1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tại sao tư tưởng Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện cơ cấu kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

14 1,3K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tại sao tư tưởng Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện cơ cấu kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 127,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi kết thúc nội chiến, nước Nga bước và xây dựng CNXH -> chính sách “cộng sản thời chiến” không còn phù hợp, kìm hãm sự phát triển của đất nước -> tháng 3/1921 đảng Bôn-sê-vich quyết định thực hiện chính sách kinh tế mới do lê-nin đề xướng.

Trang 1

Đề bài: Tại sao tư tưởng Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện cơ cấu kinh

tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

ĐỀ CƯƠNG 1: Cơ sở lí luận của luận điểm.

1.1 Cơ sở lí luận về thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam

1.1.1.Cơ sở lí luận của Mac-lênin về thời kì quá độ lên CNXH

 Khẳng định tính tất yếu khách quan của thời kì quá độ lên CNXH trong quá trình vận động và phát triển của các hình thái kinh tế xã hội

 Hai con đường quá độ lên CNXH: trực tiếp và gián tiếp

1.1.2.Cơ sở lí luận của Hồ Chí Minh về quá độ lên CNXH ở Việt

Nam

Xuất phát từ tình hình thực tiễn của Việt Nam -> quan niệm về một hình thái gián tiếp cụ thể - quá độ từ một nước thuộc địa nửa phong kiến

1.2 Cơ sở lí luận về kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

- Trong thời kì quá độ, còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu -> tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau

- Quan hệ hàng hóa – tiền tệ là tất yếu của nền kinh tế XHCN

và của thời kì quá độ lên CNXH

2: Kinh nghiệm các nước (Liên Xô).

2.1 Hoàn cảnh lịch sử:

Sau khi kết thúc nội chiến, nước Nga bước và xây dựng CNXH -> chính sách “cộng sản thời chiến” không còn phù hợp, kìm hãm sự phát triển của đất nước -> tháng 3/1921 đảng Bôn-sê-vich quyết định thực hiện chính sách kinh tế mới do lê-nin đề xướng

2.2. Nội dung chính sách

Đặc điểm: nước Nga rộng lớn và hỗn tạp đến mức các loại hình khác nhau của kết cấu KTXH đều xen kẽ với nhau ở trong đó

-> phát triển các thành phần kinh tế: KT nông dân kiểu gia trưởng; sản xuất hàng hóa nhỏ; KT TBCN; KT TB nhà nước (trong đó HTX là một hình thức); KT CNXH

2.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt nam

Trang 2

Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kì quá độ.

3: Thực tiễn

3.1 Bối cảnh thế giới: Sự phát triển của CNXH trở thành hệ thống->

sự giúp đỡ, hỗ trợ và hợp tác giữa các nước

3.2 Thực tiễn Việt Nam: Nước ta là nước thuộc địa nửa phong kiến, tiến lên CNXH không “kinh qua” CNTB, sản xuất nhỏ, lạc hậu, có chiến tranh ->LLSX trình độ thủ công và mang tính chất cá nhân-> năng suất lao động thấp -> sản phẩm làm ra không đáp ứng yêu cầu xã hội trong khi kẻ thù lại đánh phá ác liệt, bao vây cô lập cách mạng Việt Nam -> xây dựng XHCN trong điều kiện vừa hòa bình vừa chiến tranh

4: Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh.

4.1 Xuất phát từ thực tiến 3.1: Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm: “ tiến lên CNXH là bước phát triển tất yếu ở Việt Nam sau khi nước nhà đã giành được độc lập theo con đường cách mạng vô sản”

4.2 Xuất phát từ thực tiễn 3.2: Hồ Chí Minh chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần -> tạo nhiều của cải vật chất, đáp ứng yêu cầu

xã hội, cung cấp kịp thời cho cuộc kháng chiến

5: Tính đúng đắn của luận điểm.

5.1 Sai lầm trước đổi mới

- Về mặt lí luận: mắc bệnh chủ quan duy ý chí, giản đơn hóa, muốn thực hiện nhanh chóng nhiều mục tiêu của CNXH

- Về mặt thực tiễn: Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa

5.2 Đổi mới

- Trước hết, đổi mới tư duy lý luận mà thực chất là nắm vững và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, khắc phục căn bệnh nóng vội, chủ quan, duy ý chí

- Thứ hai, nhận thức đúng đắn về thời kỳ quá độ

5.3 Thành tựu đạt được

Trang 3

NỘI DUNG CHI TIẾT.

