mùa khô:

Trên đất dốc rất khó giữ nước, canh tác hoàn toàn nhờ nước trời rất ít chỗ có khả năng chủ động được nước tưới, nếu có thì chủ yếu ở những nơi gần sông suối Nhất là vào mùa khô thì tình trạng này diễn ra phổ biến và thường bị hạn rất nặng Hạn hán trong mùa khô là hậu quả của mất rừng và quá trình canh tác đất dốc bừa bãi Trên phạm vi thế giới vấn đề cấp thiết nhất là phải bảo vệ và sử dụng một cách khôn ngoan tài nguyên đất đai còn lại cho một nền sản xuất nông nghiệp bền vững Nước không chỉ duy trì sự sống của cây mà còn là yếu tố gây xói mòn đất vì nó làm cho các hạt đất tách rời nhau rồi bị cuốn đi cùng với các sản phẩm của thảm thực vật

mà lẽ ra có thể được sử dụng vào việc chống xói mòn (Meane L M, 1996)

Qua nghiên các cứu về hệ thống nông nghiệp trên đất dốc, các nhà nghiên cứu cho biết: Du canh vẫn còn là hệ thống canh tác cạn chiếm ưu thế ở nhiều vùng châu Á, châu Phi, châu Mỹ Đây là biện pháp sử dụng đất có thể chấp nhận được khi áp lực về dân số lên đất không lớn do thời gian bỏ hoá có thể kéo dài từ 10 đến

30 năm Biện pháp này có ưu điểm là tiết kiệm năng lượng để tạo ra một sản phẩm mới, ít đầu tư và kỹ thuật đơn giản Nhưng với sức ép về dân số ngày càng tăng dẫn đến nhu cầu lương thực tăng (RAPA, 1991)

Vì vậy, canh tác nương rẫy kiểu truyền thống đã phá vỡ những cân bằng của

hệ sinh thái đang tồn tại bền vững ở vùng nhiệt đới ẩm, dẫn tới nhiều tác động tiêu cực và bất ngờ về mặt môi trường và xã hội Như lũ lụt, hạn hán, khí hậu khu vực bị thay đổi làm mất cân bằng môi trường sinh thái, gây nên xói mòn kéo theo lượng phù sa lớn bồi đắp các dòng sông hạ lưu, nước sông dâng cao, gây nên lũ lụt, Phù

sa bồi còn làm cho các công trình thuỷ lợi như hồ chứa nước, kênh, mương… bị thu hẹp dung tích, làm giảm hiệu suất sử dụng Làm giảm bớt khả năng giữ nước của

Trang 30

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21

các lưu vực sông ở trên vùng cao và làm tăng thêm sức mạnh của dòng lũ khi có mưa lớn Sự gia tăng mức độ xói mòn đã bồi lấp các công trình thuỷ lợi, các hồ chứa nước và sông suối làm nguồn nước dự trữ trong mùa khô bị suy giảm nghiêm trọng Nghiên cứu về năng suất cây trồng trên nương rẫy, nhiều tác giả đều thấy rằng năng suất cây trồng giảm dần và phụ thuộc vào tính chất đất, hệ thống canh tác

và phương pháp quản lý Kiểu canh tác nương rẫy truyền thống của nông dân mang tính chất bóc lột đất nhiều hơn là duy trì độ màu mỡ của đất

Kinh nghiệm của một sốvùng là luôn duy trì một lớp phủthực vật (che phủ bằng tàn dư thực vật hoặc chủ sống như: Trồng xen, trồng gối, luân canh các loại cây trồng, có sự tham gia của các cây họ đậu …) phần nào duy trì năng suất cây trồng và cải thiện độ phì đất Tuy nhiên, kinh nghiệm này cũng chưa được thực hiện đồng bộ và chưa được phổ biến rộng khắp Đất dốc Đông Nam Á khác nhau rất nhiều về địa hình, độ phì tự nhiên,tính chất lý, hoá và sinh học Sự mất độ phì nhanh chóng là biểu hiện rõ nhất, thường đất khai hoang đưa vào sản xuất sau 2 - 3 năm thì mất độ phì vốn có và khả năng sản xuất Nguyên nhân là sau khi thảm thực vật bị phá bỏ, đất được cày bừa xới xáo, chất hữu cơ bị oxy hoá nhanh và quá trình rửa trôi xảy ra mạnh Trên đất dốc, đất có thành phần sét cao giữ được độ phì tốt hơn đất cát Do đó trong quá trình canh tác, việc bảo vệ và cải thiện độ phì bằng cách dùng phân chuồng, phân xanh và đặc biệt là sử dụng cây họ đậu để cải thiện tính chất đất là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất cây trồng

“Sử dụng, quản lý đất dốc châu Á”là tên gọi của một mạng lưới Tổ chức quốc tế về nghiên cứu và quản lý đất dốc (IBSRAM) (Sajjapongse A., 1993) Tổ chức này đã thực hiện nghiên cứu, quản lý đất dốc để phát triển nông nghiệp ở 7 nước châu Á: Indonesia, Malaisia, Nepan, Philippines, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam Thực trạng chung của các nước này là canh tác trên đất dốc không hợp lý làm cho đất bị xói mòn rửa trôi dẫn đến thoái hoá Các nghiên cứu được tiến hành với một số biện pháp kỹ thuật như:

- Trồng cây theo đường đồng mức với các băng cây rộng 4 – 5 m và được phân cách bởi các cây chắn là những cây bụi hoặc cây phân xanh họ đậu

Trang 31

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22

- Băng cỏ rộng 1 m theo đường đồng mức với khoảng cách 4 – 6 m một băng

- Đào mương để ngăn dòng chảy, giữ đất, nước theo đường đồng mức

- Đào các hố chứa nước nhỏ trên các sườn dốc để giữ nước cho thấm dần xuống dưới nhằm giảm tốc độ dòng chảy và giữ ẩm đất

- Nông - lâm kết hợp, phối hợp giữa cây lâu năm, cây ăn quả và cây hoa màu hàng năm

