Trong những năm gần đây, khi diện tích trồng cây rau họ thập tự tăng, trồng nhiều vụ trong một năm đã dẫn đến sự tích lũy của nhiều nguồn bệnh gây hại và trở thành vấn đề cần quan tâm tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
KIM NGỌC QUÝ
NGHIÊN CỨU BỆNH VI KHUẨN VÀNG LÁ ĐEN GÂN
(XANTHOMONAS CAMPESTRIS PV CAMPESTRIS) HẠI
CÂY RAU HỌ HOA THẬP TỰ VÙNG GIA LÂM, HÀ NỘI
Trang 2Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng kết quả nghiên cứu này là của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị hay một công trình nghiên cứu nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đều
đã được cảm ơn Các thông tin trích dẫn sử dụng trong luận văn đều được ghi rõ các nguồn gốc, xuất xứ
Tác giả luận văn
Kim Ngọc Quý
Trang 3
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt khoảng thời gian thực hiện khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất từ phía các thầy cô để hoàn thành đề tài
Đầu tiên tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo PGS.TS Đỗ Tấn Dũng đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian thực hiện đề tài này
Tôi xin cảm ơn tới các thầy cô giáo và cán bộ, Bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã quan tâm và tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn bà con xã Đặng Xá, xã Văn Đức, xã Cổ Bi huyện Gia Lâm, Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình điều tra và thu thập mẫu bệnh hại trên đồng ruộng
Cảm ơn các bạn, các anh, chị và người thân đã động viên, chia sẻ giúp đỡ tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Kim Ngọc Quý
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu, tác hại và phân bố của bệnh vi khuẩn vàng lá đen
gân (X campestris pv campestris) hại cây rau họ hoa thập tự 4
1.1.4 Đặc điểm xâm nhiễm và phát triển của bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân
(X campestris pv campestris) hại cây rau họ hoa thập tự 8 1.1.5 Phương pháp chẩn đoán bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân 10 1.1.6 Nghiên cứu về biện pháp phòng chống bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv
2.5.1 Điều tra tình hình bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân X campestris pv
campestris hại cây rau họ hoa thập tự tại Gia Lâm, Hà Nội 16 2.5.2 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái khuẩn lạc và đặc tính sinh học của
loài vi khuẩn X campestris pv campestris hại cây rau họ hoa thập tự 17
2.5.3 Nghiên cứu tính gây bệnh của các mẫu phân lập vi khuẩn X
campestris pv campestris phân lập từ các cây ký chủ 20 2.5.4 Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc trong phòng trừ vi khuẩn vàng
3.1 Điều tra tình hình bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân Xanthomonas campestris
pv campestris hại cây rau họ hoa thập tự tại Gia Lâm, Hà Nội 23
3.1.1 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân (X campestris pv
3.1.2 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân (X campestris pv
campestris) hại cây cải thảo tại Gia Lâm, Hà Nội 25
3.1.3 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân (X campestris pv
campestris) hại cây súp lơ trắng và súp lơ xanh tại Xã Văn Đức, Gia
3.1.4 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân (X campestris pv
3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái khuẩn lạc, đặc tính sinh học của
loài vi khuẩn X campestris pv campestris hại cây rau họ hoa thập tự 31 3.2.1 Phương pháp chẩn đoán và giám định bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân 31
3.2.2 Đặc điểm hình thái khuẩn lạc của các mẫu phân lập vi khuẩn X
3.2.3 Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến sự phát triển của khuẩn lạc
các mẫu phân lập vi khuẩn X campestris pv campestris 35
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
3.2.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của các mẫu phân lập vi
khuẩn X campestris pv campestris trên môi trường nhân tạo SPA 36 3.2.5 Một số thử nghiệm đặc tính sinh lý, sinh hóa của các mẫu phân lập vi
3.3 Nghiên cứu tính gây bệnh của các mẫu phân lập vi khuẩn X
campestris pv campestris phân lập từ các cây ký chủ 39 Tiến hành thu thập từ các nguồn bệnh từ các cây: Su hào, cải bắp, súp lơ xanh
sau đó phân lập các isolates vi khuẩn X campestris pv campestris
thuần trên các cây ký chủ khác nhau là: Su hào, cải bắp, súp lơ xanh Sau đó lấy các isolates vi khuẩn đã được phân lập và làm thuần ở trên
3.3.1 Nghiên cứu tính gây bệnh của các mẫu phân lập vi khuẩn X campestris
pv campestris phân lập từ các cây ký chủ trên cây ký chủ su hào 39
3.3.2 Nghiên cứu tính gây bệnh của các mẫu phân lập vi khuẩn X campestris
pv campestris sphân lập từ các cây ký chủ trên cây ký chủ cải bắp 40
3.3.3 Nghiên cứu tính gây bệnh của các mẫu phân lập vi khuẩn X
campestris pv campestris phân lập từ các cây ký chủ trên cây ký chủ
3.4 Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc trong phòng trừ vi khuẩn vàng
3.4.1 Nghiên cứu khả năng ức chế của một số loại thuốc đối với vi khuẩn vàng
lá đen gân trên môi trường nhân tạo SPA mẫu phân lập từ cải bắp 42 3.4.2 Nghiên cứu khả năng ức chế của một số loại thuốc đối với vi khuẩn
vàng lá đen gân trên môi trường nhân tạo SPA mẫu phân lập từ su hào 44 3.4.3 Nghiên cứu khả năng ức chế của một số loại thuốc đối với vi khuẩn vàng
lá đen gân trên môi trường nhân tạo SPA mẫu phân lập từ cải thảo 46
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân (X campestris pv
campestris) hại cây cải bắp NS-Cross tại Gia Lâm, Hà Nội 24 3.2 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân (X campestris pv
3.3 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân hại cây súp lơ trắng và súp
3.4 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân (X campestris pv
3.5 Một số đặc điểm triệu chứng nhận biết bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân
X campestris pv campestris hại rau họ hoa thập tự 31 3.6 Đặc điểm hình thái khuẩn lạc của các mẫu phân lập vi khuẩn
X campestris pv campestris trên các môi trường nhân tạo 33 3.7 Ảnh hưởng của môi trường SPA và PPSA đến sự phát triển của các
mẫu phân lập vi khuẩn X campestris pv campestris 35 3.8 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của các mẫu phân lập vi
khuẩn X campestris pv campestris trên môi trường SPA 37 3.9 Phản ứng tính sinh hóa của các mẫu phân lập vi khuẩn X campestris
3.10 Một số thử nghiệm đặc tính sinh lý của các mẫu phân lập vi khuẩn
3.11 Nghiên cứu tính gây bệnh của các mẫu phân lập vi khuẩn X
campestris pv campestris phân lập từ các cây ký chủ trên ký chủ cây
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii
3.12 Nghiên cứu tính gây bệnh của các mẫu phân lập vi khuẩn X
campestris pv campestris phân lập từ các cây ký chủ trên cây ký chủ
3.13 Nghiên cứu tính gây bệnh của các mẫu phân lập vi khuẩn X.campestris
pv campestris phân lập từ các cây ký chủ trên cây ký chủ súp lơ xanh 41 3.14 Khả năng ức chế của một số loại thuốc với vi khuẩn vàng lá đen gân
3.15 Khả năng ức chế của một số loại thuốc với vi khuẩn vàng lá đen gân
trên môi trường nhân tạo SPA mẫu phân lập từ su hào 44 3.16 Khả năng ức chế của một số loại thuốc với vi khuẩn vàng lá đen gân
trên môi trường nhân tạo SPA mẫu phân lập từ cải thảo 46
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân (X campestris pv
3.2 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân (X campestris pv
3.3 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân hại cây súp lơ trắng và súp