1 Cơ sở lí luận của luận điểm.

1.1 Cơ sở lí luận về thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam.

1.1.1.Cơ sở lí luận của Mac-lênin về thời kì quá độ lên CNXH

 Mác, Angghen và Lênin đều khẳng định tính tất yếu, khách quan của thời kì quá độ lên CNXH trong quá trình vận động và phát triển của các hình thái kinh tế

-xã hội và được thể hiện ở các nội dung chủ yếu:

- Sự vận động và phát triển của xã hội không tuân theo

ý chí chủ quan của con người mà tuân theo các quy luật khách quan mà trước hêt và cơ bản nhất là quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX và quy luật kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng

- Nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội, của mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị…suy đến cùng đều

có nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ sự phát triển của LLSX của xã hội đó

- Quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, tức là quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế- xã hội trong lịch sử nhân loại có thể do sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan nhưng giữ vai trò quyết định là nhân tố khách quan Dưới sự tác động của quy luật khách quan xét trong tính chất toàn bộ là quá trình thay thế tuần tự của các hình thái kinh tế - xã hội: nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, TBCN và tương lai

là xã hội cộng sản chủ nghĩa

Do sự tác động của các nhân tố thuộc về điều kiện địa

lí, tương quan lực lượng chính trị của các giai cấp, tầng lớp xã hội truyền thống văn hóa của mỗi cộng đồng người…mà tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người có thể diễn ra với những con đường, hình thức và bước đi khác nhau->tính phong phú đa dạng trong sự phát triển của lịch sử nhân loại Tính chất phong phú, đa dạng của tiến trình phát triển các hình thái kinh tế- xã hội có thể bao hàm những bước phát triển “bỏ qua” một vài hình thái kinh tế - xã hội nhất

Trang 4

định Tuy nhiên, những sự “bỏ qua” như vậy đều phải

có những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định

 Theo quan điểm chủ nghĩa Mac-lênin, có hai con đường quá độ lên CNXH:

- Con đường thứ nhất là con đường quá độ trực tiếp lên CNXH từ những nước tư bản phát triển ở trình độ cao

- Con đường thứ hai là con đường quá độ gián tiếp lên CNXH ở những nước CNTB phát triển còn thấp hoặc

ở những nước có nền kinh tế lạc hậu chưa trải qua thời kí phát triển của CNTB

1.1.2.Cơ sở lí luận của Hồ Chí Minh về quá độ lên CNXH ở

Việt Nam

Trên cơ sở vận dụng lí luận về cách mạng không ngừng,

về thời kì quá độ lên CNXH của chủ nghĩa Mac-lênin và xuất phát từ đặc điểm tình hình thực tế Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định: con đường cách mạng Việt nam là tiến hành giải phóng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến dần lên CNXH> quan niệm về một hình thái gián tiếp cụ thể -quá độ từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu sau khi giành được độc lập dân tộc đi lên CNXH

1.2 Cơ sở lí luận về cơ cấu kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.

- Trong thời kì quá độ, còn tồn tại những hình thức sở hữu khác nhau nên tất yếu còn sản xuất và lưu thông hàng hóa -> còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau Các thành phần kinh tế đó không chỉ dựa trên những hình thức sở hữu khác nhau mà thậm chí đối lập nhau về bản chất xã hội- kinh tế, do đó diễn ra cuộc chiến tranh “ai thắng ai” giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa Trong cuộc đấu tranh này sản xuất và trao đổi hàng hóa xã hội chủ nghĩa phải và có khả năng cải tạo để sử dụng các quan hệ hàng hóa – tiền tệ không phải xã hội chủ nghĩa, nhằm phát triển lực lượng sản xuất trong những lĩnh vực nhất định, tiến tới cải tạo căn bản thành một hình thái sản xuất và trao đổi hàng hóa xã hội chủ nghĩa duy nhất

Trang 5

- Quan hệ hàng hóa – tiền tệ là tất yếu của nền kinh tế XHCN và của thời kì quá độ lên CNXH do cơ sở kinh

tế của CNXH và của thời kì quá độ đã bào hàm tính tất yếu đó

2 Kinh nghiệm các nước.

2.1 Hoàn cảnh lịch sử:

Cuối năm 1920, nội chiến kết thúc, nước Nga chuyển sang thời kỳ xây dựng chế độ xã hội mới Do đó, Chính sách

