PHẦN I MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Xây dựng cánh đồng mẫu là chủ trương của ngành nông nghiệp nước ta, nhằm mục đích thực hiện quy trình sản xuất khép kín với sự liên kết của
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN DƯỢC THẢO
NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG CÁNH ĐỒNG MẪU TẠI HUYỆN YÊN DŨNG – BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN DƯỢC THẢO
NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG CÁNH ĐỒNG MẪU
TẠI HUYỆN YÊN DŨNG – BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ : 60.34.04.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN PHƯỢNG LÊ
HÀ NỘI, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Học viên
Nguyễn Dược Thảo
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận
văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế với đề tài: “Nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cánh đồng mẫu tại huyện Yên Dũng – Bắc Giang”
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế
và PTNT – Trường Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và định hướng cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Tiến sỹ Nguyễn Phượng Lê đã dành nhiều thời gian và tâm huyết, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các thành viên Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Yên Dũng, các tổ chức lãnh đạo huyện cùng tổ chức lãnh đạo các xã trong huyện đã cung cấp những số liệu cần thiết và giúp đỡ tôi rất tận tình trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tại địa bàn
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp
đỡ tôi hoàn thành quá trình học tập và nghiên cứu đề tài của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Học viên
Nguyễn Dược Thảo
Trang 5MỤC LỤC
2.1 Cơ sở lý luận về sự tham gia của người dân trong xây dựng “cánh
2.1.2 Lý luận về sự tham gia của người dân trong xây dựng cánh đồng mẫu 8 2.1.3 Đặc điểm của sự tham gia của người dân trong xây dựng cánh đồng mẫu 12
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong xây
Trang 63.2 Phương pháp nghiên cứu 33
4.1 Quá trình xây dựng cánh đồng mẫu ở huyện Yên Dũng 37 4.1.1 Tổ chức bộ máy chỉ đạo xây dựng cánh đồng mẫu 37 4.1.2 Quá trình dồn điền đổi thửa, xây dựng vùng sản xuất 38
4.2 Sự tham gia của người dân trong xây dựng cánh đồng mẫu 44 4.2.1 Sự tham gia của người dân vào quá trình hình thành cánh đồng mẫu 45 4.2.2 Sự tham gia của người dân trong kêu gọi và lựa chọn doanh nghiệp
4.2.3 Sự tham gia của người dân trong xác định giống cây trồng 57 4.2.4 Sự tham gia của người dân vào quá trình sản xuất 60 4.2.5 Sự tham gia của người dân trong quá trình tiêu thụ 66 4.2.6 Đánh giá của người dân về lợi ích khi tham gia sản xuất trên cánh
4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân
trong xây dựng “cánh đồng mẫu” tại huyện Yên Dũng 72 4.3.1 Nguồn lực của hộ (đất đai, nhân lực, vật lực) 73 4.3.2 Phong tục tập quán canh tác của người dân tại địa phương 75 4.3.3 Vai trò của chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể xã hội 75 4.3.4 Hiệu quả của các CĐM trên địa bàn đã triển khai 76 4.3.5 Đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước 77 4.3.6 Trình độ, năng lực của cán bộ địa phương và cán bộ nông nghiệp 78
Trang 74.3.7 Đánh giá các thuận lợi, khó khăn của người dân khi tham gia xây
4.3.8 Một số kinh nghiệm rút ra khi huy động sự tham gia của người dân
vào xây dựng cánh đồng mẫu và trong quá trình triển khai thực hiện 83 4.4 Một số giải pháp tăng cường sự tham gia của người dân trong xây
4.4.1 Giải pháp tăng cường sự tham gia của cán bộ địa phương và các
4.4.2 Giải pháp về tăng cường sự tham gia của người dân trong xây dựng CĐM 93 4.4.3 Giải pháp về tăng cường sự tham gia của DN trong xây dựng CĐM 88 4.4.4 Giải pháp tăng cường liên kết “4 nhà” 89
Trang 8NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
SX&TM Sản xuất và thương mại
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
Trang 94.1 Phân tích hiệu quả kinh tế của việc sản xuất theo mô hình CĐM
thay cho việc sản xuất đại trà vụ Xuân 2014 43 4.2 Kết quả xây dựng cánh đồng mẫu huyện Yên Dũng giai đoạn 2012 - 2014 44 4.3 Sự tham gia của người dân trong hoạt động xây dựng CĐM tại
4.4 Các phương tiện cung cấp thông tin về dồn điền, đổi thửa 46 4.5 Lý do tham gia dồn điền, đổi thửa của người dân 47 4.6 Hoạt động người dân tham gia trong buổi họp về dồn điền, đổi thửa 48 4.7 Khó khăn người dân gặp phải khi tham gia dồn điền, đổi thửa 50 4.8 Hình thức đóng góp xây dựng vùng sản xuất 53 4.9 Hình thức kêu gọi doanh nghiệp tham gia liên kết 54 4.10 Các doanh nghiệp tham gia trong CĐM huyện Yên Dũng giai đoạn
Trang 104.16 Khó khăn của người dân khi liên kết với DN tiêu thụ 67 4.17 Lợi ích người dân nhận được khi tham gia cánh đồng mẫu 71 4.18 Một số thông tin chung về các hộ điều tra 74 4.19 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào cánh
4.20 Bộ công cụ SWOT nhằm phân tích những thuận lợi và khó khăn
Trang 11DANH MỤC HỘP
4.1 Ý kiến của cán bộ thôn về khó khăn khi vận động người dân tham
4.2 Ý kiến của cán bộ xã về kết quả dồn điền đổi thửa 49 4.3 Ý kiến của người dân về việc lựa chọn giống cây trồng sản xuất 58 4.4 Ý kiến của doanh nghiệp trong xác định giống cây trồng 59 4.5 Ý kiến của người dân về việc được hỗ trợ trong sản xuất 64 4.6 Ý kiến của cán bộ thôn về khó khăn của người dân khi tiêu thụ 68
Trang 12DANH MỤC SƠ ĐỒ
4.1 Mô hình tổ chức bộ máy chỉ đạo xây dựng CĐM huyện Yên Dũng 38 4.2 Sự tham gia của người dân vào quá trình sản xuất trên CĐM 63 4.3 Quá trình tiêu thụ sản phẩm của hộ dân tham gia sản xuất trên CĐM
Trang 13PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng cánh đồng mẫu là chủ trương của ngành nông nghiệp nước ta, nhằm mục đích thực hiện quy trình sản xuất khép kín với sự liên kết của 4 nhà (Nhà nông - Nhà nước - Nhà doanh nghiệp - Nhà khoa học) để áp dụng qui trình
kỹ thuật thâm canh đồng bộ theo hướng “ba giảm – ba tăng” nhằm giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất lúa, tăng lợi nhuận, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn
vị diện tích và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái Kết quả sau ba năm thực hiện xây dựng mô hình cánh đồng mẫu cho thấy, đây là phương thức tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phù hợp điều kiện nước ta, mang lại kết quả tích cực trong sản xuất nông nghiệp, được nông dân, doanh nghiệp và các địa phương hưởng ứng Yêu cầu xây dựng mô mình cánh đồng mẫu là điều kiện sản xuất phải trên diện tích liền vùng, liền thửa, áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, công tác quản lý đồng ruộng Điều này đòi hỏi cần có sự vào cuộc mạnh mẽ của các ban, ngành, đoàn thể và đặc biệt sự tham của người dân là yếu tố không thể thiếu góp phần đảm bảo tính bền vững, hiệu quả trong xây dựng mô hình cánh đồng mẫu
Bắc Giang là một tỉnh miền núi, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Trước đây, do canh tác theo kiểu manh mún, nhỏ lẻ nên tình trạng “trúng mùa - rớt giá”,
“trúng giá - mất mùa” là cái vòng lẩn quẩn mà người nông dân không thể nào thoát được Trước tình hình này, mô hình cánh đồng mẫu đã được ngành nông nghiệp tỉnh triển khai, để giúp nông dân giảm chi phí, ổn định đầu ra, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất Từ năm 2012, tỉnh đã xây dựng thí điểm thành công 2 cánh đồng mẫu tại huyện Yên Dũng với quy mô 50 ha/cánh đồng và là một trong các tiêu chí xây dựng nông thôn mới của huyện Thực tế cho thấy, mô hình cánh đồng mẫu rất phù hợp với nhu cầu của địa phương, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người nông dân Mô hình đang bước đầu khẳng định được hiệu quả cả về mặt kinh tế và
xã hội, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân trong chuyển đổi
Trang 14phương thức canh tác và đầu tư trong sản xuất lúa, xây dựng vùng hàng hóa lớn tập trung, góp phần thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh
Huyện Yên Dũng là một trong những địa phương đi đầu và đang rất thành công trong việc dồn điền, đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu nhằm áp dụng cơ giới hóa, khoa học kỹ thuật vào sản xuất Tuy nhiên, để có được thành công của
mô hình cánh đồng mẫu, địa phương đã trải qua không ít những khó khăn, bỡ ngỡ nhưng nhờ sự quyết tâm của Đảng ủy, chính quyền, cùng sự đồng thuận của bà con nông dân trong huyện mà mô hình cánh đồng mẫu đang hứa hẹn mở ra một phương thức canh tác mới đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho người nông dân
Qua ba năm triển khai, bên cạnh những kết quả tích cực đạt được, sự tham gia của một bộ phận người dân vào xây dựng cánh đồng mẫu ở đây còn hạn chế do
họ chưa nhận biết đầy đủ lợi ích của việc tham gia cánh đồng mẫu, chưa mạnh dạn tham gia sản xuất cũng như chưa yên tâm trong quá trình tiêu thụ sản phẩm Bên cạnh đó, trình độ người nông dân không đồng đều, có thói quen sản xuất nhỏ lẻ, theo truyền thống nên việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện và việc áp dụng khoa học kỹ thuật, qui trình sản xuất mới còn một số khó khăn Ngoài ra, mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp chưa chặt chẽ do chưa nhiều doanh nghiệp tham gia việc tiêu thụ sản phẩm, chưa có sự hỗ trợ lẫn nhau một cách có hiệu quả để cùng
có lợi
Để tìm hiểu rõ hơn về các vấn đề nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cánh đồng mẫu tại huyện Yên Dũng – Bắc Giang”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng sự tham gia của người dân trong xây dựng cánh đồng mẫu, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường sự tham gia của người dân trong xây dựng cánh đồng mẫu tại huyện Yên Dũng - Bắc Giang
Trang 15- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong xây dựng cánh đồng mẫu tại huyện Yên Dũng
- Đề xuất các giải pháp tăng cường sự tham gia của người dân tại địa phương trong xây dựng cánh đồng mẫu
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu
- “Cánh đồng mẫu” là gì? Sự tham gia của người dân trong xây dựng cánh đồng mẫu được thể hiện như thế nào?