3.4 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân (X campestris pv
3.6 Màu sắc khuẩn lạc của vi khuẩn X campestris pv campestris hại súp
3.7 Màu sắc khuẩn lạc của vi khuẩn X campestris pv campestris hại cải
3.8 Màu sắc khuẩn lạc của vi khuẩn X campestris pv Campestris
A) Khuẩn lạc hại cải thảo; B) Khuẩn lạc hại súp lơ xanh trên môi trường PPSA 34 3.9 Khả năng ức chế của một số loại thuốc đối với vi khuẩn vàng lá đen
3.10 Khả năng ức chế của một số loại thuốc đối với vi khuẩn vàng lá đen
3.11 Khả năng ức chế của một số loại thuốc đối với vi khuẩn vàng lá đen
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm nên thuận lợi cho việc gieo trồng nhiều loại cây trồng, trong đó có cây rau thuộc họ hoa thập tự Rau là loại thực phẩm rất cần thiết cho cuộc sống và không thể thiếu đối với sức khỏe của con người, là loại cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao và sản phẩm rau cũng là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị Tính đến năm 2005, tổng diện tích trồng rau của cả nước đạt 635,8 nghìn ha, sản lượng 9640,3 ngàn tấn;
so với năm 1999 diện tích 459,6 nghìn ha diện tích tăng 175,5 nghìn ha (tốc độ tăng bình quân 3,61%/năm), sản lượng tăng 3071,5 nghìn tấn (sản lượng năm 1999 là 5792,2 nghìn tấn) tốc độ tăng bình quân 7,55%/năm (Tạ Thu Cúc và cs., 2006) Trong đó, phải kể đến vai trò của cây rau họ hoa thập tự, là thực phẩm không thể
thiếu trong bữa ăn hàng ngày của mỗi người dân Rau họ thập tự Brasscicaceae
chiếm 50% tổng sản lượng rau và xuất hiện gần như quanh năm trong cả nước, nó còn giải quyết vấn đề rau trái vụ Các loài rau họ thập tự được trồng với diện tích lớn và có ý nghĩa kinh tế là rau cải xanh, cải ngọt, cải củ, bắp cải, su hào, súp lơ chúng là những cây có giá trị dinh dưỡng cao và được nhiều người ưa thích
Cây rau thuộc họ thập tự có giá trị dinh dưỡng, kinh tế cao, có chứa rất nhiều loại vitamin và các khoáng chất Trong đó cải bắp cũng dồi dào nguồn kali, canxi, magie, sắt, sulfur, folate, vitamin K, axit folic…Đặc biệt, nguồn vitamin C chứa trong cải bắp còn nhiều hơn cả trong cam, cải bắp còn được xem là chất chống oxy hóa tốt nhất Tác dụng y học của súp lơ đối với cơ thể con người thì thành phần khoáng chất vitamin của súp lơ rất có ích bởi nó có tác dụng từ nhiều mặt Kích thích các quá trình trao đổi chất và tham gia vào hoạt động tạo máu để củng cố hệ tim mạch, cũng như các chức năng bảo vệ cơ thể Vì thế mà súp lơ không chỉ được coi là một món ăn dinh dưỡng quý giá mà còn là một thành phần dinh dưỡng quan trọng đối với trẻ em (Tạ Thu Cúc và cs., 2006)
Huyện Gia Lâm, TP Hà Nội là một trong những nơi có vùng sản xuất rau lớn ở khu vực ngoại thành Hà Nội, là nơi có nhiểu điểm sản xuất rau thu đông và xuân hè như xã Đặng Xá, xã Đa Tốn, xã Văn Đức, xã Cổ Bi Việc trồng rau tập trung nhiều cây rau họ hoa thập tự đã mang lại nguồn thu nhập kinh tế ổn định cho
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2
các hộ nông dân Trong những năm gần đây, khi diện tích trồng cây rau họ thập tự tăng, trồng nhiều vụ trong một năm đã dẫn đến sự tích lũy của nhiều nguồn bệnh gây hại và trở thành vấn đề cần quan tâm trong sản xuất, trong đó có bệnh vàng lá đen gân do vi khuẩn gây ra Đây là một trong những bệnh hại được coi là quan trọng và nguy hiểm nhất đối với cây rau họ thập tự và có thể dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng sản phẩm
Bệnh vàng lá đen gân hại rau họ thập tự còn được gọi là bệnh đen gân, bệnh
tắc mạch dẫn do vi khuẩn Xanthomonas campestris pv campestris gây nên Bệnh
có thể dễ dàng lây lan nhanh trên đồng ruộng và thiệt hại do dịch bệnh gây ra có thể vượt quá 50% trong điều kiện thời tiết ấm áp, ẩm ướt (Mohammad, 1999) Đây là bệnh khá phổ biến trên cải bắp, bệnh làm cháy lá, giảm trọng lượng của cây ký chủ, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, đặc biệt ở các vùng có khí hậu nhiệt đới nóng
ẩm (Alvarez, 2000; Vicente và Holub, 2012) Bệnh được phát hiện đầu tiên do Harman ở Mỹ vào năm 1889 Bệnh rất phổ biến ở châu Âu, châu Á, châu Phi và châu Mỹ (Bradbury, 1986; CABI, 2012) Bệnh có thể làm chết cây ký chủ, làm giảm năng suất thu hoạch và làm giảm chất lượng giá trị sản phẩm Bệnh vàng lá đen gân gây hại trên nhiều loại cây rau họ hoa thập tự như cải bắp, cải thảo, súp lơ,
su hào,…Do đó, việc xác định được tác nhân gây bệnh là điều cần thiết để làm cơ
sở cho các biện pháp chống bệnh một cách có hiệu quả, tạo ra sản phẩm rau an toàn
Từ thực tiễn tại những vùng trồng rau màu bị bệnh vàng lá đen gân gây hại trên cây rau họ thập tự, xuất phát từ thực tế và sự phân công của Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, với sự hướng dẫn của PGS.TS Đỗ Tấn Dũng
chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân
(Xanthomonas campestris pv campestris) hại cây rau họ hoa thập tự vùng
Gia Lâm, Hà Nội”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
Tìm hiểu tình hình bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân hại cây rau họ hoa thập
tự vùng Gia Lâm, Hà Nội; nghiên cứu xác định nguyên nhân gây bệnh, một số đặc điểm hình thái, đặc tính sinh học và khảo sát biện pháp phòng trừ bệnh
1.2.2 Yêu cầu
Điều tra thực trạng và mức độ phổ biến của bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
trên cây rau họ thập tự tại vùng Gia Lâm, Hà Nội năm 2014
Phân ly, nuôi cấy loài vi khuẩn X campestris pv campestris, xác định
nguyên nhân gây bệnh
Nghiên cứu đặc điểm hình thái khuẩn lạc, đặc tính sinh học của vi khuẩn
X campestris pv campestris
Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc đối với vi khuẩn X campestris pv campestris trên môi trường nhân tạo
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu, tác hại và phân bố của bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân (X campestris pv campestris) hại cây rau họ hoa thập tự
Bệnh vàng lá đen gân được coi là bệnh quan trọng nhất trên cây rau họ hoa thập tự Bệnh lần đầu tiên được mô tả bởi nhà thực vật học và côn trùng học Harrison Garman ở Lexington, Kentucky, Hoa Kỳ vào năm 1889 Bệnh được phát hiện ở Thái Lan vào năm 1983 (Schaad và Thaveechai, 1983) Kể từ đó, bệnh vàng
lá đen gân đã được tìm thấy trong hầu hết các nước, chúng đã được ghi nhận có mặt
ở khoảng 85 quốc gia khắp Châu Phi, Châu Á, Bắc Mỹ và Nam Mỹ (Bradbury, 1986; Walangululu và Mushagalusa, 2000; CABI, 2012; Vicente và Holub, 2012)
Sự phân bố của bệnh vàng lá đen gân X campestris pv campestris, theo CABI
(2012) cho đến nay bệnh này đã xuất hiện nhiều quốc gia Ở châu Âu bao gồm: Bungary, CH Séc, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hy Lạp, Thủy Điển, Thụy Sĩ, Anh
Ở châu Á: Brunei, Campuchia, Trung Quốc, Nhật, Malayxia, Nepan,
Philippin, Srilanka, Thái Lan, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam (Jensen et al.,
2010; CABI, 2012)
Ở Châu Phi gồm có Angola, Ethiopia, Ghana, Libya, Malawi, Mozambique,
ở Châu Đại Dương bệnh xuất hiện ở New South Wales, Queensland thuộc Ốt-xtrây-
lia (CABI, 2012 ; Mulema et al., 2012)
Loài vi khuẩn X campestris pv campestris là tác nhân gây bệnh vàng lá đen
gân, một trong những bệnh gây hại nghiêm trọng nhất trên các loại rau, gây ra thiệt hại lớn nhất ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới có khí hậu ẩm ướt, nhưng cũng gây hại nặng ở vùng lạnh hơn, các vùng ven biển ở phía đông bắc châu Âu và Bắc
Mỹ (CABI, 2012)