Ở các vùng đồi núi, đất nông nghiệp có độ dốc trên 100 thường chiếm 60% diện tích đất nông nghiệp hiện đang được khai thác Do đó nghiên cứu khai thác đất nông nghiệp ở miền đồi núi thực chất là vấn đề nghiên cứu canh tác trên đất dốc hay canh tác trên đất nương rẫy Nghiên cứu quan hệ giữa hệ thống cây trồng trên đất dốc với vấn đề rửa trôi, xói mòn đất, nghiên cứu ứng dụng hệ thống canh tác nông lâm nghiệp kết hợp trên đất dốc Nghiên cứu về kỹ thuật canh tác trên đất

50-dốc (Sloping Agriculture Land Technology-SALT) lần đầu tiên áp dụng ở Philippine

có kết quả thực tế thu nhập bình quân hàng năm trên 1 ha áp dụng SALT cao gấp 4 lần so với hệ thống độc canh cổ truyền Mô hình này cũng được B.T Kang áp dụng ở Nigeria gọi là canh tác theo băng (Alley cropping)

Những năm gần đây một số công nghệ sử dụng đất dốc bền vững của nước ngoài theo hướng nông lâm và lâm – nông kết hợp đã bước đầu áp dụng thành công

ở nước ta Đó là kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc viết tắt là SALT (Sloping Agricultural Land Technology) Hệ thống kỹ thuật canh tác này đã được áp dụng thành công ở Philippin từ giữa những năm 1970 đến nay Trung tâm đời sống nông thôn Baptist Mindanao Philippin đã tổng kết hoàn thiện hệ thống này gồm 4 mô hình sau đây:

* Mô hình kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc (SALT1)

Trong mô hình này là trồng trọt bằng cây ngắn ngày (cây hàng năm) xen kẽ với những cây lâu năm sao cho phù hợp với đặc tính và yêu cầu đất đai của các loài cây đó và đảm bảo có thu hoạch đều đặn Các băng được trồng theo đường đồng mức ngang dốc và giữa những bảng cây trồng chính rộng từ 4 – 6m còn có bảng hẹp trồng cây cố định đạm, cây phân xanh để giữ đất, chống xói mòn hoặc lấy củi

Trang 32

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23

Cơ cấu cây trồng trong mô hình này, để đảm bảo ổn định và hiệu quả nhất

là 75% cây nông nghiệp, 25% cây lâm nghiệp Trong cây nông nghiệp thì 50% là cây hàng năm, 25% là cây lâu năm Với mô hình này trên 1 ha hàng năm người dân thu hoạch được lượng sản phẩm hàng hoá gấp rưỡi so với trồng sắn, khả năng chống xói mòn tăng gấp 4 lần

* Mô hình kỹ thuật nông lâm súc kết hợp đơn giản (SALT2)

Trong mô hình này, một phần đất được dành cho chăn nuôi và kết hợp với trồng trọt Tác dụng mô hình này rất rõ là nhờ sự kết hợp theo phương thức Nông – Lâm - Súc đã tận dụng được tiềm năng đất đai, năng lượng mặt trời, đồng cỏ, thức

ăn gia súc, tăng thêm nguồn phân chuồng, phân xanh trả lại cho đất Theo mô hình này việc sử dụng đất đảm bảo có thu nhập đều đặn vừa cải thiện được độ phì nhiêu, chống được xói mòn đất

* Mô hình kỹ thuật canh tác nông lâm kết hợp bền vững (SALT3)

Mô hình này đã kết hợp một cách tổng hợp việc trồng rừng quy mô nhỏ với sản xuất lương thực, cây ăn quả và cây thực phẩm Ở đây người nông dân dùng những phần đất có độ cao thấp ( dưới 200 – 250) sườn đồi và chân đồi để trồng các cây lương thực, thực phẩm, xen với các hàng cây cố định còn phần đất cao ( sườn trên là đỉnh đồi) để trồng rừng Cây lâm nghiệp chọn để trồng theo thời gian thu hoạch được chia ra các loại từ 1 – 5 năm, 6 – 10 năm, 11 –15 năm và trên 15 năm

để có thể thu được sản phẩm cao nhất và đều đặn Cơ cấu đất được sử dụng thích hợp ở đây là dành 40% cho cây nông nghiệp, 60% cho cây lâm nghiệp Trong mô hình này các biện pháp nông – lâm - thuỷ lợi và công trình hạ tầng được áp dụng đồng bộ (thực hiện các biện pháp làm giảm lượng nước chảy tràn, thực hiện các biện pháp hạn chế tốc độ dòng chảy, ngăn cản sự cuốn trôi đất, làm đất theo đường đồng mức v.v…) hiệu quả sử dụng đất được tăng cao hơn cả về mặt kinh tế - xã hội

và môi trường Tuy nhiên mô hình này đòi hỏi vốn đầu tư cao hơn cả về vật chất và

trình độ hiểu biết nên điều kiện mở rộng khó khăn hơn, cần có thời gian

Kết quả nghiên cứu bước đầu của IBSRAM cho thấy canh tác trên đất dốc phải có mô hình cây trồng và kỹ thuật phù hợp để vừa thu được năng suất cao vừa

Trang 33

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24

bảo vệ được đất dốc, bảo vệ môi trường Một yếu tố quan trọng mà các nghiên cứu trong hệ thống này đề cập là các biện pháp kỹ thuật muốn được nông dân áp dụng phải là biện pháp có hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, với các hộ dân nghèo thì cần phải xem xét mức đầu tư tiền mặt cho phù hợp

Nghiên cứu của Bell L.C và Edwards D.G, 1986: Sử dụng phân xanh, phân chuồng và các loại phân hữu cơ hoặc chế, phụ phẩm nông nghiệp đã làm tăng lân dễ tiêu cho cây dễ hấp thụ, đồng thời làm giảm độ độc nhôm và sắt Trong dung dịch đất, các axít hữu cơ tạo phức với kim loại Al, Fe Chúng tồn tại ở dạng phức hữu cơ