- Thực trạng sự tham gia xây dựng cánh đồng mẫu của người dân tại huyện Yên Dũng ra sao?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong xây dựng cánh đồng mẫu tại huyện?
- Làm thế nào để tăng cường sự tham gia của người dân tại địa phương trong xây dựng cánh đồng mẫu trong thời gian tới?
1.2.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.2.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Sự tham gia của người dân trong việc xây dựng cánh đồng mẫu Trong đó, chủ thể nghiên cứu là: chính quyền địa phương, nhà khoa học, doanh nghiệp, người dân có đất trong mô hình CĐM
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong việc xây dựng CĐM
1.2.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang Phạm vi về thời gian:
- Thời gian thu thập số liệu thứ cấp: Các số liệu có sẵn từ 2012- 2014
- Thời gian thu thập số liệu mới: Trong năm 2014 và 2015
- Thời gian triển khai nghiên cứu: Từ tháng 03/2014 đến tháng 04/2015 Phạm vi về nội dung:
Nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng CĐM bao gồm:
- Sự tham gia của Nhà nước (chính quyền địa phương)
- Sự tham gia của các nhà khoa học (cán bộ nông nghiệp)
- Sự tham gia của các doanh nghiệp
- Sự tham gia của người nông dân có đất trong xây dựng CĐM
Trang 16PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận về sự tham gia của người dân trong xây dựng “cánh đồng mẫu”
2.1.1 Một số vấn đề về “cánh đồng mẫu”
2.1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của “cánh đồng mẫu”
Việc xây dựng cánh đồng mẫu hay cánh đồng mẫu lớn là đòi hỏi tất yếu của phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa Hiện nay, ruộng đất trong nông nghiệp Việt Nam phân tán và manh mún Cả nước hiện có 12,6 triệu hộ nông dân Bình quân mỗi hộ có 2,2 lao động, canh tác trên 0,4-1,2 ha Số hộ có diện tích dưới 0,5 ha chiếm tới 61,2% Nhiều nơi ở đồng bằng sông Hồng và miền Trung chỉ dưới 0,3 ha/hộ, cá biệt có xã quy mô đất sản xuất dưới 0,1 ha/hộ (Đỗ Kim Chung, 2012) Sự phân tán và manh mún như vậy sẽ cản trở sự phát triển nông nghiệp hiện đại và hiệu quả Để phát triển được nông nghiệp hàng hóa cần thiết phải có sản xuất nông nghiệp tập trung, quy mô lớn Vì vậy, việc xây dựng CĐML là tất yếu và là cụ thể hóa của chủ trương xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm thông qua hình thức hợp đồng
Theo Đỗ Kim Chung (2012), “Cánh đồng mẫu lớn” là tên gọi của nông dân Nam Bộ, thể hiện rằng đó là một cánh đồng trồng một hay vài loại giống cây trồng với diện tích lớn, có cùng thời vụ và quy trình sản xuất, gắn sản xuất với đảm bảo cung ứng về số lượng và chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của thị trường Về bản chất, CĐML thể hiện sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, tập trung quy mô lớn
Theo quan điểm của Vũ Trọng Bình (2014), “Cánh đồng mẫu lớn” là những cánh đồng có thể một hoặc nhiều chủ, nhưng có cùng qui trình sản xuất, cùng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, cung ứng đồng đều và ổn định về số lượng và chất lượng theo yêu cầu thị trường dưới một thương hiệu nhất định”
Tuy nhiên, không có một quan điểm chính xác nào về “cánh đồng mẫu” nhưng từ quan điểm trên ta có thể rút ra kết luận: “Cánh đồng mẫu” là những
Trang 17cánh đồng trên đó nông dân cùng nhau thực hiện sản xuất theo một quy trình chung trong tất cả các khâu từ đầu vào cho tới đầu ra Nó chỉ khác CĐML là quy
mô diện tích cánh đồng phải đủ lớn theo theo tiêu chí xây dựng CĐM của từng địa phương
Ví dụ, do tỉnh Bắc Giang là tỉnh miền núi nên quy mô diện tích CĐM được quy định như sau: 20 ha trở lên (các xã thuộc huyện miền núi) và 30 ha trở lên (các xã, thị trấn còn lại) đối với CĐM sản xuất lúa, lạc; 10 ha trở lên (các xã thuộc huyện miền núi) và 20 ha trở lên (các xã, thị trấn còn lại) đối với CĐM sản xuất khoai tây chế biến, rau chế biến Trong khi đó, theo tiêu chí xây dựng CĐML do Phạm Văn Dư, Lê Thanh Tùng (2011) biên soạn, quy mô CĐML được quy định là 300-500 ha xuất phát từ thực tiễn sản xuất lúa ở ĐBSCL và các tỉnh trên cả nước
Như vậy, từ quan điểm về đặc trưng CĐML của Đỗ Kim Chung (2012),
có thể xem CĐM cũng có những đặc trưng cơ bản tương tự như sau:
- Là cánh đồng trồng cây hàng năm như lúa, rau, màu Đặc điểm này giúp phân biệt với các vườn cây cao su, cà phê hay chè
- Diện tích trồng cây trồng đó trên cánh đồng phải đủ lớn theo tiêu chí xây dựng CĐM của từng địa phương Không có một quy định cụ thể về diện tích cho một CĐM Quy mô diện tích của cánh đồng khác nhau theo đặc điểm kinh tế - tự nhiên và xã hội của mỗi địa phương, nhưng phải đủ lớn để sử dụng hợp lý và hiệu quả mô hình thủy lợi, máy làm đất, máy xạ, hệ thống sấy phơi và cung cấp hàng hóa cho thị trường Theo quan điểm này, từ “mẫu” ở đây được hiểu là “hình mẫu” trên các phương diện tổ chức sản xuất trên quy mô đủ lớn, cùng áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến, cùng thời vụ sinh trưởng và phát triển, gắn sản xuất với thị trường
- Cánh đồng có thể có một hay nhiều hộ canh tác Đặc điểm này nói lên rằng, cánh đồng có thể do một chủ (do kết quả của tích tụ và tập trung ruộng đất) nhưng cũng có thể do nhiều hộ canh tác trên cánh đồng đó
- Cánh đồng sản xuất cùng một loại giống cây trồng để phù hợp với nhu cầu thị trường Đặc điểm này đòi hỏi, để có CĐM thì cánh đồng đó phải là sản xuất ra
Trang 18sản phẩm hàng hóa có chất lượng tốt Để có sản phẩm hàng hóa có chất lượng tốt phải đồng nhất về giống và chất lượng giống, tạo ra sự sinh trưởng đồng đều về thời vụ, tiện cho áp dụng một quy trình kỹ thuật tiên tiến trong các khâu làm đất, tưới nước, gieo xạ, bảo vệ thực vật, thu hoạch, phơi, sấy, chế biến và tiêu thụ
- Có sự liên kết chặt chẽ giữa DN và nông dân DN nắm vững nhu cầu thị trường, đặt hàng cho nông dân, cung cấp đầu vào, hướng dẫn kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm Nông dân thực hiện các khâu theo quy trình hướng dẫn và bán sản phẩm cho DN Đặc điểm này được kể ra cuối cùng nhưng lại là quan trọng nhất Chỉ có sự liên kết giữa DN với nông dân trong chuỗi giá trị rõ ràng và minh bạch thì mới có thể tạo ra CĐM
- Có hiệu quả sản xuất và tiêu thụ cao Đặc trưng này là cuối cùng nhưng lại
là quan trọng nhất CĐM phải có đảm bảo đồng đều về năng suất, năng suất cao
và chất lượng sản phẩm tốt Do đó, thu nhập trên một đơn vị diện tích, đồng vốn đầu tư phải cao Lợi ích của nông dân, của nhà DN được đảm bảo Với nghĩa đó,
từ “mẫu” còn thể hiện làm mẫu về hiệu quả sản xuất cho các địa phương khác
2.1.1.2 Vai trò của cánh đồng mẫu
Cũng giống như vai trò của CĐML do Đỗ Kim Chung (2012) đã nêu ra, CĐM có vai trò quan trọng cho phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa
- Gắn sản xuất nông nghiệp với chế biến và tiêu thụ, gắn sản xuất với thị trường Sản xuất trên quy mô thể hiện sự liên kết giữa người chế biến và tiêu thụ sản phẩm Việc sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo quy mô lớn để đáp ứng tốt hơn đòi hỏi của thị trường về nông phẩm
- Do sản xuất trên quy mô đủ lớn, nên tạo điều kiện ứng dụng được quy trình sản xuất tiên tiến để tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm
- Tạo điều kiện cho nông dân tiết kiệm được chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất
- Giúp nông dân sản xuất nhỏ liên kết nhau lại, hình thành kinh tế hợp tác để nâng cao năng lực cạnh tranh của nông dân sản xuất nhỏ
- Góp phần làm cho nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững
Trang 192.1.1.3 Tiêu chí xây dựng cánh đồng mẫu
Không có một quy định chung nào về tiêu chí xây dựng CĐM Các địa phương khác nhau có hướng dẫn tiêu chí xây dựng CĐM khác nhau, tùy vào đặc điểm tự nhiên, KT-XH của địa phương đó Dựa trên Hướng dẫn số 128/HD-SNN của Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Bắc Giang ngày 20/02/2014 về hướng dẫn tiêu chí xây dựng CĐM, ta có thể xác định tiêu chí xây dựng CĐM như sau:
a) Về quy hoạch và lựa chọn địa điểm
- CĐM sản xuất các cây trồng phù hợp với các quy định sử dụng đất, quy hoạch phát triển nông nghiệp và quy hoạch xây dựng NTM đến năm 2020 của huyện, xã Có điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi để đầu tư thâm canh sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của các cây trồng hàng hóa tập trung để có hiệu quả kinh tế cao, sản xuất bền vững Ưu tiên xây dựng CĐM đã DĐĐT hoặc ở những nơi ruộng đất không manh mún để có điều kiện áp dụng tiến bộ kỹ thuật và cơ giới hóa vào sản xuất
- Có kế hoạch sản xuất CĐM được UBND xã, thị trấn phê duyệt
b) Về quy mô diện tích
- CĐM sản xuất lúa, lạc, diện tích liền vùng, liền khoảnh tối thiểu 20 ha trở lên đối với các xã thuộc huyện miền núi, 30 ha trở lên đối với các xã, thị trấn còn lại
- CĐM sản xuất khoai tây chế biến, rau chế biến, rau an toàn diện tích liền vùng, liền khoảnh tối thiểu 10 ha trở lên đối với các xã thuộc huyện miền núi, 20 ha trở lên đối với các xã, thị trấn còn lại
c) Áp dụng cơ giới và quy trình kỹ thuật
- Nông dân tự nguyện tham gia và cam kết thực hiện đúng quy trình kỹ thuật do Phòng NN&PTNT hoặc Trạm khuyến nông hướng dẫn; riêng cánh đồng sản xuất rau an toàn phải áp dụng các quy trình sản xuất rau an toàn theo hướng dẫn của các
cơ quan chuyên môn Sử dụng 100% giống tốt, gieo cấy cùng loại cây trồng, cùng thời vụ, cùng áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất, thu hoạch theo chỉ đạo của cơ quan chuyên môn của tỉnh và huyện
- CĐM phải áp dụng 100% cơ giới hóa khâu làm đất (riêng đối với sản xuất lúa phải áp dụng cơ giới cả khâu thu hoạch
Trang 20d) Về đối tượng cây trồng
- Đối với CĐM sản xuất lúa: sản xuất lúa lai, lúa chất lượng thương phẩm chỉ gieo trồng 01 giống/vụ; sản xuất giống lúa lai, giống lúa thuần chất lượng gieo trồng tối đa 02 giống/vụ, gieo cấy thành vùng sản xuất tập trung trên cánh đồng
- Đối với CĐM sản xuất lạc giống, lạc thâm canh: sản xuất 01 giống/vụ
- Đối với CĐM sản xuất khoai tây chế biến: sản xuất 01 giống/vụ
- Đối với CĐM sản xuất rau an toàn, rau chế biến: Cây trồng chính trên cánh đồng phải đạt tối thiểu 60% diện tích/vụ, các cây trồng còn lại phải cùng nhóm sản phẩm với cây trồng chính
e) Phương án sản xuất
- CĐM phải sản xuất tối thiểu 2 năm liên tục (04 vụ sản xuất)
- Một CĐM có thể thực hiện công thức luân canh khác nhau cả lúa và mầu nhưng đối tượng cây trồng cụ thể của từng vụ phải đảm bảo các tiêu chí trên
f) Liên kết sản xuất
- CĐM phải có sự liên kết giữa các hộ dân hoặc thông qua HTX, tổ hợp tác, ký kết hợp đồng kinh tế với DN hoặc đơn vị sự nghiệp thực hiện một trong các nội dung sau: cung ứng vật tư phân bón; thuốc bảo vệ thực vật; giống; chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật; tiêu thụ sản phẩm (riêng khoai tây, rau chế biến cần chỉ đạo ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm)
- Các hộ, nhóm hộ phải thực hiện đúng các cam kết đã ký kết hợp đồng với DN hoặc đơn vị sự nghiệp
g) Hiệu quả kinh tế
- Mô hình cánh đồng mẫu phải có hiệu quả kinh tế cao hơn sản xuất truyền thống (đại trà) tối thiểu 10% giá trị sản xuất trở lên
2.1.2 Lý luận về sự tham gia của người dân trong xây dựng cánh đồng mẫu
2.1.2.1 Khái niệm về sự tham gia
Đây là một khái niệm gây khá nhiều tranh cãi xoay quanh vấn đề vai trò của các bên liên quan của dự án Khởi đầu, người ta xem sự tham gia của người dân chỉ đơn thuần là việc đóng góp sức lao động vào việc thực hiện các hoạt động của dự án
Trang 21Okamura (1986) cho rằng, hình thức tham gia này của người dân chỉ đơn giản giới hạn trong việc thực thi các quyết định, kế hoạch, mục tiêu và hoạt động được Chính phủ hoặc các quan chức khác xây dựng trước (trích dẫn bởi Nguyễn
Lê Tuấn Anh, 2012)
Việc loại bỏ tiếng nói của người dân trong quá trình ra quyết định của dự án
sẽ là một trở ngại cho việc thực thi các hoạt động của dự án Các nghiên cứu về tham gia của viện Văn hóa Philipin cho thấy, khi người dân không được tham gia vào quá trình ra quyết định họ sẽ không có thiện cảm với việc thực hiện dự án, thậm chí họ còn cho rằng dự án là của người ngoài
Thực tế đó đòi hỏi các nhà hoạt động phát triển phải nhìn nhận khái niệm phát triển ở một góc độ rộng hơn Nếu người dân không được tham gia đưa ra ý kiến hoặc chỉ đơn thuần đóng vai trò là đối tác để cán bộ dự án tham khảo ý kiến thì sự tham gia của họ chỉ mang tính hình thức mà thôi Do đó, khi người dân tham gia vào dự án, cần phải đảm bảo rằng họ có quyền quyết định ngang với cán
bộ dự án Ngân hàng thế giới (1994) đã thừa nhận trong khái niệm về tham gia của mình rằng: “Tham gia là việc các bên liên quan của dự án cùng nhau thoả hiệp về việc quản lý và bảo vệ các nguồn lợi Xa hơn, người dân địa phương cần phải được xem là người làm chủ dự án hơn là người hưởng lợi của dự án” (trích dẫn bởi Nguyễn Lê Tuấn Anh) Quan điểm này được sự đồng thuận của Okamura (1986) Ông cho rằng sự tham gia của người dân vào các dự án cần phải được hiểu là một phương tiện trong việc trao quyền cho cộng đồng quản lý và điều hành các hoạt động phát triển
Có thể hiểu một cách đơn giản, sự tham gia có nghĩa là cùng thực hiện một hoạt động nào đó Hàng ngày, con người tham gia vào sự phát triển của địa phương thông qua hoạt động sống của cá nhân và gia đình, các hoạt động sinh kế
và trách nhiệm với cộng đồng Theo quan điểm của Trương Văn Tuyển (2007), sự tham gia là một quá trình cho phép người dân tự tổ chức để xác định nhu cầu, cùng nhau thiết kế, tổ chức thực hiện, đánh giá hoạt động và cùng nhau hưởng lợi từ các
dự án đó Các hoạt động triển khai từ các nguồn lực mà người dân tiếp cận đươc từ Chính phủ hoặc các cơ quan khác nhau Ý nghĩa thực tiễn của sự tham gia không
Trang 22chỉ ẩn chứa mức độ ra quyết định của người dân mà còn ở việc thực hiện các quyết định
đó Vì vậy, trao quyền hay tạo quyền lực là yếu tố quan trọng đối với sự tham gia
Như vậy, sự tham gia của người dân vào dự án là một quá trình bàn bạc cởi mở, bình đẳng giữa cán bộ dự án, các nhà hoạch định chính sách với người dân địa phương Trong đó kiến thức, ý kiến của người dân được khám phá và tôn trọng Họ cần được xem là chủ thể của sự bàn bạc này Kết luận cuối cùng của dự
án hoặc kế hoạch phát triển phải được họ đồng ý
2.1.2.2 Sự tham gia của người dân trong xây dựng cánh đồng mẫu
Trên thực tế, bất kỳ hoạt động phát triển nào đều phải có sự đoàn kết của các bên liên quan thì hoạt động đó mới thành công trọn vẹn và bền vững trong tương lai Xây dựng CĐM là hoạt động giúp người dân hướng đến CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn Người dân tham gia xây dựng CĐM vừa là bên tham gia vừa là bên hưởng lợi nên vai trò sự tham gia của họ là không thể xem nhẹ Trong
đó, vai trò của người dân ở đây được thể hiện: “dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi”, phù hợp với quan điểm
“lấy dân làm gốc” của Đảng ta
- Người dân tham gia trong XD mô hình CĐM bao gồm: Chính quyền địa phương, các hộ nông dân, nhà khoa học, các doanh nghiệp