Ở Ấn Độ, bệnh lần đầu tiên được phát hiện trên cải bắp từ Bombay, Pradesh, mất mùa lên đến 50% trong cải bắp đã được ghi nhận Mức độ nghiêm trọng của bệnh này được ghi nhận trong cải bắp giống mẫn cảm như Golden Acre của Ấn Độ, các cây có thể bị nhiễm bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian tăng trưởng tức là từ
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5
cây con cho đến khi trưởng thành (Miller et al., 1996)
Theo Alvarez (2000), bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân đã trở thành căn bệnh
lớn làm hạn chế đến sản xuất cải bắp (Brassica oleracea var capitata) trồng ở châu
Phi, nơi cây trồng với diện tính lớn, gây hại nặng đặc biệt là trong điều kiện thời tiết
ấm áp và mùa mưa Theo Zhao et al (2000), bệnh vàng lá đen gân do vi khuẩn
X campestris pv campestris gây ra thiệt hại nặng nề cho các vùng trồng rau họ thập
tự tại bang Oklahoma, Hoa Kỳ Ở Argentina, vi khuẩn X campestris pv campestris
là tác nhân gây bùng phát thành dịch trên cây cải ngọt (Gaetan và Lopez, 2005) Ở
Montenegro, vi khuẩn X campestris pv campestris gây hại trên nhiều loại cây rau
họ hoa thập tự, năng suất có thể bị giảm 40-50% đã được ghi nhận (Radunović và Balaž, 2012)
1.1.2 Triệu chứng bệnh
Theo kết quả nghiên cứu của Alvarez (1994), triệu chứng ở cây được lây bệnh ở giai đoạn lá mầm đã có thể hình thành các vệt hoại tử
Triệu chứng điển hình của bệnh vàng lá đen gân là do nhiễm vi khuẩn, các
mô bị nhiễm biến màu từ xanh nhạt sang màu vàng và sau đó chuyển sang màu nâu
và chết Triệu chứng có thể xuất hiện ở bất kỳ giai đoạn tăng trưởng, làm đen mạch dẫn Các mạch dẫn trong lá bị nhiễm bệnh, thân và rễ đôi khi trở thành màu đen (Mohammad, 1999; Alvarez, 2000)
Cây nhiễm bệnh có triệu chứng vết bệnh điển hình dạng chữ “V” Cây có thể
bị nhiễm bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân ở bất kỳ giai đoạn sinh trưởng Ban đầu triệu chứng xuất hiện làm đen dọc theo rìa của lá mầm Sau đó, lá mầm héo và giảm, nhưng chỉ sau khi các vi khuẩn đã xâm nhập vào lá non và thân cây Cây con
bị bệnh chuyển sang màu vàng nâu, héo và chết Vi khuẩn thường gặp nhất xâm nhập vào cây thông qua lỗ khí khổng ở mép lá Kết quả là lá cây héo, vết bệnh hình chữ “V” khu vực bị nhiễm bệnh nhỏ mà mở rộng vào phía trong từ mép lá về phía
gân chính làm đen gân (Miller et al., 1996; Mohammad, 1999; Alvarez, 2000)
Khi tác nhân gây bệnh từ mép lá tới của các mô mạch dẫn sau sự xâm nhập của vi khuẩn, tổn thương đối với tác nhân gây bệnh thối mềm khác như loài
Pectobacterium carotovorum (trước đây còn có tên gọi là Erwinia carotovora) và Pseudomonas marginalis Đối với bệnh vàng lá đen gân, cây bị tổn thương do
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6
Xanthomonas campestris gây ra là cơ hội để các tác nhân gây bệnh thối nhũn khác như Pectobacterium carotovorum) tấn công gây hại (Williams, 1980; Mohammad,
1999; Alvarez, 2000)
C) Hình 1.1 Triệu chứng bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân A) trên cây cải bắp;
B) trên cây súp lơ; C) vết bệnh hình chữ V
(Nguồn ảnh: Mohammad, 1999; và Internet)
1.1.3 Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân do X campestris pv campestris gây ra Về phân loại, vi khuẩn X campestris pv campestris thuộc (CABI, 2012):
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
Bộ : Xanthomonadales
Họ : Xanthomonadaceae
Loài : Xanthomonas campestris
Dạng chuyên hóa: Xanthomonas campestris pv campestris
Vi khuẩn X campestris pv campestris còn có tên gọi khác là (CABI, 2012): Bacillus campestris Pammel (1895);
Pseudomonas campestris (Pammel) Smith (1897);
Bacterium campestris (Pammel) Chester (1897);
Phytomonas campestris (Pammel) Bergey (1923);
Xanthomonas campestris pv campestris (Dowson) Dye et al (1980)
Các tác giả trên thế giới thường sử dụng thuật ngữ chủng để chỉ các mẫu vi
khuẩn X campestris pv campestris khác nhau về bất cứ đặc điểm nào như nguồn
gốc phân lập, hình thái, sinh học, sinh thái và di truyền Chủng (strain) của vi khuẩn
X campestris pv campestris khác nhau tùy thuộc vào cây ký chủ, phân bố, độc
tính, mối quan hệ dịch tễ và đặc tính sinh lý của vi khuẩn (Alvarez, 1994) Bên cạnh phương pháp truyền thống xác nòi dựa vào phạm vi ký chủ và dựa vào phản ứng sinh hóa, nhờ thành tựu của sinh học phân tử, ngày nay phân tích ADN trở thành phương pháp chính xác và phù hợp để xác định chủng nhiều loại ký sinh, trong đó
có các nòi, chủng của vi khuẩn X campestris pv campestris gây bệnh đốm vàng
gân đen hại cây họ thập tự
Theo Vicente et al (2001, 2006), Fargier và Manceau (2007) cho biết, bằng phân tích ADN qua phương pháp RFLP đã xác định vi khuẩn X campestris được xếp
vào 3 nhóm độc tính gây 3 loại bệnh khác nhau trên cây rau họ thập tự gồm: i) Loài
X campestris pv campestris và loài X campestris pv aberrans gây bệnh thối đen; ii) Loài X campestris pv raphani gây bệnh đốm lá; iii) Loài X campestris pv incanae gây bệnh cháy lá
Bệnh vàng lá đen gân (bệnh thối đen) hại cây rau họ hoa thập tự do loài
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8
X campestris pv campestris gây hại được coi là loài gây hại quan trọng nhất trên
cây rau ăn lá như cải bắp, cải thảo, cải ngọt, súp lơ và nhiều loài cây cải hoang dại
Brassica spp (Bradbury, 1986).
Vi khuẩn X campestris pv campestris bao gồm có 6 nòi (race) từ nòi 1 đến nòi 6, trong đó, nòi 1 và nòi 4 là các nòi quan trọng đối với cây cải bắp Brassica oleracea và các nòi này phân bố rộng rãi ở các vùng trên thế giới (Vicente et al.,
2001, Taylor et al., 2002, Ignatov et al., 2007) Cho đến thời gian gần đây, nòi 7 của
vi khuẩn X campestris pv campestris cũng đã được xác định (Fargier và Manceau, 2007; Jensen et al., 2007, 2010) Tác giả Fargier và Manceau (2007) còn đưa ra nòi
8 và nòi 9 vào hệ thống phân loại đối với các mẫu phân lập có phổ ký chủ hẹp Theo
Bila et al (2013), nòi 1 của vi khuẩn X campestris pv campestris gây hại trên
nhiều cây họ hoa thập tự tại Mozambique
Vi khuẩn X campestris pv campestris là loài vi khuẩn có dạng hình gậy,
thuộc gam âm hiếu khí, kích thước 0,4-0,5 x 0,7-3 µm, có một lông roi ở đầu, có vỏ nhờn, hảo khí, khuẩn lạc màu vàng, phân giải rất chậm gelatin theo Schaad (1988), phân giải đường glucose, lactose, saccharose tạo ra axit yếu, phân giải tinh bột, không có khả năng khử nitrate, có khả năng tạo khí indole, H2S và NH3, catalase dương tính và oxidase âm tính, vi khuẩn phát triển ở 35°C sản xuất Levan, có khả năng tạo H2S, thủy phân Tween 80, gelatin, esculin có khả năng tạo indol và hydrogen sulfide và phát triển ở 35°C và không phát triển trên môi trường TTC 0,1% và 0,02% Vi khuẩn sản sinh axit từ đường arabinose, arginine, dulcitol,
galactose, d-glucose, maltose, mannose, sorbitol, sucrose (Schaad, 1988; Schaad et al., 2001)
Toàn bộ genome của vi khuẩn X campestris pv campestris đã được giải mã
thành công, đăng ký trên Ngân hàng Gen (GenBank) với các mã số NC_003902,
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
sang màu đen Trên súp lơ, bệnh thường xuất hiện trên những chiếc lá gần trên Lá
bắp cải và súp lơ nhiễm vi khuẩn X campestris pv campestris thường còi cọc,
chuyển sang màu vàng nâu, héo, trong trường hợp cây có thể chết (Mohammad, 1999; Alvarez, 2000)
Vi khuẩn lây lan qua các gân lá vào thân Một mặt cắt ngang điển hình của một thân cây bị nhiễm bệnh hoặc cuống lá cho thấy một vòng đen do vi khuẩn xâm nhập vào gân lá Cây bị ảnh hưởng có thể nhanh chóng thối trước khi hoặc sau khi thu hoạch do các sinh vật mềm mục nát thứ cấp Vi khuẩn mềm thối thường xâm nhập tổn thương đen thối, có mùi hôi (Mohammad, 1999; Alvarez, 2000)
