1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn: Sử dụng bảo tàng phòng không không quân trong dạy học lịch sử việt nam (1954 – 1975) ở trường trung học cơ sở tại hà nội

95 1,1K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn: Sử dụng bảo tàng phòng không không quân trong dạy học lịch sử việt nam (1954 – 1975) ở trường trung học cơ sở tại hà nội Chương 1VẤN ĐỀ SỬ DỤNG BẢO TÀNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN1.1.Cơ sở lý luận1.1.1.Quan niệm về bảo tàng trong dạy học lịch sử.Thuật ngữ “Bảo tàng” xuất hiện từ rất sớm, nó bắt đầu từ ngôn ngữ cổ Hy Lạp “Museion”. Trải qua các hoạt động tôn giáo và các cuộc chiến tranh xâm lược, bảo tàng đã ra đời, sự xuất hiện của các bộ sưu tập. Sau này thuật ngữ “Bảo tàng” được cải tiến đi nhưng ở tất cả các nước đều có từ “Muse”. Còn tiếng Trung Quốc và Nhật Bản họ dùng thuật ngữ “Bảo vật quán” thay cho “Bảo tàng”. Dưới thời Alêchxăngđri của đế quốc Rôma cổ đại trong quá trình tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược và các hoạt động tôn giáo sang nước lân họ đã cướp bóc, thu thập những bảo vật quý, hiếm, các tác phẩm nghệ thuật có giá trị đem về trưng bày ở nước mình, coi đó là nơi lưu giữ lại những chiến tích, những công trình mà họ đã làm được mà gọi đó là “Bảo tàng”.Sau này bảo tàng phát triển và được nâng lên thành một ngành khoa học ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Các nhà giáo dục tiên tiến ở các nước đã đi sâu tìm hiểu về bảo tàng, trong đó đặc biệt quan tâm đến sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

VƯƠNG THỊ NGÀ

SỬ DỤNG BẢO TÀNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1954 – 1975)

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ

MÃ SỐ: 60.14.01.11

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Công trình đ ược hoàn thành tại c hoàn thành t i ại

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI NG Đ I H C S PH M HÀ N I ẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI ỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI Ư ẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI ỘI

Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Đình Tùng

Ph n bi n 1: ản biện 1: ện 1: .

Ph n bi n 2: ản biện 1: ện 1: .

Lu n văn đ ận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ ược bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ c b o v t i H i đ ng ch m lu n văn th c sĩ ảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ ệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ ại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ ội đồng chấm luận văn thạc sĩ ồng chấm luận văn thạc sĩ ấm luận văn thạc sĩ ận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ ại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

h p t i ọp tại ại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ Tr ường Đại học Sư phạm Hà Nội ng Đ i h c S ph m Hà N i ại ọc Sư phạm Hà Nội ư ại ội

Vào h i gi ngày tháng năm 2014 ồi giờ ngày tháng năm 2014 ờ ngày tháng năm 2014

Có th tìm hi u lu n văn t i: ể tìm hiểu luận văn tại: ể tìm hiểu luận văn tại: ận văn tại: ại:

- Phòng t li u Tr ư ệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ ường Đại học Sư phạm Hà Nội ng Đ i h c S ph m Hà N i ại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ ọp tại ư ại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ ội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Trang 3

- Trung tâm thông tin - Th vi n tr ư ệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ ường Đại học Sư phạm Hà Nội ng Đ i h c S ph m Hà ại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ ọp tại ư ại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

N i ội đồng chấm luận văn thạc sĩ

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đối với bất cứ quốc gia nào, thời đại nào, giáo dục cũng có vị trí quan

trọng trong sự phát triển xã hội Xưa kia cha ông ta đã có câu: "Quy trí tất hưng" (Chăm lo cho giáo dục thì đất nước hưng thịnh) Ngày nay, giáo dục là

phát triển Năm 2004, UNESCO khẳng định: "Không có một sự tiến bộ nào,

sự thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó Và những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết tiến hành sự nghiệp giáo dục một cách hiệu quả thì số phận quốc gia đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả

sự phá sản".

Như vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay là nâng cao chất lượng giáo dục và đàotạo để đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội trong thời đại mới Tháng 4/2006, Đại

hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: "Đổi mới

tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo bước chuyển

biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ khu

vực và thế giới"; "ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học".

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) đã khẳng định: "Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo"; khẳng định "Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý

Trang 4

thức trách nhiệm xã hội".

Môn Lịch sử ở nhà trường phổ thông có vị trí rất quan trọng trong việcđào tạo con người Lịch sử không chỉ giáo dục cho học sinh tình cảm yêu ghéttrong đấu tranh giai cấp mà còn bồi dưỡng cho các em năng lực đối xử vớimọi người xung quanh, biết yêu quý cái đẹp, yêu lao động, sự căm thù quâncướp nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khơi dậy ở học sinh sự thôngcảm sâu sắc và lòng kính yêu đối với quần chúng nhân dân

Những kiến thức lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc từ cổ đến kim đều có tácđộng không chỉ đến trí tuệ mà cả trái tim học sinh Các con người thực, việcthực trong quá khứ sẽ gợi dậy trong học sinh những tư tưởng tình cảm đúngđắn, mà những tư tưởng tình cảm này là hành trang tối cần thiết cho thế hệ trẻtrong điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới Song, muốn phát huy tốt chứcnăng, nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử trong việc giáo dục học sinh, cần nâng caohiệu quả dạy học Phương pháp dạy học tốt sẽ nâng cao hiệu quả bài học

Xuất phát từ thực trạng việc học tập lịch sử hiện nay – đa phần các emcoi Lịch sử là môn phụ, học chống đối, không thích học Lịch sử, sợ sử, chánsử… chúng ta cần phải có nhận thức mới về bộ môn, về bài học lịch sử Mỗimột bài học phải đem đến cho học sinh niềm say mê học tập, có mong muốn,nhu cầu học tập Nói cách khác, giáo dục lịch sử không đặt nặng trọng tâm vàokiến thức, mà phải đặt trọng tâm vào khơi dậy đam mê của học sinh, kích thích

tò mò, hứng thú, sáng tạo để các em có thể tự tìm kiếm những gì không chỉtrong phạm vi kiến thức ở nhà trường, mà cả kiến thức ngoài xã hội, để các emthấy rằng, mỗi ngày đến trường, mỗi một bài học lịch sử đều có ích Một giờhọc lịch sử mà khơi dậy được đam mê, khởi dậy hứng thú để các em chủ độnglĩnh hội kiến thức, giúp các em nhận ra những năng lực, trí tuệ của mình, qua

đó giáo dục tư tưởng, tình cảm cho các em – đó chính là một bài học hiệu quả.Việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài liệu ngoài sách giáo khoa, đặc biệt

là các tư liệu "sống" khiến cho các giờ học lịch sử vốn bị coi là khô cứng vàgiáo điều trở nên "mềm" hơn, dễ hiểu và gần gũi với học sinh Giờ học lịch sử

Trang 5

sẽ được học sinh đón đợi hơn, học sinh cũng dễ nhớ, dễ thuộc kiến thức hơn.Bảo tàng Phòng không – Không quân với hàng nghìn hiện vật đượctrưng bày đã tái tạo lại những trang sử oai hùng của dân tộc ta trong cuộcchiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ Mỗi hiện vật, hình ảnhtrong hệ thống trưng bày là huyền thoại về những chiến công xuất sắc của bộđội Phòng không – Không quân qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống

Mỹ, lập nên những kỳ tích anh hùng đánh thắng không quân nhà nghề củamột nước có nền khoa học kỹ thuật hiện đại nhất từ trước đến nay Qua nhữnghình ảnh đó, học sinh như được tận mắt chứng kiến cuộc sống, chiến đấu củaquân dân ta, những tấm gương anh dũng hy sinh của các anh hùng … sẽ gợicho học sinh nhiều cảm xúc Bài học vì thế có tác dụng, hiệu quả hơn nhiều

so với việc ngồi nghe thuyết trình trong lớp

Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tế nêu trên, chúng tôi chọn đề

tài: "Sử dụng Bảo tàng Phòng không- Không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội" làm đề tài

luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề sử dụng bảo tàng trong dạy học nói chung, trong dạy học lịch sửnói riêng đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập tới

2.1 Nguồn tài liệu nước ngoài

Tổ chức UNESCO đã tổ chức một số hội thảo và công bố nhiều tài liệu vềviệc sử dung tài liệu về việc sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử và giáo dụcthế hệ trẻ Đặc biệt là ở Liên Xô trước đây, việc nghiên cứu vấn để sử dụng bảotàng để dạy học lịch sử và và giáo dục học sinh đạt được nhiều thành tựu

- T.A.Cudrinoi viết tác phẩm: "Bảo tàng và trường phổ thông"

(Matxcơva -NXB Giáo dục - 1985) đã nêu rõ lịch sử phát triển của ngành bảotàng nói chung, chức năng của bảo tàng Xô viết nói riêng và tính giai cấp củachúng Đặc biệt tác giả nhấn mạnh ý nghĩa giáo dục của bảo tàng đối với họcsinh và nêu rõ một số phương pháp sử dụng bảo tàng trong dạy học

Trang 6

- A.E.Xaynhenxki, trong quyển "Bảo tàng giáo dục thế hệ trẻ"

((Matxcơva -NXB Giáo dục - 1988) trình bày khái quát lịch sử phát triển củabảo tàng chính trị - xã hội ở nhà trường Xô Viết, cách xây dựng bảo tàng phổthông và tổ chức hoạt động của chúng tác giả nhấn mạnh đến phương pháp

sử dụng của bảo tàng trong giờ học nội khóa, ngoại khóa và vai trò của giáoviên đối với việc sử dụng của bảo tàng

2.2 Nguồn tài liệu trong nước

Ở nước ta, việc sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử vẫn là vấn đềkhá mới mẻ, chưa được nghiên cứu sâu sắc và có hệ thống

Trong thập niên 90 thế kỉ trước, Sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội phối hợpvới Bảo tàng Cách mạng Việt Nam tổ chức cuộc thi giáo viên dạy giỏi tạiphòng trưng bày của bảo tàng Sau đó sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội đã tổchức tổng kết, rút kinh nghiệm đánh giá hiệu quả của phương pháp dạy, họcnày Hầu hết các giáo viên lịch sử ở trường phổ thông đều đánh giá cao vàhoan nghênh phương pháp dạy học này

Trong các giáo trình "Phương pháp dạy học lịch sử" và một số bài viết

đã đề cập đến việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử, như xâydựng, sử dụng phòng học bộ môn lịch sử ở trường phổ thông, sử dụng bảotàng, nhà truyền thống trong dạy học lịch sử

Cuốn “Bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ

thông trung học” của tác giả Nguyễn Thị Côi, xuất bản năm 1998 đã trình bày

các vấn đề, như: Vai trò và ý nghĩa của bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạyhọc lịch sử ở trường phổ thông trung học; Nội dung các vật trưng bày của bảotàng lịch sử, cách mạng và khả năng sử dụng trong dạy học lịch sử ở trườngphổ thông trung học; Các hình thức, phương pháp sử dụng tư liệu bảo tàng

trong dạy học lịch sử Tác giả khẳng định “Tư liệu ở bảo tàng là phương tiện

trực quan, quan trọng góp phần tạo biểu tượng lịch sử cụ thể, chân thực và chính xác cho học sinh ” [21; 12] Việc khai thác, sử dụng, tư liệu của bảo

tàng đảm bảo cho quá trình nhận thức của học sinh diễn ra hợp với quy luật

Trang 7

nhận thức và đảm bảo nguyên tắc trực quan trong dạy học lịch sử.