- Sự chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp với chính quyền địa phương trong tổ chức tuyên truyền, vận động các xã, thôn, hộ nông dân tham gia mô hình Hướng dẫn xây dựng và ban hành Nghị quyết chuyên đề về tổ chức thực hiện xây dựng CĐM; Thành lập ban chỉ đạo xã, xây dựng kế hoạch chi tiết thực hiện và triển khai đến cấp uỷ, ban lãnh đạo các thôn tổ chức vận động, họp dân thông báo các chủ trương, chính sách hỗ trợ và các quy định để thực hiện xây dựng CĐM; tổ chức điều tra, thống kê diện tích, lập danh sách các hộ tham gia
mô hình; đầu tư CSHT cho CĐM của chính quyền địa phương, đặc biệt là thiết
kế lại đồng ruộng thông qua DĐĐT để thuận lợi cho cơ giới hóa, hoàn thiện thủy lợi nội đồng, trạm bơm điện, nâng cấp giao thông đến cánh đồng, hỗ trợ nông dân mua máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, thu hoạch, ưu tiên bảo hiểm nông nghiệp, chính sách khuyến khích DN đầu tư vào CĐM…
Trang 23- Người nông dân được tham gia vào tất cả các bước của quá trình xây dựng CĐM: tham gia vào quá trình hình thành CĐM; tham gia kêu gọi, lựa chọn DN liên kết; tham gia xác định giống cây trồng; tham gia sản xuất; tham gia tiêu thụ sản phẩm
- Khi đã hình thành được CĐM lớn, người nông dân được tổ chức liên kết lại trong mối quan hệ “bốn nhà” và hình thành nên 2 mối liên kết chủ yếu:
+ Mối liên kết ngang: sự liên kết, phối hợp giữa những người nông dân
+ Mối liên kết dọc: sự liên kết, phối hợp giữa người nông dân và DN
Thông qua các mối liên kết bền vững thật sự và ổn định sản xuất với mô hình này để sản xuất theo hướng nâng cao giá trị sản xuất, bằng cách chọn 1 giống hoặc 1 nhóm giống cây trồng có chất lượng cao để hình thành vùng nguyên liệu lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành cơ giới hóa trong sản xuất và làm giảm thất thoát sau thu hoạch; được nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật hướng dẫn thống nhất quy trình trồng và chăm sóc tiên tiến từ khâu chọn giống cây đạt tiêu chuẩn và đồng nhất, làm đất, gieo cấy, bón phân cân đối và sử dụng thuốc BVTV theo nguyên tắc “4 đúng”, đến thu hoạch, phơi phóng và các kỹ thuật canh tác theo các quy tŕnh canh tác tiên tiến như “3 giảm, 3 tăng” hay quy trình
“1 phải, 5 giảm” hoặc tiêu chuẩn VietGap; được DN đầu tư giống, vật tư nông nghiệp và bao tiêu sản phẩm
- Trong quá trình xây dựng và thực hiện sản xuất theo CĐM, nông dân cũng
tự nâng cao được trình độ về nhiều mặt, biết chủ động áp dụng cơ giới hóa, biết cách tính toán để giảm giá thành, giảm các chi phí trung gian, được bao tiêu sản phẩm sẽ tiết kiệm chi phí sản xuất, hiệu quả sản xuất sẽ ngày càng được nâng cao
và đời sống vật chất, tinh thần chắc chắn sẽ sớm có thay đổi tích cực Tổ chức sản xuất theo mô hình CĐM giúp những nông hộ nhỏ lẻ nhận thức được sức mạnh tập thể, ý thức được trách nhiệm đối với chất lượng sản phẩm chung của cộng đồng để giữ gìn uy tín thương hiệu và không ngừng cải tiến giảm giá thành, nâng cao giá trị sản phẩm nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất để vươn ra thị trường thế giới (Vũ Trọng Bình, 2014)
Trang 242.1.3 Đặc điểm của sự tham gia của người dân trong xây dựng cánh đồng mẫu
Theo Vũ Trọng Bình (2014), điểm mấu chốt của “cánh đồng mẫu” là nông dân cùng nhau thực hành sản xuất theo một qui trình chung trong tất cả các khâu
từ sản xuất, quy trình kỹ thuật, quản lý sản xuất, thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm Để làm được điều đó người nông dân phải tổ chức được “hành động tập thể” của họ với nhau theo từng cánh đồng lớn thay vì các hoạt động độc lập, riêng lẻ Từ đó, hình thành nên các mối liên kết giữa người dân với nhau và với
DN Qui trình sản xuất, thu hoạch, bảo quản và thương mại cho DN được thiết lập trên cơ sở yêu cầu của DN, thị trường về khối lượng cung ứng, chất lượng , đây chính là các yếu tổ để nông dân xây dựng hành động tập thể
Mối liên kết ngang giữa người dân với nhau
Câu hỏi đặt ra là: Yếu tố để người nông dân liên kết lại với nhau là gì? Đầu tiên đó phải là lợi ích do hành động tập thể mang lại phải lớn hơn khi hoạt động riêng lẻ Lợi ích của hành động tập thể do thực hiện trên cùng một CĐM bao gồm:
i) Đạt tính kinh tế quy mô
ii) Giảm chi phí sản xuất, chi phí giao dịch
iii) Tăng khả năng tiếp cận công nghệ, nguồn lực sản xuất và thị trường mới iv) Tăng vị thế đàm phán và khả năng cạnh tranh
v) Nâng cao năng lực về tổ chức và nâng cao kiến thức nhờ vào sự chia sẻ kinh nghiệm trong nhóm
vi) Chia sẻ rủi ro Những lợi ích chỉ có được khi hành động tập thể
Bên cạnh các yếu tố kể trên, liên kết nông dân với nhau cũng nhằm để đáp ứng nhu cầu của thị trường tốt hơn Chỉ có liên kết lại, nông dân mới có thể cung cấp sản phẩm đủ lớn về số lượng, đồng đều về chất lượng, kịp thời gian cho nhiều đối tác Nhờ vào liên kết, nông dân mới có khả năng xây dựng và quản lý nhãn hiệu tập thể, tiến hành xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của mình, quản
lý về chất lượng để không những gia tăng giá trị mà còn đáp ứng nhu cầu của thị trường ngày càng tăng đối với sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và bảo đảm an toàn, chất lượng
Trang 25Mối liên kết dọc giữa nông dân với doanh nghiệp
Xây dựng liên kết dọc giữa nông dân và DN tiêu thụ về bản chất là xây dựng kênh tiêu thụ mới trong chuỗi giá trị thông qua loại bỏ bớt tác nhân trung gian giữa người sản xuất và DN, rút ngắn độ dài của kênh tiêu thụ Nếu không có liên kết này, việc tổ chức sản xuất thông qua liên kết ngang không đạt được lợi ích như mong muốn Hiện tại nhiều DN Việt Nam chỉ thực hiện một khâu trong chuỗi giá trị toàn cầu, mà chủ yếu là nhiệm vụ gom thô, hoặc sơ chế đóng gói, có nghĩa là ngay bản thân DN cũng không tiếp cận được với người tiêu dùng thông qua thương hiệu của mình, vì vậy vấn đề kinh doanh của DN còn mang tính thời
vụ, không ổn định Do đó DN không thể tạo mối liên kết ổn định, bền vững với người nông dân dẫn tới người dân không tin tưởng và thường bán tháo sản phẩm cho thương lái, rủi ro cao cho cả DN cũng như người dân
Vì vậy, để xây dựng những CĐM, nông dân chỉ liên kết với những DN có khả năng chế biến sản phẩm, bán sản phẩm trực tiếp, có thương hiệu tới người tiêu dùng thông qua các hệ thống phân phối trong nước hoặc toàn cầu Hoặc những DN
họ đã minh chứng được đã liên kết, là một phần hữu cơ của một chuỗi hàng hóa nào đó trong các khía cạnh về chất lượng, thương hiệu, rủi ro,
Tóm lại, liên kết dọc giữa DN và nông dân dựa trên các yếu tố sau:
- Thứ nhất: Đó là quan hệ mua bán, trong đó DN là người mua nông dân là
người bán sản phẩm Quan hệ mua bán này không mang tính thời vụ, mà nó được thực hiện trên cơ sở cam kết giữa DN và nông dân Trên cơ sở liên kết ngang, sẽ
có một số lượng nông dân nhất định cùng tổ chức thực hiện theo CĐM, DN là tác nhân không thể thiếu, là động lực để nông dân thực hiện hành động tập thể trong xây dựng CĐM Những yếu tố liên kết ngang của nông dân, thực chất cũng là cơ
sở hình thành liên kết dọc với DN về chất lượng sản phẩm, cung ứng, quản trị chuỗi, quản lý thương hiệu sản phẩm Chất lượng, số lượng, giá thành sản xuất của một sản phẩm đưa ra thị trường, được nông dân và DN cùng liên kết thực hiện đồng nhất, quản trị từ sản xuất tới phân phối cho người tiêu dùng Do đó, khi nông dân chưa nhận thức được vai trò của một DN trong một chuỗi thương mại nào đó, thì chưa nên liên kết chặt chẽ để sản xuất vì dễ dẫn tới rủi ro cao