- nhôm, hữu cơ - sắt trong dung dịch đất không độc đối với cây trồng

Những thử nghiệm về bón phân tổng hợp và các chất hữu cơ trên nhiều vùng đất nhiệt đới của Ấn Độ, năng suất cây trồng tăng tối đa và đạt độ ổn định cao (Meane L.M., 1996) Còn tại Philippines, ngô được trồng nhiều trên đất đồi chua ở Bukidnon, năng suất đạt cao nhất khi bón phân compost với lượng 0,5 tấn/ha Bón compost giảm Al di động, tăng P dễ tiêu, tăng K, Ca và Mg trao đổi trong đất (Garrity D.P et al, 1993)

Biện pháp nông nghiệp gồm các biện pháp canh tác theo đường đồng mức, cày bừa ngang dốc, bố trí thời vụ cây trồng làm cỏ bón phân, luân canh, xen canh tạo độ che phủ trên mặt đất, không cày bừa, xới xáo, thu hoạch trong vụ mưa… biện pháp này

có tác dụng tổng hợp chống xói mòn, bảo vệ đất giữ độ ẩm, chóng cỏ dại và làm tăng năng suất cây trồng từ 30 - 40 %, rất dễ áp dụng vào sản xuất, (Lê viết Bảo, 2012) Đối với miền đồi núi, việc mất sức sản xuất của đất gò đồi do xói mòn và thoái hóa đất là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất do con người gây ra (Dregne, 1992) Mất rừng, hiệu ứng nhà kính, lũ lụt gia tăng, thiếu nước tưới và nước sinh hoạt, hiệu quả sử dụng đất dốc giảm đang là tiêu điểm cho những nghiên cứu hiện nay về nông nghiệp bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên Nông nghiệp bảo tồn đòi hỏi phải bảo vệ và nuôi dưỡng đất thông qua một số biện pháp nông nghiệp sinh thái, giảm dần liều lượng phân vô cơ và hóa chất bảo vệ thực vật Kết quả nghiên cứu che phủ đất bằng vật liệu hữu cơ giảm xói mòn đất từ 236,2 tấn/ha xuống còn 0,2 tấn/ha và giảm dòng chảy bề mặt từ 42,1% xuống còn

Trang 34

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25

2,4% (Lal, 1977) Nhiều tác giả cho rằng việc khôi phục độ phì của đất nhờ áp dụng các biện pháp tích luỹ các chất hữu cơ là rất quan trọng, trong đó đặc biệt chú ý sử dụng các loại cây họ đậu Anja và Alain, 2005, đã nghiên cứu vấn đề bảo vệ đất

nước thông qua luân canh với cây họ đậu (Cốt khí -Tephrosia candida và Súc sắc Graham – (Crotalaria grahamiana) ở Kenya Kết quả cho thấy lượng đất bị xói

mòn giảm từ 70 đến 90% trên đất thịt và 45 đến 65% trên đất cát pha

Trong 3 thập kỷ qua, nhiều nước tiên tiến trên thế giới đã tập trung nghiên cứu phương thức tiếp cận sinh thái (hay nông nghiệp bảo tồn – Conservation Agriculture) trong sử dụng đất dốc để phát triển bền vững sản xuất nông lâm nghiệp Những nội dung cơ bản của cách tiếp cận này là không làm đất hoặc làm đất tối thiểu, luôn duy trì lớp che phủ đất bằng vật liệu hữu cơ (che phủ bằng xác thực vật khô, bằng lớp thực vật sống, luân canh và xen canh) và gieo thẳng trên nền đất được che phủ không thông qua làm đất Những kỹ thuật này đã giúp tăng năng suất cây trồng, đa dạng hoá thu nhập, tăng độ phì đất và bảo vệ đất khỏi xói mòn

Những kết quả nghiên cứu của Trung tâm Hợp tác Quốc tế về Nghiên cứu Nông nghiệp vì sự phát triển (CIRAD) của Pháp trong lĩnh vực này, đứng đầu là Lucien Seguy, Francis Forest, v.v đã được triển khai áp dụng trên phạm vi toàn cầu, đi đầu là các nước Mỹ Latinh và Bắc Mỹ, tiếp sau là các nước châu Phi và châu

Âu Ở châu Á, Ấn Độ là nước đi đầu với diện tích áp dụng 1,8 triệu ha Theo Rolf Derpsch (2005), các kỹ thuật canh tác bảo tồn đã được áp dụng trên diện tích 95 triệu ha trên toàn thế giới, đứng đầu là Mỹ (25 triệu ha), tiếp đến là Brasil (24 triệu ha), Argentina (18 triệu ha), Canada (12 triệu ha), Úc (9 triệu ha) và Paraguay (1,9 triệu ha) Theo các nhà nghiên cứu của Úc, trong ba năm khô hạn (năm 2000 – 2002) nhờ áp dụng nông nghiệp bảo tồn mà sản lượng cây trồng đã tăng được 12 triệu tấn (3 triệu tấn năm 2000, 5 triệu tấn năm 2001 và 4 triệu tấn năm 2002), tức

đã tăng sản lượng lên 20 - 30% Ngoài ra, các biện pháp này đã hạn chế tối đa lượng đất bị mất đi do xói mòn và tăng đáng kể hàm lượng hữu cơ trong đất, trong khi giảm công làm đất, giảm đầu tư phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật

1.4 Tình hình nghiên cứu các kỹ thuật canh tác bền vững trong nước

1.4.1 Hiện trạng sử dụng đất dốc ở Việt Nam

Trang 35

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26

Đất dốc có rất nhiều tiềm năng phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của cộng đồng các dân tộc Vùng đất dốc ngày càng có vai trò quan trọng khi ảnh hưởng của hiệu ứng nhà kính rõ rệt, đặc biệt là khi mực nước biển dâng cao ảnh hưởng xấu đến nhiều vùng châu thổ rộng lớn