Trong cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” của Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị chủ biên, xuất bản năm 2003, chương IX “Hoạt động

ngoại khóa trong dạy học lịch sử” [50] đã nêu lên tầm quan trọng của việc

khai thác và sử dụng tư liệu hiện vật của bảo tàng trong dạy học lịch sử

Đặc biệt trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử”, tập II do Phan

Ngọc Liên, Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, xuất bản năm 2005, ở chương

XI “Cơ sở lý luận về bài học lịch sử ở trường phổ thông, phần III Các loại

bài học ở trường phổ thông: thì bài học thực địa, trong nhà bảo tàng lịch sử cách mạng “Là những bài học nội khóa, một mắt xích trong toàn bộ khóa trình, có liên quan tới bài học lịch sử khác, việc học tập những bài học này là bắt buộc đối với toàn bộ học sinh” [54; 81] Trong chương XV: “Vị trí ý nghĩa và các hình thức hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử ” các tác

giả cũng nêu rõ vai trò, vị trí của bảo tàng trong dạy học lịch sử: “ Tham quan

lịch sử có vị trí quan trọng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, những dấu vết của quá khứ những vật trưng bày trong bảo tàng không chỉ cụ thể hóa kiến thức mà còn để lại ấn tượng mạnh mẽ nâng cao kiến thức học tập và còn rèn luyện khả năng quan sát, phân tích của học sinh ” [54; 235]

Trong cuốn “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch

sử ở trường phổ thông” do Nguyễn Thị Côi chủ biên xuất bản năm 2008,

trong chương III tăng cường các hoạt động hỗ trợ các bài học trên lớp đãdành một phần lượng lớn nội dung viết về hình thức tổ chức học tập ở nhàbảo tàng lịch sử: “Tham quan có vị trí quan trọng trong dạy học lịch sử ởtrường phổ thông, là một hình thức tổ chức học tập có ý nghĩa to lớn về cácmặt giáo dưỡng, giáo dục, phát triển học sinh” [22; 130] Và “đối với họcsinh buổi tham quan học tập tại bảo tàng lịch sử không chỉ giúp các em ôntập củng cố kiến thức đã học mà còn chuẩn bị tiếp thu bài học mới cụ thể sâusắc hơn…” [22; 132]

Trong cuốn “Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở

Trang 8

trường phổ thông”, do Phan Ngọc Liên chủ biên, xuất bản năm 2008, có

nhiều bài viết đề cập đến khai thác sử dụng tư liệu hiện vật của bảo tàng trong

dạy học lịch sử phổ thông như bài Chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ

thông - lý luận, thực trạng và giải pháp của tác giả Nguyễn Thị Côi, có viết

“Tổ chức tham quan ở nhà bảo tàng lịch sử là một hình thức dạy học lịch sử”

[59; 380] Trong bài viết “Một số vấn đề đổi mới dạy học lịch sử ở trường

phổ thông” của tác giả Phan Ngọc Liên, đã nêu những yêu cầu của việc đổi

mới phương pháp dạy học lịch sử, và yêu cầu thứ 4 là “đa dạng hóa các hìnhthức tổ chức dạy học lịch sử và những hình thức cơ bản” là “học ở lớp, ởphòng bộ môn, ở bảo tàng…” [59; 310]

Trong Kỷ yếu hội thảo khoa học “Đổi mới nghiên cứu và giảng dạy lịch

sử” của Hội khoa học lịch sử thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2008

[39], có một số bài viết, như bài “Đổi mới bảo tàng trong xu thế hội nhập và

phát triển” của Nguyễn Đình Thanh và Phạm Lan Hương, bài “Bảo tàng lịch

sử Việt Nam - TP Hồ Chí Minh và học sinh phổ thông”, “Một số kinh nghiệm

thu hút thanh thiếu niên đến học tập lịch sử tại bảo tàng” của Huỳnh Ngọc

Vân; “Góp phần việc dạy và học môn lịch sử qua kênh Bảo tàng” của tiến sĩ

Trịnh Thị Hà, bài “Tăng cường sử dụng đồ dùng trực quan - một biện pháp

hữu hiệu để góp phần đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông” của Nguyễn Văn Sơn… đã đề cập đến tầm quan trọng, ý nghĩa của

việc sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử, và một số hình thức, phươngpháp sử dụng có thể tham khảo

Trong bài viết “Khai thác hệ thống bảo tàng trong dạy học lịch sử ở

trường phổ thông” của Trần Văn Giáp có đề cập có nhiều biện pháp sư phạm

để tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh, trong đó sử dụng các nguồn tài liệuhiện vật có ưu thế hơn cả Nguồn tài liệu hiện vật này rất phong phú và đadạng ở các bảo tàng trung ương và địa phương Nó có vai trò ý nghĩa rất quantrọng đối với việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Việc khai thác và sử dụng tư liệu Bảo tàng trong dạy học lịch sử còn

Trang 9

được nghiên cứu trong các luận văn, luận án và khóa luận tốt nghiệp của sinhviên, học viên sư phạm như:

Trong thời gian gần đây, một số sinh viên khoa lịch sử trường Đại học

Sư phạm Hà Nội đã làm khóa luận tốt nghiệp về vấn đề này Năm học 1996

-1997, sinh viên Nguyễn Thị Châm thực hiện đề tài: "Khai thác, sử dụng những

của bảo tàng Quân đội để dạy, học chương trình lịch sử Việt Nam giai đoạn

1946 - 1975 trong sách giáo khoa lớp 12 THPT (không chuyên ban)" Khóa

luận này đã đề cập đến những vấn đề lí luận cơ bản của việc sử dụng tài liệu,hiện vật ở bảo tàng nói chung, bảo tàng lịch sử Quân sự nói riêng trong dạyhọc lịch sử Tác giả bước đầu đã tìm hiểu nội dung của Bảo tàng Quân đội vànêu một số hình thức khai thác các tài liệu, hiện vật của bảo tàng

Năm học 1995 - 1996, viện Bảo tàng Cách mạng Việt nam kết hợp vớimột số giáo viên ở hai trường THPT Kim Liên và Minh Khai (Hà Nội) nghiên

cứu đề tài cấp viện: " Bảo tàng Cách mạng Việt Nam với việc dạy học lịch sử

ở trường THPT Kim Liên và Minh Khai" nhằm các mục tiêu sau:

+ Nội dung sách giáo khoa lịch sử THPT (phần lịch sử việt nam) cóquan hệ thế nào với các tài liệu, hiện vật trưng bày trong Bảo tàng Cáchmạng Việt Nam

+ Việc dạy, học lịch sử tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam có tác dụngnhư thế nào trong giáo dục lòng yêu nước cho học sinh

Năm 1996, Nguyễn Văn Phong trong luận văn sau đại học chuyên ngành

Phương pháp dạy học Lịch sử với đề tài: " Bảo tàng lịch sử, cách mạng đối với việc dạy học lịch sử (dân tộc và địa phương) ở trường phổ thông trung học" đã

có những đóng góp bước đầu về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng bảotàng lịch sử, cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Luận văn đãđưa ra một số hình thức và yêu cầu khi sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ởtrường phổ thông Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu và đề cập có hệ thống vềmối quan hệ giữa bảo tàng với bộ môn lịch sử ở trường phổ thông

Năm 1997, Trần Thị Nhị - cán bộ của bảo tàng Cách mạng Việt Nam,

Trang 10

trong luận văn sau đại học chuyên ngành Văn hóa học với đề tài: " Bảo tàng cách mạng Việt Nam với việc dạy học lịc sử ở trường Trung học phổ thông"

đã tiếp tục đóng góp thêm cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng bảotàng Cách mạng Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Tác giảcũng đưa ra một số yêu cầu và một số hình thức sử dung bảo tàng Cách mạngViệt Nam trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, khẳng định mối quan hệmật thiết giữa bảo tàng với bộ m,ôn lịch sử ở trường phổ thông

Tuy nhiên hai luận văn sau đại học trên, các tác giả đều chưa tiến hành thựcnghiệm sư phạm, chưa quan tâm tói đối tượng học sinh trung học cơ sở, qua đóchưa khẳng định được vững chắc về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài

Tác giả đưa ra những yêu cầu có tính lý luận đối với việc khai thác và sửdụng tài liệu, hiện vật của bảo tàng khi tiền hành một số hình thức để dạy họclịch sử Đây là công trình đặt nền móng vững chắc về lý luận và thực tiễn choviệc nghiên cứu sâu sắc và có hệ thống mối quan hệ giữa bảo tàng với dạyhọc lịch sử ở trường phổ thông, cách khai thác, sử dụng, cũng như các yêucầu khi tiến hành khai thác bảo tàng trong dạy học lịch sử

Tháng 11/2003 trong hội thảo khoa học, thực tiễn " Bảo tàng góp phần hoàn thiện nhân cách con người", một lần nữa các nhà giáo dục lịch sử và

các nhà bảo tàng học tiếp tục khẳng định vai trò, mối quan hệ của bảo tàngvới việc giáo dục thế hệ trẻ, trong đó dặc biệt chú trọng đến đối tượng họcsinh phổ thông Tuy nhiên trong khuôn khổ hội thảo các nhà nghiên cứukhông đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn việc sử dụng và khai thác bảotàng trong dạy học lịch sử mà chỉ dừng ở việc khẳng định vai trò, vị thế củabảo tàng trong giáo dục nói chung và trong dạy học lịch sử nói riêng

Trên đây là một số công tình nghiên cứ, luận văn đã nghiên cứ về vấn đề

sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói chung; tácgiả cần kế thừa các lý luận trên xong phải áp dụng một cách sáng tạo, phù hợpvới điều kiện hoàn cảnh các trường THCS tại Hà Nội để đạt kết quả cao nhất

Trên các Tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước, như Tạp chí Giáo

Trang 11

dục, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, Tạp chí khoa học trường ĐHSP Hà Nội

đăng tải một số bài nghiên cứu như: "DTLS và việc tích cực hóa hoạt động

nhận thức của HS ” [74]; "Sử dụng DTLS - CM trong dạy học lịch sử tại thực địa” [74]; "Tổ chức hướng dẫn cho HSPT tham gia lễ hội xuân tại DTLS”

[75] đã khái quát một số vấn đề lý luận về sử dụng DTLS - VH, bảo tàngtrong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Như vậy, có thể nói rằng, trong lý luận dạy học lịch sử thì vấn đề khaithác và sử dụng tài liệu hiện vật của bảo tàng trong dạy học lịch sử ngày càngtrở thành hình thức dạy học cơ bản của bộ môn

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về lý luận dạy học và lý luận dạy học

bộ môn nêu trên đã nêu lên những cơ sở khoa học cho việc đổi mới PPDHlịch sử nói chung, cho việc xác định những nguyên tắc, phương pháp, hìnhthức tổ chức cho HS học tập tại bảo tàng nói riêng

Các công trình trên đã khẳng định tầm quan trọng, ý nghĩa của việc sửdụng bảo tàng nói chung, Bảo tàng Phòng không – Không quân nói riêngtrong dạy học lịch sử và một số hình thức phương pháp sử dụng có thể thamkhảo nhưng mới ở việc sử dụng Bảo tàng trung ương mà chưa có một đề tàinào nhắc đến cụ thể việc sử dụng bảo tàng Phòng không – Không quân trongdạy học lịch sử nói chung, trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trung học cơ sởnói riêng Mặc dù vậy, đây là những tác phẩm giúp ích cho chúng tôi rất nhiều

về mặt lý luận cũng như định hướng phương pháp khi nghiên cứu đề tài này

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

3.1 Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất biện

pháp sử dụng ở Bảo tàng Phòng không - Không quân trong dạy học phần lịch

sử Việt Nam (1954 - 1975) ở trường THCS tại Hà Nội nhằm nâng cao hứng

thú học Lịch sử cho học sinh, qua đó nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn

3.2 Nhiệm vụ:

+ Nghiên cứu lý luận về phương pháp dạy - học, phương pháp dạy - họclịch sử nói chung và sử dụng Bảo tàng Phòng không – Không quân trong dạy

Trang 12

học lịch sử ở trường THCS nói riêng.