Phạm vi nhiệt độ tối ưu cho vi khuẩn phát triển và phát triển triệu chứng là từ 25°C đến 30°C Một tốc độ chậm hơn tăng trưởng được quan sát thấy ở nhiệt độ thấp như 5°C và lên đến 35°C Tuy nhiên dưới 18oC các cây vẫn bị nhiễm có triệu trứng Độ ẩm, trời có sương, sương mù, hay mưa là điều kiện thuận lợi cho khả năng lây và phát triển bệnh Theo các điều kiện tối ưu, các triệu chứng có thể xuất hiện trên các cây 7-14 ngày sau khi nhiễm bệnh Ở nhiệt độ thấp, các triệu chứng
phát triển chậm hơn (Miller et al., 1996; Mohammad, 1999; Alvarez, 2000)
Điều kiện ấm áp và ẩm ướt thuận lợi cho vi khuẩn và sự phát triển của bệnh
Độ ẩm là cần thiết cho vi khuẩn X campestris pv campestris xâm nhập vào cây, vi
khuẩn có thể thông qua các lỗ khí khổng xâm nhập vào cây Vào mùa xuân, khi cây giống xuất hiện, vi khuẩn chuyển từ lá mầm vào lá non trực tiếp hoặc thông qua các
lỗ khí Các vi khuẩn di chuyển cho đến khi đạt mô mạch và từ đó lan rộng ra Mầm bệnh lây lan từ cây này sang cây khác bằng nước tưới thiết bị, côn trùng và các động vật khác và trong các loại cây trồng rất nhạy cảm, chẳng hạn như súp lơ, trực tiếp thông qua khí khổng (Mohammad, 1999)
Việc sử dụng hạt giống sạch bệnh có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát sinh gây hại của bệnh thối đen, một số kết quả thí nghiệm đã cho biết mức độ lây nhiễm ban đầu là 0,5% có thể tăng lên 65% chỉ trong vòng ba tuần (Williams, 1980;
Mohammad, 1999) Vi khuẩn X campestris có thể lây từ hạt giống và tỷ lệ nhiễm là
0,03% nhưng có thể gây ra dịch bệnh và vi khuẩn có thể sống sót trong các tàn dư cây trồng và cây cỏ dại trong thời gian hai năm (Alvarez, 2000; Köhl và van der
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
Wolf, 2005) Theo kết quả nghiên cứu của Roberts et al (2007), sự lây lan của bệnh
thối đen hại cây rau họ thập tự có thể được nhiều hơn nữa nhanh hơn, lây lan của mầm bệnh nhanh đến mức trong một thí nghiệm gần như 100% các cây cấy ghép đã
bị nhiễm khuẩn trong một khối 15 khay (xấp xỉ khoảng 4.500 cây) sáu tuần sau khi gieo từ một lây nhiễm chính duy nhất
Các cây ký chủ của vi khuẩn X campestris pv campestris gồm các cây thuộc
họ hoa thập tự, trong đó bao gồm cải bắp, cải xanh, súp lơ, cải xoăn, củ cải, su hào, súp lơ xanh, súp lơ trắng và các cây cải hoang dại Vi khuẩn tồn tại trong hạt giống cây trồng và các tàn dư còn lại trên đồng ruộng, tồn tại đặc biệt tốt và trong nhiều
cỏ dại bao gồm mù tạt đen, mù tạc, su hào, súp lơ, cải xoong (Mohammad, 1999;
CABI, 2012; Vicente et al., 2012)
Vi khuẩn X campestris pv campestris là loài còn có khả năng tồn tại trong
đất, lan truyền nhờ nước tưới, nước mưa, gió bụi, qua hạt giống, côn trùng môi giới, tuyến trùng và qua dụng cụ chăm sóc,v.v (CABI, 2012)
1.1.5 Phương pháp chẩn đoán bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân
a) Phương pháp chẩn đoán bằng kỹ thuật lam ép
Từ các mẫu lá bệnh thu thập trên đồng ruộng, sau đó khử trùng bề mặt lá bệnh bằng cồn 70% và chọn những vết bệnh điển hình bằng dao mổ đã vô trùng Cắt ngang vết bệnh và đặt vào giọt nước cất vô trùng trên lam kính, sau đó quan sát
dịch vi khuẩn trên kính hiển vi (Schaad et al., 2001)
b) Các phương pháp chẩn đoán khác
Ngoài các phương pháp thông thường dùng trong chẩn đoán, giám định vi khuẩn gây bệnh vàng lá đen gân hại cây rau họ thập tự, hiện nay trên thế giới đã ứng dụng các kỹ thuật phân tử để phát hiện nhanh chóng và chính xác tác nhân gây bệnh như phương pháp phân tích FAME (fatty acid methyl ester), SDS-PAGE (sodium dodecyl sulphate polyacryamide gel electrophoresis), rep-PCR (Repetitive-
element polymerase chain reaction), PCR, Dot-Blot,… (Chitarra et al., 2002; Massomo et al., 2003; Park et al., 2004; Berg et al., 2006; Simões et al., 2007, Zaccardelli et al., 2007; Lema et al., 2012).
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
1.1.6 Nghiên cứu về biện pháp phòng chống bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân (X campestris pv campestris)
a) Biện pháp canh tác
Biện pháp canh tác là một trong những biện pháp được coi là mang lại hiệu quả kinh tế nhất trong phòng chống bệnh vàng lá đen gân Trên thế giới, việc chọn lọc và phát triển các giống kháng trong việc kiểm soát bệnh vàng lá đen gân đã thu được nhiều thành công Tuy nhiên, sự biểu hiện tính kháng chịu ảnh hưởng rất nhiều của các nhân tố môi trường như nhiệt độ, ẩm độ đất, lượng mưa, chu kỳ sáng,…các nguồn phổ biến nhất và có khả năng hữu ích của kháng bệnh vàng lá
đen gân xảy ra trong hệ gen cải bắp khác bao gồm Brassica rapa, B.nigra, B.napus, B.carinata và B.juncea Sử dụng các giống cải bắp kháng bệnh như Tenacity,
Gideon, Gloria (Shimelis, 2005)
Việc áp dụng các biện pháp luân canh cây trồng không phải là cây ký chủ
của vi khuẩn X campestris pv campestris đặc biệt là với cây trồng nước được coi là
biện pháp hữu hiệu trong việc giảm mật độ vi khuẩn tồn tại trong đất và tàn dư cũng như giúp hạn chế tối đa nguồn bệnh từ vụ trước Biện pháp xen canh cũng đem lại hiệu quả trong phòng chống bệnh vàng lá đen gân vi khuẩn Thường xuyên vệ sinh đồng ruộng, nhặt bỏ tàn dư cây bệnh và cây ký chủ của vi khuẩn gây bệnh (Taylor
et al., 2002; Seebold et al., 2008)
Ngoài ra còn một số biện pháp khác nhằm hạn chế sự phát sinh, phát triển của bệnh như thu hạt giống khỏe, sạch bệnh trên những cây không bị nhiễm bệnh để giống, xử lý hạt giống trước khi gieo trồng Vi khuẩn gây bệnh vàng lá đen gân có thể tồn tại trên và trong hạt Xử lý nước nóng có thể được sử dụng để tiêu diệt các
vi khuẩn có thể xâm nhiễm được hạt giống Đối với cải bắp và cải bruxen, ngâm hạt giống trong 25 phút ở 50°C nước, cải thảo, bông cải xanh, súp lơ, cải xoăn, su hào,
củ cải, ngâm trong 20 phút ở 50°C nước Mù tạc, cải xoong và củ cải ngâm trong
nước 50°C trong 15 phút (Seebold et al., 2008)
b) Biện pháp sinh học
Dùng các vi khuẩn đối kháng như Bacillus subtilis R14, B pumilus C116,
B.megaterium pv cerealis RAB7 và B cereus C210., cũng có tác dụng hạn chế tác
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12
hại của bệnh (Luna et al., 2002; Massomo et al., 2004)
và Artal (2013), sử dụng streptocycline (nồng độ 100 ppm) để xử lý hạt giống và dùng kết hợp streptocycline (nồng độ 100 ppm) + copper oxychloride (nồng độ 0,3%)
để phun có hiệu quả phòng trừ bệnh Theo Krauthausen et al (2011), phun chlorine
dioxide (ClO2), benzoic acid và copper hydroxide cũng có hiệu quả phòng trừ cao Hiện nay, nhiều hóa chất khác nhau được sử dụng để xử lý hạt giống, như sodium hypochlorite, hydrogen peroxide, acetate cupuric và sulfat kẽm
d) Biện pháp quản lý tổng hợp
Từ trước cho đến nay, có nhiều chiến lược phòng chống bệnh vàng lá đen gân ở các nước trên thế giới đã được phát triển, nhưng trên thực tế bệnh vàng lá đen gân vẫn không nằm trong tầm kiểm soát của con người bởi nhiều yếu tố như cây trồng, điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên,…Việc áp dụng biện pháp phòng chống bệnh vàng lá đen gân riêng rẽ sẽ không mang lại hiệu quả như mong muốn
Để phòng chống bệnh có hiệu quả thì phải áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp, kết hợp hài hòa các biện pháp như chọn và dùng giống kháng bệnh, biện pháp canh tác, biện pháp hóa học, (CABI, 2012)