Ở Việt Nam, đất dốc chiếm khoảng 74% đất tự nhiên Trong diện tích 9,4 triệu

ha đất nông nghiệp chỉ có 4,06 triệu ha là đất lúa, còn trên 5 triệu ha chủ yếu là đất dốc, trong đó đất nương rẫy trồng lúa khoảng 640 ngàn ha, diện tích còn lại là đất rừng và đất chưa sử dụng Do hầu hết đất bằng đã được sử dụng khá triệt để nên miền núi là nơi duy nhất còn tiềm năng mở rộng đất canh tác (Lê Viết Bảo, 2012) Xét về tổng thể toàn miền núi, đại đa số đất với độ dốc <150 (chiếm 21,9%) đã được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp hoặc nông lâm nghiệp Diện tích đất có độ dốc từ 150 đến 250chiếm khoảng 16,4%, còn lại là đất có độ dốc >250 (chiếm 61,7%) (Hà Đình Tuấn, 2005)

Theo Trần Đức Viên, 2001, dưới sức ép của gia tăng dân số, cùng với việc khai thác rừng và đất đai một cách ồ ạt nhằm mục tiêu sản xuất lương thực đã làm thay đổi hình thức sản xuất nông nghiệp nương rẫy truyền thống Mất rừng, thời gian bỏ hoá bị rút ngắn, đất bị cạn kiệt và xói mòn làm cho năng suất cây trồng giảm sút nhanh chóng Một số tác giả cho rằng mật độ dân số từ 5 đến 10 người/km2

là hợp lý để đảm bảo sản xuất đủ nhu cầu cuộc sống nông dân, đồng thời đảm bảo cho rừng tái sinh bình thường (Lê Trọng Cúc, và cs 2002) Tuy nhiên nếu có sự can thiệp về kỹ thuật và dịch vụ xã hội thì con số này có thể tăng lên 40 hoặc 100 người/km2 (Trần Đức Viên, 1996)

Hiện nay, việc canh tác đất dốc chưa bền vững, nông dân vẫn áp dụng phương pháp du canh là chủ yếu, xói mòn và thoái hóa đất vẫn xảy ra rất mạnh trên diện rộng, một số kỹ thuật đã được nghiên cứu đề xuất như che phủ đất chưa được áp dụng rộng rãi do kỹ thuật chưa hoàn chỉnh, có nhiều vấn đề cần cải tiến cho phù hợp với từng loại đất và độ dốc, từng địa phương, đặc biệt là việc sử dụng và khai thác cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao như cây ngô trong nhiều năm có tác động không tốt đến môi trường và phát triển bền vững

Trang 36

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27

Các kết quả nghiên cứu cho biết lượng chất dinh dưỡng hàng năm bị mất đi do xói mòn ít nhất tương đương với 100.000 tấn phân đạm urê, 220.000 tấn phân lân super, 50.000 tấn phân K2SO4 và khoảng 5 triệu tấn phân chuồng, đó là chưa tính đến các yếu tố Ca+2, Mg+2 cũng bị rửa trôi cùng với các nguyên tố vi lượng khác (Thái Phiên, 1997)

Những điều này cho thấy mức độ nghiêm trọng của hoạt động xói mòn đất đến môi trường sinh thái khi mà chuyển từ hệ sinh thái rừng nhiệt đới sang hệ sinh thái nông nghiệp Trong khi xói mòn của đất rừng gần như bị triệt tiêu thì xói mòn trên đất nương rẫy khi không có biện pháp chống xói mòn có thể lên tới 200 hoặc lớn hơn 200 tấn/ha/năm và điều đó đã làm giảm đáng kể hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất

1.4.2 Những nghiên cứu về canh tác đất dốc

Do đặc thù về khí hậu: Nóng ẩm, mưa nhiều, lượng mưa và cường độ mưa lớn, nên hiện tượng xói mòn và rửa trôi xảy ra mạnh mẽ, làm giảm đáng kể hàm lượng khoáng sét cũng như hàm lượng hữu cơ trong đất, dẫn đến khả năng hấp thu hoá lý của đất kém và đất dễ bị mất các chất dinh dưỡng dễ tiêu (Thái Phiên, và cs, 1998)

Các biện pháp chống xói mòn như tạo băng cây xanh theo đường đồng mức, mương bờ, tạo bồn, trồng cây phủ đất, trồng chè theo đường đồng mức, tạo hệ thống cây trồng xen phủ đất trong mùa mưa v.v đều cho kết quả tốt trong việc giữ đất, giữ nước cho cây trồng trên đất dốc, có thể giảm lượng đất bị xói mòn 50% so với đối chứng Việc trả lại chất hữu cơ cho đất trên đồi là biện pháp tốt nhất để từng bước phục hồi, giữ gìn và cải thiện độ phì nhiêu đất, nâng cao năng suất cây trồng Vùi tàn dư hữu cơ của các loại cây trồng và lá cây phân xanh của băng chống xói mòn có thể bổ sung vào đất một lượng dinh dưỡng cho mỗi ha mỗi năm là 100 –

200 kg N, 10 – 30 kg P2O5 và 50 – 100 kg K2O (Thái Phiên, và cs,1997)

Áp dụng biện pháp kỹ thuật dùng các loại vật liệu che phủ khác nhau ở vùng đất đồi cho giống lạc L14 trong vụ Xuân 2008 trong điều kiện thời tiết khí hậu khô hạn ở vùng đồi Quảng Bình đã góp phần giữ ẩm cho đất, trong đó vật liệu che phủ bằng nilon, độ ẩm đất đạt cao nhất, cao hơn các công thức khác 4%, tiếp theo là

Trang 37

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28

công thức che phủbằng lá cọ 3,5% (Nguyễn Ích Tân và cs, 2009)

Trên cây ngô: Theo Đặng Quang Phán, Đào Châu Thu, Thân Thế Hùng,

2008, phủ thảm hữu cơ cho trồng ngô trên đất dốc có tác dụng rõ rệt khi mưa to: Chống xói mòn đất, cản được dòng chảy và hạn chế mất dinh dưỡng trong đất xói mòn và trong nước của dòng chảy Nếu không phủ thảm, qua một vụ mưa trên độ dốc 250 sẽ bị mất khoảng 77 tấn đất/ha, lượng nước và lượng một số chất dinh dưỡng chính của đất mất gấp đôi so với có phủ thảm ngô và gấp 3 đến 4 lần so với phủ thảm lá cọ Phủ thảm hữu cơ chống xói mòn rửa trôi đất trong mùa mưa còn đảm bảo năng suất ngô cao hơn trồng ngô không phủ thảm