+ Khảo sát thực trạng giảng dạy bộ môn lịch sử ở các trường THCS tại

Hà Nội và thực tiễn việc sử dụng Bảo tàng Phòng không – Không quân trongdạy học lịch sử ở trường THCS

+ Xác định nội dung bảo tàng cần khai thác và các hình thức sử dụngtrong dạy học lịch sử ỏ trường THCS tại Hà Nội

+ Đề xuất biện pháp sử dụng Bảo tàng Phòng không - Không quân trongdạy học phần lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) ở trường THCS tại Hà Nội.+ Tiến hành việc thực nghiệm sư phạm giảng dạy phần lịch sử Việt Nam(1954 - 1975) sử dụng Bảo tàng Phòng không - Không quân

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp sử dụng Bảo tàng Phòng

không - Không quân trong quá trình dạy học lịch sử Việt Nam (1954 - 1975)

ở trường THCS tại Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: ở các trường THCS tại thành phố Hà Nội

- Về nội dung: là các bài lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975lớp 9

- Về hình thức tổ chức dạy học: các loại bài nội khóa và ngoại khóa,trọng tâm là các bài nội khóa

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài:

5.1 Cơ sở phương pháp luận: Là cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác- Lê

nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềcông tác giáo dục nói chung, giáo dục lịch sử ở nhà trường THCS nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn vận dụng các phương pháp

nghiên cứu bộ môn:

+ Nghiên cứu các tài liệu tâm lí học, giáo dục học, các tài liệu giáo dụclịch sử, tài liệu lịch sử văn hóa, khảo cổ học có liên quan đến đề tài

+ Điều tra cơ bản: Tiến hành quan sát, điều tra bằng phiếu đối với giáo

Trang 13

viên lịch sử và học sinh lớp 9 một số trường THCS trên địa bàn tại Hà Nội.+ Nghiên cứu kĩ chương trình lớp 9 phần lịch sử Việt Nam để lựa chọncác bài có nội dung trong giai đoạn 1954-1975 để sử dụng trong quá trình tổchức dạy học.

+ Soạn một số bài lịch sử trong chương trình nội khóa, ngoại khóa, tiếnhành thực nghiệm sư phạm để rút ra những kết luận về việc sử dụng Bảo tàngPhòng không- Không quân trong quá trình dạy học lịch sử ở trường THCStrên địa bàn Hà Nội

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn :

Việc giảng dạy lịch sử ở các trường THCS tại Hà Nộivẫn còn những vấn

đề hạn chế, trong đó có nguyên nhân từ việc chưa thực sự đổi mới phươngpháp dạy - học của giáo viên; Vì vậy nếu nghiên cứu một cách hợp lý, khoahọc và sử dụng linh hoạt, sáng tạo nguồn sử liệu ( Bảo tàng Phòng không -Không quân) thì học sinh sẽ hứng thú hơn với bộ môn Lịch sử, chất lượngdạy - học môn Lịch sử sẽ được nâng cao Kết quả nghiên cứu đề tài có thể vậndụng trong DHLS ở các trường THCS tại Hà Nội

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,phụ lục, luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Vấn đề sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ

thông – lý luận và thực tiễn

Chương 2: Nội dung và hình thức sử dụng Bảo tàng Phòng không

-Không quân trong dạy học lịch sử ở trường THCS tại Hà Nội

Chương 3: Các biện pháp sử dụng Bảo tàng Phòng không - Không quân

trong bài học nội khóa ở trên lớp khi dạy học phần lịch sử Việt Nam (1954 1975) THCS tại Hà Nội Thực nghiệm sư phạm

-Chương 1

VẤN ĐỀ SỬ DỤNG BẢO TÀNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở

Trang 14

TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Cơ sở lý luận

1.1.1 Quan niệm về bảo tàng trong dạy học lịch sử.

Thuật ngữ “Bảo tàng” xuất hiện từ rất sớm, nó bắt đầu từ ngôn ngữ cổ

Hy Lạp “Museion” Trải qua các hoạt động tôn giáo và các cuộc chiến tranhxâm lược, bảo tàng đã ra đời, sự xuất hiện của các bộ sưu tập Sau này thuậtngữ “Bảo tàng” được cải tiến đi nhưng ở tất cả các nước đều có từ “Muse”.Còn tiếng Trung Quốc và Nhật Bản họ dùng thuật ngữ “Bảo vật quán” thaycho “Bảo tàng” Dưới thời Alêchxăngđri của đế quốc Rôma cổ đại trong quátrình tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược và các hoạt động tôn giáo sangnước lân họ đã cướp bóc, thu thập những bảo vật quý, hiếm, các tác phẩmnghệ thuật có giá trị đem về trưng bày ở nước mình, coi đó là nơi lưu giữ lạinhững chiến tích, những công trình mà họ đã làm được mà gọi đó là “Bảotàng”

Sau này bảo tàng phát triển và được nâng lên thành một ngành khoa học

ở tất cả các quốc gia trên thế giới Các nhà giáo dục tiên tiến ở các nước đã đisâu tìm hiểu về bảo tàng, trong đó đặc biệt quan tâm đến sử dụng bảo tàngtrong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Xung quanh thuật ngữ về bảo tàng có nhiều cách định nghĩa khác nhau:

- Theo wikipedia.org: “bảo tàng” (viện bảo tàng, nhà bảo tàng) là

đó Mục đích của viện bảo tàng là giáo dục, học tập, nghiên cứu và thỏa mãntrí tò mò tìm hiểu về quá khứ

- Tổ chức ICOM (Hội đồng bảo tàng quốc tế) vào năm 1996 đưa ra khái

niệm: “Bảo tàng là thiết chế tồn tại lâu dài, không vụ lợi nhằm phục vụ cho

xã hội và sự phát triển của xã hội, mở cửa phục vụ công chúng và tiến hành nghiên cứu liên quan đến di sản của con người và môi trường xung quanh”.

- Ở các nước Đông Âu: Bảo tàng là cơ quan nghiên cứu, giáo dục, tiến

Trang 15

hành nghiên cứu sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày những tài liệu hiện vật gốc tiêu biểu của lịch sử, tự nhiên và xã hội, phù hợp với nội dung và loại hình bảo tàng Bảo tàng dành để phục vụ cho công chúng vì mục đích nghiên cứu và sưu tầm.

Trong luật Di sản văn hóa ở nước ta, ban hành năm 2002, ghi rõ: “Bảo

tàng là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử, tự nhiên, xã hội nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hóa của nhân dân” [Luật di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành;tr.

42]

Trong bách khoa toàn thư: “Bảo tàng là nơi trưng bày và lưu giữ tài liệu,

hiện vật cổ liên quan đến một hoặc nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn hóa của một dân tộc hay một giai đoạn lịch sử nào đó Mục đích của bảo tàng là giáo dục, học tập, nghiên cứu và thõa mãn trí tò mò tìm hiểu về quá khứ” [Hội

đồng Quốc gia (2002), Từ điển bách khoa toàn thư, Nxb Từ điển Bách

khoa.;tr 151]

Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu: “Bảo tàng là cơ quan sưu

tầm, giám định và trưng bày các tài liệu, hiện vật có tính chất nguyên gốc, đầu tiên của tri thức về lịch sử phát triển của xã hội và tự nhiên, về lịch sử của cuộc đấu tranh cách mạng.” [Nguyễn Thị Côi (1998), Bảo tàng lịch sử, cách

mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông trung học, Nxb Đại học Quốc

gia, Hà Nội.tr.8]

Ở nước ta, dưới thời Pháp thuộc đã xây dựng một số bảo tàng lớn như:Luiphirô (Hà Nội), bảo tàng Hải dương học (Nha Trang), bảo tàng Chăm(trưng bày các hiện vật về văn hóa Chăm ở Đà Nẵng)

Sau giải phóng miền Bắc, chúng ta đã xây dựng nhiều bảo tàng quốc gia

và các bảo tàng địa phương, bảo tàng chuyên ngành như: Bảo tàng cách mạng(1958), Bảo tàng Quân đội nhân dân Việt Nam (1959), Bảo tàng Hồ ChíMinh (1990)

Mỗi bảo tàng có một chủ đề khác nhau song nhìn chung đều phản ánh

Trang 16

mỗi chặng đường phát triển của dân tộc hay truyền thống một ngành nào đó.Bảo tàng thể hiện bức tranh sinh động, chân thực về cuộc sống lao động, sự

hy sinh chiến đấu của các thế hệ cha ông trong sự nghiệp dựng nước và giữnước mà thế hệ trẻ hôm nay không thể nào chứng kiến các hoạt động đó Các

em sẽ không thể hình dung một cách rõ nét có hệ thống quá khứ nếu khôngđược trực tiếp đến, thăm quan Bảo tàng

Bảo tàng là nơi sưu tầm, gìn giữ, trưng bày hiện vật theo luật pháp màNhà nước quy định Nhiệm vụ của bảo tàng là sưu tầm, trưng bày và tổ chứchướng dẫn thăm quan tư liệu được trình bày

Bảo tàng học là một môn khoa học riêng thuộc khoa học Lịch sử, có mốiquan hệ khăng khít với nghiên cứu và học tập lịch sử Sử học và bảo tàng cócùng đối tượng nghiên cứu, đó là những hiện vật, những tài liệu chữ viết, cáctác phẩm nghệ thuật tạo hình, phim ảnh gốc phản ánh quá khứ Song lại khácnhau ở nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu Bản thân bảo tàng là một bàihọc lịch sử sinh động, sâu sắc Việc sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử sẽlàm chất lượng bài học phong phú, sinh động hơn

Sử học khác bảo tàng ở chỗ không giữ gìn những hiện vật mà chỉ nghiêncứu, khai thác những hiện vật được trưng bày ở bảo tàng, miêu tả đúng quákhứ rồi rút ra quy luật vận động của lịch sử Ngược lại, kết quả nghiên cứucủa sử học làm phong phú và phục vụ tốt cho bảo tàng

Bảo tàng là cơ quan nghiên cứu khoa học và giáo dục khoa học của Nhànước Nó có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bàynhằm phát huy tác dụng của những di tích lịch sử

Các nhà bảo tàng học cho rằng: Bảo tàng có hai chức năng cơ bản: chứcnăng nghiên cứu khoa học và chức năng giáo dục Hai chức năng này có mốiquan hệ biện chứng, thực hiện tốt cả hai chức năng trên thì Bảo tàng mới đápứng được nhiệm vụ do xã hội đặt ra

Thứ nhất, chức năng nghiên cứu khoa học: mọi hoạt động trong công tác

nghiên cứu khoa học của Bảo tàng đều phải xoay quanh các hiện vật gốc phù

Trang 17

hợp với loại hình của bảo tàng Đó là trọng tâm, là cơ sở của mọi công tácnghiên cứu khoa học của bảo tàng Hay nói cách khác, chức năng này đượcbiểu hiện ở hai hoạt động sau:

+ Những hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm không ngừng bổ sungcho khâu bảo quản cơ sở của Bảo tàng, di tích có giá trị tiêu biểu về các mặtlịch sử, khoa học, thẩm mỹ