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Thực tiễn sản xuất ở những vùng trồng rau họ hoa thập tự cho thấy bệnh vàng lá đen gân phát sinh, phát triển và gây hại ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển, năng xuất và cũng như chất lượng sản phẩm Tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu về tác nhân gây bệnh và phòng chống bệnh
Trên cây cải bông và một số loại rau ăn lá như cải thìa, cải xanh, cải ngọt thì
bệnh đốm lá do vi khuẩn Xanthomonas spp gây nên thường xuất hiện trong vụ
Đông Xuân, trên cây cải bông, bệnh đốm lá xuất hiện nhiều hơn so với các giống
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
cải khác (Trần Thanh Tùng, 1997)
Theo Mai Thị Vinh (1998), bệnh đốm lá cải bông do vi khuẩn Xanthomonas
spp gây nên Triệu chứng bệnh ban đầu là các đốm vàng nhỏ, màu sáng ở các lá thấp gần phía mặt đất, bệnh thường gây hại nặng vào gần cuối vụ thu hoạch; tỷ lệ bệnh ở trên đồng ruộng ở giai đoạn phát triển thân lá đạt khoảng 21%, nhưng ở giai đoạn ra bông, tỷ lệ bệnh có thể lên đến 50%
Theo tài liệu của tác giả Lê Lương Tề và cs (2007), bệnh đốm đen gân lá gây hại các cây thuộc họ hoa thập tự, chủ yếu trên cải bắp, cải súp lơ, su hào và
nhiều loại cây thuộc họ Brassiceae, Rhaphanus và một số thuộc họ Nyctaginaceae
Triệu chứng điển hình nhất của bệnh là các gân lá bị đen, mô lá đốm vàng, cắt ngang thân bó mạch thấy bị thâm đen thành vòng hoặc đứt quãng, có dịch nhầy vi khuẩn đùn ra trên lát cắt nhưng không gây ra hiện tượng thối nhũn Gân lá bị thâm đen thường bị từ rìa lá vào trong, lá vàng dần, giòn khô, cây con bị bệnh có thể chết sau vài tuần lễ hoặc sinh trưởng phát triển không đều, không cuốn bắp Su hào bị bệnh có hiện tượng thân bị rỗng, lá rụng do các bó mạch ở thân, lá bị bệnh làm vít tắc bó mạch dẫn nên ảnh hưởng lớn tới sự vận chuyển, cân bằng chế độ nước trong cây, làm cây héo, úa vàng (Lê Lương Tề và cs., 2007)
Bệnh đốm đen gân lá do vi khuẩn gây bệnh X campestris pv campestris gây nên Vi khuẩn gây bệnh X campestris pv campestris có dạng hình gậy ngắn, kích
thước 0,4 - 0,5 x 0,7 - 3 µm, có một lông roi ở đầu, có vỏ nhờn, háo khí, khuẩn lạc màu vàng, phân giải rất chậm gelatin, phân giải đường glucose, lactose, saccharose tạo ra axit (yếu), phân giải tinh bột, không có khả năng khử nitrat, có khả năng tạo indol, H2S và NH3 (Lê Lương Tề và cs., 2007)
Nguồn bệnh vi khuẩn truyền qua hạt và tàn dư cây bệnh ở đất Vi khuẩn xâm nhiễm vào cây qua vết thương, thuỷ khổng và lỗ hở tự nhiên trong các giai đoạn sinh trưởng từ cây con đến thu hoạch Sau khi xâm nhập qua lỗ hở vào cây, vi khuẩn di chuyển theo gian bào, xâm nhập vào các mạch dẫn tới phôi hạt Thời kỳ tiềm dục (ủ bệnh) phụ thuộc vào giống và vị trí lây bệnh, điều kiện nhiệt độ, ẩm độ Nói chung, thời kỳ tiềm dục kéo dài từ 10 - 15 ngày Bệnh truyền lan nhờ côn trùng,
ốc sên, gió, mưa và phát triển mạnh trong điều kiện mưa, ẩm ướt, nhiệt độ > 20oC (Lê Lương Tề và cs., 2007)
Để phòng chống bệnh này, nhiều biện pháp phòng chống được áp dụng như:
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
Vệ sinh, thu dọn sạch tàn dư cây bệnh, cầy lật gốc cải bắp sau khi thu hoạch Tiêu diệt cỏ dại họ hoa thập tự vì đây là một trong những nguồn bệnh lây nhiễm cho cây trồng Gieo trồng bằng hạt giống khoẻ, sạch bệnh; lấy hạt giống ở những cây khoẻ, loại bỏ cây bệnh trong ruộng làm giống, xử lý hạt giống bằng thuốc hoá học hoặc bằng nước nóng 50oC trong thời gian từ 15 - 30 phút Chọn lọc, sử dụng một số giống cải bắp chống chịu Bón phân kali làm tăng sức chống chịu bệnh hạn chế bệnh hại và phòng chống côn trùng môi giới truyền lan bệnh trên đồng ruộng (Lê Lương Tề và cs., 2007)
Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Xuân Quang và cs (2008a, 2008b),
bệnh vàng đen gân hại cây rau họ hoa thập tự là do vi khuẩn X campestris pv campestris gây nên, thuộc nhóm gram âm, khuẩn lạc tròn, lồi, rìa nhẵn, màu vàng
trên môi trường PDA và YDC Hóa lỏng gelatin, phân huỷ protein, tạo axít từ các đường glucose, arabinose và manose Vi khuẩn thuộc nhóm ưa nhiệt trung bình, nhiệt độ thích hợp từ 25-35°C, sinh trưởng chậm dưới 20°C, ngừng sinh trưởng từ
40oC trở lên (Lê Lương Tề và cs., 2007)
Từ những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, chúng tôi nhận
thấy rằng vi khuẩn X campestris pv campestris là một loại vi khuẩn gây hại cây
rau họ hoa thập tự, gây ảnh hưởng và nhiều thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp Nhất
là ở nước ta hiện nay bệnh vẫn chưa được quan tâm và nghiên cứu nhiều Vì vậy nghiên cứu về vi khuẩn bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân hại cây rau họ hoa thập tự là vấn đề cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
Chương 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân X campestris pv campestris hại cây rau họ
hoa thập tự vụ đông năm 2014 tại vùng Gia Lâm, Hà Nội
2.2 Nội dung nghiên cứu
1 Điều tra tình hình bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân X campestris pv campestris hại cây rau họ hoa thập tự vùng Gia Lâm, Hà Nội
2 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái khuẩn lạc và đặc tính sinh học của
loài vi khuẩn X campestris pv campestris hại cây rau họ hoa thập tự
3 Nghiên cứu tính gây bệnh của các mẫu phân lập vi khuẩn X campestris
pv campestris phân lập trên các cây ký chủ
4 Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc trong phòng trừ vi khuẩn vàng lá đen gân trên môi trường nhân tạo
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại: vùng trồng cây rau họ hoa thập tự tại Gia Lâm, Hà Nội
Bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Nhà lưới Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 4 năm 2014 đến tháng 2 năm 2015
2.4 Vật liệu nghiên cứu
* Các dụng cụ trong phòng thí nghiệm bao gồm:
Tủ lạnh, tủ định ôn, buồng cấy, nồi hấp, kính hiển vi, kính soi nổi, bếp điện,
lò vi sóng, cân điện tử, cân bàn
Đĩa petri, que cấy vi khuẩn, các loại cốc thủy tinh, ống đong, bình đựng nước, dao, kéo, đèn cồn, đũa thủy tinh, panh, khay đựng, túi nilon
Hóa chất: Aga, Pepton, Sacaro, Mg(SO4).7H2O, KH2PO4, Ca(NO3)2 Pb(CH3COO)2.3H2O, (C6H10O5)n.xH2O, dung dịch Povidon-iod HD, dung dịch oxy già (H202), dung dịch Fucsin…
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16
Thuốc hóa học: Strep Gold 100WP (hoạt chất: streptomycin sulfate), Elcarin 0,5SL (hoạt chất: fugous proteoglycans); Norshield 86,2WG (hoạt chất: cuprous oxide)
* Môi trường để phân lập và nuôi cấy vi khuẩn
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng loại môi trường nhân tạo PPSA (khoai tây-pepton-saccaro-agar), SPA (saccaro-pepton-agar)
- Môi trường PPSA: Khoai tây 200g, Agar 20g, đường Saccaro 20g, nước cất
1000 ml, Pepton 5g, Mg(SO4)7H2O 0,25g, KH2PO4 0,5g, Ca(NO3)20,2g
Cách điều chế: Khoai tây rửa sạch, thái nhỏ kích thước 1 x 2 x 1 cm cho vào nồi chứa 1000 ml nước cất đun sôi, sau khi đun sôi được 20 phút thì lọc lấy phần nước, bổ sung thêm nước cho đủ 1000ml Cho từ từ 20g agar, đường Saccaro 20g, nước cất 1000 ml, Pepton 5g, Mg(SO4)7H2O 0,25g, KH2PO4 0,5g và Ca(NO3)2 0.2g vào dung dịch nước trên, khuấy đều nhẹ nhàng cho dung dịch hòa tan đồng thời đun sôi Môi trường được cho vào bình tam giác sau đó hấp khử trùng ở 1210C trong thời gian 45 phút, mang ra để nguội 55- 600C trước khi rót vào đĩa petri đã được khử trùng
- Môi trường SPA:
Cách điều chế: Khi đun sôi 1000 ml nước cất thì cho từ từ các hóa chất Agar 20g, đường Sacaro 20g, nước cất 1000 ml, Pepton 5g, Mg(SO4)7H2O 0,25g, KH2PO4
0,5g vừa cho vừa khuấy đều nhẹ nhàng cho dung dịch hòa tan đồng thời đun sôi Môi trường được cho vào bình tam giác sau đó hấp khử trùng ở 1210C trong thời gian