"cộng sản thời chiến" đã hoàn thành vai trò lịch sử bất đắc dĩ của nó, giờ đây không thể tiếp tục được thực hiện, vì chính sách này không còn kích thích nông dân hào hứng sản xuất, nông dân nhiều nơi đã tỏ ra bất mãn với Chính sách "cộng sản thời chiến" (thể hiện rõ ở cuộc bạo loạn Cron - Xtat gần Lê-nin-grat); khối liên minh công nông có nguy cơ tan vỡ Cho nên cần thiết phải trở lại thực hiện Kế hoạch xây dựng CNXH do V.I.Lê-nin đề ra vào đầu năm 1918, phải trở lại những quan hệ kinh tế khách quan giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn Do những yêu cầu

đó, Đại hội X của Đảng Cộng sản Bôn-sê-vích Nga (họp từ ngày 8-3 đến ngày 16-3-1921) đã chủ trương thay Chính sách “cộng sản thời chiến” bằng Chính sách kinh tế mới (NEP)

2.2 Nội dung chính sách:

Đặc điểm của tình hình nước Nga hiện nay là: nước Nga rộng lớn và hỗn tạp đến mức các loại hình khác nhau của kết cấu kinh tế - xã hội đều xen kẽ với nhau ở trong đó nên Lênin đã chủ trương thực hiện những thành phần kinh tế:

- Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng (phần lớn có tính tự nhiên, nửa dã man)

- Sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì)

- Chủ nghĩa tư bản tư nhân

- Chủ nghĩa tư bản nhà nước

- Chủ nghĩa xã hội

 Ở một số nơi ở Nga còn thịnh hành những phong tục gia trưởng, tình trạng nửa dã man và cả dã man nữa.Nghĩa là trong tất cả mọi nơi mà hàng chục dặm

Trang 6

đường làng nhỏ hẹp không có con đường lớn nào tách khỏi khỏi đường sắt tách khỏi sự liên hệ vật chất với nền văn minh với chủ nghĩa tư bản với đại công nghiệp với thành thị lớn

 Trong một nước tiểu nông thì tính tự phát tiểu tư sản chiểm ưu thế và không thể không chiểm ưu thế; số đông, thậm chí là đại đa số nông dân đều là những người sản xuất hàng hóa nhỏ cho nên cái vỏ CNTB nhà nước (độc quyền lúa mì, giám sát nhà nước đối với chủ xí nghiệp và thương nhân, những người hoạt động trong hợp tác xã tư sản) đang bị bọn đầu cơ chọ thủng khi ở chỗ này, lúc ở chỗ nọ

 Chủ nghĩa tư bản tư nhân đóng vai trò trợ thủ cho chủ nghĩa xã hội Vì hiện nay Nga là một nước tiểu nông, ngành vận tải đạc biệt bị phá hoại, một nước vừa thoát khỏi nạn chiến tranh và nạn bị bao vây, một nước ở dưới sự lãnh đạo chính trị của giai cấp vô sản đang nắm giữ ngành vận tải và đại công nghiệp, thì nhất định kết quả sẽ là: một là hiện nay sự trao đổi địa phương có một ý nghĩa quan trọng bậc nhất, và hai là

có thể sử dụng tư bản tư nhân (chứ đừng nói gì chủ nghĩa tư bản nhà nước) để xúc tiến chủ nghĩa xã hội

 Chủ nghĩa tư bản nhà nước vẫn là một bước tiến to lớn và việc trả “học phí” là một việc đáng giá vì cái đó

có ích cho công nhân, vì việc chiến thắng được tình trạng hỗn độn, tình trạng suy sụp về kinh tế và hiện tượng lỏng lẻo là cái hơn hết, vì việc để tình trạng vô chính phủ của những kẻ tiểu tư hữu tiếp tục tồn tại là mối nguy lớn nhất; còn trả một khoản lớn cho chủ nghĩa tư bản không làm cho chúng ta bị diệt vong trái lại nó sẽ đưa cúng ta tới CNXH bằng con đường chắc chắn nhất

Thứ nhất, chủ nghĩa tư bản nhà nước về kinh tế cao hơn rất nhiều so với nền kinh tế hiện nay của nước Nga Xô-viết

Thứ hai, CNTB nhà nước không có gì là đáng sợ đối với chính quyền Xô-viết, vì nước Xô-viết là một nước

Trang 7

mà trong đó chính quyền của công nhân và nông dân nghèo đã được đảm bảo

2.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt nam.

- Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong suốt thời kì quá độ: Chủ trương trên đây là sự vận dụng sáng

tạo quan hệ hàng - tiền trong "NEP" vào điều kiện nước

ta Nó được rút ra từ những bài học kinh nghiệm thành công và thất bại ở Liên Xô, các nước XHCN Đông Âu và

từ ngay trong thực tiễn nước ta sau khi kết thúc chiến tranh nhất là những năm cuối của thập kỷ 80

3 Thực tiễn.

3.1 Bối cảnh thế giới.

Với sự lớn mạnh toàn diện, CNXH trở thành hệ thống, có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống chính trị thế giới, đóng vai trò quyết định đối với sự sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở ra kỉ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập

và thời đại quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới

3.2 Thực tiến ở Việt Nam.

Nước ta xuất phát từ một nước thuộc địa nửa phong kiến tiến lên CNXH không “kinh qua” CNTB, sản xuất nhỏ, lạc hậu, có chiến tranh nên LLSX trình độ thủ công và mang tính chất cá nhân, năng suất lao động thấp -> sản phẩm làm ra không đáp ứng yêu cầu xã hội trong khi kẻ thù lại đánh phá

ác liệt, bao vây cô lập cách mạng Việt Nam -> xây dựng XHCN trong điều kiện vừa hòa bình vừa chiến tranh

4 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh.

4.1 Xuất phát từ thực tiễn 3.1:

Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng sáng tạo lí luận Mac-lênin

về sự phát triển tất yếu của xã hội loài người theo các hình thái kinh tế-xã hội Quan niệm của Hồ Chí Minh là: “tiến lên CNXH là bước phát triển tất yếu của Việt Nam sau khi nước nhà giành được độc lập theo con đường cách mạng vô sản” Mục tiêu giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản mà Hồ chí Minh đã lựa chọn cho dân tộc Việt Nam là

Trang 8

nước nhà độc lập, nhân dân được hưởng cuộc sống ấm no,

tự do, hạnh phúc

4.2 Xuất phát từ thực tiễn 3.2:

Theo Hồ Chí Minh trong điều kiện nước ta sản xuất nhỏ, lạc hậu, có chiến tranh, cho nên phải phát triển nhiều thành phần kinh tế Người là người đầu tiên chủ trương phát triển

cơ cấu kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và xác định rõ vị trí, xu hướng vận động của từng thành phần, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển ở nước ta lúc này trước hết để tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội Nền sản xuất nhỏ lạc hậu, năng suất lao động thấp, sản phẩm làm ra không đủ đáp ứng yêu cầu của xã hội Trong khi đó

kẻ thù lại đánh phá ác liệt, bao vây, cô lập cách mạng Việt Nam Để đảm bảo cuộc sống của nhân dân, để cung cấp kịp thời cho cuộc kháng chiến ngày càng phát triển và mở rộng, tất yếu chúng ta phải phát triển nhiều thành phần kinh tế Hơn nữa mỗi thành phần kinh tế bao giờ cũng có một giai cấp, tầng lớp xã hội đại diện Quan tâm phát triển các thành phần kinh

tế cũng có nghĩa là quan tân tới lợi ích của các giai cấp và tầng lớp trong xã hội Từ đó mới có thế đoàn kết được mọi lực lượng trong dân tộc, cô lập kẻ thù, tăng cường sức mạnh cho cuộc kháng chiến Như vậy phát triển nhiều thành phần kinh tế ở nước

ta lúc này không chỉ để tạo ra nhiều sản phẩm, đáp ứng yêu cầu

đa dạng, phức tạp trong xã hội, mà điều quan trọng hơn là đoàn kết tất cả các lực lượng trong mặt trận dân tộc thống nhất nhằm đẩy mạnh sản xuất, phục vụ đắc lực cho cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi

Trong “Thường thức chính trị” viết vào năm 1953 Hồ Chí Minh cho rằng nước ta (vùng tự do) nền kinh tế còn tồn tại những thành phần: kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô; kinh tế quốc doanh

có tính chất xã hội chủ nghĩa; kinh tế hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp, các hội đổi công nông thôn, có tính chất nửa xã hội chủ nghĩa; kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công mĩ nghệ; kinh tế tư bản của tư nhân; kinh tế tư bản quốc gia

Phát triển các thành phần kinh tế trên là để thực hiện chính sách kinh tế của Đảng và chính phủ ta lúc đó là: công tư đều lợi, chủ thợ đều lợi, công nông giúp nhau, lưu thông trong ngoài

Trang 9

- Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô là thành phần kinh tế lỗi thời Tuy nhiên để thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, thu hút số địa chủ vừa và nhỏ theo cách mạng, ủng hộ kháng chiến, Hồ Chí Minh không chủ trương xóa bỏ thành phần kinh tế này một cách giản đơn mà chỉ thực hiện giảm tô giảm tức Từ đó tạo điều kiện cho thành phần kinh tế này đóng góp cho cuộc kháng chiến thắng lợi