+ Những hoạt động có liên quan tới việc chỉnh lý, hệ thống hóa và bảoquản một cách khoa học các di tích của Bảo tàng nhằm biến các di tích đóthành nguồn tư liệu đáng tin cậy phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa họccủa các ngành khác Đồng thời nâng cao trình độ văn hóa của đông đảo quầnchúng nhân dân

Thứ hai, chức năng giáo dục của Bảo tàng: các tư liệu, hiện vật trong bảo

tàng được sắp xếp, trưng bày có hệ thống để khách tham quan trong và ngoàinước hiểu, hình dung được tiến trình lịch sử Việt Nam, song khác với côngtác giáo dục của các cơ quan, các phương tiện thông tin đại chúng ở chỗ côngtác này phải dựa trên cơ sở nghiên cứu của các hiện vật gốc Bởi vì, thông quacác tư liệu và hiện vật gốc được trưng bày ở bảo tàng nhằm gợi dậy những tưtưởng, tình cảm tốt đẹp cho người xem chứ không phải thông qua sách vở.Bảo tàng thực hiện chức năng giáo dục khoa học của mình bằng cách tuyêntruyền, phổ biến kiến thức và thông qua các hoạt động của mình, Bảo tànggiáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Vì vậy, cần phải “đánh thức”các tài liệu, hiện vật để chúng có tác dụng giáo dục tới học sinh

Với chức năng như trên, Bảo tàng có các nhiệm vụ:

+ Tiến hành công tác nghiên cứu khoa học

+ Tiến hành thu thập các tài liệu, hiện vật gốc phù hợp với các loại hìnhBảo tàng

+ Công tác kiểm kê giám định một cách có khoa học các hiện vật củaBảo tàng

+ Công tác bảo quản hiện vật của Bảo tàng

Trang 18

+ Công tác trưng bày của bảo tàng

+ Công tác tuyên truyền, giáo dục và là tài liệu quan trọng, cần thiếtphục vụ cho các bài học lịch sử

Một là, các bảo tàng lịch sử, như: Bảo tàng lịch sử, Bảo tàng Cách

mạng, Bảo tàng Quân đội, Bảo tàng Hồ Chí Minh Các loại bảo tàng nàychiếm vị trí rất quan trọng trong toàn bộ hệ thống bảo tàng Việt Nam Nhữnghiện vật được trưng bày trong các bảo tàng này phản ánh về đời sống văn hóavật chất, tinh thần của con người Việt Nam từ khi hình thành đến nay

Hai là, các bảo tàng nghệ thuật nhằm sưu tầm , bảo quản, nghiên cứu

những tác phẩm nghệ thuật của nhiều thời đại khác nhau vào mục đích khoahọc và giáo dục thẩm mĩ cho quần chúng

Ba là, các bảo tàng chuyên ngành như: Bảo tàng phụ nữ, Bảo tàng

Không quân, Bảo tàng Văn học những bảo tàng này chiếm một số lượngnhất định trong toàn bộ hệ thống bảo tàng Nhiệm vụ của chúng là sưu tầm,bảo quản, nghiên cứu các hiện vật gốc của một ngành khoa học nhất định đểnói lên sự phát triển, phục vụ cho công tác khoa học của chính bản thânngành đó và quần chúng nhân dân

Bốn là, Bảo tàng lịch sử tự nhiên gồm các bảo tàng cùng loại hình với

các ngành khoa học Đối tượng nghiên cứu là các mặt khác nhau của thế giới

tự nhiên, như Bảo tàng động vật học, Bảo tàng thực vật học, Bảo tàng hảidương học

Năm là, các bảo tàng lưu niệm nhằm lưu giữ lại trong quần chúng nhân

dân những sự kiện, những nhân vật lịch sử lớn, quan trọng trên mọi mặt củađời sống xã hội, chính trị, quân sự, văn học, nghệ thuật Loại bảo tàng này

Trang 19

giới thiệu một cách hệ thống diễn biến những sự kiện, hoạt động của các nhânvật lịch sử Ví như, bảo tàng ở di tích lịch sử số 5 Hàm Long, 48 Hàng Ngang(Hà Nội), di tích Kim Liên (Nghệ An), Pác Bó (Cao Bằng), Tân Trào (TuyênQuang)

Sáu là, các bảo tàng ở địa phương: cũng là cơ quan thực hiện chức năng

nghiên cứu khoa học và giáo dục ở mức độ nhất định, chủ yếu là sưu tầm, bảoquản, nghiên cứu và trưng bày những tài liệu, hiện vật về văn hóa vật chất,tinh thần cũng như tự nhiên của địa phương đó Hiện nay, các loại bảo tàngnày và các nhà lưu niệm, truyền thống của địa phương đang phát triển rấtmạnh mẽ ở các địa phương trong nước [ tr.10-11]

Những bảo tàng, nhà lưu niệm địa phương có vai trò quan trọng trongviệc giáo dục truyền thống của địa phương, của dân tộc cho đông đảo quầnchúng nhân dân

1.1.3 Mối quan hệ giữa bảo tàng với kiến thức lịch sử.

Bảo tàng với mục đích sưu tầm, lưu giữ bảo vệ các di sản văn hóa, lịch

sử, tự nhiên và thông qua các hoạt động phong phú của mình như trưng bày,giới thiệu, giáo dục và xuất bản sách báo Bảo tàng còn được xem như là mộtthiết chế văn hóa đặc biệt, đóng vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân.Bảo tàng có mối quan hệ mật thiết với lịch sử

Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, việc tăng cường cho

học sinh tiếp xúc “làm việc” với các tài liệu lịch sử ngoài sách giáo khoa, nhất

là tài liệu hiện vật ở bảo tàng có ý nghĩa nhiều mặt Bảo tàng là nơi lưu giữ và

trưng bày các bằng chứng “vật thật” về các sự kiện lịch sử, và chính các bằng

chứng này sẽ giúp học sinh dễ học, dễ nhớ hơn Những tư liệu, hiện vật củabảo tàng nói chung, của Bảo tàng Phòng không – Không quân nói riêng vừa lànguồn sử liệu quan trọng, vừa là phương tiện dạy học có hiệu quả, góp phầntạo cho học sinh những biểu tượng lịch sử cụ thể, chân thực, chính xác

Với việc bảo quản tài liệu hiện vật lịch sử, bảo tàng đã góp phần giáodục truyền thống dân tộc và đạo đức cho thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên như là

Trang 20

một phương tiện truyền thông hiệu quả nhất.

Nhìn chung các tư liệu, hiện vật, tranh ảnh được lưu giữ trong các bảotàng lịch sử hiện nay là minh chứng cho sự tồn tại của lịch sử quá khứ Vìvậy, nó có ý nghĩa là giúp cho học sinh tìm hiểu, nghiên cứu về các thời kỳlịch sử đã qua Qua đó các em có thể nhìn nhận quá khứ một cách chính xáchơn Đồng thời bảo tàng còn góp phần giáo dục cho thế hệ trẻ lòng kínhtrọng, khâm phục đối với cha ông đã làm nên những di sản văn hoá quý báu

Từ đó phát triển thành lòng tự hào dân tộc, giáo dục lòng yêu nước cho thế hệtrẻ Bởi vì, khi các em trực tiếp quan sát các tư liệu, hiện vật, tranh ảnh ở cácbảo tàng thì các em sẽ có cảm tưởng như mình đang được quan sát hiện thựcquá khứ của đất nước mình, đang được sống lại với các giai đoạn lịch sử, sựkiện lịch sử quan trọng của đất nước Đặc biệt khi quan sát các tư liệu ở bảotàng, còn nảy sinh tình yêu thiên nhiên, niềm tự hào về truyền thống cáchmạng của quê hương, tổ quốc ở các em

Bảo tàng còn giúp cho học sinh sự hiểu biết về hoàn cảnh tự nhiên, khảnăng kinh tế, truyền thống đấu tranh anh dũng, lao động cần cù của nhân nhânđịa phương, những đóng góp của quê hương mình đối với lịch sử dân tộc nhất

là đối với giai đoạn lịch sử năm 1972 khi nhân dân thủ đô làm nên trận “ĐiệnBiên Phủ trên không” – chiến thắng vang dội, là một trong những tác độngmạnh đến việc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán kí Hiệp định Pari năm 1973

Mặt khác, việc sử dụng tư liệu của bảo tàng còn giúp cho học sinh “trựcquan sinh động” quá khứ lịch sử dân tộc, làm cho quá khứ xích lại gần vớinhận thức của học sinh, biến những kiến thức trên sách vở thành những hiểubiết cụ thể, sâu sắc về cuộc sống hiện thực Sử dụng nguồn tư liệu của bảotàng trong dạy học lịch sử còn giúp học sinh hiểu một cách tự nhiên, sinhđộng quá khứ lịch sử, khắc sâu kiến thức cơ bản bài học, giúp các em nhớ lâukiến thức, nâng cao hiểu biết lịch sử

Trong đời sống xã hội, việc giáo dục thế hệ trẻ thông qua giáo dục lịch

sử không chỉ có tác dụng về trí lực mà cả về tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ So

Trang 21

với các bộ môn khác, môn lịch sử có ưu thế trong việc giáo dục tư tưởng đạođức cho HS Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế thị trường với những mặttích cực đã đem lại kết quả khả quan trong bước đường đổi mới toàn diện củađất nước Tuy nhiên, do tác động của mặt trái của nền kinh tế thị trường nênphải tăng cường hơn nữa việc giáo dục tư tưởng đạo đức, hình thành nhâncách và bồi dưỡng niềm tin cho các em trong dạy học lịch sử Tư liệu ở bảotàng còn là một trong những nguồn tài liệu quan trọng làm phong phú nguồntri thức của học sinh về quê hương mình, giáo dục cho các em lòng yêu quêhương, hình thành những khái niệm nghĩa vụ đối với quê hương Điều đó cótác động to lớn đến tư tưởng, tình cảm của HS, nuôi dưỡng lòng tự hào, biết

ơn và yêu quý hơn nơi chôn nhau cắt rốn của mình, đây cũng là cội nguồn củalòng yêu nước Từ đó, giúp các em hình thành thái độ đúng đắn và xác địnhnghĩa vụ của mình đối với quê hương cũng như đất nước Sử dụng tư liệu bảotàng trong dạy học lịch sử góp phần giáo dục cho các em lòng kính yêu quầnchúng nhân dân, những người sáng tạo ra lịch sử, là động lực thúc đẩy sự pháttriển của xã hội

Bảo tàng còn có ý nghĩa giáo dục truyền thống, truyền bá văn hoá ViệtNam, gợi lên những vấn đề về bảo vệ và phát huy di sản văn hoá dân tộc Bởi

vì khi tham quan học tập tại bảo tàng sẽ để lại những dấu ấn tốt đẹp và khơidậy lòng tự hào dân tộc Bảo tàng còn giáo dục cho thế hệ trẻ Việt Nam lòngyêu nước, yêu truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc, nhất là truyền thốngchống xâm lược và bảo vệ đất nước của ông cha ta Làm cho thế hệ trẻ hiểu rõnhững mất mát, đau thương về tinh thần lẫn vật chất mà nhân dân ta đã phảichịu đựng bởi chiến tranh, từ đó càng nhận thức đúng đắn về vai trò, tráchnhiệm của mình trong công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc

Như vậy, bảo tàng có ý nghĩa nhiều mặt đối với cuộc sống của conngười: truyền bá kiến thức khoa học, tìm hiểu lịch sử, giáo dục truyền thống,tham quan du lịch Ngày nay, đời sống kinh tế phát triển, trình độ khoa học

kỹ thuật của nhân loại ngày càng được nâng cao, hiện đại thì càng nên chú ý

Trang 22

khai thác và sử dụng bảo tàng trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nóiriêng để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.