Trang 26- Thứ hai: DN đóng vai trò là người cung ứng dịch vụ phục vụ sản xuất, bao
gồm từ nguyên vật liệu như giống, vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu, máy móc dưới hình thức hiện vật, đến các dịch vụ BVTV, thủy lợi Cung ứng dịch vụ thu hoạch, vận chuyển, bảo quản, lưu trữ và tiêu thụ sản phẩm
- Thứ ba: Giữa DN và nông dân còn có quan hệ chia sẻ thông tin thị trường,
kỹ thuật, kiến thức, cung cấp dịch vụ tài chính và các dịch vụ kinh doanh khác
- Thứ tư: Mối liên kết còn dựa trên quan hệ quản trị trong chuỗi giá trị ở đó
DN và nông dân cùng nhau thực hiện, hoặc DN áp đặt những tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, giá cả, phương thức giao dịch, phương thức thanh toán trong chuỗi Mối liên kết cũng là cơ chế để xây dựng và quản lý nhãn hiệu tập thể một cách có hiệu quả
Đặc điểm cơ bản và cốt lõi của CĐM chính là xây dựng các liên kết ngang
để thực hiện hành động tập thể và liên kết dọc để xây dựng kênh phân phối mới của các tác nhân trong chuỗi giá trị nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường một cách có hiệu quả nhất dựa trên nguyên tắc các bên tham gia bình đẳng và có lợi Điều này cũng có nghĩa là mô hình CĐM cần được hiểu biết ở trên một bình diện rộng hơn, không chỉ là về mặt không gian và còn về mặt tổ chức trong qui hoạch, sản xuất, thương mại theo từng chuỗi sản phẩm Như vậy, một mô hình mà nông dân
tổ chức liên kết sản xuất trên những mảnh ruộng không nằm cạnh nhau nhưng thực hiện cùng một quy trình kỹ thuật sản xuất, quản lý sản xuất, chất lượng sản phẩm tương đồng, có liên kết với DN về cung ứng sản phẩm đầu vào, cung cấp dịch vụ hỗ trợ, bao tiêu sản phẩm đầu ra thì cũng có thể coi mô hình đó là CĐM
Với những phân tích trên, kinh nghiệm xây dựng CĐM nên được nhìn nhận và tổng kết dưới hai góc độ chính:
- Xây dựng liên kết ngang tổ chức nông dân hành động tập thể quy hoạch sản xuất, sản xuất, bán sản phẩm
- Xây dựng liên kết dọc trong chuỗi giá trị trên cơ sở những DN, hoặc tổ chức nông dân đủ khả năng tiếp cận thị trường đầu cuối, liên kết chặt chẽ với các DN khác trong toàn bộ chuỗi giá trị đến tận người tiêu dùng, dưới thương hiệu nhất định
Trang 272.1.4 Nội dung nghiên cứu
2.1.4.1 Sự tham gia của người dân vào quá trình hình thành cánh đồng mẫu
Để hình thành nên CĐM thì trước hết người dân cần tham gia DĐĐT, quy hoạch, xây dựng vùng sản xuất (xây dựng CSHT, giao thông, thủy lợi nội đồng) Trong đó, quá trình vận động, tuyên truyền người dân tham gia DĐĐT qua các phương tiện cung cấp thông tin là bước tiền đề giúp người dân hiểu và tích cực tham gia; sự huy động người dân tham gia đóng góp cũng tác động trực tiếp đến
sự thành công của mô hình
2.1.4.2 Sự tham gia của người dân trong kêu gọi và lựa chọn doanh nghiệp liên kết
Trong quá trình thực hiện, mặc dù nông dân là chủ thể chính nhưng vai trò của các DN ngày càng thể hiện rõ nét trong việc bảo đảm sự thành công của mô hình này Để thể hiện quyền là chủ thể của mình trên CĐM thì việc người dân được tham gia kêu gọi, lựa chọn DN liên kết với mình là rất cần thiết, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của họ Trong đó, vai trò của chính quyền địa phương trong bước này là không thể thiếu
2.1.4.3 Sự tham gia của người dân trong xác định giống cây trồng
Xác định giống cây trồng là bước tiên quyết làm nên thành công của mô hình CĐM và vai trò của người dân trong xác định giống cây trồng là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của họ Trong đó, việc lựa chọn giống cây trồng nào tốt, cho năng suất cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương
và đầu ra được đảm bảo là những điều người dân khi tham gia rất quan tâm
2.1.4.4 Sự tham gia của người dân trong sản xuất
Do thói quen sản xuất truyền thống, nhỏ lẻ nên việc người dân thực hiện theo quy trình sản xuất mới bước đầu còn nhiều bỡ ngỡ Điều này đòi hỏi sự vào cuộc tích cực của cán bộ nông nghiệp trong chuyển giao khoa học, kỹ thuật, hướng dẫn người dân công tác quản lý đồng ruộng, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện để đảm bảo thực hiện đúng theo quy trình sản xuất, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng
Trang 282.1.4.5 Sự tham gia của người dân trong tiêu thụ
Đây là khâu quyết định sự thành công của mô hình, thể hiện sự liên kết giữa người nông dân và DN Sản xuất theo mô hình CĐM mang lại năng suất, hiệu quả cao nhưng nếu nông dân vẫn rơi vào cảnh “được mùa mất giá”, lợi ích không được bảo đảm thì mô hình này cũng không thể bền vững Điều này cho thấy vai trò của DN trong việc bảo đảm sự thành công, sự phát triển bền vững của CĐM là rất quan trọng, đặc biệt là trong vấn đề giải quyết đầu ra của nông phẩm, bảo đảm lợi ích của nông dân
2.1.4.6 Đánh giá của người dân về lợi ích khi tham gia sản xuất trên cánh đồng mẫu
Điều quyết định đến sự thành công của mô hình CĐM được thể hiện ở mong muốn của người dân được tiếp tục tham gia trong các vụ sau khi họ nhận được lợi ích trực tiếp khi tham gia sản xuất trên CĐM (tăng năng suất, chất lượng cây trồng, giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập, tăng kinh nghiệm sản xuất, nhận thức được sức mạnh tập thể ) và sự tham gia tích cực, ổn định của các DN bao tiêu sản phẩm khi
họ nhận thấy các lợi ích (lợi nhuận cao, được hỗ trợ, thu gom dễ dàng, chất lượng sản phẩm cao, đáp ứng nhu cầu thị trường )
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong xây dựng cánh đồng mẫu
2.1.5.1 Nguồn lực của hộ nông dân (đất đai, vật lực, nhân lực)
Là yếu tố tác động trực tiếp đến khả năng tham gia của người dân vào quá trình xây dựng CĐM Trong đó, yếu tố kinh tế hộ (loại hộ) ảnh hưởng trực tiếp tới sự tham gia của người dân Việc đóng góp ngày công lao động, góp tiền hay hiến đất của hộ là rất cần thiết trong việc xây dựng CĐM Ngoài ra, các yếu tố như: giới tính, tuổi, trình độ văn hóa, số nhân khẩu và số lao động chính, ngành sản xuất chính, diện tích đất canh tác/hộ cũng ảnh hưởng lớn đến sự tham gia của người dân
2.1.5.2 Phong tục tập quán canh tác của người dân địa phương
Tập quán cánh tác theo phương pháp truyền thống, sản xuất nhỏ lẻ trên những ruộng đất manh mún đã ăn sâu vào tâm khảm người nông dân từ bao đời nay Yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến sự tham gia của họ vào CĐM Do vậy, việc
Trang 29thay đổi, áp dụng cách thức sản xuất mới đối với người dân một sớm một chiều là không thể Điều này, cần sự tham gia tích cực của chính quyền địa phương các cấp, các ban ngành, đoàn thể trong công tác vận động, tuyên truyền người dân hiểu, thay đổi suy nghĩ và đồng lòng tham gia
2.1.5.3 Vai trò của chính quyền địa phương và các ban ngành, đoàn thể
Có vai trò rất lớn trong công tác tuyên truyền, vận động, tạo cơ hội để người dân tham gia mô hình; Sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, đôn đốc thường xuyên từ quá trình DĐĐT, xây dựng vùng sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm; Liên hệ, tăng cường cán bộ kỹ thuật có chuyên môn về nông nghiệp để giúp đỡ, hướng dẫn, giải quyết các thắc mắc của nông dân
2.1.5.4 Hiệu quả từ mô hình CĐM trên địa bàn đã triển khai
Là yếu tố quyết định đến sự tham gia của người dân vào CĐM ở các vụ sau Khi người nông dân nhận ra các lợi ích như: được hỗ trợ đầu vào, giúp giảm chi phí sản xuất; sản xuất theo quy trình mới giúp tăng năng suất, chất lượng cây trồng; được đảm bảo đầu ra sẽ khuyến khích người dân tham gia vào mô hình và yên tâm hơn khi sản xuất