- Kinh tế quốc doanh tồn tại ở các cơ sở sản xuất kinh doanh của nhà nước, là của chung của nhân dân, phục vụ lợi ích của xã hội Đây là thành phần kinh tế mới ra đời trong chế độ dân chủ mới, chỉ có nó mới đáp ứng được những yêu cầu to lớn và quan trọng của toàn xã hội, đáp ứng được kịp thời những yêu cầu to lớn của cuộc kháng chiên thần thánh của dân tộc ta Theo Hồ Chí Minh, “nó là nền tảng và sức lãnh đạo của nền kinh tế dân chủ mới Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó

và nhân dân ta phải ủng hộ nó”

- Kinh tế hợp tác xã, theo Hồ Chí Minh đã có tính chất nửa xã hội chủ nghĩa Ở đó, “nhân dân góp nhau để mua những thứ mình cần dùng, hoặc để bán những thứ mình sản xuất không phải kinh qua các con buôn Ở nông thôn, những người nông dân có các hội đổi công Họ giúp nhau sản xuất, khắc phục những khó khăn lúc thời vụ, lúc thiều lao động, chống lại thiên tai…cũng từ

đó mà tăng cường tình làng nghĩa xóm, đoàn kết cộng đồng Thành phần kinh tế này sẽ ngày càng được củng cố và phát triển cùng với sự đi lên của chủ nghĩa xã hội

- Kinh tế cá nhân của nông dân và thợ thủ công là thành phần kinh tế cá thể tự cấp, tự túc Họ sở hữu một ít tư liệu sản xuất nhỏ bé, lạc hậu và do đó năng suất lao động rất thấp, “ít có gì

mà bán và cũng ít khi mua gì” Tuy nhiên, trong điều kiện kháng chiến, đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu, lại đang bị kẻ thù bao vây tứ phía thì đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế của nước nhà

- Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế của giai cấp tư sản dân tộc Mặc dù giai cấp tư sản có bóc lột đối với công nhân nhưng đồng thời họ cũng góp phần vào phát triển kinh tế đất nước Giai cấp tư sản nước ta cũng mới ra đời, còn non yếu Trả lời một nhà báo nước ngoài, năm 1947 Hồ Chí Minh nói rõ:

Trang 10

“chúng tôi không chủ trương giai cấp tranh đấu vì một lẽ tầng lớp tư sản Việt Nam đã bị kinh tế thực dân đè nén không cất đầu lên được, khiến cho kinh tế Việt Nam đã bị tiêu diệt, dân cùng tài tận Trái lại, chúng tôi chủ trương làm cho tư sản Việt Nam phát triển Họ có nhiều kinh nghiệp sản xuất, sử dụng vốn,

sử dụng khoa học kĩ thuật…, cho nên chính phủ cần giúp họ phát triển Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân”

- Kinh tế tư bản quốc gia là thành phần kinh tế do nhà tư bản (kể

cả trong nước và nước ngoài) và nhà nước “hùn vôn” với nhau

để kinh doanh trong đó nhà nước giữ vai trò lãnh đạo Đây là thành phần kinh tế mà lênin rất coi trọng trong điều kiện một nước kém phát triển đi lên Theo lênin, thành phần kinh tế này

là “nửa xã hội chủ nghĩa” và sẽ còn tồn tại lâu dài trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở đó giai cấp công nhân phải chấp nhận để giai cấp tư sản bõ lột đến một mức độ nào đó để học tập kinh nghiêm của nó Lênin coi đó là “trả học phí” cho giai cấp tư sản

Ở nước ta Hồ Chí Minh rất coi trọng thành phần kinh tế này Theo người “nhà tư bản thì không khỏi bóc lột Nhưng chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay Chính phủ phải bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân” Điều đó nói lên sự khác nhau cơ bản giữa nhà tư bản trong chủ nghĩa tư bản với nhà tư bản trong chế độ dân chủ mới Nó cũng thể hiện vai trò lãnh đạo của nhà nước đối với thành phần kinh tế này Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: “vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được số lợi hợp lí, không yêu cầu quá mức Chủ và thợ đề

tự giác tự giác tự động tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên”

Như vậy trong điều kiện kháng chiến, Hồ Chí Minh đã thấy được tính tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta đảm bảo sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ lực lượng sản xuất còn là thủ công lạc hậu manh mún hiện có Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần lúc đó vừa là để kiến thiết đát nước, vừa là để phục vụ kịp thời cho cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ của nhân dân Nó vừa đáp ứng được yêu cầu trước mắt đoàn kết tất cả các lực lượng có thể đoàn kết được trong dân tộc, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi, vừa

Ngày đăng: 17/04/2013, 15:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w