1.1.4 Cơ sở xuất phát của vấn đề nghiên cứu

1.1.4.1 Đặc điểm tâm lý và nhận thức của HS THCS

Tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 - 15 tuổi, các emđược vào học ở trường trung học cơ sở (từ lớp 6 - 9) Lứa tuổi này có một vịtrí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời

kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằngnhững tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ“, “tuổi khó bảo“, “tuổi khủnghoảng “, “tuổi bất trị” Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinhthần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triểncao hơn(người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trongmọi mặt phát triển : thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này.Giới hạn đề tài luận văn là nghiên cứu và sử dụng tài liệu hiện vật ở bảotàng Phòng không – Không quân trong dạy học LSVN (1954 – 1975) ởtrường THCS Ở giai đoạn này, HS chủ yếu đang trong độ tuổi thiếu niên, nộidung và tính chất học tập yêu cầu có khác nhiều so với lứa tuổi thanh niên

“Học sinh THCS có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn khi tri giác các sự vật, hiện tượng Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kế hoạch, có trình tự và hoàn thịên hơn… Ở lứa tuổi này tính lựa chọn của chú ý phụ thuộc rất nhiều vào tính chất của đối tượng học tập và mức độ hứng thú của các em với đối tượng đó” [Lê Văn Hồng (chủ biên), PTS Lê Ngọc Lan,

Lê Văn Thăng (1995), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo

dục, Hà Nội.; tr.23] Như vậy ở bậc THCS tư duy của các em chủ yếu là gắn

liền với nhận thức cảm tính, cụ thể “Tất cả các em đều ý thức được tầm quan

trọng và sự cần thiết của học tập” [Lê Văn Hồng (chủ biên), PTS Lê Ngọc

Lan, Lê Văn Thăng (1995), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb

Giáo dục, Hà Nội Tr 25] Và những thao tác của tư duy như tích cực, độc lậpngày càng bộc lộ rõ nét, học sinh đã có thể chủ động lĩnh hội kiến thức

Trang 23

Học sinh THCS là lứa tuổi hiếu động, tò mò, ham hiểu biết những trithức mới nhưng cũng dễ nhàm chán trước việc giáo viên trình bày sự kiệntheo cách thông báo khô khan những vấn đề lý thuyết nặng nề, những kết luậnchung chung, không có những thông tin mới, thiếu hấp dẫn Các nhà tâm lý

đã khẳng định hứng thú là động lực thúc đẩy sự say sưa, tò mò, tích cực tìmhiểu tri thức mới của học sinh, sự hứng thú sẽ tạo ra “thái độ tích cực đối vớihọc tập, là điều kiện rất cần thiết để lĩnh hội tài liệu đạt kết quả cao ” [VA

Cruchetxki (1988), Những cơ sở của tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà

Nội.;tr 76] Trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng, để bài họcthành công, mang lại hiệu quả cao thì giáo viên phải tạo ra và duy trì niềmhưng phấn, sự hứng thú của học sinh Sử dụng các tài liệu hiện vật ở bảo tàng

là một biện pháp cho sự thành công của bài học lịch sử Cùng với sự pháttriển về trình độ so với học sinh đầu cấp THCS (lớp 6) năng lực tư duy lịch sử

ở những học sinh cuối cấp (lớp 9) sẽ được nâng cao hơn khi tiếp xúc với tưliệu, hiện vật ở bảo tàng

Về quá trình nhận thức: quá trình nhận thức của HS trong học tập nói

riêng cũng như quá trình nhận thức của loài người nói chung bao giờ cũng đi

từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính, từ cụ thể, trực tiếp đến khái quát,

từ đơn giản đến phức tạp Những hình ảnh này đều thông qua quá trình cảmgiác, tri giác của con người phản ánh vào sự nhận thức tư duy Bởi vì “cảmgiác là viên gạch xây nên toàn bộ lâu đài nhận thức” và tất cả hiểu biết đềubắt nguồn từ kinh nghiệm, từ cảm giác, tri giác”[Bút ký triết học ,tr.95] Nóicách khác, quá trình nhận thức của HS THCS cũng là một quy luật và quyluật này được phản ánh trong công thức nổi tiếng của Lê nin: “Từ trực quansinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó làcon đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực kháchquan” [nt ,tr.189]

Nhưng khác với quá trinh nhận thức của loài người, quá trình nhận thứccủa HS trong học tập là một quá trình nhận thức mang tính đặc thù Nhận

Trang 24

thức của HS là nhận thức lại những vấn đề mà các nhà khoa học đã nghiêncứu, xác minh nhưng các em chưa biết và quá trình nhận thức này đặt dưới sựhướng dẫn, điều khiển của GV Đó là quá trình nhận thức đi từ nhận thức cảmtính đến nhận thức lý tính Trước hết, các sự vật, hiện tượng của thế giớikhách quan phản ánh trực tiếp vào não HS thông qua các giác quan Tronggiai đoạn cảm tính này, HS phản ánh một cách trực tiếp và riêng lẻ từngthuộc tính các sự vật, hiện tượng Từ đó tạo nên trong óc các em những biểutượng về đối tượng đã được tri giác trước đó, hình thành khái niệm và rút rabài học (nếu có) Nói cách khác, nhận thức cảm tính là cơ sở của nhận thức lýtính.

Thực tiễn đã cho thấy, tài liệu cảm tính càng đa dạng, phong phú baonhiêu thì càng tạo cơ sở thuận lợi bấy nhiêu cho việc nhận thức lý tính Nhậnthức lý tính là giai đoạn tiếp theo của nhận thức cảm tính giúp các em nhậnbiết và giải quyết các vấn đề phức tạp mà cuộc sống đặt ra Chính vì vậy,trong quá trình dạy học, GV cần nghiên cứu nội dung bài học, sử dụng hợp lí,linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học khác nhau để phát huy tính độc lập,năng lực sáng tạo của HS trong học tập, góp phần nâng cao hiệu quả bài học

Về đặc điểm sinh lý: HS THCS thuộc lứa tuổi từ 11 đến 15, là lứa tuổi

thiếu niên Đây là thời kì chuyển từ thời thơ ấu sang tuổi trưởng thành, vẫnmang tính trẻ con nhưng tập làm người lớn Nội dung cơ bản của sự khác biệt

ở lứa tuổi HS THCS với các em lứa tuổi khác là sự phát triển mạnh mẽ, thiếucân đối về các mặt trí tuệ, đạo đức Sự xuất hiện những yếu tố mới của sựtrưởng thành do kết quả biến đổi cơ thể, của sự tự ý thức, của các kiểu quanhệ Vì vậy, trong quá trình dạy học ở trường THCS cần tính đến các đặcđiểm sau:

Về động cơ học tập: Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của lứa

tuổi học sinh, nhưng đến HS THCS hoạt động học tập xây dựng lại một cách

cơ bản so với lứa tuổi tiểu học Đối với các em, hoạt động học tập được xemnhư là hoạt động độc lập hướng vào sự thỏa mãn nhu cầu nhận thức Tuy

Trang 25

nhiên, động cơ học tập lại rất phong phú, đa dạng nhưng chưa bền vững nhiềukhi còn thể hiện mâu thuẫn của nó Để giúp các em có thái độ đúng đắn vớiviệc học tập thì tài liệu học tập phải súc tích về nội dung khoa học, phải gắnthực tiễn cuộc sống, phải gây được hứng thú cho các em và giúp các em cóphương pháp học tập phù hợp, tránh tình trạng hoang mang lo lắng dẫn đếnthất bại.

Về chú ý: Sự phát triển chú ý của HS THCS diễn ra rất phức tạp Chú ý

có chủ định, bền vững được hình thành Mặt khác, sự rung động tích cực vàrung động mạnh mẽ của lứa tuổi này thường dẫn đến chú ý không bền vững.Biện pháp tốt nhất để thu hút sự chú ý của các em là tổ chức các hoạt độnghọc tập hợp lí Cần lưu ý rằng không phải bao giờ các em cũng thích cái vui,cái dễ hiểu mà chính những giờ học có nội dung đòi hỏi tư duy, suy nghĩ mới

là cho các em thấy hào hứng

Về ghi nhớ: HS THCS có nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ tài liệu trừu

tượng, từ ngữ Tốc độ ghi nhớ và khối lượng ghi nhớ được tăng lên Ghi nhớmáy móc ngày càng nhường chỗ cho ghi nhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa, hiệu quảcủa trí nhớ trở nên tốt hơn Các em có khuynh hướng muốn tái hiện lại kiếnthức đã học theo cách diễn đạt của mình và không thích học thuộc lòng GVcần dạy cho HS kỹ năng ghi nhớ logic và rèn luyện cho các em kỹ năng, thóiquen trình bày nội dung đã học bằng ngôn ngữ của mình

Về tư duy: Tư duy khái quát ngày càng chiếm ưu thế, tuy rằng tư duy cụ

thể vẫn còn tồn tại và giữ một vai trò quan trọng Khả năng vận dụng các thaotác tư duy được nâng lên rõ rệt, đặc biệt là đối với HS cuối cấp Ở lứa tuổinày, các em đã biết vận dụng các kiến thức đã học, biết lấy kinh nghiệm riêngcủa bản thân mình để minh họa cho bài học Vì vậy, trong quá trình dạy họcđòi hỏi GV phải quan tâm đến sự phát triển của tư duy trừu tượng

Về giao tiếp: Ở lứa tuổi này nảy sinh cảm giác về sự trưởng thành, các

em muốn được người lớn tôn trọng nhân cách và tin cậy Tính cách độc lậpcủa các em bắt đầu phát triển Đồng thời ở lứa tuổi này có nhu cầu lớn trong

Trang 26

quan hệ giao tiếp với bạn bè, thích hoạt động cùng nhau, mong muốn đượcbạn bè, thầy cô công nhận, thừa nhận, tôn trọng mình Vì vậy, GV cần tạođiều kiện để HS phát triển quan hệ giao tiếp, hợp tác trong tập thể và phải biếthướng, uốn nắn theo hướng phục vụ cho mục tiêu giáo dục.