2.1.5.5 Đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước
Là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng mô hình CĐM, do đó Đảng và Nhà nước cần nắm rõ nhu cầu và tình hình của người dân
để đưa ra các chính sách hợp lý phát triển nông nghiệp bền vững theo hướng CHH – HĐH Bên cạnh đó, cũng cần có sự tham gia của người dân trong việc tham gia đóng góp ý kiến, phản hồi về các chủ trương, chính sách được đưa ra,
để đảm bảo chính sách phù hợp với điều kiện thực tế
2.1.5.6 Trình độ, nhận thức của cán bộ địa phương, cán bộ nông nghiệp
Cán bộ địa phương đóng vai trò hết sức quan trọng trong thực hiện bất kỳ hoạt động phát triển nào tại địa phương Họ là người luôn bám sát và có sức ảnh hưởng lớn tới dân chúng địa phương Họ chính là cầu nối giữa quần chúng nhân dân và Nhà nước, đưa các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước đến với người dân Chính vì vậy, năng lực, nhận thức, trình độ của họ ảnh hưởng rất lớn đến việc tuyên truyền, vận động, chỉ đạo, quản lý, giám sát người dân trong các hoạt động cộng đồng
Trang 302.2 Cơ sở thực tiễn về sự tham gia của người dân trong xây dựng mô hình cánh đồng mẫu
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
Sản xuất rượu nho ở Pháp
Tại các vùng trồng nho ở Pháp, như vùng Bordeaux và nhiều vùng khác, các nhà sản xuất, tổ chức sản xuất của người dân như HTX, hiệp hội, đều thống nhất thực hiện hành động tập thể chung về qui hoạch vùng sản xuất, qui trình sản xuất, qui trình thu hoạch, qui trình chế biến, đóng gói và thương hiệu trên thị trường Những qui trình đó, sau khi được các tổ chức của nông dân thống nhất, đề xuất lên các cơ quan Nhà nước, được công nhận, sẽ trở thành công cụ có tính pháp
lí để kiểm soát các hành động tập thể của nông dân, DN trong sản xuất kinh doanh Các cơ quan nhà nước cũng thực hiện kiểm tra, giám sát theo các cam kết của nông dân Trong các yếu tố liên kết hành động tập thể, đôi khi nhà nước cũng khuyến khích các tổ chức nông dân áp dụng các tiêu chuẩn môi trường sinh thái, đây cũng là cách thức để áp dụng chính sách mới trong sản xuất nông nghiệp (Vũ Trọng Bình và Đặng Đức Chiến, 2012)
Trồng rau ở Phillipines
Tổ chức nông dân nhỏ trồng rau của NorminVeggies ở Phillipines là tổ chức của nông dân thành lập với mong muốn là nơi người nông dân có thể cất lên tiếng nói của mình, là nơi chia sẻ mối quan tâm, cơ hội cũng như hiểu rõ hơn về ngành sản xuất rau để có cơ hội gia tăng thu nhập và cũng là nơi đại diện để đối thoại với chính phủ và những tổ chức khác NorminVeggies là tổ chức phi lợi nhuận, cung cấp dịch vụ cho các thành viên là những nông dân độc lập, các quỹ phát triển, các trang trại, người cung cấp đầu vào và cung cấp dịch vụ, đơn vị thuộc chính quyền địa phương
Trong mô hình này, chính phủ và các nhà tài trợ tư nhân hỗ trợ về tập huấn, công nghệ và phát triển sản phẩm/thị trường, cung cấp khoản tín dụng cho đầu tư vào công nghệ, cũng như các hỗ trợ nhằm duy trì khả năng đáp ứng thị trường của nông dân và giữ được vị thế trên thị trường (Vũ Trọng Bình và Đặng Đức Chiến, 2012)
Trang 31Mô hình liên kết ở Trung Quốc
Từ nhiều năm qua Trung quốc đã thực hiện chiến lược công nghiệp hóa nông nghiệp với khẩu hiệu “một con rồng sản xuất và tiêu thụ” theo 2 cách: (1) Các TCT lớn của Trung Quốc liên kết với nông dân bằng các hợp đồng bao tiêu sản phẩm để mở rộng quy mô kinh doanh của TCT; (2) các TCT sản xuất nông nghiệp mở rộng chức năng sang lĩnh vực tiêu thụ nông sản thông qua các hợp đồng bao tiêu nông sản với các HTX nông nghiệp
Theo mô hình thứ nhất thì TCT sẽ cung cấp hạt giống cho các hộ nông dân trên cánh đồng liên kết, sau đó mua lại sản phẩm của họ, tức là liên kết giữa
“đầu rồng” là TCT với “thân rồng” là toàn bộ các hộ nông dân trong khu vực đó, chứ không phải là sự liên kết chặt chẽ giữa từng thành viên trong chuỗi với nhau
Mô hình thứ hai là nông dân được tổ chức thành các HTX trên cánh đồng liên kết được nhà nước hỗ trợ Các HTX này sẽ mở rộng chức năng từ sản xuất đến tiêu thụ nông sản có sự hướng dẫn của nhà nước Khi bán sản phẩm, các HTX phải gửi mẫu sản phẩm của mình đến TCT và TCT sẽ tiêu thụ các sản phẩm này với cái tên hay thương hiệu của địa phương đó Mô hình có ưu điểm là vừa giúp nông dân sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, qua đó thực hiện được chủ trương xây dựng NTM Tuy nhiên, mô hình này cũng gặp phải khó khăn trong quản lý, đặc biệt là khâu giám sát chất lượng và sản lượng trên từng cánh đồng của từng hộ nông dân, vì người trồng có khi đóng gói cả những sản phẩm kém chất lượng mà người tiêu thụ cuối cùng là TCT phải chịu, hoặc một số hộ đã “tuồn” sản phẩm của mình ra bên ngoài để bán nếu giá cao hơn giá bao tiêu của DN hoặc ngược lại nhận sản phẩm
từ bên ngoài để bán cho DN bao tiêu nếu giá bên trong cao hơn giá bên ngoài
Tại các TCT trên, người nông dân được trực tiếp tham gia vào ban lãnh đạo và có tiếng nói trong mọi vấn đề, từ sản xuất đến thị trường cũng như cách thức thanh toán sản phẩm của họ với DN để đảm bảo một cách công khai và minh bạch (Vũ Quý Hưng, 2015)
Mô hình liên kết ở Australia
Tập đoàn CBH ở miền tây Australia có hai TCT, trong đó một TCT chuyên bao tiêu nông sản cho các hộ nông dân Họ đảm nhận việc thu gom, vận
Trang 32chuyển, lưu kho, bốc xếp, xay sát và tiêu thụ nông sản hàng năm với khối lượng trung bình trên 10 triệu tấn, trong đó có đến 95% cho xuất khẩu Còn nông dân đảm nhiệm việc trồng trọt, thu hoạch, phơi sấy, phân loại theo tiêu chuẩn của TCT TCT thứ hai đảm nhận việc thiết kế, xây lắp các công trình hạ tầng theo hình thức “Chìa khóa trao tay”
Tập đoàn này xuất khẩu đến hơn 20 quốc gia trên thế giới thông qua các sàn giao dịch hàng hóa và sản phẩm của họ gồm có lúa mỳ, lúa mạch, nho và hạt
có dầu… Cổ đông của tập đoàn này lên đến 5.500 Mỗi hộ hàng năm cung cấp bình quân khoảng 2.000 tấn nông sản để xuất khẩu Ban lãnh đạo tập đoàn gồm
có 12 thành viên trong đó có 9 người là đại điện cho các hộ nông dân và 3 thành viên được chỉ định
Phương thức liên kết của tập đoàn này là ứng trước một phần vốn, vật tư cho các hộ nông dân và đến mùa thu hoạch tùy theo từng loại nông sản họ sẽ tổ chức các đội thu gom là nhân viên của tập đoàn tại những địa điểm đã thông báo trước trên trang web của tập đoàn
Khi thu gom, họ sẽ cấp chứng chỉ xác nhận hàng hóa và phẩm cấp cho từng hộ nông dân rồi vận chuyển về kho để chế biến sau thu hoạch Sau khi xuất khẩu từng lô hàng, Tập đoàn sẽ thông báo giá xuất khẩu của lô hàng đó và tiến hành thủ tục thanh toán cho từng hộ một cách minh bạch, công khai trên trang web Do đó nông dân khá yên tâm sản xuất (Vũ Quý Hưng, 2015)
Tóm lại, kinh nghiệm thành công của các nước dựa trên các nguyên tắc:
1 Qui hoạch vùng ổn định cho sản phẩm: Nhà nước phải qui hoạch, minh
bạch rõ ràng vùng sản xuất cho sản phẩm nào đó mang tính lâu dài
2 Xác định và xây dựng được các yếu tố liên kết nông dân, liên kết nông dân
và DN: Qui trình sản xuất, qui chế đóng gói, kế hoạch phân phối theo yêu cầu thị trường, các nguyên tắc quản trị sự liên kết nông dân
3 Vai trò của các tổ chức nông dân trong CĐM: CĐM chỉ thành công khi nông
dân thực sự tổ chức được các tổ chức sản xuất hợp tác của họ Chính các tổ chức nông dân này, phải là một đối tác bình đẳng đủ lớn, đủ mạnh, độc lập bảo vệ quyền lợi kinh tế của nông dân trong đàm phán với DN, chính quyền địa phương trong quy hoạch vùng sản xuất, xây dựng liên kế dọc theo chuỗi ngành hàng với DN