45 phút, mang ra để nguội 55-600C trước khi rót vào đĩa petri đã được khử trùng
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Điều tra tình hình bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân X campestris pv campestris hại cây rau họ hoa thập tự tại Gia Lâm, Hà Nội
Điều tra thành phần và mức độ phổ biến của bệnh theo phương pháp điều tra theo quy chuẩn quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT; chọn công thức đại diện, tiến hành điều tra định kỳ
7 ngày 1 lần, điều tra theo 5 điểm chéo góc
* Điều tra diễn biến bệnh
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17
Điều tra và xác định điểm điều tra, điều tra định kỳ 7 ngày một lần, điều tra
10 điểm, mỗi điểm lấy 10 cây, mỗi cây 1 lá ngẫu nhiên ngẫu nhiên (cố định điểm điều tra)
2.5.2.1 Phương pháp phân lập và giám định vi khuẩn
Phương pháp phân lập vi khuẩn theo Bradbury (1986); Schaadd et al (2001)
Từ những vết bệnh thu thập được ngoài đồng ruộng, chúng tôi tiến hành
kiểm tra xác định sơ bộ tác nhân gây bệnh Chọn những mẫu bệnh mới, vết bệnh
trung bình, điển hình sau đó rửa sạch Chuẩn bị dụng cụ: dao, panh, giấy thấm vô
trùng, que cấy vi khuẩn, cốc thủy tinh đựng cồn 70%, nước cất, bàn thái
Khử trùng buồng cấy bằng cồn 70% Nhúng panh và dao mổ trong cồn 70%
và hơ trên ngọn lửa đèn cồn Đồng thời nhúng nhanh mẫu bệnh vào cồn 70%, rửa
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18
lại trong nước vô trùng và để khô trên giấy thấm vô trùng Khử trùng một lam kính
và nhỏ một giọt nước vô trùng lên lam, nhẹ nhàng lau khử trùng bề mặt lá bằng giấy thấm cồn Dùng những dụng cụ đã khử trùng cắt những mẫu bệnh nhỏ từ vết bệnh
và đưa sang giọt nước trên lam kính Quan sát dịch vi khuẩn đùn ra từ vết bệnh trên kính hiển vi Cắt nhỏ, chà sát miếng cắt để giải phóng vi khuẩn vào giọt nước, để khoảng 5 phút để vi khuẩn có thời gian giải phóng vào giọt nước Nhúng que cấy vi khuẩn đã được khử trùng vào giọt nước và cấy lên môi trường Bọc đĩa lại bằng nilon gói thực phẩm và để ở nhiệt độ 290C để vi khuẩn phát triển
Theo dõi và kiểm tra sự phát triển của vi khuẩn Quan sát đặc điểm phát triển của vi khuẩn trên môi trường: hình thái, màu sắc khuẩn lạc, bề mặt khuẩn lạc
Cấy truyền vi khuẩn: Chọn đĩa petri có nguồn vi khuẩn, tiến hành khử trùng que cấy vi khuẩn Sau đó dùng que cấy và cấy vi khuẩn từ đĩa petri có nguồn vào đĩa petri có môi trường mới Cấy thuần nhằm tạo nguồn bệnh vi khuẩn cho thí nghiệm nhà lưới
* Thử phản ứng Gram của vi khuẩn gây bệnh
Thử KOH 3% để phân biệt vi khuẩn Gram âm và Gram dương theo phương pháp nghiên cứu của Gregerson (1978)
Khử trùng buồng cấy, lam kính, que cấy vi khuẩn bằng cồn 70% Nhỏ 1 giọt KOH 3% vào lam kính, lấy que cấy vi khuẩn đã khử trùng lấy vi khuẩn ở môi trường đã nuôi cấy cho vào lam đã nhỏ giọt KOH 3%, sau đó dùng que cấy vi khuẩn đó ray khuẩn lạc một lúc và khi kéo vi khuẩn lên thấy sợi, kết luận vi khuẩn
đó có phản ứng Gram (-)
2.5.2.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái khuẩn lạc của các mẫu phân lập vi khuẩn
X campestris pv campestris
Tiến hành nuôi cấy các isolates của vi khuẩn X campestris pv campestris
trên môi trường nhân tạo SPA, PPSA ở cùng một ngưỡng nhiệt độ 30oC, sau đó theo dõi đặc điểm hình thái, màu sắc bề mặt khuẩn lạc sau 24h, 48h và 72h nuôi cấy trên môi trường nhân tạo
2.5.2.3 Nghiên cứu khả năng phát triển của các vi khuẩn X campestris pv campestris phân lập từ các cây ký chủ nhiễm bệnh trên một số môi trường nhân tạo SPA và PPSA
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19
* Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến sự phát triển của khuẩn lạc các mẫu phân lập vi khuẩn X campestris pv campestris
Cấy các mẫu vi khuẩn được phân lập từ các giống cải bắp nhiễm bệnh trên môi trường SPA, PPSA, đặt trong điều kiện nhiệt độ 30oC Mỗi môi trường lặp lại 3 đĩa petri cho một mẫu vi khuẩn
Tiến hành đo khuẩn lạc vi khuẩn của mẫu phân lập được cấy trên các môi trường sau 24, 48, 72 giờ nuôi cấy
* Ảnh hưởng của các ngưỡng nhiệt độ đến sự phát triển của khuẩn lạc các
mẫu phân lập vi khuẩn X campestris pv campestris
Các mẫu vi khuẩn được phân lập được trên các giống cải bắp nhiễm bệnh được nuôi cấy trên môi trường SPA Được đặt ở các ngưỡng nhiệt độ 25, 30, 35,
40oC Mỗi công thức nhắc lại 3 lần, mỗi lần 3 đĩa petri Theo dõi sự phát triển của khuẩn lạc vi khuẩn sau 72 giờ
2.5.2.4 Thử một số phản ứng sinh hóa của các mẫu phân lập vi khuẩn
Quan sát kết quả trong vòng 10 giây đầu Phản ứng (+) cho kết quả màu xanh tím
* Thử enzyme oxy hóa Catalase
Mục đích: Kiểm tra khả năng phân huỷ H2O2 của vi sinh vật nhờ sản sinh ra enzyme catalaza
Chuẩn bị dung dịch H2O2 nồng độ 3-10%, nhỏ một giọt lên phiến kính Dùng đầu que cấy lấy một ít vi khuẩn mới hoạt hóa (24 giờ) trộn vào giọt H2O2 trên phiến kính Sau đó khuấy vi khuẩn và quan sát sau 1 – 2 giây, nếu có bọt khí xuất hiện thì
vi khuẩn có phản ứng dương nếu không có bọt khí xuất hiện thì vi khuẩn không có phản ứng, âm tính
* Phản ứng sản sinh H2S
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20
Môi trường: Pepton 10g, NaCl 5g, Cao thịt 10g, Cystein 0,5g nước cất 1000
ml, pH = 7,0-7,4
Phân môi trường vào các ống nghiệm (4-5 ml), khử trùng ở 1210C trong
20-30 phút Cắt giấy lọc thành dải rộng 0,5-1cm, độ dài tùy thuộc vào ống nghiệm và
độ cao của môi trường Tẩm vào giấy dung dịch chì-acetat PbCH3(COO)2 , sấy khô giấy trong tủ sấy đặt trong đĩa petri và khử trùng Cấy vi khuẩn mới hoạt hóa (18-24 giờ) Dùng panh vô khuẩn gắp giấy tẩm chì-acetat đưa vào từng ống nghiệm, dài đến nút bông nhưng không chạm vào môi trường Nuôi vi khuẩn ở nhiệt độ thích hợp, sau 3,7,14 ngày quan sát Nếu giấy biến đen là phản ứng dương tính, nếu không đổi mầu thì là âm tính
* Phản ứng tạo NH3
Môi trường: Peptone 5g, NaNO2 1g, nước cất 1000 ml, pH = 7,3 - 7,4
Phân môi trường vào các ống nghiệm, khử trùng ở 1210C trong 15 phút Chuẩn bị thuốc thử Griess:
Dung dịch 1: Acid sulfanilic 0,5g, acid acetic loãng (khoảng 10%) 150 ml Dung dịch 2: Alpha naphtylamin 0,1g, nước cất 20 ml, acid acetic loãng (khoảng 10%) 150 ml
Cấy vi khuẩn, đặt ở 300C trong 1, 3, 7 ngày rồi làm phản ứng xác định Nhỏ vào dịch nuôi cấy 1 giọt dung dịch 1 và 1 giọt dung dịch 2, lắc nhẹ Nếu mất màu
đỏ và sinh ra NH3 là kết quả dương tính, nếu vẫn giữ màu đỏ là phản ứng âm tính
* Phản ứng thủy phân tinh bột
Môi trường: Bổ sung tinh bột tan (0.2%) vào môi trường nước thịt pepton, khử trùng ở 1210C trong 20 phút rồi đổ ra đĩa petri
Lấy vi khuẩn mới hoạt hóa cấy vạch hay cấy chấm lên đĩa thạch Sau 3 ngày nhỏ thuốc thử Lugol lên vết cấy để quan sát khả năng phân giải tinh bột Nếu thuốc thử Lugol không bắt màu quanh vết cấy tức là vi khuẩn có khả năng phân giải tinh bột
2.5.3 Nghiên cứu tính gây bệnh của các mẫu phân lập vi khuẩn X campestris
pv campestris phân lập từ các cây ký chủ
Tiến hành thu thập từ các nguồn bệnh: Cải bắp, su hào, súp lơ xanh sau đó
phân lập các isolates vi khuẩn X campestris pv campestris thuần trên các cây ký
chủ khác nhau là: Su hào, súp lơ xanh, cải bắp Sau đó lấy các isolates vi khuẩn đã
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21
được phân lập và làm thuần ở trên và lần lượt lây nhiễm chéo cho nhau Thí nghiệm gồm có 5 công thức (CT):
CT1: Cải bắp NS-Cross
CT2: Su hào chịu nhiệt
CT3: Súp lơ xanh
CT4: Súp lơ trắng
CT5: Cải thảo Đài Loan