Nói tóm lại, tâm lí của học sinh THCS có những đặc trưng mà GV cầnnắm được để từ đó xác định cho mình cách tổ chức dạy học cho phù hợp, pháthuy tính tích cực, tư duy sáng tạo của các em trong quá trình học tập Bêncạnh đó, ở bậc THCS các em được tiếp xúc với nhiều môn học khác nhau, nộidung mỗi môn học là đa dạng, phong phú đòi hỏi tư duy độc lập, khả năngphân tích, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa để rút ra kết luận Mỗi mônhọc được trình bày, nghiên cứu, học tập với tư cách là một môn khoa học của

HS phổ thông Do đó các phương pháp dạy học cần linh hoạt đổi mới GVkhông nên trình bày theo SGK một cách máy móc, đơn điệu mà thông quaviệc thảo luận, đặt câu hỏi gợi mở để HS hiểu vấn đề Như vậy, những kiếnthức mà các em thu nhận được sẽ bền vững, sâu sắc hơn Có nhiều hình thức

tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực của HS trong dạy học, đòi hỏi

GV có bản lĩnh sư phạm để tạo cho HS niềm khám phá, tìm tòi kiến thức mới

1.1.4.2 Xuất phát từ đặc trưng của việc DHLS

Bộ môn lịch sử có những đặc trưng riêng so với các bộ môn văn hóakhác Nói đến lịch sử là nói đến những gì đã diễn ra trong quá khứ (các sựkiện, hiện tượng, biến cố lịch sử) không bao giờ lặp lại, cũng không thể môhình hóa lại trong phòng thí nghiệm đúng như nó tồn tại Đặc điểm của trithức lịch sử đã tri phối nhận thức lịch sử Mặc dù hiện tượng khách quan đó

có tồn tại độc lập ngoài ý muốn của con người hoàn toàn nhận thức đượchiện tượng khách quan ấy mặc dù cần sự cố gắng tích cực trong nhận thức.Nhiệm vụ của người giảng dạy lịch sử là làm thế nào để học sinh dễ dàngtưởng tượng hình dung lại những sự kiện , hiện tượng đs đúng như nó từngtồn tại Đây không phải là một yêu cầu dễ đối với GV lịch sử Mặt khác ,họclịch sử không thể dừng lại ở việc HS nắm các kiến thức một cách chung

Trang 27

chung hay điểm qua một vài sự kiện chính, mà phải nhận thức được toàn bộnội dung cơ bản của lịch sử xã hội loài người Từ đó HS có thể tìm ra đượcmối liên hệ bản chất giã các sự kện đẻ so sánh đánh giá ,nhận xét theo tưduy của mình Hay nói cách khác ,học lịch sử không chỉ cần “biết”, ”nhớ” màphải đi tới “hiểu” những quy định về bài học kinh nghiệm Cụ thể, quá trìnhnhận thức của HS trong học tập lịch sử xuất phát từ việc nhận thức những sựkiện, hiện tượng riêng lẻ, có thể phản ánh quá trình phát triển của lịch sử, điđến chỗ khái khoát các chi thức đó thành những khái niệm , quy luật bài học.Trên cơ sở những kiến thức thu được , các em đã giải quyết một cách đúngđắn, thông minh, sáng tạo những vấn đề thực tế trong học tập, trong đời sống

và trong đấu tranh xã hội, thực hiện mục đích, phương châm học lịch sử đểbiết được quá khứ, hiểu hiện tại và đoán định tương lai

1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của tư việc sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường THCS

Theo thống kê hiện nay cả nước ta có hơn 120 bảo tàng gồm các loạihình khác nhau thuộc lịch sử xã hội cũng như lịch sử tự nhiên đã có thể là chỗdựa cho các trường phổ thông trong việc đổi mới dạy học lịch sử dân tộc

Từ rất sớm, các nhà giáo dục đã khẳng định vai trò không thể thiếu củatính trực quan trong dạy học Cômemxki (1592 – 1670) nhà giáo dục họcngười Tiệp đã đưa ra yêu cầu phải đảm bảo tính trực quan trong dạy học.Usinxki (1823 – 1870) cũng quan niệm rằng: hình ảnh được giữ lại đặc biệtvững chắc trong trí nhớ chúng ta là những hình ảnh mà chúng ta thu thậpđược bằng trực giác [trích Mấy ý kiến về sử dụng trực quan trong dạy họclịch sử, NCGD, số 9/1982- Tạ Khánh Hùng]

Tư liệu ở Bảo tàng là phương tiện trực quan quan trọng góp phần tạobiểu tượng lịch sử cụ thể, chân thực, chính xác cho học sinh Tư liệu ở Bảotàng không mang tính lý luận, khái quát, tư liệu ở Bảo tàng thể hiện sự kiện

và hiện tượng cụ thể như: công cụ lao động bằng đá biểu hiện trình độ sảnxuất thời kì đồ đá, bằng sắt thể hiện trình độ sản xuất ở thời đại kim khí, hay

Trang 28

mô hình căn cứ chiến đấu, sa bàn một trận đánh biểu hiện những sự kiện,những cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta Tranh ảnhchụp ở Bảo tàng còn diễn tả một sự kiện riêng lẻ, cục bộ hay một mặt của quátrình lịch sử như sự hình thành một nền văn minh, sự ra đời một Nhà nước.Việc khai thác và sử dụng những tư liệu của Bảo tàng đảm bảo cho quátrình tư duy của HS diễn ra hợp quy luật nhận thức và đảm bảo nguyên tắctrực quan trong dạy học lịch sử Bởi vì, các tư liệu ở Bảo tàng bao gồm (tàiliệu gốc, tranh ảnh lịch sử, mô hình, bản đồ phục chế, tài liệu thành văn) đượcsắp xếp có hệ thống theo trình tự thời gian, là các phương tiện trực quan cógiá trị xuyên suốt trong nhận thức lịch sử đối với học sinh.

Các nhà tâm lý học cũng khẳng định rằng quá trình nhận thức của conngười diễn ra theo con đường từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính.Quá trình nhận thức của học sinh cũng diễn ra theo quy luật như trên Nhậnthức lịch sử mang đặc trưng riêng, khó khăn hơn nhận thức khoa học khác, làkhông thể trực tiếp trực quan sinh động, do vậy nhận thức lịch sử phải bắt đầubằng tạo biểu tượng lịch sử Có nhiều biện pháp để tạo biểu tượng lịch sử chohọc sinh, trong đó sử dụng các nguồn tư liệu, hiện vật lịch sử có ưu thế hơn

cả Nguồn tư liệu, hiện vật này rất phong phú, đa dạng ở các bảo tàng trungương và địa phương Bảo tàng là nơi lưu giữ, trưng bày các bằng chứng “vậtthật” về các sự kiện lịch sử Vì vậy trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông,các tư liệu, hiện vật của bảo tàng vừa là nguồn sử liệu quan trọng, vừa làphương tiện dạy học mang lại hiệu quả cao, góp phần tạo cho học sinh nhữngbiểu tượng lịch sử cụ thể, chân thực, chính xác về các sự kiện lịch sử, còn bổsung các kiến thức lịch sử mà sách giáo khoa không có điều kiện trình bày.Học tập lịch sử tại bảo tàng còn tạo cho HS hứng thú, say mê tìm hiểu lịch sử,bồi dưỡng cho các em lòng tự hào về truyền thống quê hương, đất nước Thamquan học tập tại bảo tàng còn giáo dục cho các em ý thức tôn trọng và gìn giữcác di sản văn hoá quý báu của quê hương mình

Vai trò và ý nghĩa quan trọng của việc sử dụng, khai thác tài liệu, hiện vật của

Trang 29

bảo tàng đối với việc dạy học lịch sử ở trường THCS thể hiện ở các mặt sau đây

sử dụng GV chỉ thực hiện trong giờ nội khoá và chỉ dừng ở mức độ minh họachứ chưa xem đây là nguồn nhận thức làm cho bài giảng thêm nặng nề, thiếutính hấp dẫn

Đa số HS chưa thực sự hứng thú với việc học tập bộ môn lịch sử, điềunày do nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan Trong đó việc ít sử dụngtài liệu dạy học, tài liệu học tập, các em không có điều kiện tiếp cận vớinguồn tài liệu ngoài SGK

Tài liệu, hiện vật ở bảo tàng có ý nghĩa to lớn đối với việc hình thànhkiến thức lịch sử cho HS ở trường phổ thông Với nguồn tài liệu, hiện vật đadạng, phong phú, cụ thể và được sắp xếp theo thứ tự thời gian sẽ làm hiện lêntrước mắt HS những bức tranh quá khứ sinh động, sẽ làm cho học sinh nhanhchóng nắm chắc được kiến thức cơ bản của bài học, sẽ khắc phục được xuhướng “hiện đại hóa lịch sử” của HS Bởi vì: nguồn tài liệu này rất phong phú

và đa dạng, cụ thể nó phản ánh những hoạt động của con người trong quá khứ

về đời sống vật chất, đời sống tinh thần, từ lao động sản xuất, đến đề tài chiếntranh Hơn nữa, những tư liệu, hiện vật ở bảo tàng là nguồn cung cấp kiếnthức giúp cho HS có cái nhìn toàn diện về quá khứ, biểu tượng lịch sử chínhxác, chân thực hơn

Khi quan sát các tư liệu, hiện vật ở bảo tàng HS nhận thức đúng bản chấtcủa sự kiện, hiện tượng lịch sử, từ đó tạo điều kiện cho việc hình thành kháiniệm lịch sử “Biểu tượng lịch sử càng chân thực, cụ thể bao nhiêu thì khái niệmhình thành càng vững chắc bấy nhiêu Vì vậy có thể nói, tài liệu, hiện vật ở bảo

Trang 30

tàng là chỗ dựa đáng tin cậy để HS hình thành khái niệm lịch sử.” [21; 16].

Ví dụ, cho HS lớp 6 học tại bảo tàng địa phương bài 13 lịch sử 6: Đời sốngvật chất và tinh thần của cư dân Văn Lang GV giới thiệu cho học sinh quan sátcác phòng trưng bày hiện vật cổ, như quan sát các công cụ lao động như lưỡicày bằng đồng, lưỡi liềm đồng, Sau đó cho HS quan sát thạp đồng Đào Thịnh.Tiếp đó GV hướng dẫn cho HS quan sát phòng trưng bày trống đồng, từ đó HS

sẽ hiểu được đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Văn Lang

Hay học tập tại bảo tàng, GV dễ dàng cung cấp kiến thức để các em phânbiệt khái niệm “văn minh”, “văn hóa” Đến với bảo tàng các em sẽ biết văn minh– đó là những thành tựu vật chất, tinh thần ở một giai đoạn lịch sử nhất định nhưvăn minh sông Hồng, văn minh Đại Việt Còn “văn hóa” là toàn bộ những giá trịvật chất và tinh thần, trong đó bao hàm cả các nền “văn minh”

Các tư liệu, hiện vật ở bảo tàng không chỉ là nguồn cung cấp kiến thứccho HS mà còn là “đồ dùng trực quan” giúp cho HS hiểu sâu, nhớ lâu nhữngkiến thức lịch sử đã học Như khi dạy bài “Đời sống vật chất và tinh thần của

cư dân Văn Lang” ở mục 1 “Nông nghiệp và các nghề thủ công” giáo viên sửdụng các tư liệu trưng bày ở bảo tàng để dạy: cho HS quan sát “thạp đồngĐào Thịnh”, quan sát “trống đồng Ngọc Lũ” để các em nhận thức được nghềthủ công phát triển nhất thời bấy giờ, kĩ thuật luyện kim phát triển đạt đếntrình độ điêu luyện Trống đồng là vật tiêu biểu cho văn minh Văn Lang Nhưvậy qua việc quan sát các hiện vật trống đồng HS sẽ biểu tượng chân thực vềnhững cơ sở cho sự xuất hiện văn minh Văn Lang - Âu Lạc, nền văn minhđầu tiên của dân tộc ta

Được sự hướng dẫn của cán bộ bảo tàng, giáo viên bộ môn qua tài liệu

và hiện vật ở bảo tàng, các em dễ dàng nắm bắt được bản chất của các sự kiệnlịch sử và nhớ lâu hơn kiến thức đã được lĩnh hội

Như vậy, sử dụng tư liệu, hiện vật của bảo tàng trong dạy học lịch sử ởtrường phổ thông có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc lĩnh hội kiến thức lịch

sử của học sinh

Trang 31

1.1.5.2 Về kỹ năng

Khai thác các tư liệu hiện vật ở bảo tàng trong dạy học lịch sử ngoài tácdụng góp phần hình thành kiến thức lịch sử, giáo dục tư tưởng, đạo đức, còngóp phần rèn luyện kỹ năng, phát triển các năng lực tư duy độc lập, sáng tạocủa các em

Sử dụng các tư liệu hiện vật ở bảo tàng trong dạy học lịch sử dân tộc gópphần rèn luyện cho học sinh thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh,khái quát hóa trừu tượng hóa Việc sử dụng tài liệu, hiện vật ở bảo tàng trongdạy học LS không dừng lại ở việc minh họa, tạo biểu tượng LSDT mà còntừng bước hình thành khái niệm giúp học sinh nắm vững đặc trưng bản chất,mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử, rút ra bài học, quy luật lịch sử… Trên cơ

sở đó, bồi dưỡng cho các em tư tưởng, tình cảm, lòng yêu quê hương và tráchnhiệm đối với cộng đồng