4 Xây dựng chuỗi ngành hàng bền vững: Chuỗi ngành hàng chỉ bền vững khi
Trang 33được xây dựng trên vùng sản xuất ổn định, trên cơ sở liên kết chặt chẽ giữa nông dân, giữa nông dân và DN trên cơ sở cùng chia sẻ rủi ro, hệ thống quản trị chất lượng chung, chia sẻ hợp lý giá trị gia tăng trong chuỗi, có thể cùng quản trị chung thương hiệu sản phẩm
5 Khung thể chế cho CĐM: Sự hình thành CĐM trước tiên dựa trên các chính
sách của nhà nước, đảm bảo cho điều kiện hình thành và phát triển những CĐM gắn với chuỗi ngành hàng
2.2.2 Thực trạng sự tham gia của người dân trong xây dựng cánh đồng mẫu ở Việt Nam
Theo Báo cáo kết quả triển khai mô hình “Cánh đồng mẫu” trong sản xuất
lúa của cả nước trong vụ hè thu 2011 – đông xuân 2011 – 2012 và định hướng phát triển trong thời gian tiếp theo của Nguyễn Trí Ngọc (2012), thì sự tham gia của người dân trong xây dựng CĐM ở một số tỉnh như sau:
Nam Định
Sở Nông nghiệp đã phối hợp với các huyện lựa chọn được 11 xã ở 7 huyện để triên khai xây dựng mô hình Đã phối hợp với các DN tổ chức hội nghị triển khai tới các huyện, xã bàn phương án và giải pháp thực hiện; xây dựng hướng dẫn về kỹ thuật, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị có liên quan
Từ ngày 01 – 08/01/2012 đã tập huấn cho 3.715 nông dân về kỹ thuật thâm canh lúa áp dụng VietGAP
- Các xã, HTX được lựa chọn đã thành lập ban chỉ đạo; xây dựng kế hoạch và
tổ chức thực hiện tốt Tổng số mô hình được triển khai là 12, quy mô và diện tích đạt 565 ha
- Công ty cổ phần phân bón Bình Điền đã cung ứng cho các HTX tham gia
mô hình 137,9 tấn phân bón Đầu trâu các loại với giá gốc, giao hàng tận kho HTX, cho nông dân mua phân chậm trả đến cuối vụ, không tính lãi Đặc biệt Công ty đã hỗ trợ cho nông dân tham gia mô hình 31,8 tấn phân đạm Đầu trâu hạt to 46A+; hỗ trợ mỗi huyện có mô hình là 2,0 triệu đồng, mỗi HTX tham gia
mô hình là 3,0 triệu đồng để điều hành và tổ chức thực hiện
- Công ty CP BVTV An Giang phối hợp với Sở NN & PTNT hướng dẫn các hộ nông dân thực hiện quy trình thâm canh cây trồng hàng tuần, hàng tháng
Trang 34- Sở Nông nghiệp & PTNT đã lồng ghép các chương trình khuyến nông để hỗ trợ các mô hình như: hỗ trợ mua máy làm đất để cơ giới hóa; hỗ trợ sản xuất lúa chất lượng Một số huyện có chính sách hỗ trợ mua công cụ sạ hàng và hỗ trợ 1 phần kinh phí cho các xã xây dựng mô hình CĐM (Nguyễn Trí Ngọc, 2012)
Hà Nội
- Thực hiện chương trình số 02/CTr-TU ngày 31/10/2008 của Thành ủy Hà Nội, UBND TP Hà Nội đã phê duyệt đề án phát triển sản xuất và tiêu thụ rau toàn, chương trình sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao, đề án phát triển một số cây ăn quả giá trị kinh tế cao, đề án phát triển hoa cây cảnh
Nội dung trọng tâm của đề án là xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung Theo đó, qui định vùng sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao quy mô từ 100
ha trở lên, vùng sản xuất rau an toàn, chè an toàn, hoa cây cảnh quy mô 30 ha trở lên, vùng sản xuất cây ăn quả quy mô 50 ha trở lên Vùng sản xuất hàng hóa tập trung được hỗ trợ đào tạo, tập huấn, thăm quan trao đổi kinh nghiệm trong và ngoài thành phố; hỗ trợ giống, vật tư thiết yếu, xúc tiến thương mại, hợp tác 4 nhà, chứng nhận đủ điều kiện sản xuất an toàn, chứng nhận VietGAP, hỗ trợ tem nhãn hàng hóa, cơ giới hóa
- DN cung ứng giống: Công ty CP Giống cây trồng Trung ương, Công ty CP Nông nghiệp Nhiệt đới, Xí nghiệp giống cây trồng Thường Tín, Xí nghiệp giống cây trồng Yên Khê
- DN cung ứng phân bón, thuốc BVTV: Công ty CP phân lân Văn Điển, Công
ty CP phân bón Lâm Thao, Công ty thuốc BVTV An Giang,…
- DN tiêu thụ sản phẩm: Công ty Hưng Trung Việt, Công ty VNF1, Công ty Thái Dương, Công ty CP lương thực Hồng Hà
- Các nhà khoa học của các Viện nghiên cứu: Cây Lương thực và thực phẩm, Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc (Nguyễn Trí Ngọc, 2012)
Khó khăn, hạn chế trong triển khai mô hình cánh đồng mẫu
- Quy mô diện tích đất sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân thấp, manh mún nên khó khăn trong công tác chỉ đạo, điều hành Số hộ nông dân tham gia trong 1
mô hình lớn, trình độ không đồng đều nên việc tiếp thu tiến bộ kỹ thuật còn hạn chế, việc ghi chép nhật ký sản xuất ở nhiều nơi chưa được nông dân thực hiện đầy đủ
Trang 35- Công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch nông nghiệp chưa được tốt, vùng sản xuất hàng hóa thiếu quy hoạch, chắp vá Các công trình hạ tầng cho sản xuất tập trung như thủy lợi, kênh mương và dịch vụ khuyến nông chưa được tốt, khó khăn cho áp dụng cơ giới hóa ở các khâu canh tác
- Một số cán bộ cơ sở và nông dân chưa hiểu hết mục đích, yêu cầu của mô hình CĐM nên có tư tưởng trông chờ vào sự hỗ trợ từ nhà nước, DN Việc triển khai xây dựng CĐM chưa lồng ghép với nội dung xây dựng NTM Nông dân thiếu vốn mua máy để thực hiện cơ giới hóa và còn khó khăn khi tiếp cận tới giống
- DN khi tham gia liên kết chưa công bố rõ ràng tiêu chí về nông phẩm cần thu mua và chưa phổ biến rõ ràng các cam kết của 2 bên tới nông dân Ngay cả ở những nơi đã có sự liên kết giữa DN và nông dân đã xảy ra tình trạng DN hay phá vỡ hợp đồng
- Một số nơi đã chạy theo phong trào trong việc xây dựng CĐM Nghĩa là địa phương tổ chức, vận động các hộ nông dân sản xuất nhất là trồng một loại giống lúa theo quy mô lớn, nhưng không tính đến việc bao tiêu sản phẩm Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho các CĐM không hiệu quả, chưa bền vững
Đánh giá chung:
- Các mô hình CĐM được các địa phương quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt; gieo cấy cùng giống, đồng trà, bảo vệ tốt, chăm sóc và bón phân kịp thời nên cây trồng sinh trưởng phát triển tốt, độ đồng đều cao Đến nay cây trồng ở các mô hình cho năng suất, chất lượng cao hơn sản xuất đại trà
- Tuy còn nhiều khó khăn, hạn chế trong triển khai nhưng mô hình CĐM đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của các địa phương và các hộ nông dân; nhiều địa phương có cách làm hay và sáng tạo; quan tâm hỗ trợ giống cho nông dân để 100% diện tích trong mô hình cấy cùng 1 loại giống
Chính vì vậy, sản xuất trên CĐM đang dần khẳng định là hướng đi đúng trong sản xuất nông nghiệp
Trang 36PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Yên Dũng là một huyện nằm ở tiểu vùng miền núi và trung du của tỉnh Bắc Giang được bao bọc bởi 3 con sông là sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam Huyện hiện có diện tích đất tự nhiên là 19.093,04 ha, chiếm 4,71% tổng diện tích đất tự nhiên trong toàn tỉnh; với dân số là 181.313 người, chiếm 10,52% dân số của tỉnh; bao gồm 19 xã và 2 thị trấn Trung tâm huyện là thị trấn Neo, cách thành phố Bắc Giang 16 km và cách thủ đô Hà Nội khoảng 60 km theo quốc
lộ 1A
Địa giới hành chính bao gồm:
- Phía Bắc giáp huyện Lạng Giang và thành phố Bắc Giang;
- Phía Đông Bắc giáp huyện Lục Nam;
- Phía Đông giáp tỉnh Hải Dương qua sông Thương;
- Phía Nam giáp tỉnh Bắc Ninh qua sông Cầu;
- Phía Tây giáp huyện Việt Yên
Trên địa bàn huyện có đường quốc lộ 1A cũ và mới chạy qua cùng với hệ thống giao thông đường thủy và đường sắt khá thuận lợi, là tiền đề cho sự phát triển kinh tế xã hội của huyện trong những năm tới
3.1.1.2 Địa hình – thổ nhưỡng
* Địa hình: Địa hình của huyện Yên Dũng có thể chia thành 2 vùng rõ rệt: vùng
đồi núi và vùng đồng bằng Phần lãnh thổ có địa hình phức tạp nhất là dãy núi Nham Biển chạy cắt ngang địa bàn huyện, qua các xã Nội Hoàng, Yên Lữ, Tiền Phong, Nham Sơn, Đồng Sơn, Tân Liễu, Tân Dân, Tiễn Dũng và thị trấn Neo