Lây bệnh nhân tạo bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân hại cây rau họ hoa thập tự theo phương pháp của Viện Bảo vệ thực vật (1997) Sau trồng cây 14 ngày, tiến hành lây nhiễm nhân tạo bằng phương pháp sát thương lá (tiêm vào lá) và không sát thương Mỗi công thức nhắc lại 3 lần, mỗi lần 10 cây mỗi cây 10 vết trên lá Theo dõi số cây bị bệnh ở từng công thức sau 7, 14, 21 ngày sau lây nhiễm
Chỉ tiêu theo dõi: tỷ lệ bệnh (%)
2.5.4 Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc trong phòng trừ vi khuẩn vàng lá đen gân trên môi trường nhân tạo
Tiến hành thí nghiệm gồm 4 công thức: 1 công thức đối chứng và 3 công thức thí nghiệm Mỗi công thức nhắc lại 3 lần, mỗi lần nhắc lại 3 đĩa petri
Phương pháp tiến hành: chuẩn bị đĩa petri chứa môi trường SPA, hòa vi khuẩn thuần trong nước vô trùng thành dịch (mật độ 108- 109 CFU/1 ml), dùng pipet hút dịch vi khuẩn láng đều lên bề mặt môt trường Đặt đĩa môi trường đã láng dịch
vi khuẩn trong tủ định ôn 30oC Sau 24 giờ dùng giấy lọc hình tròn (đặt trong nước cất hấp vô trùng) đường kính 0,5 cm, nhúng vào các dịch thuốc đã pha ở các nồng
độ khác nhau, sau đó đặt vào các đĩa môi trường đã láng dịch vi khuẩn Thí nghiệm được đặt trong tủ định ôn ở ngưỡng 30oC Thí nghiệm gồm có 4 công thức (CT):
CT1: đối chứng (giấy lọc thấm nước vô trùng)
CT2: Giấy lọc thấm thuốc Strep Gold 100WP với nồng độ 0,2%
CT3: Giấy lọc thấm thuốc Elcarin 0.5SL với nồng độ 0,2%
CT4: Giấy lọc thấm thuốc Norshield 86,2WG với nồng độ 0,2%
Chỉ tiêu theo dõi: Theo dõi sự phát triển của vòng vô khuẩn trên môi trường nhân tạo sau 24, 48, 72 giờ
2.6 Phương pháp xử lý số liệu
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22
Số liệu được xử lý thống kê sinh học theo phần mềm IRRISTART 4.0 và chương trình Excel Các giá trị trung bình của các nghiệm thức được so sánh bằng
F, t, LSD, Duncan ở mức xác suất P = 0,95 (α = 0,05) Các giá trị a, b, c… được ghi các giá trị trung bình có ký hiệu chữ giống nhau thì có giá trị giống nhau về trắc nghiệm Duncan
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23
Chương 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều tra tình hình bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân Xanthomonas campestris
pv campestris hại cây rau họ hoa thập tự tại Gia Lâm, Hà Nội
Bệnh vàng lá đen gân hại cây rau họ hoa thập tự (do loài vi khuẩn X campestris pv campestris gây ra) là loại bệnh có phạm vi ký chủ rộng phổ biến trên
cây rau họ hoa thập tự, vi khuẩn tồn tại trong tàn dư cây trồng và cỏ dại Bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân nó gây ra thiệt hại lớn nhất ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới có khí hậu ẩm ướt, nhưng cũng gây hại nặng ở vùng lạnh hơn Việt Nam có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm là một trong các vùng phân bố của bệnh Trong thực tiễn sản xuất, bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân đã phát sinh, phát triển gây hại tương đối nặng trên các cây rau họ hoa thập tự, ảnh hưởng đến năng suất chất lượng sản phẩm gây ảnh hưởng không ít tới thu nhập của người nông dân Tuy nhiên, những nghiên cứu
về bệnh vàng lá đen gân chưa nhiều, còn phân tán, nên việc phòng trừ gặp nhiều khó khăn và chưa đạt hiệu quả như mong muốn
Điều kiện sinh thái kỹ thuật canh tác có ảnh hưởng rất phức tạp đến sự phát sinh, phát triển của bệnh ngoài đồng ruộng Để góp phần tìm hiểu về tình hình bệnh
vi khuẩn vàng lá đen gân hại cây rau họ hoa thập tự, chúng tôi tiến hành điều tra tình hình bệnh tại một số điểm trồng rau ở vùng Gia Lâm, Hà Nội
3.1.1 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân (X campestris pv campestris) hại cây cải bắp tại Gia Lâm, Hà Nội
Trong quá trình thực hiện đề tài, để tìm hiểu rõ hơn quy luật phát sinh, phát triển, gây hại của bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân hại cải bắp chúng tôi đã tiến hành điều tra diễn biến của bệnh tại xã Văn Đức và xã Cổ Bi huyện Gia Lâm, Hà Nội vụ Đông Xuân năm 2014 Điều tra dựa vào triệu chứng biểu hiện bên ngoài như trên lá vết bệnh ban đầu thường gần mép lá có màu vàng nhạt có quầng xung quanh ,sau lan rộng hình chữ “V” phía tâm vết bệnh có màu nâu hoặc gân có màu đen
Qua quá trình điều tra bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân hại cải bắp trên đồng ruộng, chúng tôi quan sát thấy rằng: Cây có thể bị nhiễm bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân ở bất kỳ giai đoạn sinh trưởng nào Ban đầu ở cây con triệu chứng xuất hiện làm
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24
đen dọc theo rìa của lá mầm, lá mầm héo và chết, trên lá khu vực bị nhiễm bệnh ban đầu có quầng vàng nhỏ sau đó mở rộng vào phía trong từ mép lá về phía gân chính làm đen gân, ở giữa vết bệnh gân đen hoặc nâu như vết cháy, bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân lây lan từ cây này sang cây khác bằng nước tưới, mưa, côn trùng chích hút Kết quả điều tra được trình bày ở bảng 3.1 và hình 3.1
Bảng 3.1 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân
(X campestris pv campestris) hại cây cải bắp NS-Cross tại Gia Lâm, Hà Nội
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25
Cổ Bi TLB(%)
Cổ Bi CSB(%)
Hình 3.1 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân
(X campestris pv campestris) hại cây cải bắp tại Gia Lâm, Hà Nội
Kết quả thu được ở bảng 3.1 và hình 3.1 cho thấy, trên cây cải bắp bệnh gây hại từ giai đoạn cây con đến khi thu hoạch, tỷ lệ bệnh tăng dần, ở xã Cổ Bi tỷ lệ bệnh cao hơn so với xã Văn Đức Bệnh bắt đầu gây hại ở giai đoạn cây con, giai đoạn này cây bị nhiễm nhẹ, xã Văn Đức TLB 1.40%, CSB 0.28%, xã Cổ Bi TLB 1.20%, CSB 0.24%, bệnh gây hại nặng từ giai đoạn cuốn đến thu hoạch Giai đoạn cuốn tại xã Văn Đức TLB 12.20%, CSB 2.88; xã Cổ Bi TLB 11.40%, CSB 2.76% Giai đoạn nặng nhất trước thu hoạch xã Cổ Bi TLB 18.40%, CSB 4,60% ở xã Văn Đức TLB 17.80%, CSB 4.24%
Như vậy, vi khuẩn X campestris pv campestris thường gây hại trên các lá
già, lá bánh tẻ và các lá sát mặt đất nhiều hơn và bệnh gây hại nặng dần từ giai đoạn cuốn đến thu hoạch
3.1.2 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân (X campestris pv campestris) hại cây cải thảo tại Gia Lâm, Hà Nội
Cải thảo (Brassica rapa subsp pekinensis) là loại rau ăn lá dễ trồng, thời
gian sinh trưởng ngắn, có thể trồng nhiều vụ trong năm mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng bệnh hại cũng không ít, phổ biến là bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân gây hại nó ảnh đến năng suất chất lượng của cây
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành điều tra diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân hại cải thảo tại tại xã Văn Đức, xã Đặng Xá, xã Cổ Bi, Gia Lâm,
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26
Hà Nội vụ đông năm 2014 Biểu hiện triệu chứng bệnh được thể hiện như sau trên lá vết bệnh ban đầu thường gần mép lá có màu vàng nhạt quầng xung quanh sau lan rộng hình chữ “V” phía trong màu nâu nhạt khô
Kết quả điều tra được trình bày ở bảng 3.2 và hình 3.2
Bảng 3.2 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân
(X campestris pv campestris) hại cây cải thảo tại Gia Lâm, Hà Nội
CSB (%)
TLB (%)
CSB (%)
TLB (%)
CSB (%)