Sử dụng các tư liệu, hiện vật ở bảo tàng trong dạy học lịch sử còn giúp

HS phát triển các năng lực tri giác, như quan sát, hình dung, tưởng tượng vềcác sự kiện lịch sử một cách sinh động, cụ thể

VD: Khi dạy bài 10 (SGK Lịch sử lớp 6), khi GV sử dụng bảo tàng trongdạy học, GV hướng dẫn cho HS quan sát các công cụ sản suất như: rìu đá HoaLộc, rìu đá Phùng Nguyên, lưỡi cày đồng, lưỡi liềm đồng… Từ đó HS sẽ hìnhdung tưởng tượng, phát triển được năng lực tri giác của mình, HS sẽ hiểuđược sự mở rộng địa bàn cư trú của người Việt cổ, sẽ thấy được công cụ sảnxuất gồm những gì và thấy được những điểm cải tiến của công cụ sản xuấtcủa người Việt cổ

Dưới sự dẫn dắt của giáo viên bộ môn, của hướng dẫn viên bảo tàng HS

sẽ được rèn luyện kỹ năng quan sát, khả năng tưởng tượng, diễn đạt lô gickiến thức thông qua các tài liệu, hiện vật, mô hình, bản đồ, tranh ảnh lịch sử.Đồng thời các em còn phải phân tích, đối chiếu, so sánh các tư liệu ở bảotàng với kiến thức trong sách giáo khoa Từ đó góp phần phát triển khả năngnhận thức, đặc biệt là năng lực tư duy Các em còn trình bày được một cách

Trang 32

tổng hợp bằng ngôn ngữ khoa học về các sự kiện lịch sử đã học, tự mình làmđược các đồ dùng trực quan như vẽ bản đồ, vẽ chân dung các nhân vật lịch

sử, xây dựng niên biểu lịch sử

Chẳng hạn như khi đến tham quan học tập tại Bảo tàng Phòng không –không quân, học sinh sẽ được quan sát, thăm quan phần trưng bày ngoài trờivới những hiện vật khối được trưng bày khoa học giới thiệu các bộ sưu tậphiện vật vũ khí độc đáo về 4 lực lượng của bộ đội PK- KQ: Pháo Cao xạ, Máybay, Tên lửa, Ra đa Đây là những vũ khí đã lập nhiều chiến công xuất sắc:Khẩu pháo 37mm của khẩu đội Tô Vĩnh Diện tham gia chiến dịch Điện BiênPhủ

Như vậy, việc khai thác và sử dụng tư liệu Bảo tàng đảm bảo cho quátrình tư duy của học sinh diễn ra hợp quy luật nhận thức và đảm bảo nguyêntắc trực quan trong DHLS Bởi vì, các tư liệu ở Bảo tàng bao gồm (tài liệugốc,, tranhanhr lịch sử, mô hình, bản đồ phục chế, tài liệu thành văn ) đượcsắp xếp theo trình tự thời gian, là phương tiện trực quan có giá trị xuyên suốttrong nhận thức đối với học sinh

1.1.5.3 Về tư tưởng, thái độ

Khai thác hiệu quả các tài liệu, hiện vật ở bảo tàng không chỉ giúp HSbiết, hiểu nhanh, nhớ lâu các kiến thức lịch sử mà còn có ý nghĩa giáo dục tưtưởng, đạo đức cho các em Trong thời đại mới, học sinh rất thông minh, các

em được tiếp xúc với công nghệ thông tin hiện đại bên cạnh sự đổi mới tiêntiến của giáo dục các em có khả năng nhận thức, tư duy lôgic Vì vậy, chúng

ta không thể giáo dục các em bằng “lý thuyết suông” Mặc dù, trong tình hìnhhiện nay có một bộ phận nhỏ thế hệ trẻ thờ ơ với quá khứ, buông thả với cuộcsống, với tương lai của mình, nhưng những tài liệu, hiện vật phong phú ở bảotàng có khả năng kích thích ham muốn tìm tòi, khơi dậy tính hiếu kỳ khoahọc, óc suy luận Qua đó, hình thành cho HS các xúc cảm lịch sử: yêu, ghét,kính trọng, khâm phục…và dấy lên lòng tự hào dân tộc trong các em

Ví dụ, khi quan sát mô hình kháng chiến chống quân xâm lược Mông

Trang 33

Nguyên, cùng với những cùng với những chiến cọc Bạch Đằng nhọn trên đầubịt sắt, các em thấy được ý chí đánh giặc và giết giặc của quân và dân ta thờiTrần Các em sẽ khâm phục Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn – những vị tướng

đã lãnh đạo nhân dân đánh tan đế quốc Mông Nguyên – một đế quốc đi chinhphục hầu khắp thế giới ở thế kỉ XIII

Hay khi quan sát bức ảnh của các anh vệ quốc đoàn hai tay nâng quảbom ba càng, hiên ngang đứng trên chiến lũy trước của chợ Đồng Xuân sẵnsàng lao vào xe tăng địch, học sinh sẽ hiểu cụ thể hơn về chiến công và conngười các anh Những tư liệu, hiện vật được trình bày sẽ gợi dạy cho các emthái độ khâm phục, kính trọng, lòng biết ơn và tự suy nghĩ về trách nhiệm củabản thân

Khai thác và sử dụng bảo tàng còn có ý nghĩa rất sâu sắc đối với việcgiáo dục lòng yêu nước cho HS phổ thông hiện nay Các tư liệu, hiện vật ởbảo tàng địa phương là một trong những vũ khí sắc bén nhất để giáo dục lòngyêu nước nói chung, tình yêu quê hương mình, tình yêu thiên nhiên, niềm tựhào về truyền thống cách mạng của quê hương mình

Ví dụ, đưa học sinh lớp 9 đến học tập tại bảo tàng Phòng không – khôngquân , GV hướng dẫn và giới thiệu cho HS quan sát phần trưng bày trong nhàvới hơn 3.000 hiện vật, hình ảnh đã tái tạo lại những trang sử oai hùng của bộđội Phòng không – Không quân, mỗi hiện vật, hình ảnh trong hệ thống trưngbày là huyền thoại về những chiến công xuất sắc của bộ đội Phòng không –Không quân qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, lập nên những

kỳ tích anh hùng đánh thắng không quân nhà nghề của nước có nền khoa học

kỹ thuật hiện đại đến nay vẫn còn là những điều hấp dẫn đối với nhiều kháchtham quan trong và ngoài nước

Như vậy, sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông cótác động mạnh mẽ đến tư tưởng tình cảm đạo đức của HS

Ngoài ý nghĩa giáo dưỡng, giáo dục và phát triển, bảo tàng còn giúp giáoviên, học sinh biết cách sưu tầm, làm giàu kiến thức lịch sử và đồ dùng dạy

Trang 34

học Điều này đặc biệt cần thiết đối với những trường nằm cách xa bảo tàng.Tóm lại, sử dụng tư liệu và hiện vật ở bảo tàng có tác dụng to lớn trongviệc hình thành kiến thức lịch sử, giáo dục tư tưởng tình cảm đạo đức và pháttriển HS, nâng cao được hiệu quả dạy học lịch sử nói chung, ở trường THCSnói riêng.

1.2.1 Thực trạng việc khai thác và sử dụng tư liệu ở Bảo tàng của giáo viên THCS tại Hà Nội trong dạy học lịch sử.

Với quan niệm môn Lịch sử chỉ trở nên hấp dẫn khi học sinh nhận biếtđược quá khứ đang tồn tại trong hiện tại và còn hiện diện ở tương lai, nhiềutrường học, từ BGH cho đến GV bộ môn Sử đã có nhiều động thái để nâng

Trang 35

cao chất lượng dạy - học môn Sử như: Tăng cường những giờ học tại các bảotàng, di tích lịch sử để kết nối học sinh với hiện vật, liên hệ với lịch sử địaphương…

Trong thực tế giảng dạy, một vài nơi cũng đã tiến hành sử dụng bảo tàngtrong dạy học lịch sử ở trường phổ thông như:

Năm 1991 – 1992, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam cũng đã kết hợp với

Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội tổ chức giảng dạy tại Bảo tàng Cách mạngViệt Nam bài “Chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954 và chiến thắng lịch sửĐiện Biên Phủ”

Năm 1994 – 1995, giáo viên ở hai trường THPT Kim Liên và THPTMinh Khai (Hà Nội) tiến hành dạy học tại Bảo tàng Cách mạng Việt Namnhằm tham gia thực hiện đề tài : “Bảo tàng Cách mạng Việt Nam với việc dạy

và học lịch sử ở trường THPT Kim Liên và Minh Khai”

Năm 1995, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, trung tâm giáo dục truyềnthống lịch sử thuộc trung ương hội tâm lý giáo dục học Việt Nam, hội tâm lýgiáo dục học Hà Nội đã tiến hành hội nghị chuyên đề “Bảo tàng và di tích vớigiáo dục truyền thống lịch sử cho tuổi trẻ học đường”

Ngày 25 – 3 – 2003, nhân dịp kỉ niệm 72 năm ngày thành lập Đoànthành niên cộng sản Hồ Chí Minh, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam kết hợpvới Ban tư tưởng – Văn hoá trung ương Đoàn tổ chức phòng trưng bày “Tuổitrẻ Việt Nam – những chặng đường lịch sử”

Ngày 29/4/2014, Bảo tàng Lịch sử quốc gia khai mạc triển lãm ảnh

“Điện Biên Phủ chiến trường xưa và nay” đã giới thiệu một số hình ảnh vềcác di tích Điện Biên Phủ ngày nay bằng công nghệ 3D GV tại Hà Nội cóthể đưa HS đến tham quan, học tập để có những cái nhìn chân thực hơn vềchiến dịch Điện Biên Phủ, để biết thêm về một Điện Biên trong thời kỳ đổimới sau 60 năm xây dựng và phát triển

Nhân dịp kỷ niệm 39 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhấtđất nước (30/4/1975-30/4/2014) và 60 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

Trang 36

(7/5/1954 - 7/5/2014) Bảo tàng lịch sử quốc gia đã xây dựng câu lạc bộ “Em

yêu lịch sử” với các chủ đề với nhiều nội dung khác nhau như: “Âm vang

Điện Biên”, “Trận quyết chiến chiến lược”, “Chiến trường Nam bộ chia lửa với Điện Biên”, “Bác Tôn - Câu chuyện giáo dục trong gia đình qua những

lá thư”, “Côn Đảo - nơi ấy đừng quên”…

Song đây mới chỉ là những việc làm có tính thí điểm còn vấn đề khaithác và sử dụng Bảo tàng trong dạy học lịch sử vẫn chưa được thực hiện rộngrãi Do đó thời gian tới, chúng ta nên đưa hình thức này vào dạy học lịch sử

để góp phần thiết thực nâng cao hiệu quả giảng dạy

1.2.2 Thực tiễn của việc sử dụng Bảo tàng Phòng không – Không quân trong dạy học lịch sử tại các trường THCS tại Hà Nội.

Sử dụng Bảo tàng đóng vai trò quan trọng trong việc chiếm lĩnh tri thứcmới, có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả DHLS Tuy nhiên, hiệnnay việc sử dụng Bảo tàng nói chung, Bảo tàng Phòng không – Không quânnói riêng chưa được quan tâm đúng mức, hay nói cách khác HS chưa được tiếpxúc học tập nhiều với các tư liệu ở Bảo tàng Để làm sáng tỏ vấn đề này, chúngtôi đã tiến hành điều tra, khảo sát thực tiễn ở trường THCS làm cơ sở chonhững kết luận và định hướng cho các biện pháp sư phạm trong đề tài nghiêncứu của mình

Chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát thực tiễn về việc sử dụng Bảo tàngtrong DHLS ở 3 trường THCS: trường THCS Khương Mai, Phương Mai vàTHCS Hoàn Kiếm (Hà Nội) Sau khi tiến hành điều tra và xử lí số liệu, bằngphương pháp định lượng, chúng tôi đã thu được kết quả đáng tin cậy, phảnánh trung thực về việc sử dụng Bảo tàng trong DHLS ở trường THCS Quađiều tra thực tế, chúng tôi thấy có những quan niệm khác nhau về việc sửdụng Bảo tàng dẫn đến những cách nhìn nhận khác nhau đối với vai trò và ýnghĩa của việc sử dụng bảo tàng trong DHLS Kết quả như sau:

1.2.2.1 Về phía GV

Chúng tôi đưa ra một số câu hỏi nhằm tìm hiểu nhận thức của GV về

Trang 37

phương pháp sử dụng Bảo tàng trong quá trình DHLS ở trường THCS (xem

chi tiết phụ lục 2a và 2b), kết quả thu được như sau:

Trước hết, chúng tôi thăm dò ý kiến đánh giá về hứng thú học tập của

HS với môn LS hiện nay, 0% GV cho rằng HS “Không thích” môn Lịch sử; chỉ có 2 GV chiếm 25 % cho là thích”, đa số GV cho rằng “bình thường” chiếm 62,5% và 12,5 % GV cho rằng HS “không thích” môn Lịch sử Điều

đó, theo chúng tôi cũng một phần ảnh hưởng đến tư tưởng và phương phápgiảng dạy của GV

Đối với câu hỏi “Theo thầy (cô) việc khai thác và sử dụng bảo tàng

trong dạy học lịch sử ở trường THCS có cần thiết không ?” khi đưa ra quan

điểm về vai trò của việc khai thác và sử dụng Bảo tàng trong DHLS, trong số

8 GV được hỏi ở 3 trường THCS, thì 100% GV cho rằng đó là “cần thiết”.

Điều đó chứng tỏ GV hiểu được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc sử dụngBảo tàng trong DHLS

Về vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng Bảo tàng trong dạy học: đối với

GV có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm, họ thường xuyên chú ý việc vậndụng các phương pháp nhằm phát huy tính tích cực trong đó có sử dụng Bảotàng trong dạy học lịch sử cho HS hơn Đối với GV trẻ, chuyên môn khá tốt,năng động họ cũng chịu khó vận dụng, muốn đổi mới phương pháp, họ cũngchú ý thay đổi phương pháp cho phù hợp với chương trình và xu hướng đổimới phương pháp giảng dạy Qua điều tra cho thấy 100% GV cho rằng:

Cung cấp, minh họa, cụ thể hóa kiến thức, góp phần tạo biểu tượng lịch sử chính xác cho HS; Gây hứng thú, rèn luyện kỹ năng, tư duy thực hành bộ môn; Góp phần giáo dục truyền thống cho học sinh, giáo dục tình yêu quê hương đất nước, giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ Như vậy cho thấy hầu hết

các GV đều khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng Bảo tàng trongDHLS

Tìm hiểu về mức độ tổ chức cho HS học tập tại Bảo tàng, chúng tôi đưa

ra câu hỏi: Ở trường các thầy (cô) công tác, có thường xuyên tổ chức cho học

Trang 38

sinh học tập tại bảo tàng hay không ? thì 0 GV nào tổ chức “thường xuyên”,

có tới 50% GV “rất ít” tổ chức và thậm chí 12,5% GV “chưa lần nào” tiến

hành công việc trên Điều đó cho thấy, mặc dù nhận thức được tầm quantrọng của việc sử dụng Bảo tàng trong DHLS nhưng thực tế tổ chức lại rấthạn hẹp Điều này liên quan đến thời gian và kinh phí Nhất là đối với việc

tổ chức cho HS gắn những nội dung lịch sử liên quan đến nội dung giảng dạy

trên lớp thì cũng có tới 6 GV chiếm 75% “chưa lần nào” tiến hành công việc

trên

Để cụ thể hơn, chúng tôi tiếp tục đặt câu hỏi: Thầy (cô) đã tổ chức dạy

học 1 tiết nội khóa lịch sử Việt Nam trong giai đoạn 1954 - 1975 tại bảo tàng Phòng không – Không quân lần nào chưa ? có tới 87,5% GV “chưa lần nào”

tổ chức tiết học lịch sử

Tìm hiểu về hình thức: ở đây chúng tôi thăm dò về ý kiến của GV với

câu hỏi: Theo thầy (cô), sử dụng bảo tàng Phòng không – Không quân dưới

hình thức nào là có hiệu quả nhất ? Qua điều tra cho thấy, đa số GV cho rằng

“Học bài nội khóa tại trường” (chiếm 62,5%) Chỉ có 1 GV chiếm 12,5% cho

rằng hình thức “giới thiệu minh họa cho bài học” chiếm 12,5% Điều này

cho thấy, đa số các GV áp dụng phương pháp giảng dạy tại trường, giới thiệuhoặc chọn lọc khi giảng dạy trên lớp

Để có cái nhìn toàn diện hơn về việc cho HS chúng tôi đã đặt câu hỏi

cho từng nội dung Theo thầy (cô) để khai thác và sử dụng bảo tàng Phòng

không – Không quân có hiệu quả nhất, dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THCS cần có những điều kiện nào sau đây ? 100% GV cho rằng: Cần có sự quan tâm của lãnh đạo các cấp (SGD và BGH nhà trường); Có chương trình quy định cụ thể của BGH; Có đầu tư về kinh phí và Có sự giúp đỡ của các cơ quan văn hóa (các bảo tàng tỉnh.

Phân tích và xử lí số liệu điều tra, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:

Về ưu điểm: đa số GV đã nhận thức được tầm quan trọng của việc sử

dụng Bảo tàng nói chung, Bảo tàng Phòng không – Không quân trong DHLS,

Trang 39

vận dụng các phương pháp dạy học nhằm tạo hứng thú học tập cho HS đểnâng cao chất lượng dạy học bộ môn.

Về hạn chế: một số GV vẫn chưa đánh giá đúng vị trí cũng như mục

đích của việc sử dụng Bảo tàng trong DHLS nên trên lớp GV chỉ chú trọngvào cung cấp kiến thức, chưa áp dụng các biện pháp vào việc sử dụng Bảotàng nói riêng và trong DHLS nói chung Điều đó dẫn đến việc HS khônghứng thú khi học LS, phương pháp dạy học trên lớp khô khan, GV còn dạyqua loa cho đúng thời lượng chương trình phân phối Chính vì vậy việc đánhgiá kết quả, năng lực của HS vẫn chưa được chính xác, khách quan

1.2.2.2 Về phía HS

Qua điều tra, khảo sát 300 em HS lớp 9 THCS ( xem phụ lục 1a và 1b)

và thu được kết quả như sau:

Đối với câu hỏi: “Theo em lịch sử là môn học?” , có 50,3% số HS trả lời

là “thích” trong khi số HS lựa chọn phương án trả lời “bình thường” vẫn chiếm 47,7%, có 2 % HS trả lời “không thích” Điều đó cho thấy Lịch sử vẫn là môn

học yêu thích của các em HS

Kiểm nghiệm lại sở thích của HS, chúng tôi đưa ra câu hỏi “Em thích học

lịch sử vì: ”,có tới 95,4% HS lựa chọn cả ba ý kiến trên đó là : Lịch sử hay, hấp dẫn lịch sử giúp em hiểu rõ quá khứ hào hùng; Hiểu được giá trị hoà bình Kết quả trên cho thấy, đa số HS đã nhận thức được giá trị của việc học

tập lịch sử Đây là nhân tố rất quan trọng, thuận lợi cho GV tiến hành cácphương pháp giảng dạy mới cho HS trong quá trình lên lớp

Qua câu hỏi điều tra Em có thích được đến học tập, tham quan tại Bảo

tàng không?, chúng tôi nhận thấy các em đều thích được học các tiết học tại

bảo tàng, có tới 91,3 % chọn phương án “Có” Tuy nhiên vẫn còn 8,7% số các em “không” thích đến bảo tàng Nên hiểu biết về kiến thức lịch sử của

các em còn hạn chế, các em kém hứng thú học tập bộ môn…điều này đượcthể hiện rõ qua tổng hợp phiếu điều tra

Để biết được mức độ của các em khi đến tham quan, học tập tại bảo tàng

Trang 40

Phòng không – Không quân, chúng tôi đưa ra câu hỏi: “Em đã được học tập,

tham quan tại Bảo tàng Phòng không – Không quân chưa?” thì đa số các em

lựa chọn phương án “chưa bao giờ đến”chiếm 66 % và 34 % chọn phương án

“đã đến”; trong khi đó 0 % các em không “thường xuyên” Số liệu này phản

ánh rõ nét tình trạng học tập LS của HS với bảo tàng, các em chưa có đượcphương pháp “học cách học” cũng như kiến thức cần thiết của bảo tàng tronghọc tập hiện nay

Khi được hỏi: “Em có thường xuyên đến tham quan bảo tàng Phòng

không – Không quân vào ngày kỉ niệm chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” không ?” kết quả có tới 92% HS chọn “Chưa lần nào” và chỉ có 8 %

HS “rất ít” được biết đến ngày kỉ niệm này liên quan đến Bảo tàng Phòng

không – Không quân Điều này cho thấy các GV đã phần nào giới thiệu chiếnthắng này qua bài giảng trên lớp, tuy nhiên, số nhiều GV vẫn chưa đưa địnhhướng HS đến tham quan, học tập tại bảo tàng Phòng không – Không quân.Nhằm thăm dò ý kiến của HS về các giờ học LS trên lớp có khác với

việc học tập tại bảo tàng, chúng tôi đặt câu hỏi “Theo em việc học tập tại bảo

tàng Phòng không – Không quân có gì khác so với bài học lịch sử ở trên lớp học?” Có tới 83 % HS cho rằng “thích thú và sinh động hơn”, có 11,3 % HS

cho rằng “Dễ hiểu, nhớ nhanh và nhớ lâu các sự kiện lịch sử hơn” và 5% lại cho là “thêm yêu quê hương đất nước, vẫn còn có 2% HS cho rằng “không có

gì khác, nhàm chán, mệt hơn” Điều này cho thấy phương pháp giảng dạy và

ngôn ngữ của GV có ảnh hưởng rất lớn đến không khí lớp học và hứng thú

cho HS Điều đó chứng tỏ rằng các em mong muốn có những phương pháp

giảng dạy mới như đến Bảo tàng, để thật sự bảo tàng trở thành nơi học tập lịch

Ngày đăng: 19/09/2015, 10:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3 : Biểu đồ kết quả thực nghiệm - Luận văn: Sử dụng bảo tàng phòng không không quân trong dạy học lịch sử việt nam (1954 – 1975) ở trường trung học cơ sở tại hà nội
Bảng 3 Biểu đồ kết quả thực nghiệm (Trang 90)
Nhìn vào bảng 1, bảng 2 và bảng biểu đồ kết quả thực nghiệm, chúng tôi nhận thấy như sau: - Luận văn: Sử dụng bảo tàng phòng không không quân trong dạy học lịch sử việt nam (1954 – 1975) ở trường trung học cơ sở tại hà nội
h ìn vào bảng 1, bảng 2 và bảng biểu đồ kết quả thực nghiệm, chúng tôi nhận thấy như sau: (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w