* Thổ nhưỡng: Theo kết quả điều tra khảo sát của Viện Quy hoạch và thiết
kế nông nghiệp trên diện tích 19.093,04 ha, đất đai của huyện Yên Dũng được
chia thành 5 nhóm đất với 12 loại đất chính sau: (1) Nhóm đất phù sa: diện tích
Trang 3713.996,87 ha, chiếm tỷ lệ 65,47% tổng diện tích điều tra (2) Nhóm đất bạc màu: diện tích 1.083,47 ha, chiếm 5,07% tổng diện tích tự nhiên (3) Nhóm đất vàng đỏ: diện tích 3.497,49 ha, chiếm 16,36% tổng diện tích tự nhiên (4) Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: diện tích 100,68 ha, chiếm 0,47% tổng diện tích
tự nhiên (5) Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá: diện tích 178,38 ha, chiếm 0,82% tổng diện tích tự nhiên
Nhìn chung, đất đai của huyện Yên Dũng có hàm lượng dinh dưỡng từ trung bình đến nghèo, đất thích hợp để trồng nhiều loại cây ngắn ngày như lúa, ngô, các loại rau và trồng một số loại cây ăn quả như nhãn, vải,…
3.1.1.3 Khí hậu – thủy văn
* Khí hậu: Yên Dũng có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa với các đặc trưng chủ yếu sau:
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm của huyện là 23,7oc, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 28,8oc (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 16,4oc (tháng 1) Biên độ dao động nhiệt giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất
là 12,4oc
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm 1.326,1 mm, những năm cao có thể đạt tới 1.684,5mm Trong năm có khoảng 134,4 ngày mưa nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 11, tập trung nhiều vào các tháng 6 - 7; các tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 1, 2, 12
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, tháng cao nhất khoảng 92%, tháng thấp nhất khoảng 60%
* Thủy văn: Yên Dũng có 3 con sông lớn chảy qua, sông Cầu dài 25 km,
sông Thương dài 34 km, sông Lục Nam dài 6,7 km Đây là nguồn cung cấp nước dồi dào và phong phú cho sinh hoạt và sản xuất
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế
Số liệu bảng 3.1 thể hiện giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Yên Dũng giai đoạn 2012 – 2014, kết quả cho thấy:
- Về tổng giá trị sản xuất: Năm 2012, tổng giá trị sản xuất các ngành kinh
tế trong huyện là 738,98 tỷ đồng Đến năm 2013, giá trị này tăng lên là 869,14 tỷ đồng và tăng 17,61% so với năm 2012 Năm 2014, tổng giá trị sản xuất các
Trang 38ngành kinh tế trong toàn huyện là 1.006,2 tỷ đồng và tăng 15,77% so với năm
2013 Như vậy, trong 3 năm, tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế trong huyện
đã tăng với tỷ lệ tăng bình quân là 16,69%/năm
- Giá trị sản xuất ngành nông lâm thủy sản: Năm 2012, giá trị sản xuất của
ngành này đạt 438,37 tỷ đồng, chiếm 59,32% tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế trong năm Năm 2013, giá trị sản xuất của ngành nông lâm thủy sản là 456,34 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 52,50% tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế trong năm và tăng 4,1% so với năm 2012 Năm 2014, giá trị sản xuất của ngành nông lâm thủy sản là 490,02 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 48,70% tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế trong năm và tăng 7,38% so với năm 2013 Trong 3 năm, giá trị sản xuất của ngành này đã tăng với mức tăng bình quân là 5,74%/năm Cho thấy, huyện Yên Dũng đã có bước chuyển biến tích cực sau khi cải cách nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa thông qua xây dựng các CĐM
- Ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và XDCB: Năm 2012, giá trị sản
xuất của ngành đạt 196,91 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 26,65% tổng giá trị sản xuất của các ngành kinh tế trong năm Năm 2013, giá trị sản xuất của ngành tăng lên 261,88
tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 30,13% tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế trong năm và tăng 32,99% so với năm 2012 Năm 2014, giá trị sản xuất ngành này đạt 334,26 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 33,22% tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế và tăng 27,64%
so với năm 2013 Trong 3 năm, giá trị sản xuất của ngành này đã tăng với tỷ lệ tăng bình quân là 30,32%/năm
- Ngành thương mại – dịch vụ: Trong năm 2012, giá trị sản xuất của ngành này
đạt 103,7 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 14,03% tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế Năm
2013, giá trị sản xuất của ngành này tăng lên là 150,92 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 17,36% tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế và tăng 45,54% so với năm 2012 Năm 2014, giá trị sản xuất của ngành này đạt 181,92 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 18,08% tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế trong năm và tăng 20,54% so với năm 2013 Trong 3 năm, giá trị sản xuất ngành TM - DV đã tăng với tỷ lệ tăng bình quân là 33,04%/năm Cho thấy, cơ cấu kinh tế của huyện đang dần chuyển sang lĩnh vực CN-DV theo hướng CNH-HĐH
Trang 39Bảng 3.1 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Yên Dũng giai đoạn 2012-2014
Diễn giải
Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 So sánh (%)
Số lượng (tỷ đồng)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (tỷ đồng)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (tỷ đồng)
Tỷ lệ (%)
I Nông lâm thủy sản 438,37 59,32 456,34 52,50 490,02 48,70 104,10 107,38 105,74
III Thương mại – DV 103,7 14,03 150,92 17,36 181,92 18,08 145,54 120,54 133,04
(Nguồn: UBND huyện Yên Dũng, 2015)
Trang 403.1.2.2 Đặc điểm dân số - lao động và việc làm
Số liệu bảng 3.2 thể hiện tình hình lao động và sử dụng lao động của huyện Yên Dũng trong giai đoạn 2012 – 2014, kết quả cho thấy:
- Về nhân khẩu: Năm 2014, toàn huyện có 181.313 người Số nhân khẩu giai
đoạn 2012 – 2014 có xu hướng tăng lên bình quân là 0,89% Trong đó, số nhân khẩu NLN – thuỷ sản 158.331 người chiếm 87,32%, có xu hướng giảm, chuyển sang hoạt động phi NLN – thủy sản, bình quân giảm là 0,33%
- Về số hộ: Năm 2014, toàn huyện có 42.462 hộ, tăng bình quân 0,89%
Trong đó có 30.423 hộ NLN – thuỷ sản, chiếm 71,65% Yên Dũng là một huyện thuần nông, dân số tập trung chủ yếu sản xuất NLN - thuỷ sản, song cơ cấu hộ NLN
- thuỷ sản trong tổng số hộ toàn huyện có xu hướng giảm dần, bình quân giai đoạn
2012 – 2014 giảm 1,2%
- Về tổng số lao động: Năm 2014, tổng số lao động trong toàn huyện là
115.559 người, bình quân giai đoạn 2012 - 2014 tăng 0,71% Trong đó, số lao động trong độ tuổi lao động là 78.596 người, chiếm 67,06% tổng lao động, tăng trung bình 0,13% Số lao động hàng năm của huyện tăng lên đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh, song huyện phải có kế hoạch phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, mở rộng ngành nghề, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động
- Về số lao động tham gia các hoạt động kinh tế: Năm 2014 số lao động tham
gia các hoạt động kinh tế toàn huyện là 82.023 người Trong 3 năm, tổng số lao động tham gia các hoạt động kinh tế trong toàn huyện đã tăng với mức tăng bình quân là 0,72%/năm Trong đó, có sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng nông lâm nghiệp, thuỷ sản có chiều hướng giảm, còn lao động công nghiệp, XDCB và ngành thương mại dịch vụ có chiều hướng tăng lên qua các năm