Kết quả nghiên cứu các biện pháp che phủ trong canh tác đất dốc ở miền núi tỉnh Bắc Kạn đã xác định: Các diện tích lúa nương, ngô đồi được che phủ bằng vật liệu hữu cơ (thân, lá cây họ đậu, rơm rạ, cỏ khô ) làm tăng khả năng giữ ẩm của đất, hạn chế xói mòn, rửa trôi dinh dưỡng và tình trạng đất bị dí chặt, kết quả góp phần làm tăng năng suất lúa từ 90 – 144%, ngô từ 28 – 185% so với trồng trên đất

không được che phủ (Hà Đình Tuấn và cs, 2006)

Theo kết quả nghiên cứu của Thái Phiên và cs, 1998 thì: trên đất dốc trồng cây

nông nghiệp ở Thái Ninh - Thanh Ba - Phú Thọ, khi sử dụng phân bón hợp lý, kết hợp với việc thiết lập băng cây xanh để hạn chế xói mòn đất năng suất lạc tăng từ

82 - 98% so với canh tác của dân

Khi nghiên cứu về hiệu quảcủa các giải pháp kỹ thuật canh tác trên đất dốc mạnh vùng Hoà Bình cho biết: được đầu tư phân bón mức 30N + 60P2O5 + 60K2O/ha kết hợp trồng băng chắn, năng suất sắn tăng 130% so với canh tác thông thường của dân (388,2 so với 299,7 tạ/ha trong 3 năm) và tăng 116% so với chỉtrồng băng chắn (388,2 so với 347,3 tạ/ha trong 3 năm) (Đậu Cao Lộc và cs, 1998)

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quang Tin và cs, 2012, canh tác ngô trên đất dốc tại Văn Chấn – Yên Bái có kết hợp trồng xen ngô với lạc, đậu đen, đậu tương

và cỏ Guatemala tạo hàng băng bảo vệ đất, tăng cường chất tủ cho đất; bón phân khoáng đầy đủ cho ngô, cho lạc, đậu đã tăng năng suất ngô từ 11,78 - 29,33 % và tăng lãi thuần 30,1 - 46,64 %, tăng lương che phủ cho đất 7 - 11 tấn tươi/ha/vụ

Trang 38

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29

Ngoài ra ở thí nghiệm nhỏ lượng đất xói mòn giảm 27,27 - 47,59% so cách làm truyền thống

Lê Quốc Doanh, 2001; nghiên cứu các mô hình cây trồng thích hợp trên đất dốc miền núi huyện Ngọc Lặc, Thanh Hoá đã xác định: trên đất nương rẫy ở độ dốc

< 250, chuyển từ trồng cây lương thực (lúa, ngô, sắn) sang trồng mía thâm canh đã cho hiệu quả kinh tế cao hơn, đồng thời hạn chế xói mòn, độ phì đất được duy trì Trên đất có độ dốc 250 đến < 400, trồng cây lương thực hiệu quả rất thấp, nhưng trồng luồng vẫn sinh trưởng tốt và cho thu nhập bình quân 12 – 15 triệu đồng/ha/năm với chu kỳ khai thác kéo dài tới 30 năm, đồng thời hạn chế xói mòn, tăng độ mùn của đất và tăng nguồn sinh thuỷ trong khu vực rừng luồng

Canh tác giống đậu tương ĐT26 với mật độ 35 cây/m2 bón phân với lượng 40

N + 60 P205 + 60 K20 + 300 kg vôi bột + Tủ xác thực vật 7 tấn/ha giúp cho đậu tương sinh trưởng tốt năng suất tăng 51,7 - 59,7%, kiểm soát được cỏ dại, cải thiện các chất dinh dưỡng đất so đối chứng, (Nguyên Quang Tin và cs, 2012).

Hà Đình Tuấn và cs, 2002 cho rằng, trồng cây che phủ đất bằng cây họ đậu không chỉ có vai trò chống xói mòn đất dốc, mà còn có tác dụng tốt trong cải thiện cấu trúc và lý tính đất Đất được che phủ luôn luôn ẩm, ngoài ra nguồn hữu cơ từ cây che phủ khi phân huỷ làm tăng độ mùn, tăng hoạt động của hệ sinh vật và vi sinh vật trong đất Một mặt đất sẽ tơi xốp hơn nên dung tích hấp thụ lớn hơn, mặt khác độ phì của đất cũng được cải thiện nhanh

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác trên đất dốc, nhiều tác giả cho rằng: vấn đề trước hết trong canh tác là mặt đất phải luôn được che phủ, lượng phủ

đủ dày bằng các loại vật liệu sống hoặc đã chết (Hà Đình Tuấn, 2000) , kết hợp luân canh và xen canh trong sản xuất sẽ góp phần ổn định độ phì của đất (Nguyễn Hữu

Tề và cs, 1994) Đồng thời làm hạn chế sự phát triển của sâu bệnh hại, hạn chế cỏ

dại và tăng ổn định năng suất cây trồng

Dự án Hệ thống Nông nghiệp miền núi (SAM) được Trung tâm Hợp tác Quốc

tế về Nghiên cứu Nông nghiệp vì Sự Phát triển (CIRAD) của Pháp và Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam (VASI) phối hợp thực hiện tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc

Trang 39

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 30

Kạn từ năm 1999 đến 2003 Dự án đã nghiên cứu, đánh giá, thích ứng và chuyển giao các kỹ thuật canh tác đất dốc bền vững tại huyện Thành tựu nổi bật của dự án

là đã thử nghiệm, thích nghi và phát triển được một số kỹ thuật canh tác bảo tồn trên đất dốc có tác dụng giảm xói mòn, cải thiện độ phì đất và nâng cao năng suất cây trồng; trong đó nghiên cứu về các kỹ thuật che phủ đất và gieo thẳng, không thông qua làm đất hoặc làm đất tối thiểu Dự án cũng đã quan tâm nghiên cứu các loài cây