14/10/2014 Cây con 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 21/10/2014 Cây con 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 28/10/2014 Hồi xanh 1.20 0.24 1.60 0.32 0.00 0.00 04/11/2014 Phát triển thân lá 2.40 0.52 3.40 0.68 1.80 0.36 11/11/2014 Phát triển thân lá 3.00 0.68 5.80 1.24 2.40 0.48 18/11/2014 Trải lá 6.80 1.52 8.60 1.96 4.20 0.88 25/11/2014 Bắt đầu cuốn 9.00 2.12 10.40 2.36 5.80 1.20 04/12/2014 Cuốn 10.40 2.56 13.40 3.12 7.20 1.56 11/12/2014 Cuốn chặt 13.40 3.36 16.40 3.80 8.60 1.84 18/12/2014 Trước thu hoạch 15.00 3.76 17.80 4.12 11.60 2.52 Kết quả thu được ở bảng 3.2 và hình 3.2 cho thấy, trên cây cải thảo bệnh gây hại từ giai đoạn cây con đến khi thu hoạch, tỷ lệ bệnh tăng dần, ở xã Đặng Xá tỷ lệ bệnh cao hơn so với xã Văn Đức và xã Cổ Bi
Bệnh bắt đầu gây hại ở giai đoạn cây con, giai đoạn này cây bị nhiễm nhẹ xã Văn Đức TLB 1.20%, CSB 0.24%; xã Đặng Xá TLB 1.60%, CSB 0.32%; xã Cổ Bi TLB 0.00%, CSB 0.00%, bệnh gây hại nặng từ giai đoạn cuốn đến thu hoạch Giai đoạn cuốn tại xã Văn Đức TLB 9.00%, CSB 2.12%; xã Đặng xá TLB 10.40%, CSB 2.36%; xã Cổ Bi TLB 5.80%, CSB 1.20% Giai đoạn nặng nhất trước thu hoạch ở
xã Đặng Xá TLB 17.80%, CSB 4.12%; ở xã Văn Đức TLB 15.00%, CSB 3.76%, thấp nhất là xã Cổ Bi TLB 11.60%, CSB 2.52%
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27
Cổ Bi TLB (%)
Cổ Bi CSB (%) (%)
Hình 3.2 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân
(X campestris pv campestris) hại cây cải thảo tại Gia Lâm, Hà Nội
Như vậy, vi khuẩn X campestris pv campestris thường gây hại trên các lá
già, lá bánh tẻ và các lá sát mặt đất nhiều hơn và bệnh gây hại nặng dần từ giai đoạn cuốn đến thu hoạch
3.1.3 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân (X campestris pv campestris) hại cây súp lơ trắng và súp lơ xanh tại Xã Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội
Súp lơ được trồng với quy mô diện tích lớn, ở nhiều vùng trong cả nước, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người trồng Những năm gần đây, việc nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc trồng súp lơ ngày càng nhiều Nhưng ở nhiều vùng trồng súp lơ xanh bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân, phát triển và gây hại, làm thiệt hại đáng kể năng suất, cũng như làm giảm chất lượng cây
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành điều tra diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân hại cây súp lơ trắng tại xã Văn Đức - Hà Nội vụ đông năm 2014 Quá trình điều tra bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân hại súp lơ xanh trên đồng ruộng, chúng tôi dựa vào triệu chứng điển hình của bệnh vi khuẩn vàng
lá đen gân biểu hiện bên ngoài như: Lá của những cây giống nhiễm bệnh chuyển sang màu vàng và rụng trước khi cây lớn Trên cây lớn hơn, vết bệnh có màu vàng, hình chữ “V” xuất hiện trên rìa lá với mũi nhọn hướng vào trong, ở giữa vết bệnh gân đen hoặc nâu như vết cháy Kết quả điều tra bệnh vi khuẩn vàng lá đen
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28
gân ở xã Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội được trình bày ở bảng 3.3 và hình 3.3
Bảng 3.3 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân hại cây súp lơ trắng
và súp lơ xanh tại Xã Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội Ngày
Hình 3.3 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân hại cây súp lơ trắng
và súp lơ xanh tại Xã Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội
Kết quả thu được ở bảng 3.3 và hình 3.3 cho thấy, trên cây súp lơ xanh và xây súp lơ trắng bệnh gây hại từ giai đoạn cây con đến khi thu hoạch, tỷ lệ bệnh
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29
tăng dần, Cây súp lơ xanh tỉ lệ bệnh cao hơn cây súp lơ trắng
Bệnh bắt đầu gây hại ở giai đoạn cây con, giai đoạn này cây bị nhiễm nhẹ súp lơ trắng TLB 0.00%, CSB 0.00%, súp lơ xanh TLB 1.00%, CSB 0.20%, bệnh gây hại nặng từ giai đoạn cây bắt đầu ra hoa đến khi thu hoạch Giai đoạn ra hoa súp lơ trắng TLB 4.60%, CSB 0.96%; súp lơ xanh TLB 6.40%, CSB 1.32%; Giai đoạn nặng nhất là trước thu hoạch tỷ lệ bệnh ở súp lơ trắng TLB 11.80%, CSB 2.48%; ở xã súp lơ xanh TLB 13.60%, CSB 2.88%
Như vậy, vi khuẩn X campestris pv campestris thường gây hại trên các lá già,
lá bánh tẻ và các lá sát mặt đất nhiều hơn và bệnh gây hại nặng dần từ giai đoạn ra hoa
đến thu hoạch, đây là giai đoạn cây mẫn cảm, bệnh dễ xâm nhiễm và gây hại nặng
3.1.4 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân (X campestris pv campestris) hại cây su hào tại Gia Lâm, Hà Nội
Ở nước ta, su hào được nhập trồng cuối thế kỷ 19 Hiện nay được trồng nhiều ở các tỉnh phía Bắc dùng làm rau ăn, với diện gieo trồng khá lớn bộ phận lấy dùng là củ, cũng như bắp cải bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân gây hại trên su hào, nó xuất hiện gây hại trên làm ảnh hưởng đến năng xuất và chất lượng củ
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành điều tra diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân hại cây su hào tại xã Đặng Xá và xã Cổ Bi, Hà Nội
vụ xuân 2014 Quá trình điều tra bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân hại su hào trên đồng ruộng, chúng tôi dựa vào triệu chứng điển hình của bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân biểu hiện bên ngoài Trên lá vết bệnh ban đầu thường gần mép lá có màu vàng nhạt có quầng xung quanh sau lan rộng hình chữ “V” phía tâm vết bệnh màu nâu hoặc có gân có màu đen
Kết quả thu được ở bảng 3.4 và hình 3.4 cho thấy trên cây su hào bệnh gây hại
từ giai đoạn cây con đến khi thu hoạch, tỷ lệ bệnh tăng dần, Cây su hào trồng ở xã Cổ
Bi tỷ lệ bệnh cao hơn cây su hào được trồng ở xã Đặng Xá Bệnh bắt đầu ở giai đoạn cây con ở Đặng Xá bị nhiễm nhẹ TLB 1.40%, 0.28%, ở xã Cổ Bi TLB 1.80%, CSB 0.36%, bệnh bắt đầu gây hại nặng từ giai đoạn cây hình thành củ đến khi thu hoạch Giai đoạn hình thành củ ở Đặng Xá TLB 5.40%, CSB 1.12%; ở Cổ Bi TLB 6.00%, CSB 1.24% Giai đoạn nặng nhất là trước thu hoạch tỷ lệ bệnh ở Đặng Xá TLB 14.60%, CSB 3.08%; ở xã Cổ Bi TLB 16.40%, CSB 3.48%
Bảng 3.4 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 30
(X campestris pv campestris) hại cây su hào tại Gia Lâm, Hà Nội
Cổ Bi TLB(%)
Cổ Bi CSB(%)
Hình 3.4 Diễn biến bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân
(X campestris pv campestris) hại cây su hào tại Gia Lâm, Hà Nội
Như vậy, vi khuẩn X Campestris pv campestris thường gây hại trên các lá
già, lá bánh tẻ và các lá sát mặt đất nhiều hơn và bệnh gây hại nặng dần từ giai đoạn hình thành củ đến thu hoạch, đây là giai đoạn cây mẫn cảm, bệnh dễ xâm nhiễm và gây hại nặng
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 31
3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái khuẩn lạc, đặc tính sinh học của loài
vi khuẩn X campestris pv campestris hại cây rau họ hoa thập tự
3.2.1 Phương pháp chẩn đoán và giám định bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân
Việc quan sát triệu chứng bệnh bằng mắt thường, nhận diện, mô tả triệu chứng của bệnh vi khuẩn vàng lá đen gân là điều cần thiết, giúp cho công tác chẩn đoán bệnh được chính xác
Bảng 3.5 Một số đặc điểm triệu chứng nhận biết bệnh vi khuẩn vàng lá đen
gân X campestris pv campestris hại rau họ hoa thập tự
Ký chủ Bộ phận
Cải bắp Lá
Trên lá vết bệnh ban đầu thường gần mép lá có màu vàng nhạt
có quầng xung quanh ,sau lan rộng hình chữ “V” phía tâm vết
bệnh có màu nâu hoặc gân có màu đen
Su hào Lá
Trên lá vết bệnh ban đầu thường gần mép lá có màu vàng nhạt
có quầng xung quanh sau lan rộng hình chữ “V” phía tâm vết
bệnh màu nâu hoặc có gân có màu đen
Cải
Trên lá vết bệnh ban đầu thường gần mép lá có màu vàng nhạt quầng xung quanh sau lan rộng hình chữ “V” phía trong màu nâu nhạt khô