đa dụng vừa che phủ đất, vừa làm thức ăn chăn nuôi Các mô hình áp dụng các kết quả của dự án đã được thiết lập tại một số huyện của các tỉnh Sơn La, Lai Châu và một số tỉnh miền núi khác Hiện nay, diện tích sử dụng vật liệu che phủ cho sản xuất ngô trên đất dốc ở Việt Nam vào khoảng 1.000 ha Trong đó Sơn La là tỉnh có diện tích sử dụng vật liệu che phủ cho sản xuất ngô là lớn nhất: 280 ha, Điện Biên

230 ha, Đắc Lắc 80 ha, … Sử dụng vật liệu che phủ cho sản xuất ngô đã mang lại năng suất cao và thực sự đóng góp vào an ninh lương thực ở vùng cao, giúp nhiều

hộ gia đình có thể xoá đói giảm nghèo

Trong Chương trình “Nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp miền núi phía Bắc giai đoạn 2002 - 2005” đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu

kỹ thuật canh tác tổng hợp nâng cao hiệu quả sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên và cải thiện môi trường vùng Trung du miền núi phía Bắc” tại các

huyện Hoàng Su Phì, Yên Minh tỉnh Hà Giang; huyện Văn Chấn, Văn Yên tỉnh Yên Bái; huyện Na Rì, Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn và huyện Mai Sơn, Mộc Châu tỉnh Sơn La Những thành tựu chính đã đạt được là:

+ Xác định được hiện trạng canh tác đất dốc ở miền núi phía Bắc:

- Canh tác đất dốc chưa bền vững, nông dân vẫn áp dụng phương pháp du canh là chủ yếu, xói mòn và thoái hóa đất vẫn xảy ra rất mạnh trên diện rộng, một

số kỹ thuật đã được nghiên cứu đề xuất như che phủ đất chưa được áp dụng rộng rãi

do kỹ thuật chưa hoàn chỉnh, có nhiều vấn đề cần cải tiến cho phù hợp với từng loại đất và độ dốc, từng địa phương, v.v

- Hệ thống canh tác, giống và cơ cấu cây trồng trên đất dốc đang là một khe

hở trong nghiên cứu, đặc biệt là việc sử dụng và khai thác các giống cây trồng cho

Trang 40

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 31

hiệu quả kinh tế cao như cây ngô, v.v mặc dù dễ làm nhưng có tác động không tốt đến môi trường và phát triển bền vững

- Hoạt động nghiên cứu và chuyển giao còn thiếu tính hệ thống, sự phối kết hợp giữa các cơ quan chưa chặt chẽ nên các tiến bộ kỹ thuật đưa ra còn thiếu đồng

bộ, chưa khai thác và phát huy hết sức mạnh tổng hợp của các cơ quan tham gia, cũng như của chính các kỹ thuật tiến bộ đó

- Hướng ưu tiên:

+ Tiếp tục nghiên cứu về cây cải tạo đất: Lựa chọn và hoàn thiện qui trình trồng các loài cây che phủ, đặc biệt chú ý đến cây họ Đậu hoặc những loài nào sinh trưởng phát triển tốt, dễ thích nghi và làm thế nào để có đủ vật liệu che phủ ngay từ đầu vụ Xuân;

+ Nghiên cứu về che phủ đất dốc: Cải tiến phương thức che phủ (phủ kín hoàn toàn hay phủ theo băng, điểm; phủ trước hay sau gieo trồng ), phương thức gieo trồng, phương thức bón phân, chăm sóc trên nền đất được che phủ, v.v ; + Nghiên cứu về bón phân cân đối trên đất dốc: Liều lượng bón, thời điểm bón, loại phân ;

+ Chuyển giao kết quả đạt được đến người dân trên cơ sở phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nghiên cứu, cơ quan quản lý và nông dân tham gia bằng những tiếp cận mới, mang tính hệ thống và thực tiễn hơn

Tóm lại: Canh tác đất dốc là một phương thức canh tác phổ biến của nông dân ở vùng miền núi Đây là vùng có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội, cũng như sẽ là nơi sản xuất chính lương thực thực phẩm cho cả nước trong điều kiện gia tăng dân số, đô thị hoá và phát triển công nghiệp ở vùng đồng bằng Các kết quả nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất một cách bền vững đã và đang được thực hiện đem lại hiệu quả cao; tuy nhiên các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các kỹ thuật trên trong điều kiện vùng miền núi vẫn chưa nhiều, điều đó ảnh hưởng đến việc mở rộng các kỹ thuật trên vào sản xuất

Ngày đăng: 19/09/2015, 10:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Thái Phiên (1997), Những yếu tố hạn chế canh tác nông nghiệp trên đất dốc Việt Nam, Hội thảo quản lý dinh dưỡng nước cho cây trồng trên đất dốc ởmiền Bắc Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố hạn chế canh tác nông nghiệp trên đất dốc Việt Nam
Tác giả: Thái Phiên
Nhà XB: Hội thảo quản lý dinh dưỡng nước cho cây trồng trên đất dốc ở miền Bắc Việt Nam
Năm: 1997
18. Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, Trần Đức Toàn, 1997, Cơ cấu cây trồng và biện pháp canh tác chống xói mòn bảo vệ đất dốc, Khoa học đất số 9 - 1997, trang 114 – 122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu cây trồng và biện pháp canh tác chống xói mòn bảo vệ đất dốc
Tác giả: Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, Trần Đức Toàn
Nhà XB: Khoa học đất
Năm: 1997
19. Thái Phiên, Trần Thị Tâm, La Nguyễn (1998), Vai trò của phân bón và băng cây xanh trên đất dốc trồng cây nông nghiệp ở Thái Ninh, Thanh Ba, Phú Thọ, , NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của phân bón và băng cây xanh trên đất dốc trồng cây nông nghiệp ở Thái Ninh, Thanh Ba, Phú Thọ
Tác giả: Thái Phiên, Trần Thị Tâm, La Nguyễn
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1998
20. Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên, 1999. Đất đồi núi Việt Nam thoái hóa và phục hồi. Nhà xuất bản Nông nghiệp. Tr. 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất đồi núi Việt Nam thoái hóa và phục hồi
Tác giả: Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1999
21. Nguyễn Ích Tân, Thân Thế Hùng, 2009, Kết quả nghiên cứu bước đầu về ảnh hưởng của vật liệu che phủ đất đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc vụ xuân năm 2008 ở vùng đất đồi Quảng Bình, Khoa học Đất số 32-2009, Trang 35 – 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu bước đầu về ảnh hưởng của vật liệu che phủ đất đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc vụ xuân năm 2008 ở vùng đất đồi Quảng Bình
Tác giả: Nguyễn Ích Tân, Thân Thế Hùng
Nhà XB: Khoa học Đất
Năm: 2009
22. Nguyễn Hữu Tề, Đoàn Văn Điếm, Lê Duy Thước, Phạm Chí Thành (1994), Nghiên cứu hệthống cây trồng hợp lý trên vùng đồi gò, cao hạn, bạc màu huyện Sóc Sơn Hà Nội, Kết quả nghiên cứu khoa học khoa Trồng trọt, Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hệ thống cây trồng hợp lý trên vùng đồi gò, cao hạn, bạc màu huyện Sóc Sơn Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Hữu Tề, Đoàn Văn Điếm, Lê Duy Thước, Phạm Chí Thành
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1994
23. Nguyễn Quang Tin và Đỗ Trọng Hiếu, Nguyễn Việt Cường. Nghiên cứu áp dụng các giải pháp kỹ thuật và thị trường nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất ngô và đậu tương hàng hoá tại một số tỉnh miền núi phía Bắc. Đề tài nghiên cứu khoa học Bộ NN&amp;PTNT (2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu áp dụng các giải pháp kỹ thuật và thị trường nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất ngô và đậu tương hàng hoá tại một số tỉnh miền núi phía Bắc
Tác giả: Nguyễn Quang Tin, Đỗ Trọng Hiếu, Nguyễn Việt Cường
Nhà XB: Đề tài nghiên cứu khoa học Bộ NN&amp;PTNT
Năm: 2012
24. Nguyễn Quang Tin và Đỗ Trọng Hiếu, Nguyễn Thị Biển, Lê Việt Dũng. Nghiên cứu áp dụng các loại cây che bóng, che phủ cải tạo đất trong phát triển nông nghiệp bền vững vùng miền núi phía Bắc. Đề tài nghiên cứu khoa học Bộ NN&amp;PTNT (2012) 25. Phạm Chí Thành, Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng (1993), Hệ thống nông nghiệp,NXB Nông nghiệp, 7 – 11 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống nông nghiệp
Tác giả: Phạm Chí Thành, Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
26. Hà Đình Tuấn, Sử dụng biện pháp che phủ đất để canh tác đất dốc bền vững. Tạp chí Nông Lâm kết hợp ngày nay (Agroforestry today). Số 4, quý I, (2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng biện pháp che phủ đất để canh tác đất dốc bền vững
Tác giả: Hà Đình Tuấn
Nhà XB: Tạp chí Nông Lâm kết hợp ngày nay (Agroforestry today)
Năm: 2000
27. Hà Đình Tuấn. 2005. Một số loài cây che phủ đất phục vụ phát triển bền vững nông nghiệp vùng cao (Tái bản lần 1 có bố sung). NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số loài cây che phủ đất phục vụ phát triển bền vững nông nghiệp vùng cao (Tái bản lần 1 có bố sung)
Tác giả: Hà Đình Tuấn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2005
28. Hà Đình Tuấn, Lê Quốc Doanh, (2006). Nghiên cứu áp dụng các biện pháp che phủ đất phục vụ phát triển bền vững nông nghiệp vùng cao. Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ , giai đoạn 2001 – 2005, Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, NXB nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu áp dụng các biện pháp che phủ đất phục vụ phát triển bền vững nông nghiệp vùng cao
Tác giả: Hà Đình Tuấn, Lê Quốc Doanh
Nhà XB: Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc
Năm: 2006
31. Trần Đức Viên (1996), Vùng cao phía Bắc Việt Nam và các hệ canh tác Nông nghiệp trên đất dốc: Thách thức và Tiềm năng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng cao phía Bắc Việt Nam và các hệ canh tác Nông nghiệp trên đất dốc: Thách thức và Tiềm năng
Tác giả: Trần Đức Viên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
32. Trần Đức Viên (2001), Kinh nghiệm quản lý đất bỏ hoá sau nương rẫy ở Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quản lý đất bỏ hoá sau nương rẫy ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đức Viên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
33. Anja B. and Alain A (2005), Soil and Water Conservation and crops rotaion with Leguminous shrubs- Acase of study on Runoff and Soil loss under natural rainfall in waestern Kenya, Proceedings of the III World Congress on Conservation Agriculture, 3-7 October 2005, Nairobi, Kenya Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soil and Water Conservation and crops rotaion with Leguminous shrubs- Acase of study on Runoff and Soil loss under natural rainfall in waestern Kenya
Tác giả: Anja B., Alain A
Nhà XB: Proceedings of the III World Congress on Conservation Agriculture
Năm: 2005
34. Bell L.C and Edwards D.G (1986), The role of aluminum in acid soil infertility, Soil management under humid conditions in Asia and Pacific, IBSRAM proceedings, No 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of aluminum in acid soil infertility
Tác giả: Bell L.C, Edwards D.G
Nhà XB: IBSRAM
Năm: 1986
35. Dregne, H.E. 1992. Erosion and soil productivity in Asia. J.Soil water conservation… Sách, tạp chí
Tiêu đề: Erosion and soil productivity in Asia
Tác giả: Dregne, H.E
Nhà XB: J.Soil water conservation
Năm: 1992
36. Daimen Hauswirth, Hoang Xuan Thao, Nguyen Quang Tin, Dam Quang Minh, Nguyen Van Sinh, Le Viet Dung, Nguyen Phi Hung, Hà Dinh Tuan (2012). Potential of CA as an alternative to maize monocropping in mountainous areas of Vietnam. The 3 rd international conference on conservation Agriculture in Southeast Asia, Ha Noi,10 th – 15 th December, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Potential of CA as an alternative to maize monocropping in mountainous areas of Vietnam
Tác giả: Daimen Hauswirth, Hoang Xuan Thao, Nguyen Quang Tin, Dam Quang Minh, Nguyen Van Sinh, Le Viet Dung, Nguyen Phi Hung, Hà Dinh Tuan
Nhà XB: The 3rd international conference on conservation Agriculture in Southeast Asia
Năm: 2012
37. FAO (1995), The Conservation of Land in Asia and the Pacific (CLASP), FAO, Rome 38. Garrity D.P. and others (1993), The Philippines sustainable agriculture and the environmentin the humid tropics, National Academy Press, Washington DC, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Conservation of Land in Asia and the Pacific (CLASP)
Tác giả: FAO
Nhà XB: FAO
Năm: 1995
39. Grifing, B, 1990, Concep of general and specific combination abitility in relation to diallen crrosing systems, Australia J. Biol.Sci, 1956.463-493. Hallauer, A.R-Lecture for CIMMYT advance course of maize improvement. CIMMYT, El Batan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Concep of general and specific combination abitility in relation to diallen crrosing systems
Tác giả: Grifing, B, Hallauer, A.R
Nhà XB: CIMMYT
Năm: 1990
40. Meane L. M. (1996), The use and requirement of nutrients for sustainable food prodution in Asia: current review IMPHOS - AARD/CSAR international conference in Asia and IFA - FADINAD regional meeting, Bali, Indonesia December 9 – 12, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The use and requirement of nutrients for sustainable food prodution in Asia: current review
Tác giả: Meane L. M
Nhà XB: IMPHOS - AARD/CSAR international conference in Asia
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Diễn biến nhiệt độ và lượng mưa các tháng trong năm tại Văn Chấn - nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc huyện văn chấn – yên bái
Hình 3.1 Diễn biến nhiệt độ và lượng mưa các tháng trong năm tại Văn Chấn (Trang 48)
Bảng  3.1 : Cơ cấu các loại đất tự nhiên huyện Văn Chấn - nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc huyện văn chấn – yên bái
ng 3.1 : Cơ cấu các loại đất tự nhiên huyện Văn Chấn (Trang 50)
Bảng 3.2: Cơ cấu dân số, lực lượng lao động huyện Văn Chấn - 2012 - nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc huyện văn chấn – yên bái
Bảng 3.2 Cơ cấu dân số, lực lượng lao động huyện Văn Chấn - 2012 (Trang 52)
Bảng 3.4 : Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng 1 số loại cây trồng nông - nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc huyện văn chấn – yên bái
Bảng 3.4 Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng 1 số loại cây trồng nông (Trang 55)
Hình 3.3: Diễn biến diện tích cây trồng và năng suất ngô - nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc huyện văn chấn – yên bái
Hình 3.3 Diễn biến diện tích cây trồng và năng suất ngô (Trang 59)
Bảng 3.5: Mức độ đầu tư và thời vụ gieo trồng ngô của các xã điều tra - nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc huyện văn chấn – yên bái
Bảng 3.5 Mức độ đầu tư và thời vụ gieo trồng ngô của các xã điều tra (Trang 61)
Bảng 3. 7: Ảnh hưởng của k ỹ thuật canh tác đến xói mòn đất tại Văn Chấn, Yên Bái - nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc huyện văn chấn – yên bái
Bảng 3. 7: Ảnh hưởng của k ỹ thuật canh tác đến xói mòn đất tại Văn Chấn, Yên Bái (Trang 65)
Bảng 3.8: Thành phần cỏ dại xuất hiện trong canh tác ngô tại xã Cát Thịnh - nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc huyện văn chấn – yên bái
Bảng 3.8 Thành phần cỏ dại xuất hiện trong canh tác ngô tại xã Cát Thịnh (Trang 67)
Bảng 3.11 : Nhu cầu lao động trong hoạt động sản xuất ngô đất dốc tại huyện Văn Chấn năm 2014 - nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc huyện văn chấn – yên bái
Bảng 3.11 Nhu cầu lao động trong hoạt động sản xuất ngô đất dốc tại huyện Văn Chấn năm 2014 (Trang 73)
Hình 3.4. Nhu cầu lao động của các biện pháp kỹ thuật - nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc huyện văn chấn – yên bái
Hình 3.4. Nhu cầu lao động của các biện pháp kỹ thuật (Trang 75)
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật đến hiệu quả kinh tế của hệ - nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc huyện văn chấn – yên bái
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật đến hiệu quả kinh tế của hệ (Trang 77)
Hình 3.6: Các kênh thông tin nông nghiệp mà nông hộ tiếp nhận - nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc huyện văn chấn – yên bái
Hình 3.6 Các kênh thông tin nông nghiệp mà nông hộ tiếp nhận (Trang 82)
Sơ đồ 3.1: Mối liên hệ giữa các tổ chức, thành phần đến việc - nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc huyện văn chấn – yên bái
Sơ đồ 3.1 Mối liên hệ giữa các tổ chức, thành phần đến việc (Trang 85)
Sơ đồ 3.3: Các yếu tố khó khăn tác động đến việc áp dụng kỹ thuật canh tác - nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc huyện văn chấn – yên bái
Sơ đồ 3.3 Các yếu tố khó khăn tác động đến việc áp dụng kỹ thuật canh tác (Trang 90)
Bảng 3.16: Kết quả xếp hạng các khó khăn cần ưu tiên giải quyết khi áp dụng - nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc huyện văn chấn – yên bái
Bảng 3.16 Kết quả xếp hạng các khó khăn cần ưu tiên giải quyết khi áp dụng (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w